Category: Tài Liệu Lớp 11

  • Cảm nhận nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia

    Cảm nhận nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia

    Cảm nhận nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận của anh (chị) về nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng qua chương “Hạnh phúc của một tang gia” trong “Số đỏ”

    Bài văn mẫu

    Năm 1939, Vũ Trọng Phụng bước sang tuổi 24. “Ông vua phóng sự đất Bắc” liển cho ra đời năm tác phẩm lừng danh: “Giông tố”, “Số đỏ”, “Làm đĩ”, “Vỡ đê” và “Cơm thầy cơm cô”. Tác phẩm được ông đánh giá vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam từ khi có chữ quốc ngữ.

    Trong đó, “Số đỏ” với nghệ thuật trào phúng bậc thầy, nó được coi là một kiệt tác bất hủ trong văn chương đương thời. Vũ Trọng Phụng đả kích cực kì cay độc cái xã hội trưởng giả tư sản thành thị đang chạy theo lối sống “Âu hoá” văn minh rởm, hết sức đồi bại và lố lăng đương thời. “Số đỏ” chỉ dài độ 200 trang nhưng nhung nhúc những hạng người xấu xa, đê tiện như me Tây, ma cà bông, giới cảnh sát, loại nhà chùa, đám du học, có cả nghệ sĩ, y học, giới báo chí… Vũ Trọng Phụng đã từng tuyên bố: “Riêng tôi, xã hội này, tôi chỉ thấy là khốn nạn, quan tham, lại nhũng, đàn bà hư hỏng, đàn ông dâm bôn, xã hội chó đểu..”.
    Chương XV với cái tiểu nhan đề: “Hạnh phúc của một tang gia” đã đem đến cho người đọc bao thú vị như được mục kích một màn hài kịch trong bộ “Tấn trò đời” của xã hội thực dân phong kiến.

    Nhan đề chương là một nghịch lí đầy ý vị, chua cay. Tang gia là gia đình có tang, ở đây là đại tang tất phải đau thương buồn thảm. Ây vậy mà lại hạnh phúc. Cái gia đình tam đại đồng đường này, khi cụ Tổ hơn 80 tuổi phải chết đã làm cho lũ con cháu “sung sướng lắm!”.
    Vũ Trọng Phụng đã xây dựng thành công một tình huống điển hình để phơi bày những bộ mặt đồi bại trong cái gia đình trưởng giả này, vạch trần những cặn bã, những quái thai của cái xã hội dở ta dở Tây buổi ấy.

    Cha chết, ông chết “bọn con cháu vô tâm cũng sung sướng thoả thích”. Đây là dịp hiếm có để khoe của, khoe giàu, phô cái sang ra cho thiên hạ biết. “Người ta tiừig bừng vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám ma, vân vân..”. Niềm vui tràn ngập: “tang gia ai cũng vui vẻ cả”.

    Người con trai cả – cụ cố Hồng – hút liền một chập 60 điếu thuốc phiện, hả hê lim dim đôi mắt. Bữa nay, cha chết, cụ vui vẻ lắm, nhưng thằng bồi tiêm vẫn còn đếm được 1872 câu gắt: “Biết rồi, khổ lắm, nói mãi!”. Trong cái dư vị êm ái của thuốc phiện, cụ “nhắm nghiền mắt lại để mơ màng” đến cái giờ phút hạnh phúc “hạnh phúc nhất: mặc đồ xô gai, ụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu” để cho thiên hạ phải trầm trồ: “một cái đám ma như thế, một cái gậy như thế,… rồi ngạc nhiên chỉ trỏ:
    “Úi kìa, con giai nhớn đã già đến thế kia kìa..”. Con trai đã “báo hiếu” cha như vậy!

    Đó là một nét biếm hoạ thần tình. Tâm hồn sa đoạ, đạo lí suy đồi đến cùng cực, từ cha đến con.

    Hai đứa cháu nội của cụ Tổ xuất hiên giữa đám tang với bao nét kệch cỡm lố lăng. Văn Minh đi Tây du học 6 – 7 năm mà chẳng có môt “mảnh bằng nào cả” về nước hắn mở hiệu may để cổ vũ cho cái trò “Âu hoá” nhằm “phô ra những bộ phận kín đáo của phái đẹp”. Ông nội chết, đứa cháu quý hoá này nhăm nhăm nghĩ tới chuyên chia gia tài, thích thú ra mặt vì “cái chúc thư kia đã vào thời kì thực hành chứ không còn là lí thuyết viển vông nữa”. Cậu Tú Tân thì mở cờ trong bụng, được dịp trổ tài bấm lách tách “mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng dến”. Lúc đưa tang, cậu lăng xăng chạy lên chạy xuống, cậu dàn cảnh, cậu đạo diễn lúc hạ huyệt bắt bẻ từng người cách “chống gậy”, “gục đầu”, “cong lưng”, “lau mắt”, như thế này, thế nọ để cậu bấm máy. Y “luộm thuộm trong chiếc áo thụng trắng” như một tên hề!
    Vũ Trọng Phụng đã tả đám ma cụ Tổ bằng nhiểu nét hoạt kê, châm biếm sâu cay cái rởm đời của bọn thượng lưu tha hoá. Một đám ma to tát “một đám ma gương mẫu” nhưng chẳng qua là một đám rước xách. Có kiệu bát cống lợn quay đi lọng. Có lốc bốc xoảng và bu dích. Có nhiều vòng hoa, 300 câu đối, vài ba trăm người đi đưa. Đúng là một đám ma tạp pí-lù “theo cả lối Ta, Tàu, Tây”. Bởi thế nên bầy con cháu thì hạnh phúc, còn “người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật gù cái đầu..”.

    Lấy cái phi lí để vạch trần cái lố lăng, đồi bại là một nét vẽ cực kì sắc sảo, độc đáo trong nghệ thuật trào phúng của Vũ Trọng Phụng.

    “Có bao đám khách” quý phái và “sang trọng” đến đưa ma cụ cố Tổ. Phụ nữ chiếm một nửa, là “giai thanh gái lịch”, là bạn của Tuyết và bà Phó Đoan… Họ đến đưa ma là để “cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau..”. Bọn mày râu, bạn của cụ cố Hồng đến đưa tang để khoe mẽ “ngực đầy những huy chương” của “nước mẹ” hay của bọn bù nhìn ban phát cho. Khi tả bộ râu của đám quan khách này, tác giả “Số đỏ” đã sáng tạo nên những chi tiết, những ngôn từ và giọng điệu trào phúng chua cay. Một lối nói nhạo, chế giễu thẩn tình. Trên mép và cằm các ông trưởng giả khoe “tài” khoe “đức” ấy “đếm đủ râu ria, hoặc dài hoặc ngắn, hoặc đen hoặc hung hung, ‘hoặc lún phún hay rầm rậm, loan quân,..”. Người đọc phải bấm bụng mà cười khi đọc đoạn văn tả những bộ râu ấy. Đằng sau bộ râu kia là những mặt người tha hoá vô luân!

    Vũ Trọng Phụng đã dùng thủ pháp “phục bút” khi tả sự xuất hiện của Xuản Tóc Đỏ. Tuyết mặc bộ “Ngây thơ” đi mời trầu và thuốc lá quan khách với “vẻ buồn lãng mạn rất đúng mốt một nhà có đám”. Cô vô cùng sung sướng khi thấy “anh Xuân” đã đến bèn “liếc mắt đưa tình … để tỏ ý cảm ơn”. Xuân Tóc Đỏ đã đến đưa đám một cách sang trọng cực kì, với sáu chiếc xe, với sư chùa Bà Banh, vái sư cụ Tăng Phú, hai vòng hoa lớn… đã làm cho cụ bà sung sướng kêu lên: “Ấy, giá không có món ấy thì là thiếu chưa dược to, may mà ông Xuân đã nghĩ hộ tôi!”. Xuân chẳng giận lại còn đến phúng viếng rất to, làm cho đám ma cụ cố Tổ trở nên “danh giá nhất tất cả”.

    Xuân Tóc Đỏ xuất hiện, ông Phán “mọc sừng” vốn đã nhờ “đôi sừng hươu” ấy mà được bố vợ chia cho thêm vài nghìn đồng bạc, trong lúc khóc thật to: “Hứt !… Hứt!.. Hứt!…” để báo hiếu vẫn không quên giữ chữ “tín” với ân nhân. Ong ta đã “dúi vào tay” Xuân “một cái giấy bạc 5 đồng gấp tư”. Cuộc mua bán hay trả nghĩa diễn ra sòng phẳng và kín đáo quáỉ Xuân và ông Phán “mọc sừng” như một cặp bài trùng, hai diễn viên hài siêu hạng. Chính cảnh này là tột đỉnh của sự trào lộng trong màn hài kịch “dám ma gương mẫu”. Chính ở cảnh này, sự bịp bợm, giả dối và thô bỉ của bọn “thượng lưu”, đã lên tới độ vô liêm sỉ quá ghê tởm. Những con người “chó đểu” trong cái xã hôi “chó đểu” là như thế đó! “thượng lưu” đã lên tới độ vô liêm sỉ quá ghê tởm. Những con ngươi “chó đểu” trong cái xã hội “chó đểu” là như thế đó!

    Tóm lại, qua Chương “Hạnh phúc của một tang gia”, Vũ Trọng Phụng thể hiện xuất sắc tài kể chuyện và nghệ thuật hoạt kê trong miêu tả. Cái tài của tác giả “Sô đỏ” là đã phóng đại những bức chân dung biếm hoạ, những cảnh đời lố lăng theo thủ pháp của nghệ thuật trào phúng làm cho ngưòi ta cười mà thấy được bao sự thật chứa đựng ở trong đó. Chuyện kể đầy kịch tính với bao sự phi lí đến ghê người đã lật tung cái mặt nạ của bọn đạo đức giả!

    Tiếng cười trong “Số đỏ” là tiếng cười châm biếm có giá trị tô cáo và mang ỷ nghĩa xã hội sâu sắc. Đám ma cụ cô Tổ đích thực là một màn hài kịch, diễn viên là bầy con cháu và lũ quan khách, đã phơi bày tất cả cái bản chất lô lăng và đồi bại của cái xã hội nhuốm màu sắc “Âu hoá” kệch cỡm.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng hay nhất

    3 bài văn mẫu Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng hay nhất

    3 bài văn mẫu Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia của Vũ Trọng Phụng hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    [toc]

     

    Đề bài: Phân tích đoạn trích “Hạnh phúc một tang gia” của Vũ Trọng Phụng.

    Bài văn mẫu 1

    Nhắc đến thể loại tiểu thuyết của nền văn học Việt Nam hiện đại ta không quên nhắc đến tác phẩm lừng danh “Số đỏ” làm nên tuổi của nhà Vũ Trọng Phụng. Cuốn tiểu thuyết đã phát huy cao độ tài năng đả kích, châm biếm sắc sảo của tác giả trước những trò lố lăng, bịp bợm của xã hội thực dân phong kiến ở nửa đầu thế kỉ XX. Đặc sắc nhất, ấn tượng nhất là đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia” đã tái hiện một đám tang bất thường của những con người với thái độ và tình cảm bất thường trước linh hồn người đã khuất.

    Điều bất thường đó được thể hiện ngay ở nhan đề của đoạn trích “Hạnh phúc của một tang gia”. Theo như lệ thường gia đình có người mất, vĩnh biệt cõi tạm trở về vĩnh viễn với cõi âm phải đau buồn, thương xót, bi ai nhưng ở đây lại là hạnh phúc. Một hạnh phúc khó diễn tả cho hết, hạnh phúc ấy chảy trong từng mạch máu của mỗi con cháu trong dòng họ từ người lớn đến trẻ nhỏ. Điều ấy đi ngược với giá trị đạo đức, với tình thương của con người.

    Điều bất thường của đám tang được làm nên bởi thái độ của những người thân yêu trong gia đình. “Cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm”, họ coi đây là một cơ hội hiếm có, một thời cơ đã đến để mỗi người có dịp thể hiện ước muốn của bản thân.

    Cụ cố Hồng đứa con lớn của cụ cố Tổ trong lúc tang gia bối rối, ông vẫn ung dung nằm mơ màng nghĩ đến lúc mình được “mặc bộ đồ xô gai, lụ khụ chống gậy, vừa ho khạc vừa khóc mếu, để cho thiên hạ phải chỉ trỏ úi kìa con giai nhớn đã già đến thế kia kìa”. Thật là đứa con đứt ruột đẻ ra, chăm nom nuôi dưỡng nay lại mang tội bất hiếu với bố. Nhưng điều ấy chẳng có gì lạ thường khi mà tất cả mọi người đều như vậy nên nó trở thành bình thường.

    Văn Minh (cháu nội) đã từng du học bên Tây về nước chẳng có lấy một mảnh bằng cấp chỉ chăm chăm vào việc chia tài sản, mong cho tờ di chúc được đi vào thực thi là khi cụ cố Tổ chết nên ông ta vui lắm, mừng lắm. Việc làm ngay đó của ông là mời luật sư đến để chứng kiến cái chết của ông nội cũng là mong di chúc được thực hiện. Trong lúc tang gia vẻ mặt đăm đăm chiêu chiêu, vò đầu rứt tóc của ông thật hợp tình hợp lí nhưng thực chất là đang băn khoăn suy nghĩ không biết nên đối xử như thế nào cho phải vì một cái ơn to, hai cái tội nhỏ của Xuân. Nguyễn Tuân đã nhìn thấu cái tâm can, bụng dạ của con người mang danh có học thức của một nhà cải cách xã hội ấy vậy mà lại vô tâm vô tình chỉ quan tâm đến tiền bạc và danh vọng hão.

    Cậu Tú Tân, cháu nội cụ Tổ hào hào hứng, phấn khởi thật sự vì cậu có dịp để trổ tài nghệ thuật thể hiện mình như một nhiếp ảnh gia chuyên nghiệp bởi có cơ hội sử dụng “mấy cái máy ảnh mà mãi cậu không được dùng đến”. Riêng cháu rể quý Phán mọc sừng thì khấp khởi hạnh phúc vì được bố vợ nói nhỏ vào tai sẽ đền bù cho thêm số tiền vài nghìn đồng bởi chính ông cũng không thể ngờ rằng đôi sừng vô hình trên đầu lại có giá trị đến thế.

    Đám dâu con như bà Văn Minh, cô Tuyết thì “bắt đầu la ó lên rằng phái già chậm chạp”. Họ hồ hộp, mong chờ đến giây phút trình diễn thời trang trong đám tang. “Bà Văn Minh thì sốt cả ruột vì mãi không được mặc bộ đồ xô gai tân thời, cái mũ mẫn trắng viền đen”, cô Tuyết đã trưng diện sẵn bộ quần áo Ngây thơ là “cái áo dài voan mỏng, bên trong có cooc sê trông như hở cả nách và nửa vú – nhưng mà viền đen và đội cái mũ mấn xinh xinh” với nét mặt buồn lãng mạn mang vẻ mặt của người trong gia đình có tang.

