Category: Bệnh Viện Tâm Thần

  • Phác Đồ Cấp Cứu Hạ Huyết Áp Tư Thế

    Phác Đồ Cấp Cứu Hạ Huyết Áp Tư Thế

    PHÁC ĐỒ CẤP CỨU HẠ HUYẾT ÁP TƯ THẾ

    I. Hạ Huyết Áp Tư Thế:

    Huyết áp giảm đáng kể khi đứng (huyết áp tâm thu giảm 20mmHg hoặc huyết áp tâm trương giảm 10mmHg trong vòng 3 phút sau khi đứng) và tăng trở lại khi nằm.

    II. Nguyên Nhân:

    Thường do các thuốc chống loạn thần hoạt lực thấp đặc biệt là chlorpromazine, levomepromazine, thioridazine và clozapine; các thuốc chống trầm cảm 3 vòng như amitriptyline… gây ức chế hệ adrenergic.

    III. Chẩn Đoán:

    Mệt, chóng mặt, hoa mắt ngay sau khi đứng, nhức đầu, buồn nôn.

    Nặng hơn có thể ngất hay co giật lan tỏa (thường gặp trong khoa Nội trú là bệnh nhân té ngã trong khi thay đổi tư thế hay khi đi vệ sinh).

    Khám: Đo mạch, huyết áp

    Khám phát hiện chấn thương do té ngã

    IV. Xử Trí:

    • Đưa bệnh nhân đến nơi an toàn.

    • Tư thế bệnh nhân : nằm thẳng, đầu thấp, kê chân cao

    • Nới hoặc cởi áo (nếu có thể) để khỏi cản trở hô hấp

    • Đo mạch, đo huyết áp, nghe tim, quan sát đồng tử

    • Thiết lập đường truyền tĩnh mạch:

    o NaCl 0,9% 500ml 1 chai Truyền Tĩnh mạch XXX giọt/ phút

    • Nếu không có kết quả, có thể dùng Hept-a-myl 2-5ml tiêm tĩnh mạch chậm, 5-10 ml/ngày

    • Chống chỉ định dùng Adrenaline

    • Nếu sau 30 phút không có kết quả, chuyển cấp cứu Nội khoa.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Harrison’s, 18th principles of internal medecine (2011)

    Phác Đồ Cấp Cứu Hạ Huyết Áp Tư Thế

    Xem thêm Phác đồ điều Trị Bệnh Viện Tâm Thần (Hồ Chí Minh):

    1. Bảng Nguyên Nhân Hội Chứng Sảng
    2. Mất Ngôn Ngữ Mắc Phải Do Động Kinh – Hội Chứng Landau Kleffner
    3. Nói Lắp
    4. Phác Đồ Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị Chữa Bệnh Hội Chứng Ác Tính
    5. Phác Đồ Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị Chữa Bệnh Rối Loạn Tic
  • Phác Đồ Điều Trị Nói Lắp

    Phác Đồ Điều Trị Nói Lắp

    Nói Lắp

    I. ĐẠI CƯƠNG:

    – Nói lắp là một tình trạng mà trong đó sự trôi chảy của lời nói bị ngắt quãng bởi các sự kiện vận động lời nói không tự ý. Nói lắp có thể bao gồm nhiều dạng không trôi chảy đặc hiệu, ví dụ như âm thanh và âm tiết lặp đi lặp lại, sự phát âm kéo dài, sự phát âm loạn nhịp, và những lúc ngưng nói không bình thường hoặc bị chặn hoàn toàn giữa các âm thanh và các âm tiết của từ.

    – Những hình thức nghiêm trọng hơn của nói lắp thường đi kèm bởi một loạt hành vi nỗ lực, thường được gọi là các biểu hiện phụ hoặc thứ phát của rối loạn. Những hành vi nỗ lực này có thể được quan sát thấy ở mức độ hô hấp, phát âm, hoặc cách phát âm của cơ chế ngôn luận và có thể biểu hiện trong nhịp thở rối loạn, thô ráp thanh môn (chất lượng âm thanh bất thường), mím môi, và nhắp lưỡi. Những hành vi bổ sung, chẳng hạn như nháy mắt, nhăn mặt, giật mạnh đầu, và các cử động cơ thể bất thường, có thể quan sát thấy trước hoặc trong các trường hợp lời nói bị gián đoạn.

