Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • Cảm nhận khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm nhận khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm nhận khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan:Cảm nhận khổ 2 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    [toc]

     

    Đề bài: Cảm nhận khổ 3 trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng:

        “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

        (…) Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

    Bài văn mẫu

        “Tây Tiến” là bài thơ hay nhất của Quang Dũng cũng là một trong những bài thơ tuyệt bút về “anh bộ đội Cụ Hồ” trong kháng chiến chống Pháp. Quang Dũng là nhà thơ – chiến sĩ, vừa cầm súng đánh giặc, vừa làm thơ. Ông viết về đồng đội, về đoàn binh Tây Tiến thân yêu của mình. Thơ của Quang Dũng nóng bỏng hào khí chiến trường.

        Sau một thời gian xa đơn vị và đồng đội, ông viết bài thơ “Tây Tiến” này vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một địa điểm bên bờ sông Đáy hiền hòa. Cảm xúc chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ và niềm tự hào đối với đoàn binh Tây Tiến, đối với con sông Mã và núi rừng miền Tây xa xôi. Đó là nỗi nhớ “chơi vơi” bao kỉ niệm đẹp và cảm động một thời trận mạc đầy gian khổ, hi sinh. Đây là đoạn thơ thứ 3 trong bài “Tây Tiến” đã khắc họa khí phách anh hùng và tâm hồn lãng mạn của người chiến sĩ trong máu lửa:

        “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc

        (…) Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

        Trên những nẻo đường hành quân chiến đấu, vượt qua bao núi cao dốc thẳm “Heo hút cồn mây súng ngửi trời”, đoàn binh Tây Tiến hiện ra giữa màu xanh của núi rừng trùng điệp, vừa kiêu hùng vừa cảm động. Người chiến binh với quân trang màu xanh của lá rừng, với nước da xanh phong sương vì sốt rét rừng, thiếu thuốc men, lương thực: “không mọc tóc”. Câu thơ trần trụi như hiện thực chiến tranh những năm đầu kháng chiến vốn thế. “Không mọc tóc” là hình ảnh phản ánh cái khốc liệt của chiến trường:

        “Tây Tiến đoàn binh không mọc tóc,

        Quân xanh màu lá dữ oai hùm”.

        Cái hình hài không lấy gì làm đẹp: “quân xanh màu lá”, “không mọc tóc” tương phản với “dữ oai hùm” là một nét chạm khắc tài tình làm nổi bật chí khí hiên ngang, tinh thần quả cảm xung trận của các chiến binh Tây Tiến từng làm cho quân giặc phải khiếp sợ. “Dữ oai hùm” là một hình ảnh ẩn dụ nói lên chí khí người lính mang tính kế thừa và sáng tạo của Quang Dũng. Các chiến binh “Sát Thát” đời Trần: “Tam quân tỳ hổ khí thôn Ngưu” (Phạm Ngũ Lão); “Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói” (Trương Hán Siêu). Nghĩa quân Lam Sơn xung trận trong khí thế “bình Ngô”: “Sĩ tốt kén tay tì hổ – Bề tôi chọn kẻ vuốt nanh” (Bình Ngô đại cáo) – Một dân tộc anh hùng trên trận tuyến đánh quân thù, thời đại nào cũng có những chiến sĩ “tì hổ” và “dữ oai hùm” như thế đó! Với niềm tự hào, Quang Dũng đã viết nên một câu thơ rất hay: “Quân xanh màu lá dữ oai hùm”, lấy cái “thô”, cái “mộc” để tô đậm cái đẹp, cái dũng khí ẩn chứa trong tâm hồn người chiến sĩ.

        Gian khổ, ác liệt, thiếu thốn, bệnh tật… muôn lần khó khăn, thử thách nhưng học vẫn có những giấc “mơ”, giấc “mộng” rất đẹp:

        “Mắt trừng gửi mộng qua biên giới,

        Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

        Mộng và mơ gửi về hai phía chân trời: biên giới và Hà Nội, nơi còn đầy bóng giặc. “Mắt trừng” – hình ảnh gợi tả nét dữ dội, oai phong lẫm liệt, tinh thần cảnh giác, tỉnh táo của người lính trong khói lửa ác liệt. “Mộng qua biên giới” – mộng tiêu diệt quân thù, bảo vệ biên cương, lập nên bao chiến công nêu cao truyền thống anh hùng của đoàn binh Tây Tiến. Lại có những giấc mơ đẹp. Chiến sĩ Tây Tiến vốn là những học sinh, sinh viên, những chàng trai Hà thành “xếp bút nghiên theo việc đao, cung”, giàu lòng yêu nước, phong độ hào hoa: “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long” (Huỳnh Văn Nghệ). Sống giữa núi rừng miền Tây, gian khổ, ác liệt, cái chết bủa vây, lửa đạn mịt mù. Nhưng các anh vẫn mơ về Hà Nội. Quên sao được những hàng me, hàng sấu, những phố cũ, trường xưa, “Những phố dài xao xác hơi may”?.. Quên sao được những tà áo trắng, những thiếu nữ thương yêu, những “dáng kiều thơm” từng hò hẹn. Hình ảnh “Dáng kiều thơm” trong câu thơ của Quang Dũng đem đến cho người đọc nhiều thú vị: ngôn từ vốn có trong thơ lãng mạn thời “tiền chiến” nhưng dưới ngòi bút nhà thơ – chiến sĩ nó trở nên có hồn, đặc tả chất lính hào hoa, trẻ trung, lãng mạn của người lính trẻ đoàn binh Tây Tiến trong trận mạc.