    Không khí tang ma thì như ngày hội lớn mọi người mọi nhà sum họp. Đây là chi tiết trào phúng gây cười ra nước mắt trong suốt hoạt cảnh tang gia. Đám tang mà người ta tưng bừng đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thuê xe đám…Tang gia đấy nhưng ai cũng vui vẻ hạnh phúc cả. Một đám tang rất to có đầy đủ kiệu bát cống, lợn quay đi lọng, vài ba trăm câu đối, bức trướng, vòng hoa… có đầy đủ loại người trong xã hội từ cảnh sát cho đến sư sãi, từ thằng hạ lưu giả danh nhà cải cách xã hội cho đến nhà thiết kế thời trang, già trẻ gái trai đủ cả. Họ đến đám tang để phô diễn chiến công và sự giàu sang của mình. Đó là Xuân tóc đỏ_người yêu cô Tuyết, con ma cà bông đội lốt nhà cải cách xuất hiện đem theo hai vòng hoa đồ sộ, sáu chiếc xe kéo sang trọng và một đám sư sãi. Điều này khiến cho cụ cố Hồng rất vui mừng hạnh phúc và cũng biết ơn vô cùng bởi đã góp phần làm cho đám tang càng thêm sang trọng để thể hiện sự giàu có của gia đình. Sự xuất hiện của Xuân càng tô đậm vẻ hợm hĩnh, phô trương, dị hợm của đám ma cụ Tổ lên cao khiến cho người đọc phải bàng hoàng, bỡ ngỡ. Những người bạn của cụ cố đến đưa đám không phải để chia buồn mà cốt để khoe huân chương trên ngực, đám trai thanh gái lịch ở nơi tang tóc mà vẫn có thể làm những trò lố lăng vừa đi đưa đám vừa “cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, hẹn hò nhau…” Đến khi hạ huyệt chôn cất thân xác của người chết để họ về hơi an nghỉ cuối cũng là lúc bi ai, đau xót nhất ấy vậy mà con người ta diễn nó thật lố bịch. Nhà văn đã lia ống kính quay cận cảnh hạ huyệt với từng nét mặt của những con người. Cậu Tú Tân thì bẻ từng người thế nọ, thế kia để tạo dáng chụp ảnh kỉ niệm, những người bạn thì nhảy lên các mộ khác để chụp cho ảnh khỏi giống nhau, cụ cố Hồng vừa ho khạc vừa mếu máo, giả tạo giỏi nhất là Phán khóc hứt hứt oặt người đi mãi không thôi nhưng vẫn không quên dúi vào tay Xuân tờ năm đồng gấp làm tư để giữ chữ tín cho cuộc giao thương. Chỉ một vài chi tiết nhỏ nhưng có giá trị nghệ thuật cao nó càng làm rõ thêm mục đích đến đám tang của những người thân.Vũ Trọng phụng đã vạch trần bộ mặt giả dối của những con người không có tình yêu thương đồng loại thản nhiên, vui vẻ trước cái chết. Theo như nhiều nhà nghiên cứu nhận xét: “Đây là cái bi của người chết, cái hài của xã hội, cái vô phúc của gia đình giàu sang lắm tiền nhiều của nhưng thiếu tình người”.

    Bằng ngòi bút trào phúng tài năng nhà văn Vũ Trọng Phụng đã bóc trần một xã hội nhố nhăng với những thói hư tật xấu làm mất đi sự văn minh, tiến bộ và giá trị đạo đức tốt đẹp của dân tộc. Bút pháp phóng đại mà không như phóng đại, nghệ thuật khắc họa nhân vật với các chi tiết điển hình làm nổi bật lên chân dung đặc điểm của mỗi người, lối viết văn rất sáng tạo và độc đáo làm nên giá trị của đoạn trích để lại nhiều ấn tượng cho độc giả về xã hội thiếu tình người lúc bấy giờ.

    “Trên trang viết Vũ Trọng Phụng sắc sảo bao nhiêu thì trong cuộc đời Vũ Trọng Phụng càng chân thành bấy nhiêu. Con người ấy không giết quá một con muỗi. Nhưng thật kì diệu, văn chương của con người ấy làm cho kẻ trọc phú phải giật mình, kẻ trưởng giả phải cáu kỉnh.”

    Đúng là như vậy con người ấy có những trang viết thật tài tình đã tái hiện lại bức tranh xã hội đang buổi giao thời Đông Tây lố bịch, cảnh đám ma hiện ra như một màn hài kịch, một bức tranh biếm họa vô cùng đã cho người đọc thấy một đám ma to làm cho “người chết nằm trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng, nếu không gật gù cái đầu” tất cả những điều khác thường theo luân lí đạo đức mà lại bình thường trong hoàn cảnh xã hội bấy giờ được sắc nét lại qua ngòi bút của một giọng văn mỉa mai, đả kích sâu sắc làm nên giá trị của tác phẩm.

    Bài văn mẫu 2

    Đất nước hôm nay tươi đẹp, phát triển thay đổi từng giờ, song ta vẫn không thể quên một thời kì đen tối nhất trong lịch sử nước nhà. Thời kì dân tộc ta chìm trong bóng tối chế độ thực dân nửa phong kiến, vô số kẻ khoác lên những “tấm áo” giả dối, lố lăng, đồi bại cùng nhau tạo nên một bức tranh ghép của xã hội thối nát. Với ngòi bút trào phúng bậc thầy, Vũ Trọng Phụng đã đả kích sâu cay cái xã hội tư sản thành thị chạy theo lối sống nhố nhăng, bịp bợm đương thời qua “Số đỏ”. Có ý kiến cho rằng “Số đỏ” của Vũ Trọng Phụng là một “tấn trò đời” của xã hội Việt Nam thời kì thực dân nửa phong kiến. Quả vậy, xã hội được phản ánh và quy mô và thi pháp trong “Số đỏ” tuy chưa thể ngang tầm với “Tấn trò đời” (Balzac) nhưng mức độ phản ánh hiện thực và ảnh hưỏng sâu rộng của tác phẩm với cộng đồng cũng không hề thua kém.
    Honoré de Balzac – được xưng tụng như một “bậc thầy của chủ nghĩa hiện thực” (Engles) đã để lại một công trình ván học đồ sộ: bộ “Tấn trò đời” với 97 tiểu thuyết được sáng tác từ 1829 đến 1850. Tuy chưa được hoàn thành, “Tấn trò đời” vẫn là một bức tranh hiện thực rộng lớn, mô tả những mâu thuẫn gay gắt trong xã hội tư sản Pháp nửa đầu thế kỉ 19. Balzac gọi những cuốn tiểu thuyết của ông là những “bi hài kịch”. Và đây cũng chính là điểm chung khiến ta liên hệ “Số đỏ” của văn xuôi Việt Nam với “Tấn trò đời” của nền văn học cổ điển Pháp.
    “Số đỏ” (1936) là tác phẩm tiêu biểu nhất của Vũ Trọng Phụng và vào loại xuất sắc nhất của văn xuôi Việt Nam hiện đại. Dùng tiếng cười làm vũ khí, “Số đỏ” đã vạch trần thực chất thối nát của các phong trào “Âu hóa”, “thể thao”… được bọn thống trị khuyến khích, phát triển rầm rộ cuối những năm 30. Với một loạt những chân dung biếm họa phong phú, “Số đỏ” giúp ta hình dung cái xã hội thành thị nhố nhăng, đồi bại thời trước. “Hạnh phúc của một tang gia”- một chương tiêu biểu trong “Số đỏ” thông qua cái chết và đám tang của cụ cố tổ, tác giả đã dựng lên một màn hài kịch, nêu bật nhiều mâu thuẫn hài hước đủ các cung bậc. Xuyên suốt chương truyện là một bút pháp trào phúng độc đáo trong việc thể hiện niềm vui sướng hả hê của những thành viên trong đại gia đình cụ cố Hồng trước cái chết cụ cố tổ và những kẻ đưa đám ma như trẩy hội.
    Trong “Lão Hạc”, Nam Cao viết: “Đối với những người ở quanh ta, nếu ta không cố tìm mà hiểu họ thì ta chỉ thấy họ gàn dở, ngu ngốc, bần tiện, xấu xa, bỉ ổi… toàn những cớ để cho ta tàn nhẫn, không bao giờ ta thấy họ là những người đáng thương”. Nếu Nam Cao đến với số phận con người bằng một tấm lòng nhân đạo, nâng đỡ con người khiến chính người đọc cũng ngậm ngùi bên từng trang viết, thì Vũ Trọng Phụng lột trần cái “hạnh phúc” đáng khinh bỉ, lũ con cháu bất hiếu, lố lăng đã khô héo cả những tình cảm máu mủ thiêng liêng nhất.
    “Hạnh phúc của một tang gia”, nhan đề này thực sự mới lạ, giật gân khiến ngươi đọc phải chú ý. Tuy nhiên, đây không phải là một sự giật gân dễ dãi, vô lý mà đă phản ánh đúng cái sự thật mỉa mai: con cháu của đại gia đình này thật sự sung sướng, thậm chí “hạnh phúc” khi cụ tổ chết một cái chếtdđược mong đợi từ lâu. Chứng phấn khởi, những niềm phấn khởi muôn màu, muôn vẻ. Ta không khỏi cười thầm khỉ “cái chết kia đã làm cho nhiều người sung sướng lắm…”, nhưng đó nào có là niềm vui sướng thầm kín, ” tưng bừng, vui vẻ đi đưa giấy cáo phó, gọi phường kèn, thê xe đám ma…”. Đấy chỉ mới là niềm vui chung mà thôi. Vũ Trọng Phụng đã cố tìm mà hiểu cáỉ đại gia đình này qua từng con người. Ta thương hại cho thói hiếu danh, thích được chú ý của cụ cố Hồng, “mơ màng cho đến cái lúc cụ mặc đồ xổ gai, lụ khụ chống gậy…”, thương thay cho một “ước mơ” nhỏ nhoi là tự biến mình thành trò xiếc để “thiên hạ chỉ trỏ khen…”.Rồi ông phán mọc sừng cảm thấy hạnh phúc vì được thêm một sô tiền, ông Văn Minh “thích thú vì cái chúc thư kia sẽ vào thời kì thực hành”, cậu Tú Tân ” sướng điên người vì có dịp thi thố tài năng chụp ảnh”. Vũ Trọng Phụng đã xây dựng nên một màn kịch từ những “mơ ước” thầm kín đến niềm vui sướng dâng trào, toàn cảnh “tang gia” tuyệt nhiên không gợn một chút thương tiếc nào. Phũ phàng hơn “bầy con cháu chỉ nóng ruột đem chôn cho chóng cái xác chết của cụ tổ, ông Văn Minh “thầm biết ơn Xuân Tóc Đỏ vì tình cờ gây ra cái chết kia của cụ già”.
    Balzac từng miêu tả cái chết trong nghèo nàn về cả vật chất lẫn tinh thần cùa lão Gôriô một cách mỉa mai. Song, dù sao chăng nữa “những nghĩa vụ cuối ấy cùng được thực hiện tận tình bởi hai người thanh niên xa lạ. Có thể nói, ma của cụ cố tổ trong “Số đỏ” hoàn toàn tương phản với những gam màu buồn trong “Nghĩa vụ cuối cùng”(Lão Gôriô). Nghệ thuật châm biếm sắc sảo, Vũ Trọng Phụng đã sử dụng những chi tiết chọn lọc nhằm khắc họa thật sắc nét bình ánh cái đám tang lộ rõ lối đua đòi, “văn minh rởm”. Ta không thể nhận ra liệu đây là đám ma hay đám rước bởi cái hổ lốn, tạp nhạp “Ta, Tàu, Tây…”, “lợn quay”, “vòng hoa”, “câu đối”. Bọn con cháu thì không còn lời gì để tả, Tuyết “mặc bộ… Ngây thơ… hở cả nách, nửa vú…” với khuôn mặt mang “một nét buồn lãng mạn rất đúng mốt”. Cậu Tú Tân thì hào hứng “chỉ huy chụp ảnh… như ở hội chợ” những gì gọi là to tát, long trọng, danh giá của cái đám ma ấy chi là sự phô trương giả dối, sự rởm đời lố lăng, thể hiện tâm lý háo danh đến kì quặc qua những hình thức nghi lễ đưa tang hổ lốn hết sức buồn cười. Tác giả đã hạ một câu văn mỉa mai cực độ “thật là một đám ma¬ có thể làm cho người chết trong quan tài cũng phải mỉm cười sung sướng nếu không gật gù cái đầu”.
    Không chỉ sử dụng các yếu tố mâu thuẫn từ những cái bình thường, thậm chí tầm thường để trào phúng: Vũ Trọng Phụng còn xây dựng nên vô số những nhân vật phụ làm nền cho bức tranh biếm họa ít nhiều có nguồn gốc từ chính hiện thực, những nguyên hình trong xã hội dâm loạn, giả dối đương thời. Từ những ông bạn thân của cụ cố Hồng… đeo đầy những huân chương… đến “giai thanh gái lịch” đất Hà thành đang Âu hóa “chim nhau, cười tình với nhau, bình phẩm nhau, chê bai nhau, ghen tuông nhau…” đã biểu lộ mọi góc cảnh của cái tính vô văn hóa, vô đạo đức của bọn cặn bã mang những chiếc mặt nạ bịp bợm. Những hành động của ông Phán mọc sừng đối với Xuân Tóc Đỏ ở cuối đoạn trích là những chi tiết trào phúng đặc biệt chua chát góp phần không nhỏ tô dậm sự lố lăng, vô đạo đức của xã hội thượng lưu thời đó. “Ông Phán cứ oặt người đi, khóc mãi không thôi” nhưng vẫn không quên bí mật “dúi vào tay Xuân một tờ giấy bạc gấp tư”. Những nhà trí thức chân chính của Việt Nam, không ít người đã từng du học Pháp, nhưng họ đã đau vì nỗi đau nô lệ, họ từng đau vì lòng tự ái dân tộc bị tổn thương dưới gót giày xâm lược của quân viễn chinh Pháp và họ bỏ hết những tiện nghi và lợi ích cá nhân để vào chiến khu “theo chân Bác”. Ta hãy nghe một đoạn nhật kí của Giáo sư Hồ Đắc Di (người thầy của Bác sĩ nổi tiếng — Tôn Thất Tùng) “Ai đã từng sống kiếp đọa đày trong đêm trường nô lệ; hay chí ít đã trải qua những nhọc nhằn, day dứt lương tâm, nhân phẩm, ắt sẽ lao theo cơn lốc cách mạng, một khi ánh sáng của nó soi rọi tâm hồn”. Trí thức chân chính Việt Nam cùng nhân daan lao động làm nên cuộc Cách mạng tháng Tám, quét sạch những trò ma mãnh, lọc lừa của thứ văn minh giả dối, bịp bợm và tình trạng số đỏ của xã hội Việt Nam không còn chỗ đứng trong “cơn lốc cách mạng”.
    Từ cách đặt nhan đề chương truyện, đặt tên nhân vật, đồ vật, cách so sánh, cách dùng hình ảnh, đến cách đặt câu, cách tạo giọng điệu., đều thể hiện đậm nét chất trào phúng, châm biếm, mang lại hiệu quả nghệ thuật đáng kể. Sau cái hài buồn cười ấy là cả một bi kịch đáng “buồn”, đó chính là bi kịch của cả xã hội khi mà đạo đức con người xuống cấp, nhân cách băng hoại: sau tiếng cười ta thấm thía xót xa cho xã hội Việt Nam thời ấy. “Số đỏ” thực xứng đáng là một “Tấn trò đời” của xã hội Việt Nam thời kì thực dân nửa phong kiến thối nát. Đọc Số đỏ nói chung, và chỉ cần một chương XV “Hạnh phúc của một tang gia”, ta cũng đã bật cười và rồi xót xa muốn khóc cho những giá trị truyền thống cao đẹp nhất của dân tộc ta đã bị chà đạp đến tan nát làm não lòng tâm hồn Việt. Vũ Trọng Phụng đã đưa chúng ta vào chứng kiến một thế giới “phi nhân loại” mà thế lực đồng tiền và thực dân đã trình làng bằng khẩu hiệu ngụy trang “văn minh- khai hóa”.
    Trước đó không lâu, Trần Tế Xương ũng từng khóc – cười cho xã hội truyền thống Việt Nam điên đảo qua bài thơ “Mồng hai tết viếng cô Kí”. Sau đó, Vũ Trọng Phụng ghi lại như một trang phóng sự, chính xác và sinh động đến không ngờ bằng nòi bút nhưu chảy máu từ một trái tim thắm nồng tình yêu dân tộc. Thông điệp từ trang “Số đỏ” ngày trước nhắc nhở mỗi chúng ta hôm nay một ý thức trách nhiệm với đát nước. Để tình trạng “Số đỏ” sẽ mãi chỉ là “phút lỡ nhịp ngang cung” trong toàn bộ trang sử hào hùng của một dân tộc tự cường và giàu lòng tự trọng.
    Bài văn mẫu 3
    Vũ Trọng Phụng – cây bút hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam. Ông sáng tác trên nhiều mảng như tiểu thuyết, phóng sự, … ở mảng nào ông cũng thể hiện tài năng quan sát bậc thầy của mình về hiện thực xã hội Việt Nam thời kì trước cách mạng. Trong hệ thống tác phẩm đó, nổi bật nhất phải kể đến Số đỏ – thiên tiểu thuyết có thể làm vinh dự cho bất cứ nền văn học nào. Nghệ thuật trào phúng trong tác phẩm đã đạt đến đỉnh cao, đặc biệt là trong trích đoạn “Hạnh phúc một tang gia”.
    “Hạnh phúc một tang gia” được trích từ chương XV khi Xuân Tóc Đỏ làm cụ cố tổ chết. Một đáng tang long trọng, đầy bối rối, “hạnh phúc” của đám con cháu trước cái chết của người thân trong gia đình. Với khung cảnh đám ma, Vũ Trọng Phụng đã lột trần bản chất xấu xa, “chó đểu” của lũ con cháu cũng như xã hội đương thời.
    Ngay từ nhan đề của văn bản đã cho thấy sự mâu thuẫn, trào phúng. Hạnh phúc vốn là trạng thái tâm lí khi con người được thỏa mãn một mong muốn, một nhu cầu nào đó của bản thân. Còn tang gia là khi gia đình đó có người mất, không khí bao trùm sẽ là sự um ám, buồn thương, tang tóc. Khi kết hợp hai yếu tố này lại khiến cho người đọc bất ngờ, ngỡ ngàng về một hạnh phúc quái dị của gia đình cụ cố Hồng.
    Cái chết của cụ cố tổ không những không làm họ đau buồn, mà con đem đến niềm vui vô hạnh, niềm hạnh phúc to lớn cho đám con cháu. Bởi khi cụ cố tổ chết, tất cả đám con cháu sẽ được chia gia tài: “Cái chết kia làm cho nhiều người sung sướng lắm”, “thành ra tang gia ai cũng vui vẻ cả” “người ta tưng bừng đi đưa giấy cáo phó, thuê kèn đám ma”. Một không khí tưng bừng, rộn rã, tươi vui bao trùm lên đám tang, mà người ta cứ ngỡ như nhà có việc hỉ.
    Đấy là niềm vui chung, còn mỗi thành viên trong gia đình lại có niềm vui khác riêng cho mình. Cụ cố Hồng có được cơ hội ngàn năm để diễn trò già nua trước đám đông, để cho thiên hạ chỉ trỏ khen mình là già, để thể hiện gia đình mình có phúc lớn. Đồng thời đây cũng là cơ hội để tỏ lòng hiếu thảo với cha mình, thông qua việc tổ chức đám ma thật to, thật hoành tráng. Còn cụ bà vui mừng vì tổ chức được cho cha một đám ma danh giá nhờ có sự xuất hiện của sư cụ Tăng Phú. Niềm vui của bà Văn Minh thật đơn giản đó là được mặc bộ đồ xô gai tân thời, để giúp bà lăng xê những mẫu thời trang tang lễ của tiệm may Âu hóa. Bà Văn Minh đã gián tiếp thực hiện mục đích biến đám tang thành sàn biểu diễn thời trang. Còn ông Phán mọc sừng không ngờ đôi sừng trên đầu mình lại có giá trị to lớn đến thế, ngoài tiền được chia gia tài còn được chia thêm tiền đền bù danh dự, vậy là kế hoạch đào mỏ của ông đã thành công. Nhưng còn những trẻ tuổi như Tuyết hay cậu Tú Tân lại có niềm vui rất đơn giản: Tuyết có dịp được mặc bộ trang phục tang lễ ngây thơ để chứng minh với thiên hạ mình là người không hư hỏng; còn cậu Tú Tân vui mừng vì có dịp được dùng cái máy ảnh mới mua, được thỏa mãn sở thích chụp ảnh, thể hiện tài nghệ chụp ảnh.
    Không chỉ người trong nhà vui, mà những người ngoài cũng tìm được niềm hạnh phúc trong đám tang cụ cố tổ. Đối với ông TYPN đám tang là dịp để những mẫu thiết kế của ông ra mắt công chúng và ông trông chờ sự phản hồi của dư luận ra sao. Hai viên cảnh sát Min Đơ và Min Toa sung sướng cực điểm vì đang lúc không có việc để làm thì được thuê trông giữ đám ma. Với Xuân Tóc Đỏ đám tang này giúp y củng cố địa vị của mình ở xã hội thượng lưu và được ông Phán mọc sừng thanh toán nốt năm đồng còn lại. Còn hàng phố, những người xung quanh thì vui sướng khi được xem đám tang to tát, linh đình; được xem những màn trình diễn thời trang miễn phí. Tất cả mọi người đều có niềm hạnh phúc riêng. Vũ Trọng Phụng đã dùng ngòi bút châm biếm, đả kích sâu cay của mình để vạch trần bộ mặt thật của xã hội thượng lưu đương thời: vô đạo, không có lương tâm.
    Cảnh đám tang lại là sự pha tạp Tây, Tàu lẫn lộn: tiếng kèn xuân nữ não nùng, tiếng lốc bốc xoảng và bú dích, tiếng Ta, kèn Tây lần lượt thi nhau rộ lên. Đám tang to tát, đi đến đâu làm huyên nào đến đó nhưng không có chút tình người. Người đưa tiễn thì tranh thủ khoe khuân chương, đám trai gái thì trêu ghẹo, đùa cợt với nhau. Điệp khúc “đám cứ đi” điệp đi điệp lại cho thấy đám đông vô tình, vô nghĩa. Tác giả đã một lần nữa vạch trần bộ mặt xã hội thượng lưu thành thị.
    Cảnh hạ huyệt càng trở nên nực cười hơn nữa. Những người thân thì tạo dáng chụp ảnh, cậu Tú Tân ép mọi người tạo đủ tư thế sao cho thật đau khổ để cậu chụp được những bức ảnh để đời. Ông Phán mọc sừng và Xuân Tóc đỏ lại là những diễn viên đại tài, trong khi đóng kịch khóc thương cụ cố tỏ đã kịp tiến hành một cuộc trao đổi, mua bán với Xuân Tóc Đỏ: “ông Phán cứ khóc oặt người đi, mãi không thôi” “chợt thấy ông Phán dúi vào tay nó một cái giấy bạc năm đồng gấp tư” … Cảnh hạ huyệt đã một lần nữa vạch trần bộ mặt giả dối, đểu cáng của lũ con cháu.
    Tác phẩm tạo được tình huống trào phúng đặc sắc, từ cái chết của cụ cố tổ và đám ma to tát lũ con cháu tổ chức đã vạch trần bộ mặt xấu xa của đám con cháu cũng như những kẻ bên ngoài gia đình. Ngôn ngữ, giọng điệu trào phúng đặc sắc: “Thật là một đám ma to tát”, “chết một cách bình tĩnh” “hai cái tội nhỏ một cái ơn to”,… Cách so sánh hài hước: Từ chối việc chạy chữa như những vị danh y biết tự trọng… Sử dụng những chi tiết đối lập gay gắt nhưng cùng tồn tại trong cùng một sự vật, hiện tượng để từ đó làm bật lên tiếng cười. Ngoài ra các thủ pháp cường điệu, nói ngược, những lời bình luận hài hước được vận dụng linh hoạt làm bật tư tưởng, chủ đề của tác phẩm.
    Qua đoạn trích Hạnh phúc một tang gia, Vũ Trọng Phụng đã vạch trần, phê phán bản chất lố lăng, đồi bại của xã hội thượng lưu ở thành thị đương thời thông qua hình ảnh của một gia đình có tang. Réo lên hồi chuông cảnh tỉnh về sự xuống cấp đạo đức của một bộ phận người Việt Nam cả hôm qua và ngày nay. Đồng thời qua trích đoạn cũng thấy được tài năng trào phúng bậc thầy của Vũ Trọng Phụng qua tình huống, ngôn ngữ và giọng điệu châm biếu, trào phúng đặc sắc.

