Category: Tài Liệu Lớp 11

  • Cảm nhận về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Cảm nhận về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Cảm nhận về bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    [toc]

    Đề bài: Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Bính (1918 -1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính (có thời kì lấy tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở làng Thiện Vịnh xã Đông Hội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, sớm mồ côi mẹ, năm 10 tuổi phải theo anh lên Hà Nội kiếm sống. Nguyễn Bính làm thơ khi mới 13 tuổi và sớm thể hiện tài năng sáng tác của mình. Năm 1943, ông vào Nam Bộ rồi ở lại tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc và tiếp tục tham gia công tác báo chí văn nghệ.

    Trong khi phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về với hồn thơ dân tộc và hấp dẫn người đọc bằng chính hồn thơ này. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bính đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương, đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha. Vì thế, Nguyễn Bính được coi là thi sĩ đồng quê và có nhiều tác phẩm được truyền tụng rộng khắp.
    Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Bính trước Cách mạng: Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941) Mười hai bến nước (1942), Cây đàn tì bà (truyện thơ -1944); sau cách mạng có: Ông lão mài gươm (1847), Gửi người vợ miền Nam (1955), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ — 1958), Đêm sao sáng (1962), Cô Son (chèo – 1961), Người lái dò sông Vị (chèo – 1962)…

  • Phân tích Cảnh đám ma gương mẫu

    Phân tích Cảnh đám ma gương mẫu

    Phân tích Cảnh đám ma gương mẫu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Ý nghĩa cách đặt nhan đề tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Cảnh đám ma gương mẫu qua ngòi bút châm biến của tác giả.

    Bài văn mẫu

    Cảnh đám ma gương mẫu qua ngòi bút châm biếm của tác giả:

    Bằng nghệ thuật châm biếm sắc sảo, qua những chỉ tiết chọn lọc, hình ảnh đám tang lộ rõ sự đua đòi của lôi sống văn minh rởm đời. Đám ma được dựng lên hết sức to tát, long trọng có thể nói ở Hà Thành trước đây chưa từng có. Một đám ma được tiến hành theo cả lối Ta, lối Tàu, lối Tây… có đầy đủ những lớp người thượng lưu ăn mặc đẹp đẽ, sang trọng.


    Thực chất núp sau sự to tát, danh giá, long trọng ấy là những sự phô trương giả dối, sự rởm đời lố lăng, thể hiện tâm lí háo danh, háo thắng… của một lớp người trong xã hội thượng lưu lúc bấy giờ. Điều này được thể hiện qua những chi tiết đưa tang thật hổ lốn đến buồn cười; khiến tác giả phải đưa ra một câu văn nhận xét thể hiện sự trào lộng, mỉa mai đến cực độ: thật là một đám ma to tát có thể làm cho người nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…!

    Ngoài các yếu tố gây mâu thuẫn để thể hiện chất trào phúng, tác giả còn sử dụng biện pháp phóng đại. Nhân vật được phóng đại với những hình dáng thật lố bịch, dị hợm. Chân dung của bọn người mang danh thượng lưu, văn minh được khắc họa mỗi người một nét, tất cả đều hiện hình thật sống động, nhốn nháo: những ông bạn của cụ cố Hồng – đại diện cho những vị tai to mặt lớn của xã hội thượng lưu dự tang để được khoe huân chương, khoe râu… và thật lố bịch, vô sỉ biết bao khi cứ nhìn chằm chằm vào làn da trắng thập thò sau làn voan mỏng trên cánh tay và ngực cửa cô Tuyết; hàng trăm nam thanh nữ tú ăn mặc mô đen, hợp thời đang cố ý tỏ ra buồn rầu nhưng chỉ ít phút sau nghe thấy họ cười tình với nhau, hẹn hò, nói chuyện ghen tuông, bình luận về những câu chuyện nhảm nhí…Tất cả đều biểu lộ mọi góc cạnh của cái tính vô văn hóa, vô đạo đức của bọn người cặn bã trong xã hội tư sản thành thị lúc bấy giờ.

  • Ý nghĩa cách đặt nhan đề tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

    Ý nghĩa cách đặt nhan đề tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

    Ý nghĩa cách đặt nhan đề tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Tóm tắt Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Phân tích Ý nghĩa nghệ thuật cách đặt nhan đề Hạnh phúc của một tang gia (Trích Số đỏ – Vũ Trọng Phụng).

    Bài văn mẫu

    Nhan đề này do chính tác giả Vũ Trọng Phụng đặt cho đoạn trích. Đây là một nhan đề đầy ý vị và trào phúng báo trước những mâu thuẫn trào phúng của vở kịch sắp diễn ra ở nhà cụ cố Hồng.

    + Lẽ ra, cái chết của cụ cố tổ phải gây đau đớn; đằng này mọi người lại lấy làm vui mừng.

    + Kẻ gián tiếp gây ra cái chết được biết ơn, đền ơn một cách xứng đáng.

