Category: Văn Mẫu Lớp 11

  • Cảm nghĩ tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Cảm nghĩ tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Cảm nghĩ tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Cảm nhận tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    [toc]

    Đề bài: Cảm nghĩ của em về văn bản Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức của Nguyễn An Ninh

    Bài văn mẫu

    Nguyễn An Ninh (1900 – 1943), quê ở xã Mĩ Hoà, huyện Hóc Môn, tỉnh Gia Định (nay thuộc Thành phố Hồ Chí Minh). Năm 1920, ông tốt nghiệp ngành Luật tại Đại học Xoóc-bon (Pa-ri). Sau đó, ông đi tìm hiểu một số nước châu Âu, năm 1922 trở về nư¬ớc viết báo và diễn thuyết chống đế quốc. Năm 1939, bị kết án, đi đày ở Côn Lôn, ông bị hành hạ đến kiệt sức và chết trong tù.

    Nguyễn An Ninh để lại nhiều bài văn chính luận đặc sắc, trong đó có bài Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (1925). Với tinh thần trách nhiệm của một nhà văn, nhà báo, ông viết bài báo với mục đích đánh thức ý thức dân tộc trong mỗi người Việt Nam. Ông đã dùng những lí lẽ sắc bén, lập luận chặt chẽ để chỉ ra và thuyết phục người nghe về ý nghĩa quan trọng của việc bảo vệ và phát triển tiếng Việt.
    Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức là tác phẩm tiêu biểu cho thể văn chính luận, một thể văn coi trọng lí luận, trình bày những vấn đề có ý nghĩa xã hội rộng lớn. Ngay ở nhan đề, bài báo đã chỉ ra vai trò quan trọng và thiêng liêng của tiếng Việt, đó là : nguồn giải phóng của dân tộc.

    Bài báo có bố cục chặt chẽ, khoa học thể hiện khả năng tư duy logic của một nhà báo hoạt động chính trị; vì vậy, nó vừa có sự hấp dẫn của báo chí, vừa có tính thuyết phục, tư tưởng của một bài diễn thuyết chính trị.

    Mở đầu bài viết, tác giả phê phán một số người do thiếu hiểu biết, thích khoe khoang nên đã vô tình “từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ”.
    Phần tiếp theo, tác giả thuyết minh cho tư tưởng nòng cốt của bài viết : Tiếng mẹ đẻ là nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức. Với lối viết ngắn gọn, súc tích, tác giả đã chỉ ra một cách cụ thể ý nghĩa của tiếng mẹ đẻ, đồng thời khẳng định và chứng minh rằng: Tiếng Việt rất giàu có…

    Phần kết thúc, tác giả trình bày vai trò hướng đạo của giới trí thức trong việc phát triển ngôn ngữ dân tộc, quan niệm của mình về mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài. Cốt lõi của quan điểm đó là: học tiếng nước ngoài trên tinh thần tiếp thu lựa chọn tinh hoa để làm giàu có hơn cho ngôn ngữ nước mình.

    Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức là tác phẩm tiêu biểu cho thể văn chính luận. Cũng có thể coi bài diễn thuyết này của tác giả Nguyễn An Ninh là một tác phẩm xuất sắc của nền báo chí cách mạng Việt Nam. Là một trí thức Tây học, với lòng yêu nước và tinh thần trách nhiệm, nhà báo Nguyễn An Ninh đã hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của một người Việt Nam vốn dòng Lạc hồng. Ông đã xác định rõ và thực hiện tốt nhiệm vụ “hướng đạo” của một trí thức chân chính.

    Trong những năm đầu thế kỉ XX, phần lớn đội ngũ trí thức Việt Nam xuất thân từ nhà trường Tây học. Họ được học ở trường Tây nên dù ít hay nhiều, họ đều chịu ảnh hưởng của tư tưởng nô dịch, sùng bái phương Tây. Những kẻ học không đến nơi đến chốn, tư tưởng không đủ sâu hoặc thiếu tình cảm với dân tộc đã mang một tư tưởng rất đáng phê phán: coi trọng Tây phương và coi thường dân tộc mình. Trong hoàn cảnh ấy, nhà báo Nguyễn An Ninh đã viết bài báo này để đánh thức những kẻ đang có những hiểu biết rất nông cạn về văn hoá, chỉ ra cho họ thấy sai lầm của mình. Từ đó, giúp họ ý thức rõ hơn trách nhiệm đối với dân tộc, cụ thể là trách nhiệm đối với việc bảo vệ, gìn giữ và phát triển ngôn ngữ dân tộc. Bởi tiếng nói là linh hồn, là tinh hoa của nền văn hoá dân tộc.

    Tác giả bài viết đã dùng lời lẽ rất sắc sảo thể hiện thái độ dứt khoát, mạnh mẽ khi phê phán những kẻ thiếu hiểu biết mà vô tình coi thường dân tộc mình. “Nhiều người An Nam thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng mạch lạc bằng tiếng nước mình”. Ngay ở câu mở đầu, tác giả đã phê phán những kẻ sùng ngoại, không thạo tiếng Tây nhưng lại thích ra vẻ người Tây. Tác giả đã dùng hai cụm từ có ý nghĩa đối nhau để chỉ ra cái vô lí của những kẻ thích dùng tiếng Tây mà khoe mẽ: bập bẹ năm ba tiếng Tây và diễn tả ý tưởng mạch lạc.

    Sắc thái châm biếm thể hiện rõ hơn, gay gắt hơn ở những câu tiếp theo: “Hình như đối với họ […] họ đã được đào tạo theo kiểu Tây phương”. Tác giả đã lựa chọn những từ ngữ, chi tiết giàu khả năng biểu cảm để bộc lộ thái độ của mình trước hiện tượng học đòi một cách thiếu hiểu biết của những kẻ luôn muốn tỏ ra là có văn hoá. Tác giả đã thể hiện rất rõ quan điểm của mình khi đưa ra những lí lẽ đanh thép và lập luận chặt chẽ, dẫn chứng cụ thể về hiện tượng lai căng, học đòi một cách thiếu văn hoá. Tác giả đã không e dè khi sử dụng những cụm từ cóp nhặt những cái tầm thường, mù tịt về văn hoá, kiến trúc và trang trí lai căng, được hun đúc theo cái mà những người ở Đông Dương gọi là văn minh Pháp, chẳng có được một thứ văn minh nào… Tác giả đã thể hiện khá gay gắt thái độ phê phán đối với những kẻ quá sùng Tây, học đòi Tây một cách thiếu học thức. Ông đã tổng kết đánh giá đồng thời thể hiện thái độ của mình trong câu: “Việc từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng”.

    Sau khi chỉ ra những sai lầm trong suy nghĩ của nhiều người An Nam đương thời về việc sử dụng tiếng nói dân tộc, tác giả bài viết tiếp tục thể hiện quan điểm và thực hiện mục đích của mình bằng cách chứng minh vai trò, ý nghĩa quan trọng của tiếng mẹ đẻ. Tác giả đã dùng dẫn chứng cụ thể và thuyết phục để chứng minh “tiếng mẹ đẻ là nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức”. Luận điểm nghe có vẻ trừu tượng nhưng đã được chứng minh một cách cụ thể: “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc […]. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian”. Để làm tăng khả năng tác động tới người nghe, người đọc, tác giả khái quát: “Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với chối từ sự tự do của mình…”. Quan điểm ấy hoàn toàn đúng đắn và đủ sức thuyết phục. Một dân tộc tự do không chỉ là tự do về chủ quyền, về địa lí, về quyền sống mà một dân tộc thực sự tự do, độc lập là dân tộc có nền văn minh riêng với bản sắc văn hoá riêng của mình. Bởi nô dịch về văn hoá sẽ dẫn đến nô dịch về mọi phương diện. Văn hoá, mà trong đó ngôn ngữ là yếu tố quan trọng, đã bị lai căng, đã mất đi bản sắc hoặc bị huỷ diệt thì dân tộc đó đã đánh mất mình và trở thành kẻ phụ thuộc, kẻ “sống nhờ ở đợ”. Cũng chính vì vậy mà những kẻ đi xâm lược luôn rất quan tâm đến vấn đề nô dịch văn hoá, chăm lo cho chính sách nô dịch văn hoá.

    Để giải quyết triệt để về tư tưởng, đấu tranh đến cùng với những luận điệu phản dân tộc, tác giả tiếp tục đưa ra những lập luận chặt chẽ và lí lẽ sắc bén. Ông đã bác bỏ một cách dứt khoát quan niệm “tiếng nước mình nghèo nàn”, cho rằng “Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả”. Theo ông, đó chỉ là lí lẽ “để biện minh cho việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ”, không phải tiếng mẹ đẻ nghèo mà là do họ thiếu hiểu biết về ngôn ngữ dân tộc mà thôi. Không lí luận nhiều, tác giả chỉ đưa ra liên tiếp ba câu hỏi tu từ:
    “Ngôn ngữ của Nguyễn Du giàu hay nghèo?”
    “Vì sao người An Nam… tác phẩm tương tự?”
    “Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người ?”
    Những câu hỏi tu từ đã thể hiện thái độ dứt khoát và quyết liệt của người viết đối với những kẻ cho là ngôn ngữ dân tộc ta nghèo nàn. Có thể dễ dàng nhận thấy quan niệm của Nguyễn An Ninh về việc sử dụng ngôn ngữ. Ngôn ngữ giàu hay nghèo là do khả năng và trình độ của người sử dụng. Ngôn ngữ nghèo với những người thiếu hiểu biết về ngôn ngữ và không hiểu rõ về điều mình muốn trình bày. Đây là tư tưởng lớn và có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với vấn đề chính trị mà ông đang trình bày mà còn là một quan điểm đúng đắn để người sử dụng tiếng nói làm phương tiện giao tiếp quan tâm suy nghĩ. Cách lập luận của tác giả ở đây không chỉ thuyết phục mà còn khiến người đọc phải trăn trở, phải suy nghĩ.

    Đoạn kết thúc đã giải quyết một cách toàn diện tư tưởng của bài viết. Phần đầu, tác giả phê phán quan điểm sùng tiếng Tây, nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thì chưa đủ. Bởi vì, bảo vệ và gìn giữ tiếng nói dân tộc không có nghĩa là từ chối sử dụng các ngôn ngữ khác. Tác giả Nguyễn An Ninh đã kết thúc bài viết của mình bằng việc giải quyết mối quan hệ giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ của dân tộc khác. Việc học thêm ngôn ngữ của dân tộc khác là cần thiết, nhất là giới trí thức : “vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng ta buộc họ phải biết ít nhất một ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu”. Vậy, tiếng nước ngoài cũng rất cần thiết với mọi người, “Tuy nhiên, sự cần thiết phải biết một ngôn ngữ châu Âu hoàn toàn không kéo theo chuyện từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Ngược lại, thứ tiếng nước ngoài mà mình học được phải làm giàu cho ngôn ngữ nước mình”. Về điều này, chúng ta nên tự hào và nên học tập cha ông chúng ta, những người đã làm cho ngôn ngữ của chúng ta giàu có như ngày nay. Trải qua hàng ngàn năm Bắc thuộc, suốt thời phong kiến, cha ông ta sử dụng tiếng Hán trong nhà trường, trong công việc hành chính. Vậy mà, tiếng Việt không bị Hán hoá, ngược lại, quá trình Việt hoá tiếng Hán lại đạt được thành tựu đáng tự hào mà ngày nay chúng ta đang được hưởng thụ. Quan điểm của Nguyễn An Ninh thể hiện trong bài viết Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức đến nay vẫn còn nguyên giá trị. Tiếng Việt cần phải được bảo vệ và gìn giữ.

    Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức là một văn bản chính luận xuất sắc từ đề tài, nội dung đến hình thức thể hiện. Bài viết thể hiện rõ chính kiến của người viết về một vấn đề chính trị – xã hội bằng một hệ thống lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, ngôn ngữ giàu sắc thái biểu cảm… Bài viết đã chứng minh khả năng thuyết phục xuất sắc của một nhà báo và tâm huyết với dân tộc của một nhà hoạt động chính trị.

  • Cảm nhận tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Cảm nhận tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Cảm nhận tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Bài văn mẫu

    Nội dung chính của bài chính luận Tiếng mẹ đẻ- nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức cho thấy Nguyễn An Ninh là người am hiểu sâu rộng trong lĩnh vực ngôn ngữ nói chung. Tác giả đã có những nhận xét tinh tế về việc người An Nam sử dụng tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài (ở đây là tiếng Pháp); những lý giải thấu đáo và những giải pháp đúng đắn trong việc học tiếng nước ngoài của giới trí thức Việt Nam lúc bấy giờ.

    Điều quan trọng nhất là bài chính luận đã nêu lên quan điểm đúng đắn của Nguyễn An Ninh về tiếng nói dân tộc trên nhiều phương diện. Ông chống lại thói Tây há lố lăng của không ít người An Nam lúc bấy giờ. Thói quen này làm tổn hại đến tiếng mẹ đẻ của dân tộc. Nguyễn An Ninh phê phán quan niệm sai lầm cho rằng tiêng nước mình nghèo nàn. Tuy đề cao tiếng Việt nhưng ông vẫn khuyến khích giới tri thức học tiếng nước ngoài. Ông có quan niệm hết sức đúng đắn rằng “Sự cần thiết phỉa biết một ngoại ngữ châu Âu hoàn toàn không kéo theo chuyện bỏ tiếng mẹ đẻ. Ngược lại, thứ tiếng nước ngoài cho mình học được phải làm giàu cho ngôn ngữ nước mình”. Ông đề cao sức mạnh của tiếng nói dân tộc, coi đó là người bảo vệ cho nền đọc lập dân tộc, như là yếu tố quan trọng để giải phóng dân tộc. Những ý kiến của Nguyễn An Ninh về tiếng mẹ đẻ đến nay vẫn còn nguyên giá trị, nhất là từ gốc độ văn hóa.
    Tuy nhiên, trong bài luận của mình, có lúc Nguyễn An Ninh đề cao quá mức vai trò của tiếng mẹ đẻ, đôi lúc thể hiện sự tuyệt đối hóa: “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giải phóng các dân tộc bị thống trị”.Hai chữ nhất trong đoạn văn rõ ràng quá nhấn mạnh vai trò của tiếng mẹ đẻ trong câu khái quát chung. Khi cụ thể hóa vấn đề vào hoàn cảnh cụ thể của nước ta, ông lại viết: “Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian”. Nói như vậy là tự đặt tiếng nói dân tộc lên vị trí quá cao, tách rời và xem nhẹ các yếu tố khác trong sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Đó chính là hạn chế của bài chính luận này.

    Tuy nhiên, xét trong hoàn cảnh cu thể thì bài viết này đã đánh thức được lòng tự hào dân tộc, phát huy sức mạnh tinh thần của dân tộc. Đó chính là dụng ý của tác giả khi viết bài chính luận này.

  • Phân tích tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Phân tích tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Phân tích tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tác phẩm Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

    Bài văn mẫu

    Đoạn trích mở đầu bằng sự phê phán thói “thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng cho mạch lạc bằng tiếng nước mình “. Đây là kiểu học đòi nói tiếng Pháp thường được gọi là kiểu Pháp bồi, chỉ chuyên đi ” cóp nhặt những cái tầm thường ” để tạo ra một hình thức để bắt buộc những người khác “tin là họ đã tạo theo kiểu Tây phương”. Những người học đòi theo kiểu bồi đó không hiểu được rằng họ không những không đủ trình độ hiểu biết cần thiết mà cũng không thể hiểu được đầy đủ chính xác các nền văn hóa “ngoại bang ” khác. Nguyễn An Ninh gọi điều đó là “Thái độ mù tịt về văn hóa châu Âu”. Ông phê phán cách học như vậy và chỉ ra sự lai căng mà những kẻ ” Tây học” kiểu đó cố tình tạo ra : “Những kiểu kiến trúc và trang trí lại căng của những ngôi nhà thuộc về những người An Nam được hun đúc theo cái mà những người ở Đông Dương gọi là văn minh Pháp, chứng tỏ rằng những người An Nam bị Tây hóa chẳng có được một thứ văn minh nào”.

    Hệ quả của việc làm đó là: “Việc từ bỏ văn hóa cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng”.

    Tiếp đó, Ông phân tích bản chất của tiếng mẹ đẻ, của ngôn ngữ dân tộc. Ông chỉ ra lợi ích thiết thực của việc bảo vệ tiếng mẹ đẻ, của việc dùng tiếng mẹ đẻ: “Tiếng nói là lời bảo vệ quý báo nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị”. “Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình”. Vì sao lại thế ? Bởi vì : “Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian”. Như vậy, học châu Âu không phải để thu được vài tiếng bồi mà là tiếp thu khoa học, các học thuyết lớn, tiếp thu tinh hoa văn hóa nhân loại để tìm ra con đường đi thích hợp cho dân tộc mình, là lấy lí luận của phương Tây để phản bác lại phương Tây.

