Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • Cảm nhận 3 khổ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Cảm nhận 3 khổ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Cảm nhận 3 khổ đầu bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích đoạn thơ thứ 15 trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài “Việt Bắc” của Tố Hữu:

        “Mình về mình có nhớ ta

        ……………

        Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.”

    Bài văn mẫu

        “Việt Bắc” là bài thơ lục bát dài 150 câu thơ của Tố Hữu được sáng tác vào tháng 10 năm 1954, ngày thủ đô Hà Nội được hoàn toàn giải phóng.

        “Việt Bắc” là bản hùng ca và tình ca của cách mạng và kháng chiến. Đoạn thơ sau đây dài 20 câu thơ nằm trong phần đầu bài “Việt Bắc”:

        – Mình về mình có nhớ ta

        …

        Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.

        Đoạn thơ ghi lại tình cảm của ta khi đưa tiễn mình: mình đi… mình về… Có thể hiểu ta là cô gái Việt Bắc, là đồng bào của dân tộc Việt Bắc; mình là người cán bộ kháng chiến, là anh bộ đội Cụ Hồ. Chữ ta được vây bọc, được quấn quýt trong vòng tay yêu thương của mười hai chữ mình.

        Bốn câu thơ mở bài cất lên nghe tha thiết bồi hồi; cảm xúc được nén lại trong lòng bỗng ùa dậy và trào lên. Ta hỏi mình, hay ta đang hỏi lòng ta trong buổi phân li ấy:

        Mình về mình có nhớ ta

        Mình lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

        Mình về mình có nhớ không

        Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn?

        Tình nghĩa giữa ta với mình không phải là ngày một ngày hai mà đã giao hòa gắn kết “thiết tha, mặn nồng” trong suốt mười lăm năm trời, kể từ ngày khởi nghĩa Bắc Sơn (1940) đến ngày miền Bắc hoàn toàn giải phóng (tháng 10 – 1954). Cây, núi, sông, nguồn Việt Bắc “mình có nhớ không?”. Câu hỏi tu từ mở ra một trời thương nhớ.

        Tố Hữu đã học tập và vận dụng sáng tạo ca dao dân ca, gợi nhớ trong lòng người đọc hai tiếng mình, ta trong những bài hát giao duyên của trai gái làng quê thuở nào: “Mình về có nhớ ta chăng – Ta về ta nhớ hàm răng mình cười”. Chất trữ tình đằm thắm ấy đã tạo nên một nét đẹp trong đoạn thơ, cũng như cả bài thơ.

        Bốn câu thơ tiếp theo gợi tả không gian, thời gian và tâm trạng nghệ thuật của người ra đi, của kẻ ở lại. Tiếng hát tha thiết của ai cất lên bên cồn, nơi mé rừng, nơi bờ suối? Hình ảnh hoán dụ “áo chàm” làm nổi bật đối tượng đưa tiễn và màu sắc Việt Bắc. “Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi… Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…” gợi lên nhiều thương nhớ rưng rưng. Các từ láy: “tha thiết, bâng khuâng, bồn chồn” là tâm trạng của mình, của ta:

        Tiếng ai tha thiết bên cồn

        Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

        Áo chàm đưa buổi phân li

        Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

        Mười hai câu thơ tiếp theo, các cặp từ ngữ: “mình đi” và “mình về” được giao hoán đến ba lần đầy ấn tượng. Điệp ngữ “có nhớ” được láy lại đến năm lần, chốt lại ở các câu lục, tạo nên cảm xúc bâng khuâng, bồn chồn, tha thiết:

        Mình đi, có nhớ những ngày

        Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù

        Mình về, có nhớ chiến khu

        Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

        Những gian khổ, thiếu thốn, khó khăn khi cách mạng còn trứng nước, những ngày Bác Hồ mới về nước “nhóm lửa” tại Pắc Bó, Cao Bằng. “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù” nơi chiến khu giữa vòng vây của giặc Pháp, giặc Nhật đã trở thành kỉ niệm sâu sắc trong lòng kẻ ở người về. “Miếng cơm chấm muối” thuở ấy đã làm cho tình đồng chí, tình đổng đội, tình quân dân thêm sắt son bền chặt, đã soi sáng lí tưởng chiến đấu cứu nước, cứu nhà, đã làm cho mối thù đế quốc thêm “nặng vai” khắc sâu vào xương tủy:

        Mày sẽ chết! Thằng giặc Pháp hung tàn

        Băm xương thịt mày, tao mới hả.

               (Dọn về làng – Nông Quốc Chấn)

        Mình về xuôi, mình đi xa để lại bao nhớ thương cho ta, cho người ở lại, cho cảnh vật cỏ cây, núi rừng chiến khu. Rừng núi, trám bùi, măng mai được nhân hoá, mang theo bao nỗi nhớ, bao nổi buồn thương. Cảnh vật như hoà lệ, Các chữ “rụng”, chữ “già” gợi lên nhiều bơ vơ, man mác, bâng khuâng:

        Mình về, rừng núi nhớ ai

        Trám bùi để rụng, măng mai để già.

        Làm sao có thể quên được nghĩa tình Việt Bắc trong những tháng ngày gian lao và anh dũng ấy:

        Mình đi, có nhớ những nhà

        Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

        Tố Hữu đã sáng tạo nên những hình ảnh tượng trưng, tương phản (lau xám / lòng son) để ca ngợi đồng bào các dân tộc Việt Bắc. Tuy nghèo khó, thiếu thốn nhưng tình yêu nước, tình cách mạng vẫn thuỷ chung son sắt, vẫn đậm đà. Đây là những vần thơ đẹp nhất, cảm động nhất nói về nồi nhớ, lòng biết ơn và lòng tự hào đối với Việt Bắc.

        Việt Bắc là “đầu nguồn”, là “cái nôi” của cách mạng và kháng chiến, là căn cứ địa của Việt Minh thời kháng Nhật, là Tân Trào, nơi Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân làm lễ xuất kích (tháng 12-1944), là mái đình Hồng Thái, nơi họp Quốc dân đại hội (tháng 8-1945). Việt Bắc là chiến khu bất khả xâm phạm, là thủ đô gió ngàn: “Núi giăng thành luỹ sắt dày – Rừng che bộ đội, rừng vây quân”, nên có bao giờ có thể quên:

        Mình về, có nhớ núi non

        Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

        Mình đi, mình có nhớ mình

        Tân Trào, Hồng Thái, mái đình, cây đa.

        Những địa danh lịch sử, núi non, mái đình, cây đa… đã trở thành kỉ niệm sâu sắc trong lòng kẻ ở, người về đối với Việt Bắc:

        Mười lăm năm ấy ai quên

        Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa

        Một nét đặc sắc của đoạn thơ là tác giả đã sử dụng biện pháp nghệ thuật đối xứng rất tài tình. Các câu bát được tạo thành hai vế đối nhau (tiểu đối) làm cho ngôn ngữ thơ hài hòa, mang vẻ đẹp cổ điển:

        Nhìn cây nhớ núi, // nhìn sông nhớ nguồn?

        Bâng khuâng trong dạ, // bồn chồn bước đi

        Mưa nguồn suối lũ, // những mây cùng mù

        Miếng cơm chấm muối, // mối thù nặng vai?

        Trám bùi để rụng,// măng mai để già

        Hắt hiu lau xám, // đậm đà lòng son

        Nhớ khi kháng Nhật, // thuở còn Việt Minh

        Tân Trào, Hồng Thái, // mái đình, cây đa.

        Đoạn thơ trên đây cũng như cả bài thơ, có trường hợp chữ mình xuất hiện đến ba lần trong một câu thơ. Thật không dễ phân biệt rạch ròi chủ thể chữ tình trong ba chữ mình đó. Phải chăng mình cũng là ta, ta cũng là mình, hai tâm hồn đã nương tựa vào nhau:

        – Mình đi, mình có nhớ mình

        – Mình đi, mình lại nhớ mình.

        “Việt Bắc” là đỉnh cao của thơ Tố Hữu, cũng là thành tựu đặc sắc của thơ ca kháng chiến. Đoạn thơ trên đây tiêu biểu cho vẻ đẹp đặc sắc đó.

        Ngôn ngữ thơ vừa thấm đẫm trữ tình ca dao, dân ca, vừa mang vẻ đẹp của thi ca cổ điển dân tộc. Tình nghĩa thủy chung của ta với mình, lòng biết ơn, niềm tự hào đối với chiến khu Việt Bắc và đồng bào các dân tộc Việt Bắc đã tạo nên tính nhân dân sâu sắc của bài thơ.

        Sau hơn nửa thế kỉ, đọc “Việt Bắc” của Tố Hữu, ta càng xúc động, bồi hồi về điệp ngữ “có nhớ”. “Việt Bắc” là bài ca tình nghĩa thủy chung. Bài ca ấy, bài học ấy cho tuổi trẻ chúng ta thời đổi mới ngày nay niềm tin yêu và sức mạnh để bước vào đời và biết sống đẹp.

     

  • Phân tích đoạn thơ thứ 15 trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Phân tích đoạn thơ thứ 15 trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Phân tích đoạn thơ thứ 15 trong bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Giới thiệu và phong cách nghệ thuật thơ của tác giả Tố Hữu

    [toc]

    Đề bài: Phân tích đoạn thơ sau trong bài thơ “Việt Bắc” của Tố Hữu:

        “Mình về với Bác đường xuôi

        Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người

        Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời!

