Category: Tài Liệu Lớp 12

  • Dàn ý Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hay nhất

    Dàn ý Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hay nhất

    Dàn ý Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 2 bài Thơ là hùng biện du dương hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất (Bài 2)

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Xuân Quỳnh là nhà thơ của hạnh phúc đời thường, thơ chị là tiếng lòng của một tâm hồn luôn khao khát tình yêu, tiếng thơ vừa hồn nhiên vừa nồng nàn, mãnh liệt.

    – Bài thơ đuợc in trong tập Hoa dọc chiến hào, là một trong những bông hoa rực rỡ nhất trong đời thơ Xuân Quỳnh. Bài thơ là tâm trạng mãnh liệt của người phụ nữ trong tình yêu.

    1. Thân bài

    – Hai hình tượng sóng đôi trong tác phẩm là hình tượng “sóng” và “em”, có khi tách riêng, nhưng lúc lại hòa làm một đã thể hiện thế giới tâm hồn phong phú, phức tạp của người phụ nữ trong tình yêu.

    – Khổ 1: + Con sóng của đại dương hiện lên với nhiều đối cực khác nhau dữ dội – dịu êm, ồn ào – lặng lẽ, đó cũng là hình ảnh trái tim chứa đựng nhiều cảm xúc phong phú phức tạp của người phụ nữ.

        + Hai câu sau là sự bứt phá của sóng thoát khỏi không gian sông nhỏ hẹp, “không hiểu mình” để tìm đến biển cả rộng lớn, người phụ nữ cũng luôn khát khao những giá trị tuyệt đích trong tình yêu, luôn muốn khám phá chính mình.

    – Khổ 2: + Thời gian có đổi thay, những bản tính của sóng “ngày xưa”, “ngày sau” vẫn như vậy: luôn dạt dào, khao khát tìm kiếm không gian rộng lớn vẫy vùng, luôn hướng đến bờ.

        + Cũng như trong, trái tim của người con gái luôn rạo rực, “bồi hồi” khát khao được yêu thương, khát khao đến bến bờ nơi anh.

    – Khổ 3: + Trái tim tình yêu của người con gái đã hòa nhịp chung với nhịp vỗ của “muôn trùng sóng bể”.

        + Người con gái trong tình yêu luôn khát khao nhận thức về mình, người mình yêu và về tình yêu. Nỗi khắc khoải “Từ nơi ..lên” là khát khao tìm nguồn cội tình yêu.

    – Khổ 4: + Đến đây chính là lời giải đáp cho những băn khoăn ở khổ trước.

        + Vì trái tim người con gái đã hòa nhịp cùng sóng, nên để tìm nguồn cội tình yêu người con gái muốn lí giải nguồn cội của sóng trước, nhưng tất cả đều bí ẩn, để rồi ngại ngùng thốt lên “Em cũng không biết nữa”.

    – Khổ 5: + Nỗi nhớ bờ của sóng triền miên, bao trùm khắp không gian “dưới lòng sâu” – “trên mặt nước”, thời gian “ngày” – “đêm”, dạt dào đến “không ngủ được”. Đó cũng là nỗi nhớ của người phụ nữ khi yêu.

        + Nỗi nhớ “anh” của “em” còn ăn sâu vào cả tiềm thức, luôn thường trực trong mọi suy mọi lúc, mọi nơi ngay cả trong giấc mơ “cả trong mơ còn thức”.

    – Khổ 6: + Nghệ thuật tương phản “xuôi – ngược”, điệp ngữ “dẫu”, “vẫn”, “về” gợi hành trình của sóng ngoài biển lớn cũng như hành trình tình yêu của người phụ nữ giữa cuộc đời.

        + Lời thề thủy chung của người phụ nữ, niềm tin chờ đợi trong tình yêu, dù ở đâu cũng “hướng về anh một phương”, nghĩ về người mình yêu bằng cả trái tim.

    – Khổ 7: khẳng định quy luật vĩnh cửu của thiên nhiên “con nào chẳng tới bờ … Dù… cách trở”, cũng giống như “em”, dù khó khăn, thử thách vẫn luôn hướng đến “anh”.

    – Khổ 8: + “Cuộc đời tuy dài thế / Năm tháng vẫn đi qua”: cảm giác cô đơn nhỏ bé trước cuộc đời, nỗi lo âu về sự hữu hạn của tình yêu trước thời gian vô tận.

        + “Như biển kia … bay về xa”: cảm giác bất an trước cái dễ đổi thay của lòng người giữa “muôn vời cách trở”. Nhưng đây còn là vượt lên sự lo âu phấp phỏng đặt niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của tình yêu như mây có thể vượt qua biển rộng.

    – Khổ 9: + “Làm sao” gọi sự băn khoăn, khắc khoải, ước ao được hóa thành “trăm con sóng nhỏ” để muôn đời vỗ mãi vào bờ.

        + Đó là khát khao của người phụ được sống “biển lớn trong tình yêu ” bằng tình yêu và cùng tình yêu, khát khao hòa nhập tình yêu riêng tư trong tình yêu chung rộng lớn.

    III. Kết bài

    – Nêu cảm nhận về bài thơ Sóng

    – Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng thành công hình tượng “sóng”ngôn từ, hình ảnh trong sáng bình dị, …

    – Sóng là bài thơ in đậm dấu ấn tâm hồn người phụ nữ vừa đời thường, chắt chiu nhưng khát khao những gì tuyệt đích trong tình yêu.

     

  • Top 2 bài Thơ là hùng biện du dương hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất (Bài 2)

    Top 2 bài Thơ là hùng biện du dương hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất (Bài 2)

    Top 2 bài Thơ là hùng biện du dương hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất (Bài 2)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Thơ là hùng biện du dương hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất

    [toc]

    Đề bài: “Thơ là hùng biện du dương” hãy chứng minh điều đó qua tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải

    Bài văn mẫu

       Mùa xuân nho nhỏ được Thanh Hải viết trước một tháng trước khi ông qua đời. Đây có thể coi là kết tinh nghệ thuật của cuộc đời ông. Tác phẩm vừa có cái du dương, trầm lắng nhưng cũng đầy tính hùng biện, hào hùng. Một cách ngắn gọn thì có lẽ nhân xét này là vô cùng chuẩn xác: “Thơ là hùng biện du dương”

       Quả thực đúng như vậy, thơ không chỉ đơn thuần truyền tải, khuyên răn bạn đọc một thông điệp nào đó. Nếu chỉ đơn giản mục đích là như vậy, có lẽ không cần đến thơ ca cũng có thể tuyên truyền được. Nhưng cái hay của thơ chính là truyền tải thông điệp cứng nhắc bằng sự du dương, trầm bổng của mình. Khi ấy sẽ dễ dàng đi vào lòng bạn đọc hơn rất nhiều.

       Hùng biện được hiểu là những lí lẽ, dẫn chứng khiến người nghe bị thuyết phục. Tính hùng biện có quan hệ chặt chẽ trong cách sử dụng ngôn ngữ danh thép, lo gic và chặt chẽ. Còn tính du dương được coi như một đặc trưng khi biệt của thơ ca. Tính du dương trong mỗi tác phẩm bị chi phối bởi rất nhiều yếu tố như nhịp điêu, thể thơ, hình ảnh. Khi nhận xét “Thơ là hùng biện du dương” tác giả muốn khẳng định ngôn ngữ, hình ảnh thơ phải thật du dương, nhưng cũng không thiếu được những lí lẽ thuyết phuc, logic làm cho gười đọc bị thuyết phục hoàn toàn.

       Tính hùng biện trong bài thơ Mùa xuân n ho nhỏ được thể hiện rất rõ nét. Nhưng để thấy được tính hùng biện của tác phẩm này cần hiểu rõ luận đề mà Thanh Hải đưa ra trong bài thơ này là gì. Nương theo dòng cảm xúc của toàn bộ văn bản có thể thấy luận đề trung tâm của tác phẩm chính là: khát vọng được cống hiến mùa xuân nho nhỏ của bản thân cho mùa xuân lớn của đất nước. Từ luận đề chung đó, Thanh Hải triển khai thành những ý nhỏ vô cùng logic, chặt chẽ. Trước hết đó là niềm tự hào, tình yêu quê hương xứ sở:

           Mọc giữa dòng sông xanh

           …

           Tôi đưa tay tôi hứng

       Một bức tranh đậm đà chất Huế mà chỉ cần với năm câu thơ, tác giả đã vẽ ra trước mắt người đọc. Bức tranh đó có còn sống xanh biếc bởi những nhánh cây lục bình, có những bông hoa tím mộng mơ, có tiếng chim chiền chiện hót vang trời. Và tác giả yêu quý, trân trọng tất cả khung cảnh đẹp đẽ đó. Hành động “tôi đưa tay tôi hứng” đầy nâng niu, trân trọng, đã phần nào cho thấy tình yêu quê hương đất nước của tác giả. Không chỉ vậy, tình yêu đất nước còn thể hiện trong niềm tin son sắt vào sự trường tồn vĩnh cửu của đất nước với thời gian: “Đất nước như vì sao/ Cứ đi lên phía trước”. Dù trải qua bao mưa gió, bao phong ba, bão táp, tác giả vẫn có một niềm tin dai dẳng về sự phát triển, về sự trường tồn của quê hương.

       Lời hùng biện đó của tác giả nhằm hướng đến mục đích cuối cùng chính là lặng lẽ dâng cho đời một mùa xuân nhỏ nhỏ, góp chút công sức nhỏ nhoi cho sự phát triển chung của dân tộc.

           Ta làm con chim hót

           …

           Một nốt trầm xao xuyến

       Những điều mà tác giả muốn hòa thân thật dung dị, đẹp đẽ là con chim, là nhành hoa, hay chỉ đơn thuần là một nốt trầm trong bản nhạc đạc lớn của cuộc đời. Và nguyện ước đó đâu chỉ là ngày một ngày hai mà nó đã được hình thành ngay từ khi tác giả còn rất trẻ: “Dù là tuổi hai mươi/ Dù là khi tóc bạc”. Đến đây tình hùng biện của bài thơ càng được khẳng định rõ nét hơn: bài thơ chính là lời hùng biện đanh thép cho lẽ sống đẹp: sống là cống hiến, là hiến dâng cả cuộc đời cho đất nước.

       Nhưng thơ đâu chỉ là những lời lẽ hùng biện khô khan, cứng nhắc, nếu vậy sẽ rất khó đi vào lòng người. Để người đọc dễ dàng cảm nhận thơ còn mang tính du dương, trầm bổng. Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải cũng như vậy. Tính du dương đó trước hết thể hiện ở tình cảm trực tiếp, ở những hình ảnh giản dị, thân thuộc của quê hương. Nhắc đến Huế ai chẳng nhớ đến dòng sông Hương hiền hòa, lặng lẽ, nhớ đến những cánh hoa lục bình tím biếc hay tiếng chim chiền chiện hót vang trời đón xuân sang. Bằng một tình yêu chân thành, sự gắn bó máu thịt, Thanh Hải nâng niu từng cảnh sắc của đất trời xứ Huế. Câu thơ cuối trong khổ thơ thứ nhất với từ cảm thán “ơi” và hành động “hứng” như một lần nữa khẳng định tình yêu tha thiết, chân thành đó.