    Ông chỉ trích những người chê bai tiếng Việt nghèo nàn và chỉ rõ những lời trách cứ như vậy đều không có cơ sở. Bởi vì những người đó : “Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?” Từ đó ông đưa ra câu hỏi buộc những người có lương tâm với dân tộc đều phải suy nghĩ : “Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người ?”

    Ở đây, ông chỉ rõ thái độ vô trách nhiệm, thái độ phủ nhận một chiều của những người cam tâm làm nô lệ, chấp nhận làm tay sai cho thực dân, bởi lẽ chê bai đất nước một cách thụ động, giản đơn, một chiều, sẽ dẫn tới thái độ khinh rẻ đất nước, dẫn tới sự tự ti dân tộc.

    Từ đó, ông chủ trương học người để làm cho mình lớn lên: “Chúng ta không tránh né châu Âu, vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng ta buộc họ phải biết ít nhất là một ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu. Nhưng những kiến thức thu thập được, họ không phải giữ riêng cho mình. Đồng bào của họ cũng phải được thông phần nữa. Tuy nhiên, sự cần thiết phải biết một ngôn ngữ châu Âu hoàn toàn không kéo theo chuyện từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Ngược lại, thứ tiếng nước ngoài mà mình học được phải làm giàu cho ngôn ngữ nước mình”. Thực tiễn của mấy chục năm sau khi đất nước độc lập đã chứng minh điều mong muốn này của Nguyễn An Ninh. Từ đây, việc bảo vệ tiếng mẹ đẻ và việc tiếp thu văn hóa nước ngoài không hề loại trừ nhau hay mâu thuẫn nhau mà bổ sung cho nhau.

    Nổi bật lên ở đây là nghệ thuật lập luận dẫn dắt vấn đề. Trước hết, cũng cần nói tới khả năng của tư duy lí tính theo mô hình tư duy phương Tây, đặc biệt là kiểu hình tư duy khoa học của người Pháp mà tác giả Nguyễn An Ninh đã tiếp thu được từ nhà trường Pháp, cũng có đóng góp quan trọng cho việc nhìn nhận và lí giải vấn đề tiếng mẹ đẻ này. Tiếp đó, tác giả lần lượt đề cập đến các khía cạnh khác nhau của vấn đề tiếng mẹ đẻ và đặt ra trách nhiệm chung cho toàn xã hội, đặc biệt cho những người có học, những người Tây học, là phát triển hơn nữa tiếng mẹ đẻ, tiếng nói chung của dân tộc. Bảo vệ tiếng mẹ đẻ không chỉ dừng lại ở mức độ biết hoặc thường xuyên sử dụng tiếng mẹ đẻ mà phải làm cho tiếng mẹ đẻ đó phát triển đi lên, bằng cách tiếp nhận các khái niệm mới, bổ sung, hoàn thiện vốn từ ngữ của dân tộc, dùng tiếng mẹ đẻ để chuyển tải những học thuyết tiến bộ về “đạo đức và khoa học” để mở đường đi lên cho dân tộc.

    Việc lập luận chặt chẽ này có tính thuyết phục cao bởi đối tượng quan trọng mà tác giả hướng tới là đội ngũ trí thức Tây học, nhằm thức tỉnh họ, đặt họ trước nhiệm vụ lịch sử của dân tộc. Do đó, việc bảo vệ tiếng mẹ đẻ cũng chính là một hành động yêu nước, thương nòi.

  • 2 bài văn mâu Phân tích bài Về luận lí xã hội ở nước ta

    2 bài văn mâu Phân tích bài Về luận lí xã hội ở nước ta

    2 bài văn mâu Phân tích bài Về luận lí xã hội ở nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Bình luận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài Về luận lí xã hội ở nước ta (trích Đạo đức và luân lí Đông Tây của Phan Châu Trinh).

    Bài văn mẫu 1

    Phan Châu Trinh (1872 – 1926) tự là Tử Cán, hiệu là Tây Hồ, người làng Tây Lộc, huyện Tiên Phước, phủ Tam Kì. (Nay là thôn Tây Hồ, xã Tam Lộc, huyện Phú Ninh, tỉnh Quảng Nam), ông là một chí sĩ yêu nước có chủ trương cứu nước bằng cách lợi dụng thực dân Pháp, hủy bỏ chế độ phong kiến Nam triều hủ lậu, cải cách mọi mặt, nhằm mục đích làm cho dân giàu nước mạnh. Ông luôn luôn có ý thức dùng văn chương để tuyên truyền, vận động cách mạng.

    Những tác phẩm tiêu biểu của Phan Châu Trinh gồm: Đầu Pháp chinh phũ thư (1906), Tinh quốc hồn ca II (1907, 1922), Tây Hồ thi tập (1904 – 1914), Xăng-tê thi tập( 1914 -1915), Thất điều trần (1922), Đạo đức và luân lí Đông Tây (1925), …

    Đoạn trích Về luân lí xã hội ở nước ta thuộc phần III của bài Đạo đức và luân lí Đông Tây do Phan Châu Trinh viết và diễn thuyết vào đêm 19-11- 1925 tại Hội Thanh niên ở Sài Gòn. Nội dung đoạn trích toát lên dũng khí của một người yêu nước dám vạch trần thực trạng đen tối của xã hội và đề cao tư tưởng dân chủ. Tác giả khẳng định việc truyền bá luân lí xã hội là hết sức cấp thiết và quan trọng để khôi phục ý thức của dân chúng về nghĩa vụ đối với quốc gia, dân tộc; hướng mọi người tới mục đích giành chủ quyền độc lập tự do và xây dựng tương lai tươi sáng của đất nước. Đối tượng bài diễn thuyết của Phan Châu Trinh trước hết là người nghe sau đó mới là toàn thể dân chúng Việt Nam. Đoạn văn thể hiện phong cách chính luận độc đáo: lúc từ tốn, nhẹ nhàng, lúc đanh thép, mạnh mẽ, đầy sức thuyết phục.

    Nội dung từng phần trong đoạn trích liên kết với nhau như sau:

    Ở nước ta hiện nay, luân lí xã hội hầu như chưa có. Nguyên nhân là do dân ta thiếu ý thức đoàn thể, chưa biết bênh vực nhau và giữ gìn quyền lợi chung. Vua quan thì tham lam, ích kỉ, cố tình bần cùng dân chúng cả về tinh thần lẫn vật chất. Vì vậy, muốn nước Việt Nam được tự do, độc lập thì trước hết phải tuyên truyền luân lí xã hội, phải xây dựng đoàn thể để lo công ích, lo cho quyền lợi của nhau, tiến tới đánh đổ chế độ phong kiến hủ lậu, thối nát.

    Trước tiên, chúng ta phải tìm hiểu thuật ngữ chủ nghĩa xã hội. Quan niệm về chủ nghĩa xã hội của Phan Châu Trinh không giống với quan niệm chủ nghĩa xã hội của Các Mác. Phan Châu Trinh cho rằng lịch sử xã hội loài người đi lên theo con đường gia đình – quốc gia – xã hội và tương ứng với nó là sự phát triển tuần tự của luân lí gia đình, luân lí quốc gia và luân lí xã hội. Còn Các Mác khẳng định lịch sử của tất cả các xã hội là lịch sử đấu tranh giai cấp.

    Luân lí xã hội mà tác giả đề cập đến trong đoạn trích này có nội dung gắn liền với ý thức sẵn sàng vì lợi ích chung, là tinh thần đoàn kết giúp đỡ nhau trong đoàn thể vì sự tiến bộ xã hội. Luân lí ở phương Tây đã phát triển qua ba giai đoạn, từ gia đình, lên quốc gia, đến xã hội. Thời Trung cổ, luân lí mới nằm trong phạm vi gia đình, gia đình nào biết gia đình nấy. Khi các quốc gia hình thành (khoảng thế ki XVI) thì có luân lí quốc gia, quốc gia nào lo củng cố, phát triển quốc gia nấy. Chi sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất tư tưởng về luân lí xã hội mới thực sự được đề xướng và xây dựng. Luân lí xã hội tức là luân lí của chủ nghĩa xã hội, coi trọng sự bình đẳng của con người, không chỉ quan tâm đến quyền lợi của từng gia đình, quốc gia mà còn đến cả thế giới. Theo Phan Châu Trinh thì trong xã hội Việt Nam đương thời, cả luân lí gia đình lẫn luân lí quốc gia mà phần cốt lõi là ý thức nghĩa vụ của công dân đối với quốc gia đều đã tiêu vong. Đây là nguyên nhân chính dẫn đến tình trạng mất nước. Riêng về thứ luân lí xã hội đang được cổ vũ ở các nước phương Tây thì dân ta chưa có ý niệm gì.

    Trong phần 1 của đoạn trích, tác giả đi thẳng vào vấn đề và đưa ra một loạt những câu phủ định để tạo sự chú ý và gây ấn tượng mạnh mẽ. Đây là cách vào đề ngắn gọn, rõ ràng, thể hiện tư duy sắc sảo, nhạy bén của nhà cách mạng Phan Châu Trinh, vấn đề trọng tâm là: Ở Việt Nam chưa có luân lí xã hội: Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều.

    Trong phần 2, tác giả đã so sánh quan điểm, nhận thức của người châu Âu với người Việt Nam về luân lí xã hội. Sự khác biệt nằm ở ý thức nghĩa vụ giữa người với người. Xã hội châu Âu đề cao dân chủ, coi trọng sự bình đẳng của con người, không chỉ quan tâm đến từng gia đình, từng quốc gia mà quan tâm đến cả thế giới: Bên Pháp mỗi khi người có quyền thế, hoặc Chinh phủ, lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của một người hay của một hội nào, thì người ta hoặc kêu nài, hoặc chống cự, hoặc thị oai, vận động cho đến kì được công bình mới nghe.

    Tác giả chứng minh ở nước ta tuyệt nhiên không có luân lí xã hội bằng bốn luận điểm phản biện và những dẫn chứng cụ thể, rõ ràng:

    Luận điểm thứ nhất: Dân ta chi biết lo cho bản thân, không quan tâm đến người khác, sợ sệt đủ điều như kẻ ngủ không biết gì là gì… không hiểu cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người… nghĩa vụ của mỗi người trong nước cũng chưa hiểu gì cả. Chứng minh: Người mình phải ai tai nấy, ai chết mặc ai! Đi đường gặp người bị tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn đó không can thiệp gì đến mình.

    Luận điểm thứ hai: Dân ta không biết đoàn thể, không trọng công ích. Trước kia dân tộc Việt Nam cũng biết tới đoàn thể, công ích, cũng hiểu rằng: đã biết sống thì phải bênh vực nhau, biết góp gió làm bão, giụm cây làm rừng, không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lì như ngày nay. Tác giả lấy những câu thành ngữ để chứng minh rằng ông cha ta cũng đã từng biết đến sức mạnh của đoàn thể, đoàn kết: Không ai bẻ đũa cả nắm và Nhiều tay làm nên bếp. Nhưng đáng tiếc là hiện nay, tinh thần đó không còn nữa.

    Tác giả chi rõ nguyên nhân tạo ra tình trạng dân không biết đoàn thể, không trọng công ích chính là sự phản động, thối nát của chế độ phong kiến. Ông vạch trần bản chất của bọn vua quan đương thời cố tình dối mình lừa người để duy trì địa vị và lòng tham khốn cùng:

    Dân không biết đoàn thể, không trọng công ích là bởi ba bốn trăm năm trở về đây, bọn học trò trong nước mắc ham quyền tước, ham bả vinh hoa của các triều vua mà sinh ra giả dối nịnh hót, chỉ biết có Vua mà chẳng biết có dân. Bọn ấy muốn giữ túi tham mình được đầy mãi, địa vị của mình được vững mãi, bèn kiếm cách thiết pháp luật, phá tan tành đoàn thể của quốc dân.

    Luận điểm thứ ba: Vua quan mặc sức bóp nặn dân chúng, chi biết vơ vét, bóc lột, coi sự dốt nát của dân là điều kiện tốt để củng cố quyền lực và thoả mãn lòng tham của chúng. Chúng là loại người nhẫn tâm, vô trách nhiệm, không hề quan tâm đến lợi ích của dân chúng:

    Dẫu trôi nổi, dẫu cực khổ thế nào mặc lòng, miễn là có kẻ mang đai đội mũ ngất ngưởng ngồi trên, có kẻ áo rộng khăn đen lúc nhúc lạy dưới, trăm nghìn năm như thế cũng xong!

    Tác giả dùng nhiều câu văn cảm thán để thể hiện nỗi đau xót trước thực trạng tăm tối thô thảm của nhân dân: Dân khôn mà chi! Dân ngu mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại mà chi ! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn vua quan lại càng phú quý!

    Người ngoài thì khen đắc thời, người nhà thì dựa hơi quan, khiến những kẻ ham mồi phú quý không đua chen vào đám quan trường sao được. Quan lại đời xưa đời nay của ta là thế đấy! Luân lí của bọn thượng lưu – tôi không gọi bọn ấy là thượng lưu, tôi chi mượn hai chữ thượng lưu nói cho anh em dễ hiểu mà thôi – ở nước ta là thế đấy!

    Tác giả nêu đích danh bọn quan tham: Ngày xưa thì bọn ấy là bọn Nho học đã đỗ được cái bằng cử nhân, tiến sĩ, ngày nay thì bọn ấy là bọn Tây học đã được cái chức ki lục thông ngôn; có khi bồi bếp dựa vào thân thế của chủ cũng ra làm quan nữa. Những bọn quan lại đã nói ở trên này chỉ còn một tiếng chỉ đúng hơn là lũ ăn cướp có giấy phép vậy.

    Cách tác giả gọi bọn quan lại tham lam, nhũng nhiễu như trên là vô cùng chính xác và thể hiện sự căm ghét cao độ của ông đối với tầng lớp quan lại Nam triều. Trong suy nghĩ và đánh giá của ông thì chế độ vua quan chuyên chế vô cùng tồi tệ, cần phải phủ định chế độ ấy một cách triệt để. Bên cạnh đó, tác giả thấy phải thẳng thắn chỉ ra sự hèn kém của dân mình, nước mình. Trước tệ nạn bọn thống trị rút tỉa của dân, lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa và bọn người xấu đua nhau chạy ngược chạy xuôi để mua quan bán tước đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách … mà dân vẫn nín nhịn, không dám phẩm bình, chê bai gì cả.

    Luận điểm thứ tư: Người này đối với kẻ kia đều ngó theo sức mạnh, thấy quyền thế thì chạy theo, quỵ lụy, dựa dẫm: Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền cũng bén mùi làm quan. Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược nào chạy xuôi, dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng, chỉ cần được lấy một chức xã trưởng hoặc cai tổng, đặng ngồi trên, đặng ăn trước, đặng hống hách thì mới thôi. Những kẻ như thế mà vẫn không ai khen chê, không ai khinh bỉ, thật cũng lạ thay! Thương ôi ! Làng có một trăm dân mà người này đối với kẻ kia đều ngó theo sức mạnh, không có một chút gì gọi là đạo đức là luân lí cả. Đó là nói người trong một làng đối với nhau, chỉ như đối với dân kiều cư ngụ thì lại càng hà khắc hơn nữa. Ôi ! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được! Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có là cũng vì thế.

    Các câu cảm thán trong đoạn văn trên cho thấy tác giả không chỉ phát biểu chủ kiến bằng lí trí tỉnh táo mà còn bằng trái tim tràn trề cảm xúc, chan chứa nỗi xót xa, đau đớn về tình trạng đình trệ thê thảm của xã hội phong kiến Việt Nam. Qua đó chúng thấy ta rõ phẩm chất trung thực, cứng cỏi, quyết liệt của một nhà cách mạng toàn tâm toàn ý đấu tranh vì dân chủ, vì tiến bộ xã hội.

    Theo tác giả, muốn có luân lí xã hội thì dân ta phải biết gây dựng đoàn thể để tự bảo vệ quyền lợi của mình và hỗ trợ nhau trong cuộc sống. Phải bỏ thói dựa dẫm vào quyền thế, chấm dứt tệ nạn mua danh bán tước hòng có được vị trí ngồi trên, ăn trước. Phải đánh đổ chế độ vua quan thối nát làm bại hoại luân lí xã hội, khiến tư tưởng cách mạng không thể nảy nở và nước ta không thể có được tự do, độc lập. Điều tác giả đề nghị trong hoàn cảnh xã hội lúc đó có ý nghĩa rất quan trọng và cấp thiết.