    + Không khí chuẩn bị buổi lễ tang náo nức, phấn khởi như ngày hội. Ai cũng mong đợi đến giây phút này để quảng cáo, thực hiện những toan tính của mình.

    Hai từ tang gia và hạnh phúc vốn đối chọi nhau chan chát, thế nhưng ở đây được đặt trong mối quan hệ thống nhất. Nêu lên sự trái khoáy này, tác giả Vũ Trọng Phụng chỉ rõ cho người đọc tính chất phi lí, nực cười của xã hội đương thời.

  • Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    [toc]

    Đề bài: Giới thiệu một vài nét về tác giả Nguyễn Bính

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Bính (1918 -1966) tên khai sinh là Nguyễn Trọng Bính (có thời kì lấy tên Nguyễn Bính Thuyết), quê ở làng Thiện Vịnh xã Đông Hội (nay là xã Cộng Hòa), huyện Vụ Bản, tỉnh Nam Định. Nguyễn Bính xuất thân trong một gia đình nhà nho nghèo, sớm mồ côi mẹ, năm 10 tuổi phải theo anh lên Hà Nội kiếm sống. Nguyễn Bính làm thơ khi mới 13 tuổi và sớm thể hiện tài năng sáng tác của mình. Năm 1943, ông vào Nam Bộ rồi ở lại tham gia kháng chiến chống Pháp. Năm 1954 ông tập kết ra Bắc và tiếp tục tham gia công tác báo chí văn nghệ.

    Trong khi phần lớn các thi sĩ cùng thời chịu ảnh hưởng của thơ phương Tây thì Nguyễn Bính lại tìm về với hồn thơ dân tộc và hấp dẫn người đọc bằng chính hồn thơ này. Bằng lối ví von mộc mạc mà duyên dáng mang phong vị dân gian, thơ Nguyễn Bính đem đến cho người đọc những hình ảnh thân thương của quê hương, đất nước và tình người đằm thắm, thiết tha. Vì thế, Nguyễn Bính được coi là thi sĩ đồng quê và có nhiều tác phẩm được truyền tụng rộng khắp.
    Những tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Bính trước Cách mạng: Tâm hồn tôi (1937), Lỡ bước sang ngang (1940), Hương cố nhân (1941) Mười hai bến nước (1942), Cây đàn tì bà (truyện thơ -1944); sau cách mạng có: Ông lão mài gươm (1847), Gửi người vợ miền Nam (1955), Tiếng trống đêm xuân (truyện thơ — 1958), Đêm sao sáng (1962), Cô Son (chèo – 1961), Người lái dò sông Vị (chèo – 1962)…

  • Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng 4 câu cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    [toc]

    Đề bài: : Bình giảng 4 câu cuối bài thơ “Tương tư” của thi sĩ Nguyễn Bính
    “Nhà em có một giàn giầu
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”

    Bài văn mẫu

    Đó là thơ Nguyễn Bính. Nhà thơ tự học mà thành tài. Hoài Thanh, trong “Thi nhân Việt Nam” cho biết, Nguyễn Bính vào tuổi 20 đã làm gần một ngàn bài thơ. Nguyễn Bính sử dụng nhiều loại thơ, điệu thơ, nhưng thành công nhất là thơ lục bát ở những bài thơ ấy, “ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta”, ta cảm thấy một điều đáng quý báu vô ngần, đó là “hồn xưa của đất nước”.