        Nếu người nông dân mặc áo lính trong thơ Chính Hữu mang theo nỗi nhớ “giếng nước gốc đa”, nhớ mái nhà gianh, nhớ ruộng nương…; trong thơ Hồng Nguyên là nỗi nhớ “người vợ trẻ – Mòn chân bên cối gạo canh khuya”,… thì người chiến sĩ trong thơ Quang Dũng, nỗi nhớ gắn liền với “mộng” và “mơ”. Mộng lập chiến công, mơ “dáng kiều thơm”. Hữu Loan trong bài thơ “Màu tím hoa sim” cũng viết rất hay về nỗi nhớ của người lính chống Pháp:

        “Từ chiến khu xa

        Nhớ về ái ngại

        Lấy chồng thời chiến tranh

        Mấy người đi trở lại

        Lỡ khi mình không về

        Thì thương người vợ bé bỏng chiều quê…”

        Viết về “mộng” và “mơ” của người chiến binh Tây Tiến, Quang Dũng đã ca ngợi tinh thần lạc quan yêu đời của đồng đội. Đó là một nét khám phá của nhà thơ khi vẽ chân dung “anh bộ đội Cụ Hồ” xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản trong chín năm kháng chiến chống Pháp.

        Bốn câu thơ tiếp theo là những nét vẽ bỗ trợ, tô đậm chân dung người lính:

        “Rải rác biên cương mồ viễn xứ,

        Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh

        Áo bào thay chiếu anh về đất,

        Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

        Trong gian khổ và chiến trận, bao đồng đội đã ngã xuống trên chiến trường miền Tây. Họ nằm lại nơi chân đèo góc núi. Nấm mồ người chiến sĩ “rải rác biên cương”. Câu thơ để lại trong lòng ta nhiều thương cảm, biết ơn, tự hào: “Rải rác biên cương mồ viễn xứ”. Nếu tách câu thơ trên ra khỏi đoạn thơ thì nó tựa như bức tranh xám lạnh, ảm đạm và hiu hắt, đem đến nhiều xót thương. Nhưng nằm trong văn cảnh, đoạn mạch, câu thơ tiếp theo: “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”, đã nâng cao chí khí và tầm vóc người lính. Các anh đã ra trận vì một lí tưởng rất đẹp. “Đời xanh” là đời trai trẻ, là tuổi thanh xuân của “Những chàng trai chưa trắng nợ anh hùng…”, những học sinh, sinh viên Hà Nội. Họ lên đường đầu quân vì nghĩa lớn của chí khí làm trai. Họ “quyết tử cho Tổ quốc quyết sinh”. Câu thơ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh” vang lên như một lời thề thiêng liêng, cao cả. Các anh quyết đem xương máu để bảo về độc lập, tự do cho Tổ quốc. Anh bộ đội cũng như nhân dân ta đã đứng lên kháng chiến với quyết tâm sắt đá: “Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”. Quang Dũng ghi lại cảnh tượng bi tráng giữa chiến trường miền Tây thưở ấy:

        “Áo bào thay chiếu anh về đất

        Sông Mã gầm lên khúc độc hành”.

        Các tráng sĩ ngày xưa giữa chốn sa trường lấy da ngựa bọc thây làm niềm kiêu hãnh. Các chiến sĩ Tây Tiến với chiếc chiếu đơn sơ, với tấm “áo bào” bình dị ấy: “anh về đất”. Một cái chết nhẹ nhàng, thanh thản. Anh ra trận giết giặc vì quê hương. Anh ngã xuống là: “về đất”, nằm trong lòng Mẹ Tổ quốc thân yêu. Nhà thơ không dùng từ “chết”, từ “hi sinh” mà lấy cụm từ “về đất” để ca ngợi sự hi sinh cao cả mà bình dị, thầm lặng mà thanh thản, nhẹ nhàng coi cái chết nhẹ tựa lông hồng. Người chiến binh Tây Tiến đã sống và chiến đấu cho quê hương, đã chết vì đất nước quê hương. “Anh về đất” bằng tất cả tấm lòng chung thủy của người chiến sĩ. Tiếng thác nước sông Mã “gầm lên” giữa núi rừng miền Tây như tiếng kèn trong bài “Chiêu hồn liệt sĩ” tống tiễn linh hồn liệt sĩ về nơi an giấc ngàn thu. Câu “Sông mã gầm lên khúc độc hành” là một câu thơ hay vì gợi tả được không khí thiêng liêng, trang trọng, đồng thời tạo nên âm điệu trầm hùng, thương tiếc. Phong cách ngôn ngữ của Quang Dũng rất đặc sắc, bên cạnh những từ ngữ bình dị đời lính như: gục, không mọc tóc, dữ, trừng, về đất, chiếu, gầm lên… lại có một số từ Hán Việt như: mộng, mơ, biên giới, dáng kiều, biên cương, viễn xứ, áo bào, khúc độc hành – nhờ đó mà cái bình dị làm nổi bật cái cao cả thiêng liêng, cái bình thường tô đậm cái anh hùng, vĩ đại. Chất bi tráng và màu sắc lãng mạn từ vần thơ tỏa rộng trong không gian và chiều dài lịch sử.