       Tính du dương của thơ bao giờ cũng được thể hiện rõ nhất ở nhịp điệu. Mùa xuân nho nhỏ được viết bằng thể thơ năm chữ, giàu nhịp điệu. Nhịp điệu linh hoạt, khi tha thiết, trầm bổng trước hành trình đầy gian lao, vất vả của đất nước: “Mùa xuân người cầm súng/ Lộc dắt đầy trên lưng/ Mùa xuân người ra đồng/ Lộc trải dài nương mạ”; khi hối hả, gấp gáp: “Tất cả như hối hả/ Tất cả như xôn xao”; khi mạnh mẽ cuộn trào: “Đất nước như vì sao/ Cứ đi lên phía trước”. Nhịp điệu đó còn được kết hợp với tiếng chim chiền chiện vang trời, với nhịp phách Huế, câu Nam ai Nam bình đầy da diế. Cứ như vậy, từng khúc nhạc, từng nhịp điệu quấn quýt, hòa quyện với nhau tạo thành một bản nhạc tuyệt vời về lối sống đẹp, về sự cống hiến, hi sinh.

       Có thể thấy, Mùa xuân nho nhỏ chính là minh chứng rõ ràng nhất, điển hình nhất cho nhận xét: “Thơ là hùng biện du dương”. Chất hùng biện, triết lí được bao bọc, thể hiện bởi sự du dương đã đem đến cho bạn đọc một bài học, một triết lí lớn trong cuộc sống: sống là cống hiến, là cho đi không chỉ nhận riêng mình.

     

  • Thơ là hùng biện du dương hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất

    Thơ là hùng biện du dương hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất

    Thơ là hùng biện du dương hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 12 bài Nghị luận văn học, dàn ý Viết bài làm văn số 5 lớp 12 hay nhất

    [toc]

    Đề bài: “Thơ là hùng biện du dương” hãy chứng minh điều đó qua tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải.

    Bài văn mẫu

        Voltaired đã từng nhận định rằng: “Thơ là hùng biện du dương”, quả đúng như vậy. Thơ phải vừa có lí lẽ thuyết phục lại vừa phải sâu sắc, đi vào lòng người. Một bài thơ phải đáp ứng được hai điều kiện ấy mới trở thành một tác phẩm thực thụ và sống mãi với thời gian. Mùa xuân nho nhỏ được Thanh Hải sáng tác vào những ngày cuối cùng của cuộc đời mình, tác phẩm là tâm huyết là kết tinh tài năng nghệ thuật của ông. Tác phẩm vừa sâu sắc, lập luận rõ ràng, lại vừa sâu lắng, tha thiết, tràn ngập tình cảm.

        Để có thể hiểu tính hùng biện và du dương trong tác phẩm Mùa xuân nho nhỏ của Thanh Hải chúng ta trước hết cần hiểu nhận định của Voltaired có nghĩa là gì. Trước hết hùng biện là những lí lẽ, dẫn chứng, cách lập luận thuyết phục với người nghe; còn du dương có nghĩa là sự mềm mại của tính nhạc, vần điệu trong một tác phẩm. Như vậy, đối với một bài thơ không chỉ cần nội dung thuyết phục mà còn cần cả sự hấp dẫn trong câu chữ. Tác giả đã đề cập đến hai yếu tố của tác phẩm thơ là đặc sắc về nội dung và đẹp đẽ về nghệ thuật. Và bài thơ Mùa xuân nho nhỏ đã đáp ứng đầy đủ hai yêu cầu này của nhà phê bình Voltaired.

        Mùa xuân nho nhỏ là tác phẩm được viết một tháng trước khi nhà thơ qua đời. Vậy nhưng, trong bài thơ ta không hề thấy màu sắc bi quan, chán chường mà lại là một trái tim yêu cuộc sống tha thiết và khát vọng, nguyện ước cống hiến cho đời tha thiết, mãnh liệt. Tính hùng biện trong thơ ông chính là ở chỗ đó.

        Lòng yêu cuộc sống của Thanh Hải trước hết là niềm say mê, háo hức trước bức tranh thiên nhiên mùa xuân tuyệt đẹp: “Mọc giữa dòng sông xanh/ Một bong hoa tím biếc/ Ôi con chim chiền chiện/ Hót chi mà vang trời/ Từng giọt long lanh rơi/ Tôi đưa tay tôi hứng”. Bức tranh mở ra với không gian cao rộng của bầu trời và chiều dài của dòng sông. Màu tím biếc đặc trưng của xứ Huế khiến cho bức tranh thêm phần mơ mộng, lãng mạn . Và trên bầu trời cao rộng kia xuất hiện tiếng chim chiền chiện vui tươi, rộn ràng, như một lời hoan ca, chào đón mùa xuân. Một cách rất tự nhiên, nhà thơ đưa tay hứng lấy những “giọt long lanh rơi”. Giọt này là giọt gì, giọt sương, giọt mùa xuân, hay giọng hót của chim chiền chiện đã ngưng đọng thành từng giọt. Dù hiểu theo cách nào ta cũng đều thấy được sự trân trọng, nâng niu của tác giả trong từng hành động. Câu thơ đã cho thấy cảm xúc say sưa, ngây ngất, của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên xứ Huế.

        Từ cảm xúc của mùa xuân xứ Huế, Thanh Hải nâng len thành niềm tự hào trước mùa xuân của đất nước:

        Mùa xuân người cầm súng

        Lộc giắt đầy trên lưng

        Mùa xuân người ra đồng

        Lộc trải dài nương mạ

        Những hình ảnh thơ thật đẹp, đã khái quát được hai lực lượng chính của đất nước ta. Hình ảnh người cầm sung gợi liên tưởng đến những chiến sĩ ngày đêm chiến đấu bảo vệ tổ quốc. Hình ảnh người ra đồng lại la những hậu phương vững chắc, sản xuất phục vụ tiền tuyến. Giữa họ là những thực thể không thể tách rời, thực hiện nhiệm vụ chiến đấu và xây dựng, bảo vệ tổ quốc. Trong câu thơ xuất hiên hai từ “lộc”, nhưng mỗi từ lộc lại đem đến cho người đọc những liên tưởng khác nhau. Từ lộc thứ nhất gợi cho chúng ta nhớ đến những nhành cây trên ba lô ngụy trang người chiến sĩ, như vậy người lính khi ra trận đem theo cả sức sống mãnh liệt của dân tộc. Còn chữ “lộc” thứ hai lại gợi cho ta nhớ đến hình ảnh của những cánh đồng xanh rì, bát ngát, tràn đầy sự sống. Chính con người đã đem đến sức sống cho thiên nhiên đất nước. Và trong công cuộc đấy, con người trở nên hối hả, gấp gáp, vội vã hơn. Đây cũng như là tiếng reo vui trong trong tâm hồn của tinh thần lao động khẩn trương, hăng say.

        “Đất nước bốn ngàn năm/ Vất vả và gian lao/ Đất nước như vì sao/ Cứ đi lên phía trước”. Khổ thơ vừa nói về hành trình đầy gian lao, vất vả của đất nước trong quá trình dựng nước và giữ nước. Trong bốn ngàn năm ấy, chúng ta đã phải đối mặt với biết bao kẻ thù nguy hiểm, biết bao người đã ngã xuống vì nên độc lập của dân tộc. Nhưng dù gian lao, vất vả, đất nước vẫn tiếp tục tiến về tương lai tươi sáng. Đất nước được tác giả ví như một ngôi sao, ngôi sao vĩnh cửa trong vũ trụ, trường tồn với thời gian, cũng như sự tồn tại tất yếu của dân tộc. Bên cạnh đó phụ từ “cứ” kết hợp với động từ “đi lên” thể hiện niềm tin, sự quyết tâm cao độ của tác giả vào sức sống của quê hương, đất nước.

        Những vần thơ cuối cùng của bài là nguyện ước chân thành, mãnh liệt cống hiến cho đời, cho đất nước:

        Ta làm con chim hót

        Ta làm một cành hoa

        Ta nhập vào hòa ca

        Một nốt trầm xao xuyến.

        Tác giả ước mình là một con chim đem lại tiếng hót cho đời, ước làm một cành hoa tươi thắm làm cho bức tranh cuộc đời thêm tươi tắn sắc màu. Và đặc biệt tác giả muốn làm một nốt trầm lặng lẽ cống hiến cho bản nhạc cuộc đời. Một ước nguyện thật khiêm nhường, đẹp đẽ. Đặc biệt ở đây có sự chuyển đổi đại từ, từ “tôi” ở đầu tác phẩm đến đây là “ta” như một lần nữa khẳng định, đây không chỉ là nguyện ước của riêng cá nhân ông, mà là nguyện ước chung của rất nhiều người. Họ cống hiến cả tuổi trẻ, cả thanh xuân “Dù là tuổi hai mươi” hay khi “dù là khi tóc bạc” nguyện ước ấy vẫn chân thành tha thiết và không hề thay đổi. Đây là một lẽ sống đẹp đẽ và đáng trân trọng và đáng trân trọng hơn khi bài thơ được sáng tác vào những ngày tháng cuối cùng của tác giả.

        Bài thơ không chỉ có tính “hùng biện” mà trong nó còn dạt dào tính “du dương”. Tính du dương của bài thơ được thể hiện trong nhạc điệu vô cùng trong sáng, thiết tha. Bài thơ được viết bằng thể thơ năm chữ, thể thơ ngũ ngôn vốn giàu nhịp điệu, biến đổi linh hoạt cùng với đó là sự kết hợp hài hòa điệp từ, điệp ngữ đã khiến cho nhịp điều bài thơ càng trở nên linh hoạt, tựa như một bản nhạc. Không chỉ vậy, Thanh Hải còn sử dụng ngôn từ hết sức tài tình, ngôn ngữ trong thơ ông giản dị, dễ hiểu nhưng vẫn rất giàu ý nghĩa biểu tượng: cành hoa, con chim, mùa xuân,… gửi gắm những thông điệp đẽ của tác giả. Ngoài ra cũng không thể không kể đến cấu tứ thơ chặt chẽ, đi từ mùa xuân của đất trời đến mùa xuân đất nước và cuối cùng là con người, mạch thơ logic, hợp lí. Cuối cùng là giọng thơ cũng có sự biến đổi linh hoạt: mở đầu bài thơ giọng điêu say sưa, vui tươi, háo hức, phần cuối lại trầm lắng, nghiêm trang bộc lộ những tâm nguyện của ông.

        Mùa xuân nho nhỏ là tuyệt phẩm của nhà thơ Thanh Hải, gửi gắm đến bạn đọc những thông điệp ý nghĩa về lối sống cống hiến cho cuộc đời. Đồng thời bài thơ cũng là minh chứng cho nhận định “thơ là hùng biện du dương”. Bên cạnh đó, bài thơ cũng đến cho người đọc nhận thức, sáng tạo nghệ thuật phải luôn gắn bó và phục vụ cuộc sống.