  • 4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

    4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

    4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Chiều tối (Hồ Chí Minh)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ “Từ ấy” của Tố Hữu

    Dàn ý mẫu

    I. MỞ BÀI
    1. Hoàn cảnh ra đời
    Từ ấy là bài thơ có ý nghĩa mở đầu cho con đường cách mạng, con đường thi ca của Tố Hữu, là cái mốc đánh dấu thời điểm (1937) và được kết nạp Đảng năm 1938 – Tố Hữu giác ngộ và gặp ánh sáng lí tưởng cộng sản. Đó cũng chính là tuyên ngôn nghệ thuật của Tố Hữu. Tự nhận định về Từ ấy, anh viết: “Từ ấy: là một tâm hồn trong trẻo của tuổi mười tám, đôi mươi đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống, dám đấu tranh”.
    2. Nội dung
    Tâm nguyện cao đẹp của người thanh niên trẻ trung nhiệt tình cách mạng: Niềm say mê mãnh liệt và vui sướng tràn trề cùng với nhận thức mới về lẽ sống, sự chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn khi gặp gỡ và được giác ngộ lí tưởng cộng sản.
    3. Tứ thơ
    Tứ thơ “Từ ấy” bắt nguồn từ cảm hứng của thời điểm Tô Hữu đón nhận lí tưởng cách mạng.

    II. Thân bài
    1. Khổ 1: Diễn tả niềm vui sướng, say mê khi gặp lí tưởng của Đảng
    – Hai câu đầu viết theo bút pháp tự sự: “Từ ấy trong tôi…” Từ ấy, là lúc nhà thơ mới vào tuổi 18 thật trẻ trung được mặt trời “chân lí” cách mạng soi sáng đường đời. Hình ảnh ẩn dụ “nắng hạ” cho nguồn nhiệt lượng cách mạng làm bùng sáng tâm hồn nhà thơ, “mặt trời chân lí” là một liên kết đầy sáng tạo giữa hình ảnh và ngữ nghĩa. Câu thơ ca ngợi ánh sáng điệu kì của cách mạng. Đó là thứ ánh sáng của tư tường cộng sản – ánh sáng của những công bình xã hội, của chân lí xã hội.
    – Hai câu thơ sau của khổ thơ đầu, chợt vụt thoát bay bổng, dạt dào cảm hứng lãng mạn. Những vang động và vui tươi tràn ngập trong tâm hồn được so sánh bằng những hình ảnh và âm thanh lấy từ thiên nhiên tạo vật: “vườn hoa lá”, “đậm hương” “rộn tiếng chim”.
    – Đón nhận ánh sáng cách mạng là Tố Hữu đã đón nhận một con đường thênh thang tươi sáng cho cuộc đời, cho hồn thơ: một cuộc đời có ý nghĩa thiêng liêng, to lớn, một hồn thơ bát ngát tình yêu cách mạng, yêu đồng bào.
    2. Khổ 2: Biểu hiện những nhận thức về lẽ sông
    – Hai dòng đầu : nhà thơ khẳng định quan niệm mới mẽ về lẽ sống là sự gắn bó hài hòa giữa “cái tôi” cá nhân với “cái ta” chung của mọi người.
    – Động từ “buộc” là một ngoa dụ để thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm sắt đá của Tố Hữu để vượt qua “ranh giới” của “cái tôi” để chan hòa mọi người “Tôi buộc lòng tôi với mọi người”.
    – Từ đó, tâm hồn nhà thơ vươn đến “trăm nơi” (hoán dụ) và “trang trải” sẻ chia bằng những đồng cảm sâu sắc, chân thành và tự nguyện đến với những con người cụ thể.
    – Hai dòng thơ sau bộc lộ tình yêu thương con người bằng tình yêu giai cấp rõ ràng. Nhà thơ đặc biệt quan tâm đến quần chúng lao khổ “Để hồn tôi với bao hồn khổ” và từ đó như một biện chứng mang cái tất yếu là sức mạnh tổng hợp “Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”. Ta cũng gặp điều đó trong thơ Nguyễn Khoa Điềm — nhà thơ trưởng thành trong thời kì chống Mĩ xâm lược: “khi chúng ta cầm tay mọi người – Đất nước vẹn tròn, to lớn”.
    Tóm lại, Tố Hữu đã khẳng định mối liên hệ sâu sắc giữa văn học và đời sống, mà chủ yếu là cuộc sống của quần chúng nhân dân.
    3. Khổ 3: Sự chuyển biến sâu sắc trong tâm hồn nhà thơ
    – Trước khi gặp cách mạng, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Khi ánh sáng cách mạng như “Mặt trời chân lí chói qua tim”, đã giúp nhà thơ vượt qua những tầm thường ích kỉ trong đời sống tâm hồn chật hẹp để vươn đến một tình yêu “vẹn tròn to lớn”.
    – Nhà thơ tự nhận mình “là con của vạn nhà” trong nghĩa đồng bào thiêng liêng nhất; là em của “vạn kiếp phôi pha” gần gũi bằng tình cảm xót thương những kiếp đời lao khổ, bất hạnh, những kiếp sống mòn mỏi, đáng thương; là anh của “vạn đầu em nhỏ” “cù bất cù bơ”. Từ những cảm nhận ấy đã giúp nhà thơ say mê hoạt động cách mạng với những thiết tha cao đẹp công hiến đời mình góp phần giải phóng đất nước, giải phóng những kiếp lầm than trong xã hội tăm tối dưới bóng thù xâm lược.

    III. Kết bài
    – Hồn thơ Tố Hữu chứa chan tình yêu giai cấp và niềm biết ơn sâu sắc cách mạng.
    – Thơ Tố Hữu rõ ràng là thơ trữ tình – chính luận, hướng người đọc đến chân trời tươi sáng.
    – Tiếng nói trong thơ là tiếng nói của một nhà thơ vô sản chân chính.
    – Giọng thơ chân thành, sôi nổi, nồng nàn.
    – Hình ảnh thơ tươi sáng, ngôn ngữ giàu tính dân tộc.