        Đoạn thơ viết về chân dung người lính trong bài thơ “Tây Tiến” là đoạn thơ độc đáo nhất. Khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn được nhà thơ kết hợp vận dụng sáng tạo trong miêu tả và biểu lộ cảm xúc, tạo nên nhưng câu thơ “có hồn”. Người lính đã sống anh dũng, chết vẻ vang. Hình tượng người chiến sĩ Tây Tiến mãi mãi là một tượng đài nghệ thuật bi tráng in sâu vào tâm hồn dân tộc.

        “Anh Vệ quốc quân ơi

        Sao mà yêu anh thế!”

                 (Cá nước – 1947, Tố Hữu)

     

  • Văn mẫu: Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)

    Văn mẫu: Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)

    Văn mẫu: Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    [toc]

    Top 3 bài phân tích, dàn ý bài thơ Bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh hay nhất

    Phần Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Dàn ý Phân tích bài thơ Bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh
    2. Phân tích bài thơ Bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh
    3. Bình giảng bài thơ Bài ca phong cảnh Hương Sơn của Chu Mạnh Trinh

  • Cảm nhận khổ 2 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm nhận khổ 2 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm nhận khổ 2 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận khổ 2 trong bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng:

        “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

        (…) Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

    Bài văn mẫu

       Quang Dũng là nhà thơ – chiến sĩ, từng cầm súng đánh giặc và làm thơ thời kháng chiến chống Pháp. Năm 1948, tại Phù Lưu Chanh (Hà Tây cũ), ông viết bài thơ “Tây Tiến” nói lên tình thương nhớ chiến trường miền Tây, nhớ đồng đội thân yêu một thời trận mạc. Mở đầu bài thơ là một lời nhắn gọi biết bao thiết tha bồi hồi:

        “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

        Nhớ về rừng núi, nhớ chơi với”.

       Bài thơ có 34 câu thơ thất ngôn, chia thành 4 đoạn, mỗi đoạn thơ là sự hồi tưởng bao kỉ niệm sâu sắc. Đây là đoạn thơ thứ hai có 8 câu mang vẻ đẹp như một bài hành nói về 2 nỗi nhớ: nhớ hội đuốc hoa và nhớ chiều sương Châu Mộc:

        “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

        …

        Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”.

       Từ “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói – Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”, Quang Dũng nhớ đến “hội đuốc hoa” thắm thiết tình quân dân:

        “Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

        Kìa em xiêm áo tự bao giờ

        Khèn lên man điệu nàng e ấp

        Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

       Đuốc hoa là cây nến thắp lên trong phòng tối tân hôn. “Truyện Kiều” có câu: “Đuốc hoa chẳng thẹn với chàng mai xưa”(3096). Quang Dũng sáng tạo thành “hội đuốc hoa” để nói về đêm liên hoan lửa trại giữa các cán bộ chiến sĩ đoàn binh Tây Tiến với đồng bào các bản mường. Chữ “bừng” vừa chỉ ánh lửa, ánh đuốc sáng bừng lên, vừa tả âm thanh tiếng nói, tiếng cười, tiếng hát, tiếng khèn vang lên tưng bừng rộn rã trong hội đuốc hoa. Đêm lửa trại, đêm liên hoan chắc là có múa sạp, có múa xòe của các cô gái Mường, cô gái Thái tham gia? Chữ “kìa” là đại từ để trỏ một đối tượng (người, vật) từ xa; trong văn cảnh thể hiện sự ngạc nhiên, niềm vui thích, tình tứ của chàng lính trẻ Tây Tiến khi nhìn thấy các “em”, các “nàng” đến dự hội đuốc hao trong bộ xiêm áo xinh đẹp. Hình ảnh “nàng e ấp” là một nét vẽ tài hoa và có hồn đã gợi tả vẻ đẹp duyên dáng, kín đáo, tình tứ của các thiếu nữ miền Tây. Ánh lửa, tiếng hát, tiếng khèn, màu xiêm áo rực rỡ, vẻ đẹp kiều diễm của các “em”, các “nàng” như đã “xây hồn thơ” các chàng lính trẻ. Con người thì trẻ chung, xinh đẹp, hào hoa, đa tình; ngòi bút của thi nhân cũng rất tài hoa, lãng mạn. Qua hội đuốc hoa, ta càng thấy đời sống tinh thần vô cùng phong phú của đoàn binh Tây Tiến nơi chiến trường miền Tây gian khổ ác liệt.