     

  • Top 12 bài Nghị luận văn học, dàn ý Viết bài làm văn số 5 lớp 12 hay nhất

    Top 12 bài Nghị luận văn học, dàn ý Viết bài làm văn số 5 lớp 12 hay nhất

    Top 12 bài Nghị luận văn học, dàn ý Viết bài làm văn số 5 lớp 12 hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích Cách xây dựng nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    [toc]

    Phần Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học Ngữ văn lớp 12 gồm các bài văn mẫu: nghị luận văn học, phân tích, dàn ý, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 12 và tự tin bước vào kì thi THPT Quốc gia môn Văn.

    1. Dàn ý “Thơ là hùng biện du dương” hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ
    2. “Thơ là hùng biện du dương” hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Bài văn mẫu 1)
    3. “Thơ là hùng biện du dương” hãy chứng minh điều đó qua bài thơ Mùa xuân nho nhỏ (Bài văn mẫu 2)
    4. Dàn ý Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh
    5. Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh (Bài văn mẫu 1)
    6. Bình giảng bài thơ Sóng của Xuân Quỳnh (Bài văn mẫu 2)
    7. Dàn ý Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ
    8. Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ (Bài văn mẫu 1)
    9. Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ (Bài văn mẫu 2)
    10. Nghị luận: Trong một bức thư bàn luận về văn chương, Nguyễn Văn Siêu có viết: …
    11. Nghị luận: Phong cách chính là người (Buy-phông)
    12. Nghị luận: Khi một tác phẩm nâng cao tinh thần ta lên …

     

  • Phân tích Cách xây dựng nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Phân tích Cách xây dựng nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Phân tích Cách xây dựng nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Kể lại truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

    [toc]

    Đề bài: Nhân vật Mị trong truyện “Vợ chồng A Phủ” là một thành công của Tô Hoài trong cuộc xây dựng con người thức tỉnh. Hãy chứng minh nhận định ấy?

    Bài văn mẫu

        Truyện “Vợ chồng A Phủ” rút trong tác phẩm “Truyện Tây Bắc” (1953) là thành công tốt đẹp đầu tiên của Tô Hoài sau Cách mạng tháng Tám. Qua cuộc đời tủi nhục đau khổ của Mị và A Phủ, hai nô lê của thống lí Pá Tra ở Hồng Ngài, Tô Hoài đã phản ánh nỗi thống khổ của người Mèo trong chế độ cũ và sự vùng dậy của họ để giành lấy tự do, hạnh phúc, một lòng đi theo Cách mạng và kháng chiến.

        Nhân vật Mị trong truyện “Vợ chồng A Phủ” là một thành công của Tô Hoài trong việc xây dựng con người thức tỉnh.

        Con người thức tỉnh trong văn học là những nhân vật từng nếm trải nhiều cay đắng, tủi nhục và đau khổ; trải qua những năm dài bị áp bức bóc lột, bị chà đạp giày xéo mà trở thành con người gần như vô cảm vô hồn, sống trong trạng thái nhẫn nhục, cam chịu cho thân phận mình. Cuối cùng, con người thức tỉnh dần dần tự ý thức về quyền sống và quyền làm người của mình, phản kháng áp bức, bất công giành lấy tự do và hạnh phúc, xây dựng một cuộc sống có ý nghĩa. Cùng với nhân vật A Phủ, ta thấy rõ nhân vật Mị là “con người thức tỉnh” giàu ý nghĩa nhân văn.

        Cuộc đời Mị đầy bi kịch. MỊ xinh đẹp, thổi sáo hay, nhiều chàng trai Mèo mê “ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Nhưng hạnh phúc tuổi xuân không đến với người con gái đáng thương này. Mẹ Mị đã mất. Nhà nghèo, bố Mị đã già. Món nợ truyền kiếp, mỗi năm phải đem nộp lãi cho chủ nợ một nương ngô đã trở thành sợi dây oan nghiệt đối với Mị. Mị đã bị A Sử (con trai thống lí Pá Tra) “cướp được” đem về cúng trình ma. Bố Mị chỉ còn biết cất lời than trong nước mắt: “Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thế nào khác được rồi!”.

        Với Mị, kiếp con dâu gạt nợ đau khổ, tủi nhục vô cùng. Đêm nào Mị cũng khóc. Tự thương cho số phận mình, Mị phải chết, Mị phải tự tử bằng lá ngón hái được ở trong rừng – Hình ảnh Mị: “hai tròng mắt còn đỏ hoe”, quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở, hình ảnh bố Mị “cũng khóc”cất lời than… đã cho thấy một bi kịch đầy nưác mắt! Mị muốn ăn lá ngón tự tử và Mị không cam chịu làm kiếp nô lộ trong thân phận con dâu gạt nợ. Mị muốn được sống trong một cuộc đời đáng sống, sống có ý nghĩa làm người. Sống trong nô lệ và tủi nhục thì tự tử còn hơn. Phản kháng ấy tuy tiêu cực, nhưng cho thấy Mị đã ý thức về nhân phẩm của mình. Ý thức về nhân phẩm, phủ định thực tại đen tối là biểu hiện của con người thức tỉnh.

        Mị muốn chết mà không chết được. Mị chết nhưng nợ quan vẫn còn, bố Mị đã già yếu quá rồi. Ai có thể làm nương ngô giả được nợ thống lí! Mị chỉ còn biết khóc. Mị phải ném nắm lá ngón xuống đất. “Mị không đành lòng chết… Mị đành trở lại nhà thống lí”. Mị cam chịu kiếp nô lệ con dâu gạt nợ vì Mị thương bố, Mị hiếu thảo và giàu hi sinh biết bao!

        Quá trình thức tỉnh của con người thức tỉnh là những năm dài đen tối, là những tháng ngày tủi nhục đắng cay. Mị cũng vậy. Nơi Mị ở là một cái buồng kín mít như cái chuồng nhốt thú, chỉ có một lỗ vuông bằng bàn tay trông ra… Có lúc Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra “đến bao giờ chết thì thôi”. Nhan sắc, tuổi xuân của Mị bị tước đoạt, bị giày xéo, bị chà đạp. Mị bị bóc lột tàn nhẫn, phải làm quần quật quanh năm. Lên núi hái thuốc phiện, bẻ bắp, hái củi, bung ngô,… lúc nào cũng gài một bó đay trong tay để tước thành sợi. Có lúc lại thấy Mị quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Bó đay ấy, tảng đá ấy như cái xiềng, cái xích, cái thòng lọng oan nghiệt đối với Mị. Mị bị áp bức mà trở nên tê liệt dần. Không nghĩ đến việc ăn lá ngón tự tử nữa. Mị “tưởng mình cũng là con trâu, cũng là con ngựa”. Mị “cúi mặt”, “mặt buồn rười rượi”. Mị cam chịu “ở lâu trong cái khổ, Mị quen khổ rồi”. Gần như vô cảm vô hồn, lâu dần “Mị càng không nói, lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa”. Thân phận Mị có khác nào cô gái Thái bị ép duyên trong truyện thơ “Tiễn dặn người yêu”

        “Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa

        Bằng con chẫu chuộc thôi…”.

        Cảm thấy kiếp mình, thân phận mình như con trâu, con ngựa, con rùa, con bọ ngựa, con chầu chuộc, có nghĩa là chén đắng cay của cuộc đời đã uống cạn, chỉ còn sống trong tê liệt, nhẫn nhục và cam chịu. Chẳng phải đời Mị đã lụi tàn?

        Con người thức tỉnh được hồi sinh không chỉ bởi ngoại cảnh mà còn tự tâm hồn mình, ý thức mình. Mị đã thức tỉnh với những đốm tình mùa xuân ở Hồng Ngài. Tết đến, mùa xuân làng Mèo làm cho hoa thuốc phiện “đỏ au” thêm rực rỡ, những chiếc váy hoa phơi trên mỏm đá xòe như con bướm sặc sỡ. Những cuộc vui chơi của trai gái, trẻ con như đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy múa diễn ra náo nhiệt trên sân trước nhà. Và tiếng sáo tiếng khèn “rủ bạn đi chơi” làm cho Mị “thiết tha bổi hổi”. Mị nhẩm theo tiếng hát, tiếng sáo vọng lại:

        … “Ta không có con trai con gái

        Ta đi tìm người yêu”…

        Tiếng sáo lay gọi, thức tỉnh tâm hồn Mị. Mị lén lấy hũ rượu, “cứ uống từng ực từng bát”. Uống cho tan nỗi hận! Uống cho vơi đi bao đau khổ chứa chất trong lòng! Say “lịm mặt”, Mị “sống về ngày trước”. Mị nhớ lại thời con gái, Mị thổi sáo bao người mê. Tiếng sáo gọi bạn tình đã nhập vào hồn Mị, “tai Mị văng vẳng tiếng sáo…”. Mị đã thật sự hồi sinh và hồi xuân. Mị tự ý thức là “Mị vẫn trẻ”. Mị cảm thấy “phơi phới”, trong lòng “đột nhiên vui sướng” như những đêm Tết ngày trước thời con gái. Mị muốn đi chơi Tết. Khao khát được sống trong tình yêu hạnh phúc như ngọn lửa bùng cháy tâm hồn Mị.

        Mị được thức tỉnh về cảnh ngộ. Mị thấy vô lí, bất công đến tàn nhẫn, đến cay đắng. Bao nhiêu người có chồng cũng đi chơi ngày Tết. Mị với A Sử “không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau!”. Thật là trớ trêu! Mị muốn ăn lá ngón cho chết. Mị ứa nước mắt. Tiếng sáo gọi bạn yêu đang “lửng lơ bay” ngoài đường. Đó là tâm lí của Mị trong đêm tình mùa xuân. Tiếng sáo lay tỉnh. Mị đang “vùng vẫy” cố thoát cảnh ngộ đau khổ và tủi nhục!

        Mị đã phản kháng, đã hành động. Xắn mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng. Với tay lấy váy hoa, rút thêm cái áo, quấn lại tóc. Mị “sắp đi chơi”. Hành động Mị ngang nhiên diễn ra trước mặt thằng A Sử. Mị chẳng thèm trả lời câu hỏi của hắn: “Mày muốn đi chơi à?”. Mị đã bị thằng A Sử trói vào cột buồng bằng cả một thúng sợi đay, làm cho Mị “không cúi, không nghiêng đầu được nữa”. Mặc dù lúc mê, lúc tỉnh, lúc khắp người “bị dây trói thít lại, đau nhức”, nhưng Mị vẫn “nồng nàn tha thiết nhớ”, “vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị theo những cuộc chơi, những đám chơi”. Điều đó cho thấy, Mị được thức tỉnh về tình yêu, về hạnh phúc, lòng khao khát của Mị rất mãnh liệt. Đêm tình mùa xuân cho thấy ngòi bút phân tích tâm lí và hành động Mị, con người thức tỉnh của Tô Hoài rất tinh tế, sâu sắc. Trang văn thấm đượm tinh thần nhân văn đặc sắc.

