Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • Top 18 bài phân tích, dàn ý tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa hay nhất

    Top 18 bài phân tích, dàn ý tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa hay nhất

    Top 18 bài phân tích, dàn ý tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Viết bài làm văn số 6: Nghị luận văn học

    [toc]

    Phần Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu) Ngữ văn lớp 12 gồm các bài văn mẫu: phân tích, dàn ý, nghị luận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 12 và tự tin bước vào kì thi THPT Quốc gia môn Văn.

    1. Dàn ý Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
    2. Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 1)
    3. Phân tích truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 2)
    4. Phân tích tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 3)
    5. Cảm nhận về truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
    6. Dàn ý Phân tích nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
    7. Phân tích nhân vật Phùng trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 1)
    8. Phân tích nhân vật Phùng trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 2)
    9. Dàn ý Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa
    10. Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 1)
    11. Phân tích nhân vật người đàn bà hàng chài trong Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 2)
    12. Phân tích người đàn bà trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 3)
    13. Phân tích hình ảnh người đàn bà trong truyện Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 4)
    14. Cảm nhận về người đàn bà trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa
    15. Kể lại truyện Chiếc thuyền ngoài xa
    16. Phân tích người đàn ông trong truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa
    17. Phân tích hình tượng chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 1)
    18. Phân tích hình ảnh chiếc thuyền trong tác phẩm Chiếc thuyền ngoài xa (Bài văn mẫu 2)

     

  • Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 3)

    Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 3)

    Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 3)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 2)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích quá trình bị tha hoá của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao để thấy rõ giá trị tố cáo xã hội của tác phẩm

    Bài văn mẫu

    Năm 1941, Nhà xuất bản Đời mới cho ra đời truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi”. Năm 1946, truyện được tái bản, Nam Cao đổi tên truyện thành “Chí Phèo”. Đó là một truyện ngắn độc đáo viết về đề tài nông dân trước cách mạng. Nam Cao không nói vể tô tức, sưu thuế, mà đi vào hiện tượng lưu manh hoá ở nông thôn. Qua cuộc đời của nhân vật Chí Phèo, tác giả đã sáng tạo nên một bức tranh xã hội chân thực về đời sống khổ cực và thê thảm của người dân cày và nông thôn Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.

    Với cảm quan hiện thực sắc sảo, với trái tim nhân hậu thiết tha, với hiểu biết sâu sắc về nông thôn, Nam Cao đã thể hiện một cách xúc động con đường bị tha hoá của nhân vật Chí Phèo, tạo nên giá trị tố cáo xã hội của tác phẩm đầy ám ảnh.
    Làng Vũ Đại, cái đất “quần ngư tranh thực” đã nở ra một Chí Phèo. Hắn sinh ra đã khổ rồi. Không cha mẹ, không một tấc đất cắm dùi, tứ cố vô thân. Tuổi thơ hắn vồ cùng đau khổ, đầy bất hạnh. Năm 20 tuổi, Chí Phèo làm canh điền cho bá Kiến. Vợ ba bá Kiến đã bắt hắn “bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy…” mà Chí Phèo bị giải huyện, phải đi tù bảy, tám năm trời.