       Bốn câu thơ tiếp theo dòng hồi tưởng “trôi” về một miền đất lạ, đó là Châu Mộc thuộc tỉnh Sơn La, nơi có những bãi cỏ bát ngát mênh mông, nơi có dãy núi Pha Luông cao 1880m, nơi có bản Pha Luông sầm uất của người Thái. Quang Dũng người lính chiến với tâm hồn thi sĩ đã khám phá ra bao vẻ đẹp kì thú miền Châu Mộc. Năm tháng đã trôi qua, cảnh và người miền đất lạ ấy đã trở thành một mảnh tâm hồn của bao người:

        “Người đi Châu Mộc chiều sương ấy

        Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

        Có nhớ dáng người trên độc mộc

        Trôi dòng nước lũ hoa đông đưa”.

       “Chiều sương ấy” là chiều thu 1947. Sương trắng phủ mờ núi rừng chiến khu chiều thu ấy in đậm hồn người; hoài niệm càng trở nên mênh mang. Chữ “ấy” câu trên bắt vần với chữ “thấy” câu dưới tạo nên một vần lưng giàu âm điệu, như một tiếng khẽ hỏi “có thấy” cất lên trong lòng. Hồn lau là hồn mùa thu. Hoa lau nở trắng cờ, lá lau kêu xào xạc trong gió thu “nẻo bến bờ”, nơi bờ sông bờ suối. Với tâm hồn thi sĩ tài hoa, Quang Dũng đã cảm nhận vẻ đẹp thơ mộng của thiên nhiên Châu Mộc qua cảnh sắc “chiều sương” và “hồn lau nẻo bến bờ”. Những thi liệu ấy đã tạo nên vẻ đẹp cổ điển bức tranh suối rừng nơi miền đất lạ. Thấp thoáng trong vần thơ “Tây Tiến” là những câu cổ thi tuyệt bút:

        “Sương đầu núi buổi chiều như dội,

        Nước lòng khe nẻo suối còn sâu…”

               (Chinh phụ ngâm)

       Các thi sĩ xưa nay vẫn gọi hồn thu là hồn lau:

        “Ngàn lau cười trong nắng

        Hồn của mùa thu về

        Hồn mùa thu sắp đi

        Ngàn lau xao xác trắng”.

               (Lau mùa thu – Chế Lan Viên)

       Điệp ngữ “có thấy” và “có nhớ” làm cho hoài niệm về chiều sương Châu Mộc thêm phần man mác, bâng khuâng. Nhớ cảnh rồi nhớ đến người. Trong chia phôi còn “có nhớ”. “Có nhớ” con thuyền độc mộc và “dáng người” chèo thuyền độc mộc? “Có nhớ” hình ảnh “hoa đong đưa”trên dòng nước lũ? “Hoa đong đưa” có phải là hoa rừng “đong đưa” làm duyên trên dòng nước lũ như giáo sư Phan Cự Đệ đã nói? Hay “Hoa đong đưa” là hình ảnh ẩn dụ gợi tả các cô gái miền Tây xinh đẹp lái thuyền độc mộc duyên dáng, uyển chuyển như những bông hoa rừng đang “đong đưa” trên sông suối. Bài hát “Sơn nữ ca” của nhạc sĩ Trần Hoàn, “Nụ cười sơn cước” của nhạc sĩ Tô Hải cho ta cảm nhận ấy. Phải có “tay lái ra hoa” mới có thể “đong đưa” được như vậy.

       Những dòng hồi tưởng trên đây về cảnh sắc và con người nơi suối rừng miền Tây, nơi cao nguyên Châu Mộc đã được thể hiện một cách tuyệt đẹp qua bút pháp tài hoa và hồn thơ lãng mạn. Thuở ấy, núi rừng Tây Bắc vô cùng hoang vu, là chốn rừng thiêng liêng nước độc, nhưng Quang Dũng với tâm hồn lạc quan và yêu đời của một khách chinh phu thời đại mới đã cảm nhận và phát hiện bao vẻ đẹp thơ mộng, xinh tươi của cảnh sắc thiên nhiên và con người Tây Bắc.

       Hoài niệm, kỉ niệm về chiến trường núi rừng miền Tây như được chắt lọc qua tâm hồn. Nhà thơ có gắn bó với cảnh vật và con người Tây Bắc, có vào sinh ra tử với đồng đội mới có kỉ niệm đẹp và sâu sắc như vậy, mới có thể viết nên những vần thơ sáng giá như thế.

       Bức tranh chiều sương Châu Mộc và hội đuốc hoa như một bức tranh sơn mài của một danh họa mang vẻ đẹp màu sắc cổ điển và lãng mạn kết hợp hài hòa với tính thời đại và hiện đại trong máu lửa chiến tranh.

  • Dàn ý Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến hay nhất

    Dàn ý Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến hay nhất

    Dàn ý Phân tích hình tượng người lính Tây Tiến hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích hình tượng người lính trong bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Giới thiệu một vài nét khái quát về tác giả Quang Dũng và bài thơ Tây Tiến.

