Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • Top 3 bài Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Top 3 bài Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Top 3 bài Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bài văn Cảm nhận về truyện ngắn Những đứa con trong gia đình hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

    Bài văn mẫu

       Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ông rất xứng đáng với danh hiệu “nhà văn của nhân dân Nam Bộ”. Bởi nhân vật tiêu biểu trong sáng tác của ông là những người nông dân, những con người bản chất hồn nhiên, bộc trực, giàu lòng yêu nước, yêu cách mạng, sẵn sàng hi sinh vì quê hương, vì độc lập tự do của Tổ quốc. Tác phẩm thể hiện điều ấy là truyện ngắn “những đứa con trong gia đình”.

       Truyện ngắn này là một trong những truyện ngắn xuất sắc được viết trong những ngày chiến đấu ác liệt chống đế quốc Mĩ khi nhà văn công tác ở tạp chí văn nghệ quân giải phóng (tháng 2/1966). Truyện ngắn trước hết có một nghệ thuật kể chuyện độc đáo. Truyện được kể theo ngôi thứ ba, người kể tự giấu mình. Truyện được kể lại dưới góc nhìn của nhân vật Việt trong hoàn cảnh bị trọng thương lạc đồng đội bà nằm lại giữa rừng. Chính vì được kể theo cách này mà câu chuyện trở nên đậm đà, mang màu sắc trữ tình, tạo điều kiện cho tác giả xâm nhập sâu để dẫn dắt câu truyện. Đặc sắc trong lối kể chuyện không chỉ dừng lại ở ngôi kể, mà còn ở diễn biến câu chuyện linh hoạt. Diễn biến truyện không bị phụ thuộc vào trật tự thời gian, không gian. Truyện biến đổi linh hoạt từ hiện thực chiến trường quay lại về quá khứ rồi từ sự việc này đến sự việc khác. Nhớ về những ngày cùng chú Năm bắt mấy con ếch về nhậu, rồi Việt lại nhớ về những ngày lấy ná bắn chim, hay rồi Việt lại nhớ má…. Mỗi lần tỉnh Việt lại hồi tưởng đến những sự việc khác nhau. Qua mỗi lần hồi tưởng ấy, các tuyến nhân vật lại có dịp bộc lộ tính cách cũng như vẻ đẹp của riêng mình.

       Xung quanh câu truyện là một gia đình có truyền thống yêu nước và căm thù giặc sâu sắc. Từng thành viên trong gia đình đều là những con người gan góc, dũng cảm, khao khát được chiến đấu. Ông nội và bố Việt bị giặc giết hại. Mẹ Việt vừa phải vất vả nuôi con, vừa phải đương đầu với những đe dọa, hạch sách, cuối cùng cũng chết vì bom đạn. Truyền thống cách mạng vẻ vang của gia đình và những mất mát đau thương đều được chú Năm ghi chép vào một cuốn sổ gia đình. Chú Năm là người lớn tuổi nhất còn lại trong gia đình. Chú từng bôn ba khắp nơi, là người cưu mang mấy chị em Việt khi ba mẹ hi sinh. Chú rất đề cao truyền thống gia đình, mọi sự việc chú đều ghi lại trong cuốn sổ ấy. Một con người lao động chẩt phác như chú còn rất giàu tình cảm, có tâm hồn nghệ sĩ. Chú hay cất những câu hò, chú thích hò, câu hò “bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng, vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội”. Chú là người đã hết lòng góp sức cho chị em Việt – Chiến lên đường hành quân.

       Nhưng trong truyện, chú Năm không phải nhân vật trung tâm. Tuyến nhân vật quan trọng nhất là hai chị em Việt – Chiến. Với những nét tính cách chung của một gia đình truyền thống, Việt – Chiến đã thể hiện toàn bộ giá trị nội dung của tác phẩm. Đó là sức mạnh của sự đoàn kết, những tấm gương thi đua, những con người mang dòng máu nóng trong thời kỳ kháng chiến chống Mĩ. Hai nhân vật Việt – Chiến đặc trưng cho phong cách xây dựng nhâm vật của Nguyễn Thi. Đó là những con người sinh ra là để đánh giặc. Vẻ đẹp của Việt và Chiến đã soi sáng toàn bộ tác phẩm.

       Truyện không chỉ hấp dẫn người đọc ở giá trị nội dung mà còn ở giá trị nghệ thuật. Không chỉ với lối kể chuyện độc đáo, đặc sắc nghệ thuật còn thể hiện ở việc xây dựng và miêu tả tâm lý nhân vật. Từng hồi ức của nhân vật Việt đều được miêu tả một cách sống động. Không chỉ đơn thuần là kể lại, Nguyễn Thi còn cho người đọc thấy được từng cảm xúc, diễn biến tâm trạng của các nhân vật. Từ cảm giác tưởng tượng ra con ma thụt đầu đến hình ảnh của mà trong hồi ức Việt đều được miêu tả rất rõ. Cách xây dựng nhân vật cũng hết sức đặc biệt mamg màu sắc Nguyễn Thi. Đó là nhân vật đều phải có nét chung thống nhất. Như trong truyện ngắn này, điểm chung của các nhân vật là cùng xuất thân và mang trong mình một dòng máu truyền thống căm thù giặc. Và điều góp phầm khiến truyện ngắn gần gũi hơn với người đọc chính là sự vận dụng sáng tạo ngôn ngữ của người dân Nam Bộ trong miêu tả, khắc họa nhân vật. Ngôn ngữ ấy mộc mạc, giản dị, gần gũi, giúp người đọc dễ dàng tiếp cận.

       Tóm lại, với những đặc sắc riêng gắn liền với đặc trưng của phong cách nghệ thuật Nguyễn Thi, “Những đứa con gia đình” là một tác phẩm xuất sắc. Không chỉ đơn thuần là câu chuyện được kể, mà nó còn như tấm gương phản chiếu trong cách mạng với những nhân vật tiêu biểu cho con người Việt Nam lúc bấy giờ: gan góc, kiên cường, dũng cảm, dám hi sinh.

     

     

  • Văn mẫu: Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ)

    Văn mẫu: Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ)

    Văn mẫu: Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm)

    [toc]

    Bài văn mẫu phân tích tác phẩm Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ hay nhất

    Phần Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: phân tích, giới thiệu tác giả, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Phân tích tác phẩm Xin lập khoa luật của Nguyễn Trường Tộ
    2. Giới thiệu một vài nét về Nguyễn Trường Tộ và tác phẩm Xin lập khoa luật

  • Bài văn Cảm nhận về truyện ngắn Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Bài văn Cảm nhận về truyện ngắn Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Bài văn Cảm nhận về truyện ngắn Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về truyện Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi

    Bài văn mẫu

       Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng.

       Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

       Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt. Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, mẹ, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.

       Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và mẹ, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và mẹ được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo.

       Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu.

       Nét đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đoócòn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.

       Mẹ của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng bà đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vuợt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, bà là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.

       Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha mẹ, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, mẹ bị trái cà nông quân thù sát hại. Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.

       Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống mẹ, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như mẹ, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.

       Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ mẹ qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

       Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động. Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn gó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.

       Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi theo.

     

  • Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích nhân vật Việt và nét đặc sắc về nghệ thuật trong Những đứa con trong gia đình hay nhất

    [toc]

     

    Đề bài: Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.

    Bài văn mẫu

       Nguyễn Thi là một trong những cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền Nam trong kháng chiến chống mỹ. Ông được coi là nhà văn của nông dân Nam Bộ vì thế người trung tâm trở thành hình tượng trung tâm trong các sáng tác của ông. Truyện ngắn Những đứa con trong gia đình là một truyện ngắn đặc sắc nhất của ông. Với bút pháp hiện thực kết hợp với bút pháp lãng mạn Nguyễn Thi đã mang đến hiện thực chiến tranh và không khí đấu tranh kiên cường bất khuất sục sôi của nhân dân Nam Bộ lúc bấy giờ.

       Truyện được kể theo điểm nhìn của nhân vật Việt. Anh là một người chiến sĩ dũng cảm anh dũng đã bắn được một xe tăng bọc thép của địch. tuy nhiên anh bị thương cho nên phải nằm lại trong rừng. Trong những lần ngất đi tỉnh lại Việt nhớ về những kỉ niệm đã qua. Khi ấy anh còn là một đứa trẻ hay cả khi mười tám tuổi. Việt ngất đi tỉnh lại bốn lần, mỗi một lần tỉnh là một kỉ niệm trở về trong tâm trí anh. Trong đoạn trích này là lần tỉnh lại thứ tư của Việt. Anh nhớ về kỉ niệm gia đình, về những mất mát và những chiến công của gia đình anh. Đặc biệt là kỉ niệm hai chị em Chiến và Việt tranh nhau đi tòng quân xung lính. Có thể nói qua điểm nhìn của Việt chúng ta thấy được một cách rõ nét nhất cảm xúc và lòng yêu quê hương gia đình đất nước của những thanh niên miền Nam thời kì kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Nói cách khác anh là đại diện cho toàn thế hệ trẻ miền Nam. Gia đình của anh đại diện cho những gia đình miền Nam yêu nước kiên cường.

       Trước hết về gia đình của Việt thì gia đình anh có truyền thống chống giặc ngoại xâm. Trong kháng chiến chống Mỹ gia đình Việt đã phải trải qua biết bao nhiêu đau thương và nước mắt. Đồng thời gia đình anh cũng lập nên những chiến công cho quê hương đất nước mình. Ba Việt làm du kích, ngày đêm chiến đấu chống bọn xâm lược. Thế nhưng trong một lần ba Việt bị địch bắt và ông đã bị chúng chặt đầu. Nỗi đau ấy làm sao có thể chịu được. Còn ông bà của Việt thì cũng phải chịu những dày vò đánh đập của bọn tay sai và quan phủ. Bấy nhiêu đau thương từng thành viên trong gia đình Việt khắc cốt ghi tâm. Không những thế má Việt tuy chỉ là một người phụ nữ chân yếu tay mềm cũng không chịu khuất phục trước sự tàn ác của bọn giặc.