    Bài văn mẫu 1

    Tố Hữu là nhà thơ lớn trong thời đại chúng ta. Với ông, con đường cách mạng cũng là con đường thơ, Năm 1938,, mới 18 tuổi, nhà thơ được vinh dự trở thành người chiến sĩ cộng sản của Đảng. Bài thơ “Từ ấy” vang lên như một tiếng reo vui thể hiện niềm vui sướng tự hào của một thanh niên học sinh yêu nước bắt gặp ánh sáng chủ nghĩa Mác- Lênin.
    Bài thơ được viết theo thể thơ thất ngôn ca ngợi lí tưởng cách mạng và nói lên tình yêu giai cấp của người chiến sĩ trẻ.

    Khổ thơ mở đầu cất lên như một lời hát say mê, nồng nàn. Vần thơ tràn ngập ánh sáng:
    “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
    Mặt trời chân lí chói qua tim
    Hồn tôi là một vườn hoa lá
    Rất đậm hương và rộn tiếng chim”.
    “Từ ấy”, là từ thuở ấy (9-1938), nhà thơ vui sướng, hân hoan chào đón “Mặt trời chân lí chói qua tim”. Giữa những năm tháng nô lệ, lầm than, tủi nhục, người chiến sĩ trẻ cảm thấy được hồi sinh “bừng nắng hạ”. “Mặt trời chân lí” là hình ảnh ẩn dụ rất sáng tạo nói về ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin. Lí tưởng cách mạng, lí tưởng cộng sản chủ nghĩa soi sáng nhận thức, mở mang tâm hồn trí tuệ, làm cho cuộc đời đầy sắc màu ý nghĩa. Lòng “tôi” và con đường cách mạng “bừng nắng hạ” chói chang, ấm áp. Trái tim “tôi” có “Mặt trời chân lí chói qua..”. Ánh sáng chủ nghĩa Mác – Lênin soi rọi vào tâm hồn. Dưới ánh sáng lí tưởng, tâm hổn đẹp biết bao, dào dạt sức sống như một vườn xuân rực rỡ trong muôn sắc màu “hoa lá”, ngào ngạt “đậm hương” và “rộn tiếng chim” hót ca. Ngoài nghệ thuật sáng tạo hình ảnh ẩn dụ, so sánh, Tố Hữu đã chọn lọc một số từ có giá trị gợi tả và biểu cảm đặc sắc (bừng, chói, đậm, rộn) để ca ngợi lí tưởng và tình yêu lí tưởng. Đến với chủ nghĩa Mác – Lênin, nhà thơ xứ Huế có nhiều vần thơ độc đáo, đậm đà:
    “Khi ta đã say mùi hương chân lí
    Đời đắng cay không một chút ngọt bùi
    Đời đau buồn không một tiếng cười vui
    Đời đen tối phải đi tìm ánh sáng…”
    (“Như những con tàu” – 1938)
    Có thể nói, Tố Hữu là nhà thơ viết hay nhất về lí tưởng cách mạng bằng bút pháp lãng mạn tuyệt đẹp.
    Ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lênin thật vô cùng kì diệu. “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” (A-ra-gông – Pháp). Yêu nước mà bắt gặp chủ nghĩa cộng sản. Chủ nghĩa cộng sản đã giác ngộ tình yêu giai cấp. Khổ thơ thứ hai nói lên sự gắn bó giữa nhà thơ, người chiến sĩ trẻ “với mọi người”, “với trăm nơi”, “với bao hồn khổ” với giai cấp và nhân dân lao động nghèo khổ đang bị đế quốc, phong kiên bóc lột, áp bức dã man. Các từ ngữ: “buộc”, “trang trải”, “gần gũi” biểu lộ sự gắn bó thiết tha với thế giới cần lao, với “khối đời” – khối công nông liên minh:
    “Tôi buộc lòng tôi với mọi người
    Để tình trang trải với trăm nơi
    Để hồn tôi với bao hồn khổ
    Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”.
    Người chiến sĩ trẻ, người thanh niên cộng sản trên con đường cách mạng quyết tâm chiến đấu và hi sinh để thực hiện lí tưởng cao cả, đã nhận thức một cách sâu sắc về tình yêu giai cấp: “Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”.
    Hơn bao giờ hết, cái tôi đã chan hoà trong cái ta rộng lớn. Thân thiết và yêu thương, tự giác và tự nguyện, đông đảo và rộng lớn: “là con của vạn nhà”, “là em của vạn kiếp phôi pha”, “là anh của vạn đầu em nhỏ..”. Các từ: “là”, các số từ “vạn” được điệp lại ba lần làm cho lời ước nguyện thiết tha chân thành, thấm thía xúc động:
    “Tôi đã là con của vạn nhà
    Là em của vạn kiếp phôi pha
    Là anh của vạn đầu em nhỏ
    Không áo cơm cù bất cù bơ…”.
    Nhà thơ đã có một cách nói rất truyền cảm về tình yêu giai cấp, tình yêu nhân dân. Trái tim nhân ái cộng sản chủ nghĩa sáng bừng lên dưới “mặt trời chân lí”, dưới ánh sáng của niềm tin, ánh sáng của cách mạng.

    Tố Hữu đã sáng tạo nên những vần thơ giàu hình tượng và nhạc điệu để ca ngợi lí tưởng cách mạng và tình yêu giai cấp, tình yêu nhân dân. Tình cảm cao đẹp ấy được thể hiện một cách chân thành và say mê. “Từ ấy” là tiếng lòng của một hồn thơ đẹp, trẻ trung đã trở thành tiếng hát của hàng triệu con người hướng về Đảng và cách mạng. Đọc “Từ ấy” ta càng cảm thấy một cách sâu sắc lời tâm sự của Tố Hữu: “Lòng tôi vui sướng vô cùng khi cảm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác – Lê nin soi rọi vào tâm hồn tươi trẻ của mình”.

    Bài văn mẫu 2

    Tố Hữu ngọn cờ chiến đấu của thơ ca cách mạng Việt Nam. Tiếng thơ của ông mang đậm chất trữ tình, chính trị. Cả đời thơ Tố Hữu dường như chỉ ca ngợi Đảng, Bác Hồ và nhân dân Việt Nam. Đọc thơ ông ta thấy từng sự kiện lịch sử được hiện lên, trong đó một mốc son quan trọng đánh dấu cuộc đời cách mạng nhà thơ là khi ông chính thức được đứng vào hàng ngũ của Đảng. Bài thơ “Từ ấy” đã chân thành ghi lại cảm xúc vui tươi, sung sướng và lời tâm nguyện của người thanh niên yêu nước được giác ngộ lí tưởng cách mạng.

    Bài thơ mở đầu cho con đường cách mạng và con đường thi ca của Tố Hữu được rút ra ở tập thơ “Từ ấy”_tập thơ đầu tay của Tố Hữu là tiếng hát say mê, trong trẻo của người thanh niên cộng sản. Tập thơ gồm ba phần: máu lửa, xiềng xích và giải phóng.“Từ ấy”nằm trong phần máu lửa.
    Trước khi bắt gặp ánh sáng cộng sản Tố Hữu cũng như biết bao người thanh niên trí thức Việt Nam mịt mờ không lí tưởng, không xác định được hướng đi cho mình. Đúng như ông đã từng nói trong bài thơ “Nhớ đồng”:
    “Đâu những ngày xưa, tôi nhớ tôi
    Băn khoăn đi kiếm lẽ yêu đời
    Vẩn vơ theo mãi vòng quanh quẩn
    Muốn thoát, than ôi, bước chẳng rời”
    Nhưng kể từ khi được giác ngộ lí tưởng, tham gia vào Đảng 7/1938 “Từ ấy” nhấn mạnh mốc thời gian trong đời, “mốc son đáng nhớ trong tâm hồn người thanh niên tuổi mười tám đôi mươi đi theo lí tưởng cao đẹp, dám sống dám làm dám đấu tranh”. Mở ra cho tác phẩm là tâm trạng vui tươi, sung sướng của tác giả khi được ánh sáng của Đảng soi đường:
    “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
    Mặt trời chân lí chói qua tim”
    “Nắng hạ”, “mặt trời” là các hiện tượng tự nhiên được nhà thơ nhắc đến với một niềm thành kính thiêng liêng. Nắng hạ và mặt trời là hai nguồn sáng ấm nóng, rực rỡ, bất diệt chiếu sáng cho mọi nguồn sống của vạn vật trên trái đất. Hình ảnh ấy được sử dụng theo lối ẩn dụ để chỉ ánh sáng cách mạng của Đảng. Tác giả sử dụng các động từ “bừng” chỉ ánh sáng phát ra đột ngột, “chói” chỉ ánh sáng xuyên mạnh, có ấn tượng với người tiếp nhận. Cũng như vậy lí tưởng cộng sản như ánh sáng chói lòa, bất ngờ đến xóa tan đi màn đêm tăm tối trong tư tưởng của những tháng ngày vô nghĩa mà nhà thơ đã trải qua. Tố Hữu nhận thức điều đó không chỉ bằng lí trí mà còn cảm nhận bằng trái tim của người chiến sĩ. Để giờ đây tác giả cảm thấy:
    “Hồn tôi là một vườn hoa lá
    Rất đậm hương và rộn tiếng chim”
    Ở đây tác giả có sử dụng phép so sánh ngầm không dừng từ “như” thay vào từ “là”. Tố Hữu lột tả niềm vui sướng tột cùng sự say mê mãnh liệt trong tâm hồn, hạnh phúc của bản thân khi đón nhận lí tưởng của Đảng. Nó như phép nhiệm màu làm xanh tươi lại khu vườn tâm hồn của tác giả. Tôi bỗng băn khoăn không biết liệu có phải trước đó khu vườn có khô héo, tàn úa quá chăng sao nhà thơ reo vui đến thế? Giờ đây nơi ấy tràn đầy sức sống có sắc màu, có hương thơm hoa lá, có tiếng reo vui của chim ca. Niềm vui như hòa vào tiếng chim để rồi nhà thơ thấy “Nhẹ nhàng như con chim cà lơi/ Say đồng hương nắng vui ca hát”. Tố Hữu đã từng viết: “Lòng tôi vui sướng vô cùng khi cảm thấy ánh sáng của chủ nghĩa Mác-Lênin soi rọi vào tâm hồn tuổi trẻ của mình”. Tố Hữu đã cất lên tiếng nói, tiếng hát, sự cảm nhận chung cho các thanh niên trí thức bấy giờ. Đó là âm điệu ca hát cho lí tưởng cách mạng. Như vậy khổ thơ đầu chính là niềm vui, hạnh phúc và lòng biết ơn Đảng đã khai sáng cho tâm hồn mở ra cho ông và biết bao người thanh niên khác những nhận thức mới mẻ.
    Sau những phút giây được chắp cánh bởi lí tưởng cộng sản nhà thơ chân thành bộc bạch suy nghĩ, nhận thức mới mẻ của bản thân về sự nghiệp cách mạng:
    “Tôi buộc lòng tôi với mọi người
    Để tình trang trải với trăm nơi
    Để hồn tôi với bao hồn khổ
    Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”
    Khác với nhận thức của nhân vật Hạ Du trong tác phẩm “Thuốc” của Lỗ Tấn. Người chiến sĩ cách mạng xa rời quần chúng nhân dân để rồi nhận lại bi kịch cho cái chết. Còn Tố Hữu cũng như Đảng cộng sản ta luôn hướng về nhân dân, gắn bó với quần chúng. Bác Hồ từng khuyên cán bộ đảng viên “Phải từ nơi quần chúng ra, trở lại nơi quần chúng” chính vì vậy Tố Hữu “buộc lòng tôi với mọi người” từ “buộc” cho thấy ý thức tự nguyện, tinh thần gắn bó “cái tôi” cá nhân với “cái ta” chung cộng đồng, để cho tâm hồn nhà thơ trải rộng ra với cuộc đời, với nhân dân trên khắp mọi miền Tổ quốc cũng là ý thức trách nhiệm gánh vác việc đời. Tố Hữu luôn luôn gần gũi, đồng cảm và sẻ chia khổ đau, bất hạnh với những “hồn khổ” của dân tộc. Hồn khổ ấy là “Em bé mồ côi”, là “Lão đầy tớ”, là “Chị vú em”… và biết bao nhiêu hoàn cảnh cơ cực trên đất Việt. Càng đồng cảm bao nhiêu thì nhà thơ càng căm hờn kẻ đã gây ra tội ác, đẩy nhân dân vào cảnh lầm than, cơ cực bấy nhiêu, càng thôi thúc nhà thơ gắn bó và chiến đấu vì sự nghiệp cách mạng giải phóng dân tộc. Tố Hữu đã từng nói: “Tất cả cùng tôi. Tôi với muôn người. Chỉ là một. Nên cũng là vô số” để “Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”. Khối đời là hình ảnh ẩn dụ chỉ những người có chung hoàn cảnh, chung lí tưởng cách mạng cũng là để chỉ tinh thần đoàn kết của đồng bào Việt Nam, mỗi người cán bộ, chiến sĩ, mỗi người dân cùng chung tay làm nên sức mạnh của toàn dân tộc, là tinh thần yêu nước của nhân dân ta đã nhấn chìm lũ bán nước và cướp nước. Khổ thơ đã cho thấy sự thay đổi trong nhận thức của tác giả khi được ánh sáng của Đảng soi đường, cũng thể hiện niềm tin, niềm hạnh phúc vào khối đời dân tộc, vào con đường cách mạng nước nhà. Tố Hữu đã từng cất lên tiếng hát ngợi ca Bác và lí tưởng của Đảng:
    “Từ vô vọng mênh mông đêm tối
    Người đã đến chói chang nắng dọi
    Trong lòng tôi. Ôi Đảng thân yêu
    Sống lại rồi. Hạnh phúc biết bao nhiêu”
    Từ những nhận thức mới mẻ sâu sắc ấy trong tư tưởng người thanh niên trẻ tuổi đã có sự chuyển biến về tình cảm, từ số phận của trí thức tiểu tư sản chuyển sang người trí thức cộng sản. Giờ đây tác giả tự đặt mình vào trong gia đình dân tộc Việt Nam bằng tình cảm ruột thịt chân thành:
    “Tôi đã là con của vạn nhà
    Là em của vạn kiếp phôi pha
    Là anh của vạn đầu em nhỏ
    Không áo cơm, cù bất cù bơ”
    Nhà thơ đã xác định mình là thành viên của “vạn nhà”. Cách sử dụng điệp từ “là”, “của” kết hợp với các danh xưng “con”, “em”, “anh” và hàng loạt các từ chỉ số lượng nhiều: “vạn nhà”, “vạn kiếp”, “vạn đầu” nhà thơ bộc lộ tình cảm của mình gắn bó với nhân dân như anh chị em ruột thịt trong gia đình, đó là tình hữu ái giai cấp, yêu thương dành cho những con người đồng khổ. Ông đã từng viết:
    “Có gì đẹp trên đời hơn thế
    Người yêu người sống để yêu nhau”
    Hay nhà thơ đã từng lột tả niềm vui sướng chân thành của mình khi được trở về với nhân dân trong bài thơ “Tiếng hát con tàu”:
    “Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ
    Cỏ đón giêng hai, chim én gặp mùa,
    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa
    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa”
    Như vậy ta có thể thấy được tình cảm gắn bó sâu sắc của nhà thơ cách mạng với quần chúng nhân dân Việt Nam. Chính điều đó làm cho thơ ông thật gần gũi, thân thương.
    Cả cuộc đời “Tố Hữu vừa làm cách mạng vừa làm thơ, làm thơ để làm cách mạng, và làm cách mạng để làm giàu nguồn cảm hứng cho thơ”. Lí tưởng cách mạng có sức ảnh hưởng, có sự cảm hóa mãnh liệt đối với Tố Hữu cũng như bao nhà thơ lãng mạn khác. Như ta từng biết Tố Hữu xuất thân từ tầng lớp trí thức tiểu tư sản nên cái tôi cá nhân rất cao với lối sống ích kỉ nhưng ông đã vượt qua được rào cản giai cấp để hòa mình vào cái ta chung của cộng đồng. Mỗi một tác phẩm của ông là một sự kiện cách mạng được ghi dấu đúng như chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói:
    “Nay ở trong thơ nên có thép
    Nhà thơ cũng phải biết xung phong”
    Mỗi một nhà thơ cách mạng cũng phải là một người chiến sĩ trên mặt trận văn hóa tư tưởng và Tố Hữu ngay từ khi mới vào mặt trận ấy đã dành được vị trí vững chắc xứng đáng là “Một viên ngọc trong nền văn học Việt Nam”.