        Áo nâu túi vải đẹp tươi lạ thường

        Nhớ Người những sáng tinh sương

        Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

        Nhớ chân Người bước lên đèo

        Người đi rừng núi trông theo bóng Người”…

    Bài văn mẫu

        Viết về lãnh tụ vĩ đại của cách mạng và của dân tộc, thi sĩ Tố Hữu có một số bài thơ kiệt tác như: “Hồ Chí Minh”, “Sáng tháng năm”, “Cánh chim không mỏi”, “Bác ơi!”, “Theo chân Bác”,v.v… Ông còn có một số câu thơ, đoạn thơ rất hay viết về Bác Hồ in trong các bài thơ như: “Ta đi tới”, “Việt Bắc”, “Ba mươi năm đời ta có Đảng”,…:

        “Trên đường ta về lại Thủ đô

        Cờ đỏ bay quanh tóc bạc Bác Hồ”

               (“Ta đi tới”)

        “Bạc phơ mái tóc người Cha

        Ba mươi năm Đảng nở hoa tặng Người”.

               (“Ba mươi năm đời ta có Đảng”)

        Đoạn thơ dưới đây trích trong bài thơ “Việt Bắc” đã thể hiện nỗi nhớ, lòng kính yêu, tình lưu luyến của đồng bào các dân tộc đối với Bác Hồ khi Người từ chiến khu Việt Bắc trở lại thủ đô Hà Nội sau hơn ba ngàn ngày khói lửa:

        “Mình về với Bác đường xuôi

        …

        Người đi rừng núi trông theo bóng Người”…

        Hai chữ “thưa giùm” là cách nói đậm đà của dân gian. Vì xa cách nên phải “thưa giùm”, gửi lời yêu thương, kính nhớ “không nguôi nhớ Người”. Nhớ không nguôi là nhớ da diết, nhớ day dứt triền miên. Kể từ ngày Người ở hải ngoại trở về Pắc Bó, Cao Bằng ngày Thủ đô hoàn toàn giải phóng (1941 – 1954), Bác đã sống và hoạt động giữa núi rừng Việt Bắc “Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”. Bác về lại Thủ đô, nên đồng bào Việt Bắc mới có nỗi nhớ ấy:

        “Mình về với Bác đường xuôi

        Thưa giùm Việt Bắc không nguôi nhớ Người”…

        Chữ “nhớ” là cảm xúc chủ đạo, thấm sâu trong lòng người, tỏa rộng trong không gian, thời gian, và đã in đậm trên từng vần thơ của Tố Hữu.

        Người đã về xuôi nhưng “ta” vẫn nhớ không nguôi. Nhớ cặp mắt “sáng ngời” của Bác, nhớ màu “áo nâu” dân dã Người vẫn mặc, nhớ chiếc “túi vải” mà Người vẫn mang theo bên mình khi đi công tác, khi đi chiến dịch:

        “Nhớ Ông Cụ mắt sáng ngời!

        Áo nâu túi vải đpẹ tươi lạ thường!”.

        Các hoán dụ nghệ thuật (mắt, áo nâu, túi vải) tượng trưng cho sự thông minh, tài trí, đời sống giản dị của Bác Hồ kính yêu. Các chữ: “sáng ngời”, “đẹp tươi lạ thường!” đã gợi lên cái thần thái và cốt cách lão thực của Ông Cụ, một con người xuất chúng đã kết tinh những tinh hoa văn hóa cổ kim đông tây. Bức truyền thần Hồ Chí Minh như được vẽ bằng màu sắc và ánh sáng tuyệt đẹp. Tố Hữu đã nhiều lần nói về chiếc áo nâu của lãnh tụ. Một đời sống giản dị đáng yêu vô cùng:

        “Bác Hồ đó, chiếc áo nâu giản dị

        Màu quê hương bền bỉ đậm đà”.

               (“Sáng tháng Năm”)

        “Mong manh áo vải hồn muôn trượng

        Hơn tượng đồng phơi những lối mòn”.

               (“Bác ơi”)

        Và đôi mắt Bác Hồ, đôi mắt ấm áp tình thương, đôi mắt lạc quan yêu đời, đôi mắt của niềm tin dào dạt:

        “Bác Hồ đó, là lòng ta yên tĩnh

        Ôi người Cha, đôi mắt mẹ hiền sao!

        (…) Không có gì vui bằng mắt Bác Hồ cười

        Quên tuổi già, tươi mãi tuổi đôi mươi”.

               (“Sáng tháng Năm”)

        Bốn câu thơ tiếp theo thể hiện một nét đẹp, một phẩm chất cao quý của lãnh tụ, đó là phong thái ung dung tự tại của một chiến sĩ cách mạng vĩ đại mang cốt cách nhà hiền triết phương Đông:

        “Nhớ Người những sáng tinh sương

        Ung dung yên ngựa trên đường suối reo

        Nhớ chân Người bước lên đèo

        Người đi rừng núi trông theo bóng Người”…

        Bức chân dung Ông Cụ được vẽ bằng những nét vẽ động và sự phối sắc thần tình. Lãnh tụ xuất hiện trên yên ngựa, “trên đường suối reo” với phong thái ung dung, với tư thế đĩnh đạc “bước lên đèo”. Cái nền của bức tranh rất đẹp. Có màu trắng nhạt của “tinh sương”. Có màu lóng lánh trong xanh của “suối reo”. Có màu rất đất đỏ của con “đèo”. Và có màu xanh của rừng núi Việt Bắc. Điệp ngữ “nhớ” là tâm trạng nghệ thuật đồng hiện trong một không gian nghệ thuật đầy màu sắc và âm thanh (suối reo). Núi rừng được nhân hóa nói lên thật cảm động tình lưu luyến của đồng bào Việt Bắc đối với Bác Hồ kính yêu: “Người đi rừng núi trông theo bóng Người”.

        Đoạn thơ trên đây là bức tranh lụa truyền thần tuyệt tác về lãnh tụ Hồ Chí Minh. Tài trí thông minh, giản dị, ung dung tự tại là cái thần của bức chân dung Ông Cụ. Điệp ngữ “nhớ” được kết hợp với các từ ngữ biểu cảm khác như: “không nguôi nhớ Người”, “trông theo bóng Người” đã diễn tả một cách chân thật cảm động mối quan hệ thân thiết tốt đẹp giữa lãnh tụ với nhân dân, giữa Bác Hồ với đồng bào Việt Bắc. Ngòi bút Tố Hữu rất giàu có khi nói về lãnh tụ: Bác, Người, Ông Cụ, một cách nói vừa thành kính trang trọng, vừa dân dã đã bình dị.

        Tình cảm là suối nguồn vô tận của thi ca. Tình cảm tạo nên hồn thơ, hương vị thơ. Tố Hữu đã viết lên những vần thơ dung dị, đậm đà ca ngợi những phẩm chất cao quý của lãnh tụ thiên tài của dân tộc với tất cả niềm kính yêu và lòng tự hào sâu sắc. Hình ảnh Bác Hồ càng trở nên thân thiết yêu thương đối với mỗi con người Việt Nam. Đoạn thơ biểu hiện cao độ vẻ đẹp nghệ thuật và tính dân tộc trong thơ Tố Hữu.

    Xem thêm các bài văn mẫu lớ

     

  • Giới thiệu và phong cách nghệ thuật thơ của tác giả Tố Hữu

    Giới thiệu và phong cách nghệ thuật thơ của tác giả Tố Hữu

    Giới thiệu và phong cách nghệ thuật thơ của tác giả Tố Hữu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Giới thiệu một vài nét khái quát về tác phẩm (thơ) và phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu.

    Bài văn mẫu

        Tố Hữu là bút danh; họ tên là Nguyễn Kim Thành. Ông sinh năm 1920 tại Thừa Thiên – Huế, và mất năm 2002.

        Về sự nghiệp chính trị, Tố Hữu là cán bộ cao cấp của Đảng và Nhà nước. Về thi ca, ông là nhà thơ lớn của nền văn học Việt Nam hiện đại.

        Hơn nửa thế kỉ làm thơ, Tố Hữu hiện để lại nhiều tập thơ. Mỗi tập thơ đánh dấu một chặng đường lịch sử hào hùng của dân tộc ta trong thế kỉ XX.

        – Từ ấy (1937 – 1946)

        – Việt Bắc (1946 – 1954)

        – Gió lộng (1955 – 1961)

        – Ra trận (1962 – 1971)

        – Máu và Hoa (1972 – 1977)

        – Một tiếng đờn (1079 – 1992)

        Tố Hữu làm thơ để phục vụ chính trị, phục vụ cách mạng và kháng chiến. Phong cách nghệ thuật thơ của Tố Hữu có thể khái quát trong 4 điểm sau đây:

        Thơ Tố Hữu là thơ trữ tình chính trị. Cảm hứng chủ đạo trong thơ ông là những lời tâm huyết say mê về một lẽ sống lớn, tình cảm lớn, niềm vui lớn của đất nước và dân tộc trong cách mạng và kháng chiến.

        “Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ,

        Mặt trời chân lí chói qua tim”.

                (Từ ấy)

        “Chưa bao giờ đẹp thế, sắc trời xanh

        Và sắc đỏ của lá cờ ra trận”.

                (Tuổi 25)

        “Ôi Việt Nam! Yêu suốt một đời

        Nay mới được ôm Người trọn vẹn, Người ơi!”

                    (Vui thế, hôm nay… )

        Thơ Tố Hữu in đậm khuynh hướng sử thi. Có thể nói đó là những bài ca chiến đấu, những khúc ca thắng trận vang dội âm điệu anh hùng ca:

        “Đêm lịch sử, Điện Biên sáng rực

        Trên đất nước, như huân chương trên ngực

        Dân tộc ta, dân tộc anh hùng!