        Mị có bị ngã gục trước số phận đen tối tủi nhục không? Con ma nhà thống lí, uy quyền của Pá Tra, bộ mặt độc ác của A sử, và món nợ truyền kiếp, tâì cả đã thít chặt Mị bằng những sợi dây oan nghiệt vô hình. Sau đêm bị trói ấy, Mị mỗi ngày một tê dại đi. Mị “chỉ còn biết, còn ở với ngọn lửa”. Đêm nào, Mị cũng “thức sưởi lửa suốt đêm”. Mị và A Phủ “gặp nhau” tại nhà thống lí như một tiền định. Người con dâu gạt nợ. Người vì tội đánh con quan mà trở thành người “vay nợ, ở nợ”. Cả hai đều là con trâu, con ngựa của nhà thống lí. Mị đã bị A Sử trói đứng suốt đêm bằng một thúng sợi đay. A Phủ vì tội để hổ bắt mất một con bò mà bị Pá Tra trói vào cọc bằng một cuộn mầy, “trói cho đến chết”…A Phủ bị trói đã mấy ngày đêm. Mỗi đêm, nghe tiếng phù phù thổi bếp, A Phủ “mở mắt”…; thấy ngọn lửa sưởi bùng lên, A Phủ “trừng mắt”. Mị nhìn sang, rồi “thản nhiên” thổi lửa, hơ tay. Cho dù “nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy, cũng thế thôi”.Tâm hồn Mị đã heo hắt, đã tàn lụi, đã giá lạnh và tê dại đi đến cùng cực! Thật đáng sợ!

        Nhưng rồi cảnh ngộ, tình thương và lòng căm thù đã thức tỉnh ý thức Mị, tâm hồn Mị. Qua “ngọn lửa bập bùng”, Mị “lé mắt trông sang”. Mị xúc động khi nhìn thấy “một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm mắt xám của A Phủ. Mị nhớ lại đêm năm trước, A Sử cũng trói đứng Mị như thế. Mị khẽ thốt lên lời than: “Trời ơi!…”. Mị nguyền rủa cha con thống lí: “Chúng nó thật độc ác”. Bao cảnh thương tâm đồng hiện trong tâm hồn Mị: “Nó bắt trói đứng người ta đến chết, nó bắt mình chết cũng thôi, nó bắt trói đến chết người bà ngày trước cũng ở cái nhà này”. Mị tự thương cảnh ngộ mình, thương A Phủ trên bờ vực thẳm, khi tử thần đã gõ cửa: “Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết, chết đau, chết đói, chết rét, phải chết”. Mị nghĩ đến thân phận mình, tưởng như là cam chịu:”Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi…”. Mị ý thức được, A Phủ không thể chết, “việc gì mà phải chết thế”. Con đường thức tỉnh của con người thức tỉnh là con đường vòng, có lục ngập ngừng do dự, có lúc quyết liệt. Mị cũng thế, Mị tưởng tượng A Phủ trốn thoát, Mị sẽ bị thế mạng trên cái cọc oan nghiệt ấy! Đám than vạc hẳn lửa. Hình như bóng tối cho Mị sức mạnh, “trong tình cảnh này, làm sao Mị cũng không thấy sợ…”.

        Hành động của con người thức tỉnh là “hành động tự phủ định, hành động tự giải thoát” (J.P.Sartre), Mị đã toan ăn lá ngón để tự tử, đó là “hành động tự giải thoát”. Cắt dây trói cho A Phủ, Mị hốt hoảng nói như ra lệnh: “Đi ngay!”. Rồi Mị đứng lặng trong bóng tối. Đó là “khoảnh khắc bi kịch”. Ở lại địa ngục, là chết, chết trong đau đớn như người đàn bà nọ. Chạy trốn còn có thể sống! Mị nói liên tiếp hai câu như kêu cứu và đuổi chạy theo A Phủ: “APhủ cho tôi đi…Ở đây thì chết mất…”. Mị và A Phủ dìu nhau cùng chạy trốn đến Phiếng Sa khu du kích. Phiềng Sa là chốn nương thân cho họ. Cách mạng và kháng chiến mới là đất hứa, đất thánh cho người thức tỉnh. Mị cắt dây trói cứu A Phủ cũng là tự cắt dây trói để giải thoát mình. Như con chim sổ lồng, Mị từ bóng tối vươn tới ánh sáng, từ nô lệ tủi nhục mà giành được tự do, hạnh phúc, cùng với A Phủ nên vợ nên chồng, rồi trở thành chiến sĩ du kích.

        Mị là nhân vật thức tỉnh. Tô Hoài đã phân tích tinh tế, sâu sắc mọi biến thái về tâm lí và hành động Mị trong quá trình thức tỉnh với tất cả tình thương xót và đồng cảm sâu sắc. Mị là nhân vật thức tỉnh có sức phản kháng và sức sống tiềm tàng. Nhân vật Mị đã góp phần thể hiện giá trị nhân đạo của truyện “Vợ chồng A Phủ”.

        Và ta càng thấm thía về cái giá của tự do. Cái mùi vị của tự do là “cái vị ngọt ngào và có mùi tanh đồng” như Hêminguê đã nói.

     

  • Kể lại truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

    Kể lại truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

    Kể lại truyện ngắn Vợ chồng A Phủ của Tô Hoài

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 3 bài Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Kể lại truyện “Vợ chồng A Phủ” của nhà văn Tô Hoài.

    Bài văn mẫu

        Ai ở xa về, có việc vào nhà thống lí Pá Tra đều ngạc nhiên thấy một cô gái ngồi quay sợi bên tảng đá trước cửa, cạnh tàu ngựa. Sau hỏi ra mới biết cô ấy là vợ A Sử, con trai thống lí Pá Tra.

        Mị về làm dâu nhà Pá Tra đã mấy năm. Từ năm nào, cô không nhớ, cũng không ai nhớ. Nhưng người nghèo ở Hồng Ngài vẫn kể lại câu chuyện Mị về làm người nhà quan thống lí. Bố Mị lấy mẹ Mị không có đủ tiền cưới phải đến vay nhà thống lí, bố của thống lí Pá Tra bây giờ. Mồi năm phái trả nợ lãi một nương ngô. Mẹ Mị đã mất, bố Mị nay đã già, vẫn chưa trả hết nợ. Năm ấy, Mị đã lớn. Pá Tra đến nói với bố Mị; “Cho tao đứa con gái mày về làm dâu thì tao xóa hết nợ cho”. Ông lão chưa biết nói thế nào, thì Mị bảo bố rằng: “Con nay đã biết cuốc nương làm ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”.

        Tết năm ấy, con trai con gái vui chơi, đánh pao đánh quay rồi đêm đêm rủ nhau đi chơi. Con trai đến nhà cô gái, người mình yêu đứng thổi sáo xung quanh vách suốt đêm. Nhà Mị cũng thế. Rồi Mị đã bị A Sử đánh lừa, bị con trai thống lí Pá Tra bịt mắt, cõng đem về buồng. Khi tiếng nhạc sinh tiền cúng ma đường rập rờn nhảy múa trong nhà thống lí Pá Tra, thì A Sử đến gặp bố Mị, nói: “Tôi đã cướp được con gái bố về làm vợ, tôi đem về cúng trình ma nhà tôi rồi … Tiền bạc để cưới bố tôi bảo đã đưa cả cho bố rồi”. Bố Mị chỉ còn biết cất lời than…

        Hàng mấy tháng, đêm nào Mị cũng khóc. Một hôm, Mị trốn về nhà, cặp mắt đỏ hoe. Gặp bố, Mị quỳ lạy, úp mặt xuống đất, nức nở. Bố Mị cũng khóc, đoán biết lòng con gái: “Mày về lạy chào tao để mày đi chết đấy à? Mày chết rồi nhưng nợ tao vẫn còn, quan lại bắt tao trả nợ. Mày chết rồi thì không lấy ai làm nương ngô giả được nợ người ta, tao thì ốm yếu quá rồi. Không được, con ơi!”. Mị bưng mặt khóc. Mị ném nắm lá ngón giấu trong áo xuống đất. Mị đành trở lại nhà thống lí.

        Mấy năm qua, mấy năm sau, bố Mị chết. Mị không nghĩ đến chuyện ăn lá ngón tự tự nữa Mị tưởng mình như con trâu con ngựa, chỉ biết việc ăn cỏ, biết đi làm mà thôi. Lên núi hái thuốc phiện, giặt đay, xe đay, bẻ bắp, hái củi, bung ngô, tước sợi đay… bao giờ cũng thế, suốt năm suốt đời như thế. Mị lùi lũi như con rùa nuôi trong xó cửa. Cái buồng Mị nằm, kín mít chỉ có một chiếc cửa sổ, một lỗ vuông bằng bàn tay. Nhìn ra ngoài, chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay nắng, Mị nghĩ chỉ ngồi nhìn ra, đến bao giờ chết thì thôi.

        Những đêm tình mùa xuân nữa lại đến với cái làng Mèo đỏ. Mỏm đất phẳng đầu làng, trẻ con tụ tập trên sân chơi đánh pao, đánh quay, thổi sáo, thổi khèn và nhảy. Mị nghe tiếng sáo ai rủ bạn đi chơi, thiết tha bồi hồi. Mị lén lấy hũ rượu, cứ uống ừng ực từng bát khi trong nhà thống lí, tiếng chiêng đánh ầm ĩ, người ốp đồng nhảy lên xuống, run bần bật. Mị lịm mặt ngồi nhìn người nhảy đồng, người hát. Mị nghe tiếng sáo văng vẳng gọi bạn đầu làng mà nhớ thời con gái, Mị có bao người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị. Khi mọi người đã về, chơi đã vãn cả, Mị vẫn ngồi trơ một mình. Mãi sau Mị đứng dậy đi vào buồng. Mị thấy lòng phơi phới trở lại, đột nhiên vui sướng như những đêm Tết ngày trước. Mị muốn đi chơi. A Sử vừa ở đâu về. Hắn thay áo mới, khoác thêm hai vòng bạc vào cổ, bịt cái khăn trắng lên đầu. Mị cũng không nói. Mị xắn thêm một miếng mỡ bỏ thêm vào đĩa đèn cho sáng. Mị với tay lấy váy hoa, rút thêm cái áo vắt ở phía trong vách. A Sử lấy làm lạ, hỏi Mị: “Mày muốn đi chơi à?” Mị không nói. Thằng A Sử trói đứng Mị vào cột bằng một thúng sợi đay. Hắn còn quấn tóc Mị lên cột làm cho Mị không cúi, không nghiêng đầu được nữa. Hắn thắt cái thắt lưng xanh ra ngoài áo, rồi tắt đèn, đi ra, khép cửa buồng lại.

        Mị bị trói đứng suốt đêm trong buồng. Tay chân đau không cựa được. Mị nghe tiếng sáo, tiếng chân ngựa đạp vào vách, tiếng chó sủa xa xa. Mị khóc, nín khóc, lại bồi hồi, lúc mê, lúc tỉnh. Mị nghĩ đến các chị vợ anh, vợ chú, những người đàn bà khốn khổ sa vào nhà quan. Mị chợt nhó lại chuyện một người đàn bà bị chồng trói chết trong nhà thống lí… Mị sợ quá.