       Bà mẹ miền Nam ấy dám đi thẳng đến chỗ chồng mình bị chặt đầu mà đòi xác chồng. Người mẹ ấy không chỉ đảm việc nhà mà còn lo được việc nước. Bà có con mắt nhìn bốn phía đôi chân thì tìm đường. Má Việt theo du kịch và cũng lập những chiến công lẫy lừng. Những thế hệ cha ông đi qua còn lại thế hệ trẻ là chị em Chiến và Việt. Những đứa con trong gia đình này lại vươn xa hơn cả bố mẹ mình. Ngay từ nhỏ hai chị em đã lập được chiến công bắn chết tên giăc trên sông Định Thủy và lớn lên hai chị em tiếp tục tòng quân. Biết bao nhiêu đau thương và chiến công đều được chú Năm người gìn giữ cuốn sổ gia đình ghi chép lại một cách cẩn thận để mai này nhắc nhở con cháu về mối thù cha ông. Nếu thể coi gia đình Việt là một con sông lớn thì khúc sông của chị em Chiến và Việt là khúc sông chảy xa nhất. Trong kháng chiến ác liệt ấy mọi con sông đều chảy về biển cả, con sông nhà Việt cũng vậy.

       Việt một anh chiến sĩ bị thương trong rừng, ban đầu Việt nhớ lại những kỉ niệm về má. Hình ảnh má hiện về với rất đỗi thân thương, má xoa đầu anh, má lấy xoong cơm xuống dưới xuồng cho Việt ăn. Má đánh thức Việt dậy. Kỉ niệm ấy cho thấy Việt đang rất nhớ má. Tuổi thơ gắn liền với sông nước của Việt khiến cho Việt thấy yêu và thương má vô cùng.

       Không những thế trong không gian bao la mệnh mông mà vô cùng vắng lặng ấy Việt bỗng thấy lòng mình trở nên bé lại. Việt nhớ đến anh Tánh, rồi muốn nũng nịu anh như thằng em út thường nũng nịu chị Chiến vậy. Bỗng nhiên Việt thấy cảm giác sợ khi hình ảnh con ma cụt đầu và thằng chỏng cụt lưỡi mà chị vẫn thường hay kể khi còn ở nhà. Đây chính là nét tươi vui mà hồn nhiên của chàng chiến sĩ trẻ tuổi. thế rồi anh nghe thấy đạn rơi bom nổ dữ dội. Việt ngẫm đây chắc chắn là súng của quân ta rồi. Anh vươn dậy đi về phía sự sống, phía của đồng đội anh đang chờ.

       Có thể nói trong hoàn cảnh cái chết cận kề và không gian mênh moogn rợn ngợp như thế Việt vẫn có thể bình tĩnh nghe theo tiếng goi của trái tim mình. Anh vẫn nằm đó không nhuc nhích được nhưng anh đang gắng gượng để đi về phía sự sống.

       Sau đó Việt kể hay chính là hồi tưởng về việc anh và chị Chiến tranh nhau đi lính. Chị Chiến là người chị gái có khuôn mặt và hình dáng rất giống mẹ. Chị luôn nhường nhịn Việt, cho Việt dành phần hơn trong các chiến công lập được. Còn Việt thì lại hồn nhiên vô tư không nghĩ ngợi. Chiến thương em cho nên không muốn việt sớm phải chịu cảnh gian nan của chiến trường. hai chị em không ai chịu nghe theo ai. Trong đêm tong quân đi lính, Việt giơ tay xin đi lính thì Chiến đứng lên ngăn lại. Có thể nói hai chị em cách nhau có một tuổi mà chị Chiến lại có những suy nghĩ chín chắn hơn Việt rất nhiều. Chú năm mừng khi thấy tinh thần chiến đấu của hai đứa cháu nên quyết định cho cả hai đứa đi cũng một lúc. Bố mẹ mất Chiến như người đứng đầu trong gia đình. Trước khi đi tòng quân đánh giặc, Chiến bàn với em về chuyện sắp xếp nhà cửa rằng nhà thì sẽ cho xã mượn để dạy học, ruộng vườn để lại cho chú Năm và mấy người nhà chăm sóc hộ. Số tiền bán được từ mấy ruộng mía thì để đó làm giỗ ba má. Đứa út thì gửi cho chú Năm trông. Bát đũa mang sang bên đó cho chị Hai muốn xuống lấy thì lấy. Những sắp xếp đâu ra đấy của một cô gái mười chín tuổi quả thật là quá chín chắn. Điều đó làm cho Việt nghĩ má dặn chị từ trước rồi. Hình ảnh đáng nhớ nhất là hình ảnh hai chị em khiêng bàn thờ ba má sang nhà chú Năm. Hành động đó thể hiện truyền thống thờ cúng ông bà tổ tiên của nhân dân ta.

       Và như thế hai chị em đi lính lập được nhiều thành tích cao nhất là Việt. Dòng hồi tưởng ấy kết thúc và khi đồng đội nhận ra anh chạy đến cứu may mà cất tiếng nói trước không thì đã bị ăn đạn của cậu Tư rồi. Điều đó cho thấy dù cận kề cái chết Việt hay chính là thế hệ thanh niên Nam Bộ vẫn ở trong trạng thái chiến đâu anh dũng.

       Đọc xong truyện ngắn này chúng ta thêm yêu thêm thương những con người ở phía cuối tổ quốc. Đồng thời hiểu thêm về sự ác liệt của chiến tranh chống Mỹ ở miền Nam nước ta. Gia đình Việt đại diện cho những gia đình miền nam chống Mỹ khác. Biết bao nhiêu gia đình chịu thương đau mất mát như thế, cũng biết bao nhiêu gia đình đứng lên đấu tranh kiên cường. Nguyễn Thi như thấu hiểu hết nỗi lòng của người dân Nam Bộ và quả thật ông thật xứng đáng với danh hiệu nhà văn của người dân Nam Bộ.

     

  • Phân tích nhân vật Việt và nét đặc sắc về nghệ thuật trong Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Phân tích nhân vật Việt và nét đặc sắc về nghệ thuật trong Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Phân tích nhân vật Việt và nét đặc sắc về nghệ thuật trong Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nhân vật Việt và chỉ ra những nét đặc sắc về nghệ thuật trong truyện “Những đứa con trong gia đình” của nhà văn Nguyễn Thi

    Bài văn mẫu

        Nguyễn Thi là nhà văn Quân đội đã anh dũng hi sinh tại mặt trận Sài Gòn năm 1968. “Truyện và kí” xuất bản 1978 là tuyển tập của Nguyễn Thi, trong đó có truyện “Những đứa con trong gia đình” được ông viết vào tháng 2 nãm 1966. Bên cạnh những nhân vật như má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, còn có nhân vật Việt được tác giả xây dựng khá thành công, tiêu biểu cho một đứa con tốt đẹp của gia đình, một chiến sĩ quả cảm, anh hùng của quê hương. Tác phẩm này đã cho thấy một số nét đặc sắc về nghẹ thuật viết truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Thi.

        Việt là một chàng trai có tâm hồn trong sáng và hồn nhiên yêu đời. Hai gò má thì “căng mướt” như da trái vú sữa. Nụ cười thì “lỏn lẻn”. Việt là em ruột của chị Chiến, là con trai thứ hai của má Tư Năng. Chiếc ná thun bằng nạng ổi “láng o” đã gắn bó với tâm hồn Việt. Thuở nhỏ, Việt để đầu trần, lội tắt trong vườn, xách ná thun đi bắn chim. Lớn lên đi làm, cái ná thun lại giắt gọn sau lưng quần. Lúc trở thành một chiến sĩ Giải phóng quân, cầm súng tự động, đánh Mĩ bằng lô, thì cái ná thun vẫn còn nằm gọn trong túi áo của Việt. Chiếc ná thun là kỉ vật tuổi thơ, là một phần đời thân thiết của chú. Việt đã dùng nó đi gác, bắn “chóc… bịch!” báo tin cho các cô, các chú cán bộ ở trong nhà xuống hầm bí mật khi bọn lính giặc kéo tới.

        Việt là một chú bé “hiếu thắng” hay tranh giành với chị Chiến. Từ chuyện bắt ếch, chuyện bắn tàu chiến Mĩ trên sông Định Thủy đến chuyện ghi tên tòng quân, Việt đều tranh giành với chị. Vốn được má cưng chiều, biết chị hay nhường nhịn, nên chú mới hay tranh giành như thế. Đó là một nét tâm lí dễ thương của tuổi thơ hồn nhiên.

        Việt quý mến tin cậy đồng đội biết bao, nhất là anh Tánh, anh Công… nhưng Việt không cho ai biết là chú có chị gái tên là Quyết Chiến, tiểu đội trưởng của bộ đội nữ địa phương quân Bến Tre. Việt giấu chị như giấu của riêng vậy, vì cậu ta “sợ mất chị mà”. Khi Việt đã có hai tuổi quân, đã từng trải qua những trận đánh dữ dội, những cuộc đọ lê ác liệt với giặc Mĩ, chú ta không sợ giặc, không sợ chết mà lại sợ ma. Bị lạc đơn vị, bị thương nằm một mình giữa chiến trường, chú “nằm thở dốc” khi chợt nhớ tới con ma cụt đầu, thằng chỏng thụt lưỡi mà các chị vẫn kể hồi ở nhà…

        Cái đêm trước lúc hai chị em ra trận, chị Chiến bàn với cậu em trai thu xếp việc gia đình. Việt phó thác hết mọi chuyện cho chị gái, chỉ ậm ừ cho xong chuyên, “rồi ngủ quên lúc nào không biết”. Thật là vô tư và hồn nhiên.

        Việt là một con người có một trái tim giàu tình yêu thương. Bị thương nặng, nằm giữa chiến trường, Việt ngất đi mê man rồi lại tỉnh, tỉnh rồi lại mê đến ba bốn lần. Chú nhớ má, nhớ câu chuyện của má thời con gái, nhớ đôi mắt “sắc ánh lên” của má khi má đứng trước mũi súng quân giặc, nhớ kỉ niệm đau thương mấy chị em theo má lên tới quận đòi “trả đầu ba”. Việt nhớ “cái gáy đo đỏ và đôi vai lực lưỡng” của má lúc chèo xuồng, nhớ tiếng gọi đầy yêu thương của má: “Việt à, ra phụ má nghe con!”. Có nhiều đêm má đi làm thuê đến canh hai mới về, Việt tỉnh giấc “ngửi thấy mùi gạo và mùi mồ hôi của má ngay trên đầu mình”. Sau ngày má mất, nhất là đêm cuối cùng trước lúc đi bộ đội, đom đóm từ ngoài rặng bần kéo vào đầy nhà, Việt cảm thấy “má cũng đã về đâu đây”… Việt cùng chị Chiến khiêng bàn thờ má gửi sang nhà chú Năm, Việt đã hứa với linh hồn má: “Chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nước nhà độc lập, con lại đưa má về”. Nghe tiếng chân bình bịch của chị Chiến, Việt “thấy thương chị lạ”. Lần đầu tiên, Việt mới thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai. Việt càng yêu thương gia đình sâu nặng bao nhiêu thì chú càng căm thù quân giặc bấy nhiêu, đúng là “Bởi chưng hay ghét cũng là hay thương” !