                (Hoan hô chiến sĩ Điện Biên)

        “Ôi, buổi trưa nay, tuyệt trần nắng đẹp

        Bác Hồ ơi! Toàn thắng về ta

        Chúng con đến, xanh ngời ánh thép

        Thành phố tên Người lộng lẫy cờ hoa”

                (Toàn thắng về ta)

        Giọng điệu tâm tình dịu ngọt là nét đặc sắc đậm đà trong thơ Tố Hữu. Tình quê, tình non nước, tình yêu Đảng, yêu Bác, tình mẹ con, tình đồng chí, đồng bào… là dư vị thiết tha, nồng ấm dào dạt trong thơ ông.

        “Hương Giang ơi, dòng sông êm

        Qua tìm ta, vẫn ngày đêm tự tình”.

                (Bài ca quê hương)

        “Ôi Bác Hồ ơi, những xế chiều

        Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu!”

                (Bác ơi!)

        Nghệ thuật thơ Tố Hữu giàu tính dân tộc. Tố Hữu sử dụng nhiều thể thơ, nhưng đặc sắc nhất, thành công nhất là thể thơ lục bát. Ngôn ngữ thơ thanh thoát, giàu vần điệu nhạc điệu như ca dao, dân ca, như Truyện Kiều, nên rất dễ ngâm, dễ thuộc.

        “Mình về mình có nhớ ta,

        Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”…

                (Việt Bắc)

        “Nghìn năm sau nhớ Nguyễn Du,

        Tiếng thương như tiếng mẹ ru những ngày…”.

                (Kính gửi cụ Nguyễn Du)

        Nếu thơ ca là những dòng sông thì thơ Tố Hữu là một dòng sông trong xanh mà ta thương mến. Dòng sông ấy ấy đang hợp lưu trong lòng ta.

     

  • Dàn ý Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc hay nhất

    Dàn ý Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc hay nhất

    Dàn ý Phân tích bức tranh tứ bình Việt Bắc hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bức tranh thiên nhiên tứ bình trong bài Việt Bắc.

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Giới thiệu về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.

    – Giới thiệu bài thơ Việt Bắc: là bài thơ xuất sắc của Tố Hữu tổng kết về cuộc kháng chiến anh hùng của dân tộc, là lời tri ân sâu nặng về tình nghĩa cách mạng.

    – Bức tranh tứ bình được xem là những vần thơ tuyệt bút trong bài thơ Việt Bắc.

    1. Thân bài
    2. Khái quát chung về bài thơ Việt Bắc

    – Hoàn cảnh sáng tác: nhân sự kiện chiến dịch Điện Biên phủ thắng lợi, Trung ương Đảng và Chính phủ rời chiến khu từ Việt Bắc đến thủ đô, Tố Hữu đã viết bài thơ này.

    – Những câu thơ trong bức tranh tứ bình là lời của người ra đi gửi đến người ở lại.

    – Hai câu thơ đầu của đoạn thơ là lời ướm hỏi của người ra đi băn khoăn về tình cảm ở lại với mình để từ đó giãi bày tâm tư, nỗi nhớ về thiên nhiên và con người Việt Bắc.

    1. Bức tranh mùa đông

    – “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi”: sử dụng bút pháp chấm phá: nổi bật trên nền xanh rộng lớn của núi rừng là màu đỏ của hoa chuối (màu đỏ hoa chuối gợi liên tưởng đến hình ảnh ngọn đuốc xua đi cái lạnh của của núi rừng mùa đông) và màu vàng của những đốm nắng.

    – “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”: hình ảnh tia nắng ánh lên từ con dao gài thắt lưng gợi dáng vẻ khỏe khoắn, lớn lao của người lao động, với tâm thế làm chủ thiên nhiên, cuộc sống.

    1. Bức tranh mùa xuân

    – “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”: màu trắng tinh khôi của hoa mơ tràn ngập không gian núi rừng, thiên nhiên tràn đầy nhựa sống khi xuân về.

    – Người lao động hiện lên với vẻ đẹp tài hoa, khéo léo và cần mẫn: “Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”, “chuốt từng sợi giang”: hành động chăm chút, tỉ mỉ với từng thành quả lao động của mình.

    1. Bức tranh mùa hạ

    – “Ve kêu rừng phách đổ vàng”: toàn bộ khung cảnh thiên nhiên như đột ngột chuyển sang sắc vàng qua động từ “đổ”

        + Có thể liên tường màu vàng hòa quyện với tiếng ve kêu tưng bừng, đầy sức sống

        + Cũng có thể chính tiếng ve đã đánh thức rừng phách nở hoa.

    – “Nhớ cô em gái hái măng một mình”: “cô em gái”: cách gọi thể hiện sự trân trọng, yêu thương của tác giả với con người Việt Bắc, hình ảnh cô gái hái măng một mình thể hiện sự chăm chỉ, chịu thương chịu khó cua con người Việt Bắc.

    1. Bức tranh mùa thu

    – “Rừng thu trăng rọi hòa bình”: ánh trăng nhẹ nhàng chiếu sáng núi rừng Việt Bắc, đó là ánh sáng của “hòa bình”, niềm vui và tự do.

    – Con người say sưa cất tiếng hát, mộc mạc, chân thành, có tấm lòng thủy chung, nặng ân tình.

    * Nhận xét:

    – Nêu cảm nhận chung về bộ tranh tứ bình: Nghệ thuật tứ bình tạo sự cân đối hài hòa và có tác dụng khắc họa toàn diện vẻ đẹp của đối tượng, bốn bức tranh trên tôn lên giá trị của nhau, không thể tách riêng, chúng là bức tranh tuyệt sắc có sự hòa quyện giữa con người và thiên nhiên

    III. Kết bài

    – Khái quát lại những nét nghệ thuật đặc sắc và phong cách thơ Tố Hữu: tính dân tộc đậm đà (thể thơ lục bát, kết cấu đối đáp trong văn học dân gian, ngôn ngữ giản dị, hình ảnh thơ gần gũi, giọng thơ thiết tha.)

    – Tổng kết giá trị nội dung toàn bài thơ: là khúc hùng ca và khúc tình ca về cách mạng, về cuộc kháng chiến và con người kháng chiến.

     

  • Phân tích tác phẩm Vào phủ Chúa Trịnh.

    Phân tích tác phẩm Vào phủ Chúa Trịnh.

    Phân tích tác phẩm Vào phủ Chúa Trịnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Vào phủ Chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” của Lê Hữu Trác.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu những nét tiêu biểu về cuộc đời của tác giả Lê Hữu Trác: một tác giả được biết đến không chỉ là một danh y nổi tiếng mà còn là một nhà văn, nhà thơ với những đóng góp đáng ghi nhận cho nền văn học nước nhà
    – Đoạn trích Vào phủ chúa trịnh ghi lại một lần được truyền tới phủ chúa chữa bệnh cho thế tử đã trở thành một đoạn trích tiêu biểu trong cuốn Thượng kinh kí sự của Lê Hữu Trác.

    II. Thân bài
    1. Quang cảnh và cung cách sinh hoạt nơi phủ chúa
    a. Quang cảnh nơi phủ chúa
    – Vào phủ:
    + Phải qua nhiều lần cửa, với “những dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp”, ở mỗi cửa đều có vệ sĩ canh gác, “ai muốn ra vào phải có thẻ”
    + Vườn hoa: cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương
    + Khuôn viên: có điếm “Hậu mã quân túc trực” để chúa sai phái đi truyền lệnh
    – Trong phủ:
    + Những nhà: “Đại đường”, “Quyền bổng”, “Gác tía” với kiệu son võng điều, đồ nghi trượng sơn son thếp vàng và những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy
    + Đồ dùng tiếp khách ăn uống toàn là mâm vàng, chén bạc
    – Nội cung thế tử:
    + Phải qua năm sáu lần trướng gấm
    + Trong phòng thắp nến, có sập thếp vàng, ghế rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm, màn là che ngang sân, xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt
    → Lộng lẫy, tráng lệ, thể hiện sự thâm nghiêm và quyền uy tột đỉnh của nhà chúa
    b. Cung cách sinh hoạt
    – Quyền uy: Khi tác giả được cáng vào phủ: “tên đầy tớ chạy đàng trước hét đường và cáng chạy như ngựa lồng”, “người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc qua lại như mắc cửi”
    – Nhắc đến chúa và thế tử một cách cung kính: “thánh thượng đang ngự ở đấy, chưa thể yết kiến”, “hầu mạch Đông cung thế tử”, “hầu trà”…
    – Khuôn phép, lễ nghi: Tác giả không được thấy mặt chúa, chỉ làm theo mệnh lệnh do quan chánh đường truyền tới, trước khi vào xem bệnh cho thế tử phải lạy bốn lạy, muốn xem thân hình của thế tử phải có viên quan nội thần đến xin phép
    – Lắm kẻ hầu người hạ: ChúaTrịnh luôn có phi tần hầu chầu chực xung quanh, Thế tử bị bệnh có đến 7, 8 thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có “mấy người đứng hầu hai bên”
    ⇒ Cao sang, quyền uy tột đỉnh cùng với cuộc sống hưởng thụ xa hoa đến cực điểm và sự lộng quyền của nhà chúa
    ⇒ Tác giả không đồng tình với cuộc sống quá no đủ, tiện nghi nhưng thiếu khí trời và tự do
    2. Tài năng, y đức của Lê Hữu Trác
    – Có sự mâu thuẫn, giằng co:
    + Hiểu căn bệnh, biết cách chữa trị nhưng sợ chữa có hiệu quả ngay sẽ được chúa tin dùng, bị công danh trói buộc.
    + Muốn chữa cầm chừng nhưng lại sợ trái với lương tâm, y đức, sợ phụ lòng cha ông.
    – Cuối cùng phẩm chất, lương tâm của người thầy thuốc đã thắng. Ông gạt sang một bên sở thích cá nhân để làm tròn trách nhiệm ⇒ Là một thầy thuốc có lương tâm và đức độ
    – Khinh thường lợi danh, quyền quý, yêu thích tự do và nếp sống thanh đạm, giản dị nơi quê nhà
    – Kể diễn biến sự việc khéo léo, lôi cuốn sự chú ý của người đọc, không bỏ sót những chi tiết nhỏ tạo nên cái thần của cảnh và sự việc
    3. Nét đặc sắc trong bút pháp kí sự của tác giả
    – Quan sát tỉ mỉ (Quang cảnh phủ chúa, nơi thế tử Cán ở)
    – Ghi chép chân thực
    – Tả cảnh sinh động
    – Tái hiện diễn biến sự việc một cách khéo léo, thu hút sự chú ý của độc giả, kể tỉ mỉ, chi tiết

    III. Kết bài
    – Khát quát, nhấn mạnh nội dung và nghệ thuật đoạn trích
    – Mở rộng vấn đề: Đoạn trích ghi chép một cách chân thực cho chúng ta hiểu thêm về cách sống, cách sinh hoạt của vua chúa trong quá khứ dân tộc.