    Phan Châu Trinh cho rằng muốn làm cách mạng ở nước ta thì phải giải quyết trước hết vấn đề dân trí, vấn đề ý thức dân chủ của người dân. Ông xem đó là chuyện hệ trọng bậc nhất cần làm để hướng tới mục tiêu giành tự do, độc lập cho dân tộc. Ông suy ngẫm kĩ càng và tìm ra mối quan hệ mật thiết giữa tuyên truyền ý thức công dân, gây dựng đoàn thể với sự nghiệp giành tự do, độc lập. Tác giả luôn hướng về cái đích cuối cùng là giành tự do, độc lập nhưng cũng hết sức tỉnh táo trong việc lựa chọn đường hướng. Từ chỗ nhận ra một sự thực nhức nhối là dân trí nước ta quá thấp và ý thức đoàn thể của người dân rất kém mà các điều này lại gây trở ngại không ít cho mưu đồ cứu nước, ông kêu gọi gây dựng đoàn thể và đi kèm với nó là việc đánh đổ chế độ vua quan thối nát. Từ đó, ông đi tới kết luận: Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã. Mà muốn có đoàn thể thì có chỉ hay hơn là truyền bá xã hổi chủ nghĩa trong dân Việt Nam này. Lập luận của tác giả hết sức chặt chẽ, có sức thuyết phục cao.

    Đoạn trích về luân lí xã hội ở nước ta thể hiện khá rõ những điều cốt lõi tạo nên sức hấp dẫn của bài diễn thuyết: lập luận chặt chẽ, lôgích, xúc cảm chân thành, nồng nhiệt biểu lộ qua những lời cảm thán thống thiết; qua lập trường kiên quyết đánh đổ chế độ quân chủ phong kiến lạc hậu qua kế hoạch hành động được vạch ra cụ thể, rõ ràng. Điều đó biểu hiện tư duy lí luận nhạy bén, sắc sảo của nhà cách mạng Phan Châu Trinh.

    Từ đoạn trích, chúng ta có thể thấy tâm trạng của tác giả khi viết bài văn nghị luận trên là căm ghét bọn quan lại tham nhũng, hiểu thấu những thối nát của chế độ phong kiến đến tận gốc rễ. Bên cạnh đó là tình cảm thương xót đồng bào và hi vọng vào tương lai tươi sáng của dân tộc một khi đã có đoàn thể vững mạnh đấu tranh hướng đến chủ nghĩa xã hội tích cực và tiến bộ.

    Phan Châu Trinh đã thể hiện một tầm nhìn xa rộng và những suy nghĩ sắc sảo khi vạch ra thực trạng cùng giải pháp truyền bá luân lí xã hội chủ nghĩa, gây dựng tinh thần đoàn kết để tiến đến sự nghiệp giành tự do độc lập cho dân tộc Việt Nam. Những điều Phan Châu Trinh nói về việc xây dựng nền luân lí xã hội cho đến nay vẫn có ý nghĩa thời sự nhất định. Nó nhắc nhở mọi người hãy nêu cao tinh thần đoàn kết và ý thức trách nhiệm đối với cộng đồng, vì tương lai tốt đẹp của đất nước.

    Bài văn mẫu 2

    Cho đến nay, càng ngày người ta càng nhận ra tầm vóc tư tưởng lớn lao của Phan Châu Trinh – người đầu tiên có tư tưởng dân chủ ở Việt Nam. Phan Châu Trinh không chủ trương con đường bạo lực để giành độc lập cho đất nước. Sớm cảm nhận được xu thế toàn cầu hoá đang diễn ra trên thế giới, ông kiên trì thực hiện công cuộc “khai dân trí”, “chấn dân khí”, “hậu dân sinh”, coi đó như đột phá khẩu để giải quyết mọi vấn đề nan giải của xã hội Việt Nam thuở ấy. Trước tác của ông rất nhiều, tất cả đều hướng tới chỗ đánh thức quốc dân thoát khỏi con mê, khơi dậy ý thức về dân quyền, dân chủ, chỉ ra chỗ thua kém cốt tử cúa dân mình, nước mình trong cuộc tranh cường cùng thiên hạ,…

    Sau 15 năm sống lưu vong trên đất Pháp, vẫn kiên trì đường lối cách mạng nói trên, Phan Châu Trinh xin về nước và hối hả hoạt động để “thức tỉnh dân khí ba kì đồng tâm hiệp lực đạp đổ cường quyền áp chế”. Ông đã kịp có những buổi diễn thuyết quan trọng tại Sài Gòn trước lúc mất, mà một trong số đó là buổi diễn thuyết về Đạo đức và luân lí Đông Tây vào đêm 19-11-1925 tại nhà Hội Thanh niên.

    Bài diễn thuyết Đạo đức và luân lí Đông Tây khá dài, có nội dung phong phú, đề cao tác dụng của đạo đức, luân lí, khẳng định phải tìm nguyên nhân mất nước trong việc để mất đạo dức, luân lí truyền thống.

    Phan Châu Trinh phân biệt đạo đức với luân lí, cho đạo đức là cái bất biến còn luân lí là cái có thể thay đổi theo thời, bởi vậy, muốn đưa Việt Nam thoát khỏi thảm trạng hèn yếu, mất độc lập, dứt khoát phải cải tổ luân lí đổ nát bấy nay, xây dựng luân lí mới trên nền tảng truyền thống vinh quang (cũng là đạo đức chân chính) từng có. Để thuyết phục người nghe rằng việc du nhập luân lí mới của phương Tây hoàn toàn không phải là việc làm khiên cưỡng, Phan Châu Trinh chỉ ra : nền dân chủ tư sản cùng sự tiến bộ, giàu mạnh của các nước châu Âu hiện thời là thành quả của việc xây dựng nền đạo đức, luân lí có phần tương tự với đạo đức, luân lí Khổng – Mạnh ở Trung Quốc và Việt Nam vào các thời thịnh trị. Từ điểm này, ông chủ trương : “Đạo Khổng – Mạnh đã mất rồi, nay ta muốn nước ta có một nền đạo đức luân lí vững vàng, thì có gì hay bằng ta hết sức đem cái chủ nghĩa dân chủ Âu châu về. Chủ nghĩa dân chủ chính là một vị thuốc rất thần hiệu để chữa bệnh chuyên chế của nước ta vậy. Đem văn minh Âu châu về tức là đem đạo Khổng – Mạnh về”. Nếu không tính đến sự giản đơn trong việc quy đồng các nền văn hoá, các triết thuyết khác nhau, có thể nói, Phan Châu Trinh, với sự nhạy cảm riêng của một người có kinh nghiệm diễn thuyết, đã biết cách làm “an lòng” những ai thường sống trong niềm tự phụ về nền ăn minh tinh thần của châu Á, trong đó có Việt Nam.

    Theo Phan Châu Trinh, luân lí phương Tây đã phát triển qua ba giai đoạn, từ gia đình, lên quốc gia, đến xã hội. Trong thời Trung cổ, luân lí mới chỉ là luân lí gia đình, gia đình nào biết gia đình nấy ; khi các quốc gia hình thành (khoảng thế kỉ XVI) thì có luân lí quốc gia, quốc gia nào lo củng cố, phát triển quốc gia nấy ; chỉ sau Chiến tranh thế giới thứ nhất, cái tư tưởng về luân lí xã hội mới thực sự được đề xướng và xây dựng. Luân lí xã hội tức là luân lí của chủ nghĩa xã hội, coi trọng sự bình đẳng của con người, không chỉ quan tâm đến từng gia đình, quốc gia mà còn đến cả thế giới. Cũng theo Phan Châu Trinh, trong xã hội Việt Nam thời đó, cả luân lí gia đình lẫn luân lí quốc gia (mà phần cốt lõi là ý thức nghĩa vụ đối với quốc gia) đều đã tiêu vong. Đây chính là nguyên nhân gốc của tình trạng mất nước. Riêng về luân lí xã hội là thứ luân lí đang được cổ vũ ở các nước phương Tây thì người dân ta chưa có ý niệm gì (cần lưu ý : tác giả đã dùng khái niệm theo cú pháp của tiếng Hán ; ở đây, xã hội luân lí hay quốc gia luân lí chính là luân lí xã hội, luân lí quốc gia theo cách nói quen thuộc hiện nay).

    Nhìn chung, trong bài diễn thuyết này, khi phân tích tình hình đất nước, Phan Châu Trinh luôn muốn người nghe có dược một cái nhìn bao quát về thế giới. Hiểu người là để hiểu mình. Nắm được đại cục là để xác định được một hướng đi thực tế nhất. Con đường phát triển của xã hội Việt Nam phải hoàn toàn thuận dòng với con đường phát triển chung của xã hội loài người,…

    Có thể thâu tóm đại ý của đoạn trích về luân lí xã hội ở nước ta (thuộc phần thứ III của bài diễn thuyết) như sau : người nước ta còn hoàn toàn xa lạ với khái niệm luân lí xã hội và điều kiện để xây dựng luân lí xã hội ở Việt Nam cũng chưa có, bởi dân không biết đoàn thể, không trọng công ích, mà tình trạng này lại có nguyên nhân từ sự manh tâm phá hoại đoàn thể của đám quan trường. Trình bày những điều trên, Phan Châu Trinh hướng người nghe tới nhận thức : cần phải truyền bá chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam để gây dựng đoàn thể, nhằm hướng tới mục đích giành tự do, độc lập.

    Khái niệm then chốt của đoạn trích không có gì khác hơn là luân lí xã hội. Cân cứ vào những gì đã được trình bày, ta hiểu nội dung của nó bao hàm mấy điểm lớn :

    – Trước hết, đó là ý thức tương trợ lẫn nhau giữa các cá nhân trong xã hội.

    – Tiếp đó, luân lí xã hội là “cái nghĩa vụ mỗi người trong nước”, tức là ý thức công dân mà mỗi người phải có.

    – Cao hơn, luân lí xã hội là “cái nghĩa vụ loài người ăn ở với loài người”, tức là tinh thần hợp tác của con người vượt lên các ranh giới dân tộc và lãnh thổ.

    Nói giản dị hơn và cũng thiết thực hơn, theo Phan Châu Trinh, luân lí xã hội gắn liền với ý thức sãn sàng làm việc chung, sẵn sàng giúp đỡ nhau và tôn trọng quyền lợi của người khác.

    Vốn nổi tiếng về tài hùng biện, Phan Châu Trinh rất biết cách chinh phục người nghe, đầu tiên là bằng lối xưng hô thích hợp. Vì hướng về đồng bào thân yêu – những người biết đau nỗi đau mất nước, đang muốn chia sẻ với ông những trăn trở trong việc xác định con đường đi tới cho cả xã hội – ông đã dùng những cụm từ như : “anh em”, “dân Việt Nam”, “người nước mình”, “người mình”,… Thật ấm lòng khi được nghe những từ đó từ miệng diễn giả.

    Vào đề, tác giả không ngần ngại dùng cách nói phủ định để đánh tan những ngộ nhận có thể có ở người nghe về sự hiểu biết của chính họ trên vấn đề luân lí xã hội : “Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều”. Tiếp sau, dường như lường tính được khả năng hiểu đơn giản, thậm chí xuyên tạc vấn đề của không ít người, tác giả mạnh mẽ bồi thêm một câu để gạt phắt khỏi nội dung bài nói những chuyện vô bổ : “Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được, cho nên không cần cắt nghĩa lùm gì” (các chữ in nghiêng là nhấn mạnh của PHD). Câu văn trên cho thấy rõ sự sống động trong tư duy và sự nhạy cảm trong quan hệ giao tiếp của tác giả. Ông không chọn cách nói nặng tính lí thuyết gắn liền với yêu cầu minh giải khái niệm. Vì quan tâm tới trình độ của người dự nghe diễn thuyết nên ông trình bày vấn đề bằng hàng loạt phản chứng. Uy lực của lời nói tác giả cũng được khẳng định từ đó. Thông qua việc công kích, phủ nhận cách hiểu sai và việc nêu lên cái thiếu của dân ta, nước ta trên phương diện luân lí xã hội, tác giả dần dần giúp người nghe lĩnh hội được bản chất của vấn đề.

    Muốn thuyết phục người nghe, chỉ nói lí không thôi thì chưa đủ. Mọi luận điểm được nêu lên phải có dẫn chứng kèm theo. Có thể dễ dàng tìm thấy trong bài nhiều ví dụ nói về việc nước ta tuyệt nhiên không có luân lí xã hội. Cụ thể là :

    – Dân ta “phải ai tai nấy, ai chết mặc ai”, sợ sệt, ù lì, trơ tráo.

    – Dân “không biết đoàn thể, không trọng công ích”.

    – Người này đối với kẻ kia đều “ngó theo sức mạnh”; thấy quyền thế thì chạy theo, quỵ luỵ, dựa dẫm.

    – Vua quan mặc sức bóp nặn dân chúng, chỉ biết vơ vét, coi việc dân ngu giống như một điều kiện tốt để củng cố quyền lực và lòng tham của mình.

    Đối với các hiện tượng trên, tác giả đã tỏ thái độ phê phán rất nghiêm khắc, càng đau lòng lại càng thấy cần phải chỉ ra sự hèn kém của dân mình, nước mình. Tất nhiên, tác giả phân biệt rõ sự khác nhau của các đối tượng mà ông phê phán. Theo ông, nguyên nhân sâu xa của tình trạng “dân không biết đoàn thể, không trọng công ích” nằm ở sự phản động, thối nát của lũ quan trường. Từ đây, tác giả hướng mũi dùi đả kích vào bọn chúng (đối tượng mà ông khi thì gọi là “bọn học trò”, khi thì gọi là “kẻ mang đai đội mũ”, “kẻ áo rộng khăn đen”, khi thì gọi là “bọn quan lại”, “bọn thượng lưu”,…). Chỉ mới quan sát cách tác giả gọi tên chứ chưa nói tới việc ông tố cáo cái tội của chúng, ta đã nhận ra sự căm ghét cao độ của Phan Châu Trinh đối với tầng lớp quan lại Nam triều. Trong mắt tác giả, chế độ vua quan chuyên chế vô cùng tồi tệ, cần phải phủ định một cách triệt để. Có thật nhiều hình ảnh, ví von thể hiện thái độ phủ định đó : “có kẻ mang đai đội mũ, ngất ngưởng ngồi trên, có kẻ áo rộng khăn đen lúc nhúc lạy dưới…” ; “Những bọn quan lại đã nói ở trên này chỉ còn một tiếng chỉ đúng hơn là lũ ăn cướp có giấy phép vậy”.

    Trong đoạn trích, Phan Châu Trinh luôn sử dụng thao tác so sánh, đối chiếu “bên châu Âu” với “bên mình” để khơi dậy ở người nghe cảm giác tủi hổ, nhục nhã. Ông đã chỉ ra sự khác biệt, nói chính xác hơn là sự thua kém của ta so với người trên hàng loạt vấn đề như sự công hằng, sự hiểu biết, đặc biệt là ý thức nghĩa vụ giữa người với người. Tất nhiên, chỉ cần tập trung nói về ý thức nghĩa vụ giữa nqirời với người cũng đã đủ gợi lên các vấn đề còn lại.

    Sự xuất hiện của rất nhiều câu cảm thán cho thấy tác giả không chỉ phát biểu chính kiến bằng lí trí tỉnh táo mà còn bằng trái tim tràn trề cảm xúc, chan chứa niềm xót xa cùng nỗi đau về tình trạng đình trệ thê thảm của xã hội Việt Nam : “Dân khôn mà chi ! Dân ngu mà chi ! Dân lợi mà chi ! Dân hại mà chi ! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu dài, bọn quan lại càng phú quý !…”. Qua trạng thái cảm xúc ấy, ta thấy rõ phẩm cách trung thực, cứng cỏi, quyết liệt của một nhà cách mạng toàn tâm toàn ý đấu tranh vì dân chủ, vì tiến bộ xã hội. Sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố biểu cảm với yếu tố nghị luận vốn là một đặc điểm nổi bật của văn diễn thuyết. Những câu cảm thán, câu hỏi tu từ, các cụm từ “người nước ta”, “ông cha mình”, một số trường hợp mở rộng thành phần câu để nhấn mạnh (như ở câu “Luân lí của bọn thượng lưu – tôi không gọi bọn ấy là thượng lưu, tôi chỉ mượn hai chữ thượng lưu nói cho anh em dễ hiểu mà thôi – ở nước ta là thế đấy !”) đầy ắp màu sắc cảm xúc đã làm cho lí lẽ của bài diễn thuyết tăng thêm sức thuyết phục. Ta luôn thấy ở đây mối giao hoà, giao cảm giữa người nói và người nghe. Đó chính là một trong những điều kiện quan trọng làm nên khả năng lay chuyển nhận thức và tình cảm ở người nghe của bài diễn thuyết.

    Ở phần cuối đoạn trích, tác giả nói rõ sự phát triển tuần tự, theo chiều thuận của ba việc lớn : truyền bá chủ nghĩa xã hội, gây dựng đoàn thể và giành tự do độc lập. Tác giả luôn biết hướng về cái đích cuối cùng (giành tự do, độc lập) nhưng cũng hết sức tỉnh táo trong việc lựa chọn bước đi. Từ chỗ nhận thấy một sự thực nhức nhối là dân trí nước ta quá thấp và ý thức đoàn thể của người dân rất kém (điều này gây trớ ngại cho mưu đồ cứu nước), ông kêu gọi gây dựng đoàn thể, dĩ nhiên, đi kèm với nó là việc đánh đổ chế độ vua quan thối nát. Nhưng, “muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này”. Truyền bá xã hội chủ nghĩa (tức chủ nghĩa xã hội nói theo cú pháp tiếng Hán) đồng nghĩa với việc khơi dậy ý thức trọng công ích, đoàn thể, lòng căm thù đối với chuyên chế,… Lập luận như thế phải nói là rất chặt chẽ, có sức thuyết phục cao.