        Thương má, thương chị, Việt nhớ và thương chú Năm vô cùng. Việt nhớ cuốn sổ của chú Năm ghi mọi chuyện “thỏn mỏn” của gia đình, nhớ chú Năm hay bênh Việt, nhớ giọng hò tức và đục như gà gáy của chú. Ọuên sao được câu hò của chú khi chị em Việt khiêng bàn thờ má đi gửi, tiếng hò “cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi ngắt lại như một lời thề dữ dội”.

        Việt là một chiến sĩ Giải phóng quân rất quả cảm, anh hùng. Chú ra trận mang theo sức mạnh truyền thống cách mạng của gia đình, sức mạnh của tình thương ba má…, sức mạnh của lòng căm thù quân xâm lược giày xéo quê hương.

        Lúc còn sống, má đã từng nói với Việt: “Để má ráng nuôi bay lớn, coi bây có làm được gì cho cha mày vui không?”. Ý nghĩ “đi trả thù” thôi thúc Việt suốt đêm ngày. Chưa đủ 18 tuổi vẫn xung phong ghi tên tòng quân. Mới được 2 tuổi quân, Việt đã lập chiến công dùng thủ pháo tiêu diệt một xe bọc thép của giặc Mĩ. Bị trọng thương, khắp người “đau điếng, rỉ máu”, đôi mắt sưng lên không nhìn thấy gì hết, mười ngón tay chỉ còn một ngón cái cử động được. Bị lạc đơn vị, đói, khát đã hai ba ngày đêm. Thế nhưng, ba viên đạn còn dưới hộp, một viên đã lên nòng, Việt vẫn day họng súng về phía giặc khi nghe hơi xe bọc thép chạy mỗi lúc một gần. Việt quyết đánh đến viên đạn cuối cùng, đánh đến giọt máu cuối cùng: “Tao sẽ chờ mày! Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”. Việt không thấy đơn độc, anh tin rằng: “Nghe tiếng súng nổ, các anh tao sẽ chạy tới đâm mày!”.

        Gặp lại anh Tánh và đồng đội sau 3 ngày đêm bị trọng thương, bị lạc đơn vị một mình nằm giữa chiến trường, tuy đã bị kiệt sức, nhưng Việt vẫn giữ vững tư thế sẵn sàng chiến đấu một mất một còn với quân thù, “ngón tay của cậu vẫn còn nhúc nhích, một viên đạn đã lên nòng và chung quanh cậu, dấu xe bọc thép hằn ngang dọc”. Câu hỏi đầu tiên của Việt là câu hỏi về tin chiến sự. Và Việt đã cười khi nghe anh Tánh báo tin “diệt hết rồi, trận đánh xong rồi, xong rồi…”. Tư thế ấy, nụ cười ấy là những biểu hiện tuyệt đẹp tính cách anh hùng của đứa con trai má Tư Năng.

        Cũng như chị Chiến, Việt là một đứa con đã nêu cao truyền thống gia đình, đi tiếp con đường cách mạng của ba má, “một lòng theo Đảng”, hăm hở ra trận với quyết tâm “đi trả thù mà không sợ dài lâu” (Nguyễn Khoa Điềm). Chú Năm dã tự hào nói: “Việt là một thằng nhỏ gan”. Việt đã trở thành câu hò, là hiện thân câu hò của chú Năm: “theo từng câu hò, khi thì Việt biến thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười”. Việt là niềm tự hào và hi vọng của gia đình, là hình bóng thân thiết của quê hương. Nhân vật Việt tiêu biểu cho tình yêu gia đình, quê hương đất nước, tinh thần chiến đấu quả cảm, khí phách anh hùng của những chàng trai vùng đồng bằng sông Cửu Long thời đánh Mĩ. Nhân vật Việt là một thành công của Nguyễn Thi về nghệ thuật xây dựng nhân vật và miêu tả tính cách anh hùng.

        Truyện ” Những đứa con trong gia đình” đã thể hiện tập trung nhất nét đặc sắc nghệ thuật của Nguyễn Thi về kể chuyện, về xây dựng nhân vật, về sử dụng ngôn ngữ.

        Truyện được kể theo hồi ức của Việt. Mở đầu truyện, Việt nằm trong bệnh viện dã chiến. Tiếp theo nói về trận đánh lớn giữa đồn điền cao su. Việt lập chiến công to và bị thương nặng, bị lạc đơn vị. Mê rồi tỉnh, tỉnh rồi mê… Việt nhớ lại tuổi thơ, nhớ lại những kỉ niêm về má, về chú, về chị, về đêm ghi tên tòng quân, chuyện gửi bàn thờ má… Cấu trúc truyện rất hiện đại, tạo nên sự đồng hiện về thời gian, không gian (hiện tại, quá khứ, hôm nay và hôm qua, bệnh viện, chiến trường và quê hương), đồng hiện về sự việc, nhân vật, tâm trạng. Mọi tình tiết đan xen, thế mà không rối vẫn hấp dẫn, mạch lạc, chân thực, đó là tài kể chuyên của Nguyễn Thi.

        Đặc sắc thứ hai về nghệ thuật là xây dựng tính cách nhân vật. Má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, Việt đều có những nét chung như hồn nhiên, yêu đời, bộc trực, căm thù ngùn ngụt, gan góc, dũng mãnh, yêu nước, yêu gia đình quê hương, sẵn sàng hi sinh vì đại nghĩa, v.v… Nhưng mỗi nhân vật lại có những nét riêng, cá tính riêng. Cuốn sổ tay và giọng hò của chú Năm. Cái nhìn “sắc ánh lên” và câu trả lời: “Vợ Tư Năng đây!”, với cái tư thế hiên ngang của má Việt đứng trước mũi súng giặc. Cái bịt miệng cười, cử chỉ hứ một cái “cóc”, đôi chân đi “bịch bịch” của Chiến. Cái ná thun, cái nụ cười “lỏn lẻn” của Việt, v.v… Đó là những chi tiết nghệ thuật rất cụ thể đã cá thể hóa nhân vật khi khắc hoạ tính cách nhân vật.

        Một thành công nữa của Nguyễn Thi là đã vận dụng sáng tạo ngôn ngữ bà con nông dân Nam Bộ trong miêu tả cảnh vật và kể chuyện. Những từ ngữ: trọng trọng, tía, việc thỏn mỏn, kiếng, ná thun, tèm lem, rê thuốc… đã tạo nôn màu sắc và không khí Nam Bộ, đem đến nhiều nhã thú văn chương cho độc giả trên miền Bắc. Ngôn ngữ nhân vật, mộc mạc đậm đà, thể hiện cá tính và tâm lí nhân vật một cách rõ nét. Đây là một câu nói của chú Năm với anh cán bộ Huyện đội trong đêm hội tòng quân: “Tôi xin có một câu nói với đồng chí Huyện đội. Hai đứa cháu tôi nó một lòng theo Đảng như vậy, tôi cũng mừng. Vậy xin trên cứ ghi tên cho cả hai. Việc lớn ta theo việc lớn, còn việc thỏn mỏn trong nhà tôi thu xếp khắc xong”.

        Tóm lại, đọc truyện “Những đứa con trong gia đình” nhân vật Việt, một chiến sĩ anh hùng để lại cho ta nhiều yêu mến. Nguyễn Thi là một cây bút giàu bản sắc, ông xứng đáng được tôn vinh là nhà văn của người nông dân Nam Bộ thời đánh Mĩ.

     

  • 2 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    2 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    2 bài văn mẫu Cảm nhận bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Bài văn mẫu 1

    Phan Bội Châu vị lãnh tụ của phong trào yêu nước đầu thế kỉ XX. Mặc dù mang trong mình tâm huyết lớn lao song sự nghiệp của ông lại không thành, nhưng lòng yêu nước nồng nàn, cháy bỏng của ông vẫn lưu mãi muôn đời. Ông dùng thơ văn của mình như một thứ vũ khí đắc lực để cổ vũ, tuyên truyền cách mạng. Xuất dương khi lưu biệt là một trong những bài thơ như vậy.

    Thực dân Pháp xâm lược nước ta, đã có nhiều phong trào nổ ra, trong đó nổi bật nhất là phong trào Cần Vương nhưng cuối cùng vẫn bị dập tắt, nó là sự báo hiệu cho việc cứu nước theo con đường phong kiến đã không còn thích hợp. Trước thực trạng chưa tìm được con đường cứu nước đúng đắn, phong trào cách mạng mới của Phan Bội Châu đã hé mở một hi vọng mới, ông cùng những người cùng chí hướng đã lập ra Duy tân hội. Đầu năm 1905, Phan Bội Châu xuất dương sang Nhật, mở đầu cho phong trào Đông Du. Tác phẩm Xuất dương lưu biệt được viết trước khi ông lên đường. Tác phẩm thể hiện lòng yêu nước sâu lặng của tác giả.
    Hoài bão cuộc đời, chí khí làm trai của Phan Bội Châu được bộc lộ trực tiếp ngay trong câu thơ đầu tiên của tác phẩm:
    Làm trai phải lạ ở trên đời
    Há để càn khôn tự chuyển dời.