    Bài văn mẫu

    Lê Hữu Trác (1720-1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, một đại danh y của Đại Việt. Ngoài những trước tác về y học trong bộ “Y tông tâm lĩnh” gồm 66 quyển, ông còn để lại nhiều thơ văn, trong đó có tác phẩm độc đáo “Thượng kình kí sự” Thơ văn của Lãn Ồng nhẹ nhàng, hóm hỉnh, giàu tính hiện thực, phản ánh một nhân cách cao đẹp: coi thường công danh phú quý, yêu thiên nhiên, yêu quý đồng loại, thích cuộc sống thanh nhàn.
    “Thượng kinh kí sự ghi lại hành trình của ông lên kinh đô Thăng Long chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán. Đoạn văn “Vào phủ chúa Trịnh” trích trong cuốn kí sự ấy rất giàu giá trị hiện thực và cho thấy một ngòi bút đậm đà, tài hoa.
    Lần đầu, Lê Hữu Trác được vào Trịnh phủ. Ông ngẫm nghĩ và quan sát rất kĩ càng. Cửa sau vào phủ chúa phải đi qua con đường bên trái, ông ngẩng đầu lên nhìn một khung cảnh tuyệt đẹp “đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chìm kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương”.
    Nơi cung cấm, hành lang “quanh co nối nhau liên tiếp”, người giữ cửa, vệ sĩ canh giữ nghiôm ngặt, ai muốn vào ra phải có thẻ, người có việc quan qua lại như mắc cửi, “truyền báo rộn ràng”.
    Quan sát cảnh cung cấm, Lê Hữu Trác ngẫm nghĩ: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường”. Rồi ông làm thơ nói lên sự ngạc ngạc nhiên, xúc động của mình tựa như “ngư phủ Đào nguyên thuở nào”:
    “Cả trời Nam sang nhất là đây!
    Lầu từng gác vẽ tung mây,
    Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào.
    Hoa cung thoảng ngạt ngào đưa tới,
    Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen.!”
    Ông thầy thuốc trên đường đi khám bệnh, mang tâm hồn thi sĩ, tả cảnh, vịnh thợ, ta tưởng như ông đang đi thăm thú cảnh đẹp. Cách viết kí sự của Lê Hữu Trác hấp dẫn ta vì thế!
    Trong Trịnh phủ, cung điện nguy nga tráng lệ. Mỗi lâu đài, cung điện có một cái tên riêng. Đó là “Điếm Hậu mã quân túc trực” làm bên một cái hồ, cột và bao lơn “lượn vòng kiểu cách thật là xinh đẹp”, phía ngoài có những cây “lạ lùng”, có những hòn đá “kì lạ”. Nhà “Đại đường” còn gọi là “Quyển bồng”. Là cái lầu cao và rộng, “cột đều sơn son thiếp vàng” gọi là “Gác tía”, nơi Thế tử dùng “chè thuốc”, nên gọi là “Phòng trà”.
    Lê Hữu Trác có phần choáng ngợp sợ hãi “chỉ dám liếc mắt nhìn rồi lại cúi đầu đi”. Cảnh đẹp nơi Trịnh phủ, từ vườn hoa đến hồ, từ lầu son đến gác tía là những công trình văn hoá nghộ thuật do tài trí công sức của nhân dân làm nên, vì thế Lê Hữu Trác đã xúc động ngắm nhìn. Cảnh đẹp nơi Trịnh phủ được miêu tả còn mang ý nghĩa hiện thực phản ánh cuộc sống xa hoa của bọn vua chúa thời Lê – Trịnh, cảnh giàu sang “khác hẳn người thường”.
    Phương tiện đi lại của vua chúa là hai cái kiệu; đồ nghi trượng đều sơn son thiếp vàng. Thứ để ngồi và nằm là một cái sập thiếp vàng, trên sập mắc một cái võng điều đỏ. Xung quanh cái sập bày bàn ghế vô cùng quý giá, sang trọng làm cho ồng thầy thuốc phải tấm tắc và cảm thấy “những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy”.
    Thế tử – con bệnh – là con Trời, mới lên 5, 6 tuổi mặc áo lụa đỏ, ngồi trên cái sập thiếp vàng. Bên cạnh sập đặt một cái ghế rồng sơn son thiếp vàng, trên ghế bày nộm gấm. Lê Hữu Trác phải đi qua năm, sáu lần trướng gấm mới đến được nơi thế tử ngồi để “lạy bốn lạy” trước và sau khi khám bệnh. Nơi nội cung, đèn sáp chiếu sáng, sau chiếc màn là cung nhân đứng xúm xít, “mặt phấn, màu áo đó”. Cả một không gian “lấp lánh, hương hoa ngào ngạt”. Thật đúng “Cả trời Nam sang nhất là đây!”
    Vua chúa và bọn quan lại trong phủ chúa ăn uống như thế nào? Tại điếm “Hậu mã” lần đầu tiên và cũng là lần duy nhất trong cuộc đời, vị đại danh y được ăn một bữa cơm ngon nhớ mãi. Tuy chỉ được quan Chánh đường “san mâm cơm cho ăn” nhưng “mâm vàng, chén bực, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ”. Ông thầy thuốc mà danh tiếng “như sấm dộng” đã suy nghĩ và nói : “Tôi bảy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia”.
    Chốn đế đô cung cấm là nơi “lính nghìn cửa vác dòng nghiêm nhặt”. Lê Hữu Trác chỉ mới được đặt chân tới một vài cung điện, mới tiếp xúc một vài cảnh, một số ít người, nhưng ông đã nêu bật được cuộc sống xa hoa, hưởng lạc của vua chúa thời Lê – Trịnh. Cuộc sống đế vương được xây dựng trên mồ hoi xương máu của nhân dân, mọi thứ của ngon vật lạ do người lao động cả nước làm ra bị tước đoạt cho một số ít người hưởng thụ. “Cơm ngự thiện bữa nghìn quan” xưa nay đều thế! Tác giả “Thượng kinh kí sự” có một lối viết rất hiện thực và ấn tượng, mọi chi tiết được ông nói đến rất sống động.
    Lê Hữu Trác vốn dòng dõi thế tộc thời Lê, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, trong cấm thành chỗ nào cũng đã từng biết, nhưng Trịnh phủ thì “ông mới nghe nói thôi”, lần đầu đi vào ông choáng ngợp như bước vào cảnh thần tiên:
    “Quê mùa cung cấm chưa quen,
    Khác gì ngư phủ Đào nguyên thuở nào!”.
    Coi thường danh lợi, ông đã vào tận Hương Sơn, Hà Tĩnh sinh sống, chuyên tâm nghề y, lấy chữa bệnh cứu người làm lẽ sống. Vì có tài, tiếng tăm như sấm động nên có thánh chỉ triệu vào cung chữa bênh cho thế tử. Ông viết một cách hóm hỉnh về cái bả công danh: “Cáng chạy như ngựa lồng, tôi bị xóc một mẻ, khổ không nói hết”. Nửa thế kỉ sau, Cao Bá Quát chua chát viết: “ơn vua kèm theo sấm sét!”.
    Tiếp xúc với cảnh và người nơi Trịnh phủ, Lê Hữu Trác có lúc mất tự nhiên, có lúc sợ sệt, hoặc “cúi đầu” hoặc “liếc mắt nhìn”. Lúc xem mạch thì “khúm núm” phải hai lần vái lạy một đứa bé độ 5,6 tuổi, mỗi lần bốn lạy!
    Lúc kê đơn là một cuộc tự đấu tranh tư tưởng diễn ra vô cùng gay gắt xung quanh vấn đề danh lợi, y đức và chữ nhàn. Ông nghĩ: “Nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao vê núi được”, về núi để được sống tự do, thảnh thơi, chan hoà với thiên nhiên. “Lưng không uốn, lộc nên từ là thế!”
    Lương tâm bậc danh y lại nhắc nhở ông “phải dốc hết cả cái lòng thành, để nối tiếp cái lòng trung của ông cha mình mới được”. Cái lòng thành mà ồng nói đến là lương y như từ mẫu, là y đức coi việc chữa bệnh cứu người là lẽ sống cao đẹp. Vì thế, mặc dù quan Chánh đường có gợi ý nên dùng những vị thuốc “phát tán mới xong”, mặc dù có năm, sáu vị lương y của sáu cung, hai viện đang ngày đêm chầu chực xung quanh con bệnh, nhưng Lê Hữu Trác vẫn có chủ kiến riêng, lập luận riêng của mình:
    “Tôi thấy thánh thể gầy, mạch lại tế, sác. Thế là âm dương đều bị tổn hại, nay phải dùng thuốc thật bổ để bối dưỡng tì và thận, cốt giữ cái căn bản tiên thiên và làm nguồn gốc cho cái hậu thiên..”.
    Qua đó, ta thấy tài năng và đức độ của Lê Hữu Trác, một đại danh y coi thường danh lợi, sống thanh bạch, thích nhàn, lấy việc trị bệnh cứu người, đạt lên trên hết, lên trước hết. Biệt hiệu “Lãn Ông” thật giàu ý nghĩa: ông già lưòi, lười làm quan và biếng danh lợi.