        Trời tang tảng rồi không biết sáng từ bao giờ. Tiếng người xôn xao khiêng con lợn, hoặc một người phải trói, bị vất huỵch xuống đất thở phè phè. A Sử chệnh choạng vào buồng. Áo rách toạc một mảnh vai, cái khăn xéo trắng loang lổ đầy máu. Hắn lăn ra giường, đứng xung quanh là bọn thị sống, thống quán, xéo phải. Pá Tra tay vẫn cầm roi ngựa, gọi ra ngoài. Mị nhắm mắt lại, rồi hé nhìn ra. Người chị dâu lưng còng đến cởi trói cho Mị, và khẽ nói vào tai Mị: “Mị! Đi hái thuốc cho chồng mày”.

        Vào rừng tìm lá thuốc, người chị dâu kể lại chuyện A Sử đi chơi bị A Phủ đánh vỡ đầu. Đi hái thuốc lá về, Mị đi cửa sau lé mắt vào thấy một người to lớn quỳ trong góc nhà. Mị đoán đấy là A Phủ. Bọn lí dịch, quan làng, xéo phải, thống quán đội mũ quấn khăn, xách gậy, cưỡi ngựa kéo đến xử kiện và ăn cỗ. Pá Tra và bọn chức việc nằm hút thuốc phiện từ trưa cho đến hết đêm. Khói thuốc phiện tuôn qua các lỗ cửa sổ tun hút xanh như khói bếp. A Phủ quỳ giữa nhà chịu đòn, chỉ im như cái tượng đá. Mặt sưng lên, môi và đuôi mặt dập chảy máu. Suốt chiều, suốt đêm, càng hút, càng tỉnh, càng đánh, càng chửi, càng hút.

        Trong buồng, đêm hôm đó, Mị phải thức suốt đêm xoa thuốc cho A Sử. Mỏi quá, lại đau ê ẩm, có lúc Mị thiếp đi liền bị hắn đạp chân vào mặt. Ngoài nhà, tiếng hút thuốc phiện rên lên từng cơn như mọt nghiến gỗ kéo dài, giữa tiếng khóc, tiếng đấm đá huỳnh huỵch.

        Sáng hôm sau thì đám kiện đã xong. Vì tội đánh con quan làng, đáng nhẽ làng xử A Phủ tội chết, nhưng làng tha cho để được sống và nộp vạ. Tiền phạt, tiền thuốc, tiền lợn, A Phủ phải chịu một trăm đồng bạc trắng. Quan cho A Phủ vay để nộp vạ. A Phủ lê hai cái đầu gối sưng bạnh lên như mặt hổ phù đến nhặt từng đồng bạc trắng, nhặt xong lại đặt lên mặt tráp, Pá Tra trút cả bạc vào trong tráp. A Phủ không phải quỳ, phải đánh nữa. A Phủ đứng lên cầm dao đi chọc tiết lợn hầu làng.

        A Phủ trở thành kẻ đi ở trừ nợ cho nhà quan thống lí Pá Tra từ đấy. Đốt rừng, cày nương, cuốc nương, săn bò tót, bẫy hổ, chăn bò, chăn ngựa, quanh năm một thân một mình bôn ba rong ruổi ngoài gò, ngoài rừng. Quê A Phủ ở Háng-bia. Bố mẹ, anh em của A Phủ đã chết vì bệnh đậu mùa. A Phủ trơ trọi một mình từ năm mười tuổi, từng bị bán đi cho người Thái ở dưới cánh đồng. Lưu lạc đến Hồng Ngài, đi làm thuê. A Phủ biết đúc lưỡi cày, biết đúc cuốc, lại cày giỏi và đi săn bò tót rất bạo. Nhiều cô gái trong vùng mê. Không có bạc trắng, không có ruộng, không có bố mẹ nên A Phủ không thể lấy nổi vợ. Chỉ có độc một chiếc vòng vía lằn trên cổ nhưng trong những ngày Tết, A Phủ cũng cứ cùng trai làng đem sáo, khèn, đem con quay và quả pao, quả yến đi tìm người yêu ở các làng trong rừng. Vì thế mà sinh sự đánh nhau với A Sử.

        Mấy năm sau, một tai hoạ lại trút xuống đầu A Phủ. Năm đó đói rừng, hổ, gấu từng đàn kéo ra bắt bò ngựa, phá nương. A Phủ đi chăn bò, chẳng may hổ bắt mất một con. Pá Tra quát: “Quân ăn cướp làm mất bờ tao!”. A Phủ bị Pá Tra trói vào cọc gỗ bằng một cuộn dây mây từ chân đến vai, chỉ còn cổ và đầu hơi lúc lắc được. Pá Tra nói: ‘Trói cho đến chết nếu không bắt được hổ về”. Đêm đó, A Phủ nhay dứt hai vòng mây thì trời cũng vừa sáng. Pá Tra vào khám, quàng thêm một vòng thòng lọng vào cổ, thế là A Phủ không cúi, không còn lắc được nữa.

        A Phủ bị trói như thế đã đến mấy ngày đêm. Đêm mùa đông trên núi cao dài và buồn. Đêm nào Mị cũng dậy ra bếp sưởi thường từ lúc gà gáy sáng. Một đêm, Mị lé mắt nhìn sang, thấy một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại của A Phủ. Mị nghĩ đến người đàn bà ngày trước, nghĩ đến kẻ đang bị trói đứng,… Chúng nó thật độc ác. Cơ chừng này chỉ đêm mai là người kia chết. Mị nghĩ đến thân phận mình cũng chỉ còn biết rũ xương ở đấy thôi… Người kia việc gì mà chết thế. Mị sợ, rồi làm sao Mị cũng không thấy sợ. Đám than đã vạc hẳn lửa. Mị rón rén bước lại, lấy con dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây. Tháo hết dây trói, Mị thì thào “Đi ngay…”, rồi Mị nghẹn lại. A Phủ khụy xuống, rồi lại quật sức vùng lên, chạy. Mị đứng lặng trong bóng tối, rồi băng đi đuổi kịp A Phủ khi A Phủ đã lăn, chạy tới lưng dốc. Mị nói, thở trong gió thốc lạnh buốt: “A Phủ cho tôi đi… Ở đây thì chết mất”. Biết người đàn bà chê chồng đó vừa cứu mình, A Phủ nói: “Đi với tôi”. Hai người đỡ nhau chạy xuống dốc núi. Mị và A Phủ vượt qua những triền núi cao, ăn củ rừng, mộc nhĩ,… đi suốt mùa mưa thì đến khu di tích Phiềng Sa. A Phủ và Mị nên vợ nên chồng từ đấy.

        Đến Phiềng Sa,vợ chồng A Phủ vỡ nương, dựng được một ngôi nhà gỗ, nuôi được con lợn nhỡ. Bọn Tây đồn Bản Pe lùng sục tới. Chúng bắt A Phủ khiêng lợn về đồn. A Phủ bị đánh, bị bắt khuân đá, khiêng nước, cái roi tóc của cha mẹ để lại cho cũng bị thằng Tây đè ra cắt mất. A Phủ trốn thoát. A Phủ gặp cán bộ A Châu. Hai người làm lễ ăn sùng kết nghĩa anh em.

        A Phủ trở thành chiến sĩ du kích, giữ đường cho bộ đội. Bọn Tây đồn Bản Pe lại kéo quân đến càn quét khu du kích Phiềng Sa. Chúng đốt phá, tàn sát dã man. Nhiều đàn bà, trẻ em, trong đó có Mị bị bắt. Được cứu thoát, nhưng Mị vô cùng sợ hãi vì cô nghe tin cha con thống lí Pá Tra đã về ở với bọn Tây đồn Bản Pe. A Phủ ngồi nướng thịt bò tót, làm lương khô chuẩn bị cùng bộ đội đi đánh đồn Bản Pe.

        A Phủ nạt Mị: “Đây không phải là Hồng Ngài. Đây là khu du kích Phiềng Sa. A Phủ là tiểu đội trưởng du kích… “.

     

     

  • Top 3 bài Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Top 3 bài Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Top 3 bài Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bài văn Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện “Vợ chồng A Phủ” của Tô Hoài.

    Bài văn mẫu

        “Vợ chồng A Phủ” (1953), “Miền Tây” (1967), “Vừ A Dính” (1962)… là những tác phẩm nổi tiếng của Tô Hoài viết về phong tục, cảnh sắc và con người miền Tây của Tổ Quốc ta. Tô Hoài đã từng nói: “Tôi coi Việt Bắc, Tây Bắc cũng như một quê hương đề tài của tôi…” (Văn nghệ số 14.10.1995). Tập truyện “Tây Bắc” là một nét son chói lọi đầu tiên của sự nghiệp văn chương Tô Hoài viết về đề tài miền Tây. Một chuyến đi dài, Tô Hoài theo bộ đội vào giải phóng Tây Bắc (1952), ông đã viết thành công tác phẩm “Truyện Tây Bắc”, trong đó có truyện “Vợ chồng A Phủ”. Qua truyện ngắn này, Tô Hoài đã phản ánh nỗi thống khổ và sự vùng dậy của người Mèo ở Tây Bắc, một lòng quyết tâm đi theo kháng chiến để giành lấy tình yêu, hạnh phúc.

        Những trang viết về Mị – một trong hai nhân vật chính của truyện là vô cùng cảm động. Mị tuy bị chà đạp, bị giày xéo trong bể khổ cuộc đời, nhưng cô có một sống tiềm tàng kì lạ!

        Mị là một cô gái trẻ và đẹp, duyên dáng, hiếu thảo, thổi sáo hay, “có biết bao nhiêu người mê, ngày đêm đã thổi sáo đi theo Mị”. Nhà nghèo, năm nào bố Mị cũng phải trả nợ lãi một nương ngô cho thống lí Pá Tra. Bố đã già, Mị thương bố lắm. Cô đã nói với bố: “Con nay đã biết cuốc nương ngô, con phải làm nương ngô giả nợ thay cho bố. Bố đừng bán con cho nhà giàu”. Món nợ truyền kiếp mà bố Mị vay của thống lí như một oan trái cuộc đời. Mị đã bị A sử – con trai thống lí đánh lừa bắt về cúng trình ma. Mị trở thành con dâu gạt nợ… Đau xót quá! “Chao ôi! Thế là cha mẹ ăn bạc của nhà giàu từ kiếp trước, bây giờ người ta bắt bán con trừ nợ. Không thể làm thế nào khác được rồi!”. Tiếng than của bố Mị nói lên một sự thật cay đắng: Mị là con dâu gạt nợ của thống lí Pá Tra – điều dó như một định mệnh bi thảm!

