Category: Tài Liệu Lớp 11

  • Dàn ý Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Dàn ý Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Dàn ý Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của tác giả Vũ Trọng Phụng.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Những nét chủ yếu nhất về nhà văn Vũ Trọng Phụng và tiểu thuyết hiện thực Số đỏ
    – Khẳng định Hạnh phúc của một tang gia là một đoạn trichs tiêu biểu mang giá trị hiện thực và tố cáo xã hội sâu sắc

    II. Thân bài
    1. Thế nào là giá trị hiện thực và giá trị tố cáo?
    – Hiện thực: Sự thật đời sống
    – Giá trị hiện thực trong tác phẩm văn học: sự phản ánh hiện thực đời sống một cách chân thực, rõ nét, tạo nên ý nghĩa cho tác phẩm
    ⇒ Gía trị tố cáo: Từ việc phản ánh hiện thực, nhà văn tố cáo những mặt/ điểm hạn chế của hiện thực ⇒ hướng con người tới những giá trị tốt hơn
    ⇒ Giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia: Từ việc dựng lên hiện thực về một xã hội thượng lưu đánh mất tình người thông qua đám tang cụ cố Tổ ⇒ Vũ Trọng Phụng tố cáo xã hội thượng lưu đương thời
    2. Giá trị hiện thực
    Vũ Trọng Phụng dựng lên bức tranh về gia đình và xã hội thượng lưu thông qua đám tang cụ cố Tổ
    a. Bức tranh gia đình thượng lưu (gia đình cụ cố Tổ)
    – Bức tranh hiện thực về một gia đình thượng lưu mất hết tình thân
    – Trước cái chết của một người thân trong gia đình, thay vì đau buồn, những người trong gia đình luôn tìm được lí do để mong chờ đám tang diễn ra:
    + Cụ ông: vui vì được mặc áo xô gai, được người ta khen con trai đã lớn thế kia
    + Cụ bà: sung sướng đám ma như thế kể là đã danh giá nhất
    + Ông Văn Minh chồng: vui vì chúc thư đã đi vào thời kì thực hiện
    + Bà Văn Minh vợ: mừng rỡ vì được lăng xê những mốt y phục táo tạo nhất.
    + Cậu Tú Tân: Điên người lên vì bây giờ mới có dịp dùng đến mấy cái máy ảnh
    + Tuyết: Vui vì có dịp mặc bộ y phục “Ngây thơ” để thiên hạ thấy rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh.
    + Phán mọc sừng: vui mừng vì mình được thêm một khoản
    + Đám cháu con: Một bầy cháu con chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ Tổ
    ⇒ Không một nét buồn thương cho người đã khuất ⇒ hiện thực đau xót
    b. Bức tranh xã hội thượng lưu
    – Bức tranh hiện thực về một xã hội thượng lưu mất hết tình người
    – Những con người đến với đám tang không phải để tiếc thương đưa tiễn mà:
    + Cảnh sát Min Đơ và Min Toa: sung sướng vì có việc
    + Bạn bè cụ cố Hồng: có dịp để khoe khoang các loại râu ria cùng những huân huy chương
    + Sư cụ Tăng Phú: sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe vì thế nào cũng có người nhận ra rằng sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo
    + Hàng phố: đám ma đi đến đâu huyên náo đến đấy, cả phố nhốn nháo khoe đám ma to, thiên hạ chỉ chu ý vào những kiểu quần áo tang…
    ⇒ Không một ai thực sự tiếc thương cho sự ra đi của người đã mất, đây là những con người không một chút hiếu nghĩa, mất hết tình người
    – Cảnh đám tang được thực hiện đủ loại ta Tây, Tàu như một đám rước ⇒ hiện thực về sự tiếp thu văn hóa một cách nhố nhăng
    ⇒ Vũ Trọng Phụng phơi bày hiện thực của xã hội lúc bấy giờ là mất đi trật tự tôn ti, xã hội bị đảo lộn bởi những con người tham lam, bỉ ổi, họ bì bần cùng hóa về mặt đạo đức và trong cách sống
    3. Giá trị tố cáo
    – Dựng lên bức tranh về gia đình thượng lưu ⇒ Vũ Trọng Phụng tố cáo sự thờ ơ của tình người, những con người vì đồng tiềm mà mất hết tình thân
    – Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình mát hết tình thân ⇒ xã hội thượng lưu không có tình người ⇒ sự phê phán, châm biếm mạnh mẽ, gay gắt
    – Cảnh đám ma được thực hiện như một đám hội, đám rước với sự pha trộn Ta, Tây, Tàu lố lăng ⇒ tố cáo xã hội tiếp thu một cách thiếu suy nghĩ những giá trị văn hóa ⇒ xã hội suy đồi về mặt đạo đức và văn hóa\
    – Giá trị tố cáo được thể hiện thông qua ngòi bút trào phúng vừa sâu cáy, vừa thấm thía

    III. Kết bài
    – Nét nghệ thuật tiêu biểu làm nên giá trị hiện thực và tố cáo trong tác phẩm: nghệ thuật trào phúng, bút pháp hiện thực,…
    – Khẳng định giá trị hiện thực và giá trị tố cáo là một trong những yếu tố tiêu biểu làm nên thành công của đoạn trích nói riêng và tác phẩm Số đỏ nói chung

  • Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc một tang gia

    Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc một tang gia

    Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” của Vũ Trọng Phụng.
    Bài văn mẫu

    Vũ Trọng Phụng là mộ nhà văn tài năng thành công ở thể loại tiểu thuyết. Tiêu biểu là tác phẩm “Số đỏ” đã tái hiện lại bức tranh hiện thực về con người và xã hội Việt Nam ở nửa đàu thế kỉ XX với những trò lố lăng, bịp bợm dưới ngòi bút đả kích, châm biếm sâu sắc. Trong đó ấn tượng nhất là đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” nằm ở chương XV của tác phẩm để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả bởi tâm trạng vui mừng, hạnh phúc của các nhân vật trong đoạn trích.
    Tang gia mà đại gia đình kẻ trong người goài ai cũng hớn hở, mong chờ giây phút ấy để phô trương, khoe mẽ để thỏa mãn mong muốn của bản thân. Tuy mỗi người một niềm vui riêng nhưng đã cùng nhau góp phần tạo nên một tâm trạng chung tang ma mà vui như hội.

    Trước tiên là tâm trạng vui mừng, hạnh phúc của con cháu trong gia đình. Theo như thường lệ người thân yêu qua đời thì bậc làm con phải đau đớn, xót xa và thương tiếc vô cùng nhưng ở đay tất cả con cháu từ người già cho đến người trẻ, từ con trai trưởng cho tới cháu chắt đều mong chờ giây phút cụ cố Tổ chết. Và khi điều ấy trở thành hiện thực niềm vui chảy trong từng mạch máu, thớ thịt của mỗi người “Cái chết kia làm cho nhiều người sung sướng lắm” vì đồng nghĩa với việc cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành, chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”.Hạnh phúc của họ là hạnh phúc của tiền bạc, danh vọng và các giá rị phù phiếm chứ không còn là tình thương yêu con người của những người thân ruột thịt trong gia đình dành cho nhau.
    Là người già cả lớn tuổi nhất trong gia đình lại là con trưởng của cố Tổ đang lúc tang gia bối rối, thi hài bố vẫn đang nằm dưới nhà nhưng cụ cố Hồng vẫn nằm trên gác ung dung mơ màng, tưởng tượng đến cảnh “cụ mặc bộ đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu để cho thiên hạ phải chỉ trỏ: “Úi kìa con giai nhớn đã già đến thế kai kìa”. Thường thì chẳng ai mong mình già vậy mà cụ cố lại có cái ước muốn người ta khen mình già thật là lạ. Đối với ông tổ chức tang lễ cho bố là cơ hội để khoe khoang đám ma to chứng tỏ tài sản giàu có của kẻ thuộc tầng lớp thượng lưu. Ông cụ là một đứa con bất hiếu nối tiếp là cả đám con cháu của một dòng họ nhiều tiền nhiều của nhưng lại cạn kiệt tình thương.
    Ông Văn Minh cháu nội đích tôn của cụ Tổ_người đi du học bên Tây khi trở về mang danh nhà cải cách xã hội. Kẻ một bước đưa thằng lưu manh, ma cà bông Xuân tóc đỏ trở thành người có công nhất cho xã hội lúc bấy giờ. Trước cái chết của ông nội hắn vui sướng bởi được phân chia tài sản, việc đầu tiên ngay sau đó là mời luật sư đến để thực thi bức di chúc mà cụ Tổ để lại. Trạng của hắn bên ngoài thì tư lự, vò đầu bứt tóc, điệu bộ bối rối, mặt lúc nào cũng đăm đăm chiêu chiêu rất hợp hoàn cảnh tang tóc nhưng thực chất bụng dạ bên trong đang băn khoăn không biết nên đối xử với Xuân như thế nào cho hợp tình hợp lí bởi hai cái tội nhỏ và một cái ơn to. Nhà văn đã bóc trần bản chất giả dối bất nhân của hắn bằng cách đi sâu vào suy nghĩ bên trong nhân vật.
    Bà Văn Minh thì sốt ruột vì mãi không được mặc bộ đồ xô gai tân thời và đội cái mũ mấn xinh xinh, trong lúc tang gia mà vẫn không quên ý muốn lăng-xê cho những kiểu quần áo của tiệm may Âu hóa. Cô cháu dâu không một chút tình cảm thương tâm cho người đã khuất.