    – Ngoài các triệu chứng chính và các triệu chứng vật lý phụ của nói lắp, sự tránh né ngôn ngữ là một biểu hiện của nói lặp thường được nhận thấy, nó đưa đến sự thay thế từ và nói quanh co khi cá nhân tiếp cận với âm thanh hoặc từ đáng sợ trong nỗ lực giao tiếp. Tương tự, sự tránh né tình huống thường là đặc trưng của nói lắp kéo dài, và dạng tình huống giao tiếp thường ảnh hưởng đến số lượng và tính chất trầm trọng của nói lắp.

    – Các cấu trúc nói lắp rất đa dạng, dao động từ các rối loạn sự trôi chảy trong lời nói nhẹ, thỉnh thoảng đến nói lắp nghiêm trọng làm cho sự giao tiếp không thể xảy ra đối với cá nhân bị ảnh hưởng và thường dẫn đến khó khăn nghiêm trọng về mặt tâm lý xã hội và thu rút xã hội. Hơn nữa, người nói lắp có thể biểu hiện các giai đoạn dao động của sự trôi chảy và không trôi chảy trong suốt một ngày, tùy thuộc vào tình huống giao tiếp, mức độ lo âu, mức độ mệt mỏi, và nhiều thay đổi khác có liên quan.

    II. BIỂU HIỆN LÂM SÀNG:

    – Nói lắp thường được đặc trưng bởi sự gián đoạn trong việc thể hiện lưu loát ngôn ngữ nói. Những gián đoạn này có thể nghe được hoặc im lặng và thường được đặc trưng bởi sự lặp đi lặp lại hoặc sự kéo dài của âm thanh hoặc âm tiết hoặc bởi sự ngừng lại do căng thẳng hoặc ngừng hoàn toàn hoặc sự cản trở âm thanh lời nói.

    – Các biểu hiện phụ, hoặc thứ phát thường xuyên đi cùng các trường hợp nói lắp. Những hành vi thứ phát này liên quan đến cả hai cơ chế lời nói và các cấu trúc cơ thể liên quan hoặc không liên quan. Những hành vi này có thể bao gồm nháy mắt, nhăn mặt, rung giật môi và lưỡi, các rối loạn tics, âm thanh thô ráp, giật mạnh đầu, các cử động bất thường của tứ chi, và nhịp thở bất thường. Hành vi né tránh ngôn ngữ và tình huống thường quan sát thấy với sự nói lắp xác định. Sự né tránh tình huống thường được báo cáo, ví dụ như nói trước đám đông hoặc qua điện thoại. Nhiều dạng nói lắp tinh tế đến nỗi mà chúng không thể được phát hiện bởi người nghe và chỉ được nhận biết bởi người nói.

    – Mặc dù nói lắp thay đổi đáng kể về tần suất và mức độ nghiêm trọng, cả trong số và giữa các cá nhân nói lắp, một số sự kiện hoặc tình huống có thể đoán trước được thường được nhận thấy rằng hoặc sự lưu loát dễ dàng hoặc dẫn đến sự giảm nói lắp (ví dụ, xướng âm, hát, thì thầm, nói trong sự hiện diện của việc che lấp tiếng ồn hoặc trong điều kiện phản hồi âm thanh bị trì hoãn, nói khi ở một mình).

    – Mặc dù các hình thức nói lắp nghiêm trọng thường thấy ở người trưởng thành, trẻ em và trẻ vị thành niên có thể bị ảnh hưởng tương tự. Nói lắp có thể có tác động quan trọng đến chất lượng sống của cá nhân, gây ra các vấn đề xã hội, cảm xúc, giáo dục và nghề nghiệp nghiêm trọng. Trẻ nói lắp trước tuổi đi học và trong độ tuổi đi học thường tiến triển tình trạng lo âu liên quan đến xã hội và trường học. Trẻ vị thành niên bị nói lắp có xu hướng thu rút khỏi các tương tác xã hội bình thường. Người trẻ trưởng thành bị nói lắp thường bày tỏ các cảm giác lựa chọn học tập và nghề nghiệp bị hạn chế và thường bỏ qua cơ hội để phát triển các tài năng đặc biệt và con đường sự nghiệp.