    Nhà tù thực dân đã biến anh canh điền hiền lành, cục mịch thành một tên lưu manh ngổ ngáo. Mặt hắn thay đổi đáng sợ “trông đặc như thẳng sắng đá”. Cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, Cjậ mặt thì đen mà rất cơng comg, hai mắt gườm gườm, ngực và cánh tay chạm trổ rồng phượng, với ông tướng cầm chuỳ, trông gớm chết! Sự thay đổi của Chí “khắc hẳn”, đến nỗi cả dân làng Vũ Đại, mới đầu “chẳng ai biết hắn là ai”. Năm đó Chí Phèo 27 hay 28 tuổi gì đó.
    Về làng hôm trước thì hôm sau Chí Phèo ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều. Say khướt, hắn cầm một cại vỏ chai đến thẳng nhà bá Kiến “gọi tên tục ra mà chửi”, “chửi sướng miệng!’, “chửi ngoa ngoắt” làm sao! Cả làng Vũ Đại xưa nay đã có ai dám chửi bá Kiến như Chí Phèo? Lí Cường và Chí Phèo đã đấm, đã đá nhau “bình bịch”. Chí đập vỏ chai vào cột cổng, rạch mặt kêu làng. Hắn lăn lộn dưới đất “máu ra loe loét”. Cả làng Vũ Đại kéo đến xem. Như bị người ta cắt họng, hắn vừa chửi vừa kêu làng: “ôi làng nước ơi,bố con thằng bá Kiến nó đâm chết tôi!” . Bá Kiến một tên cường hào “khôn róc đời”, biết “mêm nắn rắn buông” đã xử nhũn với Chí. Cụ bá “thân mật” mời Chí vào nhà chơi. Cụ cho Chí biết là hắn “có họ” với lí Cường. Cụ giết gà, thết rượu, đãi thêm một đồng bạc để Chí uống thuốc. Hành động của Chí vừa mang tính chất rửa hận, trả thù, vừa mang tính chất côn đồ, nên hắn thấy hắn “cũng oai”, dám “độc lực chọi nhau” với cha con bá Kiến, bốn đòi làm tổng lí “khét tiếng” trong làng huyện. Hình ảnh Chí Phèo từ nhà bá Kiến ra về “loạng choạng vừa đi vừa cười”, hắn nghĩ đến bài thuốc dấu với vài nắm lá, là cái mặt hắn lại đâu vào đấy ngay, còn đồng bạc để uống rượu – cho ta thấy tính chất lưu manh của một anh nông dân ngu dốt đã bị tha hoá.
    Bốn ngày sau tiêu hết đồng bạc, Chí Phèo gây ra bao chuyện “động trời” ghê gớm. Hắn đốt quán mụ bán rượu… Hắn bốc của cô hàng xén một dúm muối trắng. Hắn vạn ba bốn quả chuối xanh của nhà nào đó. Hắn ngồi uống rượu với chuối xanh chấm muối và thấy rằng cũng ngon. Hành động ăn cướp ấy, cách ngồi uống rượu ấy ở cái miếu con tại bờ sông cho thấy Chí Phèo đã là một tên lưu manh rồi. Hắn đang đi tiếp con đường của Năm Thọ, của Binh Chức. Lần thứ hai, sáu ngày sau đi tù về, Chí Phèo lại đến nhà bá Kiến, với con dao nhọn và sắc bỏ trong túi áo, với “cái mắt thì ngầu lên, hai chân thì lảo đảo, cái môi bầm lại mà run bần bật”. Chí Phèo gặp cụ bá để “xin đi ở tù”, vì “từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích ở tù”. Hắn nói là phải đâm chết dãm ba thằng, để cụ Bá bắt hắn giải huyện! Chí cho biết “đi tù sướng quá” vì đi tù “còn có cơm để mà ăn..”. Nhà văn Nam Cao đã phản ánh cay đắng tột cùng của một bộ phận nông dân trong xã hội cũ đã bị chính quyền thực dân phong kiến đẩy họ và con đường lưu manh hoá. Muốn sống chỉ có một con đường: lưu manh, ăn cướp! Với một tiếng cười “khanh khách” – cái cười Tào Tháo, với cái “vỗ vai” và một câu nói khích, bá Kiến đã sai được Chí Phèo cầm dao đến nhà đội Tảo “một tay vai vế trong làng” để đòi nợ 50 đồng bạc cho cụ.