    – Tập trung giới thiệu về hình tượng người lính trong bài thơ.

    1. Thân bài

    – Giới thiệu một số nét về những người lính Tây Tiến: họ là ai, xuất thân của họ, cảm hứng để tác giả sáng tác bài thơ là gì?

    1. Trải qua nhiều gian khổ nhưng vẫn lạc quan, kiên cường

    – Trên chặng đường hành quân, họ đối mặt với biết bao hiểm nguy ở miền núi Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:

        + Địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh: địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi; các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”

        + Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.

        + Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.

        + Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.

        + Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.

    – Họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, bệnh tật: “đoàn binh không mọc tóc”, “ xanh màu lá”, nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.

    1. Có tâm hồn lãng mạn, hào hoa

    – Là những con người nặng tình: nỗi nhớ thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi thân thương, “nhớ chơi vơi”, “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói” là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.

    – Nhạy cảm với vẻ đẹp của thiên nhiên, cuộc sống: “nhà ai Pha Luông …”, “Mai Châu mùa em …”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.

    – Say mê trước cái đẹp trong đêm trại đuốc hoa:

        + Không khí đêm liên hoan tưng bừng với mà sắc rực rỡ, lộng lẫy: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; con người duyên dáng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.

        + Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

    – Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:

        + Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”

        + Con người lao động bình dị, mộc mạc: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    – Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương “Mắt trừng gửi mộng”/ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.

    – Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó luôn gửi lại nơi núi rừng Tây Bắc “Ai lên Tây Tiến … / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    1. Mang vẻ đẹp bi tráng, hào hùng

    – Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:

        + Hình ảnh người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn trong sự thanh thản.

        + Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, luôn ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.

        + Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.

        + Đoàn quân Tây Tiến một thời từng quyết tâm ra đi: “người đi không hẹn ước” “thăm thẳm một chia phôi. (liên hệ so sánh với câu thơ: “Người ra đi đầu không ngoảnh lại/ sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” trong bài thơ Đất Nước của Nguyễn Đình Thi)

    – Nêu cảm nhận riêng về hình tượng người lính Tây Tiến.

    – Khái quát một số giá trị nghệ thuật tiêu biểu: bút pháp lãng mạn kết hợp với hiện thực, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ: nghệ thuật đối, tương phản, .. sáng tạo trong việc sử dụng hình ảnh thơ.

    – Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính.

    III. Kết bài

    – Khẳng định lại vẻ đẹp của hình tượng người lính Tây Tiến: trải qua nhiều gian khổ nhưng vẫn lạc quan, kiên cường luôn có tâm hồn lãng mạn, hào hoa, mang vẻ đẹp hào hùng, bi tráng.

     

  • Văn mẫu: Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Văn mẫu: Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Văn mẫu: Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    [toc]

    Top 2 bài phân tích, cảm nhận bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu hay nhất

    Phần Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: phân tích, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Cảm nhận bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu
    2. Phân tích bài thơ Chạy giặc của Nguyễn Đình Chiểu

  • Dàn ý Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Dàn ý Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Dàn ý Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 6 bài phân tích, dàn ý bài thơ Tây tiến của Quang Dũng hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Trình bày một số nét tiêu biểu về tác giả Quang Dũng và đặc trưng thơ ca của ông (vừa hồn nhiên vừa tinh tế, mang vẻ đẹp hào hoa, phóng khoáng, đậm chất lãng mạn).

    – Nêu một số nét khái quát về bài thơ Tây Tiến: hoàn cảnh ra đời, giá trị nội dung nổi bật của bài thơ.

    1. Thân bài
    2. Một số nét khái quát

    – Tây Tiến: là tên một đoàn quân được thành lập năm 1947, có nhiệm vụ kết hợp với bộ đội Lào để bảo vệ biên giới Việt – Lào, làm hao mòn lực lực giặc Pháp.

    – Xuất thân lính Tây Tiến: phần đông là người Hà Nội, trong đó có nhiều học sinh, sinh viên.

    – Cảm hứng sáng tác: Quang Dũng viết bài thơ để bày tỏ nỗi nhớ với đoàn quân Tây Tiến sau khi chuyển sang công tác ở đơn vị khác.

    1. Đường hành quân của đoàn quân Tây Tiến giữa thiên nhiên Tây Bắc

    – Hai câu thơ đầu: nỗi nhớ thốt lên thành lời “Tây Tiến ơi” là tiếng gọi thân thương, “nhớ chơi vơi”là nỗi nhớ thường trực, bao trùm không gian.

    – Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hoang sơ và dữ dội:

        + Địa danh Sài Khao, Mường Lát gợi sự hẻo lánh, xa xôi;

        + Các từ láy giàu tính tạo hình: “khúc khuỷu”, “thăm thẳm”, “heo hút”, điệp từ “dốc”, nghệ thuật điệp “Dốc lên … dốc lên” gợi địa hình hiểm trở, quanh co, gập ghềnh.

        + Hình ảnh “súng ngửi trời” thể hiện tầm cao của núi non mà người lính phải vượt qua nhưng cũng có cái hóm hỉnh của người lính trong đó.