    Hạnh phúc không kém là cháu rể quý ông Phán mọc sừng với niề vui sướng dâng trào trong lòng hắn, kiêu hãnh với đôi sừng vô hình trên đầu không ngờ lại có giá trị đến thế. Hắn có được vài nghìn nhờ đôi sừng ấy khi bố vợ nói nhỏ vào tai sẽ chia thêm chocon gái và rể thêm một số tiền nữa. Thế mà đến giây phút cuối cùng lúc vĩnh biệt người chết hắn lại khóc oặt người đi hứt hứt mãi không thôi. Một chi tiết đáng cười, đáng châm biếm bởi sự giả tạo sắp không nhận ra sự thật nếu hắn không dúi vào tay Xuân tờ tiền năm đồng bạc gấp làm tư để trả thù lao vụ giao dịch về việc quảng bá đôi sừng vô hình gây nên cái chết cho cụ Tổ.
    Còn đối với cô Tuyết ông nội mất là dịp để cô trưng diện bộ quần áo ngây thơ hoa mỏng để lộ thân hình trắng nõn bên trong khiến cho đám khách sang trọng phải xao xuyến cảm động hơn là thương xót cho người chết. Đây cũng là cơ hội để cô chứng minh cho thiên hạ rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh với một bộ mặt buồn lãng mạn phù hợp với tâm trạng của cô cháu gái buồn thương cho sự ra đi của ông nội nhưng thực chất là cô buồn vì sự khuất bóng của Xuân_người yêu của mình. Ngòi bút của nhà văn một lần nữa lại vạch trần một bộ mặt lố bịch.
    Cậu Tú Tân sướng điên người vì sắp được dùng mấy cái máy ảnh đã chuẩn bị sẵn, cậu được trổ tài năng nghệ thuật thể hiện mình như một nhà nhiếp ảnh chuyên nghiệp khi lúc hạ huyệt chẳng một chút luyến lưu hay e ngại mà “bắt bẻ từng người một, hoặc chống gậy, hoặc gục đầu, hoặc cong lưng, hoặc lau mắt như thế này, thế nọ…”để chụp ảnh kỉ niệm. Quả là một bức tranh biếm họa đặc sắc dù chỉ một chi tiết nhỏ nhưng cho ta thấy sự nhố nhăng của xã hội đương thời.
    Mỗi người chỉ với một vài chci tiết khắc họa đã làm bật lên tâm trạng hạnh phúc khó tả của đám con cháu bất hiếu trước cái chết của người thân. Gia đình cụ cố Hồng như một xã hội thu nhỏ với những thói hư tật xấu được tập trung hết trong cảnh tang gia.
    Những người trong gia đình mang một tâm trạng vui mừng như vậy thì những người đến tham dự đám tang cũng chỉ là một cái cớ để họ thể hiện mình. Xuân tóc đỏ với sự xuất hiện hoành tráng của đồ viếng khiến cho mọi người phải trầm trồ thán phục. Những ông bạn thân của cụ cố Hồng, những vị quan khách tai to mặt lớn trong xã hội cúng đến thăm viếng nhưng tuyệt nhiên không tìm thấy ở họ một tiếng thở than, một lời chia sẻ mà chỉ thấy dâng lên một bầu không khí náo nức, phấn chấn. Các vị chức sắc chờ mãi mới có một đám tang để khoe mẽ những huân chương rực rỡ trên ngực và các kiểu râu tân thời trên cằm trên mép. Tất cả các vị đều cảm động đến rơi nước mắt không phải vì thương tiếc người chết mà do tấm thân hình xinh đẹp hở hang của cô Tuyết. Những người đi đưa đám khác đầy đủ trai gái thanh lịch họ đến đây là nới để tụ họp, để bàn tán xì xào, họ góp phần cho sự huyên náo, nhộn nhịp của đám bởi hành động chim nhau, cười tình, chê bai, ghen tuông, hẹn hò… đủ cả.
    Tâm trạng của các nhân vật trong trang văn Vũ Trọng Phụng thật sống động, không cần nhiều lời chỉ cần vài ba cử chỉ lách sâu vào tâm địa của những con người quái thai dị hỡm, chúng tập hợp bên nhau để biểu hiện đầy đủ những gương mặt trong xã hội giả dối vô nhân đạo, mất nhân tính.
    Qua việc phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích ta có thể thấy được cuộc sống xa hoa, không có tình người của giới thượng lưu. Đồng thời cũng thể hiện tài năng khắc họa chân dung nhân vật và nghệ thuật trào phúng sắc sảo của Vũ Trọng Phụng.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tương tư

    3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tương tư

    3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tương tư

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Tương tư (Nguyễn Bính)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích TƯƠNG TƯ của Nguyễn Bính.

    Bài văn mẫu 1

    Nguyễn Bính (1918 – 1966) tên khai sinh là Nguyễn Bính Tuyết. Thuở nhỏ, ông học ở quê nhà, biết làm thơ từ năm 13 tuổi. Năm 1937, tập thơ Tâm hồn tôi được Tự lực văn đoàn trao giải. Năm 1945, Nguyễn Bính vào Nam Bộ. Cách mạng Tháng Tám bùng nổ rồi kháng chiến chống Pháp, ông ở lại tham gia kháng chiến Nam Bộ, phụ trách đoàn Văn hóa Cứu quốc tỉnh Rạch Giá. Sau đó, ông chuyển sang công tác ở Ban văn nghệ khu Tám, sáng tác thơ, viết truyện kí và tùy bút. Năm 1954, Nguyễn Bính tập kết ra Bắc, tiếp tục sáng tác, là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam. Năm 1956, ông chủ trương tờ báo Trăm hoa. Cuối đời, ông sông ở Nam Định

    Nguyễn Bính là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ mới. Song trong khi hầu hết các thi sĩ trong phong trào Thơ mới đều chịu ảnh hưởng sâu đậm của thơ ca lãng mạn Pháp thì Nguyễn Bính về với văn hóa dân gian, gắn bó với môi trường bình dị, thân thuộc của đồng quê, qua những hàng cau, giàn trầu, rặng mồng tơi, cây đa, giếng nước, sân đình… Cùng với Anh Thơ, Đoàn Văn Cừ, Bàng Bá Lân… ông đã góp một dòng thơ, phái thơ riêng – Thơ mới dân gian, làm phong phú hơn cho thơ mới.
    Tương tư rút tong tập thơ Lỡ bước sang ngang, tập thơ nổi tiếng và tiêu biểu cho phong cách thơ Nguyễn Bính trước cách mạng.
    “Tương tư” có nghĩa là nhớ nhau, nhưng tâm trạng tương tư không chỉ đơn thuần là nhớ nhung. Nỗi tương tư trong bài thơ này là một phức hợp các cảm xúc khác nhau, với những diễn biến không hề xuôi chiều. Bắt đầu là sự nhớ nhung:
    Thôn Đoài ngôi nhớ thôn Đông
    Một người chín nhớ mười thương một người
    Rồi đến băn khoăn hờn dỗi:
    Hai thôn chung lại một làng
    Cớ sao bên ấy không sang bên này?
    Đến than thở:
    Ngày qua ngày lại qua ngày
    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng
    Đến hờn trách mát mẻ:
    Bảo rằng cách trở đò ngang
    Không sang là chẳng đường sang đã đành
    Nhưng đây cách một đầu đình
    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
    Rồi nôn nao mơ tưởng:
    Bao giờ bến mới gặp đò
    Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
    Đến những ước vọng xa xôi
    Nhà em có một giàn giầu
    Nhà anh có môt hàng cau liên phòng
    Tất cả diễn biến theo lối xen lồng và chuyển hóa nhau rất tự nhiên, chân thực.
    Trong bài thơ, chàng trai có ý trách móc cô gái:
    Bề ngoài, điều này là vô lí. Trong tình yêu, người chủ động đi đến phải là người con trai, đằng này lại trong vai thụ động ngồi chờ đợi mới có thể bộc bạch được tâm trạng tâm tư của một người trai quê như thế, Thứ hai, lối trách móc này không phải vì ghét, không giống như sự qui kết trách nhiệm, đỗ lỗi thông thường. Mà trách vì yêu. Do quá mong nhớ, bị nỗi nhớ mong giày vò người trong cuộc dễ tưởng mình bị hờ hững, nên sinh ra “hờn ngược, trách xuôi” thôi, không có hàm ý ghét bỏ. Nói khác đi, trách chỉ là một cách bộc bạch tình yêu. Người đời cũng gọi thế là “trách yêu”.
    Người xưa nói:
    “Nhất nhật bất kiến như tam thu hề”
    (Một ngày không gặp mặt dài như ba mùa thu)
    Để chỉ nỗi nhớ mong của những người đang yêu
    Trong bài thơ này, tâm trạng đang chờ đợi, nhớ mong cũng được diễn đạt bằng những hình ảnh thật sắc sảo:
    Ngày qua ngày lại qua ngày
    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng
    Câu lục ngắt nhịp 3/3 phá đi cái nhịp thông thường của thơ lục bát (2/2/2). Ý và lời vế sau lặp lại vế trước. Cách ngắt nhịp này khiến chữ” lại” ở đầu nhịp sau trở thành điểm nhấn của ngữ điệu. Nó gợi được dòng thời gian cứ trôi qua hết sức chậm chạp, ngày mới chỉ còn là sự lặp lại ngày cũ một cách chán ngán và vô vọng. Cả việc ngắt nhịp, lặp lại vế câu và nốt nhấn giọng ở chữ “lại” khiến cho giọng thơ vang kên như một lời than thở, kể lể ngán ngẩm. Tất cả điều đó làm hiện lên hình ảnh của một người con trai với tâm trạng nóng lòng chờ trông đến mỏi mòn.
    Câu hát diễn tả thời gian và tâm trạng một cách thật tinh tế và ý nhị. Thời gian diễn ra ở câu trên đã chậm chạp sốt ruột, nhưng mới qua lời kể lể thôi. Đến câu này, thời gian mới hiện lên sinh động. Thời gian có màu, đúng hơn, thời gian hiện lên qua việc chuyển màu: lá xanh chuyển thành lá vàng. Ngày anh bắt đầu đợi chờ, cây hãy còn xanh, đến nay lá xanh đã ngã sang vàng cả rồi, thế mà vô vọng vẫn hoàn vô vọng. Thời gian càng chậm, tâm trạng càng nặng nề, tâm trạng càng mỏi mòn nôn nóng, thời gian càng chậm chạp lê thê. Nhưng điều tinh tế nhất là ở chữ “nhuộm”. Thứ nhất, “nhuộm” diễn tả được thời gian chậm chạp. Thứ hai,” nhuộm” để ngỏ chủ thể. Ai nhuộm? Chủ thể này hàm ẩn. Không gian thời gian, cũng không hẳn là sự chuyển biến nội tại của cây lá. Tương tư đã khiến lòng người héo hon, đã nhuộm cây héo úa. Kẻ tương tư và cái cây ấy có mối tương giao thật kì lạ. Cây vừa là nhân chứng của mối tương tư, là đồng minh của kẻ tương tư, là nạn nhận của bệnh tương tư, mà tựu trung, là hiện thân của nỗi tương tư đó. Có thể xem cái kia cũng là cây tương tư được chứ sao!. Lối diễn đạt như thế thật tinh tế ý nhị.
    Nỗi tương tư của chàng trai và qua đó là mối nhân duyên của đôi trai gái này càng đậm nét chân quê hơn vì nó gắn liền với khung cảnh và cây cỏ chốn quê.
    Trong nỗi nhớ nhung của chàng trai hiện lên những chi tiết về những địa danh, cảnh vật, cây cỏ… thuộc về chốn quê bao đời: thôn Đoài, thôn Đông, đò giang, bến đò, hoa bướm, giàn giầu, hàng cau…
    Những chi tiết này vừa tạo ra không gian quê khiến cho nhân vật trữ tình bày tỏ mối tương tư, vừa là phương tiện, thậm chí, là ngôn ngữ nũa để nhân vật trữ tình diễn tả tâm trạng tương tư của mình một cách tự nhiên, kín đáo, ý nhị. Có như thế, tình và cảnh mới có thể hòa quyện vào nhau được.
    Hình ảnh, tâm trạng và cách diễn tả đậm chất dân gian của thơ Nguyễn Bính trong bài thơ này, trước hết thể hiện ở cách tạo ảnh độc đáo: hình ảnh chàng trai thôn Đoài ngồi nhớ cô gái thôn Đông, đã khiến cho thi sĩ mở rộng ra và khái quát thành thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông. Đây không chỉ đơn thuần là cách nói vòng, mà quan trọng hơn, nó tạo ra hai nỗi nhớ song hành và chuyển hóa, gắn với hai chủ thể và hai đốỉ tượng: người nhớ người và thôn nhớ thôn, chính vì có người nhớ người mà có thôn nhớ thôn. Nó tạo ra cho thủ pháp nhân hóa: “Thôn Đông ngồi nhớ…”. Nhưng sâu xa hơn, nó còn biểu đạt được cả một quy luật tâm lí. Khi tương tư, thì cả không gian sinh tồn bao quanh chủ thể như cũng nhuốm mọi tương tư ấy, vì thế mà có hai miền không gian nhớ nhau. Tràn đầy cả bầu không gian tạo ra bởi hai thôn ấy là một nỗi nhớ nhung.
    Thứ hai, nó được thể hiện nghệ thuật sử dụng các chất liệu ngôn từ chân quê, dân gian, địa danh “thôn Đoài”, “thôn Đông” dùng thành ngữ “chín nhớ mười mong”, dùng số từ “một”, “chín”, “mười”,… cách tổ chức lời thơ độc đáo: nhà thơ đã sử dụng bút pháp tài tình để tạo ra khoảng cách, “thôn Đoài… thôn Đông”, “một người… một người”. Nhất là ở câu sau, hai đối tượng ở hai đầu xa cách, giữa họ là nhịp cầu “chín nhớ mười mong”. Lối sử dụng ngôn từ này đã gợi được phong vị chân quê và thể hiện được giọng điệu kể lể rất phù hợp với việc bộc bạch nỗi tương tư của nhân vật trữ tình.
    Khát vọng lứa đôi trong mối tương tư này còn được biểu hiện tinh vi bằng nhiều cặp đôi trong bài: thôn Đoài – thông Đông, một người – một người, gió mưa – tương tư, tôi – nàng, bên ấy – bên này, hai thôn – một làng, bến – đò, hoa khuê các – bướm giang hồ, nhà anh – nhà em, giàn giầu – hàng cau, cau thôn Đoài – giầu thôn Đông.
    Các cặp đối trên xuất hiện theo trình tự từ xa đến gần, cuối cùng dừng lại ở cặp đôi giầu – cau. Điều ấy cho thấy rõ, bên dưới nỗi tương tư là niềm khát khao gần kề, khao khát chung tình, khao khát nhân duyên, tình yêu gắn với hôn nhân là một đặc điểm quan niệm tình yêu trong thơ Nguyễn Bính(cũng giống với ca dao). Điều này thêm một minh chứng để khẳng định thêm rằng chất truyền thống, chất chân quê đã thấm sâu và hồn thơ Nguyễn Bính.
    So sánh bài “Tương tư” của Nguyễn Bính với những Ca dao yêu thương, tình nghĩa (trong sách giáo khoa Ngữ văn 10 Nâng cao, tập một).