    Nhìn chung, về luân lí xã hội ở nước ta thể hiện khá rõ những điều cốt lõi làm nên sức hấp dẫn của văn diễn thuyết Phan Châu Trinh : lập luận sáng sủa, khúc chiết; tình cảm tràn đầy, thường được biểu lộ qua những lời cảm thán thống thiết; lập trường đập nát chế độ quân chủ luôn được tuyên bố công khai, dứt khoát ; kế hoạch hành động được vạch ra cụ thể, rõ ràng,…

    Những vấn đề đặt ra trong về luân lí xã hội ở nước ta không chỉ có ý nghĩa đối với thời của Phan Châu Trinh mà còn có ý nghĩa đối với cả thời của chúng ta hôm nay. Chúng nhắc ta nhớ tới tầm quan trọng của việc gây dựng đoàn thể nhằm tạo nên ý thức trách nhiệm với cộng đồng của mọi con người sống trong xã hội. Chúng cảnh báo nguy cơ tiêu vong các quan hộ xã hội tốt đẹp do lũ người ích kỉ, vụ lợi, “ham quyền tước, ham bả vinh hoa” đem đến. Chúng khơi dậy niềm âu lo về sự chậm tiến của một xã hội mà ở đó tinh thần dân chủ còn chưa dược ý thức như một nhân tố thúc đẩy sự phát triển. Phan Châu Trinh qua đời cách nay đã hơn 70 năm nhưng tư tưởng của ông vẫn còn song hành với chúng ta trong cuộc hội nhập cùng thế giới!

  • Bình luận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    Bình luận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    Bình luận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Cảm nhận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    [toc]

    Đề bài: Em hãy viết bài văn bình luận bài Về luân lí xã hội ở nước ta của Phan Châu Trinh.

    Bài văn mẫu

    Phan Châu Trinh (1872-1926) là nhà chí sĩ yêu nước nổi tiếng. Lợi dụng thực dân Pháp, cải cách đổi mới mọi mặt, làm cho dân giàu, nước mạnh, trên cơ sở đó tạo nền độc lập quốc gia, đây chính là chủ trương cứu nước của ông. Phan Châu Trinh luôn ý thức dùng văn chương để làm cách mạng vì vậy những tác phẩm của ông đều đậm tính chất hùng biện, lập luận chặt chẽ, đanh thép, thấm nhuần tư tưởng yêu nước và tinh thật dân chủ. Một trong những tác phẩm chính của Phan Châu Trinh là “Đạo đức và luân lý Đông Tây” và bài “Về luân lý xã hội ở nước ta” là một đoạn trích nằm trong phần ba của tác phẩm này.


    Nổi bật lên trong đoạn trích là dũng khí của một người yêu nước, qua đó vạch trần thực trạng đen tối của xã hội đề cao tư tưởng đoàn thể vì sự tiến bộ, hướng về một ngày mai tươi sáng của đất nước. Với nội dung đoạn trích này, tác giả muốn hướng tới toàn thể nhân dân Việt Nam nhằm khôi phục ý thức, trách nhiệm của mỗi người dân đối với sự phát triển của quốc gia, dân tộc.

    Trong tác phẩm, Phan Châu Trinh nói về luân lí xã hội . Vậy cái luân lí xã hội mà tác giả nhắc đến là cái gì? Luân lí xã hội tức là luân lí của chủ nghĩa xã hội, coi trọng sự bình đẳng của con người, không chỉ quan tâm đến từng gia đình, quốc gia mà còn đến cả thế giới. Cũng theo Phan Châu Trinh thì trong xã hội Việt Nam đương thời, cả luân lí về gia đình – tức là gia đình nào biết gia đình nấy, và luân lí quốc gia – tức là quốc gia nào thì lo củng cố, phát triển quốc gia nấy, mà phần cốt lõi của luân lí quốc gia là ý thức nghĩa vụ đối với quốc gia, cả hai luân lí này đều đã tiêu vong, ông cho rằng đây là nguyên nhân dẫn đến tình trạng mất nước. Riêng về luân lí xã hội là thứ luân lí đang được cổ vũ ở các nước phương Tây thì người dân ta chưa có ý niệm gì. Phan Châu Trinh chỉ rõ: Ở Việt Nam chưa có luân lí xã hội , ông viết: “Xã hội luân lí thật trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều. Một tiếng bè bạn không thể thay cho xã hội luân lí được, cho nên không cần cắt nghĩa làm gì”. Ý của tác giả là không thể hiểu đơn giản rằng luân lí xã hội chẳng qua chỉ là tình cảm bạn bè giữa người này với người khác. Tiếp đến, tác giả so sánh quan điểm, nhận thức về luân lí xã hội của người châu Âu với người Việt Nam để nhấn mạnh tình trạng trên. Ông cho rằng người châu Âu có đoàn thể, có ý thức sẵn sàng làm việc chung, sẵn sàng giúp đỡ lẫn nhau và tôn trọng quyền lợi của người khác bằng minh chứng: “bên Pháp, mỗi khi người có quyền thế, hoặc chính phủ lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của một người hay một hội nào thì người ta hoặc kêu nài, hoặc chống cự, hoặc thị oai, vận dụng cho đến được công bình mới nghe”. Còn ở Việt Nam thì sao? Tác giả đã chứng minh được ở nước ta tuyệt nhiên không có luân lí xã hội. Thứ nhất, dân ta chỉ biết lo cho bản thân, không quan tâm đến người khác, ông chứng minh bằng cách đưa ra các biểu hiện: “Người mình thì phải ai tai nấy, ai chết mặc ai! Đi đường gặp người bị tai nạn, gặp người yếu bị kẻ mạnh bắt nạt cũng ngơ mắt đi qua, hình như người bị nạn khốn ấy không can thiệp gì đến mình”. Tiếp đến, tác giả viết: ” đã biết sống thì phải bênh vực nhau, biết góp gió thành bão, giụm cây làm rừng không đến nỗi trơ trọi, lơ láo, sợ sệt, ù lì như ngày nay” và còn dùng một số câu thành ngữ như “không ai bẻ đũa cả nắm” hay “Nhiều tay làm nên bộp” để chỉ rõ trước kia dân tộc Việt Nam cũng biết đến đoàn thể, công ích, biết đến sức mạnh của tình đoàn kết nhưng hiện nay thì không còn nữa. Ông còn nhấn mạnh sự phản động, thối nát của xã hội phong kiến chính là nguyên nhân gây ra tình trạng này. Không dừng lại ở đó, tác giả còn nêu ra tình trạng vua quan ra sức bóc lột, vơ vét của nhân dân, không hề quan tâm đến lợi ích của dân chúng: “Dẫu trôi nổi cùng cực thế nào, miễn là có kẻ mang đai đội mũ ngất ngưởng ngồi trên, có kẻ áo rộng khăn đen lúc nhúc lạy dưới, trăm nghì năm như thế cũng xong”, ông còn chỉ rõ bọn quan tham ấy là ai? “Ngày xưa thì bọn ấy là bọn Nho học đã đỗ được cái bằng cử nhân, tiến sĩ. Ngày nay thì bọn ấy là bọn Tây học đã được cái chức kí lục thông ngôn, có khi bồi bếp dựa vao thân thế của chủ cũng ra làm quan nữa. Những bọn quan lại đã nói ở trên này chỉ còn một tiếng đúng hơn là lũ ăn cướp có giấy phép vậy”. Bên cạnh sự phê phán bọn quan tham, tác giả cũng chỉ ra sự hèn kém của dân mình, “dầu tham, dầu nhũng dầu rút tỉa của dân thế nào cũng không ai bình phẩm; dầu lấy lúa của dân mua vườn sắm ruộng, xây nhà làm cửa cũng không ai chê bai”. Cuối cùng là thái độ gió chiều nào theo chiều ấy, thấy quyền thế thì chạy theo, quỵ lụy, dựa dẫm: “Những kẻ ở vườn thấy quan sang, quan quyền cũng bén mùi làm quan. Nào lo cho quan, nào lót cho lại, nào chạy ngược, chạy xuôi dầu cố ruộng dầu bán trâu cũng vui lòng chỉ cần được lấy một cái chức xã trưởng hoặc cai tổng […]. Thương ôi! Làng có một trăm dân mà người này đối với kẻ kia đều ngó theo sức mạnh, không có chút gì gọi là luân lí đạo đức cả”.

    Vậy nếu muốn có luân lí xã hội thì cần phải làm gì? Theo tác giả thì cần phải gây dựng đoàn thể để giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Đồng thời xóa bỏ chế độ phong kiến đã thối nát để xây dựng chế độ xã hội chủ nghĩa theo đúng nghĩa của nó, nâng cao dân trí và ý thức dân chủ của người dân, hướng dân chúng tới mục tiêu giành độc lập tự do cho dân tộc, như ông đã kết luận: “Nay muốn một ngày kia nước Việt Nam được tự do, độc lập thì trước hết dân Việt Nam phải có đoàn thể đã. Mà muốn có đoàn thể thì có chi hay hơn là truyền bá xã hội chủ nghĩa trong dân Việt Nam này”.

    Với phong cách chính luận độc đáo: lúc từ tốn, mềm mỏng, lúc lại kiên quyết đanh thép đầy sức thuyết phục, đồng thời với tầm nhìn sâu rộng và suy nghĩ sắc sảo tiến bộ của mình, Phan Châu Trinh đã cho chúng ta thấy thực trạng về luân lí xã hội ở nước ta hiện nay, đồng thời như một lời nhắc nhở mọi người hãy nêu cao tinh thần đoàn kết và ý thức trách nhiệm với quốc gia, dân tộc mình.

  • Cảm nhận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    Cảm nhận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    Cảm nhận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận bài Về luân lí xã hội ở nước ta

    Bài văn mẫu

    Như rất nhiều nhà cách mạng khác ở Việt Nam đầu thế kỉ XX. Mục đích cuốì cùng của Phan Châu Trinh cũng là giành độc lập tự do cho dân tộc. Tuy nhiên, mỗi người lựa chọn một con đường đi khác nhau. Bằng trực cảm, nhạy cảm của một trí thức, bằng tầm nhìn xa trông rộng của một người có tư tưởng dân chủ ông không lựa chọn con đường bạo lực mà kiên trì thực hiện: “Khai dân trí”, “Chấn dân chí”, “Hậu dân sinh” để tạo ra sức mạnh dân tộc. Tư tưởng ấy thể hiện rõ trong bài Đạo đức và luân lí Đông Tây, được viết năm 1925. Đoạn trích Về luân lí xã hội ở nước ta khá tiêu biểu cho tư tường này.

    Bài Đạo đức và luân lí Đông Tây được ông diễn thuyết đêm 19-1-1925 tại nhà thanh niên ở Sài Gòn (Thành phố Hồ Chí Minh ngày nay). Trong bài viết, Phan Châu Trinh đã đề cao tác dụng của đạo đức luân lý, khẳng định một những nguyên nhân để mất nước là mất đạo đức, luân lí truyền thống. Đoạn trích, ta có thể tóm lược ý của Phan Châu Trinh là: Trong thực tế, tinh thần dân chủ; ý thức cộng đồng ở nước ta còn thẩp, muốn trở thành hùng mạnh như các nước phương tây phải tìm ra nguyên nhân và khắc phục tình trạng này. Rõ ràng, đây là cách đặt vấn để, giải quyết vấn đề chặt chẽ, sáng tạo, dễ thuyết phục.

    Phần đầu của văn bản, Phan Châu Trinh chi rõ thực trạng đáng buồn của xã Việt Nam đầu thế kỉ XX là dân trí thấp. Điều này hoàn toàn đúng bởi vì chủ trương của người Pháp khi sang Đông Dương là thực hiện chính sách ngu dân dễ bể cai trị. Tuy nhiên, điều đáng bàn ở đây là cách viết của Phan Chu Trinh không chỉ đúng mà còn hay và giàu sức thuyết phục. Bắt đầu từ chỗ dân trí thấp nên một số hệ lụy kéo theo. Như tác giả, đó là: “Xã hội luân lí trong nước ta tuyệt nhiên không ai biết đến, so với quốc gia luân lí thì người mình còn dốt nát hơn nhiều”. Có nghĩa là tinh thần xã hội có ý thức cộng đồng ở nước ta “dốt nát hơn nhiều”. Hay đúng hơn là hầu như không được biết đến. Không sử dụng yếu tố lập luận và cách lập luận sắc sảo qua việc dùng biện pháp so sánh, lựa chọn từ ngữ… Tác giả còn bày tỏ thái độ xót xa, tâm trạng bức xúc, là thái độ của một con người giàu cái tâm, cái tình với đất nước. Thái độ Phan Chu Trinh thật đáng khâm phục dù ông đang hướng về các nước phương Tây để chủ trương “duy tâm”. Nhưng ông không phủ nhận đạo Nho, hơn thế, ta vẫn thấy ông nói về nó với thái độ trân trọng. Điều này một lần nữa thể hiện rõ quan điểm của ông. Đổi mới nhận thức của người dân theo hướng hiện đại để theo kịp xu thế nhưng không đồng nghĩa với việc xa rời lối sống và học phương Đông. Phải chăng, ông là người rất thức thời ở điếm này khi sau ông gần một kỉ, trong xu thế hội nhập, chúng ta cũng luôn chủ trương “hòa nhập mà không hoà tan”.

    Sau khi chỉ ra thực trạng tăm tối về đời sống tinh thần, ý thức xã hội và cộng đồng ở nước ta, tác giả đã lấy chuẩn mực là các nước phương Tây đê so sánh. Tác giả chỉ lấy một ví dụ nêu một biểu hiện đã trở thành nếp sống: “Bên Pháp, mỗi khi có người quyền thế hoặc chính phủ lấy sức mạnh mà đè nén quyền lợi riêng của một người hay một hội nào, thì ngiười ta kêu nài hoặc chống cự, hoặc thị oai, vận dụng kì cho đến được công trình mói nghe”. Hiện tượng này rõ là xa lạ với người Việt Nam thời đó. Xa lạ bởi theo tác già họ có “đoàn thể”, có “công đức” – nghĩa là họ có cộng đồng, có ý thức xã hội, hay đúng hơn là dân trí đã phát triển ở mức cao. Rõ ràng đây là điểm yếu, là điều xa lạ với con người Việt Nam như trên đã nói.

    Vậy thực trạng của cái gọi là ý thức xã hội, ý thức cộng đồng thiếu ở nước ta là gì? Theo như tác giả chỉ ra, ta nhận thấy một thực tê: “ai chết mặc ai, sống khép kín, bo bo một mình”. Tuy nhiên, điều đáng nói là tác giả không chỉ dừng lại ở việc chỉ ra biểu hiện, ông còn tìm trong căn nguyên của nó. Ngược lại xa xưa, ta thấy rõ cha ông ta không dạy như thế. Câu tục ngữ: “Không ai bẻ đũa cả nắm” mà tác giả diễn tả chứng tỏ điều đó. Nghĩa là, “dân tộc Việt Nam này hồi cổ sơ cũng biết đoàn thể, biết công ích, biết góp gió thành bão, giụm cây làm rừng…”. Cuối cùng, nguyên nhân chính là do kẻ cầm cân nảy mực mấy trăm năm trở lại đây. Bọn họ vì mắc căn bệnh mẫn “ham quyền tước, ham bả vinh hoa” chi biết có vua, không biết có dân, chỉ lo nịnh vua không tròn việc chăm dân. Dạy đã mấy ai thậm chí còn “phá tan tành đoàn thể của quốc gia”.