    Câu thơ bắt đầu bắt motip rất phổ biến trong văn học trung đại đó là “làm trai” tức để nói về nghĩa vụ, trách nhiệm của một nam nhi đối với cuộc đời, đối với đất nước. Đây là quan niệm nhập thế tích cực của Nho giáo. Câu thơ gợi cho ta nhớ đến rất nhiều bài thơ nói chí phổ biến trong văn học trung đại như: “Nam nhi vị liễu công danh trái/ Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu” (Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão) hay “Đã mang tiếng ở trong trời đất/ Phải có danh gì với núi song” (Nguyễn Công Trứ). Đến đầu thế kỉ XX, Phan Bội Châu tiếp tục nhắc lại quan niệm về chí làm trai, nhưng trong cách thể hiện của ông mạnh mẽ hơn, quyết liệt hơn. Làm trai là “phải lạ” tức là phải biết sống một cách phi thường, hiển hách, dám xoay vần, chuyển đất, không thể là một kẻ sống cuộc đời tầm thường, tẻ nhạt, buông xuôi theo thời thế, để con tạo tự xoay vần cuộc đời mình. Bởi vậy mà:
    Trong khoảng trăm năm cần có tớ
    Sau này muôn thuở há không ai?
    Trong khoảng trăm năm là cả một đời người với biết bao biến cố có thể xảy ra, Phan Bội Châu tự tin khẳng định: “cần có tớ” cái tôi cái nhân xuất hiện thật ngạo nghễ, thật chủ động. Cần có ông không phải để được vui chơi, hưởng lạc mà là để cống hiến tận lực, tận tâm cho đời, để tiếng thơm còn lưu danh muôn thuở. Trong thời cuộc lúc bấy giờ đầy rối ren, thử hỏi mấy ai có thể chủ động đứng ra nhận lấy trách nhiệm vừa cao cả, vừa nặng nề ấy cho bản thân. Câu thơ của ông càng khiến ta cảm phục hơn về nhân cách cao đẹp, lớn lao ấy.
    Với bốn câu thơ đầu người đọc có thể thấy hình tượng người chí sĩ hiện lên là người có khát vọng làm những việc lớn lao, trọng đại. Đồng thời ông cũng đầy ý thức về cái tôi của bản thân nhưng không phải là cái tôi hưởng thụ mà là cái tôi công dân đầy trách nhiệm. Có ý thức cống hiến cho đời. Giữa thời buổi tối tăm đó ý thức làm trai, khát vọng xoay chuyển vũ trụ và hoài bão lớn lao của Phan Bội Chây có ý nghĩa vô cùng to lớn.
    Bốn câu thơ cuối thể hiện chí làm trai trong hoàn cảnh thực tế:
    Non sông đã chết sống thêm nhục
    Hiền thánh còn đâu học cũng hoài
    Muốn vượt biển đông theo cánh gió
    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
    Câu thơ là nỗi đau đớn, xót xa quặn thắt của nhân vật trữ tình trước thực tế nước nhà đã bị mất chủ quyền, nhân dân phải sống trong vòng nô lệ. Phan Bội Châu cũng ý thức rõ về sự hết thời của Nho học, sách vở thánh hiền không còn có ý nghĩa gì cho sự nghiệp giải phóng đất nước. Ông vốn xuất thân từ cửa Khổng sân Trình, vậy nhưng ông không hề bao biện mà thấy rõ sự bất lực, vô ích của lối học cũ, mang trong mình quyết tâm tìm ra con đường mới để giải phóng đất nước. Đây là một ý tưởng hết sức mạnh mẽ, táo bạo. Sự táo bạo đó bắt nguồn từ nhiệt huyết nồng cháy, lòng yêu nước nồng nàn, muốn nhanh chóng thực hiện sự nghiệp cứu nước. Đồng thời cũng do ông chịu ảnh hưởng từ những cuốn “tân thư” được truyền bá bí mật vào nước ta lúc bấy giờ. Chính những yếu tố đó đã thôi thúc ông tìm một hướng đi mới, con đường mới để cứu nước, cứu dân.

    Với giọng điệu tràn đậy nhiệt huyết và cảm xúc, bài thơ đã khắc họa một cách chân thực và đầy đủ khí phách ngang tàng, táo bạo quyết liệt của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu. Đồng thời tác phẩm này cũng cho người đọc thấy nét tính cách nổi bật trong con người ông đó là cá tính mạnh mẽ, ưa hành động, lòng yêu nước nồng nàn, sâu đậm.

    Bài văn mẫu 2

    Phan Bội Châu là một nhà yêu nước của đầu thế kỉ XX, một chí sĩ cách mạng luôn mang trong mình tinh thần kháng chiến chống Pháp mạnh mẽ đồng thời ông cũng là một nhà văn hóa lớn có nhiều đóng góp cho lĩnh vực văn chương trong đó có tác phẩm “Xuất dương lưu biệt”. Bài thơ thể hiện chí làm trai của Sào Nam Tử (Bút danh) với hoài bão lớn lao, khát vọng cứu nước sục sôi và tầm nhìn tư tưởng tiến bộ của tác giả. Tác phẩm đã để lại cho em cũng như biết bao độc giả khác nhiều ấn tượng bởi nó toát lên con người của cụ Phan.

    Vào những năm cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX thực dân Pháp sang xâm lược và thi hành chính sách cai trị tàn bạo đối với nhân dân Việt Nam, đã có biết bao anh hùng hảo hán yêu nước đứng lên chống giặc nhưng thế giặc mạnh như chẻ tre lại có vũ khí hiện đại hơn ta rất nhiều nên dân ta đẫm máu đau thương. Phan Bội Châu nhận thức được vấn đề dân tộc nên ông quyết định tìm con đường cứu nước khác là lập hội Duy Tân sang Nhật cầu viện. Đây là một tư tưởng tiến bộ, mở ra cho dân tộc con đường cứu nước mới nhưng do còn phạm phải sai lầm nên lịch sử đã không lựa chọn. Bài thơ “Xuất dương lưu biệt” được sáng tác khi khát vọng cứu nước của đấng nam nhi đang trên đà thuận lợi với chủ trương cứu nước của ông bằng cách đưa thanh niên Việt Nam sang Nhật học tập sự tiến bộ để về giúp dân giúp nước giải phóng dân tộc. Bài thơ là cảm xúc tình cảm của tác giả lúc từ biệt khi ra nước ngoài.
    Tư tưởng bao trùm lên tác phẩm là chí làm trai của người nam tử có tinh thần yêu nước, có hoài bão, có khát vọng lớn lao. Điều đó được thể hiện ngay ở nhan đề tác phẩm với từ “Xuất dương” nghĩa là đi ra ngoài biển khơi nó gắn với hoạt động cách mạng cụ thể của cụ Phan. Ông cũng như bao trang nam tử khác luôn thấm nhuần triết lí Nho gia về phận nam nhi. Ông khẳng định:
    “Sinh vi nam tử yếu hi kì
    Khẳng hứa càn khôn tự chuyển di”
    (Làm trai phải lạ ở trên đời/ Há để càn khôn tự chuyển dời)
    Chí làm trai theo Phan Bội Châu người nam tử phải làm được chuyện lạ ở trên đời, một con người có khát vọng gắn với thế sự, gắn với thời cuộc. Con người ấy là con người chủ động trong tâm thế, tư thế không chấp nhận để cho trời đất tự xoay vần. Gắn với hoàn cảnh đất nước lúc bấy giờ thì người nam nhi ấy phải phải lập lại thời thế, đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập-tự do cho đất nước. Chí làm trai và tinh thần yêu nước của Phan Bội Châu đã tiếp nối truyền thống dân tộc và kế thừa tư tưởng của tiền nhân như Phạm Ngũ Lão, Trần Quốc Tuấn, Nguyễn Trãi…Ông tự hào mình là đấng nam nhi thì quyết phải sống cho ra sống với ý thức cá nhân cao độ, tinh thần tự nhiệm, tự mình của người nam tử được thể hiện:
    “Ư bách niên trung tu hữu ngã
    Khởi thiên tải hậu cánh vô thùy”
    (Trong khoảng trăm năm cần có tớ/ Sau này muôn thuở há không ai?). Tác giả lấy cái hữu hạn của “bách niên” đối với cái vô hạn “thiên tải”, lấy cái phủ định để khẳng định. Chí làm trai tiếp tục được thể hiện trong ý thơ này với mong muốn làm chuyện lớn lao vượt ra khỏi giới hạn của bản thân, với ý thức tự nhiệm tự mình đặt trọng trách dân dân tộc lên vai mà gánh vác việc đời. Ông hỏi mình trong khoảng trăm năm cần thiết phải có ta, há nghìn năm sau lại không có ai? Và câu hỏi cũng là câu trả lời để khẳng định nay ta là ta thì nghìn năm sau mới có hậu thế, anh hùng dân tộc đời nào cũng có cũng làm nên việc lớn việc lạ. Câu thơ là một ý thơ sâu sắc thể hiện vai trò cá nhân tác giả trước bối cảnh của lịch sử với tinh thần tự thân gánh vác mọi trách nhiệm mà lịch sử giao phó. Tư tưởng ấy để lại bài học quý báu cho thanh niên Việt Nam đúng như lời Bác Hồ nói: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà… nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh một phần lớn là do các thanh niên”. Tuổi còn trẻ còn khỏe còn sung sức phải hết mình học tập tu dưỡng để giúp nước giúp đời làm giàu làm đẹp cho quê hương để cho Việt Nam sánh vai được sánh vai với các cường quốc năm châu.
    Một điểm nhìn mới của cụ Phan đáng được nghi nhận nữa là ông nhìn thấu sự lỗi thời, lạc hậu của quan điểm Nho gia.
    “Giang sơn tử hĩ sinh đồ chuế
    Hiền thánh liêu nhiên tụng diệc si”
    (Non sông đã chết sống thêm nhục/ Hiền thánh còn đâu học cũng hoài). Dân tộc mất đi chủ quyền, đất nước bị giặc giày xéo người nam tử hoặc sống chỉ thêm nhục nhã, thừa thãi vô nghĩa hoặc sống cho ra sống lập lại “càn khôn”, lấy lại hồn nước cho dân tộc. Ông như đang nhắn nhủ tới những người dân Việt Nam hãy thức tỉnh, hãy đứng lên chống Pháp, hãy đổi mới hướng tư duy bởi “hiền thánh” tức cựu học, nho học không còn phù hợp với thời đại mới, cần phải theo đuổi cái tâm học thực tế để canh tân đất nước, tránh đi theo giáo lí lỗi thời và lối mòn sáo rỗng không giúp ích được gì cho sự nghiệp cứu nước hiện tại và tương lai. Lời nhắn nhủ ấy mở rộng ra cho ta thấy ý nghĩa sâu sắc thời đại nào thì phù hợp với quan niệm, tư tưởng của thời đại đó, những điều lạc hậu không còn phù hợp với bối cảnh thực tại thì nên loại bỏ và cần tiếp thu tư tưởng mới, tiến bộ. Trong hai câu thơ trên bản dịch thơ sử dụng từ “hoài” là chưa hợp lí bởi theo nguyên tác chữ Hán “Si” có nghĩa u mê, mê muội một điều gì đó mất lí trí, “hoài” mang mức độ nhẹ hơn, chưa thực sự lột tả được bản chất từ Hán gốc.
    Cuối cùng là hình ảnh con người của một Phan Bội Châu có hoài bão lớn lao, khắc họa tư thế hiên ngang, hăm hở tràn đầy hy vọng ở buổi lên đường. Ông nguyện (mong muốn) ruổi theo gió lớn đi ra biển Đông “Nguyện trục trường phong Đông hải khứ”câu thơ mang hai nét nghĩa trừu tượng và cụ thể. Với nét nghĩa trừu tượng thể hiện mong muốn vượt lên chính mình, vượt qua giới hạn bản thân làm nên việc lạ ở trong khoảng trăm năm.Với nét nghĩa cụ thể để chỉ phong trào Đông Du, chỉ những người thanh niên mong muốn học tập cái mới để giúp nước. Tuy nhiên bản dịch thơ trong sách giáo khoa từ “Cánh gió” gợi sự mỏng manh chưa lột tả được thần sắc của “trường phong” là cơn gió lớn, cơn gió dài nó là sự quyết tâm ra đi cứu nước của tác giả. Để rồi ngàn con sóng bạc đầu cùng bay lên “Thiên trùng bạch lãng nhất tề phi” hình ảnh con sóng mang nét nghĩa thực chỉ sóng biển và nghĩa biểu trưng chỉ ý chí, khát vọng của người chí sĩ cách mạng. Như vậy thì “Nhất tề phi” (Cùng một lúc bay lên) là chỉ sóng hay ý chí, khát vọng hay cả hai cùng hòa quyện vào nhau bay lên? Theo tôi đó là cả hai yếu tố từ ngoại cảnh bên ngoài và nội tâm bên trong cùng tạo thành một quyết tâm cao cho ý chí cứu nước được thể hiện. Hai câu kết với hai hình ảnh kì vĩ, lớn lao “trường phong” và “thiên trùng bạch lãng” với vị ngữ “nguyện trục” và “nhất tề phi” thể hiện chí khí hào hùng của người chí sĩ cách mạng. Ta đã từng bắt gặp hình ảnh “trường phong” trong bài “Hành lộ nan” của Lí Bạch:
    “Trường phong phá lãng hội hữu thì
    Trực quải vân phàm tế thương hải”
    (Cưỡi gió vượt sóng ắt có lúc/ Dong thẳng buồm mây vút bể xanh)