        + Nhịp thơ bẻ đôi “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống” gợi tả sự nguy hiểm tột cùng.

        + Hình ảnh nhân hóa: “cọp trêu người”, “thác gầm thét” gợi sự hoang sơ, man dại; thời gian: “chiều chiều”, “đêm đêm” những người lính phải thường xuyên đối mặt với điều hiểm nguy chốn rừng thiêng nước độc.

        + Sử dụng phần lớn các thanh trắc nhằm nhấn mạnh sự trắc trở, ghập ghềnh của địa hình.

    – Khung cảnh thiên nhiên cũng có lúc êm dịu, mang đậm hương vị cuộc sống: “nhà ai Pha Luông …”, “cơm lên khói”, “Mai Châu mùa em …”, thanh bằng tạo cảm giác nhẹ nhàng, yên bình.

    – Hình ảnh bi hùng về người lính Tây Tiến “dãi dầu không bước nữa”, “gục lên súng mũ bỏ quên đời”: có thể hiểu hai câu thơ đơn thuần miêu tả khoảnh khắc nghỉ ngơi của người lính sau cuộc hành quân dài, cũng có thể hiểu đó là sự nghỉ ngơi vĩnh viễn.

    – Nhận xét: Thiên nhiên Tây Bắc hùng vĩ nhưng đầy rẫy những hiểm nguy, đó chính là những thử thách đối với những người lính Tây Tiến trên chặng đường hành quân.

    1. Kỉ niệm đẹp về tình quân dân, vẻ đẹp của thiên nhiên Tây Bắc

    – Kỉ niệm đêm liên hoan thắm tình quân dân:

        + Không khí đêm liên hoan tưng bừng với mà sắc rực rỡ, lộng lẫy: “bừng lên”, “hội đuốc hoa”, “khèn lên man điệu”; con người duyên dáng: “xiêm áo”, “nàng e ấp”.

        + Tâm hồn người lính bay bổng, say mê trong không khí ấm áp tình người: “Nhạc về Viên Chăn xây hồn thơ”.

    – Khung cảnh sông nước, con người vùng Tây Bắc:

        + Đẹp huyền ảo, hoang dại, thiêng liêng: “Chiều sương”, “hồn lau nẻo bến bờ”

        + Con người lao động bình dị, mộc mạc: “dáng người trên độc mộc”, cảnh vật duyên dáng, đầy sức sống: “trôi dòng nước lũ hoa đong đưa”

    – Nhận xét: nhờ bút pháp lãng mạn, quang Dũng đã vẽ nên bức tranh thiên nhiên thơ mộng, cuộc sống sinh hoạt đầm ấm và hình ảnh con người duyên dáng của vùng Tây Bắc.

    1. Hình tượng người lính Tây Tiến

    – Chân dung người lính được miêu tả chân thực: “đoàn binh không mọc tóc”, “ xanh màu lá”, họ sống và chiến đấu trong điều kiện khắc nghiệt, thiếu thốn, gian khổ nhưng vẫn mạnh mẽ “dữ oai hùm”.

    – Họ là những con người có tâm hồn lãng mạn, trái tim yêu thương “Mắt trừng gửi mộng”/ “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”, lấy hình bóng người thương nơi quê nhà làm động lực chiến đấu.

    – Vẻ đẹp bi tráng thể hiện qua sự hi sinh anh dũng của họ:

        + Sẵn sàng công hiến tuổi trẻ của mình cho đất nước “rải rác biên cương mồ viễn xứ”, “chẳng tiếc đời xanh”, “anh về đất”, ra đi thanh thản, nhẹ nhàng.

        + Cái chết đã được lí tưởng hóa như hình ảnh những tráng sĩ xưa: “áo bào”, “khúc độc hành”; thiên nhiên cũng đau đớn thay cho nỗi đau họ phải chịu.

    – Nhận xét: Dù trong hoàn cảnh khó khăn những người lính Tây Tiến vẫn có những nét lãng mạn, hào hoa. Họ mang vẻ đẹp kiêu hùng, sẵn sàng hi sinh cho tổ quốc.

    1. Lời hẹn ước, gửi gắm tình cảm của tác giả

    – Câu thơ nhắc nhớ lại ý nguyện, quyết tâm ra đi một thời của đoàn quân Tây Tiến: “người đi không hẹn ước”, còn là sự tiếc thương những đồng đội đã hi sinh “thăm thẳm một chia phôi”.

    – Niềm thương, nỗi nhớ, tình cảm gắn bó của tác giả luôn gửi lại nơi đoàn quân Tây Tiến: và vùng rừng núi Tây Bắc “Ai lên Tây Tiến … / Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”

    III. Kết bài

    – Giá trị nghệ thuật: bút pháp lãng mạn, những sáng tạo trong việc sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh thơ

    – Tổng kết giá trị nội dung: bài thơ đã tái hiện vẻ đẹp vừa hùng vĩ, vừa thơ mộng của núi rừng Tây Bắc; hình tượng người lính kiên cường, dũng cảm không ngại hi sinh nhưng cũng lãng mạn, mộng mơ.