    Đọc văn bản, ta còn nhận ra rất rõ thái độ của Phan Châu Trinh. Ông càng ghét, khinh bỉ bọn này đến tột độ. Bắt đầu từ cách gơ là “đám” “kẻ”, “bọn” tất cả chúng đều “lúc nhúc” như giòi bọ. Rồi đến giọng văn mỉa mai, ghê tởm khi nói về bọn ham bả vinh hoa: “Dâu trôi nổi, dẫu cực khổ thế nào mặc lòng, miễn là có kẻ mang đai, đội mũ, có kẻ áo rộng, khăn đen lúc nhúc lay dưới, trăm nghìn năm như thế cũng xong? Giọng văn xót xa khi nói vẽ người dân: “Dân khôn mà chi! Dân lợi mà chi! Dân hại mà chi! Dân càng nô lệ, ngôi vua càng lâu, quan lại càng phi quý!” Nghĩa là ông đã chỉ ra, bày tỏ thái độ trước mối liên hệ giữa cái phú quí của quan lại và cái khốn khổ của dân. Tuy nhiên, cái khổ của Phan Châu Trinh chi ra không chỉ là chuyện cơm áo. Khốn khổ nhất với họ là họ đang bị “ngu đi mà không hê biết”, họ không còn đủ khôn để phân biệt. Những kẻ ham phú quí, ham bả vinh hoa kia, vì quyền lợi của họ, họ đã dẫm đạp lên người dân, từ thành thị đến thôn quê vì xét cho cùng “dân càng nô lệ… bọn quan lại càng phú quý”. Nguy hại hơn, cái thói hám quyền tước, lợi lộc như một thứ đại dịch, lan tràn, cá người học chữ Nho đến chữ Tây, từ thôn quê đến chốn thị thành, thử hỏi đại dịch ấy bao giờ chấm dứt? Thử hỏi, ai sẽ là người đem thuốc trị cho con bệnh hiểm ấy? Đứng trước thực tại đó, ông đã phải thốt lên: “Ôi! Một dân tộc như thế thì tư tưởng cách mạng nảy nở trong óc chúng làm sao được! Xã hội chủ nghĩa trong nước Việt Nam ta không có cũng là vì thế!”. Kết thúc bài viết là một lập luận đông thời cùng là một lời kêu gọi. Các vấn đề được liên kết theo kiểu móc xích. Để độc lập thì phải có đoàn thể và để ó đoàn thế thi phải “truyền bá Xã hội chủ nghĩa”, phải giác ngộ đồng bào, khơi gợi đoàn kết. Chi có như thế dân tộc Việt Nam mới có đủ sức mạnh để đánh đuổi kẻ xâm lăng, mới thoát kiếp nô lệ.

    Đọc bài văn của Phan Chu Trinh người đọc bị thuyết phục bởi cái tâm với đất nước, với nhân dân, với sự nghiệp vĩ đại và khát vọng độc lập cho dân tộc. Cái tâm ấy được thể hiện qua cái tài diễn thuyết, qua cách lập luận chặt chẽ ngôn ngữ trong sáng mà gọi cảm. Bởi thế dù con đường cách mạng ông đã đi chưa thực sự đem lại độc lập do dân tộc Việt Nam, nhưng mãi mãi lịch sử ta con người đất Việt biết ơn và tự hào về ông.

  • Phân tích Chân dung và tính cách của nhân vật Người trong bao

    Phân tích Chân dung và tính cách của nhân vật Người trong bao

    Phân tích Chân dung và tính cách của nhân vật Người trong bao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện Người trong bao

    [toc]

    Đề bài: Phân tích chân dung và tính cách của nhân vật người trong bao của Bê li cốp

    Bài văn mẫu

    Sê Khốp được biết đến là một nhà văn nổi tiếng của nước Nga, dòng văn mà ông theo đuổi và thành công đó chính là văn hiện thực. Ông là một người có công cách tân truyện ngắn và kịch nói. Sáng tác của ông luôn là chiếc gương phản chiếu lên án những hiện thực ở nước Nga. Trong những tác phẩm của ông tiêu biểu có tác phẩm Người trong bao. Mà qua chân dung và tính cách của nhân vật Bê li cốp ta thấy được những cái nhà văn muốn lên án xã hội con người Nga. Cụ thể ở đây chính là phê phán lối sống tầm thường dung tục của tiểu tư sản Nga.


    Nhan đề của tác phẩm cũng thật đặc biệt khi ta thấy được rằng chính cái tên ấy đã nói lên phần nào nhân vật Bê li cốp. Nhân vật ấy đại diện cho tầng lớp tiểu tư sản với lối sống dung tục, nhút nhát, giáo điều. Đối với bê li cốp “nếu không có chỉ thị nào cho phép thì ta không được làm”. Và cuối cùng thì anh ta cũng phải nằm trong bao mà đi trầu Diêm Vương. Nhan đề ấy thể hiện được cái sự hèn nhát của những người tri thức Nga. Và kết cục của những con người như thế thì không tốt. Lối sống nhút nhát, dung tục ấy sẽ có hại cho người dân Nga, nó gây đầu độc cuộc sống, gây hậu quả nghiêm trọng về sau. Ngoài ra cái bao kia cũng mang hàm ý đó là cái bao bọc bó hẹp, cuộc sống tù túng, đen tối của người tri thức Nga mà sống không thoát ra được chết đi cũng thế.

    Trước hết là chân dung của Bê li cốp thì nhân vật hiện lên với những cách ăn mặc và bộ mặt của mình. trang phục mà Bê li cốp diện thường xuyên đó chính là một chiếc áo bành tô, đi giày cao su và cầm ô. Những trang phục ấy khiến cho ta thấy được Bê li cốp là một người chỉ sống vì quá khứ mà thôi. Những chiếc áo bành tô từ thời xưa cũng được anh diện suốt ngày, ngặt một nỗi nữa là mặc quang năm mặc là mưa nắng hay gió bão gì, đã thế lại còn cầm ô, đi giày cao su nữa. Trông Bê li cốp giống như những người của thế kỉ xưa cũ. Đã thế bộ mặt của anh ta lúc nào cũng dấu sau cái cổ áo bành tô ấy, đi xe ngựa thì lại phải kéo mui xe xuống để che mặt. Không những thế tai hắn còn nhét bông mà người ta thầm nghĩ rằng là nhét “trong bao”. Vậy đấy chân dung của Bê li cốp hiện lên với những vật dụng có từ ngày xưa và những lập dị của hắn. Không những thế tất cả mọi thứ từ con người cho đến những vật dụng của anh ta đều được để gọn gàng dấu kín trong bao. Chính vì thế mà ta có thấy cảm nhận thấy được rằng chính Bê li cốp đang cố tạo cho mình một cái bao ngăn cách với những người xung quanh, để tránh ảnh hưởng đến bản thân mình. Phải chăng đó chính là sự ích kẻ hèn nhát của những con người trí thức trong xã hội Nga thời bấy giờ? Nói chúng qua chân dung của Bê li Cốp ta thấy được rằng đại đa số trí thức Nga lúc bấy giờ có lối sống dung tục hèn nhát như thế, mọi thứ trở nên lập di với xã hội và chính những điều ấy gây ảnh hưởng rất lớn đến cuộc sống của con người Nga.

    Về phần tính cách của nhân vật này cũng rất kì lạ. Thu mình trong vỏ bọc là thế nhưng Bê li cốp lại có những ước mơ khát vọng khó hiểu lập dị. Đó là khát vọng ngăn cách với cuộc sống con người, chỉ biết sống cho mình, mình được an toàn và tránh xa mọi điều làm tổn hại đến sự an toàn ấy. Tính cách của bê li cốp đó là sợ hãi hiện tại và tôn sùng những gì là của quá khứ. Anh ta say mê tiếng Hi Lạp cổ vì thế mà anh ta hạnh phúc nhất khi thốt lên câu “An- thro- pos”. Có lẽ đó là khoảnh khắc duy nhất để anh ta chui ra khỏi cái bao bọc của mình. Tính tình anh ta giống như một kẻ tâm thần chỉ biết “lo âu”, “sợ hãi”, “nhút nhát”. Không những thế Bê li cốp chỉ thích sống theo thông tư chỉ thị. Một khi chưa có thông tư chỉ thị thì không thể làm được. Làm theo thông tư là tốt nhưng có những chuyện đợi thông tư đến thì sẽ muộn mất thì hắn vẫn không dám giải quyết. Điều đó thể hiện lối sống cứng nhắc quá mức. Chính bởi thế mà anh ta không thể nào thoát khỏi cái vỏ bọc của bản thân mình. Sống trong sợ hãi thì còn sống làm gì nữa. Đồng thời anh ta luôn bằng lòng với lối sống cổ hủ lạc hậu và không chịu được cách sống thức thời của chị em nhà Va ren ca.

    Có thể nói nhân vật hiện lên như một thảm họa của tạo hóa, một con người cô độc lạc lõng, kì quái, khủng khiếp và không hiểu cuộc sống đương thời.

    Chính vì cái kì quái ấy mà khiến cho biết bao nhiêu ngươi sợ hắn. Các giáo viên trong trường hay đến hiệu trưởng cũng sợ hắn. Bình thường hắn đến thăm nhà giáo viên mà hắn cho rằng công việc ấy nhằm suy trì tình bạn tốt đẹp. thế nhưng khi đến thì hắn chẳng nói chẳng rằng, chỉ ngồi phổng ra đó và rồi đưa mắt nhìn xung quanh khiến cho người ta phải sợ. Rồi một lát thì cáo từ về. Đến chơi mà không nói gì thì đến để làm gì?. Các bà diễn kịch cũng không dám gặp mặt hắn, phải dấu. Các nhà tu thì không dám ăn thịt và đánh bài khi có mặt hắn. Qủa thật Bê li cốp giống như một con ma đáng sợ khiến cho cả thành phố con người Nga phải khiếp sợ hắn. Cuộc sống như thế có khác nào địa ngục mà hắn cứ chui cái thân thể và cả tâm hồn mình trong cái vỏ bọc. Có thể nói chính cái lối sống của hắn đã ảnh hưởng đến cuộc sống và con người Nga hiện tại và tương lai. Nhân vật ấy giống như nền phong kiến tôi tăm của Nga lúc bấy giờ.

    Hắn cứ thế sống quanh năm với những nỗi lo sợ của mình. Nào là sợ ánh sáng ban ngày, sợ bóng tối, sợ trộm. Trong nhà lúc nào cũng đóng then cái cửa, đắp chăn kín mít cả đầu. Hắn toàn mơ thấy những điều kinh khủng nhất và chính vì thế mà hắn luôn thức dậy với bộ mặt tái nhợt. Không thể nào quên kể đến câu chuyện tình của Bê li cốp với cô nàng Va ren ca. khi nàng đến thì Bê li cốp đã yêu nàng. Và chính vì thế mà anh ta để hắn cả một tấm hình của người đẹp lên trên bàn làm việc của mình. Anh ta còn tính đến chuyện cưới xin nữa, thế rồi có người vẽ tranh biếm họa về đám cưới của anh ta và Va ren ca. Bức biếm họa ấy được gửi đến cả trường nam và trường nữ. Trong một lần Bê li cốp nhìn thấy chị em nhà Va ren ca cưỡi xe đạp giữa đường thì hắn cho rằng như thế chẳng ra thể thống gì cả. và hắn quyết định đến nói với chị em họ. Cô chị không có nhà chỉ có cô em. Hai bên cãi vã nhau và Va len cô đẩy bê li cốp xuống cầu thang khiến cho anh ta ngã nhào. Không thể quên được tiếng cười ha ha của Va ren cô. Tiếng cười ấy không những chấm dứt chuyện cưới xin mà còn phê phán cái lối sống trong bao của Bê li cốp nói riêng và người tri thức Nga nói chúng. Và sau một tháng thì Bê li cốp chết, anh ta được nằm trong cái bao vĩnh viễn.

    Qua đây ta thấy được nhà văn Sê Khốp đã lên án cái lối sống của những con người tri thức cổ hủ lạc hậu, lo sợ chỉ biết sống cho chính bản thân mình. Cách sống ấy đã ảnh hưởng rất nhiều đến cuộc sống của con người Nga hiện tại và con người tương lại. Chính vì thế lên án để mà không sống như vậy nữa.

  • Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện Người trong bao

    Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện Người trong bao

    Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện Người trong bao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Tóm tắt tác phẩm Người trong bao

    [toc]

    Đề bài: Phân tích và nêu cảm nghĩ về truyện “Người trong bao” của Sê-khốp.

    Bài văn mẫu

    Sê-khốp (1860-1904) là một trong những cây đại thụ của rừng văn học Nga, đã để lại nhiều kịch bản và hơn năm trăm truyện ngắn. Tác phẩm của Sê-khốp làm hiện lên toàn cảnh xã hội nước Nga cuối thế kỉ XIX, một xã hội ngạt thở trong bầu không khí chuyên chế bảo thủ nặng nề dưới thời Sa hoàng.

    Truyện ngắn “Người trong bao” được Sê-khốp viết vào năm 1898. Qua nhân vật Bê-li-cốp, tác giả châm biếm và đả kích hạng người trí thức Nga sống tầm thường, hủ lậu, hèn nhát và giáo điều, đê tiện và dung tục; đồng thời chỉ ra lối sống ấy đã để lại nhiều di hại đầu độc tâm hồn người, đầu độc cuộc sống, gây ảnh hưởng và hậu quả nặng nề, dai dẳng trong xã hội nước Nga. Cái bao mang hàm nghĩa về một kiếp người, một lối sống, một xã hội đen tối, tù túng, nặng nề mà không sao thoát ra được, chết rồi cũng không thoát ra được!

    Cuộc đời của anh giáo chức tỉnh lẻ Bê-li-cốp là những trang hài, là một bức tranh biếm hoạ cười ra nước mắt. Chả thế mà cô giáo Va-ren-ca đã “cười phá lên” khi Bê-li-cốp bị xô ngã “lộn nhào” xuống chân cầu thang, và cô đã “oà lên khóc” khi hắn đã nằm trong bao đi chầu âm phủ!

    Bê-li-cốp, giáo viên trung học dạy tiếng Hi Lạp cổ. Hắn quen sống trong tù túng, nô đã nằm trong bao đi chầu âm phủ!

    Bê-li-cốp, giáo viên trung học dạy tiếng Hi Lạp cổ. Hắn quen sống trong tù túng, nô lệ. Với hắn thì “nếu không có chỉ thị nào cho phép thì ta không được làm”. Hắn sống vì quá khứ, như một kẻ mang bệnh tâm thần, lúc nào cũng sống trong tâm trạng “sợ hãi”, “lo âu”, “nhút nhát”‘, hắn “ghê tởm đối với hiện tại”, hắn “ngợi ca quá khứ” và “ngợi ca những gì không bao giờ có thật”. Hắn chỉ có một chút niềm vui do bệnh nghề nghiệp sinh ra. Hắn nói “ngọt ngào”: “Ôi, tiếng Hi Lạp nghe thật tuyệtvời êm tai”, rồi “nheo mắt lại”, “giơ một ngón tay lên” và thốt ra tiếng: “An-thro-posi!”. Phải chăng lúc đó gã Bê-li-cốp hạnh phúc nhất? Chắc lúc ấy hắn đã thò đầu ra khỏi cái bao trong khoảnh khắc!

    Bê-li-cốp sống một cách kì quặc, vừa lập dị vừa lẩm cẩm. Con người hắn, cuộc đời hắn, từ cử chỉ, hành động đến ngôn ngữ, sinh hoạt…đều kì quặc. Hắn như đã bị cầm tù, đã bị nhốt vào bao. Quanh năm suốt tháng, nắng mưa, ngay cả mùa hạ hắn vẫn khoác áo bành tô ấm cốt bông! Lúc nào chân cũng đi giày cao su. Chiếc ô, đồng hồ quả quýt, con dao nhỏ để gọt bút chì… tất cả đều đút trong bao. Ngồi xe ngựa, hắn bắt phải hạ mui xe. Bộ mặt hắn cũng được giấu kín trong bao, đó là cái cổ áo bành tô cổ bẻ. Lỗ tai hắn cũng nhét bông. Mọi ý nghĩ, hắn “cũng giấu vào bao”. Với hắn thì cái bao là một thứ vỏ bọc để “ngân cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài”. Nhưng thật hài hước, đầu óc hắn cũng chỉ là một cái bao cổ hủ để bọc lấy những chỉ thị, thông tư, những bài báo quy định cấm đoán điều này điều nọ mà hắn cho là “rõ ràng”. Hắn vừa hèn vừa đáng thương! Hắn thật tội nghiệp!

    Qua các chi tiết nói vể cái bao, Sê-khốp châm biếm một loại “linh hồn chết” trong xã hội Nga cuối thế kỉ XIX, đó là loại trí thức sống lạc hậu, cổ hủ, nô lệ, mù quáng, sống cuộc đời chật hẹp, quẩn quanh tù túng.

    Cách sống của Bê-li-cốp cũng rất kì lạ. Hắn có một thói quen “kì quặc”. Hắn thường đến các nhà giáo viên, như hắn nói đến để “duy trì những mối quan hệ tốt với bạn bè”. Nhưng hắn đến mà “chẳng nói chẳng rằng”, cứ “ngồi im như phỗng”, mắt thì nhìn quanh “như tìm kiếm vật gì”, độ một giờ sau thì cáo từ. Tính hắn hâm hay hắn là một mật vụ lân la dò xét? Vì thế, giáo viên nào trong trường cũng sợ hắn. Cả hiệu trưởng, oai quyền thế cũng sợ hắn. Cả thành phố đều sợ hắn. Các bà, các cô không dám diễn kịch vào tối thứ bẩy vì sợ rằng “nhỡ hắn biết thì lại phiền”. Giới tu hành không dám ăn thịt và đánh bài khi có mặt hắn. Bê-li-cốp như một bóng ma, một hung thần gieo rắc, sợ hãi, làm cho dân chúng trong thành phố suốt một thời gian dài mười lăm năm trời “sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách, sợ giúp đỡ người nghèo, sợ dạy học chữ,..”.