    Những bài thơ tình của Nguyễn Bính có một giọng điệu riêng, đẹp như ca dao, mang tính cách ca dao… Nhiều câu thơ đoạn thơ cứ thấm vào hồn ta mãi:
    “Nhà em có một giàn giầu
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”
    Đoạn thơ trên đây trích trong bài thơ “Tương tư”, rút trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” (1940) của thi sĩ Nguyễn Bính. Bài thơ gồm 20 câu lục bát; 16 câu đầu nói về nỗi buồn nhớ tương tư, trách móc tủi hờn: “Có xa xôi mấy mà tinh xa xôi?”… Bốn câu cuối nói lên niềm mong ước của chàng trai đa tình về một tình yêu hạnh phúc với một thiếu nữ khác thôn chung làng.
    Cấu trúc song hành đối xứng, bốn câu thơ liên kết thành hai cặp, gắn bó với nhau rất hồn nhiên, tự nhiên như duyên trời đã định giữa nhà em và nhà tôi, giữa em và anh, giữa thôn Đoài với thôn Đông, giữa cau với giầu vậy. Giọng thơ thì thầm ngọt ngào như một lời cầu mong, ao ước khao khát. Từ chỗ gọi “nàng”: “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” đã chuyển thành tiếng “em” gần gũi, thân thiết yêu thương: “Nhà em có một giàn giầu …” Cách xưng hô từ “tôi” – “nàng” dẫn đến “em” — “anh” thân thiết hơn, phong tình và yêu thương hơn.
    Giầu (trầu) với cau đã cố kết bền đẹp từ ngàn xưa, nên bây giờ mói có sự tương giao tương hợp như một thiên duyên đẹp kì lạ:
    “Nhà em có một giàn cau
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng”
    Điệp ngữ “nhà … có một” làm cho ý thơ vang lên khẳng định về một sự sóng đôi tồn tại. Tuy rằng “hai thôn chung lại một làng” chẳng xa xôi mấy, nhưng “giàn giầu” nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và nhà anh mới chỉ “có một” chưa chưa có đôi. Chữ một trong 2 câu thơ rất ý vị, nó đã nói lên ước mong về hạnh phúc lứa đôi duyên giầu – cau cũng là duyên lứa đôi bền chặt, sắt son, thủy chung.
    Trong bài “Tương tư”, Nguyễn Bính sử dụng nhiều câu hỏi tu từ để diễn tả nỗi buồn tương tư “gỡ mãi chẳng ra”
    – Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
    – Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
    – Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
    – Bao giờ bến mới gặp đò?
    Và khép lai bài thơ, chàng trai tự hỏi mình trong mơ ước và hi vọng:
    “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài, nhớ giầu không thôn nào?”
    Cả một thời thương nhớ, đâu chỉ tôi nhớ nàng, anh nhớ em, mà còn có “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”. Cảnh vật cũng dan díu nhớ mong: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?” Một lối nói bỏ lửng, rất tế nhị, duyên dáng, đậm đà. Anh tự hỏi mình, và cùng thổ lộ cùng em. Câu hỏi tu từ với cấu trúc bỏ lửng đã thể hiện một tình yêu chân thành về một mơ ước hạnh phúc tốt đẹp. Ước mơ ấy thật nhân văn.

    Đoạn thơ cho thấy vẻ đẹp riêng trong thơ tình của Nguyễn Bính. Tác giả vận dụng sáng tạo chất liệu văn học dân gian như giầu – cau, thôn Đoài – thôn Đông, câu thơ lục bát giàu vần điệu nhạc điệu để nói lên nỗi khao khát tình yêu hạnh phúc của lứa đôi. Một tình yêu đằm thắm, chân quê. “Tương tư” thấm vào nỗi buồn, nhưng đoạn kết đã mở ra một chân trời hi vọng.

  • Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng khổ cuối bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Lai tân (Hồ Chí Minh)

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng khổ cuối bài “Tương tư” của Nguyễn Bính
    “Nhà em có một giàn giầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.

    Bài văn mẫu

    “Nắng mưa là bệnh của giời – Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng”… Đó là thơ Nguyễn Bính. Nhà thơ tự học mà thành tài. Hoài Thanh, trong “Thi nhân Việt Nam” cho biết, Nguyễn Bính vào tuổi hai mươi đã làm gần một nghìn bài thơ. Nguyễn Bính sử dụng nhiều thể thơ, điệu thơ, nhưng thành công nhất là thơ lục bát. Ở những bài thơ ấy, “ta bỗng thấy vườn cau bụi chuối là hoàn cảnh tự nhiên của ta”, ta cảm thấy một điều đáng quý báu vô ngần, đó là “hồn xưa của đất nước”.

    Những bài thơ tình của Nguyễn Bính có một giọng điệu riêng, đẹp như ca dao, mang tính cách ca dao… Nhiều câu thơ đoạn thơ cứ thấm vào hồn ta mãi:
    “Nhà em có một giàn giầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.”
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”.
    Đoạn thơ trên đây trích trong bài thơ “Tương tư”, rút trong tập thơ “Lỡ bước sang ngang” (1940) của thi sĩ Nguyễn Bính. Bài thơ gồm có 20 câu lục bát; 16 câu đầu nói về nỗi buồn nhớ tương tư, trách móc tủi hờn: “Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?”… Bốn câu cuối nói lên niềm mong ước của chàng trai đa tình về một tình yêu hạnh phúc với một thiếu nữ khác thôn chung làng.
    Cấu trúc song hành đối xứng, bốn câu thơ liên kết thành hai cặp, gắn bó với nhau rất hồn nhiên,tự nhiên như duyên trời đã định giữa nhà em và nhà anh, giữa em và anh, giữa thôn Đoài với thôn Đông, giữa cau với giầu vậy. Giọng thơ thì thầm ngọt ngào như một lời cầu mong, ước ao khao khát. Từ chỗ gọi “nàng”: “Tương tư là bệnh của tôi yêu nàng” đã chuyển thành một tiếng “em” gần gũi, thân thiết yêu thương: “Nhà em có một giàn giầu..”. Cách xưng hô từ “tôi” – “nàng” dẫn đến “em” – “anh” thân thiết hơn, phong tình và yêu thương hơn.
    Giầu với cau đã có kết bền đẹp từ ngàn xưa, nên bây giờ mới có sự tương giao tương hợp như một thiên duyên đẹp kì lạ:
    “Nhà em có một giàn giầu,
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng.”
    Điệp ngữ “nhà… có một” làm cho ý thơ vang lên khẳng định về một sự sóng đôi tồn tại. Tuy rằng “hai thôn chung lại một làng”, chẳng xa xôi mấy, nhưng “giàn giầu” nhà em và “hàng cau liên phòng” của nhà anh vẫn còn ở về hai phía không gian. Nhà em và nhà anh mới chỉ “có một” chứ chưa có đôi. Chữ một trong hai câu thơ rất ý vị, nó đã nói lên ước mong vể hạnh phúc lứa đôi: duyên giầu – cau cũng là duyên lứa đôi bền chặt, sắt son, thủy chung.
    Trong bài “Tương tư”, Nguyễn Bính sử dụng nhiều câu hỏi tu từ để diễn tả nỗi buồn tương tư “gỡ mãi chẳng ra”:
    – Cớ sao bên ấy chẳng sang bên này?
    – Có xa xôi mấy mà tình xa xôi?
    – Biết cho ai, hỏi ai người biết cho?
    – Bao giờ bến mới gặp đò?
    Và khép lại bài thơ, chàng trai tự hỏi mình trong mơ ước và hi vọng:
    “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông,
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”
    Cả một trời thương nhớ, đâu chỉ tôi nhớ nàng, anh nhớ em, mà còn có “Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông”. Cảnh vật cũng dan díu nhớ mong: “Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?”. Một lối nói bỏ lửng, rất tế nhị, duyên dáng, đậm đà. Anh tự hỏi mình, và cũng là thổ lộ cùng em. Câu hỏi tu từ với cấu trúc bỏ lửng đã thể hiện một tình yêu chân thành về một ước mơ hạnh phúc tốt đẹp. Ước mơ ấy thật nhân văn.