    Như vậy, bằng tài năng của một người nghệ sĩ và ý chí của người cách mạng đã hòa quyện vào nhau làm nên tác phẩm có ý nghĩa. “Xuất dương lưu biệt” vừa thể hiện được tư thế quyết tâm hăm hở của Phan Bội Châu trong buổi đầu xuất dương cứu nước vừa là tác phẩm thơ văn thức tỉnh lòng yêu nước của nhân dân Việt Nam. Cụ Phan là một trong những tấm gương tiêu biểu cho phong trào cứu nước ở đầu thế kỉ XX được nhân dân yêu mến, kính phục ngày nay nhiều trường học và con đường được mang tên ông để tưởng nhớ đến vị anh hùng dân tộc.

  • Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương

    Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương

    Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong Lưu biệt khi xuất dương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 4 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    [toc]

    Đề bài: Phân tích hình tượng người chí sĩ yêu nước trong bài thơ Lưu biệt khi xuất dương của Phan Bội Châu

    Bài văn mẫu

    Thế kỉ XX, đặc biệt là những năm đầu, đất nước, nhân dân ta đã ghi nhận nhiều gương mặt các nhà cách mạng, nhà chí sĩ yêu nước lỗi lạc như Phan Chu Trinh, Huỳnh Thúc Kháng,… và không thể không kể đến Phan Bội Châu. Đóng góp to lớn của ông đối với thời đại khó mà kể hết được, trước hết là tinh thần yêu nước. Đã nhiều lần ông gửi gắm điều ấy trong các sáng tác sục sôi ý chí căm hơn, thúc giục thế hệ trẻ phải đứng lên đấu tranh bảo vệ Tổ quốc. Một trong số đó, có Lưu biệt khi xuất dương đã khắc họa thành công hình ảnh người chí sĩ yêu nước lúc lên đường thực hiện ước mơ lớn:
    Làm trai phải lạ ở trên đời

    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi

    Thật chẳng khó nhận ra, những năm đầu của thế kỉ XX tinh thần yêu nước đã lớn mạnh như thế nào, trước hết xuất phát từ những bậc nho sĩ. Thất bại của phong trào Cần Vương, hay câu chuyện “Bình Tây phục quốc” không thành… đất nước vẫn rơi vào tay giặc là hiện thực buồn bã của dân tộc. Nhưng sức mạnh của truyền thống yêu nước cả ngàn năm dội về, cùng với những “tân thư” mới mẻ của thời đại, đã tạo ra những phong trào: Duy tân, Đông Du, Đông kinh nghĩa thục… làm thức tỉnh cả một lớp nhà nho nhiệt huyết. Họ đã hành động theo tiếng gọi của lịch sử: kẻ cắt phăng búi tóc trên đầu mà đoạn tuyệt với lối học cử tử để đi tìm lí tưởng mới, kẻ tạm biệt gia đình, người thân, quê hương đi Tàu, đi Xiêm, đi Nhật để hướng về một chân trời mới đầy hi vọng và ước mơ. “Tất cả chí hướng của thế hệ trí thức yêu nước đã nhằm vào một mục tiêu vĩ đại: “khôi phục nước nhà” (Đặng Thai Mai). Phan Bội Châu cũng mưu đồ sự nghiệp ấy tới đất nước Nhật Bản. Chưa bàn con đường ấy đúng sai, nhưng ông đã tạo nên một luồng sinh khí mạnh mẽ thổi bùng khát vọng đấu tranh của dân tộc trong một thời gian dài. Lưu biệt khi xuất dương ra đời trong bối cảnh như thế. Khúc trang ca khi lên đường này ông viết để giã từ bạn bè, đồng chí nhưng đã khắc họa đầy chân thực và lãng mạn hình ảnh người chí sĩ yêu nước trong lúc ra đi.
    Chân dung bậc nho sĩ ái quốc hiện lên trong dáng vẻ phi thường thách thức cả không gian và thời gian:

    Làm trai phải lạ ở trên đời

    Sau này muôn thuở há không ai?
    Người chí sĩ đó vẫn mang theo khát vọng chí làm trai thuở trước, nhưng khát vọng ấy thật oai hùng, phi thường của một bậc vĩ nhân. Có hai vấn đề, mà không phải là sự nghiệp “công danh” thông thường đấng nam nhi hay nghĩ tới, đó là phải lạ giữa càn khôn và phải cần có tớ trong khoảng trăm năm này. Phan Bội Châu lựa chọn không gian và thời gian đặc biệt để cái chí của kẻ làm trai được thỏa sức tung hoành. Cái lạ là phải làm nên được những điều kì diệu, phi thường không phải ở đời mà phải giữa càn khôn. Suốt một trăm năm đời người không thể sống hoài, sống phí mà phải trở thành nhân vật lịch sử lớn lao. Ý thức cá nhân, bản ngã lịch sử đẩy tâm tư của người chí sĩ thoát khỏi những suy nghĩ thông thường mà khát vọng mưu đồ việc lớn, xoay chuyển càn khôn, cụ thể là đất nước lâm nguy thì cần phải ra tay cứu nước. Tớ cần phải xoay vần vũ trụ, phải làm điều kinh thiên động địa trong thế kỉ này. Ở Phan tiên sinh, cái tôi yêu nước đầy chủ động, không trông chờ, không hô hào mà trở thành lý tưởng hành động.
    Bởi vậy cái phải lạ không phải là một lời nói suông, mà trở thành hành động thực sự:
    Non sông đã chết sống thêm nhục
    Hiền thánh còn đâu học cũng hoài.
    Người chí sĩ yêu nước như nhân vật trữ tình trong bài thơ này thật khiến người ta thán phục. Cái tráng lệ trong tinh thần không chỉ toát ra từ ý thức cá nhân đầy mạnh mẽ mà ở cả nhận thức đã hoàn toàn chuyển mình. Nhiều nhà nho thời ấy đều biết sự nhục nhã khi phải sống trong cảnh ngoại bang xâm lăng, sự vô nghĩa khi giá trị của nền học vấn cũ giờ đây đã không còn phù hợp. Nhưng để viết nó ra một cách đầy khảng khái, khí chất chỉ có Phan Bội Châu. Cách ông hình tượng hóa hiện thực đất nước rất chân thực: non sông đã chết. Nó không đơn thuần còn là lẽ sống vinh nhục, mà là nỗi đau của nước mất nhà tan. Từ đó không chỉ riêng ông mà biết bao người chí sĩ đã từng là “sản phẩm” của một nền Hán học uy nghi, vững chãi cả ngàn năm, đã từng xuất thân từ chốn cửa Khổng sân Trình cũng đau đớn nhận ra, cái hiền thánh năm xưa đã không còn. Nếu ở trên, hình ảnh người chí sĩ yêu nước thật ngang tàng, thách thức, có phần bướng bỉnh trước vũ trụ, cuộc đời, thì đến đây còn trở nên quật cường, quyết liệt hơn trong nhận thức. Còn sống là còn nhục, còn học là còn ngu. Táo bạo, dứt khoát, người chí sĩ ấy không né tránh mà đối diện với hiện thực thật oai hùng. Bởi vậy điều lạ trong con người của nhân vật trữ tình đã đánh dấu một bước ngoặt trong tư duy yêu nước của thời đại.
    Muốn làm điều kinh thiên động địa, muốn làm cho đất nước thoát cảnh lầm than, muốn thay đổi con đường cứu nước cho dân tộc, người chí sĩ đã vượt xa hơn lời nói mà trở thành hành động cụ thể, đó là: xuất dương.
    Muốn vượt bể đông theo cánh sóng
    Muôn trùng sóng bạc tiễn ra khơi.
    Hai câu thơ cuối hình ảnh người chí sĩ lên đường thật phi thường, oai hùng mà lãng mạn. Cái nhất thể giữa tự nhiên và con người, giữa ngoại cảnh và ý chí đã đẩy bức chân dung nhân vật lịch sử năm ấy như một bức tượng đài sừng sững, nguy nga. Vẫn là không gian rộng lớn của biển khơi, vẫn là cái mạnh mẽ của muôn trùng sóng bạc nhưng lại hòa cùng nhau mà đẩy khát vọng, hoài bão của người chí sĩ vút cao. Ba chữ nhất tề phi bản dịch đã không nhắc tới, khiến sắc thái, tinh thần của kẻ sĩ lên đường chưa thể lột tả hết được. Cảnh tượng cuối bài thơ đã cho thấy một bầu nhiệt huyết sục sôi, lý tưởng lớn lao của bậc sĩ phu yêu nước khi lên đường. Điều đó đã tạo nên một khúc khải hoàn ca thật tráng lệ, hào hùng để mang theo bao hi vọng, bao niềm tin, bao ước mơ về một tương lai tươi sáng của dân tộc.
    Tinh thần yêu nước của nhà chí sĩ cách mạng Phan Bội Châu không phải tự nhiên có sức ảnh hưởng to lớn đến thời đại mà ông sống đến vậy. Bởi tinh thần đó đã khai sáng biết bao nhiêu kẻ sĩ còn mò mẫm trên hành trình phục sinh Tổ quốc. Dẫu Phan tiên sinh sau này vẫn chưa thành công được trong sự nghiệp kinh bang tế thế, nhưng lòng yêu nước và sức mạnh quả cảm của tấm lòng ấy mãi mãi trở thành ngọn lửa sáng rực cả bầu trời Cách mạng những năm nửa đầu thế kỉ XX. Lưu biệt khi xuất dương bởi vậy không còn là bài thơ giãi bày cảm xúc lưu luyến, bịn rịn trong cảnh chia tay thông thường mà là ý chí quyết tâm ra đi để mưu đồ nghiệp lớn. Bài thơ mãi mãi còn đó sự bất diệt trong khát vọng đấu tranh và tinh thần yêu nước cho những thế hệ sau này.

  • Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 3 bài Phân tích sự giống và khác nhau giữa Việt và Chiến trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nhân vật Việt trong truyện ngắn Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Đình Thi

    Bài văn mẫu

       Chiến tranh đã lùi xa thế nhưng trong mỗi người Việt Nam chúng ta dường như không thể quên được những năm tháng hào hùng của cuộc khánh chiến chống Mĩ ác liệt ấy. Nhiều người đã nằm xuống để cho đất nước dân tộc chúng ta được yên bình tươi đẹp như hôm nay, đã có vô số những tác phẩm hay và nổi tiếng của nhiều nhà văn,nhà thơ viết về đề tài chống Mĩ cứu nước ra đời và in sâu trong lòng độc giả, cũng như nhiều người việt nam. Trong số những nhà văn ấy chúng ta không thể không nhắc đến “nhà văn của người nông dân Nam bộ”- Nguyễn thi, một cây bút văn xuôi hàng đầu của văn nghệ giải phóng miền nam những năm chống mĩ.

       Tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” là một trong những sáng tác xuất sắc của Nguyễn Thi ra đời vào 2/1966 khi nguyễn thi đang công tác ở tạp chí “Văn nghệ quân giải phóng”. Truyện ngợi ca lòng yêu nước, căm thù giặc sâu sắc cũng như lòng chung thủy với cách mạng của nhân dân nam bộ thời kì chống Mĩ lúc bấy giờ. Nhà văn đã xây dựng thành thành công những hình tượng nhân vật một cách chân thật, sống động, có những nét chung thống nhất lại vừa có những nét tính cách độc đáo, riêng biệt khiến chúng ta khó quên được. Nổi trội hơn cả đấy là Việt, một nhân vật được tác giả ưu ái, dành nhiều tình cảm khi anh xuất hiện và được nhắc đến nhiều nhất trong tác phẩm.

       Việt là một chiến sĩ giải phóng quân sinh ra và lớn lên trong một gia đình nông dân giàu truyền thống cách mạng. Trong anh hội tụ những phẩm chất, tính cách cũng như vẻ đẹp tâm hồn cao đẹp đáng quý của nhân dân miền nam trong thời kì đánh mĩ. Mang mối thù sâu nặng với Mĩ-ngụy: ông nội và bố Việt điều bị giặc giết hại, mẹ Việt vừa phải vất vả nuooit con vừa phải đương đầu với bọn giặc và cuối cùng cũng chết vì bom đạn. Gia đình chỉ còn lại Việt, Chị Chiến, Chú năm, thằng út em và người chị nuôi lấy chồng xa. Việt và chiến hăng hái tòng quân đi giết giặc, vì nhỏ tuổi đồng đội hay gọi thân thiết là “cậu tư”. Anh rất gắn bó với đơn vị đặc biệt là tiểu đội trưởng Tánh, như tình ruột thịt. Ở Việt luôn sôi nổi một tinh thần chiến đấu, tiêu diệt địch quyết lập được nhiều chiến công như chị chiến để trả thù cho ba má.

       Được tác giả kể lại trong một hoàn cảnh hết sức đặc biệt khi Việt đang chiến đấu ác liệt trong khi rừng cao su, anh đã hạ được một xe bọc thép của địch nhưng bị thương nặng và lạc đồng đội. Việt ngất đi tỉnh lại nhiều lần, mỗi lần ngất đi tỉnh lại những dòng hồi ức về những kỉ niệm thân thiết đã que của anh về chị chiến, về má, chú năm….lại ùa về. Ngoài ra những ấn tượng khó quên của chúng ta về nhân vật việt đó là tính cách của anh.

       Là một cậu bé mới lớn tính tình còn “Trẻ con”, vô tư, ngây thơ có phần nghịch ngợm ta có thể dễ dàng nhận thấy được những điều này qua những dòng hồi tưởng đứt quãng của việt. Như việc anh hay giành với chị chiến chuyện bắn tàu giặc Mĩ trên sông Định thủy hay kể cả việc tưởng như nhỏ nhặt là tranh công bắt ếch với chị. Ngoài ra lúc chị Chiến không cho Việt đi bộ đội anh đã bộc lộ hành động rất “trẻ con” của mình đó là “đá trái dừa rụng xuống mương cái đùng”. Ngay cả khi đang bị thương ở khu rừng cao su nghĩ đến việt đối mặt với những tên giặc dường như không làm Việt cảm thấy sợ hãi mà điều trái ngược khi anh nhớ lại những câu chuyện của các chị kể lúc ở nhà về “Con ma cụt đầu” ngồi trên cây xoài lại khiến anh lạnh gáy, sợ hãi đến nỗi thở dốc. Tính tình “trẻ con”, vô tư ấy còn được thể hiện trong đêm sắp xa nhà đi bộ đội, trong khi chị chiến phải lo toan, phải sắp xếp việc nhà ổn thỏa còn Việt thì cứ “lăn kềnh ra ván cười khì khì”, rồi thì nghịch nghợm “Chụp con đom đóm úp trong lòng bàn tay” rồi “ngủ quên lúc nào không hay”. Cả cách thương chị của Việt cũng thật trẻ con làm sao khi anh “Giấu chị như giấu của riêng” khi bị anh tánh và đồng đội chọc gẹo. Và nổi bật cho cái tính cách trẻ con ấy dường như là lúc nằm lại chiến trường anh tỏ ra rất kiên cường, không hề sợ hãi vậy mà đến khi gặp lại đồng đội thì lại òa khóc một cách ngon lành “Khóc đó rồi lại cười đó”. Nguyễn thi đã thành công trong việc xây dựng nhân vật Việt, một tính cách rất đỗi đời thường, đáng yêu, dễ mến lại vô cùng sinh động mà không hề bị gượng ép. Đó dường như đã trở thành dấu ấn khó quên trong lòng độc giả về nhân vật này.

       Không dừng lại ở đấy Việt thật sự là một người chiến sĩ, người anh hùng hội tụ đủ các phẩm chất của một người lính với tính cách gan dạ, kiên cường, bản lĩnh không sợ hãi, khuất phục trước khó khăn. Lúc nhỏ Việt đã dám xông thẳng vào thằng giặc “Luyện đầu ba” mà đá. Lớn lên dù vẫn chưa đủ tuổi nhưng việt vẫn quyết chí đi bộ đội cầm súng giết giặc trả thù cho Ba Má. Đi bộ đội được 2 năm, chiến đấu dũng cảm anh đã dùng thủ pháo tiêu diệt được một xe bọc thép của địch lập lên chiến công mặc dù sao đó anh bị thương nặng ở hai mắt và ngất đi, chính điều này càng làm cho người đọc chúng ta thêm khâm phục trước sự gan dạ, dũng cảm của việt. Chi tiết khi anh bị lạc đơn vị, bị thương nhưng anh vẫn bình tĩnh, kiên cường và luôn ở tư thế chiến đấu “đạn đã lên nòng, ngón tay còn lại sẵng sàng nổ súng” khi phát hiện tên giặc nào tiến đến.Đặc biệt chi tiết chị chiến và Việt khiên bàn thờ ba má sang gởi bên nhà chú năm để ngày mai lên đường nhập ngũ. Khẳng định sự trưởng thành trong con người Việt qua cảm giác “Mối thù giặc Mĩ đang đè nặng trên vai” chứng tỏ Việt đã sẵng sàng và xứng đáng viết tiếp tên mình vào dòng sông truyền thống cách mạng của gia đình mình.

       Cuối cùng ngoài những tính cách nổi bật bên ngoài không thể không nhắc đến tâm hồn Việt, một con người giàu tình yêu thương và gắn bó với gia đình sâu sắc. Khi việt bị trọng thương và ngất đi tỉnh lại đến tận 4 lần. Mỗi lần như thế lần lượt những dòng hồi tưởng của anh về gia đình, đồng đội, những người thân yêu của mình trong anh lại ùa về. Những dòng hồi ức đẹp đẽ, hạnh phúc ấy có lẽ nào là sợi dây tình cảm chắc chắn đang cố gắng giành lấy Việt khỏi cái lằn ranh mong manh giữa sự sống và cái chết nơi chiến trường ấy. Trong những hồi ức ấy Việt nhớ lại hình ảnh của má hiện lên nơi chị chiến và hình như anh có cảm giác má về đâu đây, về để dõi theo 2 đứa con của mình giờ đã trưởng thành để mà ngày mai lên đường đánh giặc, chống mĩ cứu nước và mặc dù đang bị thương nằm ở nơi chiến trường nhưng Việt luôn mong muốn gặp được má, rồi hình ảnh má bơi xuồng, xoa đầu Việt…dường như đó chính là sức mạnh của tình mẫu tử, sức mạnh để anh vượt qua được khó khăn, thử thách lúc ấy, và có lẽ đó cũng là phần tươi đẹp sâu thẩm, thiêng liêng nơi tâm hồn Việt. Chúng ta còn bắt gặp cả những dòng hồi ức về chú năm với những câu hò, lời dặn dò trước khi Việt, Chiến ra đi, về cuốn sổ gia đình. Có lẽ chính tất cả những kỉ niệm ấy đã giúp cho việt chiến thắng được cái chết và tìm lại được những người đồng đội của mình.