    Những nét truyền thống về nghệ thuật: Đề tài tương tư, những hình ảnh thơ truyền thống (lá trầu xanh, trầu vàng, cau liên phòng, cách trở đò giang..,) thể thơ lục bát..
    Những cách tàn nghệ thuật: Vận dụng sáng tạo thành ngữ “cách trở đò giang” – Yêu nhau mấy núi cũng trèo/ Mấy sông cũng lội mấy đèo cũng qua”, “chín nhớ mười mong” …

    Bài văn mẫu 2

    Nguyễn Bính là gương mặt khá tiêu biểu của phong trào Thơ mới (1932 – 1945). Thơ Nguyễn Bính giàu âm điệu trữ tình dân gian yà cách diễn đạt ý nhị, duyên dáng, hình ảnh mộc mạc về con người và quê hương. Bài thơ Tương tư được sáng tác năm 1939, in trong tập Lỡ bước sang ngang (1940). Bài thơ thể hiện tâm trạng của một chàng trai làng quê với mối tình đơn phương nồng cháy mà kín đáo qua thể thơ lục bát quen thuộc.

    Tương tư (nhớ nhau) là quy luật của tình cảm, Chàng trai thổ lộ tâm tình rất tự nhiên:
    Thôn Đoài ngồi nhớ Thôn Đông
    Một người chín nhớ mười mong một người
    Câu thơ sử dụng hình ảnh Đoài, Đông, biện pháp ẩn dụ và thành ngữ chín nhớ mười mong quen thuộc trong ca dao, đã bộc lộ nỗi nhớ nhung da diết nhưng kín đáo tế nhị mang phong cách thơ ca dân gian. Đó là nỗi lòng thương thầm lặng của chàng trai chân quê. Chẳng cần bóng gió, chàng trai chân thành bộc bạch:
    Gió mưa là bệnh của trời,
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
    Mượn quy luật tự nhiên để nói đến quy luật của tình yêu: khẳng định tình yêu nàng như lẽ tự nhiên của tạo hóa. Cách bày tỏ tình yêu thẳng thắn đã thể hiện cái tôi thành thật của Thơ mới.
    Nỗi lòng yêu thương nhung nhớ của chàng trai được bày tỏ vừa kín đáo bộc trực nên thơ Nguyễn Bính vừa hiện đại vừa mang phong cách dân ca.
    Tương tư với tất cả nỗi lòng tha thiết của chàng trai. Chàng trai liên tục đặt câu hỏi trong tâm tưởng:
    Trách móc bâng quơ: Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này
    Giận hờn: Không sang là chẳng đường sang đã đành
    Trăn trở thao thức, mong mỏi: Biết cho ai, hỏi ai người biết cho
    Ước mơ gặp gỡ: Bao giờ bến mới gặp đò
    Khát khao hạnh phúc: Cau thôn Đoài nhớ trầu không thôn nào?
    Những cung bậc của tình cảm và nỗi tương tư xuất phát từ tình yêu chân thành tha thiết của chàng trai.
    Điệp ngữ: Ngày qua ngày lại qua ngày diễn tả thời gian trôi đi nhanh chóng và vô nghĩa, cho thấy nỗi lòng trống vắng của tình yêu đơn phương. Tâm trạng mang nỗi nhớ triền miên day dứt, nỗi sầu muộn trong lòng đã dâng lên làm héo úa cảnh vật Lá xanh nhuộm đã thành cây là vàng. Không gian đong đầy thương nhớ đã làm hao mòn thế giới, làm cảnh vật tàn tạ:
    Nhớ chàng như mảnh trăng đầy
    Đêm đêm vầng sáng hào gầy đêm đêm
    (Ca dao)
    Tình yêu đơn phương mãnh liệt mà lặng lẽ đầy e ngại đã nhân rộng khoảng cách không gian:
    Bảo rằng cách trở đò ngang
    Nhưng đây cách một đầu đình
    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
    Tình càng xa xôi chàng trai càng tha thiết mong được đồng cảm:
    Biết cho ai, hỏi ai người biết cho
    Nhịp thơ gập ghềnh diễn tả nỗi lòng thổn thức, day dứt. Nỗi nhớ được phong kín không thể giãi bày. Hàng loạt hình ảnh ẩn dụ: bến – đó, hoa – bướm, cau – trầu., đã diễn tả niềm mong ước thầm kín về hạnh phúc lứa đôi của chàng trai.
    Nhờ sử dụng hình ảnh ẩn dụ quen thuộc của ca dao nên bài thơ mang đậm phong cách dân gian, diễn tả hồn quê, tình quê chân thành kín đáo của chàng trai. Và những hình ảnh đáo lại mở ra một không gian miền quê gần gũi thân thương, quyện chặt với mối tình chân quê của con người.
    Mở đầu là hình ảnh Đoài – Đông, kết thúc cũng là hình ảnh ấy. Cách kết cấu vòng tròn diễn tả tình yêu khép kín trong nỗi tương tư. Đó là tình yêu đơn phương.

    Nỗi nhớ mong, tương tư có nhiều cung bậc, sắc thái và nỗi khát khao hạnh phúc của chàng trai với mối tình đơn phương được diễn đạt khá tự nhiên, nhuần nhị qua hình thức mang âm hưởng ca dao. Bài thơ đã nói khá chân thực và tiêu biểu tình yêu của những trai làng: yêu mà không dám thổ lộ. Đó chính là nét dẹp tâm hồn thuần Việt.
    Bài thơ thể hiện rõ phong cách thơ Nguyễn Bính, trong khi các nhà thơ mới chịu ảnh hưởng từ thơ ca phương Tây hiện đại thì thơ Nguyễn Bính quay lại tìm về với những hình thức, vần điệu nhuần nhị của ca dao. Do đó thơ Nguyễn Bính thấm được hồn quê đất nước.

    Bài văn mẫu 3

    Bài thơ Tương tư được in trong tập thơ Lỡ bước sang ngang. Bài thơ tiêu biểu cho phong cách thơ chân quê của Nguyễn Bính.
    Tâm trạng của người con trai trong bài thơ
    Bản chất tầm lí của tâm trạng tương tư không chỉ có nhớ nhung đơn thuần mà là một phức hợp cảm xúc khác nhau, với những diễn biến không xuôi chiều.