    Đoạn thơ cho thấy vẻ đẹp riêng trong thơ tình của Nguyễn Bính. Tác giả đã vận dụng sáng tạo các chất liệu văn học dân gian như giầu – cau, thôn Đoài — thôn Đông, câu thơ lục bát giàu ỵần điệu nhạc điệu để nói lên nỗi khát khao tình yêu hạnh phúc của lứa đôi. Một tình yêu đằm thắm, chân quê. “Tương tư” thấm một nỗi buồn, nhưng đoạn kết đã mở ra một chân tời hi vọng…

  • Tóm tắt Hạnh phúc của một tang gia

    Tóm tắt Hạnh phúc của một tang gia

    Tóm tắt Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Tóm tắt “Hạnh phúc của một tang gia”

    Bài văn mẫu

    Sau ba ngày ngác ngoải, Cụ cố tổ hơn 80 tuổi chết thật. Cụ cố Hổng, vợ chổng Vân Minh, ông phán mọc sừng cậu tú Tán, cổ Tuyết… cái bọn con cháu đều vổ cùng sung sướng. Ngươi chết được quan trên khám qua loa đã được khâm liệm, gần một ngày rồi mà chưa phát phục. Sau khi cụ bà đi thu xếp việc cưới chạy tang cho Tuyết không đi đến đâu, Văn Minh hứa sẽ tìm cách cho Tuyết lấy chồng một cách danh giá, thì cụ cố Hồng mới chịu cho phát phục. Bầy con cháu tưng bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma.
    Bảy giờ sáng hôm sau thì cất đám. Có hai tên cảnh sát Min Đơ, Min Toa được thuê giữ trật tự. Tuyết mặc bộ đồ Ngây thơ đi mời trầu. Đám ma tổ chức theo cả lối Ta, lối Tàu, lối Tây . Có kiệu bát cống, có lợn quay đi lọng, có đến ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa ma. Có lốc bốc xoảng, bu dich và nhiều vòng hoa. Khi đám ma đi được bốn phố, khi vợ chồng Typn, bà Phó Đoan và mấy người nữa đang lào xào phê bình thái độ của Xuân thì bỗng có sáu chiếc xe, trên xe có Xuân Tóc Đỏ và có sư chùa Bà Banh xuất hiện, xe nào cũng che hai lọng. Hai vòng hoa đồ sộ, một của báo Gõ Mõ, một của Xuân len vào hàng đầu. Cậu tú Tân vội bấm máy. Cụ bà chạy lên, vô cùng sung sướng vì ông Xuân đôc tờ đã không giận mà lại giúp đáp phúng viếng đến thế, và đám ma như thế đã là danh giá nhất tất cả. Bọn quan khách, những nam thanh nữ tú thì cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau…
    Lúc hạ huyệt, cậu tú Tân bắt bẻ từng người một để chụp ảnh. Ông Phán mọc sừng khóc to, “Hứt!Hứt!Hứt!”, rồi bí mật giúi vào tay Xuân Tóc Đỏ cái tờ giấy bạc 5 đồng gấp tư… Xuân Tóc Đỏ nắm tay lại cho mọi người khỏi nom thấy chuyên ấy.

  • Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Bình giảng bài thơ Tương tư của Nguyễn Bính

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tương tư

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng bài thơ Tương Tư của Nguyễn Bính

    Bài văn mẫu

    Tương tư là một trong những bài thơ tiêu biểu cho tâm hồn và phong cách nghệ thuật của Nguyễn Bính. Bài thơ viết về đề tài khá quen thuộc trong đời sống và văn chương: sự tương tư, tức một trạng thái tình cảm nam nữ khi yêu nhau, hoặc phải xa cách, hoặc không được đáp lại. Nhà thơ lại sáng tác bằng thể thơ cũng rất quen thuộc — lục bát.

    Song, để bài thơ có thể sống dài lâu trong lòng bạn đọc không phải là chuyện dễ. Tương tư của Nguyễn Bính vừa có vẻ thân quen như một làn điệu dân ca khiến bao người thuộc lòng. Thậm chí trở thành một bài hát ru em, vừa mang tâm tình mới của thanh niên thời bấy giờ. Nói cách khác, Tương tư cũng như rất nhiều bài thơ khác của Nguyễn Bính trước năm 1945, đậm đà chất dân tộc, trong điệu tâm hồn, cả trong lối diễn đạt, nhưng lại là tiếng thơ của một thời đại mới. Vì thế, khi bình giảng cần biết rằng Tương tư là nỗi nhớ, là tâm trạng của một chàng trai đối với một cô gái. Cô gái ấy vô tình, hay hữu ấy không biết nỗi lòng ấy. Tình cảm của chàng trai rất đỗi tha thiết. Tương tư là một thứ bệnh của tình yêu., Chàng trai ấy đang mang bệnh đó. Anh ta buồn, anh ta nhớ, anh ta thao thức và cả trách móc nữa, nhưng là sự trách móc của một người đang yêu nên cũng rất đáng yêu:
    Bảo rằng cách trở đò giang
    Không sang là chẳng đường sang đã đành
    Nhưng đây cách một đầu đình
    Có xa xôi mấy mà tình xa xôi
    Nhà em có một giàn giầu
    Nhà anh có một hàng cau liên phòng
    Thôn Đoài thì nhớ thôn Đông
    Cau thôn Đoài nhớ giầu không thôn nào?
    Khi bình giảng lại lần theo tâm trạng đó. Tuy nhiên, không phải là sự diễn xuôi, kể lại (vì có gì đáng để đâu) mà để thầy từng cung bậc tình cảm trong trái tim chàng trai đang tương tư.
    Tương tư là bài thơ tình yêu, bài thơ diễn tả nỗi tương tư. Thành công của nó ở chỗ bao tâm hồn đã tìm thấy ở đó sự đồng điệu, tiếng thơ. Điều này tưởng chừng bình thường, đơn giản, song thật ra không phải ai cũng làm được. Nhiều bài thơ tuy rất hay, rất nổi tiếng, nhưng người ta nhận ra trước hết đó là nỗi lòng rất đơn chiếc của một người, và nếu có chỉ là tiếng lòng rất người, một bộ phận tương đối hẹp nào đó. Chẳng hạn:
    Ai bảo em là giai nhân
    Cho đời anh sầu khổ
    Ai bảo em ngồi bên cửa sổ
    Cho vướng víu nợ thi nhân.
    (Lưu Trọng Lư – Một mùa đông
    hoặc:
    Chửa biết tên nàng, biết tuổi nàng
    Mà sầu trong dạ đã mang mang
    Tình yêu như bóng trắng hiu quạnh
    Lạnh lẽo đêm trường, giãi gió sương.
    (Lưu Trọng Lư – Một chút tình)

    Thơ Nguyễn Bính, ở Tương tư, cũng như nhiều bài thơ khác, không phải vậy. Rất đông thanh niên, nhất là những người bình thường, thời bây giờ và sau đó nữa, tìm thấy sự đồng điệu ở thơ ông. Có được như vậy, trước hết là do thơ Nguyễn Bính có nhiều hình ảnh quen thuộc của thế giới ruộng đồng, dân dã (ở bài thơ này là bướm, hoa, thôn Đoài, thôn Đông, đình làng, bến đò, hàng cau, giàn trần..) Dường như tiếng nói trong thơ Nguyễn Bính được cất lên từ chính thế giới thân thuộc đó, là một phần của thế giới ấy, chứ không là sự vay mượn. Thành ra lối diễn đạt cũng thế. Nó mang dáng vẻ mộc mạc, chân thành, bình dị (Ngày qua ngày lại qua ngày/ Bao giờ bến mới gọi đò?/ Nhà em có một giàn giầu…) Và dĩ nhiên, đây là hình thức thể hiện của một ai khác, sâu xa hơn, ở thơ Nguyễn Bính, đó chính là chân quê, hồn quê thấm đẫm trong tâm hồn nhà thơ. Chính cái tình, cái hồn ấy làm nên sự quen thuộc, gần gũi và thân thiết của thơ Nguyễn Bính đối với bao người Việt Nam, dù ở bất cứ thời đại nào.

  • Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

    Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

    Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong tác phẩm Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong tác phẩm “Hạnh phúc của một tang gia” của tác giả Vũ Trọng Phụng.

    Bài văn mẫu

    Banlzac đã từng nói “Nhà văn là thư kí trung thành của thời đại”. Đúng vậy một nhà văn chân chính phải phán ảnh được hiện thực xã hội trong tác phẩm của mình và bày tỏ một thái độ căm ghét, phê phán sâu sắc. Vũ Trọng Phụng là một trong những nhà văn như vậy với tuyên ngôn văn học nổi tiếng: “Các ông muốn cuốn tiểu thuyết cứ là tiểu thuyết. Tôi và các nhà văn có cùng chí hướng như tôi, muốn tiểu thuyết là thực sự ở đời”. Tuyên ngôn ấy đã làm nên thành công của “Số đỏ”_cuốn tiểu thuyết viết về xã hội Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX với những thói hư tật xấu, với biết bao trò lố lăng. Tiêu biểu nhất là đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” có giá trị hiện thực sâu sắc một mặt tái hiện, một mặt tố cáo xã hội và ghi lại dấu ấn cá nhân của tác giả.

    Vậy giá trị hiện thực là gì? Đó chính là những sự việc, con người diễn ra trong cuộc sống mà tác giả chứng kiến và được tái hiện lại bởi các chi tiết, yếu tố và các hình tượng nhân vật trong tác phẩm. Tác phẩm văn học có giá trị hiện thực sẽ có sức công phá trước thử thách của thời gian và sống mãi trong lòng độc giả.

    Đầu những năm ba mươi của thế kỉ XX thực dân Pháp thi hành nhiều chính sách cai trị nước ta trên tất cả các lĩnh vực trong đó có văn hóa xã hội với phong trào Âu hóa lừa bịp, trắng trợn. Tác phẩm được ra đời năm 1936 tromg những năm đầu của Mặt trận dân chủ Đông Dương với khí thế sục sôi và chế độ kiểm duyệt sách báo của chính quyền thực dân tạm thời bị bác bỏ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà văn dùng ngòi bút của mình để vạch trần bản chất “khai hóa” giả dối của quân Pháp và lên án những con người Việt Nam mê muội chạy theo những giá trị hư ảo làm mất đi truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

    Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” trong tiểu thuyết “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng mang giá trị hiện thực sâu sắc. Chuyện kể về đám tang xa hoa của người nhà giàu nhiều của nhiều tiền nhưng lại cạn kiệt tình thương yêu đồng loại. Vũ Trọng Phụng đã sử dụng ngòi bút trào phúng sắc sảo để tái hiện bức tranh xã hội lúc bấy giờ. Gia đình của cụ cố Hồng với những biểu hiện của mọi người trong đám tang cụ cố Tổ là một xã hội lố lăng thu nhỏ.

    Trước tiên đó là một xã hội của những con người thiếu tình thương yêu. Tất cả đám con cháu trong gia đình cụ cố Hồng từ người già cho tới người trẻ ai ai cũng mong đến cái ngày cụ Tổ tắt thở và khi thời khắc định mệnh ấy đến họ vô cùng hạnh phúc, sung sướng bởi đó là cơ hội để mỗi người có thể thỏa mãn sở thích, mong muốn của mình. Cụ cố Hồng trong lúc tang gia bối rối vẫn ung dung nằm trên gác với liều thuốc phiện mơ màng nghĩ đến cảnh mình mặc đồ xô gai, vừa ho khạc vừa lụ khụ chống gậy để thiên hạ chỉ trỏ rằng mình đã già, cháu rể Phán mọc sừng vui mừng vì được thêm vài nghìn, Văn Minh sung sướng được chia tài sản, cậu Tú Tân hạnh phúc được trổ tài nhiếp ảnh, cô Tuyết và bà Văn Minh mong ngóng trưng diện bộ đồ tang hở hang…người thân yêu qua đời mà họ không một chút thương tiếc, xót xa.

    Những người đến tham dự đám tang cũng chẳng có một chút lòng xúc động đưa tiễn người quá cố. Từ người trong nhà cho tới những người ngoài gia đình đều rất vui mừng phấn khởi bởi vậy nên mới có “Hạnh phúc của một tang gia”_điều bất thường làm nên tiếng cười trào phúng. Vũ Trọng Phụng đã bóc trần bộ mặt giả dối, trái tim cạn máu thương yêu, đua đòi chạy theo lối sống trưởng giả của những con người mang tiếng là văn minh, hiện đại cải cách xã hội.