    Chẳng phải giao tranh đổ máu, chỉ bằng mấy tiếng chửi phủ đầu, Chí đã đòi được món nợ mà đội Tảo toan “vỗ tuột”. Chí Phèo “vênh vênh”, tự thấy “oai thêm bậc nữa”, hắn tự đắc: “Anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta!”. Năm đồng bạc thưởng, năm sào vườn ở bãi sông mới cắm thuế của một ngưòi làng, cụ bá đã ban cho Chí Phèo. Và hắn đã trỏ thành “anh đầy tớ chân tay mới” của bá Kiến. Vốn vô học, đầu bò, lưu manh, Chí Phèo đã bị bá Kiến dụ dỗ mơn trớn, mua chuộc bằng vật chất, hắn bị tha hoá, trượt dài trên con đường tội ác và tội lỗi.
    Từ đó trở đi, bàn tay Chí Phèo vấy đầy máu. Người ta đầu độc hắn bằng rượu. Hắn trở thành kẻ đâm thuê chém mướn, phá bao nhiêu cơ nghiệp, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện – Cuộc đời hắn giờ đây là những cơn say dài mênh mông, vô tận “hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy hãy còn say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới, doạ nạt trong lúc say..”. Cái mặt của Chí Phèo thật đáng sợ, như mặt của một con vật lạ, vằn dọc vằn ngang biết bao nhiêu là sẹo, “vàng vàng… xạm màu gio”. Cái thẻ biên tên hắn, hắn cũng không có. Hắn thuộc hạng lưu tán, người ta khai hắn “lâu nám không về làng”. Hắn không nhớ tuổi hắn, và “hắn không cỏn ngày tháng nữa”. Chí Phèo trở thành một kẻ điên khùng, gần như mất trí. Hắn vừa đi vừa chửi, cứ rượu xong là hắn chửi. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi những ai không chửi nhau với hắn. Hắn chửi “đứa chết mẹ nào thân hắn” cho hắn khổ! Con đường tha hoá của Chí Phèo chỉ trong vòng hơn mười năm trời và hắn đã trờ thành một con quỷ dữ, rất ghê tởm. Tất cả dân làng “đểu sợ hắn” và “tránh mặt hắn” mỗi lần hắn qua! Cái chế độ thực dân phong kiến, mà kẻ chủ mưu là tên cường hào xảo quyệt bá Kiến đã cướp đi cả hình người, cả lình hồn người của Chí!
    Chí Phèo đã đi tiếp con đường của những quỷ dữ.
    Năm đó, Chí Phèo 38 hay 39, 40 hay ngoài 40? Mọi chuyện khủng khiếp cuộc đời của Chí diễn ra trong vòng sáu ngày đêm. Bắt đầu từ một đêm trăng rằm “ánh trăng chảy trên đường trắng tinh”. Chí Phèo bất ngờ đến nhà Tự Lãng, một anh goá vợ làm nghề hoạn lợn kiêm thầy cúng. Hai đứa ngồi uống rượu dưới ánh trăng, hết ba chai, như “một đôi tri kỉ cuồng”… Chính đêm trăng đó, Chí Phèo đã ôm lấy thị Nở mà làm tình, khi thị đang “há hốc” mồm ngủ dưới trăng. Chính đêm ấy, Chí Phèo bị cảm rất nặng. Mắt hoa lên. Chân tay thì lẩy bẩy. Mửa thốc, mửa tháo, mửa ồng ộc… Bát cháo hành và bàn tay săn sóc của thị Nở đã làm cho hắn cảm động, hắn bâng khuâng buồn, gần như là ăn năn. Bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi, nay được đánh thức dậy. Lâu nay, hắn doạ nạt, cướp giật mới có ăn. Lần đầu tiên, Chí được một người đàn bà săn sóc. Chí “thèm lương thiện”, hắn muốn “làm hoà” với mọi người. Hắn cũng muốn với thị Nở “làm thành một cặp rất xứng đôi”. Trận ốm cũng đã làm cho Chí thay đổi cả về sinh lí lẫn tâm lí nữa? Lần đầu tiên hắn nhớ lại mơ ước bình dị, lương thiện thời trai trẻ muốn “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải..”.
    Sau năm ngày đêm Chí Phèo với thị Nở sống với nhau như vợ chổng, thị Nở “đừng yêu” để thị hỏi bà cô thị đã. Bà cô thị xỉa xói thị, không cho thị lấy một kẻ chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ! thị Nở đã trút mọi bực dọc lên mặt nhân ngãi. Chí Phèo bị đẩy vào hố thẳm của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Hắn tức quá, muốn đâm chết “cái con khọm già”. Hắn uống đến say mểm “rồi hắn đi!”. Với một con dao ở thắt lưng, Chí Phèo đến thẳng nhà bá Kiến chứ không đến nhà thị Nở! Lần thứ ba, Chí Phèo đến gặp bá Kiến, không phải để xìn tiền mà đòi lương thiện, hắn “không thê là người lương thiện nữa”, “làm thế nào chó mất được những vết mảnh chai trên mặt này?”. Đó I là những tiếng kêu đau đớn, uất hận, hãi hùng! Muốn được làm người lương thiện mà không ai cho, mà không thể được, cái bi kịch‘ấy của Chí Phèo thật khủng khiếp, đáng sợ! Kẻ bất lương muốn hoàn lương đã khó. Quỷ dữ làm sao có thể thành người lương thiện được? Chí Phèo chỉ còn một cách là đâm chết bá Kiến, kẻ làm hại đời anh, rổi tự sát! Cái chết cửa Chí Phèo là cái chết đầy bi kịch, cái chết khủng khiếp, đáng thương của một nông dân nghèo khổ, ngu dốt, bị XÔ đẩy, bị mua chuộc và bị đầu độc vào con đường tha hoá, lưu manh, tội lỗi không có lối thoát.
    Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo thành nhân vật điển hình vể sự thống khổ, lưu manh hoá, chết trong bi kịch thảm thương hãi hùng cửa một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân phong kiến. Năm Thọ đi biệt tăm, Binh Chức đã chết, Chí Phèo đã tự sát, nhưng cái lò gạch cữ vẫn còn, thị Nở đã thấy thoáng hiện ra… một Chí Phèo con sẽ ra đời. Cái xã hội ấy có bao giờ hết được những kẻ như Chí Phèo?

    Qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã tố cáo và lên án cái xã hội thực dân phong kiến đã xô đẩy những người nông dân lương thiện vào con đường lưu manh, tội lỗi, đã cướp đi của họ cả hình người lẫn tính người. Truyện đã dựng nên một bức tranh hiện thực đen tối đầy máu, nước mắt và tội ác. Truyện “Chí Phèo” thấm đượm một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Nó như một tiếng kêu thương: hãy xoá bỏ tận gốc mọi cái ác để cứu lấy con người, để người nghèo được làm người lương thiện, được sống trong lương thiện.

  • Văn mẫu: Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

    Văn mẫu: Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

    Văn mẫu: Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

    [toc]

    Top 10 bài phân tích, dàn ý tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân hay nhất

    Phần Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, cảm nhận,… hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Dàn ý Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân hay nhất
    2. 3 bài văn mẫu Phân tích tác phẩm Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân hay nhất
    3. Dàn ý Phân tích hình tượng Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù
    4. 3 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Huấn Cao trong tác phẩm Chữ người tử tù
    5. 2 bài văn mẫu Phân tích hình tượng Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù
    6. 4 bài văn mẫu Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục
    7. Dàn ý Cảm nhận về cảnh cho chữ trong truyện Chữ người tử tù hay nhất
    8. 4 bài văn mẫu Phân tích cảnh cho chữ trong truyện ngắn Chữ người tử tù hay nhất
    9. Dàn ý Phân tích nhân vật viên quản ngục trong truyện ngắn Chữ người tử tù
    10. 4 bài văn mẫu Phân tích nhân vật viên quản ngục trong tác phẩm Chữ người tử tù hay nhất

  • Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 2)

    Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 2)

    Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 2)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 1)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo từ một nông dân hiền lành, chất phác thành con người tha hóa cả tâm hồn lẫn ngoại hình. Tuy vậy Chí Phèo vẫn còn nhân tính.