    Sê-khốp đã chỉ ra và cho thấy loại người trong bao, lối sống trong bao thật vô cùng đáng sợ. Loại người ấy, lối sống ấy đã toả chiết tâm hồn người, bao phủ lên khắp mọi nơi một bóng đen đáng sợ.

    Vì quanh năm suốt tháng tự nhốt mình trong bao nên Bê-li-cốp sống như một người bệnh tưởng, trầm cảm. Hắn sợ ánh sáng, sợ bóng tối, sợ trộm vào nhà, sợ lão nấu bếp cắt cổ hắn. Nhà lúc nào cũng đóng chặt cửa, cài then, chăn trùm đầu kín mít lúc ngủ. ở nhà, mùa hè cũng như mùa đông, lúc nào hắn cũng mặc áo khoác ngoài. Suốt đêm, “hắn toàn mơ những điều khủng khiếp” vì thế buổi sáng nào đến trường, mặt hắn cũng “tái nhợt, rầu rĩ” một cách thảm hại! Lối sống đó là sống khổ, sống mà như chết. Bê-li-cốp đã tự cầm tù mình, đày đoạ mình, gây đau khổ cho thân mình. Hắn thật đáng thương hại.

    Hóm hỉnh và ý vị biết bao khi Sê-khốp nói về bi kịch ái tình của người trong bao. Cô giáo Va-ren-ca khoảng ba mươi tuổi mới về trường, thế là nữ thần ái tình đến gõ trái tim Bê-li-cốp. Trên bàn trong ngôi nhà “chật như cái hộp”, hắn trân trọng đặt tấm ảnh người đẹp. Ý định lấy vợ choán ngợp tâm hồn hắn, nhưng vì quen sống trong bao nên hắn cứ lần lữa đắn đo, suy tính, lúc nào mặt mày cũng nhợt nhạt đáng thương. Hắn bị gán ghép, rồi hắn có vẻ thích Va-ren-ca… Thế là bức tranh biếm hoạ “An-thro-pos si tình” (kẻ si tình) được gửi đến,tất cả các giáo viên ở hai trường nam nữ, giáo viên chủng viện, các viên chức và cả Bê-li-cốp nữa. Bức biếm hoạ mới gợi tình làm sao: hình ảnh “Bê-li-cốp đang đi, chân xọ trong giầy mưa, quần túm ống, tay cầm ô, tay khoác tay Va-ren-ca”. Chà! Người trong bao lãng mạn và đa tình quá! Nhưng Bê-li-cốp lại bị sốc, bị bức tranh châm biếm gây cho hận “một ấn tượng nặng nề”.

    Sê-khốp đã tạo nên những chi tiết điển hình, những tình tượng điển hình để khắc hoạ tính cách của Bê-li-cốp – người trong bao . Dư vị chua cay, hài hước của câu chuyện càng trở nên hấp dẫn, lôi cuốn.

    Bê-li-cốp chẳng gặp “hên” một chút nào! Ngày-chủ nhật, mồng một tháng năm hôm ấy, thầy trò cả trường trung học tổ chức cùng đi ra ngoài thành phố vào rừng chơi. Nhưng anh chàng Bê-li-cốp đã bỏ về giữa chừng. Giữa đường hắn bất ngờ thấy hai chị em Va-ren-ca cưỡi xe đạp phóng qua. Cô chị “mặt mày ửng đỏ… vui vẻ, hớn hở” gào to: “Trời hôm nay đẹp thật, đẹp tuyệt, đẹp ghê gớm!” Bê-li-cốp “ngẩn người ra”, như bị choáng, bị ma ám: “Mặt mày đang từ xanh mét chuyển sang trắng bệch”. Người trong bao phàn nàn, trách cứ: “Chẳng lẽ giáo viên và đàn bà, con gái lại có thể cưỡi xe đạp, làm như thế coi sao tiện”.

    Phải chăng hắn là một kẻ cổ hủ đáng cười? Phải chăng hắn là một nhà mô phạm đang bảo vệ nền đạo đức chính thống?

    Suốt ngày hôm sau, người trong bao đau khổ dằn vặt, bực dọc, “toàn thân run lên” thậm chí hắn bỏ cả buổi lên lớp, bỏ cả cơm trưa. Tối hôm đó, dù đang tiết mùa hạ, nhà đạo đức bèn “mặc áo ấm” lần mò đến nhà hai chị em Va-ren-ca. Cô chị đi vắng, hắn chỉ gặp được người em. Hắn thật thà thanh minh về bức tranh châm biếm. Hắn khẳng định nhân cách “tử tế, đứng đắn” của mình. Lấy tư cách là “bạn đồng nghiệp đi trước”, hắn nhắc nhở kẻ “mới bắt đầu đi làm” đôi điều. Hắn chê trách việc đi xe đạp của hai chị em Va-ren-ca “hoàn toàn không hợp với tư thế của một nhà giáo dục thiếu niên”. Hắn cảnh cáo việc đi xe đạp ấy là thiếu gương mẫu, là trái pháp luật, trái nội quy vì “chưa có chỉ thị nào cho phép thì không được làm”. Hắn bày tỏ thái độ, nào là “phát kinh lên”, nào là mắt hoa lên” khi nhìn thấy cảnh đàn bà, con gái đi xe đạp! Hắn khuyên nhủ Cô-va-len-cô phải xử sự “thận trọng”, không được buông thả quá chừng như mặc áo thêu ra đường, trong tay còn cầm sách này nọ, lại còn cưỡi xe đạp nữa. Hắn nhắc nhở nếu chuyện ấy đến tai ông hiệu trưởng, ông thanh tra thì “còn ra cái thể thống gì”.

    Khi bị Cô-va-len-cô cự lại, hắn răn dạy: “Anh cần phải có thái độ kính trọng đối với chính quyền”. Hắn doạ “sẽ báo cáo với ngài hiệu trưởng nội dung câu chuyện” đã xảy ra mà hắn đã nói với Cô-va-len-cô.

    Cuộc đôi co diễn ra. Cô-va-len-cô “thô bạo” chỉ vào mặt Bê-li-cốp và bảo hắn là “tên mách lẻo”, rồi túm lấy cổ áo hắn, tống cổ hắn ra khỏi nhà. Người trong bao “lộn nhào xuống chân cầu thang”, Sự việc diễn ra đầy kịch tính. Khi Bê-li-cốp “sờ lên mũi xem cặp kính có còn nguyên vẹn không”, thì hai người đàn bà và Va-ren-ca bỗng từ đâu xuất hiện, nhìn thấy. Bê-li-cốp đau khổ cảm thấy thà “tự vặt cổ” còn hơn là biến thành trò cười cho thiên hạ. Hắn vô cùng lo sợ câu chuyện sẽ đến tai ngài hiệu trưởng, ngài thanh tra. Người ta sẽ vẽ tranh châm biếm hắn, sẽ ép hắn vể hưu…

    Có bao chi tiết bi hài. Nhất là khi Va-ren-ca “cười phá lên vang khắp khu nhà”. Tiếng cười “ha-ha-ha!” lảnh lót, âm vang ấy “đã chấm dứt tất cả”: “chấm dứt chuyện cưới xin, chấm dứt cả cuộc đời của Bê-li-cốp”. Cái ngã của Bê-li-cốp xuống chân cầu thang, điệu cười “lảnh lót” của Va-ren-ca có giá trị và ý nghĩa phê phán một cách chua cay lối sống giáo điều, dung tục của hạng người trong bao. Kẻ hủ lậu lén mặt đạo đức giả, dạy đời bằng bài học luân lí cổ lỗ đã bị Sê-khốp châm biếm qua một tình huống bi hài.

    Chỉ một tháng sau bị xô ngã, Bê-li-cốp chết. Trước khi đi chầu Diêm Vương, hắn không quên cất tấm ảnh Va-ren-ca để trên bàn đi. Hắn nằm trong quan tài với vẻ mặt “hiền lành, dễ chịu, tươi tỉnh”. Phải chăng hắn “mừng” vì được “chui vào cái bao” vĩnh viễn. Đám ma hắn được cử hành trong một buổi “trời mưa dầm âm u”. Lúc hạ huyệt, Va-ren-ca “bỗng oà lên khóc”. Nàng khóc vì thương tiếc một thiên tình sử chăng? Nàng khóc vì thương hại một con người bảo thủ, cổ hủ từng làm trò cười cho thiên hạ chăng?

    Sau khi Bê-li-cốp chết, lúc đầu ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng rồi chưa đầy một tuần sau, ai cũng cảm thấy “nặng nề, mệt nhọc, vô vị” vì cuộc sống đã lại diễn ra như cũ, “chẳng tốt đẹp gì hơn trước”. Một Bê-li-cốp chết, một người trong bao đã về chầu âm phủ nhưng còn lại bao nhiêu người trong bao, và “trong tương lai cũng sẽ còn bao nhiêu người như thế nữa! “. Sê-khốp đã chỉ rõ: lối sống tầm thường, hủ lậu, giáo điều, dung tục đã đầu độc con người, đầu độc cuộc sống, sẽ gây bao hậu quả nặng nể, sẽ tồn tại dai dẳng trong xã hội Nga những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX.

    Mọi quái thai, mọi ung nhọt trong xã hội xưa nay đâu dễ một sớm một chiều mà tiệt nọc, mà bị quét sạch! Một Bê-li-cốp chết đi nhưng sẽ còn lại bao nhiêu Bê-li-cốp nữa. Chí Phèo đã ngoẻo nhưng thị Nở vẫn còn, và cái lò gạch cũ vẫn còn đó. Cái loại người “mũ ni che tai”, “co vòi rụt cổ”, “hủ tậu mà tinh tướng” ở thời nào, xã hội nào chẳng có!

    Phải biết coi khinh lối sống cổ hủ, coi khinh tính cách hạng người trong bao. Phải biết sống và dám sống với tinh thần tự chủ, sống có trí tuệ và đạo đức của con người mới. Đọc truyện “Người trong bao”, ta tự hỏi bản thân mình phải sống như thế nào cho đáng sống.

    Sê-khốp đã có một lối viết khá hấp dẫn. Diễn biến câu chuyện dược kể một cách tự nhiên, chân thực và sinh động. Nhân vật Bê-li-cốp từ vật dụng, cử chỉ, hành động, ý nghĩ đến lối sống được thể hiện bằng nhiều chi tiết rất điển hình. Hắn là sản phẩm tất yếu của một xã hội tù túng, trì trệ.

    Nhân vật Va-ren-ca là một nét vẽ tương phản đầy ấn tượng. Nàng yêu đời, sống hồn nhiên, hay hát, hay cười, động một tí là cười phá lên. Cuộc sống tự do, phóng túng của hai chị em Va-ren-ca đã làm xao động cái không khí buồn thảm nơi tỉnh lẻ và đã làm “rách nát” cái bao của Bê-li-cốp, đẩy hắn ta xuống nằm yên trong quan tài – cái bao nơi âm phủ. Bức tranh biếm hoạ, cái ngã cầu thang, cái chết lặng lẽ và đám ma của Bê-li-cốp có giá trị và ý nghĩa phê phán, châm biếm sâu cay.

    “Người trong bao” là một truyện ngắn đầy dư vị đưa độc giả “tự đì tìm bóng mình và soi vào bóng người” để mà sống có ý nghĩa hơn như văn hào Lỗ Tấn đã nói.

  • Tóm tắt tác phẩm Người trong bao

    Tóm tắt tác phẩm Người trong bao

    Tóm tắt tác phẩm Người trong bao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích hình tượng Bê-li-cốp trong tác phẩm Người trong bao

    [toc]

    Đề bài: Tóm tắt tác phẩm “Người trong bao”

    Bài văn mẫu

    Bê-li-cốp là giáo viên trung học dạy tiếng Hi Lạp cổ. Hắn ta nổi tiếng khắp thành phố. Lúc nào hắn cũng đi giày cao su, cầm ô và mặc áo bành tô ấm cốt bông. Mọi thứ vật dụng như ô, đồng hồ quả quýt, chiếc dao,… đều để trong bao; cả bộ mặt hắn cũng dấu kín sau chiếc cổ áo bành tô cổ bẻ. Lỗ tai nhét bông. Lúc ngồi trên xe ngựa thì bao giờ hắn cũng cho kéo mui xe lên. Hắn thu mình trong một cái vỏ, tạo cho mình hắn một cái bao để hắn ngăn cách với bên ngoàỉ. Hắn ca ngợi quá khứ, ca ngợi tiếng Hi Lạp và cho đó là một thứ tiếng “nghe thật tuyệt vời êm tai”.

    Ý nghĩ cũng được hắn giấu kĩ vào bao. Hắn có thói quen kì quặc là đi hết nhà này đến nhà nọ, đến và ngồi im như phổng, độ một giờ sau thì cáo từ. Bọn giáo viên trong trường đều sợ hắn, cả hiệu trưởng cũng sợ hắn. Các bà, các cô, cả giới tu hành trong thành phố, ai cũng sợ hắn. Trong vòng mười lăm năm nay, dân chúng trong thành phố dưới ảnh hưởng của những kẻ như Bê-li-cốp đâm ra sợ tất cả: sợ nói to sợ gửi thư sợ làm quen, sợ đọc sách, sợ giúp đỡ người nghèo, sợ dạy học chữ… Ở nhà, Bê-li-cốp cũng mặc áo khoác, đóng cửa cài then. Buồng ngủ chật như cái hộp. Trời nóng bức, hắn vẫn kéo chăn trùm đầu kín mít lúc nằm ngủ. Nằm trong chăn nhưng hắn vẫn sợ: sợ kẻ trộm chui vào nhà, sợ lão nấu bếp cắt cổ hắn. Buổi sáng nào đến trường, mặt hắn cũng tái nhợt, rầu rĩ.

    Hắn suýt lấy vợ, đó là cô Va-ren-ca, chị gái của Cô-va-len-cô, một giáo viên mới về trường chừng ba mươi tuổi, hay hát, hay cười, hồn nhiên, nhí nhảnh. Có một cậu ngỗ nghịch nào đó đã vẽ một bức tranh châm biếm gửi cho nhiều người và cả Bê-li-cốp: một kẻ đang đi, chân xỏ trong giày mưa, quần túm ống, tay cầm ô, tay khoác tay Va-ren-ca; bên dưới bức tranh đề dòng chữ: “An-thro-pos si tình” (kẻ si tình). Bức biếm hoạ ấy đã gây cho hắn một ấn tượng nặng nề.

    Ngày mùng một tháng năm, chủ nhật, cả thầy trò trong trường trung học đi ra ngoài thành phố để cùng vào rừng chơi. Khi Bê-li-cốp và mọi người đang đi trên đường bỗng thấy hai chị em Va-ren-ca phóng xe đạp vượt lên trước. Mặt mày ửng đỏ, vui vẻ, hớn hở, Va-ren-ca gào to lên: ‘Trời hôm nay đẹp thật, đẹp tuyệt, đẹp ghê gớm!”. Bê-li-cốp ngẩn người, mặt trắng bệch ra, hắn phàn nàn với mọi người về chuyện giáo viên và đàn bà con gái cưỡi xe đạp như thế coi sao tiện. Rồi hắn bỏ về nhà.

    Suốt ngày hôm sau, lúc nào hắn cũng bực dọc, thậm chí bỏ cả buổi lên lớp bỏ cả ăn trưa. Tối hôm đó, đang tiết trời mùa hạ, hắn mặc áo ấm lần đến nhà hai chị em Va-ren-ca. Va-ren-ca đi vắng, hắn chỉ gặp được người em. Hắn phàn nàn về chuyện hai chị em Va-ren-ca đi xe đạp. Hắn cho đó là chuyện kinh khủng đã làm mắt hắn hoa lên. Hắn khuyên bảo Cô-va-len-cô không được sống buông thả, không nên mặc áo thêu đi ra ngoài đường, không cầm theo sách này sách nọ… Hai người đôi co. Hắn bảo sẽ báo cáo với ngài hiệu trưởng về nội dung câu chuyện đã xảy ra hôm nay. Hắn bị Cô-va-len-cô túm lấy cổ áo, xô mạnh ra khỏi nhà. Hắn bị lộn nhào xuống cầu thang. Vừa lúc đó, Va-ren-ca và hai bà nữa đi đâu về nhìn thấy Bê-li-cốp ngã chỏng quèo. Va-ren-ca bèn cười phá lên vang khắp khu nhà. Bê-li-cốp lo sợ hắn sẽ biến thành trò cười cho thiên hạ, lo sợ ngài hiệu trưởng, ngài thanh tra sẽ biết chuyện, lo bị vẽ tranh châm biếm rồi bị ép về hưu…

    Thế là chuyện cưới xin chấm dứt. Cuộc đời hắn cũng chấm dứt. Một tháng sau, Bê-li-cốp chết. Người ta chôn hắn trong một ngày mưa dầm âm u. Hắn nằm trong quan tài với vẻ mặt dễ chịu như được chui vào bao. Va-ren-ca cũng dự đám ma Bê-li-cốp, và khi người ta hạ quan tài hắn xuống huyệt, cô bỗng oà lên khóc.