    Hiện thực xã hội lúc bấy giờ là xã hội của đồng tiền, danh vọng. Cái chết của cụ Tổ khiến cho cháu nội đích tôn là Văn Minh sung sướng bởi “cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành, chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Hắn ta chỉ đau đáu mong chia tài sản mà cụ cố Tổ để lại khi nhắm mắt xuôi tay. Đám tang ấy là cơ hội hiếm có để cụ cố Hồng_con trai nhớn cụ Tổ được dịp khoe mẽ sự giàu có của gia đình với thiên hạ. Đám tang được tổ chức to như đám hội có đầy đủ kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, lốc bốc xoản, bú-dích, vòng hoa, ba trăm câu đối, vài ba trăm người đi đưa. Một đám ma theo cả lối Ta, Tây, Tàu đủ cả. Nhà văn bình tâm nhận xét “Một đám ma to tát có thể làm cho người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu…”.Giá trị vật chất và những hư ảo đồng tiền mang lại khiến cho con người ta khô cạn đạo đức làm người.

    Ngòi bút trào phúc sắc sảo của Vũ Trọng Phụng đã lên án tố cáo vạch trần bộ mặt xấu xa của tầng lớp tư sản thành thị chỉ chạy theo đồng tiền và danh vọng hão huyền mà đánh mất đi tình yêu thương, xem nhẹ đạo đức, chà đạp lên tình cảm gia đình thiêng liêng đáng trân trọng. Những con người ấy là những kẻ tai to mặt lớn, những người mang tiếng văn minh có tiền có quyền có thế trong xã hội mà lại bất nhân bất nghĩa với người thân yêu. Ống kính của nhà văn thật tinh tế lia thật chậm, quay cận cảnh từng chân tơ kẽ tóc, soi thấu ruột gan tâm can từng nhân vật, lột trần mặt nạ giả dối cho thấy thái độ căm ghét, đả kích, châm biếm sâu cay của nhà văn dành cho những xã hội ấy.

    “Văn học là sự phản ánh hiện thực, nhiệm vụ của văn học là phẩn ánh hiện, vinh dự lớn lao nhất của nhà văn là phản ánh cho được đời sống chiến đấu và sản xuất của nhân dân”. Đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” với giá trị hiện thực sâu sắc đã để lại ấn tượng trong lòng độc giả, thể hiện tài năng trào phúng và nhân cách của một nhà văn chân chính phản ánh được hiện thực xã hội và đời sống trong tác phẩm.

  • Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

    Đề bài: Phân tích giá trị hiện thực và giá trị tố cáo trong đoạn trích Hạnh phúc một tang gia của tác giả Vũ Trọng Phụng.
    Bài văn mẫu

    Vũ Trọng Phụng cây bút hiện thực đặc biệt trong nền văn học Việt Nam hiện đại. Bằng con mắt sắc sảo, sự quan sát tinh tường, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần bộ mặt, bản chất chó đểu của xã hội Âu hóa đương thời. Trong các tác phẩm của ông luôn thấm đẫm giá trị hiện thực và tố cáo. Hạnh phúc một tang gia tuy chỉ là một trích đoạn nhỏ trong cuốn tiểu thuyết Số đỏ nhưng giá trị hiện thực mà nó phản ánh cũng vô cùng to lớn.
    Giá trị hiện thực của một tác phẩm tức là toàn bộ hiện thực cuộc sống được nhà văn nắm bắt và phản ánh trong tác phẩm văn học. Hiện thực đó có thể đồng nhất với thực tế cuộc sống có thể cường điệu hóa nhưng vẫn phải xuất phát từ hiện thực nhằm nêu lên một vấn đề, phản ánh một hiện tượng xấu trong cuộc sống xã hội lúc bấy giờ.

    Trước hết đoạn trích Hạnh phúc một tang gia mang giá trị hiện thực lớn bởi nó đã phản ánh được sự lên ngôi của đồng tiền. Trong văn học Việt Nam, phản ánh sức mạnh, sự tên ngôi của đồng tiên có rất nhiều, có thê kể đến Truyện Kiều của Nguyễn Du :
    Một ngày lạ thói sai nha
    Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
    Hay : Trong tay có sẵn đồng tiền
    Dễ dàng đổi trắng thay đen khó gì