    Đoạn văn “Vào phủ chúa Trịnh” thật hay và thú vị, ta cảm thấy như được tác giả dẫn đi xem cung điện Thăng Long thời Lê – Trinh. Đoạn vãn cũng như toàn tác phẩm “Thượng kinh kí sự” vừa có giá trị văn chương vừa giàu giá trị lịch sử.
    Đoạn văn rất giàu tính hiện thực, phản ánh chân thực cảnh vàng son nơi Trịnh phủ và cuộc sống xa hoa, phú quý của vua chúa, quan lại thời Lê – Trịnh.
    Cách viết của Lãn Ông rất đặc sắc hấp dẫn. Vừa tả, vừa kể, vừa lồng ý nghĩ cảm xúc, rất chân thực, hóm hỉnh. Ngôn ngữ văn chương, ngôn ngữ đời thường, ngôn ngữ cung đình, ngôn ngữ chuyên môn về y học được tác giả sử dụng rất sáng tạo, biến hoá.
    “Vào phủ chúa Trịnh”, đoạn kí sự giàu chất thơ đã phản chiếu vào một tâm hồn đẹp, một nhân cách cao quý.
    Bài văn mẫu 2
    Lê Hữu Trác là nhà y học, nhà văn nhà thơ lớn cuối thế kỉ XVIII. Trong sự nghiệp sáng tác văn học, tác phẩm “Thượng kinh kí sự” là tác phẩm nổi bật nhất của ông. Tác phẩm đã phơi bày hiện thực đời sống xã hội cuối thế kỉ XVIII, đặc biệt là đời sống xa hoa trong phủ chúa. Tất cả những nét vẽ đó đã phác họa đầy đủ qua đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh”.
    Mở đầu tác phẩm, tác giả thuật lại nguyên nhân phải vào phủ Chúa, thời gian được ghi lại hết sức chi tiết, tỉ mỉ: “Mồng 1 tháng 2. Sáng tinh mơ, tôi nghe tiếng gõ cửa rất gấp. Tôi chạy ra mở…. Có thánh chỉ triệu cụ vào….”. Và tiếp đó là khung cảnh trong phủ chúa lần lượt hiện ra dưới sự quan sát tỉ mỉ, kĩ lưỡng của tác giả.
    Con đường vào phủ phải đi qua nhiều lần cửa, những hành lang quanh co nối nhau liên tiếp, ở mỗi cửa đều có người canh gác, khi ra vào phải có thẻ, khung cảnh hết sức nghiêm trang, được bảo mật kĩ càng. Không chỉ vậy dưới con mắt của Lê Hữu Trác ông còn tinh mắt nhận ra “đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm; gió đưa thoang thoảng mùi hương”. Trước khung cảnh đó tác giả đã nhận xét: “Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực khác hẳn người thường”. Lời nhận xét hết sức bình thản của tác giả nhưng đã phần nào bộc lộ thái độ phê phán trước cuộc sống xa hoa, hưởng lạc nơi đây.
    Nhưng khung cảnh càng trở nên choáng ngợp khi bước vào sâu trong phủ chúa, “những cái cây lạ lùng và những hòn đá kì lạ” mà ông chưa từng thấy lần lượt hiện ra trước mặt. Đồ vật sử dụng trong phủ chúa cũng hết sức đẹp dẽ, xa hoa: đồ nghi trượng đều được sơn son thếp vàng, trướng gấm, quyển bồng, … đây đều là những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy, khiến Lê Hữu Trác “chỉ dám ngước mắt nhìn rồi lại cúi đầu đi”. Cảnh phủ chúa vô cùng tráng lệ, lộng lẫy, không đâu sánh bằng, đây chính là biểu hiện của cuộc sống xa hoa, cầu kì khác với cuộc sống đời thường. Song khung cảnh vàng son này lại tù hãm thiếu sinh khí và ngột ngạt. Khung cảnh khiến ta liên tưởng đến Vũ Trung tùy bút của Phạm Đình Hổ với câu nhận xét: “Mỗi khi đêm thanh cảnh vắng, tiếng chim kêu vượn hót ran khắp bốn bề, hoặc nửa đêm ồn ào như trận mưa sa gió táp, vỡ tổ tan đàn, kẻ thức giả biết đó là triệu bất thường”. Khung cảnh đó cũng là sự báo hiệu của đời sống trụy lạc của xã hội, triều đại đã đi vào mạt vận và chẳng bao lâu nữa sẽ đến hồi diệt vong.
    Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa cũng hết sức khác thường. Khi vào phủ chúa phải có thánh chỉ, qua mỗi lần cửa cần phải có thẻ, phủ chúa được bảo vệ rất nghiêm ngặt. Kẻ hầu người hạ đông đúc, nhộn nhịp, khi tác giả lên cáng vào phủ chúa có “tên đầy tớ chạy đằng trước hét đường” và “cáng chạy như ngựa lồng”, còn trong phủ chúa “người giữ cửa truyền bá rộn ràng, người có việc quan qua lại như mắc cửi”. Cách xưng hô hết sức kính cẩn, lễ phép “thánh thượng”, “đông cung thế tử” với một cậu bé chỉ hơn sáu tuổi, tôn ti trật tự được thiết lập hết sức rõ ràng, chặt chẽ. Bầu không khí khám bệnh hết sức trang nghiêm, khẩn trương, trước khi vào khám, Lê Hữu Trác phải quỳ lạy một đứa trẻ mặc dù tuổi đã cao. Muốn xem thân hình thế tử phải có một viên quan đến xin phép cởi áo. Thủ tục vô cùng rườm rà, rắc rối. Qua đó ta thấy được quyền uy tột đỉnh cùng với cuộc sống xa hoa đến cực điểm và sự lộng quyền của nhà chúa.
    Trước cuộc sống xa hoa, nhưng yếm khí đó ngay lập tức tác giả đã chuẩn đoán được chính xác căn nguyên căn bệnh mà Thế tử mắc phải: “ở trong trốn màn che trướng phủ, ăn quá no, mặc quá ấm nên tạng phủ yếu đi”. Quả thật lời chuẩn đoán của ông vô cùng chính xác, do cuộc sống thừa thãi về vật chất mà lại thiếu đi sự vận động, sống trong không gian tăm tối, ngột ngạt, thiếu khí trời khiến cho phủ tạng ngày càng yếu, người ngày một gầy mòm. Nhưng khi bắt bệnh xong ông rơi vào tình thế khó xử, tin vào khả năng chữa bệnh của mình nhưng sợ bị danh lợi ràng buộc, không tiếp tục cuộc sống tự do tự tại, ẩn dật mà ông yêu thích nữa; nếu không chữa sẽ không đúng với lương tâm người thầy thuốc. Và cuối cùng ông đã quyết định làm theo đúng lương y của người thầy thuốc, khám và chữa bệnh cẩn thận cho thế tử. Qua đó ta thấy người Lê Hữu Trác là một lương y có tay nghề cao và tâm sáng luôn hết lòng vì người bệnh, đồng thời ông cũng là một người coi thường danh lợi.
    Đoạn trích đã cho thấy tài năng nghệ thuạt đặc sắc trong ngòi bút kí sự của Lê Hữu Trác. Nghệ thuật miêu tả, ghi chép rõ nét, trung thực, tạo sự tin cậy nơi người đọc. Lựa chọn chi tiết tiêu biểu, ấn tượng qua quang cảnh phủ chúa, hình ảnh thế tử, … tất cả đều ngầm lên án, phê phán cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa. Kết hợp hài hòa giữa tự sự, miêu tả và biểu cảm tạo nên sự cuốn hút và tăng giá trị hiện thực cho tác phẩm. Giọng điệu châm biếm, hài hước nhẹ nhàng kín đáo cũng là một yếu tố góp phần tạo nên sự thành công cho tác phẩm.
    Qua đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh, Lê Hữu Trác không chỉ vẽ nên cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa với cung cách sinh hoạt hết sức rườm rà, cuộc sống đầy yếm khí ở nơi đây. Nhưng đồng thời sau những dòng chữ ấy còn cho thấy những nỗi niềm, cảm xúc của tác giả trước lối sống giàu sang, phú quý và tấm lòng, nhân cách cao cả của một bậc lương y.
    Bài văn mẫu 3
    Kí là thể loại văn xuôi tự sự dùng để ghi chép những sự việc có thật và bộc lộ tình cảm, tư tưởng của người viết phản ánh hiện thực cuộc sống theo cách riêng của mình. Nhắc đến thể kí không thể không nhắc đến Lê Hữu Trác một danh y nổi tiếng với bộ Hải Thượng y tông lĩnh_cuốn bách khoa toàn thư về y học, đồng thời cũng là một nhà văn với tác phẩm “Thượng kinh kí sự” được nhiều người biết đến. Tác phẩm đánh dấu sự trưởng thành của thể kí với nội dung kể về cuộc sống xa hoa cùng với quyền uy thế lực trong phủ chúa. Tiêu biểu là đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” nằm ở phần đầu đã ghi chép trung thực về sự giàu sang, thâm nghiêm trong Trịnh phủ, qua đó cho thấy nhân cách và tâm hồn của một nhà y học, nhà văn học.