    Từ nghĩa địa, mọi người trở về nhà, ai cũng cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Nhưng chỉ một tuần sau, họ lại cảm thấy nặng nề, mệt nhọc, vô vị. Bê-li-cốp đã chầu âm phủ rồi nhưng trong thành phố hiện còn bao nhiêu người trong bao. Và trong tương lai cũng sẽ còn bao nhiêu người như thế nữa.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích hình tượng Bê-li-cốp trong tác phẩm Người trong bao

    3 bài văn mẫu Phân tích hình tượng Bê-li-cốp trong tác phẩm Người trong bao

    3 bài văn mẫu Phân tích hình tượng Bê-li-cốp trong tác phẩm Người trong bao

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Người trong bao của Sê-khốp

    [toc]

    Đề bài: Phân tích hình tượng nhân vật Bê-li-cốp trong tác phẩm “Người trong bao”

    Bài văn mẫu 1

    Nhân vật trong tác phẩm văn học có chức năng tái hiện cuộc sống và thể hiện quan niệm của nhà văn về cuộc đời. Cũng như bao nhân vật khác trong trang văn, Bê-li-cốp là hình tượng nhân vật được tác giả Sê-khốp khắc họa thật tài tình dưới ngòi bút châm biếm, đả kích con người sống trong chế độ xã hội tù túng, ngột ngạt. Bê-li-cốp là nhân vật mang ý nghĩa nhân bản sâu sắc và đặt ra nhiều vấn đề có ý nghĩa xã hội to lớn mà nhà văn gửi gắm khi thực hiện nhiệm vụ là “thư kí trung thành của thời đại”.

    Bê-li-cốp hiện lên qua lời của một đồng nghiệp trong trường với nhân vật kể lại cho bác sĩ I-van I-va-nứt nghe. Có lẽ người đọc sẽ thật ấn tượng với ngoại hình kì dị của hắn “nổi tiếng về điều là lúc nào cũng vậy, thậm chí cả khi rất đẹp trời, hắn đều đi giày cao su, cầm ô và nhất thiết là mặc áo bành tô ấm cốt bông”. Những chi tiết tưởng chừng như vặt vãnh, nhỏ lẻ thì lại được tác giả miêu tả chi tiết, tỉ mỉ như chiếc ô, đồng hồ quả quýt, chiếc dao nhỏ gọt bút chì, bông nhét lỗ tai, cổ áo, kính râm, kéo mui xe ngựa… tất cả đều làm nổi bật lên chân dung kì quái, lạ đời và nét tính cách nhân vật. Trong tất cả các chi tiết đó có đôi giày cao su, cái ô gắn liền với Bê-li-cốp quanh năm suốt tháng, khiến cho nhân vật hiện lên như một bức tranh biếm họa. Đó là khi đi ra đường còn về nhà hắn cũng chẳng được thông thoáng hơn một chút: “vẫn mặc áo khoác ngoài, đội mũ, đóng cửa, cài then, có đủ sự ngăn cấm và hạn chế”. Bê-li-cốp thật dị thường với vẻ bề ngoài khiến cho người ta tò mò không hiểu vì sao hắn lại như vậy?

    Tất cả là bởi từ trong suy nghĩ luôn luôn “Sợ nhỡ lại xảy ra chuyện gì”. Có đến năm lần Bê-li-cốp lặp lại chi tiết này, dường như sự sợ hãi chẳng bao giờ rời khỏi hắn ta. Nỗi sợ ấy thường trực cả trong những thói quen giao tiếp và sinh hoạt hằng ngày. Khi đi đến chơi nhà đồng nghiệp hắn thường “kéo ghế ngồi, hắn thường chẳng nói chẳng rằng mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm vật gì. Ngồi im như phỗng rồi độ một giờ sau thì cáo từ”. Ngay cả cái buồng ngủ cũng chật như một cái hộp, khi ngủ thường kéo chăn trùm đầu kín mít, nằm trong chăn nhưng “hắn vẫn cảm thấy rợn rợn. Hắn sợ nhỡ lại có chuyện gì, sợ kẻ trộm chui vào nhà”. Sê-khốp đã phát hiện ra ở nhân vật có một khao khát mãnh liệt là được thu mình trong vỏ bọc, hắn tự tạo ra những “cái bao”để chui vào trong đó cho an toàn. Nhưng vẫn chẳng thể an tâm và chính nỗi sợ hãi cũng là một cái bao để hắn chui vào. Bên cạnh những cái bao hữu hình ngoài đời thực còn có những cái bao vô hình như ngợi ca quá khứ, ngợi ca những cái không có thật, ngợi ca thứ tiếng Hi Lạp cổ, che giấu suy nghĩ là những cái bao mà hắn tự tạo ra để bao bọc bản thân khỏi bị tác động bởi ngoại cảnh bên ngoài.

    Bê-li-cốp còn là một con người có tư tưởng bảo thủ và luôn tôn thờ chính quyền thậm chí là sợ hãi cấp trên vô cùng. Khi hắn thấy hai chị em Cô-va-len-cô đạp xe ngoài đường thì trong thâm tâm hắn dù có thích Va-ren-ca rất nhiều thì cũng không thể chấp nhận nổi hành động đó của một người con gái, một giáo viên đứng lớp nên đã kịch liệt phản đối và đến nhà họ để cho lời khuyên, nhưng khi nghe lời đe dọa của Cô-va-len-cô “Kẻ nào thò mũi vào chuyện riêng nhà ta, ta cho chầu Diêm Vương tất” phản ứng của hắn trở nên gay gắt vô cùng: “Tôi yêu cầu anh khi có mặt tôi, đừng bao giờ nói như thế về cấp trên. Anh cần phải có thái độ kính trọng đối với chính quyền”. Người ta có thể tôn thờ, ủng hộ cho chính quyền tốt đẹp còn hắn sợ động đến cấp trên (hiệu trưởng và thanh tra) không thể phân biệt nổi đâu là tốt là xấu. Hắn chỉ muốn che đậy đi tâm lí run sợ của mình trước quyền lực tối cao. Đặc biệt câu nói cuối cùng khi hắn đe dọa Cô-va-len-cô: “tôi chỉ muốn báo trước cho anh rằng…Tôi sẽ phải làm việc đó” đã lí giải cho nguyên nhân vì sao hắn lại trở nên lo lắng, hèn nhát, bạc nhược khi nói đến chính quyền bởi lúc nào hắn cũng sợ bị người khác nghe thấy, sợ bị xuyên tạc, vu cáo. Chính câu nói đã khắc họa sâu thêm tính cách, lối suy nghĩ của nhân vật. Dường như trong mắt hắn cuộc sống này luôn đầy rẫy những thứ xấu xa, đê hèn và hoàn cảnh xung quanh hắn đã tạo nên cái vỏ bọc hoàn hảo.

    Không chỉ vậy hắn còn luôn sợ bị “thành trò cười cho thiên hạ” khi bị đánh ngã từ trên cầu thang xuống, việc làm đầu tiên của Bê-li-cốp là “sờ lên mũi xem kính có còn nguyên vẹn không”đối với hắn sĩ diện quan trọng hơn tính mạng con người, hắn sợ chuyện này sẽ đến tai hiệu trưởng, thanh tra rồi họ sẽ ép mình về hưu non. Tiếng cười “haha” của Va-ren-ca đã chấm dứt chuyện cưới xin và chấm dứt cả cuộc đời Bê-li-cốp. Cái chết của hắn thật bất ngờ mà cũng không bất ngờ chút nào. Bất ngờ là bởi mọi người trong thành phố khá ngạc nhiên và có phần vui mừng bởi lối sống lập dị của anh ta đã khống chế trường học trong suốt mười lăm năm và cả thành phố nữa “Các bà cô tối thứ bảy không dám tổ chức diễn kịch tại nhà nữa, sợ rằng hắn biết thì lại phiền, giới tu hành khi có mặt hắn không dám ăn thịt và đánh bài”. Không bất ngời bởi đây là dụng ý nghệ thuật của nhà văn dùng cái chết để càng đậm tô tính cách nhân vật bởi khi nằm trong quan tài, vẻ mặt hắn trông hiền lành, dễ chịu thậm chí có vẻ tươi tỉnh như hắn đang mừng rỡ, mãn nguyện khi được nằm trong “cái bao” tốt nhất, bền vững nhất.

    Nhân vật Bê-li-cốp đã được khắc họa thật chi tiết, tỉ mỉ từ ngoại hình bên ngoài đến suy nghĩ, hành động khác người, khác thường, dị biệt. Hắn vừa là tội nhân cũng vừa là nạn nhân, vừa đáng thương cũng vừa đáng trách cho một kiếp người sống vô nghĩa. Hắn là tội nhân vì đã reo rắc ảnh hưởng đến cuộc sống mọi người xung quanh, tội nhân vì chính người như hắn là con đẻ của chế độ xã hội phong kiến Nga ở cuối thế kỉ XIX. Hình tượng ấy không phải mang tính chất cá nhân mà nó là căn bệnh chúng của toàn xã hội. Bê-li-cốp đã chết nhưng còn biết bao nhiêu người trong bao trong tương lai như thế. Sự ảnh hưởng và tác động dai dẳng của Bê-li-cốp trong xã hội cũ đầy ám ảnh, đầu độc cuộc sống con người. Trong xã hội ngày nay cũng có không ít kẻ vẫn đang tìm cho mình một cái bao, tạo những cái vỏ bọc cho bản thân, phó mặc cho cuộc đời. Đó là lối sống ích kỉ, hèn nhát không đáng để được tồn tại. Qua hình tượng nhân vật Bê-li-cốp nhà văn đã cất lên tiếng nói phê phán kiểu người có lối sống trong bao, trốn tránh thực tại, không dám đối diện với hiện thực và cũng là lên án, tố cáo xã hội Nga đương thời tù túng, ngột ngạt. Nhà văn đã thức tỉnh và kêu gọi mọi người thay đổi cách sống không thể sống theo kiểu “Người trong bao” hèn nhát, bạc nhược và ích kỉ như vậy.

    Sê-khốp chọn ngôi kể thứ ba để đặc tả hình tượng nhân vật Bê-li-cốp cho thấy con người hắn hiện lên chân thực, khách quan với giọng kể mỉa mai, phê phán để lại cho độc giả có cái nhìn về xã hội và con Nga lúc bấy giờ. Đúng như Nguyễn Tuân đã nhận xét “Truyện Bê-li-cốp là một áng văn đả kích lên đến tuyệt đỉnh: hình thù, tên họ nhân vật đã thành một cái sự, đã thành một hình dung từ ngày ấy vẫn còn tác dụng lớn”. Bê-li-cốp không chỉ phản ánh lại hiện mà còn có ý nghĩa nhân sinh sâu sắc đối với mọi thời đại.

    Bài văn mẫu 2

    Sê-khốp một trong những nhà văn lỗi lạc của văn học Nga. Ông không chỉ là nhà viết kịch tài năng, mà còn là một nhà viết truyện ngắn bậc thầy. Người trong bao được viết năm 1880, là một trong những truyện ngắn nổi tiếng nhất của ông. Tác phẩm nổi bật với hình tượng Bê-li-cốp – hình ảnh tiêu biểu cho người dân Nga lúc bấy giờ.

    Chân dung Bê-li-cốp được nhà văn lựa chọn những chi tiết tiêu biểu nhất để miêu tả. Ông ta là một giáo viên dạy tiếng Hi Lạp cổ – một thứ tiếng đã trở nên lỗi thời, rất ít người học. Hắn là có một ngoại hình hết sức kì quái, mọi thứ đều được hắn ta cho vào trong “bao”. Trong những ngày đẹp trời nhất hắn vẫn đi giày cao su, cầm ô, mặc áo bành tô, chiếc áo bành tô to cổ luôn dựng đứng đến lấp cả gương mặt. Không chỉ vậy ra ngoài hắn luôn phải đeo kính râm, lỗ tai nhét bông và ngồi trên xe ngựa nhất định phải kéo mui. Ở nhà, một không gian riêng tư nhưng cái “bao” của hắn vẫn không hề thay đổi, áo khoác vẫn mặc, cửa đóng, the cài, luôn sợ sẽ có kẻ trộm đột nhập. Giường ngủ của Bê-li-cốp được tác giả miêu tả là chật và kín như cái hộp, nóng bức, ngột ngạt, khi ngủ luôn trùm chăn kín đầu. Dường như luôn có nỗi sợ hãi bủa vây xung quanh Bê-li-cốp khiến hắn phải phòng ngừa hết sức. Những chi tiết miêu tả rất sức cụ thể đã cho thấy những chiếc bao hữu hình đang bủa vây, quấn chặt lấy Bê-li-cốp. Đồng thời cũng cho người đọc bước đầu thấy chân dung quái gở, kì quặc của hắn.

    Nhưng đó mới chỉ là chân dung bên ngoài, để làm rõ sự kì quái của Bê-li-cốp, Sê-khốp còn đi sâu vào những biểu hiện thế giới bên trong. Bê-li-cốp luôn mang trong mình khát vọng mãnh liệt, ở mọi lúc, mọi nới đó là “thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một cái bao có thể bảo vệ, ngăn cách hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài”. Bởi cuộc sống ngoài kia đối với hắn quả đáng sợ hãi, hắn ghê tởm hiện tại, và hắn luôn ca ngợi quá khứ, cho đó là quãng thời gian huy hoàng, đẹp đẽ nhất, chính bởi vậy nghề dạy tiếng Hi Lạp cổ cũng thật phù hợp với hắn. Hắn tôn thờ những chỉ thị, thông tư, đối với hắn chỉ có những bài báo cấm đoán mới là điều rõ ràng. Và con người đó còn thường trực trong đầu suy nghĩ “nhỡ xảy ra chuyện gì”. Những chi tiết mô tả tâm lí bên trong của Bê-li-cốp đã cho ta thấy đầy đủ hơn kiểu “người trong bao” của xã hội Nga cuối thế kỉ XIX. Hắn luôn lo lắng, sợ hãi, phải tự bao bọc bản thân để có thể tránh sự tiếp xúc với thế giới bên ngoài. Bê-li-cốp không phải bỗng dưng xuất hiện, hắn chính là con đẻ của xã hội tù túng, ngột ngạt của xã hội Nga chuyên chế lúc bấy giờ.

    Trong mối quan hệ với mọi người, Bê-li-cốp cũng tỏ ra mình là kẻ hết sức kì cục. Tạo mối quan hệ với mọi người là điều tất yếu đối với mỗi con người khi chúng ta đang sống trong một tập thể, một cộng đồng. Bê-li-cốp ý thức rất rõ điều đó, chỉ có điều cách hắn làm chỉ khiến người khác hoảng sợ, ghét bỏ: “Hắn có một thói quen kì quặc là đi hết nhà này đến nhà khác” hắn “kéo ghế ngồi, chẳng nói chẳng rằng, mắt nhìn xung quanh như tìm kiếm vật gì. Hắn cứ ngồi im như phỗi thế rồi độ một giờ sau thì cáo từ. Hắn gọi đó là cách duy trì những mối quan hệ tốt với đồng nghiệp”. Sê-khốp đã thật khéo léo khi lựa chọn chi tiết này, nó đã giúp bổ sung tính cách “trong bao” của hắn ở cách cư xử, hành động. Hắn ta tưởng rằng làm như vậy là đúng đắn mà không hề nhận ra mình đang quấy rầy, đang làm người khác ghê sợ. Lối sống của hắn và những người như hắn đã khiến bầu không khí trở nên ngột ngạt, căng thẳng, những nỗi sợ vô hình cứ thế chất chồng lên những con người bình thường: “sợ nói to, sợ gửi thư, sợ làm quen, sợ đọc sách,, giúp đỡ người nghèo, sợ dạy học chữ”. Những nỗi sợ thật vô lí nhưng lại hợp lí khi cuộc sống của những con người nơi đây bị tắm đẫm trong những tư tưởng, lối sống trong bao của Bê-li-cốp. Một thói quen kì quặc của Bê-li-cốp nhưng lại có thể khống chế được cả một trường học, một thành phố trong cả chục năm trời, đó quả là một điều phi lí. Giọng kể có vẻ khách quan nhưng đằng sau đó ta vẫn thấy giọng điệu châm biếm, phê phán của tác giả.