    Bài văn mẫu

    “- Ai cho tao lương thiện? Làm sao để xóa hết được những mảnh chai trên khuôn mặt này…?”
    Trước khi đâm chết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình, Chí Phèo – nhân vật trong tác phẩm của tên của nhà văn Nam Cao, đã hét lên như thế. Câu chuyện của một con người đi đòi lương thiện, đòi xóa những mảnh chai trên khuôn mặt chính mình trong thiên truyện đã khiến bao thế hệ bạn đọc thổn thức trong rất nhiều thập kỉ qua. Nông nỗi nào đẩy con người ấy vào tình cảnh trớ trêu ấy? Trong truyện ngắn được coi là kiệt tác của Nam Cao – Chí Phèo, người đọc đã tìm thấy câu trả lời. Đó chính là quá trình tha hóa của nhân vật Chí Phèo, từ một anh nông dân hiền lành chất phác thành con người tha hóa cả về tâm hồn lẫn ngoại hình, tuy vậy Chí vẫn còn nhân tính.

    Chí Phèo ra đời vào năm 1941, khi mà những tác phẩm về đề tài người nông dân đã trở nên quá cũ. Thậm chí để tăng sự hấp dẫn, tò mò đối với người đọc, một nhà xuất bản còn thay đổi nó với cái tên hợp thời hơn Đôi lứa xứng đôi. Nhưng không, bằng tài năng và sự sáng tạo độc đáo của mình, Nam Cao đã viết nên số phận của người nông dân với những nét riêng và khác biệt. Ngay từ tên nhan đề sau này ông đặt lại là Chí Phèo cũng đã gợi cho người đọc về một hiện tượng của xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám – 1945. Từ Chí biến thành Chí Phèo là cả một câu chuyện về cuộc đời của một con người trượt dài trên cái dốc của tha hóa. Đến khi muốn dừng lại, muốn quay đầu mà không thể được nữa.
    Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu con người ta sinh ra trong hoàn cảnh thiệt thòi, thiếu may mắn để rồi sa ngã, biến chất. Đó là do hoàn cảnh sinh ra không có cha mẹ, không có người dạy bảo, nuôi dưỡng tử tế… Rất nhiều định kiến như thế đã hình thành trong tư duy của mỗi chúng ta từ lâu. Nhưng với trường hợp của Chí trong tác phẩm này thì khác. Bất hạnh ngay từ lúc sinh ra. Trong bộ dạng trần truồng, xám xịt ở cái lò gạch cũ, Chí cứ từng ngày lớn lên bằng cách truyền tay nhau của người làng. Lúc thì anh bị đem cho, khi thì bị đem bán… rồi cũng lớn lên trở thành một thanh niên hai mươi tuổi vạm vỡ, khỏe khoắn và làm canh điền cho nhà Bá Kiến. Nhìn nhận ở năng lực vươn lên của con người trong hoàn cảnh như thế, Chí là chàng trai đầy nghị lực. Không gia đình, không nhà cửa, không tấc đất cắm rùi, thân phận thì ở đợ, làm nô bộc cho nhà giàu. Vậy mà tâm tính lại tốt. Biết ước mơ về một cuộc sống bình dị, giản đơn mà hạnh phúc: chồng cày thuê, cuốc mươn, vợ dệt vải… Biết nhục nhã, xấu hổ khi bị bà ba – vợ Bá Kiến, dụ dỗ, sàm sỡ. Trước khi bước vào tác phẩm với bộ dạng say khướt, vừa đi vừa chửi, Chí đã là một anh cố nông hiền lành, chất phác, lương thiện như thế.