    Mở đầu đoạn trích là sự kiện được ghi chép lại “Mồng 1 tháng 2” có thánh chỉ triệu tác giả vào phủ chữa bệnh cho Đông Cung Thế tử Trịnh Cán. Mặc dù là con nhà quan vốn “sinh trưởng ở chỗ phồn hoa” chỗ nào trong cấm thành cũng đã từng biết nhưng đây là lần đầu tiên ông được vào phủ chúa.
    Quang cảnh Trịnh phủ tráng lệ, nguy nga được tác giả quan sát và cảm nhận qua cái nhìn đầu tiên “Đâu đâu cũng là cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, danh hoa đua thắm, gió đưa thoang thoảng mùi hương” cảnh vật nơi đây như chốn bồng lai tiên cảnh, thơ mộng, hữu tình làm đắm say lòng người. Tiếp đó là “Dãy hành lang quanh co nối nhau liên tiếp” những người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan thì qua lại như cửi. Một cái nhìn bao quát từ cận cảnh đến viễn cảnh đâu đâu cũng thể hiện sự giàu sang đến ngỡ ngàng. Tác giả như bất ngờ mà thốt lên những vần thơ ghi lại cảm xúc của mình trước cái đẹp lộng lẫy:
    “Lính nghìn cửa gác đòng nghiêm ngặt
    Cả trời Nam sang nhất là đây
    Lầu từng gác vẽ tung mây
    Rèm châu, hiên ngọc, bóng mai ánh vào
    Hoa cung thảng ngạt đưa tới
    Vườn ngự nghe vẹt nói đòi phen”
    Vốn là một con người “lánh đục tìm trong” nhưng đứng trước cảnh đẹp nơi đây tác giả không hề miệt thị mà ngược lại còn ngợi ca, còn rung động trước non nước hữu tình tuy nhiên cái ngợi ca ấy không được trọn vẹn. Dường như còn ẩn chứa một tâm trạng u hoài
    “Quê mùa cung cấm chưa quen
    Khác gì ngư phủ đào nguyên thuở nào”
    Điển cố Đào Uyên Minh đã được tác giả sử dụng thật tài tình. Ông tự coi mình là người quê mùa chẳng quen chốn cung cấm xa hoa, nhộn nhịp cũng giống như Đào Tiềm ngày ấy lạc vào chốn thần tiên. Cảnh đẹp thì đẹp nhưng lòng người lại không ham.
    Sự nguy nga, hoành tráng nơi Trịnh phủ được tác giả miêu tả chi tiết, tỉ mỉ qua từng bước đi, từng cái nhìn ấy là “Đi mấy trăm bước, qua mấy lần cửa đi đến cái điếm hậu mã quân túc trực” rồi những cái cây, những hòn đá lạ… mọi thứ cứ dần dần hiện ra trước mắt đến choáng ngợp nhưng Lê Hữu Trác không hề tỏ ra thảng thốt, bất ngờ đến tột cùng mà vẫn giữ cho mình sự điềm tĩnh, trầm ngâm của một ẩn sĩ. Đồ dùng vật dụng mọi thứ rất sang trọng “Đồ nghi trượng đều được sơn son thếp vàng”, rồi cả những cái “sập thếp vàng” những đồ đạc nhân gian chưa từng thấy, cột cũng được sơn son thếp vàng. Cái màu vàng chủ đạo ấy cho thấy sự xa hoa, tráng lệ nơi Trịnh phủ nó đối lập hoàn toàn với cuộc sống cơ cực, bần hàn của những người dân nghèo, cũng chính công trình kiến trúc ấy được xây dựng bằng mồ hôi, công sức, tiền của của nhân dân.
    Sự sang trọng nơi đây còn được thể hiện ở tên gọi nào nhà “Đại đường”, “Quyền bồng” rồi “Phòng trà”, mọi người ở trong đó đều là các quan Chánh đường người nhà vua nhà chúa. Ai muốn vào phải có thẻ lính canh nghiêm ngặt vô cùng. Bữa cơm trong ấy là “mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ” lần đầu tiên tác giả được nhìn, được biết đến cái phong vị của nhà đại gia. Tuy nhiên chẳng phải cái giàu sang, cái của ngon vật lạ ấy làm cho con người ta khỏe mạnh, hưng cường mà ngược lại khiến cho Thế tử là con trời lại thành con bệnh.
    Thế tử là “một người ngồi trên sập độ năm, sáu tuổi mạc cái áo lụa đỏ” muốn vào được đến đây ông đã phải đi qua độ năm, sáu lần. Trước khi vào bắt mạch, khám bệnh cho thế tử ông phải hành lễ lạy tạ. Gian phòng của thế tử được tác giả quan sát miêu tả thật kĩ lưỡng “một cây nến to cắm trên một cái giá bằng đồng. Bên sập đặt một cái chiếu rồng sơn son thếp vàng, trên ghế bày nệm gấm… xung quanh lấp lánh hương hoa ngào ngạt.” Chính không khí ngào ngạt mùi hương nhưng tù đọng, bí bách là nguyên nhân dẫn đến căn bệnh của thế tử chữa trị mãi mà không khỏi với biết bao thầy y và những vị thuốc. Ở phủ chúa tác giả không quen với những khuôn phép, luật lệ thâm nghiêm như có phần e ngại, mất tự nhiên khi thì chỉ dám “ngước mắt nhìn rồi lại cúi đầu”, khi thì nín thở rồi lại khúm núm.
    Lê Hữu Trác là một vị danh y nổi tiếng, bằng tài năng y thuật và con mắt tinh tường ông đã sớm nhận ra khuyết tật nơi phủ chúa đồng thời cũng bắt trúng bệnh của thế tử. Khoảnh khắc kê đơn cắt thuốc là lúc mà ông do dự, đắn đo cuộc đấu tranh nội tâm diễn ra cam go, quyết liệt. “Nếu mình làm có kết quả ngay thì sẽ bị danh lợi nó ràng buộc, không làm sao về núi được nữa. Chi bằng ta dùng thữ phương thuốc hòa hoãn, nếu không trúng thì cũng không sai bao nhiêu”. Xưa nay ta chỉ thấy con người ta hám danh hám lợi, vì tiền bạc, danh vọng mà sẵn sàng chà đạp, chém giết lẫn nhau để mong được như ý muốn. Nhưng Lê Hữu Trác kế thừa tư tưởng của các vị tiền nhân như Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm :
    “Ta dại ta tìm nơi vắng vẻ
    Người khôn người đến chốn lao xao”
    một lòng giữ khí tiết trong sạch không màng danh lợi. Tuy nhiên ông không thể vì bản thân mà lại quên đi chữ “trung” “cha ông mình đời đời chịu ơn của nước, ta phải dốc hết cả lòng thành để nối tiếp cái trung của cha ông mình mới được”. Chính điều đó đã thôi thúc ông làm tròn chữ “đức” của một vị lương y cho xứng danh“lương y như từ mẫu”. Mặc dù sống trong thời loạn lạc, vua lúa là những kẻ chỉ biết hưởng thụ với cuộc sống xa hoa nhưng ông không đã bỏ qua tất cả để làm tròn trách nhiệm của người thầy thuốc “Cứu một mạng người hơn xây bảy tòa tháp”. Tác giả phải là một con người có tâm có tầm có nhân cách cao đẹp mới có thể làm được điều đó.
    Nơi Trịnh phủ được quan sát thật tỉ mỉ, được miêu tả thật sinh động, trung thực bởi con mắt tinh tế, nhạy bén với những chi tiết đặc sắc của một cây bút kí tài năng, sắc sảo_Lê Hữu Trác đã cho người nghe, người đọc thấy được cảnh vật tráng lệ , nguy nga nơi phủ chúa đồng thời cho thấy hiện thực xã hội phong kiến thối nát lúc bấy giờ. Cách viết của ông thật hấp dẫn độc giả vừa miêu tả vừa đan xen cảm xúc, suy nghĩ tâm trạng của một cái tôi cá nhân. Nếu như đặc trưng của văn học trung đại là con người cá nhân bị lu mờ, ít thấy tác giả xuất hiện trực tiếp do người trung đại không coi mình là trung tâm mà chỉ là một bộ phận trong chỉnh thể lớn.Nhưng ở đây tác giả đã tự tin thể hiện cái tôi của mình bằng cách sử dụng ngôi kể thứ nhất xưng tôi mang đậm dấu ấn cá nhân.
    Qua đoạn trích “Vào phủ chúa Trịnh” giàu tính hiện thực một mặt phê phán lối sống vinh hoa, quyền quý nơi phủ chúa một mặt ngợi ca nhân cách y đức của tác giả. Lê Hữu Trác vừa để lại một kiến thức về y học cổ truyền cho dân tộc vừa là tấm gương sáng về đạo đức người thầy thuốc cho hậu thế muôn đời.