    Tâm trạng tương tư trong bài thơ diễn biến qua nhiều sắc thái cảm xúc chính như sau:
    Nhớ nhung:
    Thôn Đoài ngồi nhớ thôn Đông
    Một người chín nhớ mười mong một người
    Gió mưa là bệnh của giời
    Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng.
    Băn khoăn, dỗi hờn:
    Hai thôn chung lại một làng
    Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
    Than thở:
    Ngày qua ngày lại qua ngày
    Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng
    Hờn trách:
    Bao rằng cách trở đò ngang
    Không sang là chẳng đường sang đã đành
    Nhưng đây cách một đầu đình
    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
    Tương tư thức mấy đêm rồi
    Biêt cho ai, hỏi ai người biết cho?
    Nôn nao, mơ tưởng:
    Bao giờ biết mới gặp đò?
    Hoa khuê các bướm giang hồ gặp nhau
    Ước vọng xa xôi:
    Nhà em có một giàn trầu
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng
    Thôn Đoài thì nhớ thông Đông
    Cau thôn Đoài nhở giầu không thôn nào?
    Sự phức tạp mang tính quy luật trong tâm lí khi yêu
    Sự bày tỏ tình cảm của người con trai trong bài thơ có điều gì bất hợp lí. Trong tình yêu, người chủ động đi đến phải là anh con trai, đằng này anh lại trong vai thụ động, ngồi chờ tình yêu. Đã thể hiện sự thụ động lại còn hờn dỗi, trách móc. Đó là cái bất hợp lí bên ngoài.
    Tuy nhiên, trong cái bất hợp lí đó lại thể hiện cái lí của nó. Đó là cái lí về chiều sâu.
    Thứ nhất, đây là một bài thơ, tác giả đã tạo ra một tình huống trữ tình để bày tỏ nỗi niềm, chứ không câu nệ vào lẽ khách quan. Thi sĩ phải đặt chàng trai vào thế thụ động mới có thể bộc bạch được tâm trạng tương tư của một người con trai quê mùa, chất phác.
    Thứ hai, lối trách này không phải vì ghét, không giống sự quy kết trách nhiệm, đỗ lỗi thông thường, mà trách vì yêu. Do quá mong nhớ, bị nỗi nhớ giày vò, người trong cuộc dễ tưởng mình bị hững hờ, nên sinh ra trách hờn, không có hàm ý ghét bỏ. Nói cách khác, trách chỉ là một cách để bộc bạch tình yêu.
    Cách biểu hiện thời gian của tác giả
    Tâm trạng chờ đợi sốt ruột và mòn mỏi không tách rời với việc diễn tả thời gian. Nổi bật lên là việc dùng cách ngắt nhịp, phép lặp, giọng kể lể và việc tả ngụ tình, dùng sự biến đổi của không gian để biểu hiện thời gian.
    Câu lục: Ngày qua ngày lại qua ngày
    Nhịp 2/2/2 thông thường của câu lục trong lục bát truyền thống đã được ngắt thành 3/3: Ngày qua ngày/ Lại qua ngày. Ý và lời vế sau lặp lại vế trước. Cách ngắt này khiến chữ lại ở đầu nhịp sau trở thành điểm nhấn của ngữ điệu. Nó gợi được dòng thời gian cứ trôi qua hết sức chậm chạp, ngày mới lặp lại ngày cũ một cách chán ngán vô vọng. Cả việc ngắt nhịp, lặp vế câu và nốt nhấn giọng ở chữ lại khiến cho giọng thơ vang lên như một lời than thở kể lể ngán ngẫm. Tất cả những điều đó đã làm hiện lên hình ảnh một người con trai với tâm trạng nóng lòng chờ trông đến mỏi mòn.
    Câu bát: Lá xanh nhuộm đã thành cây lá vàng
    Câu thơ diễn tả thời gian và tậm trạng thật tinh tế và ý nhị. Thời gian diễn ra ở câu trên đã chậm chạp nhưng mới thể hiện qua lời kể. Đến câu sau, thời gian mới hiện lên sinh động. Thời gian có màu, đúng hơn, thời gian thể hiện qua việc chuyển màu: lá xanh chuyển thành lá vàng. Ngày anh bắt đầu chờ đợi, lá hãy còn xanh, đến nay lá đã chuyển sang vàng rồi, thế mà vô vọng hoàn vô vọng. Thời gian và tâm trạng dường như không tìm một điểm chung với nhau; thời gian càng chậm tâm trạng càng nặng nề; tâm trạng càng nôn nóng, thời gian càng chậm chạp, lê thê. Tinh tế nhất trong cách diễn tả có lẻ là chữ nhuộm. Chữ nhuộm diễn tả thời gian chậm chạp. Có thể so sánh chữ nhuốm trong hai câu thơ sau của Nguyễn Du:
    Người lên ngựa kẻ chia bào
    Rừng phong thu đã nhuốm màu quan san.
    Nhuốm nói đến sự biến đổi sắc màu mới diễn ra, đang diễn ra, còn chưa hoàn tất. Sắc màu sự vật biến đổi chủ yếu ở bề mặt, bề ngoài. Còn nhuộm thể hiện sự hoàn tất. Thời gian dài đến mức đủ để cho màu này chuyển hẳn sang màu khác. Ngoài ra chữ nhuộm còn để ngỏ chủ thể. Nhuộm nhưng ai nhuộm? không hẳn là thời gian, cũng không phải là sự chuyển màu của lá: đó chính là nỗi tương tư. Tương tư đã khiến lòng người héo hon, đã nhuốm thành héo úa. Kẻ tương tư và cây lá có mối tương giao thật kì lạ. Cây vừa là nhân chứng của mối tương tư, là đồng minh của kẻ tương tư, là nạn nhân của kẻ tương tư, hay chính là hiện thân của nỗi tương tư. Có thể xem cái cây kia cũng là cây tương tư được. Đó chính là cái tinh tế, ý nhị trong lối thể hiện của Nguyễn Bính.
    Khung cảnh chốn quê trong bài thơ
    Nỗi tương tư của chàng trai và qua đó là mối nhân duyên của đôi trai gái này càng đậm nét chân quê hơn vì nó gắn liền với khung cảnh cây và cỏ chốn quê.
    Những chi tiết trong bài thơ, về địa danh, cảnh vật, cây cỏ… thuộc về chốn quê bao đời như thôn làng Đoài, Đông, đò giang, đầu đình, bến đò, hoa bướm, giàn giầu, hàng cau…
    Những chi tiết này vừa tạo ra không gian quê để nhân vật trữ tình bày tỏ mối tương tư, vừa là phương tiện, thậm chí là ngôn ngữ để nhân vật trữ tình diễn tả tâm trạng tương tư của mình một cách tự nhiên, kín đáo, ý nhị. Có như thế, tình và cảnh mới có thể hòa quyện, vào nhau đựợc.
    Cách diễn tả tâm trạng của Nguyễn Bính
    Cách tạo hình độc đáo, hình ảnh chàng trai thôn Đoài ngồi nhớ cô gáí thôn Đông đã khiến cho thi sĩ mở rộng ra, khái quát thành thôn Đoài ngồi nhờ thôn thôn Đông. Đây không chỉ đơn thuần là cách nói vòng mà quan trọng hơn, nó tạo ra hai nỗi nhớ song hành và chuyển hóa, gắn vớỉ hai chủ thể và hai đối tượng: người nhớ người và thôn nhớ thôn. Chính vì người nhớ người mà có thôn nhớ thôn. Nó tạo ra cơ sở cho thủ pháp nhân hóa: Thôn Đoài ngồi nhớ… Nhưng sâu xa hơn, cách diễn đạt đó còn diễn tả một quy luật tâm lí. Khi tương tư thì cả không gian bao quanh chủ thể cũng như nhuốm nỗi tương tư ấy, vì thế trong bài thơ có hai miền không gian nhớ nhau. Tràn đầy cả bầu không gian tạo ra bởi hai thôn ấy là một nỗi nhớ nhung.

    Nghệ thuật dùng chất liệu ngôn từ chân quê, dân gian: địa danh thôn Đoài, thôn Đông; dùng thành ngữ chín nhớ mười mong; dùng số từ một, chín, mười, cách tổ chức lời thơ độc đáo: đẩy dối tượng về hai đầu câu thơ, tạo ra khoảng cách (Thôn Đoài… thôn Đông, Một người…. một người). Lối sử dụng ngôn ngữ gợi được không vị chân quê và thể hiện được giọng điệu kể lể, rất phù hợp với việc bộc bạch nỗi tương tư.

  • Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng.
    Bài văn mẫu
    Số đỏ được đánh giá là tác phẩm xuất sắc nhất của Vũ Trọng Phụng cũng như của văn học trào phúng Việt Nam hiện đại. Tính chất trào phúng đó không chỉ thể hiện ở ngôn ngữ, giọng điệu, tình huống mà còn được bộ lộ trực tiếp, sắc nét nhất qua chân dung từng nhân vật trong tác phẩm trong đoạn trích Hạnh phúc một tang gia.
    Câu chuyện bắt đầu bằng cái chết của một người ông già – cụ cố tổ. Đó là người ông, người cha, người bạn đáng kính của một gia đình thượng lưu. Những tưởng cái chết đó sẽ gây nên niềm đau xót khôn nguôi trong lòng người ở lại. Nhưng không, cái chết của cụ cố tổ lại là niềm vui, niềm hạnh phúc tột cùng của tất cả đám con cháu. Bởi bản di chúc ở trên giấy nay đã được đi vào thực thi, bọn họ sẽ nhận được những gia sản kếch xù. Chính trong lúc tang gia bối rối, họ mỗi người nhao nhao lên theo một cách khác nhau, trưng diện một bộ mặt khác nhau để thể hiện lòng đau xót trong hạnh phúc tột cùng của mình.