    “Tố Hữu nhìn cách mạng bằng con mắt lãng mạn của một thi sĩ. Thơ ông thường chỉ có một giọng. Đó là giọng hát tưng bừng ca ngợi cách mạng”. “Từ ấy” là bài thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật thơ Tố Hữu, là tuyên ngôn về lí tưởng cách mạng, là tiếng hát trong trẻo của người thanh niên ở năm những năm mười tám đôi mươi sung sướng, hạnh phúc khi được giác ngộ bởi ánh sáng của Đảng cùng với những nhận thức và sự vận động mới mẻ trong tình cảm của người chiến sĩ cộng sản.

    Bài văn mẫu 3

    Tố Hữu gương mặt quen thuộc của thơ ca cách mạng Việt Nam. Đối với ông thơ không chỉ dùng để bày tỏ tình cảm, mà nó còn dùng để cổ vũ, tuyên truyền cho chiến đấu. Tố Hữu để lại sự nhiệp phong phú, đồ sộ, ngay từ tập thơ đầu tay – Từ ấy đã gây ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc. Bài thơ Từ ấy là cảm xúc hân hoan, vui sướng của người thanh niên trẻ tuổi khi được đứng vào hàng ngũ cách mạng của Đảng.

    Bài thơ Từ ấy nằm trong tập thơ cùng tên. Tác phẩm được sáng tác tháng 7 năm 1938 khi Tố Hữu được kết nạp Đảng. Bởi vậy, trong cả bài thơ là niềm hân hoan, hạnh phúc khi bắt gặp lí tưởng của Đảng. Nhan đề bài thơ mang tính phiếm chỉ, không rõ thời gian, địa điểm nào. Nhưng người đọc vẫn có thể nhận ra “từ ấy” chính là để nhắc đến bước ngoặt quan trọng trong cuộc đời Tố Hữu.
    Ngày vào Đảng đối với tất cả mọi người không chỉ là niềm vui mà còn là niềm vinh dự, khi được đứng trong hàng ngũ của Đảng để cống hiến cho đất nước. Chế Lan Viên cũng từng nghẹn ngào, ghi lại khoảnh khắc khi được ánh sáng, lí tưởng của Đảng soi đường:
    Ngày vào Đảng đất trời như đổi khác
    Những vật vô tri cũng làm rưng nước mắt
    Đá sỏi cây cằn, sao bỗng thấy thiêng liêng?
    Giọng nói quen nghe, màu đất quen nhìn
    Bỗng chan chứa trăm điều chưa nói hết
    Và đối với Tố Hữu cũng như vậy, ngày được kết nạp đảng lòng ông vui sướng, say mê khi mình đã lựa chọn con đường đúng đắn, đã bắt gặp lí tưởng của Đảng:
    Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
    Mặt trời chân lí chói qua tim
    “Từ ấy” là một mốc son chói lọi, là khoảnh khắc lịch sử của mỗi đời người, là phút huy hoàng trong cuộc đời Tố Hữu. Nếu trước đây dù yêu nước, thương dân nhưng ông lại hoàn toàn bế tắc khi không tìm được lối đi cho mình để giải phóng dân tộc, thì đến đây ông đã có thể yên tâm với con đường mình lựa chọn. Con đường này đầy chông gai, hiểm nguy nhưng hứa hẹn một tương lai tươi sáng đang mở ra trước mắt. Trong câu thơ này, Tố Hữu sử dụng liên tiếp các hình ảnh ẩn dụ: “nắng hạ” là nguồn ánh sáng rực rỡ, đầy sức sống, để diễn tả niềm hạnh phúc, vui sướng đong đầy tâm hồn nhà thơ trong ngày kết nạp Đảng. Đẹp đẽ hơn là hình ảnh “mặt trời chân lí”, đó là ánh sáng lí tưởng của Đảng, của cách mạng đã tỏa rạng muôn nơi, soi đường, chỉ lối cho con người. Nếu mặt trời là sự sống của vạn vật, thì ánh sáng của Đảng chính là mặt trời của muôn nghìn nhân dân Việt Nam. Lí tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới đã làm thức tỉnh lí trí, mang đến cho tác giả nguồn sức mạnh kì diệu. Đồng thời, ông còn liên tiếp sử dụng các động từ mạnh: bừng, chói, cho thấy tác động đột ngột, mạnh mẽ của ánh sáng cách mạng đã xua tan đêm tối của dân tộc, mở ra một con đường mời. Niềm vui niềm hạnh phúc đã được Tố Hữu diễn tả trực tiếp ở hai câu thơ tiếp:
    Hồn tôi là một vườn hoa lá
    Rất đậm hương và rộn tiếng chim
    Sử dụng biện pháp so sánh, Tố Hữu đã khẳng định tâm hồn ông khi được ánh sáng của Đảng chiếu rọi tựa như một vườn hoa lá tươi tốt, và trở nêm đậm hương đậm sắc, tràn đầy sức sống. Tâm hồn tác giả được tiếp nhận ánh sáng của Đảng trở nên mạnh mẽ, tràn đầy sinh lực, để ông sống một cuộc đời có ý nghĩa hơn.
    Sau khi được kết nạp vào Đảng, Tố Hữu có sự chuyển biến mạnh mẽ về lẽ sống: “Tôi buộc lòng tôi với mọi người/ Để tình trang trải với trăm nơi/ Để hồn tôi với bao hồn khổ/ Gần gũi nhau thêm mạnh khối đời”. Mặc dù nói đến cái tôi nhưng không hề cô lập, riêng lẻ, mà là cái tôi hòa nhập, gắn kết với mọi người. Cái tôi cá nhân không tách biệt quần chúng mà hòa nhập, xích gần lại với họ. Tố Hữu sử dụng hàng loạt động từ để khẳng định sự gắn kết này: buộc, trang trải, gần gũi nhau để tạo nên “một khối đời” lớn mạnh, cùng nhau chống lại kẻ thù chung. Câu thơ nhấn mạnh sức mạnh đoàn kết của con người trong công cuộc đấu tranh cách mạng: mỗi cá nhân sẽ làm cho khối đời chung trở nên mạnh hơn, ngược lại, khối đời chung ấy sẽ giúp cho mỗi cá nhân tăng thêm sức mạnh cho mình, vững tâm hơn, tin tưởng hơn.
    Không chỉ chuyển biến trong nhận thức mà Tố Hữu còn có cả sự chuyển biến về mặt tình cảm:
    Tôi đã là con của vạn nhà
    Em của vạn kiếp phôi pha
    Là anh của vạn em nhỏ
    Không áo cơm cù bất cù bơ
    Cái tôi đứng giữa và hòa nhập vào quần chúng lao khổ, Tố Hữu đã là thành viên của gia đình ấy. Biện pháp lặp cấu trúc: là anh, là con, là em thể hiện mối quan hệ gắn bó khăng khít như ruột thịt khi hòa nhập vào đại gia đình. Qua đó Tố Hữu cũng diễn tả trách nhiệm lớn lao của bản thân cần phải đi cứu vướt cuộc đời những “vạn đầu em nhỏ” “vạn kiếp phôi pha”. Họ là những kiếp sống lầm than, cơ cực nhất trong xã hội, bởi vậy cần phải giải phóng họ để họ được sống cuộc đời tự do, hạnh phúc.
    Bài thơ sử dụng linh hoạt các biện pháp tu từ: so sánh, ẩn dụ. Cách ngắt nhịp vô cùng linh hoạt kết hợp với phép điệp tạo nên nhạc tính cho bài thơ. Không chỉ vậy còn diễn tả được niềm say mệ, háo hức khi được kết nạp vào Đảng. Đồng thời kết hợp giữa tự sự và trữ tình một cách hài hòa, đã đem lại hiệu quả nghệ thuật cao nhất.

    Từ ấy là một bài thơ hay, đặc sắc trong đời thơ Tố Hữu. Tác phẩm là niềm say mê, vui sướng mãnh liệt trong ngày đầu bắt gặp lí tưởng cách mạng. Đó là mốc son chói lọi, đánh dấu sự khởi đầu của một cuộc đời mới, đây cũng là mốc đánh dấu sự khởi đầu của một hồn thơ. Kết hợp với các biện pháp nghệ thuật, giọng điệu linh hoạt đã tạo nên sự thành công cho tác phẩm.

    Bài văn mẫu 4

    Mở đầu bài thơ, Tố Hữu kể lại một kỉ niệm của cuộc đời bằng bút pháp tự sự :
    Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
    Mặt trời chân lí chói qua tim
    Từ ấy là mốc thời gian có ý nghĩa đặc biệt trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Tố Hữu. Vào lúc đó, nhà thơ vừa tròn 18 tuổi, cái tuổi sôi nổi của bầu nhiệt huyết, lúc tác giả đang hoạt động sôi nổi trong Đoàn thanh niên cộng sản Huế và được kết nạp vào Đảng. Bằng những hình ảnh ẩn dụ như nắng hạ, mặt trời chân lí, chói qua tim, Tố Hữu khẳng định lí tưởng cách mạng như một nguồn sáng mới làm bừng sáng tâm hồn nhà thơ. Nguồn sáng ấy chính là mặt trời chân lí soi rọi trong tâm hồn tác giả. Tác giả lấy hình ảnh mặt trời để thể hiện sự giác ngộ lí tưởng cộng sản của mình. Mặt trời thiên nhiên đem lại ánh sáng, hơi ấm cho sự sống; Đảng cũng chính là một mặt trời mang lại sự sống cho tác giả, cho dân tộc Việt Nam, tỏa hơi ấm cho bao lí tưởng đúng đắn. Tác giả hết sức tin tưởng và vui mừng khi bắt gặp lí tưởng cộng sản, được lí tưởng cộng sản soi đường.
    Hình ảnh mặt trời chân lí
    Niềm vui sướng, say mê khi bắt gặp lí tưởng của nhà thơ được biểu hiện bằng những hình ảnh hết sức ấn tượng, trong đó hình ảnh mặt trời chân lí là đáng giá nhất. Với Tố Hữu, lí tưởng cộng sản có cái đẹp của mặt trời chân lí, lại có cái xanh tươi rạo rực của cuộc sống con người khiến tác giả có cảm giác chói chang trước một vầng ánh sáng diệu kì; lại vừa cảm thấy tâm hồn dịu mát như một vườn trái sum suê. Bản chất lí tưởng cộng sản đã làm người thanh niên ây say mê, ngây ngất như một điều kì diệu.
    Mặt trời chân lí chói qua tim
    Mặt trời chăn lí so đến tận nơi sâu xa nhất trong tâm hồn Tố Hữu, làm bừng sáng lên ở tác giả một lí tưởng mới. Đó chính là lí tưởng nhân văn, nhân bản, rất gần gũi với con người, đem lại nguồn sáng cho con người và được con người đón nhận bằng tất cả trái tim.
    Hình ảnh Mặt trời chân lí chói qua tim là một sáng tạo mới mẻ và có chiều sâu của Tố Hữu trong thơ trữ tình cách mạng Việt Nam trước cách mạng. Thời ấy, thơ cách mạng còn dùng những hình ảnh ước lệ như cửa độc lập, đèn tự do, hòn máu nóng, chiêu hồn nước… riêng Tố Hữu đã dùng hình ảnh mới mẻ này để bày tỏ tâm trạng của mình đối với cách mạng.
    Hình ảnh trên là một đóng góp có ý nghĩa đôi với thế hệ trẻ đang mang trong mình bầu nhiệt huyết cống hiến cho công cuộc giải phóng dân tộc, đồng thời là hình ảnh làm cho thơ ca cách mạng mang tính hiện đại. Hình ảnh này còn nguyên giá trị cho dù trải qua bao thay đổi của thời đại.
    Nhận thức mới về lẽ sống của nhà thơ
    Trong quan niệm về lẽ sống, những trí thức vốn xuất thân từ giai cấp tư sản và tiểu tư sản vốn đề cao cái tôi trong cá nhân chủ nghĩa. Khi giác ngộ lí tưởng cộng sản, Tố Hữu khẳng định quan niệm mới về lẽ sống và sự gắn bó hài hòa giữa cái tôi cá nhân và cái ta chung của mọi người. Với động từ buộc, câu thơ Tôi buộc lòng tôi với mọi người là một cách nói quá thể hiện ý thức tự nguyện sâu sắc và quyết tâm cao độ của Tố Hữu trong việc vượt qua cái tôi cá nhân để vì cái ta chung của cả dân tộc. Với từ trang trải trong câu thơ tiếp theo Tố Hữu cho thấy sự trải rộng tâm hồn của mình với cuộc đời, tạo ra khả năng đồng cảm sâu xa với hoàn cảnh của từng con người cụ thể.
    Tình yêu thương của Tố Hữu đối với con người không phải là tình yêu chung chung mà là tình cảm của giai cấp. Câu thơ Để hồn tôi với bao hồn khổ khẳng định mối quan hệ với mọi người nói chung, trong đó nhà thơ đặc biệt quan tâm đến những mảnh đời lao khổ. Từ khối đời trong câu thơ tiếp theo chỉ một số lượng đông đảo những người cùng cảnh ngộ, thể hiện ý chí quyết tâm, đoàn kết trong việc phấn đấu vì mục tiêu giải phóng chính mình.
    Khi cái tôi cá nhân hòa chung cái ta của mọi người, khi cá nhân hòa mình vào tập thể thì lí tưởng của mọi người trở thành lí tưởng chung và sức mạnh của mỗi người trở thành sức mạnh của toàn dân tộc. Đó chính là lẽ sống thường nhật và cũng chính là lẽ sống chan hòa của tác giả.
    Qua bài thơ, Tố Hữu tự đặt mình giữa dòng đời và trong môi trường rộng lớn của quần chúng lao khổ. Tố Hữu đã tìm thấy niềm vui và sức mạnh không chỉ bằng sự giác ngộ, mà còn bằng chính sự thương yêu chia sẻ đối với tất cả mọi người.
    Sự chuyển biến sâu sắc trong tình cảm của nhà thơ
    Trước khi giác ngộ lí tưởng cộng sản, Tố Hữu là một thanh niên tiểu tư sản. Lí tưởng cộng sản không chỉ giúp nhà thơ có được lẽ sống mới mà còn giúp nhà thơ vượt qua tình cảm ích kỉ, hẹp hòi của giai cấp tiểu tư sản để có được tình hữu ái giai cấp quần chúng lao khổ. Những điệp từ là cùng với các từ con, em, anh và số từ ước lệ càng nhấn mạnh và khẳng định một tình cảm gia đình thật đầm ấm, thân thiết. Hình ảnh thơ cho thấy nhà thơ đã nhận thức sâu sắc rằng bản thân mình là một thành viên trong gia đình quần chúng lao khổ. Tấm lòng đồng cảm, chia sẻ của nhà thơ còn được biểu hiện xúc động, chân thành qua hình ảnh như kiếp phôi pha, không áo cơm, cù bất, cù bơ. Qua những lời thơ ấy, người đọc cảm nhận được lòng căm hận của nhà thơ đối với sự thống trị của bọn thực dân, phong kiến Chính những kiếp phôi pha, những em nhỏ cù bất cù bơ mà người thanh niên ấy đã hăng say hoạt động cách mạng, đó cũng chính là những hình ảnh thường xuyên xuất hiện trong thơ Tố Hữu.
    Bài thơ chính là tuyên ngôn cho tập thơ Từ ấy nói riêng và toàn bộ các sáng tác của Tố Hữu nói chung. Bài thơ đánh dấu sự chuyển biến lớn trong tình cảm của tác giả đối với quần chúng cũng như đất với cách mạng.
    Đặc sắc nghệ thuật của bài thơ
    Tác giả đã sử dụng nhiều biện pháp tu từ khác nhau như tượng trưng, so sánh, điệp từ.
    Sáng tạo những hình ảnh mới mẻ cho thơ trữ tình cách mạng như mặt trời chân lí chói qua tim, hồn tôi là một vườn hoa lá, rất đậm hương và rộn tiếng chim.
    Nhịp thơ dồn dập, tuôn chảy ào ạt như tâm trạng vui sướng say mê của tác giả trong giây phút bừng sáng lí tưởng cách mạng.
    Lời bài thơ trữ tình, bộc lộ tâm trạng của nhà thơ một cách tự nhiên nhưng vẫn có một bố cục logic, chặt chẽ theo ba ý trong một mạch thơ chung; lí tưởng cách mạng bừng sáng, nhận thức mới về lẽ sống và sự chuyển biến về tình cảm.

  • Dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Dàn ý mẫu 2)

    Dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Dàn ý mẫu 2)

    Dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Dàn ý mẫu 2)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Từ ấy (Tố Hữu)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ “Từ ấy” ấy của Tố Hữu.

    Dàn ý mẫu

    1. Tác giả
    – Tố Hữu là bút danh của Nguyễn Kim Thành sinh năm 1920 tại Thừa Thiên – Huế. Ông là nhà thơ lớn của nền thi ca cách mạng Việt Nam. Cuộc đời thơ của Tố Hữu gắn liền với cuộc đời cách mạng của ông.
    – Tác phẩm “Từ ấy” (1937 – 1946), “Việt Bắc” (1954) ,”Gió lộng”, (1961), “Ra trận” (1972), “Máu và hoa” (1977)…

    2. Xuất xứ, chủ đề
    – Bài thơ Từ ấy được Tố Hữu sáng tác vào tháng 7-1938, nhan đề bài thơ trở thành tên tập thơ đầu của Tố Hữu.
    – Bài thơ Từ ấy nói lên niềm vui sướng hạnh phúc của một thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng cách mạng của Đảng, thêm yêu đời và gắn bó với nhân dân cần lao.

    3. Nội dung cảm nhận
    a. Từ ấy là lúc, là khi nhà thơ được giác ngộ cách mạng, một kỉ niệm sâu sắc của người thanh niên yêu nước bắt gặp lí tưởng cách mạng, mà sau này, ông nói rõ trong một số bài thơ: “Mẹ không còn nữa, con còn Đảng — Dìu dắt con đi chửa biết gì” (Quê mẹ)
    “Mặt trời chân lí” là hình ảnh ẩn dụ ca ngợi lí tưởng cách mạng, ca ngợi chủ nghĩa Cộng sản đã soi sáng tâm hồn, đã “chói qua tim” đem lại ánh sáng cuộc đời như “bừng” lên trong nắng hạ – một cách nói rất mới, rất thơ về lí tưởng.
    Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
    Mặt trời chân lí chói qua tim
    Lí tưởng cách mạng đã làm thay đổi hẳn một con người, một cuộc đời. So sánh để khẳng định một sự kiện biến đổi kì diệu mà lí tưởng cách mạng đem lại.
    Hồn ta là một vườn hoa lá
    Rất đậm hương và rộn tiếng chim
    “Hồn” đã trở thành “vườn hoa lá” một vườn xuân đẹp ngọt ngào hương sắc, rộn ràng tiếng chim hót. Đây là khổ thơ hay nhất, đậm đà màu sắc lãng mạn nhất trong thơ Tố Hữu. Ngoài việc sáng tạo hình ảnh ẩn dụ (mặt trời chân lí), tác giả lựa chọn sử dụng từ ngữ rất chính xác, hình tượng và gợi cảm” bừng”, “chói”, “đậm”, “rộn” để diễn ta thay hay niềm say mê lí tưởng “Đảng đã cho tôi sáng mắt sáng lòng” (Agagông – Pháp)
    b. Hai khổ thơ (2,3) nói lên sự gắn bó với nhân dân, những người nghèo khổ (buộc, trang trải, gần gũi) yêu thương nhân dân bằng một tình yêu giai cấp (là con…, là em.., là anh…). Cũng là một cách nói nồng nàn của một hồn thơ trẻ trung, sôi nổi. Tố Hữu nay đã già nhưng bài thơ Từ ấy vẫn trẻ và đẹp mãi.

  • Văn mẫu: Từ ấy (Tố Hữu)

    Văn mẫu: Từ ấy (Tố Hữu)

    Văn mẫu: Từ ấy (Tố Hữu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Chiều tối (Hồ Chí Minh)

    [toc]

    Top 12 bài phân tích, dàn ý bài thơ Từ ấy của Tố Hữu hay nhất
    Phần Từ ấy (Tố Hữu) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, bình giảng, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Dàn ý phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu (Dàn ý mẫu 2)
    2. 4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
    3. 2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy và Chiều tối
    4. Bình giảng khổ 1 bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
    5. 2 bài văn mẫu Bình giảng bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
    6. 2 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
    7. Giới thiệu một vài nét về Tố Hữu và bài Từ ấy
    8. Phân tích khổ đầu bài thơ Từ ấy của Tố Hữu
    9. Phân tích bài thơ Từ ấy để thấy tâm trạng của một thanh niên say mê lý tưởng
    10. Hoàn cảnh và tâm trạng của Tố Hữu khí viết bài thơ Từ ấy
    11. Ý nghĩa các từ chỉ số lượng nhiều trong Từ ấy

  • Dàn ý Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Dàn ý Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Dàn ý Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu những nét tiêu biểu về Vũ Trọng Phụng: có vị trí đặc biệt quan trọng trong nền văn xuôi Việt Nam hiện đại. Ngòi bút sắc sảo của ông thành công nhất ở tiểu thuyết và truyện ngắn
    – Giới thiệu đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia: Là toàn bộ chương XV của tiểu thuyết Số đỏ- cuốn tiểu thuyết thành công của VTP

    II. Thân bài
    1. Giá trị nội dung
    a. Ý nghĩa nhan đề
    – “Tang gia”: nhà có đám, đáng ra với hoàn cảnh đó, không khí phải tràn ngập nhiều buồn tiếc
    – “Hạnh phúc”: Cảm xúc khi gặp chuyện nhiều niềm vui, đây là cảm xúc đối lập hẳn với hoàn cảnh “tang gia”
    ⇒ nhan đề chứa đựng mâu thuẫn trào phúng hàm chứa tiếng cười chua chát, kích thích trí tò mò của người đọc
    b. Những niềm vui khác nhau khi cụ cố Tổ mất
    • Niềm vui chung cho cả gia đình:
    – Gia đình tràn ngập niềm vui bởi cụ cố tổ chết cũng là lúc cái chúc thư đi vào thời kì thực hành chứ không còn lí thuyết viễn vông nữa
    ⇒ Một gia đình bất hiếu
    • Niềm vui của những thành viên trong gia đình:
    – Cố Hồng (con trai cả):
    + vui vì được diễn trò già yếu trước mọi người
    + mơ màng nghĩ mình được mặc áo xô gai, lụ khụ ho khạc mếu máo để người ta nghĩ “ úi kìa con giai nhớn đã già thế kia kìa”
    ⇒ con người háo danh bề ngoài, không hề tiếc thương gì trước cái chết của chính người sinh ra mình
    – Ông Văn Minh: thích thú vì cái chúc thư kia đã đi vào thời kì thực hành chứ không còn trên lý thuyết viễn vông nữa
    ⇒ Người cháu bất hiếu, đầy dã tâm.
    – Bà Văn Minh: mừng rỡ vì được lăng xê những mốt y phục táo tạo nhất.
    ⇒ người cháu thực dụng, thiếu tình người.
    – Cô Tuyết: Được dịp mặc y phục “ngây thơ” để chứng tỏ mình hãy còn trinh tiết nhưng đau khổ như kim châm vào lòng khi không thấy Xuân tóc đỏ đâu với khuôn mặt “buồn lãng mạn”
    ⇒ Người con gái hư hỏng, lẳng lơ.
    – Cậu Tú Tân: sướng điên người lên vì được dịp sử dụng cái máy ảnh đã lâu không có dịp dùng đến
    ⇒ Con người vô tâm, kém hiểu biết.
    – Ông Phán: Sung sướng vì không ngờ rằng cái sừng trên đầu mình lại có giá trị.
    ⇒ Chỉ coi trọng và vui mừng vì mình được thêm một khoản, không có nhân cách, vô liêm sĩ.
    – Xuân tóc đỏ: Hạnh phúc đặc biệt vì nhờ hắn mà cụ Tổ chết, danh giá uy tín lại càng to hơn.
    • Niềm vui của những người ngoài gia đình:
    + Cảnh sát Min Đơ và Min Toa:“giữa lúc không có ai đáng bị phạt…đương buồn rầu…thì sung sướng cực điểm”.
    + Bạn bè cụ cố Hồng: những kẻ vừa háo danh, vừa háo sắc, họ chia buồn để khoe khoang các loại râu ria cùng những huân huy chương
    + Hàng phố: đám ma đi đến đâu huyên náo đến đấy, cả phố nhốn nháo khoe đám ma to, thiên hạ chỉ chu ý vào những kiểu quần áo tang…
    ⇒ Bức tranh trào phúng chân thực mang đậm tính hài hước
    c. Cảnh đám ma gương mẫu
    – Tả bao quát đám ma khi đang đi trên đường:
    + Chậm chạp, nhốn nháo như hội rước.
    + Kết hợp ta, Tàu Tây để khoe giàu một cách hợm hĩnh.
    – Tả cận cảnh: Người đi dự: giả dối, bàn đủ thứ chuyện.
    – Cảnh hạ huyệt:
    – Mở đầu: cậu tú Tân thì dàn dựng việc chụp hình một cách giả dối và vô văn hóa.
    – Tiếp theo: Ông Phán thì diễn việc làm ăn với Xuân: “Xuân Tóc Đỏ … gấp tư”
    ⇒ Đó là một màn hài kịch thể hiện sự lố lăng , đồi bại, bất hiếu, bât nghĩa của xã hội thượng lưu trước 1945.
    2. Giá trị nghệ thuật
    – Xây dựng tình huống độc đáo
    – Phát hiện những chi tiết đối lập gây gắt cùng tồn tại trong một con người, sự vật, sự việc.
    – Thủ pháp cường điệu, nói ngược, nói mỉa,… được sử dụng một cách linh hoạt.
    – Miêu tả biến hóa, linh hoạt và sắc sảo đến từng chi tiết, nói trúng nét riêng của từng nhân vật.
    – Bút pháp trào phúng

    III. Kết bài
    – Điểm lại những nét tiêu biểu về nội dung và nghệ thuật của đoạn trích
    – Ý nghĩa thực tiễn của đoạn trích: Đoạn trích đem đến một bài học đạo đức cho con người trong mọi thời đại

  • Bình giảng bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Bình giảng bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Bình giảng bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Cảm nhận bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng bài thơ Chiều tối trích “Nhật kí trong tù” của Hồ Chí Minh.

    Bài văn mẫu

    Có ai đó, khi nghĩ về thơ Bác, đã nói rằng, sự phân tích cho dù khéo léo dến đâu, cũng không làm nổi bật được hồn thơ. Cũng như tựa là, có gượng nhẹ tay bóc từng lớp cánh hoa hồng cũng chưa dễ gì tìm thấy bí quyết hương thơm.