    III. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN THEO ICD-10:

    A. Nói lắp (ví dụ lời nói, được đặc trưng bởi sự lặp lại thường xuyên hoặc kéo dài các âm thanh hoặc các âm tiết hoặc các từ, hoặc bởi sự ngập ngừng hoặc sự ngưng thường xuyên) kéo dài hoặc tái xuất hiện và tính chất đủ nghiêm trọng để làm ngắt quãng lời nói.

    B. Thời gian tối thiểu là 3 tháng.

    IV. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT:

    – Các yếu tố phân biệt sự không trôi chảy bình thường với nói lắp mới bắt đầu liên quan đến cả hình thức và tần số của các cấu trúc lời nói bị phá vỡ được nhận thấy. Trẻ em bị nói lắp biểu hiện những sự lặp đi lặp lại một phần từ là chủ yếu, sự kéo dài âm thanh được nói hoặc không được nói ra, và các từ bị vỡ hoặc phân mảnh, trong khi đó trẻ em nói không trôi chảy bình thường có nhiều khả năng để giải thích toàn bộ từ và lặp đi lặp lại các cụm từ và sửa đổi. Một số nhà nghiên cứu đã nhấn mạnh đến mức độ phân mảnh lời nói như là yếu tô phân biệt giữa nói lắp và sự không lưu loát bình thường. Một yếu tố phân biệt khác là sự hiện diện và không hiện diện của sự đấu tranh trong suốt nỗ lực phát biểu. Trẻ em bị nói lắp thường bộc lộ sự khó khăn trong việc bắt đầu hoặc duy trì hơi thở hoặc tiếng nói trong nỗ lực phát biểu. Trẻ em phát triển bình thường có nhiều khả năng để chứng minh lời nói dễ dàng, không tốn sức, ngay cả khi nó liên tục được đánh dấu bởi sự lặp đi lặp lại toàn bộ từ hoặc cụm từ. Không giống như trẻ bị nói lắp, trẻ em phát triển bình thường đưa ra lời nói, giọng nói, và hơi thở một cách liên tục và không bị gián đoạn.

    – Nói lắp do thần kinh mắc phải là một tình trạng có thể xuất hiện lần đầu tiên ở tuổi trưởng thành và thường liên quan với một loạt các rối loạn thần kinh tạm thời, tiến triển, và không tiến triển, ví dụ như các tổn thương não do chấn thương, đột quỵ, và các bệnh lý ngoại tháp. Ngoài các trường hợp người trưởng thành nói lắp do thần kinh, cũng có các báo cáo trong đó nói lắp thời thơ ấu trở nên tồi tệ hơn hoặc xuất hiện lại với sự khởi phát của rối loạn thần kinh. Một số biểu hiện của nói lắp do thần kinh giúp phân biệt với sự nói lắp bắt nguồn từ nói lắp tiến triển: Sự phiền toái chung với vấn đề nhưng không có sự lo âu rõ ràng, trường hợp rối loạn sự trôi chảy xuất hiện ở bất cứ phần nào của lời phát biểu, thiếu các triệu chứng thứ phát, nói lắp ở các từ ngữ pháp nhỏ và các từ riêng biệt với tần số gần bằng nhau, và tính biến đổi của nói lắp giảm qua các tình huống giao tiếp khác nhau.

    – Nói hỗn đỗn (cluttering) là một rối loạn khác của sự lưu loát đặc trưng bởi nói nhanh, giảm tính dễ hiểu, và thu gọn từ thường xuyên. Nói hỗn đỗn thường được đánh dấu bởi các lỗi ngữ pháp và cú pháp và thường không liên kết với bất cứ âm thanh đặc biệt nào hoặc nỗi sợ từ ngữ hoặc thậm chí sự nhận biết hạn chế về rối loạn lời nói. Nói hỗn đỗn thường có liên quan với sự mất cân bằng ngôn ngữ trung tâm, và một số tác giả cho rằng nói hỗn đỗn tồn tại khi một cá nhân biểu hiện một hoặc nhiều khiếm khuyết trong mỗi chiều kích giao tiếp phản ánh các khả năng nhận thức, ngôn ngữ, thực tế, lời nói và vận động. Một trong những biểu hiện phân biệt nói hỗn độn với nói lắp do phát triển là sự nhận thức tự giám sát và sự nhận thức chung. Trong khi đó, người bị nói lắp do phát triển thường tăng nhạy cảm với âm thanh của chính giọng nói của họ, người nói hỗn độn thường chỉ nhận thức mơ hồ về cấu trúc lời nói khác thường.