    Cụ cố Hồng, nhắm mắt mơ màng khi nghĩ đến giây phút mình mặc bộ đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa kho vừa khó mếu, để cho thiên hạ chỉ trỏ: Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa. Đây chính là cơ hội để cụ cố Hồng được diễn trò trước đám đông, là cơ hội để thể hiện lòng hiếu thảo với cha mình thông qua việc tổ chức một đám ma thật to. Ông Văn Minh: Niềm vui riêng hòa lẫn niềm vui chung. Niềm vui của ông Văn Minh là biểu hiện cao độ cho niềm vui của cả gia đình: nóng lòng đợi luật sư đến để thực tế chia gia tài. Ông Văn Minh còn được Vũ Trọng Phụng miêu tả chi tiết đăm chiêu, vò đầu bứt tóc nhưng thực tế là đang không biết xử trí với Xuân tóc đỏ thế nào cho phải chứ không phải là lo lắng cho việc tổ chức đám tang của cụ cố tổ. Còn với bà Văn Minh vợ ông lại sung sướng khi được mặc bộ đồ xô gai tân thời, bà vui vẻ ra mặt, vì những mẫu đồ tân thời mới nhất bà sẽ nhân dịp này mà tung ra thị trường, biến đám tang thành nơi trình diễn, công bố bộ sưu tập mới nhất.
    Ông phán mọc sừng, sung sướng, hả hê khi biết giá trị đôi sưng trên đầu mình, vì có nó mà ông sẽ được hưởng thêm một phần gia sản không nhỏ. Số tiền đó là đền bù cho danh dự của ông. Trong đám tang tiếng khóc Hứt ! Hứt của ông Phán mọc sừng liên tiếp được vang lên, ông khóc oắt người đi, đến nỗi không thể đứng vững, phải có Xuân Tóc Đỏ đỡ ông mới đứng được. Tưởng đó là nỗi đau rất thật, rất chân thành nhưng hành động dúi tiền vào tay Xuân Tóc Đỏ tờ tiền gấp làm tư đã vạch trần bộ mặt dối trá của ông Phán mọc sừng. Hành động đó còn thể hiện mưu tính một cuộc hợp tác doanh thương với Xuân tóc đỏ để kiếm lợi nhuận.
    Còn đối với Tuyết – cô gái hư hỏng một nửa lại vui mừng vì mình sẽ được mặc những trang phục Tân thời, bộ quần áo ngây thơ, nửa kín nở hở cái áo dài voan mỏng, trong có cooc-sê trông như hở cả nách và nửa vú – nhưng mà viền đen, và đội một cái mũ mấm xinh xinh, khuôn mặt buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám. Bộ quần áo ngây thơ Tuyết mặc để chứng minh mình không hư hỏng với thiên hạ, còn khuôn mặt buồn rất lãng mạn tưởng là nổi buồn do mất đi người thân nhưng thực tế lại là vi nhớ nhân tình – Xuân Tóc Đỏ khi mãi cô vẫn chưa thấy Xuân xuất hiện trong đám tang. Vẻ mặt bề ngoài và thực tế bên trong đã bị Vũ Trọng Phụng sử dụng lời lẽ châm biếm sâu cay vạch trần.

    Cậu Tú Tân, khi nghe ông mất thì cứ điên người lên, vì chiếc máy ảnh mới mua của cậu sắp được đưa vào sử dụng. Trong lúc hạ huyệt trong bộ quần áo luộm thuộm, cậu bắt bẻ từng người chống gậy, gục đầu, cong lứng, lau mắt,… dường như cậu Tú Tân như một nhà đạo diễn đại tài để cho vở kịch đám tang đau buồn thêm phần hoàn hảo.
    Min Đơ, Min Toa đang trong lúc buồn rầu vì không có việc gì làm, Buồn rầu như những nhà buôn sắp vỡ nợ được thuê tới giữ trật tự đám ma thì sung sướng cực điểm. Sư cụ tăng phú thì vênh váo, ngồi trên chiếc xe, có đám đông để đến đó thể hiện sự vui vẻ, tự hào về thành tích đánh đổ hội Phật giáo. Bạn thân cụ cố Hồng: có dịp được khoe các loại huân huy chương, các loại râu. Bề ngoài họ ai nấy đều cảm động, nhưng thực chất cảm động không phải vì thương xót cho người chết mà vì nhìn thấy làn da trắng thập thò trong làn áo voan trên cánh tay và ngực Tuyết. Đám giai thanh gái lịch bạn của bà Văn Minh, cô Hoàng Hôn và cô Tuyết,đại diện cho lớp trẻ: với vẻ ngoài che đậy bên ngoài buồn rầu, nghiêm chỉnh nhưng thực chất họ chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau… với những lời lẽ thô tục.
    Xuân Tóc Đỏ xuất hiện đã hoàn chỉnh bức tranh đại hài kịch ấy. Giữa lúc đám tang đã đi, Xuân xuất hiện với vòng hoa đồ sộ, rồi ai nấy cũng hết sức cảm động về sự chu đáo của Xuân, khiến cho đám ma ấy thêm phần long trọng hơn. Nhưng đặc sắc nhất phải kể đến chi tiết sự phối hợp nhịp nhàng giữa ông Phán mọc sừng và Xuân Tóc Đỏ trong cuộc trao đổi, buôn bán. Tờ giấy năm đồng gấp làm tư ông Phán dúi vào tay Xuân, Xuân nhanh chóng nắm tay cho khỏi có người nom thấy một hành động hết sức chuyên nghiệp và thành thạo. Cuộc mua bán, trao đổi đã thành công và hứa hẹn sẽ có những lần giao thương lớn và thành công hơn nữa.
    Đám cứ đi được nhắc lại hai lần như đậm tô, khắc sâu hơn nữa sự vô sỉ, nhẫn tâm của đoàn người ấy. Nó kéo dài mãi, không hề kết thúc, chỉ là có sự thay đổi khác nhau về mặt hình thức.
    Với nghệ thuật châm biếm, trào phúng bậc thầy Vũ Trọng Phụng đã khắc họa từng chân dung, đặc sắc, riêng biệt với tiếng cười châm biếm sâu cay. Vạch trần bộ mặt giả dối của xã hội đương thời.

  • Dàn ý Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Dàn ý Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Dàn ý Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 5 bài văn mẫu Phân tích nghệ thuật trào phúng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tâm trạng các nhân vật trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu những nét tiêu biểu nhất về cây bút hiện thực Vũ Trọng Phụng và đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
    – Trong đoạn trích, tâm trạng các nhân vật trước cái chết của cụ cố Tổ là một khía cạnh làm nên chất trào phúng cho đoạn trích

    II. Thân bài
    Trước cái chết của một con người, đáng lẽ những người xung quanh phải có thái độ đau buồn nhưng tâm trạng của các nhân vật (kể cả trong gia đình hay ngoài gia đình) đều làm cho người đọc cảm giác phẫn nộ
    1. Tâm trạng của những người trong gia đình
    – Cụ cố Hồng:
    + đặc biệt háo danh: mới năm mươi tuổi, cụ cố Hồng mong được gọi là “cố”
    + sung sướng đến ngây ngất vì nhờ có cái chết thật của cha mình mà được mọi người chú ý, vui vì được diễn trò già yếu trước mọi người
    + mơ màng nghĩ mình được mặc áo xô gai, lụ khụ ho khạc mếu máo để người ta nghĩ “ úi kìa con giai nhớn đã già thế kia kìa”
    ⇒ con người háo danh bề ngoài, không hề tiếc thương gì trước cái chết của chính người sinh ra mình
    – Cụ bà: sung sướng vì ông Đốc tờ Xuân đã không giận mà còn giúp đáp, phúng viếng đến thế, và đám ma như thế kể là đã danh giá nhất
    – Ông Văn Minh chồng:
    + Vui vì chúc thư đã đi vào thời kì thực hiện chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa
    + vò đầu rứt tóc hợp thời trang hợp với một nhà có đám, kì thực, ông ta đang lo gột rửa bằng xà phòng thơm cho quá khứ của Xuân…
    ⇒ Bất hiếu, đầy dã tâm
    – Bà Văn Minh vợ:
    + sốt cả ruột vì mãi không được mặc đồ xô gai tân thời, cái mũ mấn trắng viền đen…
    + mừng rỡ vì được lăng xê những mốt y phục táo tạo nhất.
    ⇒ người cháu thực dụng, thiếu tình người
    – Cậu Tú Tân: Điên người lên vì bây giờ mới có dịp dùng đến mấy cái máy ảnh mà cậu đã chuẩn bị từ lâu ⇒ thiếu suy nghĩ, thiếu tình cảm ruột thịt
    – Tuyết:
    + Vui vì có dịp mặc bộ y phục “Ngây thơ” để thiên hạ thấy rằng mình chưa đánh mất cả chữ trinh.
    + khuôn mặt buồn, nhưng không phải cái buồn đau thương mà là buồn lãng mạn “đúng mốt” vì chờ mãi chưa thấy bạn giai đâu cả
    ⇒ Người con gái hư hỏng, lẳng lơ.
    – Phán mọc sừng:
    + Là kẻ trơ trẽn nhất, y vô cùng hãnh diện vì không ngờ “đôi sừng hươu vô hình ai cắm trên đầu mình lại có giá trị như vậy”.
    ⇒ Chỉ coi trọng và vui mừng vì mình được thêm một khoản, không có nhân cách, vô liêm sĩ
    – Đám cháu con: Một bầy cháu con chí hiếu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ Tổ.
    2. Tâm trạng của những người ngoài gia đình
    – Cảnh sát Min Đơ và Min Toa: “giữa lúc không có ai đáng bị phạt…đương buồn rầu…thì sung sướng cực điểm”.
    – Bạn bè cụ cố Hồng: những kẻ vừa háo danh, vừa háo sắc, họ chia buồn để khoe khoang các loại râu ria cùng những huân huy chương
    – Nhà sư: Sư cụ Tăng Phú sung sướng và vênh váo ngồi trên một chiếc xe, vì sư cụ chắc rằng, trong số thiên hạ đứng xem ở các phố, thế nào cũng có người nhận ra rằng sư cụ đã đánh đổ được Hội Phật giáo
    – Hàng phố: đám ma đi đến đâu huyên náo đến đấy, cả phố nhốn nháo khoe đám ma to, thiên hạ chỉ chu ý vào những kiểu quần áo tang…
    ⇒ Không một ai thực sự tiếc thương cho sự ra đi của người đã mất, đây là những con người không một chút hiếu nghĩa, mất hết tình người

    III. Kết bài
    – Khẳng định nhưng nét nghệ thuật tiêu biểu thể hiện thành công tâm trạng của các nhân vật trong đoạn trích: bút pháp hiện thực, nghệ thuật trào phúng…
    – Bài học đạo đức rút ra cho bản thân

  • Văn mẫu: Tương tư (Nguyễn Bính)

    Văn mẫu: Tương tư (Nguyễn Bính)

    Văn mẫu: Tương tư (Nguyễn Bính)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    [toc]

    Top 8 bài phân tích, cảm nhận bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính hay nhất
    Phần Tương tư (Nguyễn Bính) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: phân tích, bình giảng, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. 3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tương tư
    2. Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
    3. Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
    4. Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
    5. Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính
    6. Cảm nhận về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính
    7. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính chân thật và mộc mạc

  • 2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh

    2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh

    2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Bình giảng bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh.