    Như vậy, ngay từ xưa, người ta đã ý thức rất rõ về sức mạnh ghê gớm của đồng tiền, nó có thể mua bán trao đổi con người, mua bán nhân phẩm, lương tâm. Trong đoạn trích này, Vũ Trọng Phụng một lần nữa nhấn mạnh vào sức mạnh khủng khiếp của nó. Cái chết của cụ cố tổ là điều mong mỏi với tất cả mọi người trong gia đình. Nghe thì có vẻ nghịch lí nhưng sự thật lại chính xác như vậy. Khi Xuân Tóc Đỏ gây nên cái chết của cụ cố tổ cả gia đình tri thức, văn minh ấy sung sướng đến cực độ: Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm, bởi bản di chúc trên giấy sắp được đưa vào giai đoạn thực thi, họ sắp được thừa hưởng những món tiền khổng lồ. Ai nấy đều vui mừng, một niềm vui sướng thầm kín: người ta tưng bừng, vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma,… . Đồng tiền đã làm mất đi tình nghĩa, làm tha hóa con người. Cảnh cuối khi hạ huyệt cụ cố tổ, ông Phán mọc sừng đã lén lút đưa cho Xuân Tóc Đỏ tờ năm đồng gấp làm tư và cũng thật nhanh nhẹn, Xuân nắm chặt để không ai trông thấy. Một thương vụ công khai mà bí mật diễn ra vô cùng nhanh chóng vạch trần bộ mặt xấu xa của hiện thực xã hội đương thời.
    Không chỉ vậy, hiện thực được Vũ Trọng Phụng phản ánh trong tác phẩm còn là hiện thực của những con người băng hoại, tha hóa về đạo đức, đó là những kẻ lố lăng, kệch cỡm. Cái chết của một người không hề khiến cho họ cảm thương, xót xa hơn nữa đây lại là cái chết của một người trong gia đình, người ông, người cha của họ. Họ chỉ thấy sung sướng, hạnh phúc cực điểm, niềm vui chung hòa với niềm vui riêng của mỗi cá nhân. Niềm vui chung ấy là cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa. Và niềm vui chung của mỗi thành viên lại càng thể hiện rõ hơn sự bất nhân, đạo đức tha hóa của họ. Đầu tiên phải kể đến là cụ cố Hồng, dù mới ngoài năm mươi tuổi nhưng luôn muốn những người xung quanh gọi là cụ cố, khi bố chết, cụ cố Hồng nằm mơ màng nghĩ đến khoảnh khắc mặc áo xô gai, chống gậy lụ khụ và để cho thiên hạ phải khen rằng con chết lớn đã già thế kia kìa. Là con đẻ, bố chết nhưng không một phút xúc động, một chút xót thương chỉ nghĩ đến sự khoa trương cho bản thân. Ông Văn Minh thì sung sướng vì sắp được chia gia tài, vừa băn khoăn khó xử trước hai cái tội nhỏ, một cái ơn to của Xuân Tóc Đỏ, khuôn mặt đăm chiêu thành ra rất hợp với khuôn mặt nhà có đám tang. Vợ chồng bà Văn Minh và ông TYPN thì hạnh phúc bởi đây chính là cơ hội giúp họ lăng xê những bộ đồ tân thời nhất, mốt nhất của tiệm may Âu hóa, đây chính là cơ hội làm ăn lớn. Kẻ vô sỉ, thiếu nhân cách tiếp theo chính là ông Phán mọc sừng. Bị vợ cắm sừng nhưng hắn ta không lấy làm ê chề, nhục nhã, ngược lại cảm thấy sung sướng khi nghe cụ Hồng nói sẽ chia con gái và rể thêm một vài nghìn đồng coi đó là tiền bồi hoàn danh dự, chính ông ta cũng không ngờ giá trị đôi sừng hươu vô hình trên đầu ông ta mà lại to đến như thế . Với cô Tuyết đây là cơ hội để mặc những bộ đồ ngây thơ, nửa kín nửa hở, và trưng diện bộ mặt buồn lãng mạn rất đúng mốt. Cô buồn vì gia đình có việc mà sao mãi người tình vẫn chưa đến. Niềm hạnh phúc của cậu Tú Tân là được sử dụng cái máy ảnh mà bấy lâu nay không có cơ hội dung đến. Cậu cứ điên hết cả lên, trong ngày hạ huyệt, cậu chỉnh người này, nắn người kia sao cho có những bức hình bi thương đẹp đẽ nhất. Cả gia đình văn minh đó bối rối trong nỗi niềm rất riêng nhưng đó là cái bối rối trong cách diễn làm sao cho thật đạt, thật chuẩn, cái bối rối của sự băng hoại, phi đạo đức.
    Không chỉ những người trong gia đình, thói đạo đức giả, tha hóa về nhân cách còn thể hiện trong những kẻ đi đưa đám tang. Bề ngoài họ buồn rầu, đau đớn mà thực chất là họ gặp gỡ, bàn tán, chim chuột nhau : Con bé nhà ai kháu thế ; Mỏ vàng hay mỏ chì ; Vợ béo thế, chồng gầy thế thì mọc sừng mất,… những câu chuyện chẳng hề liên quan đến tang lễ. Hay như các vị bạn cụ cố Hồng đến dự đám tang xúc động sâu sắc về chiếc ngực trắng lấp ló của cô Tuyết thay vì xúc động cho cái chết của một người đã lìa đời. Tất cả hợp lại một màn đại hài kịch lớn, vạch trần bộ mặt bất nhân, phi đạo đức của những kẻ giả dối, bịp bợm.
    Với việc cảnh khắc họa đám tang và những chân dung hài hước, châm biếm Vũ Trọng Phụng đã phản ánh thực trạng suy thoái về đạo đức của một bộ phận không nhỏ tầng lớp tư sản thượng lưu đương thời đang theo đuổi trào lưu Âu hóa. Qua đó , ông cũng lên án, phê phán và thể hiện sự căm phẫn tột cùng với thói đạo đức giả trong gia đình và xã hội tư sản thành thị bấy giờ.