       “Những đứa con trong gia đình” với hình tượng nhân vật được Nguyễn thi khắc họa một cách chân thật, tài tình và mang đậm tính sử thi trãi dài trong suốt truyện. Tiêu biểu nhất đó là hình tượng nhân vật Việt cũng chính là phẩm chất, tính cách đáng quý của người nông dân Nam bộ lúc bấy giờ. Ngoài ra trong truyện Nguyễn Thi còn nêu lên quan niệm rằng “Chuyện gia đình thì cũng dài như sông, mỗi gia đình phải ghi vào một khúc” dường như trong “Những đứa con trong gia đình” Việt, chị chiến dường như đã ghi một phần của mình vào khúc sông ấy, dòng sông truyền thống của gia đình mình.

       Nguyễn Thi đã thành công trong việc xây dựng tính cách, tâm hồn mình và khắc họa hình tượng nhân vật một cách chân thật,sinh động mà không hề gượng ép. Nhữngđặc sắc về nghệ thuật trần thuật qua những dòng hồi tưởng của nhân vật, khắc họa tính cách và miêu tả tâm tí sắc sảo, có lẽ không sai khi người ta đặt cho ông danh hiệu “nhà văn của người nông dân nam bộ” với ngôn ngữ phong phú và đậm chất riêng của người Nam Bộ. Nhà văn đã đem đến cho người đọc nhiều cảm xúc khó quên về nhân vật việt và qua nhân vật ấy nhà văn muốn khảng định rằng chính truyền thống gia đình với truyền thống dân tộc đã tạo nên sức mạnh tinh thần to lớn của con người, của dân tộc VN trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước. Cũng Đã gần 5 thập kỉ trôi qua nhưng dường như “Những đứa con trong gia đình” vẫn tồn tại 1 chỗ đứng nhất định trong lòng đọc giả không thể nào phai mờ. Đồng thời cũng nhắc nhở mỗi người chúng ta cần phải góp một phần xứng đáng của mình vào khúc sông của dân tộc, của đất nước Việt Nam ta.

     

  • Top 3 bài Phân tích sự giống và khác nhau giữa Việt và Chiến trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Top 3 bài Phân tích sự giống và khác nhau giữa Việt và Chiến trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Top 3 bài Phân tích sự giống và khác nhau giữa Việt và Chiến trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bài văn Phân tích nhân vật Việt và Chiến hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích những điểm giống nhau và khác nhau của hai nhân vật Việt và Chiến trong truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi.

    Bài văn mẫu

        Truyện “Những đứa con trong gia đình” là sáng tác xuất sắc của Nguyễn Thi trong thời chống Mĩ nói về Chiển và Việt là hai chị em ruột, lại là hai chiến sĩ Giải phóng quân cùng ra trận trong một ngày. Với lối kể chuyện đậm đà màu sắc dân gian, vận dụng ngôn ngữ Nam Bộ vào miêu tả và biểu cảm, đặc biệt là nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật điển hình – tất cả tạo nên giá trị tư tưởng và nghệ thuật của áng văn xuôi này.

        Chiến và Việt có nhiều điểm giống nhau. Là con em của một gia đình cách mạng, giàu truyền thống anh hùng. Ông bà, ba má đều bị giặc sát hại. Mối thù chất chứa và đè nặng trong lòng có bao giờ nguôi? Hai chị em cùng một ước nguyện nung nấu được lên đường đánh giặc, trả thù cho ông bà, ba má, cho quê hương.

        Tình thương là vẻ đẹp tâm hồn của hai chị em. Nguyễn Thi đã gây xúc động cho người đọc trước cảnh hai chị em Chiến và Việt tranh nhau ghi tên tòng quân, và sáng hôm sau, trước lúc lên đường cùng ghé vai khiêng bàn thờ má sang gửi bên nhà chú Năm. Đây là đoạn văn hay nhất, cảm động nhất của thiên truyện: “Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nào nước nhà độc lập con lại đưa má về. Việt khiêng trước. Chị Chiến khiêng bịch bịch phía sau. Nghe tiếng chân chị, Việt thấy thương chị lạ. Lần đầu Việt thấy lòng mình rõ như thế. Còn mối thù thằng Mĩ thì có thể rờ thấy được, vì nó đang đè nặng ở trên vai”…

        Gia đình Tư Năng là một gia đình có truyền thống bất khuất. Ba má gan góc nên bầy con cũng gan góc. Má đi trước bầy con đi sau, chị Hai, Chiến và Việt bám sát lũ giặc mà la: “Trả đầu ba! Trả đầu ba!”, Giặc bắn cũng không sợ! Cho đến lúc lấy lại được đầu ba rồi, Việt “cứ nhè cái thằng vừa liệng đầu mà đá”. Gan góc như thế nên Việt và Chiến đã cùng ba má và quê hương kiên cường đánh giặc. Cả hai chị em đều chiến đấu dũng cảm và lập được nhiều chiến công. Chị Chiến đã đánh tàu giặc trên sóng Định Thuỷ bắn chết một thằng Mĩ, còn Việt thì phá được một xe tăng Mĩ trong một trận đánh ác liệt giữa rừng cao su.

        Quê hương mấy chục năm trời đầy bóng giặc, tang tóc đau thương trùm lên mọi gia đình. Thù nhà, nợ nước chất cao. Cha mẹ đều là dũng sĩ nên hai chị em dường như sinh ra để mà đánh giặc. Đánh giặc để trả thù cho ba má, cho gia đình và quê hương, đất nước. Đánh giặc là niềm say mê lớn nhất của hai chị em Việt và Chiến, của tuổi trẻ miền Nam: “Hạnh phúc của tuổi trẻ là trên trận tuyến đánh quân thù”. Chiến đã nói với em trong đêm thu xếp việc nhà trước lúc ra trận: “Tao đã thưa với chú Năm rồi. Đã làm thân con gái ra đi là tao chỉ có một câu: nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”. Câu nói mộc mạc ấy, giản dị ấy vang lên thiêng liêng như một lời thề! Nó chẳng khác nào câu nói của chị út Tịch – người mẹ cầm súng: “Còn cái lai quần cũng đánh!”. Nó giống như quyết tâm đánh giặc của hàng triệu thanh niên ta hồi ấy: “Ra đi chỉ một lời thề – Chưa giết hết giặc, chưa về quê hương”.

        Chiến và Việt ở độ tuổi 17, 18 bắt đầu trưởng thành. Có lúc hai chị em còn giành nhau bắt ếch, ai được nhiều hay được ít, giành nhau thành tích bắn tàu chiến giặc trên sông Định Thủy và giành nhau ghi tên tòng quân. Cái hồn nhiên, ngây thơ vẫn còn in đậm trong mỗi nhân vật nhưng nhận thức về thù nhà nợ nước, về nghĩa vụ đánh giặc để giải phóng miền Nam lại vô cùng sâu sắc.

        Việt và Chiến có những nét chung về tính cách và có những khía cạnh riêng về cá tính. Cái tài của Nguyễn Thi là tạo cho mỗi người một vẻ. Sự khác biệt giữa Chiến và Việt xét cho cùng vì một người là chị, một người là em và khác nhau về giới tính. Chú Năm nhận xét: “Việt là một thằng nhỏ gan, chị Chiến là đứa con gái không khác mẹ một chút nào”. Chiến giống mẹ ở tính gan góc, tần tảo, tháo vát, đã nói là làm, biết lo toan thu xếp việc nhà đâu vào đấy. Nấu cơm cúng má, gửi đồ đoàn nhà cửa, trao lại chi bộ năm công ruộng, gửi bàn thờ má, thu xếp cho đứa em út ăn ở học hành, từ việc nhỏ đến việc lớn, Chiến đều bàn với em và chú, đã thu xếp chu đáo tất cả mọi việc trước lúc lên đường đi đánh giặc. Là chị lớn, sau khi mẹ mất, Chiến sớm phải làm chủ gia đình nên cô khôn ngoan và già dặn trước tuổi. Nghe Chiến trình bày việc nhà, chú Năm phải buột miệng khen: “Khôn! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, đặng bề nước non. Con nít chúng bay kỳ đánh giặc này khôn hơn chú hồi trước”.

        Là chị, Chiến rất thương em, hầu như trong mọi chuyện tranh giành, cuối cùng chị đều nhường nhịn. Khi ghi tên tòng quân, Chiến nhất định không chịu nhường vì ngoài niềm khát khao đánh giặc, còn có lòng thương em của người chị. Chiến chưa muốn em phải xông pha bom đạn hiểm nguy vội, vì em còn nhỏ “thủng thẳng để chú Năm thu xếp rồi hãy đi…”.

        Hai chị em đều là con nhà nghèo, mồ côi. Chiến tranh kéo dài nên cả hai chị em đều thất học, đang bập bẹ tập đánh vần, tập viết. Chiến kiên nhẫn hơn Việt trong việc học hành. Có lúc em còn bỏ bê về nhà ăn cơm hay đi chơi, còn chị thì cứ ngồi ở một góc ván, tập đánh vần hoài “từ trưa tới xế, rồi từ xế tới chiều, bỏ ăn, quên cả trời chạng vạng”.

        Việt là em, lại là trai nên hiếu thắng, hay tranh giành với chị. Việc nhà phó mặc cả cho chị. Nghe chị bàn, Việt cứ ừ ào cho qua, vừa nghe vừa đưa tay chụp con đom đóm rồi ngủ gục lúc nào không biết. Thích đi đánh giặc, dũng cảm trong chiến trận, lạc đơn vị ba ngày đêm, mình đầy thương tích, lúc nào nòng súng lên đạn vẫn hướng về phía giặc, thế mà khi bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao phủ chiến trường, Việt lại sợ ma: “con ma cụt đầu” … “thằng chỏng thụt lưỡi”, vừa chợt nhớ tới, đã làm cho cậu ta “nằm thở dốc”. Trong thơ của Trần Đăng Khoa có một hình ảnh rất hay về chú bộ đội thời đánh Mĩ:

        “Cháu nghe chú đánh, những đâu

        Những tàu chiến cháy, những tay bay rơi.

        Đến đây chỉ thấy chú cười

        Chú đi gánh nước, chú ngồi đánh bi”…

               (Gửi theo các chú bộ đội)

        Ở đây, Việt cũng vậy, khi đã trở thành một Giải phóng quân nhưng trong hành trang của cậu ta vẫn có chiếc ná thun nằm gọn trong túi áo như hồi còn ở nhà… Trong câu hò chú Năm, Việt khi thì biến thành tấm áo vá quàng, hoặc con sông dài cá lượn, lúc thì biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười. Phải rồi,Việt là hình ảnh quê hương, Việt là hình ảnh củ nhân dân anh hùng.