    Dàn ý mẫu

    I. Tác phẩm
    Một nội dung của tập thơ Nhật kí trong tù của Hồ Chí Minh là ghi chép những điều tai nghe mắt thấy hàng ngày của tác giả trong nhà tù và trên đường chuyển lao, đem đến cho nhiều bài thơ tính hướng ngoại và yếu tố tự sự, tả thực. Nhờ thế, tác phẩm đã tái hiện được bộ mặt đen tối của nhà tù Quốc dân đảng Trung Quốc rất tỉ mi, chi tiết như một cuốn phim tư liệu có sức phê phán mạnh mẽ. Tập thơ còn cho thấy một phần của tình trạng xã hội Trung Quốc vào những năm 40 của thế kỉ XX. Bài thơ Lai Tân là một trong những bài thơ trong tập thơ có nội dung hiện thực như vậy.
    Lai Tân là nơi mà Hồ Chí Minh đã trải qua trên con đường từ Thiên Giang đến Liễu Châu thuộc tĩnh Quảng Tây. Bài thơ mang tên dịa danh này là bài thơ thứ 97 trong số 134 bài thơ của tập Nhật kí trong tù, nó cho thấy hiện trạng đen tối, thối nát của một xã hội tưởng là yên ấm, tốt đẹp.

    II. Tìm hiểu tác phẩm
    1. Kết cấu của bài thơ
    Một bài thơ thất ngôn tứ tuyệt Đường luật thường có bốn phần, mỗi phần một câu có chức năng nhất định trong việc kết cấu và biểu đạt ý nghĩa của bài thơ.
    Bài thơ Lai Tân thuộc thể thất ngôn tứ tuyệt Đường luật nhưng có kết cấu khá đặc biệt. Tính chất đặc biệt này bắt nguồn từ dụng ý châm biếm của tác giả, đồng thời thể hiện tài năng của tác giả trong việc kết cấu một bài thơ châm biếm theo thể thơ vốn rất trang trọng và nghiêm ngặt.
    Bài thơ chia làm hai phần rõ rệt, chứ không phải bốn phần như thể Đường luật. Phần đầu gồm ba câu đầu, viết theo lối tự sự. Phần hai chỉ có câu cuối mang tính chất biểu cảm. Phần tự sự kể lại việc Ban trưởng ngày ngày đánh bạc, Cảnh trưởng giải tù và bóc lột họ, Huyện trưởng đêm đêm chong đèn hút thuốc phiện. Phần biểu cảm là thái độ của nhà thơ trước những hiện thực được chứng kiến.
    Xét về kết cấu, hai phần trên có liên hệ với nhau rất chặt chẽ và vững chắc. Nếu chỉ có một phần thì kết cấu sẽ bị phá vỡ, bài thơ không còn nhiều ý nghĩa, nhất là nếu mất đi câu cuối thì sẽ mất ý nghĩa châm biếm, đả kích, mặc dù ba câu đầu đã thể hiện sự phê phán. Tính liên kết chặt chẽ trong kết cấu đã làm nổi bật mâu thuẫn giữa sự bất an và thái bình, tạo nên tiếng cười chua cay trước hiện thực sống.

    2. Đối tượng phê phán trong bài thơ
    Bài thơ được viết vào giai đoạn đất nước Trung Quốc bị phát xít Nhật xâm lược, nhân dân Trung Quốc phải rên xiết dưới sự thống trị của ngoại bang và sâu mọt trong bộ máy quan lại chính quyền Tưởng Giới Thạch. Ba câu đầu trong bài thơ ghi lại hiện thực trong nhà tù. Đó là công việc thường ngày của ba viên quan lại tiêu biểu cho bộ máy chính quyền ở Lai Tân. Ban trưởng nhà giam thì ngày ngày đánh bạc, Cảnh trưởng bòn rút ngay cả của người tù, Huyện trưởng siêng năng đến độ phải chong đèn vào ban đêm để hút thuốc phiện. Đọc câu thơ cứ ngỡ là Huyện trưởng siêng năng đang làm việc vào ban đêm, nhưng đặt công việc vào hoàn cảnh chung của Ban trưởng và Cảnh trưởng thì rõ ràng Huyện trưởng đang làm công việc bất thường. Cảnh tượng hoàn toàn không bình thường đối với một bộ máy quan lại của chính quyền nghiêm chỉnh. Câu kết bài thơ lại tạo ra một nghịch lí: Trời đất Lai Tân vẫn thái bình. Câu thơ không có gì là bất thường cả, guồng máy cai trị ở Lai Tân xưa nay vẫn phán công việc một cách rành mạch: Ban trưởng đánh bạc, Cảnh trưởng hôi lộ, Huyện trưởng hút thuốc phiện. Cả bộ máy là một sự yên ổn, thái bình.
    Sự thối nát của bộ máy chính quyền đã hết sức trầm trọng, cái xấu, cái vô kỉ cương đã trở thành phổ biến, thậm chí đã trở thành một nếp sống thường ngày. Và đó chính là sự thái bình trong cuộc sống của quan lại Lai Tân.
    Bộ mặt quan lại nhà tù Lai Tân được Hồ Chí Minh khắc họa đầy đủ, rõ nét với chỉ bốn câu thơ. Không những thế, bài thơ còn phê phán tình trạng thôi nát phổ biến của bọn quan lại và xã hội Trung Quốc dưới thời cẩm quyền của Quốc dân đảng.

    3. Nghệ thuật châm biếm của bài thơ
    Nghệ thuật châm biếm của bài thơ được tạo nên từ hai yếu tô cơ bán là mâu thuẫn và giọng điệu.
    Một trong những bút pháp dể tạo ra tiếng cười trong nghệ thuật trào phúng là khai thác mâu thuẫn trái tự nhiên. Ở đây, mâu thuẫn được tạo dựng bởi kết cấu bài thơ. Ba câu đầu kể về những việc bất bình thường theo lẽ thường. Lẽ ra với những gì trình bày trong ba câu trên, tác giả phải kết luận bằng một câu phơi bày thực trạng xã hội, nhưng ngược lại, tác giả lại kết luận Trời đất Lai Tân vẫn thái bình, cái bất thường bỗng chốc trở thành cái bình thường. Đó là tiếng cười được tạo ra một cách chua cay.
    Để tiếng cười trở nên mạnh mẽ, sâu sắc và độc đáo, tác giả đã đưa ra tới ba hình tượng (Ban trưởng, Cảnh trưởng, Huyện trưởng) gắn liền với ba hiện tượng (đánh bạc, ăn hối lộ, hút thuốc phiện) và không dùng lại ở đó, Hồ Chí Minh còn nâng sự việc lên tầm phổ quát và phổ biến bằng các từ lập lại như ngày ngày, đêm đêm, y nguyên như cũ.. Những hiện tượng đó đủ để chúng ta kết luận xã hội Lai Tân đang rối loạn. Nhưng bất ngờ thay, tác giả lại kết luận là đang thái bình. Hóa ra, rối loạn hay thái bình không còn phụ thuộc ở hiện thực khách quan theo logic tự nhiên nữa mà phụ thuộc vào cách nhìn hiện thực khách quan đó. Nếu người khác nhìn thì cho đó là loạn nhưng với bộ máy quan lại Lai Tân thì cho đó là thái bình. Người đọc luôn cười nhưng lại là điệu cười chua chát vì sự thật đã bị bóp méo một cách trần trụi, lẽ thường cuộc sống đã bị chà đạp không thương tiếc.
    Giọng điệu thơ chính là giọng điệu tâm hồn nhà thơ, nhà thơ không bao giờ tạo nên tiếng cười dễ dãi. Hồ Chí Minh chắc hẳn đã rất bất bình khi chứng kiến những cảnh tượng như thế. Vậy tại sao tác giả không dùng giọng điệu đanh thép, phẫn nộ mà có vẻ bình thản, nhẹ nhàng? Với bút pháp hiện thực, hơn nữa đây là hiện thực trào phúng nên tác giả đã giữ đúng thái độ khách quan nhằm mang lại giá trị phản ánh lớn nhát. Sự bình thản của Hồ Chí Minh cho ta cảm giác Người không có ý phê phán hoặc trào phúng gì cả. Tuy nhiên, với giọng thơ ấy, tác giả đã tạo ra sự đả kích mạnh mẽ, quyết liệt. Đó chính là nét độc đáo của bút pháp Hồ Chí Minh trong bài thơ.

    Bài văn mẫu 1

    Bài thơ Lai Tân đã ghi lại những điều mắt thấy tai nghe trong những ngày Bác bị giam cầm trong nhà tù của bọn Tưởng Giới Thạch. Bức tranh hiện thực nhà tù và một phần xã hội Trung Quốíc đã được thu nhỏ trong bốn câu thơ bảy chữ kèm theo thái độ
    Thành công của bài thơ Lai Tân là nghệ thuật châm biếm sắc sảo, độc đáo, với giọng điệu tự sự xen lẫn trữ tình với một kết cấu chặt chẽ vững chắc.