        Những năm đằng đẵng làm dâu gạt nợ, Mị bị đối xử hết sức tàn tệ, chảng khác gì một con vật. Phải làm quần quật quanh năm, suốt tháng. Lên núi hái thuốc phiện, giặt đay, xe đay, đi nương bẻ bắp, lúc hái củi bung ngô, lúc nào Mị cũng phải gài một bó đay trong cánh tay để tước thành sợi. Mị chẳng khác nào con trâu, con ngựa nhà thống lí. Khổ cực quá chừng: “Con ngựa, con trâu làm còn có lúc, đêm nó còn được đứng gãi chân, đứng nhai cỏ, đàn bà con gái nhà này thì vùi vào việc làm cả đêm cả ngày”.

        Tuổi trẻ, sắc đẹp của Mị bị tước đoạt, vùi dập. Cô như một đóa hoa rừng chóng héo tàn, lúc nào cũng “củimặt, mặt buồn rười rưBuồng Mị ở như một cái chuồng nhốt thú, kín mít, tối om, chỉ có một lỗ nhỏ bằng bàn tay, nhìn ra ngoài “chỉ thấy trăng trắng, không biết là sương hay là nắng”. Đau khổ quá “Mị nghĩ rằng mình cứ chỉ ngồi trong cái lỗ vuông ấy mà trông ra, đến bao giờ chết thì thôi!”. Nỗi ám ảnh ấy thật ghê sợ. Mị như một linh hồn chết.

        Cứ tưởng rằng Mị cam chịu số phận. Nhưng cô đã hết sức vùng vẫy cố thoát khỏi cái dây oan nghiệt của số phận. Hàng mấy tháng liền, đêm nào Mị cũng khóc. Mị trốn về nhà, tròng mắt đỏ hoe. Gặp bố “Mị quỳ lạy, úp mặt xuống đất nức nở”. Lần đầu tiên, Mị phản kháng lại số phận tủi nhục, hái lá ngón toan ăn để tự tử. Nhưng Mị chết đi, ai sẽ làm nương ngô giả được nợ thống lí, khi bố Mị đã “ốm yếu quá rồi”. Thương bố, Mị “không đành lòng chết”. Mị bưng mặt khóc, ném nắm lá ngón xuống đất “đành trở lại nhà thống lí”, cam chịu kiếp ngựa trâu, sống lùi lũi như con rùa trong xó cửa. Biết bao mùa xuân trôi qua! Biết bao nhiêu nước mắt Mị đã chảy xuống. Cũng như bao người đàn bà khác trong nhà thống lí “một đời con người chỉ biết đi theo đuôi con ngựa của chồng”. Mị cam chịu số phận: “ở lâu trong cái khổ rồi”… Mị thấy mình chỉ là con trâu, con ngựa “chỉ biết ăn cỏ, đi làm mà thôi!”. Một đời con gái, một kiếp người bị vùi dập đến tê dại như thế thì sự đau khổ đã tột cùng rồi!

        Một bất ngờ khác lại đến với người đọc. thứ hai, Mị lại vùng dậy. Ngày Tết đến, Mị đã lén lấy hũ rượu “uống ừng ực từng bát” rồi say, “lịm mặt” ngồi xem bọn nhảy đồng, người hát, nhưng “lòng Mị thì đang sống về ngày trước”. Con gái vùng rẻo cao, ai mà chẳng uống rượu? Chắc là Mị đã từng uống rượu, nhưng cách uống rượu “ừng ực từng bát” thì đây là lần đầu tiên. Mị uống cho quên hết mọi đau khổ? Mị uống cho hả giận? Hay Mị mượn bát rượu để thức tỉnh lòng mình sống lại cùng với mùa xuân, với những đêm tình mùa xuân thời con gái? Nếu những năm tháng đã qua, bếp lửa và ngọn lửa đã sưởi ấm lòng Mị, đã làm nguôi đi, vợi đi bao đau nhục cuộc đời, thì giờ đây, tiếng sáo, tiếng hát của trai gái Mèo tha thiết gọi bạn tình đã khơi dậy trong lòng Mị bao khát khao:

        “Anh ném pao, em không bắt

        Em không yêu, quả pao rơi rồi…”

        Mị đã tự ý thức về mình. Mị thấy lòng phơi phới, vui sướng như thời con gái bước vào những đêm tình mùa xuân. Mị thấy mình “trẻ lắm… vẫn còn trẻ”. Mị thấy mình cô đơn. Mị phải đi chơi. Bao nhiêu cô gái khác đã có chồng vẫn đi chơi. Thật là vô lí, hơn nữa Mị thấy mình với A Sử “không có lòng với nhau mà vẫn phải ở với nhau”. Mị khóc. Mị thương mình đau khổ. Mị ghê tởm thằng A Sử “còn muốn rình bắt mấy người con gái nữa về làm vợ”… Mị muốn ăn lá ngón cho chết ngay! Một sức sống tiềm tàng trong lòng Mị như hòn than hồng ẩm ỉ cháy. Bạo lực, Mị cũng chẳng sợ. Mị xắn mỡ bỏ vào đĩa đèn cho sáng, rồi cỏ quấn lại tóc, với lấy váy hoa, rút thêm cái áo, chuẩn bị đi chơi xuân. Hành động Mị diễn ra trước mắt thằng A Sử. Như thách thức. Không thèm trả lời khi hắn hỏi: “Mày muốn đi chơi à?”.Sự vùng dậy của Mị lần này lại phải trả giá! Thằng con trai của nhà thống lí vô cùng tàn ác đã trói đứng Mị trong buồng tối bằng một thúng sợi đay và còn quấn cả tóc Mị lên cột, làm cho cô “không cúi không nghiêng được đầu nữa”. Nhưng sức sống vẫn tiềm ẩn trong lòng người con gái Mèo này. Suốt đêm bị trói đứng “dây trói thít lại, đau nhức”, lúc mê lúc tỉnh, Mị “nồng nàn tha thiết nhớ” và cô bồi hồi: “Mị vẫn nghe tiếng sáo đưa Mị theo cuộc chơi, những đám chơi”. Tâm trí Mị chập chờn “có lúc vùng bước đi”, nhưng bị trói, đi sao được? Nghe tiếng ngựa gãi chân, nhai cỏ “Mị thổn thức nghĩ mình không bằng côn ngựa”.

        Chúng ta đã từng đọc truyện thơ ‘Tiễn dặn người yêu”. Cô gái Thái bị ép duyên đau khổ than thân: “Ngẫm thân em chỉ bằng thân con bọ ngựa – Bằng con chầu chuộc thôi…”. Nỗi cay đắng của Mị còn gấp trăm gấp nghìn lần như thế! Được cởi trói do một sự tình cờ, cô lại phải vào rừng hái lá thuốc, suốt đêm ngồi hầu hạ, xoa thuốc dấu cho A Sử. Đau ê ẩm, mỏi quá, Mị “gục đầu nằm thiếp đi” lại bị tên khốn kiếp “đạp chân vào mặt”. Tô Hoài đã ghi lại một cách cảm động sự vùng dậy lần thứ hai của Mị với bao vùi dập, đau đớn ê chề! Mị vẫn chưa gục ngã trước số phận!

        Lần thứ ba: Mị lại vùng dậy. Hình như số phận của Mị đã gắn liền với số phận của A Phủ như một tiền định. Một bên là con dâu gạt nợ, một bên là kẻ phạm tội đánh con quan. Cả hai đều là con trâu, con ngựa của nhà thống lí Pá Tra. Mị đã bị A Sử trói đứng. A Phủ vì tội để hổ bắt mất bò đã bị Pá Tra trói vào cọc bằng một cuộn dây mây, “quấn từ chân lên vai, chỉ còn cổ và đầu hơi lúc lắc được”. Làm sao bắt được con hổ? A Phủ nhất định bị thế mạng. Suốt mấy ngày đêm bị trói “A Phủ chỉ đứng nhắm mắt”. Má A Phủ đã xám lại. A Phủ sắp chết! Giữa đêm khuya từ bếp lửa nhìn sang, Mị nhìn những giọt nước mắt lăn bò trên má A Phủ mà xót xa, động lòng: “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết…”. Mị căm thù nguyền rủa cha con thống lí: “Chúng nó thật độc ác… Người kia việc gì mà phải chết thế…”. Mị không còn biết sợ hãi nữa. Cô đã dùng dao nhỏ cắt lúa, cắt nút dây mây, cởi trói cho A Phủ, cứu thoát A Phủ. Như một lời khích lệ: “Đi ngay!”. Mị đã vùng chạy theo A Phủ. Cô đã nói: “A Phủ cho tôi đi… ở đây thì chết mất!”. Lương tâm thức tỉnh. Mị cứu A Phủ và cũng là tự cứu mình. Thật là dữ dội và khủng khiếp. Tình huống truyện tạo nên tính bi kịch của số phận. Bao nhiêu máu và nước mắt, Mị mới giành được tự do. Mị thương người, tự thương mình. Khát vọng về tự do và hạnh phúc, là nguồn sức mạnh vùng dậy của Mị.

        Trốn khỏi Hồng Ngài, Mị và A Phủ đi suốt một mùa mưa, vượt qua những triền núi đá tai mèo, họ nên vợ nên chồng khi đến khu du kích Phiềng Sa. Hành động cắt dây trói cứu A Phủ và cùng A Phủ chạy trốn là điểm đỉnh sự vùng dậy của Mị, là sự thể hiện sức sống tiểm tàng của người con gái Mèo trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”. Khát vọng về tự do, hạnh phúc, về quyền sống của con người đã cho nhân vật Mị nhiều sức mạnh để vùng dậy. Sức sống tiềm tàng của Mị đã khẳng định một chân lí: Bạo lực không đè bẹp được khát vọng tự do! Sức sống tiềm tàng của Mị mang tính điển hình sâu sắc, thể hiện một cách cụ thể, chân thực và sống động cho sự vùng dậy của người Mèo trên con đường đi tìm hạnh phúc, tự do và họ đã đến với cách mạng và kháng chiến.

        Nhân vật Mị được nhà văn Tô Hoài miêu tả và khám phá trong chiều sâu tâm hồn, trong những biến thái “thăng trầm, gấp khúc” của tâm trạng. Miêu tả thành công sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị, ngòi bút nghệ thuật của Tô Hoài đã làm cho truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ” sáng bừng giá trị nhân đạo. Người đọc mãi mãi thấm thía về cái giá của tình yêu tuổi trẻ và hạnh phúc, tự do.

     

  • Bài văn Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Bài văn Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Bài văn Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ (Bài văn mẫu 2)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ

    Bài văn mẫu

       Sau cách mạng tháng 8, ngòi bút của Tô Hoài đi sâu khám phá sức sống mạnh mẽ của những người dân tộc thiểu số miền núi. Trong chuyến đi lên vùng núi phía Bắc của mình, ông đã cho ra đời tác phẩm Vợ chồng A Phủ, với nhân vật Mị, mang trong mình sức sống tiềm tàng mạnh mẽ.

       Trước khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị cũng như bao người con gái khác, chịu thương chịu khó, có một sức sống mạnh mẽ. Mặc dù gia đình gánh trên vai món nợ truyền kiếp, nhưng cô sẵn sang nói với cha để minh lao động rồi trả nợ dần; cô trẻ trung, yêu đời, có tiếng sao hay khiến biết bao chàng trai say đắm. Nhưng sau đêm bị A Sử bắt về, “Ngoài vách kia, tiếng nhạc sinh tiền cúng ma đương rập rờn nhảy múa” thì cuộc đời của cô đã sang một trang khác, đầy bi thương và thảm kịch.