        Tóm lại, hai chị em Chiến và Việt là “con nòi” gốc gác nông dân, tuy có nhiều điểm giống nhau nhưng lại có cá tính khác nhau, chị và em mỗi người một bản sắc, Cả hai chị em đều đáng yêu. Nguyễn Thi đã tạo dựng nên tính cách điển hình sống động: Chiến và Việt tiêu biểu cho khí phách anh hùng của tuổi trẻ miền Nam thời đánh Mĩ. Trong một chừng mực nhất định, bức chân dung hai chị em đều được cá thể hoá cao độ, tạo nên ấn tượng sâu sắc cho người đọc. Thời đánh Mĩ: “Ra đến ngõ, gặp anh hùng”. Truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi giúp ta cảm nhận được điều đó.

        Chú Năm có nói: “…Con sông nào ở nước ta cũng đẹp, lắm nước bạc, nhiều phù sa, vườn ruộng mát mẻ cũng sinh ra từ đó, lòng con cũng ra từ đó!… Phải rồi, lòng tốt của chị em Chiến, Việt sinh ra từ dòng sông và mảnh đất quê hương.

        Tiền tuyến thời đánh Mĩ đã gọi hai chị cm Việt và Chiến lên đường. Sau khi chồng bị giặc giết, má Tư Năng nói: “Để má ráng nuôi bay lớn coi bay có làm được gì cho cha mày vui không?”. Má đã trông ngày trông đem cho con mau lớn. Chị em Chiến và Việt ra trận dể bảo vệ quê hương và cũng là để làm trọn lời nguyền của má. Chiến và Việt khác nào hai giọt nước trên dòng cửu Long Giang cuộn sóng của đất trời phương Nam.

     

  • Bài văn Phân tích nhân vật Việt và Chiến hay nhất

    Bài văn Phân tích nhân vật Việt và Chiến hay nhất

    Bài văn Phân tích nhân vật Việt và Chiến hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích nhân vật Việt và Chiến hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nhân vật Việt và Chiến trong tác phẩm Những đứa con trong gia đình của Nguyễn Thi.

    Bài văn mẫu

       Không phải ngẫu nhiên mà Nguyễn Thi lại đặt tên cho tác phẩm của mình là “Những đứa con trong gia đình”. Những đứa con ấy chính là Việt và Chiến, từ trong căn huyết mỗi người đã tồn ngự lòng yêu nước, tinh thần chiến đấu quật cường. Hai con người ấy, làm bừng sáng văn học kháng chiến, mang đến một thanh âm trong trẻo mà cũng đầy nhiệt huyết cho văn học giai đoạn này.

       Đầu tiên là hình ảnh của chị Chiến trong tác phẩm. Chú Năm đã từng nói rằng, chị Chiến giống y như má. Quả thực đúng như vậy, không chỉ giống ở dáng vẻ bề ngoài, mà con giống ở nội tâm, tính cách. Chị mang trong mình dáng vẻ tròn lẳn, chắc nịch của má, của người phụ nữ nông dân Nam Bộ: “hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng, rồi dang cả thân người to và chắc nịch”. Ở chị luôn tồn tại một sức sống mạnh mẽ, bền bỉ. Không chỉ là một người con gái khỏe mạnh, mà chị còn giống má ở tính cách đảm đang, tháo vát. Trước khi lên đường nhập ngũ, mọi chuyện đều được chị sắp xếp chu toàn đâu ra đó. Đầu tiên chính là đưa thằng Út sang nhà chú Năm: “Chị em mình đi thì thằng Út sang ở với chú Năm, chú nuôi. Còn cái nhà này ba má làm ra đó thì cho các anh ở xã mượn mở trường học. Giường ván cũng cho xã mượn mở trường học. Giường ván cũng cho xã mượn làm ghế học. Nồi lu, chén, đĩa, cuốc, vá, đèn soi với nơm để gửi chú Năm. Chừng nào chị Hai ở dưới biển về làm giỗ má, chị có muốn lấy gì thì chị chở về dưới. Còn năm công ruộng hồi trước mấy chú cấp cho ba má, giờ mình đi mình trao lại chi bộ đăng chia cho cô bác khác mầm. hai cô mía thì chừng nào tới mùa, nhờ chú Năm đốn, để dành đó làm giỗ ba má. Đem bàn thờ sang gửi nhà chú Năm”. Quả thực, chị mới 19 tuổi, cái tuổi vẫn còn “ăn chưa no lo chưa tới” nhưng vì hoàn cảnh chiến tranh, chị sớm trở nên già dặn, đã có thể sắp xếp mọi chuyện chu toàn, gọn ghẽ. Chị chính là hình ảnh tiêu biểu của người phụ nữ nông dân Việt Nam. Dù được thừa hưởng ở má rất nhiều nét đẹp khác nhau, nhưng bản thân chị Chiến vẫn mang trong mình những nét riêng biệt, chị mạnh mẽ dũng cảm cầm súng, trực tiếp ra chiến trường để trả nợ nước, thù nhà. Chị sẵn sàng hi sinh tuổi trẻ, thanh xuân đẹp đẽ nhất của bản thân vì sự nghiệp chung của đất nước.

       Nhân vật xuất hiện nhiều nhất, cũng là nhân vật chính trong tác phẩm này chính là Việt, một chàng thanh niên mới lớn. Ở cậu vừa có nét kiên cường, cứng cỏi, nhưng cũng có nét rất trẻ con.

       Hai chị em tranh nhau ra trận, vì muốn được đi mà Việt đã khai khống tuổi mình, cái việc nói dối khiến cậu không khỏi lo lắng, sau khi nói xong còn khẽ liếc chị so sánh “mình đứng đâu có thua chị, tuy tóc chị có cao hơn mình một chút thật”.Rồi đến lúc hành vi của mình bị chị vạch trần Việt vẫn mang quyết tâm được đi. Sau khi được chú Năm xin, “giải quyết” Việt vô cùng sung sướng khi được thỏa mãn mong muốn của bản thân. Cậu còn quay sang trách chứ “chị biết vậy sao hồi nãy chị ngăn tôi? Người ta mười tám tuổi rồi mà nói chưa…”. Trong giọng nói vẫn thập phần ấm ức. Bởi với đứa trẻ là cậu khi chị là chị, đã nhường thì chắc chắn sẽ phải nhường nhịn cậu trong mọi việc. Nhưng cậu nào đâu có hiểu cho những lo lắng của chị Chiến. Chỉ vì sợ cậu cực khổ nên mới muốn để cậu ở nhà.

       Nét ngây thơ của Việt còn thể hiện trong hành động hết sức ngây thơ của cậu. Việt giấu chị Chiến như là của riêng mình. Không nói cho những anh em đồng chí khác, sợ sẽ mất chị. Trong lúc bị thương nằm một mình ở rừng, Việt : “phải chi có chị Chiến ở đây, chị sẽ bắn thế cho Việt. Chỗ này gác súng thiệt tốt, ngay dưới gốc bông trang, chị cứ đưa Việt giữ giùm cái kiếng trong túi, ngồi hẳn xống,nhằm thẳng ngực nó mà nổ súng”. Những suy nghĩ đó của Việt vừa ngây thơ, non nớt những cũng rất đỗi cảm động trước tình cảm Việt giành cho chị.

       Nhưng đằng sau đó lại là một chiến sĩ vô cùng kiên cường, dũng cảm. Trong một lần đọ lê, Việt leo lên được chiếc xe bọc thép của giặc đang tháo chạy, Việt dùng thủ pháp tiêu diệt được nó. Nhưng bản thân cậu lại bị thương mà ngất đi, cậu bị lạc đồng đội, một mình nằm trong rừng, tình huống vô cùng nguy hiểm. Cái chết đang bủa vây lấy Việt, hơn nữa trên trời tiếng trực thăng đang bay phạch phạch, dưới đất thì xe bọc thép và pháo mỗi lúc một gần hơn. Sự sống của Việt đang ngàn cân treo sợi tóc. Việt tự nhận thức “chúng đến để giết mình đây” nhưng chính trong lúc đó cậu cũng lại tự hỏi: “chết là gì nhỉ?” và tự trả lời: “chắc là đau gấp mấy lần bị thương. Hay chết tức là gười thật từ biến lên trên nóc nhà, còn người giả thì nằm tại đó?”. Nhưng những ý nghĩ đó được thay thế bằng ý chí, quyết tâm của một chàng lính trẻ: “Được,Việt cứ nằm đây! Tao sẽ chời mày! Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”. Khi tinh thần đã được lên dây cót, Việt luôn trong tư thế sẵn sàng, ngón tay luôn đặt vào súng, chỉ cần bất cứ động tĩnh gì cậu cũng sẽ sẵn sàng chiến đấu. Tuy hi vọng là mong manh nhưng cũng có thể thấy tinh thần ham sống, và lòng dũng cảm của Việt.

       Việt và Chiến đều là những đứa con có tình yêu thương cha mẹ và lòng căm thù giặc sâu sắc. Lòng căm thù giặc ấy cũng xuất phát từ chính tình yêu thương gia đình, muốn báo thù cho cha mẹ. Không chỉ vậy họ còn là những chiến sĩ hết sức kiên cường, dũng cảm. Trên trận tuyết họ không hề lo lắng, run sợ, đem hết sức kiên cường của bản thân chiến đấu đến cùng với giặc. Mặc dù có nhiều điểm chung nhưng hai nhân vật này vẫn có những nét riêng biệt. Chị Chiến chin chắn, trưởng thành, thiên tính nữ trong chị thể hiện rất rõ. Chị là người pụ nữ đảm đang tháo vát, già dặn trước tuổi. Còn Việt lại là cậu chàng mới lớn còn nhiều ngay thơ, bồng bột, hiếu thắng, nhưng cũng hết sức dũng cảm.

       Việt và Chiến là hai nhân vật trung tâm trong tác phẩm, được Nguyễn Thi kì công xây dựng. Ở họ vừa có nguồn lạch chung những đồng thời lại có những điểm khu biệt, khiến người đọc không thể nhầm lẫn. Việt và Chiến là hai đại diện tiêu biểu cho thế hệ trẻ miền Nam cầm sung kháng chiến, cứu nước.