    V. CẬN LÂM SÀNG:

    – Trắc nghiệm ngôn ngữ

    – Điện não đồ

    VI. ĐIỀU TRỊ:

    – Hình thức đầu tiên giải quyết trực tiếp các khía cạnh tâm lý xã hội của vấn đề – đó là, thái độ, cảm giác, và cảm xúc được bộc lộ bởi người nói lắp. Thủ tục điều trị sử dụng các hình thức liệu pháp tâm lý khác nhau hướng trực tiếp đến sự chấp nhận bản thân, thay đổi thái độ, và giảm sự né tránh hoặc giảm sự lo âu.

    – Liệu pháp lời nói chủ yếu thứ hai liên quan đến việc sửa đổi đáp ứng nói lắp để lời nói thông thạo âm thanh bằng ứng dụng các bước hệ thống và các quy tắc của cơ chế lời nói. Trong khuôn khổ này, các thủ tục trị liệu cố gắng tái tạo lại hệ hô hấp, phát âm, và các cử chỉ cấu âm được sử dụng để thực hiện lời nói, hoặc bằng cách sửa đổi nói lắp hoặc các kỹ thuật lưu loát-định hình.

    – Định dạng trị liệu cho người trưởng thành bị nói lắp đã được tăng cường, và một vài chương trình trị liệu nói lắp chính hiện nay cung cấp các phương pháp điều trị toàn thời gian được quản lý trong từng khối vài tuần. Nghiên cứu hiện tại và các nỗ lực lâm sàng hướng đến việc duy trì lời nói trôi chảy ở môi trường sau điều trị. Một số lượng lớn các cá nhân đã được báo cáo để biểu lộ hoặc hồi quy một phần hoặc thậm chí tái phát nói lắp toàn bộ mà không có sự thực hành liên tục các kỹ năng lời nói sau điều trị.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    1. Kaplan & Sadock Comprehensive Textbook of Psychiatry (ấn bản thứ 9, năm 2009).

    2. Textbook of Psychiatry (ấn bản thứ 5, Nhà xuất bản Tâm Thần Học Hoa Kỳ).

    3. Tiêu chuẩn chẩn đoán ICD 10.

    Phác Đồ Điều Trị Nói Lắp

    Xem thêm Phác đồ điều Trị Bệnh Viện Tâm Thần (Hồ Chí Minh):

    1. Bảng Nguyên Nhân Hội Chứng Sảng
    2. Mất Ngôn Ngữ Mắc Phải Do Động Kinh – Hội Chứng Landau Kleffner
    3. Phác Đồ Cấp Cứu Hạ Huyết Áp Tư Thế
    4. Phác Đồ Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị Chữa Bệnh Hội Chứng Ác Tính
    5. Phác Đồ Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị Chữa Bệnh Rối Loạn Tic
  • Mất Ngôn Ngữ Mắc Phải Do Động Kinh – Hội Chứng Landau Kleffner

    Mất Ngôn Ngữ Mắc Phải Do Động Kinh – Hội Chứng Landau Kleffner

    Mất Ngôn Ngữ Mắc Phải Do Động Kinh – Hội Chứng Landau Kleffner

    I. ĐẠI CƯƠNG:

    – Một rối loạn mà trong đó trẻ, đã có 1 quá trình phát triển ngôn ngữ bình thường trước đó, mất cả ngôn ngữ tiếp nhận và thể hiện nhưng vẫn giữ lại khả năng trí tuệ nói chung. Thời điểm khởi phát liên quan đến những bất thường kịch phát trên EEG (hầu hết là từ thùy thái dương, thường 2 bên, nhưng thường là lan rộng hơn), và phần lớn các trường hợp là có cơn động kinh.