       Những ngày làm dâu nhà thống lí Pá Tra, Mị đã phải chịu bao nỗi đắng cay, tủi cực. Suốt ngày Mị chỉ “ngồi quay sợi gai, cạnh tảng đá, trước cửa tàu ngựa, gương mặt cô lúc nào cũng cúi xuống, mặt buồn rười rượi”. Quanh năm cô quanh quẩn làm việc, chẳng có lấy một giây phút nghỉ ngơi. Nơi ở của cô chẳng khác nào nhà tù, chỉ có một lỗ vuông bằng bàn tay, nhìn ra ngoài chỉ thấy mờ mờ trăng trắng, không biết là sương hay là nắng.

       Phải chăng sức sống, sự yêu đời của cô trước đây đã bị bào mòn cạn kiệt? Nhưng không qua đêm tình mùa xuân và đêm đông tự giải cứu chính mình, ta biết rằng trong sâu thẳm người con gái kia, niềm yêu cuộc sống vẫn tiềm tàng mạnh mẽ.

       Trong những ngày mùa xuân, không khí rộn vang, tưng bừng hơn. Những tảng đá mèo được tô điểm bởi những chiếc váy rực rỡ, tựa như những bông hoa rộ nở; tiếng trẻ em vui đùa càng trở nên vui vẻ, đầy phấn khích. Lòng Mị cũng chợt có những tía sáng nhỏ le lói. Mùa xuân ai cũng uống rượu và Mị cũng vậy. Nhưng cách uống rượu của Mị lại rất khác, cô uống ừng ực từng bát lớn, uống để tiêu tan sầu muộn. Dường như trong mờ hồ Mị bắt đầu sống lại niềm yêu cuộc sống. Rồi bất chợt “ngoài đầu núi lấp ló đã có tiếng ai thổi sáo rủ bạn đi chơi. Mị nghe tiếng sau vọng lại tha thiết, bòi hồi”. Tiếng sáo này đã thực sự khơi lại sức sống trong Mị. Nó khiến Mị nhớ lại những ngày trước đây, về những ngày tự do, yêu đời cả mình. Tiếng sáo thấm dần vào tâm trí, trái tim Mị, dần thức tỉnh cô.

       Tiếng sao thức tỉnh khao khát được đi chơi, được giao tiếp với mọi người. Từ trước đến nay Mị chưa bao giờ được đi chơi, bởi A Sử cấm. Một cách đầy hữu ý tiếng sáo lại xuất hiện “trong đầu Mị rập rời tiếng sáo” đã thúc đẩy từ suy nghĩ trở thành hành động nổi loạn của Mị. Mị vào buồng sẵn mỡ thắp cho sáng, rồi với tay lấy vát chuẩn bị đi chơi. Để Mị có thể rời xa hiện tại đau thương trở về với quá khứ vui vẻ. Nhưng khi hành động chuẩn bị được tiến hành, Mị bị A Sử bắt gặp, hắn dùng chính tóc cô mà trói đứng lại ở tường. Cô khóc, bởi không ai giúp mình, bởi quá khứ tươi đẹp một lần nữa ùa về trong cô, đánh thức con người tưởng như đã chết trong cô

       Sau lần phản kháng đầu tiên, Mị tiếp tục rơi vào trạng thái sống mòn. Trong lúc này, A Phủ một người cũng có thân phận chuộc nợ như Mị, do làm mất bò mà bị trói đứng ngoài sân. Đêm nào Mị cũng ra sân đốt lửa, nhưng tuyệt nhiên không chú ý đến A Phủ: “Nếu A Phủ là cái xác chết đứng đấy cũng thế thôi. Mị vẫn trở dậy, vẫn sưởi, chỉ biết chỉ còn ở với ngọn lửa”. Bởi khi này lòng Mị đã nguội lạnh, tâm can đã câm nín, chính số phận mình Mị đã chẳng còn quan tâm nữa, huống chi số phận người khác.

       Nhưng trong lần ấy, dưới sự tác động của giọt nước mắt của A Phủ, Mị đã thay đổi suy nghĩ hoàn toàn: “Ngọn lửa vừa bập bùng sáng lên, Mị lé mắt trông sang, thấy hai mắt A Phủ cũng vừa mở, một dòng nước mắt lấp lánh bò xuống hai hõm má đã xám đen lại”. Giọt nước mắt đó khiến cô bất giác nhớ về mùa xuân trước đây, khi cô bị trói đứng, cô khóc nhưng không ai đến giúp cô cả, cũng không thể lau đi được. Giọt nước mắt của A Phủ đã làm trỗi dậy sức sống của Mị. Trong Mị hình thành tình thương và sự hi sinh: “Ta là thân đàn bà, nó đã bắt ta về trình mà nhà nó rồi, thì chỉ biết đợi ngày mà rũ xuống ở đây thôi… Người kia việc gì mà phải chết”. Mị đã quyết định giải cứu A Phủ. Đây không phải là quyết định bông bột nhất thời mà nó xuất phát từ sự đồng cảm, từ lòng yêu thương con người.

       Sau khi giải cứu A Phủ, trong một khoảng khắc Mị cũng vụt chạy theo A Phủ để giải cứu cho chính mình. Hành động cởi trói tư tưởng giải cứu chính mình là hành động tuy bất ngờ nhưng vô cùng hợp lí. Nó cho thấy sức sống tiềm tàng, mạnh mẽ trong Mị.

       Với biệt tài miêu tả tâm lí nhân vật, Tô Hoài đã đem đến cho bạn đọc chân dung của một người con gái không chỉ đẹp người, đẹp nết mà còn có sức sống tiềm tang mạnh mẽ. Mị là đại diện tiêu biểu cho sức sống của con người, là đại diện cho hành trình đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ khổ đau đến hạnh phúc của những người nông dân dân tộc tiểu số.

  • Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị hay nhất

    Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị hay nhất

    Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ

    Bài văn mẫu

        Tô Hoài một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học Việt Nam. Trước cách mạng, các sáng tác của ông nghiêng về mảng truyện loài vật và cuộc sống của những người dân nghèo. Sau cách mạng, các sáng tác của ông vẫn tiếp tục đi khai thác cuộc sống của người dân, song ông đi sâu vào quá trình đổi đời của họ, đi từ bóng tối ra ánh sáng. Nhân vật Mị trong tác phẩm Vợ chồng A Phủ chính là nhân vật tiêu biểu cho quá trình vận động ấy. Quá trình vận động từ khổ đau đến hạnh phúc đó đã cho thấy sức sống tiềm tàng, mãnh liệt của nhân vật này.

        Vợ chồng A Phủ ra đời khi Tô Hoài cùng đơn vị bộ đội tiến quân giải phóng Tây Bắc, có điều kiện tiếp xúc và tìm hiểu về số phận của người dân nơi đây trong một thời gian dài chính là chất xúc tác giúp ông viết nên tác phẩm này. Truyện này cũng được lấy nguyên mẫu từ cuộc đời của một đôi vợ chồng người Mông, bởi vậy câu chuyện đậm tính chân thực.

        Mị là nhân vật trung tâm của tác phẩm, mở đầu là hình ảnh của một cô gái lầm lũi làm việc, công việc với cô như một thói quen, làm không cảm xúc, không ngừng nghỉ từ sáng đến đêm. Để rồi tiếp đó Tô Hoài mới ngược dòng thời gian, tái hiện lại chân dung của Mị trước đây. Mị vốn là một cô gái trẻ trung yêu đời và có tài năng. Vì xinh đẹp và có tài thổi sáo hay nên rất nhiều người con trai thổi sáo và đi theo Mị. Không chỉ vậy, Mị còn là cô gái yêu tự do và yêu lao động. Mối nợ truyền kiếp từ đời cha để lại, dẫn đến nguy cơ cô phải trở thành con dâu gạt nợ, ngay lập tức Mị đã yêu cầu với cha không bán mình đi mà cô sẽ chăm chỉ làm việc để trả nợ dần. Mị hội tụ đầy đủ trong mình những yếu tố được hưởng một cuộc sống yên ấm, hạnh phúc. Nhưng thực tế trái ngang, nhiều bất công cô đã bị A Sử bắt đi và trở thành con dâu gạt nợ. Chính từ giây phút đó cuộc đời cô bước vào chuỗi ngày tăm tối, bi kịch. Mị phải làm việc bất kể ngày đêm, bị bóc lột đến tận xương tủy, công việc chất chồng khiến cô không có giờ phút nghỉ ngơi. Những tưởng rằng cô đã mất hết niềm tin vào cuộc sống khi bị bóc lột về thể xác, tra tấn về mặt tinh thần. Nhưng không, bản chất là một người con gái giàu sức sống, chỉ cần có chất xúc tác, niềm hi vọng ấy sẽ bùng lên mãnh liệt, và nó được Tô Hoài tái hiện đầy đủ qua hai lần: Đêm tình mùa xuân và Đêm đông cứu A Phủ.

        Đêm tình mùa xuân là cuộc nổi dậy, là sự nổi loạn đầu tiên của Mị. Có rất nhiều nhân tố khác nhau tác động tới tâm lí cô, khiến cô thực hiện cuộc nổi loạn đầu tiên này. Trước hết là không khí mùa xuân tươi vui, rực rỡ, những chiếc váy mèo đầy màu sắc trải dài trên các triền nương, tiếng trẻ con vui đùa tíu tít ngoài sân. Mùa xuân gắn với sự sống, với tình yêu, với không khí mùa xuân đã phần nào tác động đến tâm lí của Mị. Nhưng không khí mùa xuân thôi chưa đủ, chất xúc tác tiếp theo chính là hơi men của rượu. Mị cũng uống rượu như bao người khác, nhưng không phải để mừng một năm mới đến mà uống ừng ực từng bát một, uống như để quên đi những cay đắng, nhọc nhằn, quên đi những khổ đau cả về thể xác và tinh thần mà mình phải chịu đựng. Rượu là chất xúc tác mạnh mẽ để Mị tiến hành cuộc nổi loạn, chối bỏ thực tại, tìm về với quá khứ. Nhưng quan trọng nhất là sự tác động của tiếng sáo. Tiếng sáo xuất hiện dần dần, tiếng sáo lấp ló ngoài đầu núi, tiếng sáo gọi bạn đến đầu làng khiến Mị nhớ về tiếng sáo của mình ngày trước – tiếng sáo gắn với quá khứ đẹp đẽ. Việc thu hẹp khoảng cách của tiếng sáo thực chất là quá trình chuyển hóa từ tiếng của của thiên nhiên, bên ngoài đến tiếng gọi trong tâm hồn Mị. Tiếng sáo là tác nhân quan trọng nhất làm bừng lên sức sống và khát vọng hạnh phúc của Mị trong đêm tình mùa xuân.