     

  • Văn mẫu: Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Văn mẫu: Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Văn mẫu: Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    [toc]

    Top 2 bài phân tích, dàn ý bài thơ Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu hay nhất.

    Phần Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. 3 bài văn mẫu Phân tích đoạn trích Lẽ ghét thương trong truyện Lục Vân Tiên
    2. 3 bài văn mẫu Cảm nhận về đoạn trích Lẽ ghét thương của Nguyễn Đình Chiểu

  • Văn mẫu: Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    Văn mẫu: Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    Văn mẫu: Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ)

    [toc]

    Top 4 bài phân tích, dàn ý bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát hay nhất.

    Phần Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Dàn ý Phân tích bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát hay nhất
    2. 3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát hay nhất
    3. Cảm nhận về bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát
    4. 2 bài văn mẫu Cảm nhận của em về Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát

  • Phân tích Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS hay nhất

    Phân tích Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS hay nhất

    Phân tích Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Nghị luận: Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tác phẩm Thông điệp nhân ngày thế giới phòng chống AIDS 1-12-2013 của Cô-Phi An-Nan.

    Bài văn mẫu

       Trong một thời đại biến động khôn lường, chuyện phải nghe, được nghe những bản thông điệp mang các nội dung “hệ trọng”, “cấp bách” không phải là chuyện gì đặc biệt. Do quá quen với điều này, không ít người đã tỏ ra bàng quan, thờ ơ, thậm chí dị ứng với mọi thông điệp đủ loại, cho dù chúng được phát ra từ các cá nhân có cương vị xã hội quan trọng hay từ các tổ chức chính trị – xã hội lớn đến mức nào đi chăng nữa. Những kiểu phản ứng tiêu cực này cũng có thể được khắc phục, nếu bản thông điệp hội tụ được các điều kiện cốt yếu sau đây:

       Hàm chứa thông tin đặc biệt về một vấn đề thực sự bức thiết đối với cuộc sống của cộng đồng. Cái gọi là “bức thiết” đó phải mang tính khách quan chứ không phải, không thể là một sự “bức thiết” dược nguy tạo nhằm những mục tiêu không trong sáng, cao thượng.

       Được nói (viết) bới một con người có nhân cách cao quý, có uy vọng lớn trong xã hội, biết đảm bảo sự thống nhất giữa lời nói và việc làm.

       Có lẽ chưa ai đo mức độ tác động của lời kêu gọi mà Cô-phi An-nan phát ra nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003, nhưng đối chiếu những điều được phản ánh trong bản thông điệp với tình hình thế giới hiện nay, ta có cơ sở để nói rằng, đây là văn kiện thực sự có ý nghĩa đối với cuộc sống toàn nhân loại.

       Đối tượng hướng tới của bản thông điệp là tất cả mọi người, mọi tổ chức xã hội, mọi quốc gia trên trái đất. Chính cương vị Tổng thư kí Liên hợp quốc của Cô-phi An-nan đã đặt bản thông điệp chống HIV/AIDS vào một tương quan phát – nhận có tầm vóc toàn cầu mà không phải bản thông điệp nào, của ai cũng đạt tới được. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là người phát thông điệp không tự tách mình ra như một cá nhân ưu trội, chỉ biết đến sự yêu cầu, sai khiến hay truyền đạt, hô hào. Việc tự nhận thức được trách nhiệm hàng đầu của mình và của tổ chức do mình phụ trách không hề ngăn cản ông chọn cách phát biêu hết sức gần gũi và đầy tinh thần dân chủ. Do vậy, những lời trong bản thông điệp dễ được cảm nhận như là tiếng nói của lương tri ở mỗi chúng ta, và những thành tích hay sự trì trệ, tiêu cực được nêu lên trong đó được hiểu là những thành tích hay thiếu sót mà cả nhân loại không ai không dự phần trách nhiệm. Đại từ xưng hô “chúng ta” (we) được chọn dùng trong bản thông điệp quả đã có tác dụng thống nhất toàn thế giới vào một mặt trận, vào một mối quan tâm chung. Đó là sự lựa chọn tuyệt đối phù hợp.

       Một bản thông điệp thường có độ dài vừa phải và mỗi câu nói đều chở nặng thông tin. Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, I – 12 – 2003 cũng có đặc điểm này và thông tin chính được dồn tụ ở mấy câu sau :

    “Chúng ta phải đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình”.

    “Trong thế giới khốc liệt của AIDS, không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”.

    “Hãy cùng tôi đánh đổ các thành luỹ của sự im lặng, kì thị và phân biệt đối xử đang vây quanh bệnh dịch này”.

       Qua những câu then chốt đó, có thể xác định vấn để trung tâm mà bản thông điệp hướng tới là: chúng ta phải có những nỗ lực cao nhất để ngăn chặn đại dịch AIDS trên cơ sở lí trí sáng suốt, tình nhân loại và ý thức tự bảo vệ cuộc sống của mình.