    – Thời điểm khởi phát điển hình từ 3 đến 7 tuổi nhưng cũng có thể sớm hay trễ hơn. Trong một phần tư các trường hợp, mất ngôn ngữ xảy ra dần dần trong vòng vài tháng, nhưng thường là mất ngôn ngữ đột ngột với các kỹ năng bị mất trong vài ngày hay vài tuần. Sự liên quan thùy thái dương giữa việc khởi phát cơn động kinh và mất ngôn ngữ thì tương đối thay đổi, một triệu chứng sẽ xuất hiện trước triệu chứng còn lại từ vài tháng đến 2 năm. Sự suy giảm ngôn ngữ tiếp nhận thường rất nghiêm trọng, với những khó khăn trong sự tiếp nhận về thính giác thường là sự biểu hiện đầu tiên của tình trạng này. Một vài trẻ trở nên câm, vài trẻ thì bị hạn chế những âm thanh giống biệt ngữ, và một vài trẻ cho thấy có sự suy giảm nhẹ hơn trong sự trôi chảy từ ngữ và điều này thường đi kèm với sự phát âm sai. Trong một vài trường hợp, giọng nói cũng bị ảnh hưởng, mất sự trầm bổng bình thường. Vài chức năng ngôn ngữ xuất hiện sự thay đổi bất thường trong giai đoạn sớm của bệnh.

    – Cơn co giật chiếm khoảng 70-85% các trường hợp có thể trước hoặc sau khi khởi phát chứng mất ngôn ngữ. Cơn co giật thường xuất hiện từ 4-10 tuổi và trong phần lớn các trường hợp sẽ biến mất trước 15 tuổi.

    – Nguyên nhân của rối loạn này chưa biết đến. Một số trường hợp của hội chứng Landau Kleffner là thứ phát: các u não biệt hóa thấp, các tổn thương não kín, bệnh lý thoái hóa myelin và viêm mạch máu của hệ thần kinh trung ương.

    – Rối loạn hành vi và cảm xúc thường gặp trong vài tháng sau khi bắt đầu bị mất ngôn ngữ nhưng chúng có khuynh hướng cải thiện khi trẻ đạt được vài cách giao tiếp. Có thể gặp hành vi gây hấn, lo âu, tăng động, giảm sự tập trung – chú ý.

    – Tiên lượng của rối loạn này thì cũng khá thay đổi: 2/3 trẻ khỏi bệnh với sự suy giảm ngôn ngữ ít hay nghiêm trọng hơn, và 1/3 còn lại thì hồi phục hoàn toàn.

    II. TIÊU CHUẨN CHẨN ĐOÁN THEO ICD-10:

    A- Sự mất nghiêm trọng những kỹ năng ngôn ngữ tiếp nhận và diễn đạt trong một khoảng thời gian không vượt quá 6 tháng.

    B- Sự phát triển ngôn ngữ bình thường trước khi bị mất ngôn ngữ.

    C- Những bất thường EEG kịch phát ảnh hưởng đến 1 hoặc 2 bên thùy thái dương trở nên rõ ràng trong khoảng thời gian kéo dài từ 2 năm trước đến 2 năm sau khi bắt đầu mất ngôn ngữ.

    D- Thính lực trong giới hạn bình thường.

    E- Sự duy trì trình độ trí tuệ phi ngôn ngữ trong giới hạn bình thường.

    F- Không có bất kỳ tình trạng thần kinh được chẩn đoán nào mà có thể gây bất thường trên EEG và xuất hiện cơn động kinh.

    G- Không đủ tiêu chuẩn chẩn đoán Rối loạn phát triển lan tỏa.

    III. CHẨN ĐOÁN PHÂN BIỆT:

    – Mất ngôn ngữ mắc phải do chấn thương não, khối u hay một bệnh lý tiến triển khác.

    – Điếc

    – Tự kỷ với sự thoái lui về ngôn ngữ và các sóng dạng động kinh trên EEG.

    – Rối loạn phát triển lan tỏa.

    – Loạn thần hay rối loạn cảm xúc nghiêm trọng.

    – Động kinh ở trẻ em và chậm phát triển tâm thần.