    Bài thơ Lai Tân có kết cấu gồm 2 phần, với hai cách cấu tứ khá bất ngờ. Như trên đã nói, ba câu đầu chỉ thuần kể việc. Điểm nút chính là câu thứ tư. Nó làm bật ra toàn bộ tư tưởng của bài. Nó làm bung vỡ tất cả cái hàm ý châm biếm mỉa mai hướng đến sự thối nát tận xương tủy của cái xã hội Tưởng Giới Thạch.
    Trong ba câu đầu miêu tả ngắn gọn, khách quan mà sâu sắc, có sức công phá không hề nhỏ vào sự lộn xộn, bát nháo của xã hội Tưởng Giới Thạch.
    Hồ Chí Minh vẽ lên ba bộ mặt thật vô cùng sinh động. Lão giám ngục (ban trưởng nhà lao) đánh bạc ngày này qua ngày khác, viên cảnh sát trưởng thì lóc lẻm móc túi tiền của tù nhân và quan huyện thì chong đèn hút thuốc phiện. Ở đâu đánh giặc thì cứ đánh giặc, còn cái trời đất Lai Tân này thì muôn thuở vẫn thế. Ba nhân vật hoạt động ráo riết như trong một màn hài kịch câm vậy. Cả ba đang đóng vai một cách nghiêm túc đến vô thức dưới gầm trời “thái bình” của Lai Tân — cảnh tượng thu hẹp của cái giang sơn dưới bàn tay nhà họ Tưởng.
    Câu thơ cuối là lời châm biếm, mỉa mai rất sắc sảo. Một chữ “thái bình” mà thâu tóm lại bao nhiêu việc làm vốn là chuyện muôn thuở của cái xã hội Trung Quốc còn giai cấp bóc lột thống trị. Chỉ một chữ ấy mà xé toang tất cả sự “thái bình” dối trá nhưng thực sự là đang “đại loạn” từ bên trong của xã hội.
    Ba câu đầu chỉ là những câu kể việc, nói về hình tượng cũng không có gì dặc biệt lắm nhưng mỗi nhân vật đều có một việc làm khác nhau mà đặc biệt giống nhau về sự thối nát, nhất là lại ở vào cái hoàn cảnh “quốc gia hữu sự”. Người xưa đã nói “quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Giặc đang ở ngay trước mắt, thiên hạ đã dại loạn rồi, thế mà bọn quan lớn bé đều chỉ lo làm sao vơ vét cho đầy túi. Bác không cần dùng chữ “đại loạn” Bác chỉ nói “thái bình”, nói như không “Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”. Với câu nói đó (mà nghệ thuật thơ Đường gọi là “cảnh cú”), một câu thơ kêu lên có thể làm rung chuyển những câu thơ khác. Bài thơ vốn phẳng lặng bỗng vang ngân, bỗng giục giã, bỗng gây ra những cảm xúc đặc biệt.

    Bài thơ cũng in đậm bút pháp chấm phá của thơ Đường. Lời thơ ngắn gọn, xúc tích, Không cầu kì câu chữ, nhưng có thể nói: chỉ với bốn câu thơ ngắn, nhà thơ đã vẽ nên cái bản chất của cả chế độ xã hội mục nát đến cùng. Sức chiến đấu, chất “thép” của bài thơ nhẹ nhàng mà quyết liệt chính là ở đó. Câu kết có vẻ dửng dưng, vô cảm kia, té ra vẫn ẩn giấu bên trong một tiếng cười khẩy, một tiếng cười mỉa mai có tác dụng lật tẩy bản chất của cả bộ máy nhà nước ở Lai Tân.

    Bài văn mẫu 2

    Nhật kí trong tù (1942 – 1943) tập thơ xuất sắc, giàu tính chiến đấu, chất trí tuệ và đậm chất trữ tình của nhà thơ lớn Hồ Chí Minh. Tập thơ có hình thức nhật kí, đa dạng về bút pháp, giọng điệu trong đó bút pháp tự sự trào phúng chủ yếu để chê giễu, châm biếm, lên án nhà tù và chế độ xã hội Trung Hoa dân quốc. Bài thơ Lai Tân sử dụng bút pháp tự sự trào phúng giàu chất trí tuệ.

    Ba câu thơ đầu được thuật chuyện các nhân vật
    Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc
    Giải người, cảnh trưởng kiếm ăn quanh
    Chong đèn huyện trưởng làm công việc
    Tác giả không nêu tên mà chỉ điểm danh từng người một, chức vụ gắn với trọng trách xã hội trong bộ máy công quyền, họ phải làm gương cho dân chúng trong việc thực thi pháp luật.
    Cách điểm danh và kể việc rành mạch tưởng như ai lo phận nấy, theo đuổi một cách mẫn cán. Nhưng họ đã làm việc gì.
    Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc. Đánh bạc là phạm pháp, đánh bạc ở ngoài quan bắt tôi thế mà trong tù đánh bạc được công khai nên chủ ngục đánh bạc nhiều hơn ai hết. Bọn quan coi ngục đã coi thường luật pháp.
    Cảnh sát trưởng bắt người vô tội để họ chạy vạy, lo lót, xin xỏ. Tên này rất ranh ma, dụng chuyện để ăn hối lộ. Còn khi chuyển lao thì tìm cách ăn chặn tù nhân. Hành vi của hắn thật bẩn thỉu, đê tiện.
    Huyện trưởng chong đèn làm việc thâu đêm, ông ta làm việc gì không được biết. Hút thuốc phiện? Đồi bại đến thế! Soạn công văn ? Chăm chỉ làm việc mà không biết cấp dưới thao túng, lũng đoạn, nhũng nhiễu dân chúng. Hắn chỉ là một viên quan làm vì, dốt nát nên dễ bị cấp dưới qua mặt. Bất tài, vô trách nhiệm như thế là cùng. Hay là có biết nhưng làm ngơ, có mắt mà như mù. Vậy thì cá mè một lứa, một bè lũ quan lại tham nhũng thối nát. Ý thơ lấp lửng gợi được nội dung nhiều chiều.
    Phép liệt kê quan chức từ nhỏ đến lớn và phép tăng tiến cho thấy phạm vi hiện thực được mở rộng dần theo từng cấp bậc, chức càng cao càng hủ bại. Phép điệu cú cho thấy công việc của bọn họ khá nhịp nhàng, rành rạch và bức tranh hiện lên sinh động như màn kịch câm.Việc làm của họ quên thuộc đến mức gần như vô thức. Bộ máy cai trị vẫn cứ chạy đều, nhịp sống vẫn diễn ra bình thường. Trong quy luật sinh học, cái đột biến mà phổ biến thì trở thành thường biến. Sinh học chỉ ghi nhận cái thường biến để nhận thức bản chất đối tượng. Cái bất thường được lặp đi lặp lại hóa ra bình thường, ở Lai Tân cái thối nát đến cực đại trở thành sự thường, thành nền nếp quy củ hẳn hoi, họ rất khéo léo che đậy nên cuộc sống vẫn yên ổn. Đó là cái đáng sợ nhất. Tiếng cười phê phán châm biếm có chiều sâu trí tuệ là ở đó.
    Hai câu thơ đầu tác giả vạch rõ ra cái thối nát của ban trưởng, cảnh sát trưởng. Câu thứ ba lại bỏ lửng càng tăng thêm ý vị mỉa mai trào lộng.
    Câu thơ kết bình luận, đánh giá sự việc đã được kể. Theo mạch tự sự thì câu thơ cuối mang nội dung phê phán nhưng tác giả kết luận ngược.
    Trời đất Lai Tân vẫn Thái Bình
    (Lai Tân y cựu thái bình yên)
    Thối nát như vậy thì “thái bình” sao nổi. Đang loạn đấy chứ. “Y cựu” đối với “Lai Tân”. Lai Tân mà văn như xưa. Nghĩa là cái thối nát thành nề nên không đổi. Tiếng cười mỉa mai chua chát toát ra tư cách nói ngược và nghệ thuật chơi chữ ẩy.
    Hay đây là lời nhận xét bao biện của bọn chúng. Tiêu cực thi có nhưng cuộc sống vẫn yên ổn, đất nước thì “vẫn thái bình, thịnh trị”. Lời ngụy biện mị dân ấy thật là tội lỗi quá lớn. Cái vỏ bề ngoài bình yên nhưng bên trong rường cột bị đục khoét rỗng cả rồi. Cái trời đất Lai Tân này sắp sụp đổ.
    Bài thơ ra đời trong hoàn cảnh thế giới đang chao đảo vì chiến tranh. Nước Trung Hoa cũng đang tang tốc vì bọn phát xít.1 Trong khi:
    Tráng sĩ đua nhau ra mặt trận
    Hoàn cầu bốc lừa rực trời xanh.
    Thì bọn chúng ở góc huyện này vẫn rung đùi hưởng thụ và đục khoét dân chúng, ở đâu đánh giặc cứ đánh, chúng vẫn an nhiên hưởng “thái bình”. Bọn chúng là lũ giặc nội xâm. Lai vung đang đại loạn.

    Một chữ thái bình đã xé toạt bức màn dối trá, phơi bày những ung nhọt của xã hội thời Tưởng. Hiện thực này có ý nghĩa tự tố cáo.
    Bài thơ thể hiện nội dung chiến đấu sắc sảo, trí tuệ. Lời thơ giản dị nhưng thể hiện bút pháp trào phúng bậc thầy. Nghệ thuật châm biếm nhẹ nhàng mà sâu cay.

  • Bình giảng bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh

    Bình giảng bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh

    Bình giảng bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    Đề bài: Bình giảng bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh.

    Bài văn mẫu

    Bài thất ngôn tứ tuyệt “Lai Tân” là bài thơ số 97 trong số 133 bài thơ của “Ngục trung nhật kí” của Hồ Chí Minh. Bài thơ số 98 sau đó, với nhan đề “Dáo Liễu Châu”, tác giả ghi rõ ngày viết là 9-12-1942, có câu: “Mồng chín ta vừa đến Liễu Châu – Ngoảnh lại hơn trăm ngày ác mộng…”. Từ nhà lao Thiên Giang, Bác Hồ viết bài “Thiên Giang ngục” ngày 1-12-1942 (bài 94), rồi bị giải đi Lai Tân bằng tàu hỏa, được ngồi trên đống than, Bác hóm hỉnh viết: “Nhưng so với đi bộ còn sang chán!”. Qua đó, ta biết bài thơ “Lai Tân” được Hồ Chí Minh viết vào tuần đầu của tháng 12-1942. Vì là “Nhật kí…” nên phải tìm hiểu cặn kẽ như thế!