        Sau khi nghe thấy tiếng sáo Mị chối bỏ thực tại, nhớ về quá khứ đẹp đẽ. Nhưng hiện thực cuộc sống phũ phàng, như một sợi dây vô hình trì níu, khiến cho Mị bất ngờ quay vào buồng, dường như trong cô vẫn chưa sẵn sàng cho cuộc vượt thoát này. Chỉ đến khi nhìn thấy ô cửa sổ lỗ vuông bằng bàn tay, nhìn ra ngoài chỉ thấy mờ mờ trăng trắng không biết là sương hay là nắng Mị mới thực sự thoát khỏi sự trì níu của thực tại. Cô thấy lòng mình phơi phới trở lại, cô muốn đi chơi, muốn được giao tiếp với mọi người. Đồng thời cô cũng mong giá mà có nắm lá ngón lúc này, cô sẽ ăn để chết chứ không thể tiếp tục cuộc sống này nữa. Và đúng lúc ấy, tiếng sáo lại một lần nữa xuất hiện đầy hữu ý, tiếng sáo khiến sự nổi loạn của Mị bật thành hành động: cô muốn đi chơi, lấy mỡ thắp đèn cho sáng và cô lấy váy để chuẩn bị đi chơi. Tất cả những hành động đó đã cho thấy một trái tim khát khao sống mãnh liệt. Tuy nhiên tất cả đã bị chặn đứng bởi hành động độc ác của A Sử, hắn trói đứng Mị vào cột. Nhưng A Sử chỉ trói được thể xác chứ không thể trói được tâm hồn Mị, tâm hồn cô đã vượt thoát thực tại thành công.

        Sau cuộc nổi loạn không thành ở đêm tình mùa xuân, Mị tiếp tục rơi vào trạng thái tê liệt, tiếp tục cuộc sống “lùi lũi như con rùa trong xó cửa”. Nhưng với sự xuất hiện của A Phủ, cùng sự việc A Phủ bị trói đứng chờ chết đã thức tỉnh trong Mị tình yêu thương và khao khao sống. Hằng đêm Mị vẫn ra bếp lửa hong tay, cô chẳng mảy may để ý đến A Phủ, nhưng đêm ấy lại là một đêm rất khác, cô nhìn thấy giọt nước mắt lăn dài trên hốc mắt sâu hoắm. Giọt nước mắt đó đã tác động mạnh mẽ đến cô, để Mị nhớ rằng trước đây mình cũng từng bị trói đứng, cũng từng khóc như vậy nhưng không một ai để ý. Giọt nước mắt ấy cũng dấy lên trong cô lòng thương cảm, xót xa “Trời ơi, nó bắt trói đứng người ta đến chết” “người kia việc gì mà phải chết thế”. Cùng với lòng thương cảm là sự căm phẫn, khi Mị đã nhận ra sự độc ác của gia đình thống lí. Mị đã thoát khỏi tình trạng mơ hồ trong việc nhận thức kẻ thù, đây chính là bước đầu tiên nhóm lên trong Mị ý thức phản kháng, vùng lên đấu tranh chống lại cái xấu, cái ác.

        Bằng sự bao dung, vị tha, Mị tự thấy “Ta là phận đàn bà, nó đã bắt ta về trình ma nhà nó rồi thì chỉ còn biết đợi ngày rũ xương ở đây thôi” chính vì vậy đã đưa Mị đến một quyết định cao cả, Mị lấy dao cởi trói cho A Phủ. Hành động diễn ra nhanh chóng, nhưng lại hết sức logic, hợp lí, bởi đó là hành động của tình yêu thương, sẵn sàng hi sinh cho người khác. Cứu A Phủ xong, Tô Hoài rất tinh tế khi miêu tả Mị đứng lặng trong bóng tối vì những hành động mình vừa thực hiện. Sau cuộc nổi loại này, cô tiếp tục thực hiện cuộc nổi loại thứ hai để tự cứu chính mình: “A Phủ cho tôi đi” “Ở đây thì chết mình” đầy bản lĩnh và chủ động, Mị đã tự cứu lấy chính mình. Tiếng gọi của Mị với A Phủ không đơn thuần chỉ là sự giao tiếp mà còn là tiếng gọi của tự do, tiếng gọi của hạnh phúc. Hai con người khốn khổ ấy đã cùng nhau bỏ trốn để xây dựng một cuộc sống mới, cuộc sống tự do, hạnh phúc.

        Những hành động bất ngờ, quyết liệt cho thấy Mị đã cắt đứt sợi dây trói hữu hình đang giam cầm A Phủ để giải cứu cho đồng loại, đồng thời cũng cắt đứt sợi dây vô hình của thần quyền để giải phóng cho chính mình. Nếu như đêm tình mùa xuân gắn với khát vọng hạnh phúc, thì đêm đông cứu A Phủ lại gắn liền với khát vọng tự do trong Mị – một con người tưởng như đã bị nô lệ hóa hoàn toàn.

        Bằng ngòi bút tinh vi, miêu tả những biến chuyển tâm lí nhân vật đã cho nghệ thuật thuật miêu tả tâm lí nhân vật bậc thầy của Tô Hoài. Đồng thời hai lần trỗi dậy đó cũng cho thấy sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị. Qua đó còn cho thấy nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của Tô Hoài, ông phát hiện, trân trọng vẻ đẹp sức mạnh tiềm tàng, mãnh liệt trong những con người khốn khổ. Đồng thời thể hiện niềm tin, sự lạc quan vào tương lai tươi sáng cho những con người có số phận bất hạnh.

     

  • Dàn ý Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Dàn ý Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Dàn ý Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 3 bài Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Mị trong đêm tình mùa xuân hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích sức sống tiềm tàng của nhân vật Mị trong truyện Vợ chồng A Phủ

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Tô Hoài rất nhạy cảm với cảnh sinh hoạt, phong tục tập quán của con người các vùng miền, tác phẩm của ông hấp dẫn người đọc bởi vốn hiểu biết sâu sắc.

    – Tiêu biểu cho phong cách của Tô Hoài là truyện ngắn Vợ chồng A Phủ. Đặc biệt, hình tượng nhân vật Mị đã trở thành biểu tượng đẹp cho sức sống tiềm tàng của người phụ nữ bị áp bức.

    1. Thân bài

    – Sức sống tiềm tàng là sức sống vốn có của con người nhưng bị hoàn cảnh bên ngoài tác động làm che khuất đi, nhưng luôn thường trực, chờ cơ hội trỗi dậy.

    1. Sức sống vốn có của Mị trước khi làm dâu nhà thống lí Pá Tra

    – Trước khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra:

        + Mị là cô gái người Mông trẻ trung, hồn nhiên, có tài thổi sáo “thổi lá cung hay như thổi sáo có biết bao nhiêu người mê ngày đêm thổi sáo đi theo Mị”

        + Mị đã từng yêu, từng được yêu, luôn khao khát đi theo tiếng gọi của tình yêu.

        + Hiếu thảo, chăm chỉ, ý thức được giá trị cuộc sống tự do nên sẵn sàng làm nương ngô trả nợ thay cho bố.

    1. Sức sống tiềm tàng của Mị bị khuất lấp trong cảnh làm con dâu gạt nợ

    – Khi về làm dâu nhà thống lí Pá Tra: bị “cúng trình ma” nhà thống lí, bị bóc lột sức lao động, “không bằng con trâu con ngựa”, “đàn bà trong cái nhà này chỉ biết vùi đầu vào công việc” , bị đày đọa nơi địa ngục trần gian, bị đánh, bị phạt, bị trói, …

    – Mị dần trở nên chai sạn với nỗi đau: một cô gái lúc nào cũng vậy dù quay sợi, thái cỏ ngựa, … đều cúi mặt “mặt buồn rười rượi”, không quan tâm đến thời gian “lỗ vuông bằng bàn tay …không biết là sương hay nắng”.

    – Mị sống lầm lũi “như con rùa nuôi trong xó cửa”, “ở lâu trong cái khỏ Mị quen rồi”.

    1. Sức sống tiềm tàng trong Mị trỗi dậy

    – Khi bị rơi vào cảnh làm con dâu gạt nợ Mị có ý định tự tử bằng lá ngón, không chấp nhận cuộc sống mất tự do.

    – Trong đêm hội mùa xuân ở Hồng Ngài, sức sống của Mị đã trỗi dậy:

        + Âm thanh cuộc sống bên ngoài (tiếng trẻ con chơi quay, tiếng sáo gọi bạn tình, ..) ùa vào tâm trí, đánh thức những kỉ niệm trong quá khứ của Mị.

        + Mị lẩm nhẩm lời bài hát, trong khoảnh khắc tâm hồn trở về với thanh xuân tươi đẹp, khao khát tình yêu hạnh phúc.

        + Mị ý thức được sự tồn tại của bản thân “thấy phơi phới trở lại”, “Mị còn trẻ lắm. Mị vẫn còn trẻ. Mị muốn đi chơi”, với khát khao tự do, chấm dứt sự tù đày.

        + Khi A Sử trói, lòng Mị vẫn lửng lơ theo tiếng sáo, tiếng hát của tình yêu đến những đám chơi. Lúc vùng dậy cô chợt tỉnh trở về với hiện thực.

    – Nhận xét: Mị luôn tiềm tàng sức sống mãnh liệt, sức sống ấy luôn âm ỉ trong lòng người con gái Tây Bắc và chỉ chờ có cơ hội để bùng lên mạnh mẽ.

    – Trong đêm mùa đông, khi A Phủ bị trói:

        + Ban đầu Mị dửng dưng bởi sau đêm tình mùa xuân, cô trở lại là cái xác không hồn.

        + Khi thấy giọt nước mắt của A Phủ khiến Mị đồng cảm, chợt nhớ đến hoàn cảnh của mình trong quá khứ, Mị lại biết thương mình và thương cho kiếp người bị đày đọa “có lẽ ngày mai người kia sẽ chết, chết đau, … phải chết”.

        + Bất bình trước tội ác của bọn thống lí, Mị cắt dây đay cởi trói cho A Phủ

        + Mị sợ cái chết, sợ nỗi khổ sẽ phải gánh chịu trong nhà thống lí, cô chạy theo A Phủ tìm lối thoát vượt ra khỏi địa ngục trần gian.

    – Nhận xét: Mị là người con gái lặng lẽ mà mạnh mẽ, tiềm tàng sức sống, hành động của Mị đã đạp đổ cường quyền, thần quyền của bè lũ thống trị miền núi.

    III. Kết bài

    – Nêu suy nghĩ về hình tượng nhân vật Mị.

    – Nghệ thuật: ngôn ngữ đậm chất miền núi, lối trần thuật linh hoạt với sự dịch chuyển điểm nhìn trần thuật, miêu tả thành công tâm lí nhân vật và hình ảnh thiên nhiên.

    – Tác phẩm chứa đựng giá trị nhân đạo sâu sắc: sự cảm thông với số phận đau khổ của những con người chịu áp bức, tố cáo lên án bọn thống trị miền núi, bọn thực dân, ngợi ca vẻ đẹp, sức sống tiềm tàng trong mỗi con người Tây Bắc.