    Mộ (Chiều tối) có thể là một đóa hoa thơ như thế. Bài thơ rõ ràng đã để lại trong ta, man mác không cùng, một rung động thật sâu sa, đẹp đẽ. Nhưng đó là nỗi rung động thật khó diễn tả, chẳng khác nào ta vẫn khó nắm bắt bí ẩn của hương thơm khi ngón tay cố lật mở những cánh hồng. Song có lẽ vẫn cứ nên thử sẽ sàng lật mở những dòng thơ, để gắng cảm thấu những ý tình được chứa đựng trong từng hàng chữ.
    Một người yêu đời say mê cuộc sống bao giờ cũng nhạy cảm trước thời gian. Đối với Hồ Chí Minh, thời gian là nhịp điệu của vũ trụ, nhịp sống của con người, thời gian là sự vận động phát triển của cuộc sống. Khi rơi vào hoàn cảnh tù đày, một hoàn cảnh mà thời gian tâm trạng có độ dài gấp hàng ngàn lần thời gian tự nhiên thì ý thức thời gian của bác cũng được biểu hiện rõ nét. Đọc bài Chiều tối (Mộ) chúng ta không những thấy được cảm nhận thời gian của bác mà còn hiểu được dòng tâm trạng của thi nhân trong bước lưu chuyển của thời gian, trong nhịp sống cuộc đời.
    Có lẽ cảm hứng của bài thơ Chiều tối xuất phát từ một buổi chiều, trên con đường bị giải, chặng cuối cùng của một ngày bị đày ải, người đi vừa trải qua một chặng đường dài với bao vất vả gian lao. Thời gian và hoàn cảnh dễ gây nên trạng thái mệt mỏi, chán chường. Vậy mà cảm hứng thơ lại đến với Bác thật tự nhiên:
    Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
    Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
    Hai câu thơ đã tái hiện thời gian và không gian của buổi chiều tối chốn núi rừng. Lúc ấy người đi ngước mắt nhìn lên bầu trời và chợt thấy chim bay về tổ, mây chầm chậm trôi. Nhà thơ không trực tiếp nói về thời gian nhưng thời gian vẫn hiện lên qua cảnh vật. Đây là cảm nhận thời gian tính truyền thống đã từng in đậm qua nhiều bài thơ. Chim bay về tổ có ý nghĩa báo hiệu thời gian của buổi chiều tối. Từ trong ca dao đã có hình ảnh:
    Chim bay về núi tối rồi
    Đến Truyện Kiều cánh chim mang theo cả thời gian và tâm trạng:
    Chim hôm thoi thót về rừng,
    Rồi buổi chiều nghiêng xuống theo cánh chim nhỏ bé trong Tràng giang của Huy Cận:
    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
    Còn hai câu thơ của Hồ Chí Minh vừa có ý nghĩa biểu hiện thời gian vừa có ý biểu hiện tâm trạng:
    Quyện điểu quy lâm tầm túc thụ.
    Ở đây không phải chim bay trong trạng thái bình thường mà bay mệt mỏi, bay mải miết cho kịp tới chốn nghỉ ngơi nơi rừng xanh quen thuộc. Qua hình inh chim mệt mỏi, người đi còn tìm thấy sự tương đồng hòa hợp với cảnh ngộ rà tâm trạng của mình. Cánh chim mệt mỏi mải miết bay về rừng xanh tìm chốn ngủ, nhà thơ cũng mệt mỏi lê bước trên đường đi đày, giờ đây không biết đâu là chặng nghỉ qua đêm. Sự tương đồng ấy dễ tạo nên sự cảm thông sâu sắc giữa người và cảnh. Cội nguồn của sự cảm thông chính là tình yêu thương rộng lớn của Bác luôn dành cho mọi sự sống chân chính ở trên đời.
    Câu thơ thứ hai tiếp tục phác họa không gian, thời gian và tâm trạng:
    Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không
    Câu thơ dịch chưa chuyển hết được ý tứ trong nguyên bản. Trong nguyên bản Bác viết:
    Cô văn mạn mạn độ thiên không
    (Chòm mây lẻ loi trôi lững lờ giữa tầng không)
    Chòm mây như có tâm hổn, như mang tâm trạng. Nó cô đơn, lẻ loi và lặng lè lững lờ trôi giữa không gian rộng lớn của trời chiểu. Bầu trời có chim, có mây nhưng lẻ loi (cô vân), chim mệt mỏi (quyện điểu) đã thế lại đang ở trong cảnh ngộ chia lìa. Chim bay về rừng, chòm mây ở lại giữa tầng không. Hai câu thơ tả cảnh mà mở ra một không gian tâm trạng. Cảnh buồn, người buồn. Nhưng trong nỗi buồn trước cảnh chiều muộn còn có một khát vọng tự do ẩn kín trong đôi mắt dõi theo cánh chim lẫn mây giữa bầu trời rộng.
    Hai câu thơ tiếp theo tái hiện quá trình vận động của thời gian và không gian:
    Cô em xóm núi xay ngô tối
    Xay hết, lò than đã rực hồng.
    (Sơn thôn thiếu hữ ma bao túc
    Bao túc ma hoàn, lô dĩ hồng)
    Cảm quan biện chứng về thời gian thấm vào từng hình ảnh, sự vật, sự chuyển đổi của các hình ảnh đã dợi lên bước đi thời gian. Trong nghệ thuật thơ ca, nhà thơ có thể dùng xa để nói gần, dùng động để nói tĩnh, dùng sáng để nói tối. Trong bài thơ Chiều tối, Bác không hề nói đến tối mà người đọc vẫn hiểu dược bóng tối đang buông xuống ở xóm núi là nhờ có chữ hồng ở cuối bài thơ. Trời tối người đi mới nhìn thấy ánh lửa rực hồng lên đến thế.
    Cũng như nhiều bài thơ khác của Bác, hình tượng thơ trong bài Chiều tối vận động thật khỏe khoắn và bất ngờ. Trong cảnh chiều muộn ở vùng sơn cước tưởng chừng chỉ có bóng tối hoàng hôn bao phủ, chỉ có heo hút quạnh hiu, nào ngờ có ánh sáng ấm áp đã rực lên xua tan giá lanh, bóng tối. Sự xuất hiện hình ảnh người thiếu nữ trong khung cảnh lao động, bên lò than rực hồng đã mang lại ánh sáng và niềm vui, mang lại sự sống mãnh liệt và ấm áp. Mặc dù thời gian vận động từ chiều đến tối, từ ngày sang đêm nhưng hình tượng bài thơ vẫn vận động theo xu thế phát triển. Đến hai câu thơ này, bức họa trữ tình về trời mây đã nhường chỗ cho bức tranh sinh hoạt gần gũi: một thiếu nữ sơn thôn, với công việc lao động bên bếp lửa gia đình. Một chất thô khác, một hồn thơ trữ tình khác đã được đưa vào, để làm cho vẻ đẹp của buổi chiều hôm thêm hài hòa phong phú.
    Khi bóng tối của ngày tàn buông xuống nhưng không gian không hề tăm tối, con người đã kịp thắp lên ngọn lửa, con người đã tạo nên ánh sáng, tạo nên hơi ấm dể sưởi ấm cho người, cho cảnh thiên nhiên. Ánh sáng, hơi ấm, con người đã đưa lại niềm vui bình dị cho người tù xa xứ. Trong cảnh ngộ buồn của riêng mình, Bác vẫn tìm thấy niềm vui. Niềm vui ấy xuất phát từ cuộc sống lao động của người dân Trung Hoa trên một xóm núi nào đó. Nếu không có một tình người tha thiết thì làm sao Bác có được một niềm vui như thế giữa đất người xứ lạ.

    Bài thơ Chiều tối không chỉ miêu tả cảnh nơi sơn cước với làn mây, cánh chim và cuộc sống lao động của con người. Toát lên toàn bộ bài thơ là hình tượng nhân vật trữ tình, có tấm lòng yêu thương rộng lớn luôn nâng niu trân trọng mọi sự sống trên đời, có tâm hồn lạc quan, mạch thơ có sự vận động đến sự sống, ánh sáng và tương lai. Chính cách nhìn biện chứng về thời và cuộc sống, chính tình người tha thiết đã tạo nên giá trị to lớn cho thi phẩm đặc sắc này.

  • Cảm nhận bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Cảm nhận bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Cảm nhận bài thơ Chiều tối của Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy và Chiều tối

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận bài thơ Chiều tối (Mộ – Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh)

    Bài văn mẫu

    Nhật kí trong tù (1942 – 1943) tỏa sáng tâm hồn cao đẹp của người chiến sĩ cộng sản vĩ đại Hồ Chí Minh. Tâm hồn tha thiết yêu con người, đất nước bao nhiêu thì cũng thiết tha yêu thiên nhiên cuộc sông bấy nhiêu. Tâm hồn ấy trong những tháng ngày tù đày tăm tối luôn hướng về tự do, ánh sáng, sự sống và tương lai. Trên đường bị giải đi trong chiều buồn ở tỉnh Quảng Tây – Trung Quốc lòng nhà thơ – người tù bỗng ấm lên và phấn chấn vui vẻ trước thiên nhiên đẹp và hình ảnh cuộc sống bình dị ấm cúng. Cảm xúc nhà thơ viết bài thơ Mộ. Bài thơ được sáng tác cuối thu 1942.

    Bài thơ có hai bức tranh rõ nét: hai câu đầu là cảnh hoàng hôn, hai câu sau là cảnh sinh hoạt.
    Cảnh hoàng hôn trên con đường thanh vắng, thiên nhiên như ùa hồng thơ đang đón đợi:
    Chim mỏi về rừng tìm chốn ngủ
    Chòm mây trôi nhẹ giữa tầng không.
    Bức tranh hoàng hôn đã được xác định thời gian lúc chiều đang trôi chậm và không gian là bầu trời bao la lúc ánh nắng chỉ còn le lói rồi nhường chỗ cho bóng tối lan dần. Phía xa là cánh chim bay mải miết về tổ, trên cao là chòm mây trắng lẻ loi trôi lơ lửng. Thiên nhiên được miêu tả với vài nét chấm phá nhưng đã gợi ra khung cảnh bát ngát, trong sáng êm đềm của hoàng hôn vùng rừng núi. Thiên nhiên có vẻ đẹp trong trẻo, thơ mộng nhưng quạnh quẽ đượm buồn. Vẻ đẹp ấy rung cảm bởi tâm hồng xao xuyến yêu thương của Bác.
    Hai câu thơ sử dụng bút pháp chấm phá miêu tả, nhất là cách sử dụng thi liệu mang đậm sắc cổ điển: lấy cánh chim biểu tượng cho hoàng hôn, còn hoàng hôn thì biểu tượng cho nỗi buồn, nhất là đối với người tha hương càng gợi thêm nỗi buồn xa xứ, lòng thương nhớ cố hương, Thôi Hiệu viết:
    Quê hương khuất bóng hoàng hôn
    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai.
    (Hoàng Hạc lâu)
    Và người đi trên đường xa trong cảnh hoàng hôn ấy dễ cảm thấy cô đơn và chạnh lòng.
    Bài thơ có cách cảm thụ thế giới quen thuộc của thơ xưa, thiên nhiên như đồng cảm với tâm sự của con người. Hình ảnh con chim sau một ngày kiếm ăn vất vả như ẩn dụ hình ảnh người tù mỏi mệt sau một ngày đường bị áp giải. Chòm mây buồn như ẩn dụ tâm trạng cô đơn buồn bã của tù nhân.
    Tứ thơ cổ điển mà vẫn hiện đại, vì thiên nhiên với con người có sự đồng cảm chứ không đồng nhất. Thiên nhiên mệt mỏi còn có chốn nghỉ, cô đơn mà được tự do, còn người tù không biết đi về đâu và mất tự do không biết đến bao giờ. Nên nhà thơ đang khao khát tự do và một mái ấm gia đình. Tả cảnh mà chứa tình, hàm ý sâu xa, đó là vẻ đẹp hàm súc dư ba của thơ cổ điển.
    Tóm lại, hai câu thơ gợi tả cảnh thiên nhiên đẹp mà buồn, vì “người buồn cảnh có vui đến đâu bao giờ”
    Buồn vì xa Tổ quốc, buồn vì bị bắt từ oan, buồn vì mất tự do không biết đến bao giờ. Nhưng trước vẻ đẹp của cảnh ấy lòng người ít nhiều cũng tìm được niềm vui thư thái.
    Điểm đặc sắc nghệ thuật của bài thơ là chỉ miêu tả không gian với hai hình ảnh đang vận động: cánh chim bay và chòm mây trôi nhưng diễn tả được sự luân chuyển của thời gian: chiều đang trôi chầm chậm về đêm.
    Không gian thay đổi, khung cảnh sinh hoạt của một bản làng miền núi được mở ra một cách tự nhiên:
    Cô em xóm núi xay ngô tối
    Xay hết, lò than đã rực hồng
    Hai câu thơ sử dụng bút pháp điểm nhãn của thơ cổ điển, nhưng hình ảnh thơ bình dị, chân thực lại được ghi bởi bút pháp hiện thực. Hình ảnh cô gái mải miết xay ngô và xay xong bên lò lửa rực hồng gợi bức tranh đời sống có vẻ đẹp bình dị, ấm cúng, yên vui. Riêng đối với người tù mệt mỏi, mất tự do thì cảnh ấy trở nên vô cùng hấp dẫn, quý giá, thiêng liêng, vì nó lệ thuộc về thế giới tự do. Chỉ có ai đã từng trải qua những cảnh đời đau khổ đầy giông bão mới thấy hết giá trị của từng phút giây cảnh đời bình yên. Do đó bức tranh đời sống trở thành nguồn thơ dạt dào, thể hiện niềm xao xuyến, sự rung động mãnh liệt hồn thơ.
    Lò lửa hồng là hình ảnh nổi bật trung tâm của bức tranh thơ, làm nổi rõ hình ảnh của cô gái. Nó sưởi ấm bức tranh thiên nhiên hiu hắt, lạnh lẽo và sưởi ấm tâm hồn nhà thơ. Vậy là, hình ảnh cuộc sống con người là điểm hội tụ vẻ đẹp bài thơ, tỏa sáng ánh và hơi ấm xung quanh. Hình ảnh lò lửa hùng hực đặt bên cạnh cô gái tạo ra vẻ đẹp trẻ trung, đầy sức sống của cảnh thơ. Hoàng Trung Thông cho rằng chữ hồng là nhãn tự của bài thơ là vì vậy. Ý thơ cuối khỏe, đẹp bộc lộ niềm vui, lòng yêu đời, yêu cuộc sống, tinh thần lạc quan của Bác.
    Như vậy hai câu thơ là sự quan sát của người đi đường nhưng là cái nhìn của người đang khao khát tìm về cuộc sống bình yên giản dị. Thế nên khi bắt gặp hình ảnh cuộc sống con người giữa miền sơn cước, tình yêu và niềm vui đã tràn ngập cõi lòng. Không phải ngoại cảnh tác động đến con người mà chính cảm xúc của con người trùm lên ngoại cảnh. Thiên nhiên đẹp nhưng chưa đủ mang đến niềm vui. Cuộc sống đẹp đã mang đến niềm vui chan chứa. Điều ấy đã thể hiện phẩm chất nhân văn cao đẹp của nhà thơ.
    Nguyên tác chữ Hán không có từ tối, bản dịch thơ thừa từ. Không miêu tả đêm tối mà vẫn cảm nhận được là nhờ ánh lửa lò than. Lấy ánh sáng để làm nổi bóng tối, nghệ thuật là ở đó.
    Hình tượng thơ vận động rất tự nhiên, bất ngờ, khỏe khoắn: từ lạnh lẽo, hắt hiu đến ấm nóng, sum vầy, từ tối đến sáng, từ buồn sang vui… đó là điểm đặc sắc trong phong cách thơ của Bác, thể hiện niềm tin yêu cuộc đời dù đang ở ỗ trong những tháng ngày đau khổ nhất.

    Bài thơ Chiều tối có sự hài hòa giữa phong cách cổ điển với hiện đại, giữa thiên nhiên với tâm hồn. Bài thơ đã cho người đọc thưởng thức bức tranh thiên nhiên đẹp và cảm nhận được vẻ đẹp của tâm hồn lớn. Một tâm hồn phong phú, giàu cảm xúc, một tình cảm hồn hậu, thiết tha với thiên nhiên, cuộc sống con người; luôn hướng về sự sống và ánh sáng, một tinh thần lạc quan trong gian khổ.

  • Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy và Chiều tối

    Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy và Chiều tối

    Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy và Chiều tối

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy và Chiều tối (Bài 2)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích hình tượng người chiến sĩ trong bài thơ Từ ấy và Chiều tối

    Bài văn mẫu

    Hình tượng người chiến sĩ là một đề tài phổ biến của văn học Việt Nam trong giai đoạn kháng chiến. Mỗi tác giả lại đem đến những vẻ đẹp riêng cho người chiến sĩ. Trong những năm tháng đó, hình ảnh người chiến sĩ đẹp đẽ ở cả tâm hồn và lí tưởng sống cao đẹp đã được khắc họa thật chân thực, đầy đủ trong tác phẩm Chiều tối (Hồ Chí Minh) và Từ ấy (Tố Hữu).