       Đã là một bản thông điệp, mọi điều được đưa ra (yêu cầu, đề nghị) đều phải có cơ sở pháp lí và đạo lí vững vàng. Thông điệp của Cô-phi An-nan cũng được xây dựng trên các yếu tố nền tảng như :

       Đã có cam kết quốc tế về việc chống HIV/AIDS với những mục tiêu và thời hạn cụ thể.

       Tuy vậy, chúng ta chưa hoàn thành được một số mục tiêu đặt ra cho năm 2003, “đã bị chậm trong việc giảm quy mô và tác động của dịch so với chỉ tiêu đã để ra cho năm 2005”.

       Trong khi đại dịch HIV/AIDS đang hoành hành dữ dội thì nhiều quốc gia vẫn chưa “đưa vấn đề AIDS lên vị trí hàng đầu trong chương trình nghị sự về chính trị và hành động thực tế của mình”, thêm nữa, thái độ kì thị đối với người bị HIV/AIDS vẫn còn phổ biến

       Nói một cách khái quát, cơ sở để Cô-phi An-nan phát lời kêu gọi kiên quyết tuyên chiến với HIV/AIDS chính là : “Ngày hôm nay, chúng ta đã cam kết và các nguồn lực đã được tăng lên. Song những hành động của chúng ta vẫn quá ít so với yêu cầu thực tế”.

       Để thuyết phục mọi người hiểu ràng các nỗ lực chống HIV/AIDS của chúng ta thời gian qua là hoàn toàn chưa đủ, tác giả bản thông điệp đã chú ý làm rõ tốc độ lây lan chóng mặt của “căn bệnh thế kỉ” cùng với những con số và sự kiện xác thực. Với tốc độ lây lan ấy, đại dịch HIV/AID thường vẫn đẩy con người vào thế bị động để khiến con người luôn phải tự kiểm điểm với những câu nói bắt đầu bằng cụm từ “lẽ ra” – một cụm từ thể hiện sự hối tiếc, ân hận, day dứt : “Lẽ ra chúng ta phải giảm được 1/4 số thanh niên bị nhiễm HIV ở các nước bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất; lẽ ra chúng ta phải giảm được một nửa tỉ lệ trẻ sơ sinh bị nhiễm ; và lẽ ra chúng ta phải triển khai các chương trình chăm sóc toàn diện ở khắp mọi nơi”.

       Như đã nói ở trên, một trong những điều cơ bản làm nên sức thuyết phục của bản thông điệp chính là uy tín cá nhân của tác giả – cái vốn tồn tại vừa như một yếu tố phụ trợ bên ngoài lại vừa như là một thành tố cấu trúc của nó. Đọc bản thông điệp, ta thấy khá rõ tầm nhìn, bản lĩnh và tâm huyết của tác giả – người đứng đầu tổ chức Liên hợp quốc : khả năng bao quát vấn đề rộng, nhanh chóng nhìn ra điểm mấu chốt ; dám đối diện với những bất cập của hoạt động phòng chống HIV/AIDS trên thế giới hiện nay và phê phán nó một cách thẳng thắn ; đầy tinh thần trách nhiệm và tình thương yêu đối với con người… Nhìn chung, đoạn văn được viết ra trên tinh thần đối thoại bình đẳng, hoàn toàn không gợi lên sự cách bức về địa vị xã hội giữa người nêu và người tiếp nhận bản thông điệp. Nó đánh thức lương tâm và tinh thần cộng đồng ở mỗi người. Nó cũng chỉ rõ mối quan hệ giữa việc bảo vệ hạnh phúc chung cho nhân loại và việc bảo vệ hạnh phúc riêng cho từng cá nhân con người : “Hãy đừng để một ai có ảo tưởng rằng chúng ta có thể bảo vệ được chính mình bằng cách dựng lên các bức rào ngăn cách giữa “chúng ta” và “họ””. Đặc biệt, bản thông điệp còn chứa đựng những cách nói đầy ấn tượng, gần như minh triết : “Trong thế giới khốc liệt của A1DS, không có khái niệm chúng ta và họ. Trong thế giới đó, im lặng đồng nghĩa với cái chết”.

       Thông điệp nhân Ngày Thế giới phòng chống AIDS, 1-12-2003 là văn kiện giàu giá trị nhân văn và có khả năng thôi thúc hành động mạnh mẽ. Nó tuy ngắn mà có sức vang vọng, giúp chúng ta nhận thức rõ ý nghĩa vô cùng hệ trọng cúa cuộc đấu tranh chống lại đại dịch HIV/AIDS hiện nay trên thế giới, Tiếp nhận bản thông điệp, mỗi người chúng ta đều phải thấy rõ trách nhiệm của mình, không được thờ ơ, vô cảm hay khoanh tay đứng nhìn. Muốn bảo vệ cuộc sống hạnh phúc của chính bản thân và của nhân loại, dứt khoát chúng ta phải có những hành động cụ thể nhằm chống lại HIV/AIDS. Khi hành dộng, bên ta luôn có một người bạn đổng hành đáng tin cậy là chính Tổng Thư kí Liên hợp quốc Cô-phi An-nan.