    IV. CẬN LÂM SÀNG:

    – EEG trong lúc ngủ (EEG lúc thức không đủ để chẩn đoán). Theo dõi EEG liên tục (EEG 24 giờ).

    – MRI, CT sọ não

    – Những xét nghiệm về chuyển hóa.

    – Trắc nghiệm trí tuệ.

    – SPECT.

    V. ĐIỀU TRỊ:

    1. Hóa dược :

    * Thuốc chống động kinh

    – Nhiều loại thuốc kháng động kinh được sử dụng thông thường có hiệu quả trong động kinh toàn thể hoặc cục bộ đã được sử dụng trong hội chứng này với những mức độ thành công khác nhau như Valproate, Diazepam, Ethosuximide, Clobazam và Clonazepam.

    – Lamotrigine, Sultiame, Felbamate, Vigabatrin, Levetiracetam, Nicardipine cũng cho thấy có hiệu quả.

    – Phenobarbital, Carbamazepine, Phenytoin không hiệu quả trong việc ngừng phóng điện trên EEG và mất ngôn ngữ. Trong một số trường hợp Carbamazepine có thể làm xấu đi bệnh cảnh lâm sàng; điều này đặc biệt đúng với những bệnh nhân có loại cơn gục đầu và cơn vắng ý thức không điển hình.

    – Felbamate ở liều 45mg/kg cân nặng/ngày được ghi nhận thành công trong một trường hợp.

    * Corticosteroid hoặc ACTH :

    – Trong 4 trường hợp được mô tả bởi Lerman &CS trị liệu bằng Corticosteroid hoặc ACTH sớm có lợi trong việc cải thiện các triệu chứng của LKS và bình thường hóa EEG. Điều trị Steroid kéo dài đã được khuyến cáo với liều ACTH 80IU/ngày hoặc Prednison 60mg/ngày sau đó giảm liều trong vòng 3 tháng. Một nghiên cứu khác cho thấy khi sử dụng Corticosteroid với liều 1mg/kg trong 6 tháng thì ghi nhận hầu hết đều kiểm soát được cơn co giật, đồng thời có sự cải thiện tốt về nhận thức, ngôn ngữ và hành vi.

    – Các tác giả khác đã khuyến cáo là dùng Methylprednisolone tiêm tĩnh mạch có hiệu quả.

    – Giảm liều steroid có thể gây ra tái diễn các triệu chứng; do vậy 6 tháng – nhiều năm điều trị là cần thiết.

    – Cần theo dõi tác dụng phụ khi sử dụng Corticosteroids hoặc ACTH .

    * Immuno globulin:

    – Một số báo cáo đã ghi nhận gamma globulin tiêm tĩnh mạch có thể hiệu quả đối với LKS. (Fayad & al 1997; Lagae & al 1998; Mikati 2000).

    – Một số tác giả khi dùng Immunoglobulin tiêm tĩnh mạch thì chỉ thấy có 2/11 bệnh nhân có sự đáp ứng và cải thiện.

    Nicardipine :

    – Một chất ức chế kênh Canxi đã được sử dụng trong điều trị LKS. Trong báo cáo đầu tiên (4 bệnh nhân) sử dụng Nicardipine kết hợp với thuốc kháng động kinh (CBZ, VPA) và Corticosteroid (3/4 trường hợp); tuy nhiên việc ngưng Nicardipine thường kết hợp với sự thoái hóa ngôn ngữ cấp tính.

    2. Phẫu Thuật: Trong Trường Hợp Kháng Trị Thuốc.

    3. Thuốc Hổ Trợ- Tăng Tuần Hoàn Não Và Bồi Bổ Thần Kinh

    4. Trị Liệu Ngôn Ngữ:

    * Giúp trẻ hoà nhập lại môi trường sống chung quanh, gia đình và trường học.

    * Hỗ trợ về trị liệu ngôn ngữ trực tiếp và/ hoặc gián tiếp đối với những trẻ có bất thường ngôn ngữ mức độ trung bình- nặng.