  • Dàn ý Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Dàn ý Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Dàn ý Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 7 bài phân tích, dàn ý bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    [toc]

    Dàn ý Phân tích bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu hay nhất

    Đề bài: Phân tích bài thơ Việt Bắc.

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Giới thiệu khái quát về tác giả Tố Hữu: là một nhà thơ lớn, một nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông luôn phản ánh những chặng đường đấu tranh gian khổ song cũng nhiều thắng lợi của dân tộc.

    – Giới thiệu bài thơ Việt Bắc: hoàn cảnh sáng tác, nội dung chính của bài thơ.

    1. Thân bài
    2. Ý nghĩa nhan đề

    – Việt Bắc là một địa danh – là cái nôi của cách mạng Việt Nam tiền khởi nghĩa, là cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến chống Pháp.

    – Việt Bắc là nơi lưu giữ nhiều kỉ niệm giữa cán bộ cách mạng và đồng bào nơi đây.

    1. Lời của người ở lại (20 câu thơ đầu)

    – Tám câu thơ đầu là tâm trạng lưu luyến bịn rịn trong buổi chia tay:

        + Bốn câu trên, sử dụng điệp cấu trúc “mình về mình co nhớ” là lời ướm hỏi, khơi gợi lại những kỉ niệm về “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng”, về thiên nhiên Việt Bắc nghĩa tình.

        + Cách xưng hô “mình – ta” như lời tâm tình của đôi lứa yêu nhau khiến cuộc chia tay trở nên thân mật, giản dị. Cách xưng hô còn gợi nhớ đến những câu đối đáp trong điệu hát giao duyên khiến những câu thơ nói về cách mạng không khô khan mà trở nên đằm thắm, sâu lắng.

        + Bốn câu thơ tiếp là nỗi lòng lưu luyến của cả người ở lại và ra đi thể hiện qua những từ ngữ diễn tả tâm trạng trực tiếp: “da diết”, “bâng khuâng”, “bồn chồn”; không khí buổi chia tay thân tình, gần gũi: “áo chàm”, “cầm tay nhau”.

    – Mười hai câu tiếp theo, với việc sử dụng điệp từ “nhớ”, là lời nhắn nhủ dưới hình thức câu hỏi:

        + Nhớ đến thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc trong những ngày kháng chiến: mưa nguồn, suối lũ, mây mù, trám bùi, măng mai.

        + Nhớ đến những ân tình trong khó khăn gian khổ: “miếng cơm chấm muối” nhưng vẫn “đậm đà lòng son”.

        + Nhớ đến quang thời gian hoạt động cách mạng: kháng Nhật, Việt Minh, Tân Trào, Hồng Thái, …

        + Đại từ xưng hô “mình” thể hiện sự gắn bó, thân thiết giữa kẻ ở, người đi. Nó giống như cách xưng hô tâm tình, thủ thỉ chân thành.

    1. Lời của người ra đi

    – Bốn câu thơ tiếp khẳng định nghĩa tình thủy chung, mặn mà, “ta với mình, mình với ta”: thể hiện sự gắn bó, thấu hiểu nhau giữ người đi, kẻ ở.

    – Người đi bày tỏ nỗi nhớ đến thiên nhiên Việt Bắc: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương”, “bản khói cùng sương”, “rừng nứa bờ tre”, … thiên nhiên Việt Bắc qua bốn mùa xuân, hạ, thu, đông.

    – Nhớ đến con người Việt Bắc:

        + Những con người dù gian khó, vất vả những vẫn có tâm lòng thủy chung, cùng chia sẻ mọi “đắng cay ngọt bùi” trong kháng chiến: “chia củ sắn lùi”, “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”.

        + Nhớ đến những kỉ niệm ấm áp giữa bộ đội và đồng bào Việt Bắc: “lớp họ i tờ”, “giờ liên hoan”, “ca vang núi đèo”.

        + Nhớ hình ảnh những con người mang vẻ đẹp mộc mạc, giản dị của người lao động: “người mẹ”, “cô em gái”.

    – Nhớ hình ảnh quân dân Việt Bắc đoàn kết đánh giặc: “ta cùng đánh Tây”, “cả chiến khu một lòng”; khí thế hào hùng của quân dân ta trong các trận đánh: “rầm rập như là đất rung”, “quân đi điệp điệp trùng trùng”, “dân công đỏ đuốc từng đoàn”, …

    – Nhớ những chiến công, những niềm vui thắng trận: “tin vui thắng trận trăm miền … núi Hồng”

    – Nhận xét: nhịp thơ dồn dập như âm hưởng bước hành quân, hình ảnh kì vĩ… tất cả tạo nên một bức tranh sử thi hoành tráng để ca ngợi sức mạnh của nhân dân anh hùng.

    1. Niềm tự hào, niềm tin gửi gắm Việt Bắc CM (16 câu thơ cuối)

    – Nhớ hình ảnh tươi sáng nơi nguồn cội của cuộc cách mạng: ngọn cờ đỏ thắm, rực rỡ sao vàng, có trung ương Đảng, có chính phủ và có Bác Hồ.

    – Đoạn thơ thể hiện niềm tin vào sức mạnh, khả năng lãnh đạo của Đảng trong các cuộc cách mạng, niềm tự hào vào những chiến công Việt Bắc.

    III. Kết bài

    – Khái quát giá trị nghệ thuật: sử dụng thể dân tộc: thể thơ lục bát để nói về tình cảm cách mạng, lối đối đáp, sử dụng đại từ xưng hô linh hoạt (mình – ta), ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi…

    – Khái quát giá trị nội dung: bài thơ là bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến, là bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến.

     

  • Cảm nhận về khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm nhận về khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm nhận về khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan:Cảm nhận khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận của em về bốn câu thơ cuối bài “Tây Tiến” của Quang Dũng:

        “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

        (…) Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

    Bài văn mẫu

        Khổ cuối bài thơ, âm điệu trở nên tha thiết sâu lắng, bồi hồi. Vẫn là tiếng lòng rung lên theo hoài niệm. Biết bao thương nhớ khôn nguôi:

        “Tây Tiến người đi không hẹn ước

        Đường lên thăm thẳm một chia phôi

        Ai lên Tây Tiến mùa xuân ấy

        Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”.

        Mùa xuân ấy, khi “Tiếng kèn kháng chiến vang dậy non sông” (Hồ Chí Minh), đoàn binh Tây Tiến xuất quân. Họ đã tiến ra sa trường với lời hẹn ước: “Nhất khứ bất phục hoàn”. Đó là lời thề, là quyết tâm của cả một thế hệ “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh”. Các anh đã giã biệt quê hương. Những ai còn ai mất sau những tháng ngày đầy máu lửa? Bạn bè, đồng đội thân yêu, những ai đó “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi”. Nhưng quê hương vẫn đời đời ôm ấp bóng hình anh, người chiến sĩ trong binh đoàn Tây Tiến. Bài thơ đã khép lại mà âm điệu của nó vẫn bồi hồi vang vọng trong tâm hồn ta.

        Có những bài thơ một thời nhưng cũng có một số bài thơ mãi mãi. Thơ hay không có tuổi cũng như mùa xuân không ngày tháng. Đó là “Đèo cả” của Hữu Loan, là “Nhớ” của Hồng Nguyên, “Đồng Chí” của Chính Hữu. “Tây Tiến”của Quang Dũng và…

        “Tây Tiến” là một trong những bài thơ hay nhất viết về người chiến sĩ cầm súng bảo vệ Tổ quốc, tiêu biểu cho thơ ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp. Với bút pháp lãng mạn, với cốt cách tài hoa, phong độ hào hùng của nhà thơ – chiến sĩ, Quang Dũng đã khắc chạm vào thời gian, vào thơ ca và lòng người hình ảnh người chiến sĩ vô danh Thăng Long – Hà Nội, của dân tộc Việt Nam anh hùng. Trước linh hồn người liệt sĩ, ta thắp lên nén tâm hương, nghiêng mình với tình cảm biết ơn và kính phục nhà thơ và những chiến sĩ vinh quang trong đoàn binh Tây Tiến.

     

  • Văn mẫu: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Văn mẫu: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Văn mẫu: Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)

    [toc]

    Top 8 bài phân tích, dàn ý tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu hay nhất

    Phần Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc (Nguyễn Đình Chiểu) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Dàn ý Phân tích tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
    2. 2 bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
    3. Cảm nhận tác phẩm Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc của Nguyễn Đình Chiểu
    4. Tinh thần nhân đạo của Nguyễn Đình Chiểu trong Văn tế Nghĩa sĩ Cần Giuộc
    5. Dàn ý Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
    6. 5 bài văn mẫu Phân tích hình tượng người nông dân nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc hay nhất
    7. Phân tích vẻ đẹp của người nghĩa sĩ Cần Giuộc trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc
    8. Phân tích bức tượng đài người nông dân nghĩa sĩ trong bài Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc

  • Cảm nhận khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm nhận khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Cảm nhận khổ cuối bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan:Cảm nhận khổ 3 bài thơ Tây Tiến của Quang Dũng hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Tây Tiến” của Quang Dũng:

        “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

        (…) Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

    Bài văn mẫu

        Năm 1948, cuộc kháng chiến của quân và dân ta chống thực dân Pháp bước sang năm thứ 3. Ta vừa thắng lớn trên chiến trường Việt Bắc thu đông 1947. Chặng đường lịch sử phía trước của dân tộc còn đầy thách thức gian nan. Cuộc kháng chiến đã chuyển sang một giai đoạn mới. Tiền tuyến và hậu phương tràn ngập tinh thần phấn chấn và quyết thắng.

        Thời gian này, văn nghệ kháng chiến thu được một số thành tựu xuất sắc. Một số bài thơ hay viết về “anh bộ đội Cụ Hồ” nối tiếp nhau xuất hiện: “Lên Tây Bắc” (Tố Hữu), “Đồng chí” (Chính Hữu) , “Nhớ” (Nguyên Hồng)… và “Tây Tiến” của Quang Dũng.

        Quang Dũng viết “Tây Tiến” vào năm 1948, tại Phù Lưu Chanh, một làng ven con sông Đáy hiền hòa. Cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi nhớ: nhớ đồng đội thân yêu, nhớ đoàn binh Tây Tiến, nhớ bản mường và núi rừng miền Tây, nhớ những kỉ niệm đẹp một thời trận mạc… Nói về nỗi nhớ ấy, bài thơ đã ghi lại hào khí lãng mạn của tuổi trẻ Việt Nam, của “bao chiến sĩ anh hùng” trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp vô cùng gian khổ mà vinh quang.