    Bài thơ Chiều tối là bài thứ 131 được rút ra từ tập Nhật kí trong tù, bài thơ có hoàn cảnh ra đời hết sức đặc biệt. Hồ Chí Minh sang Trung Quốc tìm viện trợ và khi Người đến Quảng Tây thì bị chính quyền Tưởng Giới Thạch bắt giam. Hồ Chí Minh bị chuyển hết từ nhà lao này đến nhà lao khác, hòng tiêu diệt ý chí sắt đá của người chiến sĩ cách mạng. Chiều tối là bài thơ được ra đời trong hoàn cảnh đó, Hồ Chí Minh bị chuyển từ nhà lao Tĩnh Tây đến nhà lao Thiên Bảo. Bài thơ không chỉ phác họa được bức tranh thiên nhiên mà con cho người đọc thấy được chân dung đẹp đẽ của người chiến sĩ trên con đường cách mạng.
    Trong bài thơ, người chiến sĩ hiện lên là người có lòng yêu thiên nhiên, tâm hồn rộng mở, phóng khoáng. Trên đường giải từ nhà lao này đến nhà lao khác là một hành trình đầy khó khăn, gian khổ, đường sá xa xôi, mệt nhọc nhưng không vì thế mà tâm hồn, lòng yêu thiên nhiên của Bác bị dập tắt. Trước cảnh hoàng hôn đẹp đẽ nơi rừng núi, Người vẫn có những giây phút lắng lòng mình để cảm nhận đầy đủ, trọn vẹn vẻ đẹp của đất trời:
    Quyện điểu quy lầm tầm túc thụ
    Cô vân mạn mạn độ thiên không
    Người đã thật tinh tế, nhạy cảm nắm bắt được khoảnh khắc chú chim nhỏ bay về rừng tìm nơi ngủ sau một ngày kiếm ăn mệt nhọc. Những đám mây lặng lẽ, lững lờ trôi nhanh về phía cuối trời. Bức tranh thật cổ điển, với những nét vẽ đơn sơ, nhưng cũng đủ để cảm nhận được cái thần, cái hồn của sự vật.
    Không chỉ vậy, người chiến sĩ ấy còn mang trong mình tấm lòng nhân đạo sâu sắc: “Sơn thôn thiếu nữ ma bao túc/ Bao túc ma hoàn lô dĩ hồng”. Dù bị hành hạ cả về thể xác và tinh thần, bản thân chịu nhiều cực khổ nhưng Bác vẫn quan tâm, chỉa sẻ với những người lao động. Hình ảnh người thiếu nữ say ngô tối miệt mài, vừa thể hiện tinh thần khỏe khoắn, tràn đầy sức sống, vừa cho thấy tình cảm, sự quan tâm của bác đối với tất cả mọi người, Bác chia sẻ niềm vui chung, niềm vui với cuộc sống bình dị của con người nơi đây. Ngoài ra, người chiến sĩ luôn hướng về ánh sáng, hướng về tương lai tốt đẹp. Trong cái thinh lặng của không gian, khi đêm tối phủ ngập bốn phía, con mắt người tù vẫn tìm kiếm ánh sáng, và thứ ánh sáng đó không gì khác chính là những viên than rực hồng. Ánh sáng đó đã làm sáng cả bức tranh vốn u tối và đượm buồm. Thơ Bác luôn có xu hướng vận động từ bóng tối ra ánh sáng, cho thấy tâm hồn lạc quan, luôn hướng về tương lai của Người.
    Để khắc họa chân dùng người chiến sĩ cách mạng, Bác chủ yếu sử dụng bút pháp gợi tả, có sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại. Người chiến sĩ hiện lên là một con người yêu thiên nhiên, tấm lòng nhân đạo bao la, luôn hướng về tương lai tốt đẹp. Con người có sự hòa hợp, dung hòa với thiên nhiên, những vẫn là chủ của bức tranh ấy.
    Người chiến sĩ trong bài Từ ấy lại hiện lên với những vẻ đẹp riêng, không hòa lẫn. Từ ấy được sáng tác năm 1938 khi Tố Hữu được kết nạp Đảng. Bài thơ là khúc ca say mê, tràn đầy nhiệt huyết của người chiến sĩ cách mạng.
    Người chiến sĩ trước hết là người có tình yêu, niềm say mê mãnh liệt với lí tưởng cách mạng. Ngày được vào Đảng là mốc son chói lọi trong cuộc đời ông: “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ/ Mặt trời chân chói qua tim/ Hồn tôi là một vườn hoa lá/ Rất đậm hương và rộn tiếng chim”. Từ khoảnh khắc được kết nạp, Đảng đã soi chiếu tâm hồn, giúp người chiến sĩ tìm đường con đường chân lí mà bấy lâu nay mình loay hoay tìm kiếm. Khoảnh khắc ấy cũng đem đến cho hồn tôi những cảm xúc mới mẻ, tràn đầy sức sống, làm hồi sinh thức tỉnh phẩm chất nghệ sĩ trong con người của chiến sĩ.
    Vẻ đẹp của người chiến sĩ còn hiện lên ở lẽ sống cao đẹp, hòa nhập dâng hiến cho sự nghiệp chung của cách mạng. Cái tôi không còn đơn độc, riêng lẻ, mà hòa nhập, buộc lòng với mọi người: “Tôi buộc hồn tôi với mọi người/ Để tình trang trải với trăm nơi”. Cái tôi thắt chặt với quần chúng, tự nguyện đem hết cả tuổi trẻ, tính mạng của mình gắn với “mọi người”. Để được gần gũi với “bao hồn khổ” thấu hiểu những khó khăn, vất vả, cực nhọc của họ. Người Đảng viên không chỉ hòa nhập mà còn chính thức được đón nhận vào tập thể quần chúng nhân dân. Kết quả của sự hòa nhập ấy tạo nên sức mạnh to lớn “mạnh khối đời”. Khối đời là cuộc đời chung, rộng lớn, không thể cân đo đong đếm. Nhưng được Tố Hữu kết hợp với chữ khối đã hiến nó hữu hình, có thể nắm bắt được. Người chiến sĩ hòa nhập vào đại gia đình quần chúng lao động và nhận thức được trách nhiệm của bản thân làm sao để có thể cứu vớt được những cuộc đời lao khổ. Đó là một cái tôi có ý thức, trách nhiệm với con người, cuộc đời, với cuộc đấu tranh chung của toàn dân tộc.
    Chân dung người chiến sĩ trong bài Từ ấy chủ yếu được miêu tả trực tiếp những cung bậc cảm xúc, sự chuyển biến trong nhận thức của nhân vật trữ tình. Đó là cái tôi hăm hở, nhiệt huyết, sống cuộc đời đầy tinh thần trách nhiệm với cách mạng, với cuộc đời.
    Chiều tối và Từ ấy đều đã khắc họa thành công chân dung người chiến sĩ cách mạng với vẻ đẹp nhân cách sáng ngời. Họ là những người con ưu tú của thời đại, mang trong mình những phẩm chất cao đẹp, lí tưởng, mục tiệu đúng đắn, có niềm tin vào tương lai của cuộc đấu tranh chính nghĩa của dân tộc.
    Bên cạnh những điểm tương đồng, hai bài thơ vẫn có những điểm khác biệt, thể hiện phong cách riêng của hai tác giả. Trong bài Chiều tối người chiến sĩ hiện lên với tâm hồn rộng mở, lòng yêu thiên nhiên, gắn bó sâu nặng với cuộc sống. Tâm hồn người chiến sĩ luôn tìm và hướng về ánh sáng dù hoàn cảnh nhiều khó khăn, thử thách. Vẻ đẹp tâm hồn vừa cổ điển, vừa hiện đại. Còn với Từ ấy, tâm hồn chiến sĩ là say mệ, nhiệt huyết với lí tưởng cách mạng. Lẽ sống cao đẹp, có ý thức trách nhiệm với cuộc đời chung. Tinh cảm của nhân vật được bộc lộ trực tiếp.

    Bằng những lời thơ chân thành, tinh tế cả hai bài thơ đã dựng lên bức chân dung đẹp đẽ về tinh thần, nhân cách của những người chiến sĩ. Mỗi người mang trong mình những vẻ đẹp riêng, làm phong phú thêm bức tranh tâm hồn của người chiến sĩ. Nhưng đồng thời ở họ còn ánh lên vẻ đẹp chung đó là lòng yêu nước nồng nàn.

  • Phân tích tâm trạng của nhân vật Vũ Như Tô và Đan Thiềm

    Phân tích tâm trạng của nhân vật Vũ Như Tô và Đan Thiềm

    Phân tích tâm trạng của nhân vật Vũ Như Tô và Đan Thiềm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích những mâu thuẫn trong Vĩnh biệt cửu trùng đài

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tâm trạng và diễn biến tính cách của Vũ Như Tô và Đan Thiềm trong đoạn trích hổi 5 của vở kịch Vũ Như Tô.

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Huy Tưởng (19-12-1960) là nhà văn có thiên hướng khai thác đề tài lịch sử và có những đóng góp nổi bật ở thể loại tiểu thuyết và kịch. Văn phong của ông trong sáng, giản dị, đôn hậu nhưng thâm trầm, sâu sắc.

    Vũ Như Tô là vở kịch 5 hồi, viết về một sự kiện xảy ra ở Thăng Long khoảng năm 1516-1517 dưới triều Lê Tương Dực. Vở kịch xoay quanh mâu thuẫn giữa nhà vua với phe nổi loạn do việc xây dựng Cửu Trung Đài. Dân gian đói kém nổi lên tứ tung… Khi dân nổi lên, họ nông nổi vô cùng… Thợ xây Cửu Trùng Đài quá nửa theo về quân phản nghịch.

    Phe đối lập trong triều đình đứng đầu la Trịnh Duy Sản, sau Trịnh Duy Sản là Ngô Hạch, An Hòa Hầu. Mâu thuẫn đến hồi 5 đã đạt tới đỉnh điểm và đã được giải quyết: Trịnh Duy Sản, Ngô Hạch giết chết Lê Tương Dực. Mâu thuẫn giữa phe Trịnh Sản với Kim Phượng và các cung nữ vì coi đó là phương tiện hành lạc của Lê Tương Dực cũng được đẩy lên ở đỉnh cao. Kim Phượng và cung nữ đã lái sự căm ghét đó sang Đan Thiềm, Vũ Như Tô để mong bớt tội, mong thoát mũi kiến trừng phạt của Ngô Hạch.

    Vũ Như Tô là một nghệ sĩ có nhân cách, có lí tưởng nghệ thuật, không phải là người ham sống, sợ chết hoặc hám lợi. Lúc đầu, ông thà chết chứ nhất định không xây Cửu Trùng Đài cho hôn quân; khi được vua thưởng bạc vàng, lụa là ông đem chia hết cho thợ. Nhưng Vũ Như Tô quá say sưa với mơ ước xây dựng một công trình nghệ thuật lớn cho đất nước, cho đời sau đến mới quên cả thực tế: dân chúng đang đói khổ, càng bị giai cấp thống trị bòn rút mồ hôi, nước mắt để xây Cửu Trùng Đài.

    Vũ Như Tô tích cực xây Cửu Trùng Đài càng làm cho khối mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến thối nát Lê Tương Dực với nhân dân đang bị bần cùng hóa vì sưu thuế, tạp dịch được tăng dần lên. Đan Thiềm khuyên khích Vũ Như Tô xây Cửu Trùng Đài càng làm cho mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô tăng cao hơn. Khát vọng nghệ thuật trong con người nghệ sĩ ở Vũ Như Tô có phần chính đáng nhưng đã đặt nhầm chỗ, nhầm thời. Trong việc xây Cửu Trùng Đài, Vũ Như Tô vừa là tội nhân, vừa là nạn nhân. Diễn biến mâu thuẫn trong con ngừời Vũ Như Tô và Đan Thiềm, mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ, giữa khát vọng nghệ thuật và thực tế xã hội đã có kết cục nhưng thực ra vẫn chưa được giải quyết triệt để: Vũ Như Tô bị giết mặc dù không cố tình hại dân, bản thân Vũ Như Tô không nhận ra sai lầm của mình.

    Mâu thuẫn giữa quan niệm nghệ thuật cao siêu, thuần túy của muôn đời và lợi ích thiết thân của nhân dân trong hồi V vẫn chưa được tác giả giải quyết dứt khoát. Điều đó được thể hiện ở phần cuối cùng của vở kịch. Quần chúng nổi dậy giết Vũ Như Tô, phá hủy Cửu Trùng Đài. Bản thân Vũ Như Tô bị giết nhưng vẫn chưa nhận ra sai lầm của mình, Vũ Như Tô không đứng về phe Lê Tương Dực nhưng vẫn muốn hoàn thành công trình nghệ thuật. Chính tác giả cũng băn khoăn vì kết thúc này.

    Việc quần chúng giết Vũ Như Tô có lí đúng: nếu Vũ Như Tô không xây Cửu Trùng Đài thì chắc Lê Tương Dực không thể xây dựng Cửu Trùng Đài, gây thiệt hại cho nhân dân. Nhưng quần chúng nhân dân trong cơn nông nổi, giận dữ, có thể chưa hiểu hết Vũ Như Tô. Quần chúng lúc đó cũng chưa nghĩ đến công sức của chính mình bỏ ra cho công trình nghệ thuật mà có thể lưu lại cho con cháu muôn đời sau. Việc nổi dậy giết Lê Tương Dực là đúng, việc tạm hoãn xây Cửu Trùng Đài là đúng nhưng việc giết Vũ Như Tô là quá tay và việc phá hủy Cửu Trùng Đài là không nên.

    Trong hồi 5, ta còn thấy mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô. Đó cũng chính là quan điểm của tác giả về mối quan hệ giữa nghệ thuật với cuộc sống nhân dân. Tác giả nhận thức được mâu thuẫn giữa lợi ích bức thiết của dân chúng và niềm mong muốn có được một công trình nghệ thuật vĩ đại cho dân tộc. Tác giả băn khoăn: không thể hi sinh lợi ích bức thiết của dân chúng nhưng vẫn mong có một công trình nghệ thuật như Cửu Trùng Đài. Trong hoàn cảnh xã hội lúc bấy giờ, việc mong muôn có được một Cửu Trùng Đài là không đúng. Nghệ thuật không thể đứng cao hơn cuộc sống, cao hơn cả sự sống còn của nhân dân. Khát vọng và động cơ của Vũ Như Tô là chính đáng, nhưng xây Cửu Trùng Đài là không nên vì lúc đó là chất thêm một gánh nặng cho dân chúng.

    Đan Thiềm và Vũ Như Tô là những người quá say mê nghệ thuật mà quên cả thực tế.
    Đoạn trích thể hiện rất rõ đặc sắc nghệ thuật kịch của Nguyễn Huy Tưởng: ngôn ngữ kịch điêu luyện, có tính tổng hợp cao. Đặc biệt, nhà văn đã dùng ngôn ngữ, hành động của nhân vật để khắc họa tính cách.

    Đoạn trích còn thể hiện được tài dẫn dắt và đẩy xung đột kịch lên cao của nhà văn. Đó là hai mâu thuẫn giữa tập đoàn phong kiến thối nát Lê Tương Dực với nhân dân đang bị bần cùng hóa vì sưu thuế, tạp dịch: mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ trong Vũ Như Tô.