    5. Tâm Lý Trị Liệu: Đối Với Những Bệnh Nhân Có Rối Loạn Hành Vi.

    Mất Ngôn Ngữ Mắc Phải Do Động Kinh - Hội Chứng Landau Kleffner

    Xem thêm Phác đồ điều Trị Bệnh Viện Tâm Thần (Hồ Chí Minh):

    1. Bảng Nguyên Nhân Hội Chứng Sảng
    2. Nói Lắp
    3. Phác Đồ Cấp Cứu Hạ Huyết Áp Tư Thế
    4. Phác Đồ Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị Chữa Bệnh Hội Chứng Ác Tính
    5. Phác Đồ Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị Chữa Bệnh Rối Loạn Tic
  • Bảng Nguyên Nhân Hội Chứng Sảng

    Bảng Nguyên Nhân Hội Chứng Sảng

    Bảng Nguyên Nhân Hội Chứng Sảng

    A.SẢNG DO CHUYỂN HÓA VÀ NỘI TIẾT

    1. Hạ đường huyết

    2. Tiểu đường

    3. Suy gan, suy thận, suy hô hấp

    4. Mất nước hay ngộ độc nước

    5. Giảm hay tăng Natri máu

    6. Giảm hay tăng Kali máu

    7. Rối loạn tuyến thượng thận: tăng tiết corticoid, suy tuyến thượng thận

    8. Rối loạn tuyến giáp: cường giáp, nhược giáp…

    9. Nhược hay cường tuyến cận giáp

    10. Tiểu Porphyrine cấp, từng cơn

    11. Thiếu vitamine, suy dinh dưỡng

    B. SẢNG DO NHIỄM TRÙNG

    1. HIV: dotác động nhiễm độc thần kinh trực tiếp và/hay nhiễm trùng cơ hội

    2. Virút: cúm,viêm não màng não

    3. Vitrùng: lao, giang mai tiến triển, viêm màng não mũ, nhiễm trùng huyết

    4. Ký sinh trùng: sốt rét

    C. SẢNG DO NÃO – MÀNG NÃO

    1. Chấn thương sọ não: máu tụ ngoài hay dưới màng cứng

    2. U não

    3. Tai biến mạch máu não

    4. Bệnh lý não cao huyết áp

    5. Thiếu máu não (suy tim, thiếu máu.)

    6. Tăng áp lực nội sọ

    7. Động kinh (sau cơn, thái dương, động kinh liên tụ6c, sau choáng điện.)

    8. Sa sút tâm thần

    D. SẢNG DO NHIỄM ĐỘC

    1. Nhiễm độc rượu

    2. Nghiện rượu mạn tính: bệnh lý não (Korsakoff, Gayet – Wernicke, hội chứngcai rượu, sảng run)

    3. Nghiện ma túy: ngộ độc cấp; hội chứng cai chất cocain, thuốc phiện, heroin, cácchất gây ảo giác, barbiturate, benzodiazepines và các chất khác.

    4. Ngộ độc tai nạn hay nghề nghiệp: CO, thủy ngân, phospho hữu cơ, v.v.

    E. SẢNG DO NHIỄM ĐỘC THUỐC

    1. Nhiễm độc tự ý (tự sát): chủ yếu các thuốc hướng thần: barbiturate, thuốc chốnglo âu, thuốc chống trầm cảm.

    2. Nhiễm độc thuốc do quá liều ở người già, người suy thận hay suy gan, chủ yếu:

    – Corticoid, thuốc điều trị lao, digitalis, salicylé, lithium,thuốc lợi tiểu, thuốc hạ đường huyết

    Thuốc chống loạn thần, thuốc ngủ, thuốc chống trầm cảm, thuốc chống lo âu, thuốc điều trị Parkinson.

    Bảng Nguyên Nhân Hội Chứng Sảng

    Xem thêm Phác đồ điều Trị Bệnh Viện Tâm Thần (Hồ Chí Minh)

    1. Mất Ngôn Ngữ Mắc Phải Do Động Kinh – Hội Chứng Landau Kleffner
    2. Nói Lắp
    3. Phác Đồ Cấp Cứu Hạ Huyết Áp Tư Thế
    4. Phác Đồ Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị Chữa Bệnh Hội Chứng Ác Tính
    5. Phác Đồ Hướng Dẫn Chẩn Đoán Điều Trị Chữa Bệnh Rối Loạn Tic