        “Tây Tiến” là phiên hiệu của một đơn vị bộ đội hoạt động tại biên giới Việt – Lào, miền Tây tỉnh Thanh Hóa và Hòa Bình. Quang Dũng là một cán bộ đại đội của “đoàn binh không mọc tóc” ấy, đã từng vào sinh ra tử với đồng đội thân yêu.

        Hai câu thơ đầu nói lên nỗi nhớ, nhớ miền Tây, nhớ núi rừng, nhớ dòng sông Mã thương yêu:

        “Sông Mã xa rồi Tây Tiến ơi!

        Nhớ về rừng núi, nhớ chơi với”.

        Đã “xa rồi” nên nỗi nhớ không thể nào nguôi được, nhớ da diết đến quặn lòng, đó là nỗi nhớ “chơi vơi”. Tiếng gọi “Tây Tiến ơi!” vang lên tha thiết như tiếng gọi người thân yêu. Từ cảm “ơi!” bắt vần với từ láy “chơi với” tạo nên âm hưởng câu thơ sâu lắng, bồi hồi, ngân dài, từ lòng người vọng vào thời gian năm tháng, lan rộng lan xa trong không gian. Hai chữ “xa rồi” như một tiếng thở dài đầy thương nhớ, hô ứng với điệp từ “nhớ” trong câu thơ thứ hai thể hiện một tâm tình đẹp của người chiến binh Tây Tiến đối với dòng sông Mã và núi rừng miền Tây. Sau tiếng gọi ấy, biết bao hoài niệm một thời gian khổ hiện về trong tâm tưởng.

        Những câu thơ tiếp theo nói về chặng đường hành quân đầy thử thách gian nan mà đoàn binh Tây Tiến từng nếm trải. Các tên bản, tên mường: Sài Khao, Mường Lát, Pha Luông, Mường Hịch, Mai Châu… được nhắc đến, không chỉ gợi lên bao thương nhớ vơi đầy mà còn để lại nhiều ấn tượng về sự xa xôi, heo hút, hoang dã, thâm sơn cùng cốc,… Nó gợi trí tò mò và háo hức của những chàng trai “Từ thuở mang gươm đi giữ nước – Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”. Đoàn binh hành quân trong sương mù giữa núi rừng trùng điệp:

        “Sài Khao sương lấp đoàn quân mỏi,

        Mường Lát hoa về trong đêm hơi”.

        Bao núi cao, đèo cao, dốc thẳm dựng thành phía trước mà các chiến sĩ Tây Tiến phải vượt qua. Dốc lên thì “khúc khuỷu” gập ghềnh, dốc xuống thì “thăm thẳm”, “heo hút” đặc tả gian khổ, gian truân của nẻo đường hành quân chiến đấu: “Dốc lên khúc khuỷu, dốc thăm thẳm – Heo hút cồn mây súng ngửi trời”. Đỉnh núi mù sương cao vút. Mũi súng của người chiến binh được nhân hóa tạo nên một hình ảnh: “súng ngửi trời” giàu chất thơ, mang vẻ đẹp cảm hứng lãng mạn, cho ta nhiều thi vị. Nó khẳng định chí khí và quyết tâm của người chiến sĩ chiếm lĩnh mọi tầm cao mà đi tới: “Khó khăn nào cũng vượt qua – Kẻ thù nào cũng đánh thắng!”. Thiên nhiên núi đèo xuất hiện như để thử thách lòng người: “Ngàn thước lên cao, ngàn thước xuống”. Hết lên lại xuống, xuống thấp lại lên cao, đèo nối đèo, dốc tiếp dốc, không dứt. Câu thơ được tạo thành 2 vế tiểu đối: “Ngàn thước lên cao // ngàn thước xuống”, hình tượng thơ cân xứng hài hòa, cảnh tượng núi rừng hùng vĩ như mái nhà chọc trời được đặc tả, thể hiện một ngòi bút đầy chất hào khí của nhà thơ – chiến sĩ.

        Có cảnh đoàn quân đi trong mưa: “Nhà ai Pha Luông mưa xa khơi”. Câu thơ dệt bằng những thanh liên tiếp, gợi sự êm dịu tươi mát của tâm hồn những người lính trẻ, trong gian khổ vẫn lạc quan yêu đời. Trong màn mưa rừng, tầm nhìn của người chiến binh Tây Tiến vẫn hướng về những bản mường, những mái nhà dân hiền lành và yêu thương, nơi mà các anh sẽ đến, đem xương máu và lòng dũng cảm để bảo vệ và giữ gìn.

        Trước đây Đặng Trần Côn, trong “Chinh phụ ngâm” cũng đã viết về cảnh tượng chiến trường:

        “Nay Hán xuống Bạch Thành đóng lại,

        Mai Hồ vào Thanh Hải dòm qua,

        Hình khe thế núi gần xa

        Đứt thôi lại nối, thấp đà lại cao.

        Sương đầu núi buổi chiều như dội

        Nước lòng khe nẻo suổi còn sâu.

        Não người áo giáp bấy lâu,

        Lòng quê qua đó mặt sầu chẳng khuây…”

                 (Đoàn Thị Điểm dịch)

        Thật là hãi hùng khủng khiếp! Nhưng đó chỉ là những ước lệ tượng trưng, những tưởng tượng của nàng chinh phụ. Chàng chinh phu mới ngày nào đó còn “Thét roi Cầu Vị ào ào gió thu”, thì nay đã mệt mỏi, nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ vợ con héo hon cả ruột. Có đặt 2 đoạn thơ cạnh nhau, ta mới cảm nhận được vẻ đẹp tráng chí của “anh bộ đội Cụ Hồ”, cảm nhận được cảm hứng lãng mạn trong thơ Quang Dũng.

        Ta trở lại đoạn thơ trên, gian khổ không chỉ là núi cao dốc thẳm, không chỉ làmưa lũ thác ngàn mà còn có tiếng gầm của cọp beo nơi rừng thiêng nước độc, nơi đại ngàn hoang vu:

        “Chiều chiều oai linh thác gầm thét

        Đêm đêm Mường Hịch cọp trêu người”.

        “Chiều chiều…” rồi “đêm đêm” những âm thanh ấy, “thác gầm thét”, “cọp trêu người”, luôn luôn chỉ rõ cái bí mật, cái uy lực khủng khiếp ngàn đời của chốn rừng thiêng. Chất hào sảng trong thơ Quang Dũng là lấy ngoại cảnh núi rừng miền Tây hiểm nguy để tô đậm và khắc họa chí khí anh hùng của đoàn quân Tây Tiến. Mỗi vần thơ đã để lại trong tâm trí người đọc một ấn tượng: gian nan tột bậc mà cũng can trường tột bậc! Đoàn quân vẫn tiến bước, người nối người, bang lên phía trước. Uy lực thiên nhiên như bị giảm xuống và chí khí con người được nâng cao hẳn lên một tầm vóc mới. Quang Dũng cũng không hề né tránh khi nói đến sự hi sinh của đồng đội trên những chặng đường hành quân vô cùng gian khổ:

        “Anh bạn dãi dầu không bước nữa

        Gục lên súng mũ bỏ quên đời…”.

        Hiện thực chiến tranh xưa nay vốn như thế! Sự hi sinh của người chiến sĩ là tất yếu. Xương máu đổ xuống để xây đài tự do. Vần thơ nói đến cái mất mát, hi sinh nhưng không chút bi lụy, thảm thương. “Bỏ quên đời” vì các anh coi cái chết nhẹ tựa lông hồng.

        Hai câu cuối đoạn thơ, cảm xúc bồi hồi tha thiết. Như lời nhắn gửi của một khúc tâm tình. Như tiếng hát của một bài ca hoài niệm. Vừa bâng khuâng vừa tự hào:

        “Nhớ ôi Tây Tiến cơm lên khói

        Mai Châu mùa em thơm nếp xôi”.

        “Nhớ ôi!” tình cảm dạt dào, đó là tiếng lòng của các chiến sĩ Tây Tiến “đoàn binh không mọc tóc”. Câu thơ đạm đà tình quân dân. Hương vị bản mường với “cơm lên khói”, với “mùa em thơm nếp xôi” có bao giờ quên? Hai tiếng “mùa em” là một sáng tạo độc đáo về ngôn ngữ thi ca, nó hàm chứa bao tình thương nỗi nhớ, điệu thơ trở về uyển chuyển, mềm mại, tình thơ trở nên ấm áp. Cũng nói về hương nếp, hương xôi, về “mùa em” và tình quân dân ấy, sau này Chế Lan Viên viết trong bài “Tiếng hát con tàu”:

        “Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch

        Vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng

        Đất Tây Bắc tháng ngày không có lịch

        Bữa xôi đầu còn tỏa nhớ mùi hương”.

        “Nhớ mùi hương”, nhớ “cơm lên khói”, nhớ “thơm nếp xôi” là nhớ hương vị núi rừng Tây Bắc, nhớ tình nghĩa, nhớ tấm lòng cao cả của đồng bào Tây Bắc thân yêu.

        Mười bốn câu thơ trên đây là phần đầu bài “Tây Tiến”, một trong những bài thơ hay nhất viết về người lính trong 9 tháng kháng chiến chống Pháp. Bức tranh thiên nhiên hoành tráng, trên đó nổi bật lên hình ảnh người chiến sĩ can trường và lạc quan, đang dấn thân vào máu lửa với niềm kiêu hãnh “Chiến trường đi chẳng tiếc đời xanh…”. Đoạn thơ để lại một dấu ấn đẹp đẽ về thơ ca kháng chiến mà sự thành công là kết hợp hài hòa giữa khuynh hướng sử thi và cảm hứng lãng mạn. Nửa thế kỉ đã trôi qua, bài thơ “Tây Tiến” của Quang Dũng, ngày một thêm sáng giá.