    “Lai Tân” là một bài thơ nhằm tố cáo cái hiện thực xấu xa, thối nát của xã hội Trung Quốc thời ấy hay chỉ là tiếng cười châm biếm của nhà thơ về những “con người” trong đám chức sắc ở Lai Tân mà nhà thơ nhìn thấy? Một câu hỏi rất thú vị được đặt ra.
    Đây là bản dịch bài thơ của Nam Trân:
    “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,
    Giải người, Cảnh trưởng kiếm ăn quanh,
    Chong đèn Huyện trưởng làm công việc,
    Trời đất Lai Tân vẫn thái bình”.
    Lai Tân là một huyện thuộc tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Câu thơ thứ nhất nói về tên Ban trưởng – một tên cai ngục. Hắn không hung dữ, không quắt quay như những tên chúa ngục khác, mà chỉ “ngày ngày đánh bạc” (thiên thiên đổ). Hắn đã biến nhà tù thành một sòng bạc giữa thanh thiên bạch nhật. Nhà tù không phải là nơi cải tạo phạm nhân, không phải là nơi để thực thi luật pháp và công lí. Ban trưởng và tù nhân đều có vị thế như nhau: tất cả đều là con bạc, đều cùng hội đỏ đen, đang sát phạt lẫn nhau, cùng máu mê như nhau. Câu thơ chữ Hán nghĩa là: “Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc” được dịch thành “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc” kể cũng hay, ở đây tiếng cười bật ra ở cái nghịch lí của sự vật, của con người, của hiện tượng mà nhà thơ nói đến, nhà thơ nhìn thấy, tiếng cười khẽ, thâm trầm, sâu sắc giàu trí tuệ.
    Vì đã trải qua “hơn trăm ngày ác mộng”, bị giải lui giải tới mấy chục nhà lao tỉnh Quảng Tây, Người đã nhìn thấy bao nghịch lí, nghịch cảnh của bức tranh tù ngục, “cái oái oăm của sự đời”:
    “Đánh bạc ở ngoài quan bắt tội,
    Trong tù đánh bạc được công khai,
    Vào tù con bạc ăn năn mãi:
    Sao trước không vô quách chốn này!?”.
    (Đánh bạc)
    Mỗi bức tranh là một tiếng cười khẽ, châm biếm nhẹ nhàng mà thâm thuý, bài thơ “đánh bạc” giúp ta cảm và hiểu sâu hơn, thú vị hơn bức chân dung “Ban trưởng nhà giam ngày ngày đánh bạc”.
    Câu thơ thứ 2, tác giả hình như nhìn thấy trên đường chuyển lao một cảnh sát trưởng:
    “Cảnh trưởng tham thôn giải phạm tiền”.
    Nam Trân đã dịch: “Giải người, Cảnh trưởng kiếm ăn quanh”.
    Nguyên tác: Cảnh trưởng tham lam ăn tiền phạm nhân bị giải.
    Câu 1 đối xứng với câu 2, mỗi bức chân dung biếm họa có một nét riêng. Ban trưởng thì lo ăn chơi cờ bạc. Cảnh trưởng thì trắng trợn “móc túi” ăn tiền phạm nhân. Chuyện bọn cai ngục, cảnh sát trưởng ăn tiền phạm nhân đã thành “lệ” mà nhà thơ đã nhiều phen trở thành “nạn nhân”. “Mới đến nhà giam phải nộp tiền – Lệ thường ít nhất năm mươi nguyên” (“Tiền vào nhà giam”), ” Vào lao phải nộp khoan tiền đèn – Tiền Quảng Tây vừa đúng sáu nguyên” (“Tiền đèn”).
    Bình diện không gian xã hội trong bài thơ “Lai Tân” được mở rộng ở bức chân dung thứ ba:
    “Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”.
    “Thiêu đăng” là chong đèn, “biện công sự” nghĩa là làm việc công. Câu thơ dịch đã đảo việc công thành công việc. Những năm 60, nhiều bài viết về “Ngục trung nhật kí” đều cho rằng tên Huyện trưởng này chong đèn đêm đêm hút thuốc phiện, từ đó nhấn mạnh giá trị tố cáo hiện thực xấu xa, thôi nát của chính quyền Tưởng Giới Thạch. Sự thật không phải như thế, chính Hồ Chủ tịch đã lấy mực đỏ gạch bỏ ba chữ “hút thuốc phiện” trong bức thư của nhóm dịch giả gửi hỏi ý kiến Người.
    Trong xã hội cũ, bọn quan lại tự cho mình là “phụ mẫu” của dân, là “đèn trời soi xét”. Trong câu thơ chữ Hán có một chữ “đăng” rất đặc biệt:
    “Huyện trưởng thiêu đăng biện công sự”.
    Không phải là ngọn đèn công lí tỏa sáng vầng trán Huyện trưởng, một vị quan to mặt lớn quang minh chính đại? Ông ta có vẻ “mẫn cán” lắm, lo công việc quan suốt ngày chưa đủ, đêm đêm còn chong đèn làm việc công? Nhưng đâu phải thế, ông huyện trưởng Lai Tân là một kẻ rất quan liêu! Chuyện đánh bạc của Ban trưởng, chuyện ăn tiền phạm nhân bị giải của cảnh trưởng sờ sờ ra đó, sao ông ta không hay, sao ông ta không biết? Hay ông Huyện trưởng Lai Tân này là “cái ô” để bao che bọn thuộc hạ làm bậy “kiếm ăn quanh”!. Ba bức chân dung biếm họa song hành, cùng nối tiếp xuất hiện, mang một ý nghĩa thẩm mĩ đặc sắc, nó cho thấy một hệ thống quan lại Lai Tân là thế! Bộ máy quan liêu của chính quyền Quảng Tây thuở ấy là thế!
    Trước những “gương mặt” ấy, thái độ nhà thơ như thế nào?
    Câu cuối bài thơ, Người viết:
    “Lai Tân y cựu thái bình thiên”
    (Lai Tân vẫn thái bình như xưa).
    Câu thơ toát lên một nụ cười châm biếm nhẹ nhàng mà sâu sắc. Nhà thơ như hỏi một cách bâng quơ: Lai Tân với hệ thống quan lại và chính quyền như vậy, thế mà !‘vẫn thái bình như xưa”. Cách mỉa mai, châm biếm của tác giả “‘Ngục trung nhật kí” là thế! Tính “hướng nội” của “Nhật kí trong tù” được thể hiện rất rõ về mặt đặc điểm thể loại, nó vừa là nhật kí lại vừa là thơ, chủ yếu là thơ trữ tình, tác giả viết cho mình, để mà suy ngẫm, để mà chiêm nghiệm, “Vừa ngẫm vừa đợi đến ngày tự do”. Vì thế, bài thơ “Lai Tân” tuy có nêu ra ba chân dung về Ban trưởng, Cảnh trưởng, Huyện trưởng tiêu biểu cho cái xấu xa, đồi bại của bọn quan lại chính quyền Tưởng Giới Thạch thuở ấy, nhưng chỉ là để mỉa mai, châm biếm cái nghịch lí, nghịch cảnh mà nhà thơ đã và đang phải đối diện và cam chịu.
    Đọc “Ngục trung nhật kí”, ta bắt gặp một số “quan chức” nhân hậu, đáng yêu. Là Sở trưởng Long An họ Lưu “Ai ai cũng bảo bác công bình”. Là Tiên sinh họ Quách “ân cần đối đãi ta”. Là Trưởng ban họ Mạc “chẳng dùng quyền thế, chỉ dùng ân”. Khoa viên họ Trần thì “nho nhã”, Chủ nhiệm họ Hầu thì “anh minh”… Cách nhìn của nhà thơ rất nhân hậu, trọng thị và công bằng, giữa cái xấu xa vẫn tìm thây cái tốt đẹp, cái tình người mà trân trọng. Chính nhờ những con người này, tấm lòng này, mà ta hiểu thêm cảm hứng chủ đạo bài thơ “Lai Tân”: một nụ cười châm biếm tỏa rộng. Sau 3 chân dung biếm họa là một nhận xét trào lộng thâm trầm, sâu sắc. Nụ cười châm biếm trong bài thơ “Lai Tân” là nụ cười của một nhân cách văn hoá lớn: giàu trí tuệ và đạo đức cao đẹp.
    Trong bài “Một tiếng nói hướng nội: Thế giới nhà tù và con người kiên nghị – trữ tình của tác giả “, Trần Thị Băng Thanh và Nguyễn Huệ Chi có viết:
    “Có khi điều trái ngược đã vượt ra khỏi khung cảnh một nhà tù, trở thành tính chất tiêu biểu cho cả xã hội Trung Hoa thời ấy (mà thật ra cũng chẳng riêng gì cho Trung Hoa và cho thời ấy): quan trên trì trệ, vô trách nhiệm, cấp dưới chỉ lo xoay xở kiếm ăn, mặc cho mọi tệ nạn cứ tự do hoành hành:
    “Ban trưởng nhà lao chuyên đánh bạc,
    Giải người Cảnh trưởng kiếm ăn quanh,
    Chong đèn, Huvện trưởng bàn công việc,
    Trời đất Lai Tân vẫn thái bĩnh”.
    (Lai Tân)

    Tất cả những việc kì cục bày ra trước mắt như thế có ý nghĩa gì?Phải chăng đây không là một sự “lưỡng phân” tiếp tục trong nhận thức của nhà thơ: ngay khi đã phải “nhập thân” vào thực tại như một hiện hữu không thể chối bỏ, ông vẫn lần lượt đi tìm ý nghĩa của cái thực và cái giả ở từng khía cạnh khác nhau và trong các hình thức tồn tại khác nhau hiển nhiên của nó, có khi điều rút ra là một nụ cười buồn…”.

  • Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Từ ấy (Tố Hữu)

    [toc]

    Top 3 bài phân tích, cảm nhận bài thơ Lai tân của Hồ Chí Minh hay nhất
    Phần Lai tân (Hồ Chí Minh) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: phân tích, bình giảng, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Bình giảng bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh
    2. 2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lai Tân của Hồ Chí Minh

  • Ý nghĩa các từ chỉ số lượng nhiều trong Từ ấy

    Ý nghĩa các từ chỉ số lượng nhiều trong Từ ấy

    Ý nghĩa các từ chỉ số lượng nhiều trong Từ ấy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Hoàn cảnh và tâm trạng của Tố Hữu khí viết bài thơ Từ ấy

    [toc]

    Đề bài: Trong bài thơ Từ ấy xuất hiện một loạt từ chỉ số lượng nhiều: mọi người, trăm nơi, bao hồn khổ, khối đời, vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ… Việc dùng từ như thế có thể nói lên điều gì?

    Bài văn mẫu

    Sự xuất hiện hàng loạt những từ chỉ số lượng nhiều: mọi người, trăm nơi, bao hồn khổ, khối đời (khối người đông đảo trong cõi đời), vạn nhà, vạn kiếp phôi pha, vạn đầu em nhỏ,… đều có một ý nghĩa chung – đó là quần chúng nhân dân, là cộng đồng dân tộc. Trong sự đối ứng của cái “tôi” (xuất hiện sáu lần trong bài thơ), đấy là cái “ta”. Nhờ ánh sáng lí tưởng cách mạng soi rọi, Tố Hữu đã đi từ cái “tôi” đến cái “ta” gắn bó cuộc sống cá nhân mình với vận mệnh chung của dân tộc, hòa cuộc đời riêng của mình vào cuộc đời chung của mọi người, thấy sức mạnh của bản thân được nhân lên trong sức mạnh cộng đồng.