    Không chỉ vậy, Bê-li-cốp còn rất dị ứng và sợ những cái mới. Trong cuộc đời hắn ta, chưa bao giờ hắn nhìn thấy một người con gái cưỡi xe đạp, bởi vậy khi nhìn thấy Va-ren-ca cưỡi xe đi qua, mặt hắn ngẩn ra, trắng bệch, dường như không thể tin vào mắt mình. Điều đó làm hắn khó chịu, hoảng hốt và hắn quyết định đến nhà Cô-va-len-cô để giảng giải mọi điều. Hắn giãy bày tâm sự, hắn không hiểu vì sao mà mọi người lại giễu cượt mình, bởi lúc nào hắn “cũng cư xử như một người tử tế, đúng đắn”. Bê-li-cốp rất có ý thức về bản thân mình, nhưng lại không đủ minh mẫn để nhận thấy sự kì quặc về chính mình, luôn sống trong ngộ nhận. Ý đồ giảng giải không được thực hiện, hắn bị Cô-va-len-cô đánh ngã dúi trên bậc thang, cùng với tiếng cười giòn tan khi Va-ren-ca đi về đã làm hắn nhục nhã, xấu hổ trở về nhà nằm một tháng sau rồi chết. Hắn chết nhưng không đau buồn, tiếc thương, bởi hắn đã được ở trong chiếc bao vĩ đại, chắc chắn nhất mà hắn không bao giờ phải chui ra nữa, đó cũng chính là mục đích cuộc đời hắn, vẻ mặt Bê-li-cốp trở nên hiền lành, dễ chịu, thậm chí còn có cả phần tươi tỉnh. Và cái chết đó cũng làm cho những người xung quanh như thoát được khỏi một gánh nắng “Từ nghĩa địa trở về, lòng chúng tôi đều cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái”. Nhưng sự thoải mái ấy cũng chỉ diễn ra chỉ trong một tuần, một tuần sau cái chết của Bê-li-cốp mọi thứ lại trở về như cũ. Vậy vấn đề ở đây không phải chỉ bởi cá nhân Bê-li-cốp mà rộng hơn là cái bao ngột ngạt của xã hội chuyên chế Nga hoàng lúc bấy giờ đã kìm kẹp, giam hãm con người. Hoàn cảnh ấy đòi hỏi con người phải thức tỉnh, đứng lên đấu tranh. Cái chết của Bê-li-cốp cũng như một lời dự báo về cuộc cách mạng sau này.

    Xây dựng nhân vật Bê-li-cốp, tác giả đã lựa chọn những chi tiết điển hình nhất. Trong truyện ngắn này hay bất cứ truyện ngắn nào mọi chi tiết ông xây dựng đều vừa vặn, khéo léo, không có bất cứ chi tiết thừa. Những chi tiết nhỏ nhắt cũng góp phần khắc họa tính cách nhân vật và làm nổi bật chủ đề tác phẩm. Nhân vật Bê-li-cốp là nhân vật điển hình của kiểu người trong bao của xã hội. Nghệ thuật kể truyện đặc sắc, giúp có cái nhìn chân thực, khách quan nhất về nhân vật. Giọng điệu biến đổi linh hoạt, thể hiện quan điểm của người viết về đối tượng.

    Bằng con mắt quan sát tinh tường, Sê-khốp đã phát hiện ra “cái tầm thường dung tục” tưởng là rất đỗi bình thường trong nhân vật Sê-khốp. Hình tượng người trong bao Sê-khốp không chỉ là vấn đề của một thời mà nó là vấn đề xã hội muôn đời. Trong mỗi chúng ta ai cũng tồn tài một Bê-li-cốp, việc của chúng ta là phải phá bỏ mọi rào cản, để không trở thành những “cái bao” quái ghở của xã hội. Tác phẩm và hình tượng của Sê-khốp có ý nghĩa, giá trị muôn đời.

    Bài văn mẫu 3

    Văn học làm đẹp trái tim, tâm hồn con người, nó rung lên trong mỗi chúng ta những cảm xúc tế nhị hay mãnh liệt để con người vươn tới tự do, dân chủ, vươn tới thế giới của tình thương, của sự hoàn thiện, hoàn mỹ. Nhà văn thể hiện tất cả điều đó thông qua hình tượng, “làm sống lại một cách cụ thể và gợi cảm những sự việc, những hiện tượng đáng làm ta suy nghĩ về tính cách số phận, về tình đời, tình người”. Tác phẩm có giá trị là tác phẩm luôn chứa đựng khoảng trắng nhằm kích thích sự tìm tòi khám phá của người đọc, chính hình tượng nghệ thuật là nơi ẩn chứa, tiềm tàng những khoảng trắng đó.

    Ra đời cuối thế kỷ XIX (1898), “Người trong bao” của An-tôn Sê-khốp với hình tượng thầy giáo Bê-li-cốp đã để lại nhiều ấn tượng sâu sắc không chỉ trong lòng độc giả nước Nga mà còn độc giả thế giới. Hơn thế kỷ trôi qua, nhưng tác phẩm vẫn đứng vững trong lòng người đọc, tại Việt Nam nó được chọn để dạy học trong Ngữ văn 11, chương trình nâng cao. Có lẽ chính việc xây dưng thành công hình tượng nhân vật Bê-li-cốp đã khẳng định chỗ đứng của “Người trong bao”, vì qua đó, những mạch ngầm văn bản cứ hiện dần trong lòng người đọc.

    Hình tượng Bê-li-cốp hiện lên thông qua 2 lớp ngôi kể, ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba. Ngôi thứ ba được kể bằng hình tượng người kể chuyện là tác giả, ngôi thứ nhất “tôi” người kể chuyện là một nhân vật trong câu chuyện, thầy giáo Bu-rơ-kin kể với bác sĩ I-van I-va-nứt về thầy giáo Bê-li-cốp trong một chuyến đi săn. Như vậy đã có sự lòng ghép ngôi kể trong ngôi kể, ngôi thứ nhất được lòng trong ngôi kể thứ ba, câu chuyện của thầy giáo Bu-rơ-kin kể với bác sĩ I-van I-va-nứt về thầy giáo Bê-li-cốp được lồng trong câu chuyện mà tác giả kể với đọc giả về câu chuyện đó. Đưa cách kể mang tính chủ quan lòng vào ngôi kể mang tính khách quan là một sự lựa chon khéo léo. Tác giả đang khách quan để kể về câu chuyện người khác kể lại, tác giả chỉ như một người ghi chép lại những gì mà thầy giáo Bu-rơ-kin kể, vì vậy, câu chuyện vừa tạo được tính thuyết phục trong người đọc lại vừa được kể lại như là sự chứng kiến của một người trong cuộc, nhìn nhận được mọi khía cạnh, mọi vấn đề.

    Chính việc lựa chon ngôi kê đó đã như một hệ quả tất yếu đến sự di động điểm nhìn của người kể chuyện, di động từ ngôi kể thứ ba sang ngôi kể thứ nhất, từ ngôi kể thứ nhất số ít sang ngôi kể thứ nhất số nhiều. Di động điểm nhìn kể chuyện như vậy làm cho nhân vật được nhìn nhận dưới nhiều gốc độ, hình ảnh nhân vật được hiện lên một cách tự nhiên, sâu sắc, chân thật hơn. Điểm nhìn quy chiếu từ góc nhìn là người bạn đồng nghiệp, họ dạy cùng trường, ở cùng căn hộ, hai phòng ở đối diện nhau, nên họ biết rõ về nhau một cách rõ ràng, vì thế người đọc, người nghe yên tâm về những lời kể nhân vật tôi. Người kể chuyện có thể đưa ra những bình luận, nhận xét theo quan điểm riêng của mình. Về cuối truyện sau khi chôn cất Bê-li-cốp xong người kể chuyền quy chiếu điểm nhìn sang ngôi nhứ nhất số nhiều “chúng tôi”, lúc này không phải câu chuyện được kể dưới điểm nhìn của một cá nhân mà cả tập thể, cộng đồng điều đó vừa thể hiện sự khách quan vừa thể hiện sự ảnh hưởng, tác động của Bê-li-côp, kiểu người sống trong bao với xã hội, đồng thời thấy được dù Bê-li-cốp đã chết những kiểu người trong bao vẫn còn tồn tại.

    Kéo theo nhưng vấn đề đấy là giọng điệu, ở đây giọng điệu kể chậm rãi vừa giễu cợt, châm biếm, mỉa mai vừa u buồn… Qua hình tượng nhân vật người trong bao, Bê-li-cốp, tác giả phê phán sâu sắc lối sống hèn nhát, bạc nhược, bảo thủ và ích kỷ của một bộ phận trí thức Nga cuối thế kỷ XIX. Từ đó, nhà văn khẩn thiết thức tỉnh mọi người hảy thay đổi cách sống, lối sống kiểu “trong bao” nếu muốn có cuộc sống ý nghĩa.

    Ngay nhan đề tác phẩm cũng là một tính hiệu thẩm mỹ. Xét về nghĩa đen bao là vật dùng để đựng đồ, bọc đồ, có tác dụng che đậy, bảo vệ, gói ghém… Nghĩa bóng là lối sống và tính cách của Bê-li-cốp luôn thu minh trong bao, một môi trường xã hội thối nát, cũ kỷ đã bao bọc làm thay đổi bản chất con người. Như vậy có một vấn đề đạt ra là nhân vật Bê-li-cốp, người trong bao, chủ thể bị “bỏ” vào “bao” hay tự mình “chui” vào “bao”, nghĩa là tự anh ta tạo cho mình một cuộc sống lập dị kiểu trong bao hay do hoàn cảnh, đẩy anh ta “vào trong bao”?

    Bê-li-cốp hiện lên với chân dung biếm hoạ, có cái vẻ bề ngoài không giống ai: gương mặt nhợt nhạt, nhỏ bé, choắt như mặt chồn; quanh năm anh ta đi giày cao su, mặc áo bành tô, đeo kính râm, đội mũ, hai lỗ tai nhét bông, tay cầm dù,… Các vật dụng của anh ta đều được để trong bao.

    Không những ngoại hình anh ta luôn được giấu trong bao mà mọi cái liên quan đến anh ta đều gói trong bao. Trong tác phẩm anh ta đã nói 5 lần câu “Nhỡ lại xãy ra chuyện gì thì sao”; khi nằm ngủ anh ta kéo chăn trùm kín mít; đến thăm đồng nghiệp thì chỉ ngồi im; cả ý nghĩ của mình Bê-li-cốp cũng giấu trong bao vì vậy cuộc sống của anh ta là một cuộc sống lập dị, nhút nhát, sợ đối hiện với hiện tại, chỉ thích sống theo những thông tư, chỉ thị, giáo điểu, rập khuôn, chỉ tôn sùng quá khứ, luôn thỏa mãn, hạnh phúc, hài lòng, mãn nguyện với cuộc sống của mình… Chi tiết cái bao được tác giả nhắc đi nhắc lại 12 lần như những điệp khúc nhấn mạnh chân dung Bê-li-cốp luôn cố thu mình trong bao từ ngoại hình, tính cách, lời nói, hành động, suy nghĩ…

    Như vậy, nhân vật Bê-li-cốp là một hình tượng điển hình. Bê- ê- lin- xki cho rằng “Tính điển hình là một trong những dấu hiệu của tính mới mẻ trong sáng tạo, hay nói đúng hơn là bản thân sức sáng tạo. Nếu có thể thì cũng nói rằng tính điển hình là huy chương của nhà văn. Điển hình là người lạ đã quen biết”. Bê -li-cốp là một sáng tạo lớn của An-tôn Sê-khốp, hình tượng nhân vật này vừa hiện lên rõ nét là một nhân vật độc đáo, riêng biệt không lẫn với ai vừa là nhân vật đặc trưng, khái quát cho một kiểu người có lối sống “trong bao”, gấp sách lại người đọc vẫn thấy hiện lên một hình ảnh Bê-li-cốp bằng da, bằng thịt, có những tính cách, suy nghĩ, hành động lời nói kiểu “trong bao” và cũng thấy đâu đây hình ảnh nhân vật này trong cộng đồng người, đâu đó trong xã hội Nga đương thời và cả trong xã hội hiện đại ngày nay.

    Bê-li-cốp, vừa là sản phẩm của chính cá nhân anh ta vừa là sản phẩm của xã hội. Ngoài những tính cách cá nhân như đã nói ở trên, Bê-li-cốp còn là con đẻ của xã hội Nga lúc bấy giờ. Chúng ta biết rằng cuối thế kỷ XIX xã hội Nga đang ngạt thở trong bầu không khí chuyên chế bảo thủ nặng nề. Chính môi trường ấy đã đẻ ra lắm thứ sản phẩm người kỳ quái.

    Kết cục nhân vật Bê-li-cốp chết, nguyên nhân trực tiếp cũng do những suy nghĩ kiểu “trong bao”. Bê-li-cốp chết là kết thúc cuộc đời một cá nhân, quan tài đựng thi thể y chính là cái “bao” kính đáo nhất. Cái chết của Bê-li-cốp là hậu quả tất yếu của cách sống, kiểu sống đó. Chết là kết thúc cuộc đời, là sự chôn vùi một con người những liệu có chôn vùi được kiểu người “trong bao” không. Khi còn sống Bê-li-cốp đã làm cho mọi người sợ hãi, kể cả đồng nghiệp, thẩm chí là lãnh đạo của anh ta vì thế ai cũng ghét bỏ, nghĩa là anh ta là người mâu thuẩn với tất cả mọi người, là tượng trưng cho xấu xa, nên khi anh ta chết mọi người từ nghĩa địa trở về lòng cảm thấy nhẹ nhàng, thoải mái. Những xét cho cùng lối sống của anh ta có ảnh hưởng không nhỏ tới cộng đồng, kiểu sống trong bao, kiểu sợ hãi, nhút nhat, rập khuôn đó đã lan ra cả cộng đồng vì vậy mọi người đều sợ anh ta, mỗi lần Bê-li-cốp dọa báo thanh tra, cấp trên…thì mọi người đều run sợ, nhân vật tôi từng tâm sự “Bọn giáo viên chúng tôi đều sợ hắn. Thậm chí cả hiệu trưởng cũng sợ hắn….cái thằng cha quanh năm đi dày cao su và mang ô ấy đã khóng chế cả trường học chúng tôi suốt mười lăm năm trời … Mà đâu phải chỉ có trường học! Cả thành phố nữa ấy!”. Chứng tỏ rằng Bê-li-cốp có ảnh hưởng, lây lan tới cộng đồng, tác động ngược trở lại đối với cộng động. Như vậy lối sống trong bao không chỉ có ở Bê-li-cốp mà có trong mọi người ở thành phố ấy, một con người với cách sống như vậy mà đã từng khống chế được cả một ngôi trường thậm chí cả thành phố trong hơn mười lăm năm thì cộng đồng đó, thanh phố đó hơn gì cách sống của Bê-li-cốp?

    Cái bao còn mang hàm nghĩa về một kiếp người, một lối sống, một xã hội đen tối, tù túng, nặng nề mà không sao thoát được. “Người trong bao”, một hình tượng có tính ẩn dụ vô cùng độc đáo để phản ánh bộ phận trí thức bạc nhược, ươn hèn và qua đó lên án, đả kích chính cái đã sản sinh ra bộ phận trí thức bạc nhược, ươn hèn ấy: chế độ xã hội Nga hoàng cuối thế kỉ XIX.

    Sau cái chết của thầy giáo Bê-li-cốp, môi trương, lối sống của xã hội đo có gì thay đổi, có gì tiến bộ, nhân vật tôi vẫn tâm sự “Chưa đầy một tuần sau cuộc sống lại diễn ra như cũ, nặng nề, mệt nhọc, vô vị, một cuộc sống chẳng bị chỉ thị nào cấm đoán nhưng cũng chẳng tự do hoàn toàn, chẳng tốt đẹp gì hơn trước. Trên thực tế, Bê-li-cốp đã chầu âm phủ nhưng hiện còn bao nhiêu là người trong bao, trong tương lai cũng sẽ còn bao nhiêu người như thế nữa!”, Vậy vấn đề ở đây là gì? Làm thế nào để thay đổi và thay đổi gì mới là bản chất. Rõ ràng vấn đề không phải là chống lại, tiêu diệt những “người trong bao” mà là phải thay đổi, xoá bỏ môi trường đã sản sinh ra những “người trong bao” ấy. Chừng nào cái chế độ tàn bạo, thối nát, bất công ấy còn tồn tại thì những sản phẩm và cũng là nạn nhân của nó vẫn không thể mất đi. Văn học thế giới cũng đã từng có nhiều hình tượng nhân vật sống theo kiểu chạy trốn thực tại, từ chối hiện tại ví như hình tượng nhân vật Oskar trong tác phẩm “Cái trống thiếc” của Gunter Grass. Phải chăng Bê-li-cốp với cách sống tron bao củng là một lựa chon?

    M.Gorki đã từng nhận xét, đọc Sê-khốp, chúng ta thấy “phảng phất đâu đây nụ cười buồn buồn của một tâm hồn biết yêu thương”, “Tiếng thở dài khẽ sâu của một trái tim trong sạch”. Còn nhà văn Nguyễn Tuân khi đọc Người trong bao thì cho rằng: “Truyện Bê-li-cốp là một áng văn đả kích đến tuyệt đỉnh: hình thù tên họ nhân vật đã thành một cái sự, đã thành một hình dung từ ngày nay vẫn còn tác dụng lớn”. Phê phán những nhược điểm, tật xấu của Bê-li-cốp, cảm thương cho số phận của những con người sống trong môi trường ngột ngạt, thối nát xã hội Nga đương thời, đồng thời có dịp để soi lại chính mình nhằm vươn tới một cuộc sống lành mạnh, ý nghĩa hơn…