    Nhưng thói đời cơ cực lại thường hay giơ vuốt, con người tốt tính đến đâu nếu không tự mình gian trá, lọc lừa mà sống trong hoàn cảnh ấy thì cũng sẽ bị nó xô cuốn đi mà vùi, mà dập cho đến khi còn chẳng nhận ra là người. Đánh giá một cách khách quan, xã hội thực dân nửa phong kiến ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám – 1945 là thói đời như thế. Người đọc vẫn bàn tán rằng, cơn ghen vu vơ của Bá Kiến sẽ rất đỗi bình thường nếu ông ta cũng chỉ là một người nông dân của làng Vũ Đại. Nhưng nó lại trở thành cơn thịnh nộ cùng cực của một kẻ háo sắc đã làm đến chức vụ cao nhất ở nơi đây. Vậy là quyền sinh, quyền sát trong tay, muốn cho ai sống thì sống, muốn cho ai chết thì chết, hoặc tàn nhẫn hơn thì có kẻ còn sống không bằng chết. Cơn ghen ấy trở thành hiểm họa, bàn đạp để đẩy Chí lao vào guồng quay của sự tha hóa. Mà trước hết là tha hóa về nhân hình.
    Nhà tù thực dân đã nhanh chóng biến anh Chí ngày nào trở thành một tên côn đồ, một tên lưu manh ngay từ dáng vẻ bên ngoài. Chính nhà văn Nam Cao phải hai lần thốt lên trông gớm chết khi miêu tả bộ dạng của anh ta sau bảy, tám năm ở tù về. Cái đầu trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn, cái mắt gườm gườm, cái mặt rất cơng cơng, mặc cái áo tây vàng, cái quần nái đen, ngực và cánh tay trạm trổ đầy những ông tướng cầm chùy… Người ta không còn nhận ra anh canh điền hiền lành, lương thiện ngày nào nữa. Nhưng đã là gì, dáng vẻ ấy còn chưa khiến họ cảm thấy bắt đầu sợ Chí, kinh hãi Chí và hoàn toàn xa lánh Chí cho đến khi hắn dần dần có những hành động mất hết nhân tính.
    Mới ở tù về mà hắn đã ngồi uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến chiều. Và rồi từ đấy, ngày nào người ta cũng thấy hắn say. Chí làm náo loạn cả làng Vũ Đại với những trận say điên cuồng, lảo đảo xách chai đến nhà Bá Kiến mà chửi bới, mà ăn vạ. Hành động uống rượu say đã đẩy hắn đi xa hơn người ta tưởng. Ban đầu Chí chỉ làm trong vô thức, say để chửi Bá Kiến nhưng dần dần say để vòi vĩnh, để đòi lợi ích cho bản thân. Muốn vậy Chí tình nguyện biến mình trở thành tay sai cho Bá Kiến. Bao nhiêu gia đình tan hoang bởi Chí, máu cũng đã đổ, Chí đã trở nên ngang ngược, hung hãn trong những cơn say triền miên. Chẳng biết tự lúc nào Chí đã bán linh hồn cho quỷ dữ. Từ việc bị đẩy nhưng rồi Chí tự trượt dài trên cái dốc của sự tha hóa. Chí mất hết tính người và người làng Vũ Đại cũng chẳng ai coi Chí là người. Chí trở thành Chí Phèo – một phần thừa thãi, bỏ đi của xã hội. Vậy nên những gì Chí Phèo làm ngay từ khi mở đầu tác phẩm đó là chửi nhưng cũng chẳng ai thèm đáp trả. Tiếng hắn chửi cũng chỉ như tiếng những con vật bình thường của cuộc sống, chẳng ai buồn nghe, buồn đáp lại.
    Đó cũng là lúc Chí đã hoàn toàn rơi xuống vực sâu của sự tha hóa. Nỗi cô độc tuyệt cùng ấy Chí không thể giải tỏa được cùng ai, Chí đã bị đẩy ra khỏi thế giới loài người, ra ngoài rìa của xã hội. Sự tha hóa của Chí là một sự phản ánh chân thực, nghiệt ngã nhất về xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Đồng thời cũng là lời tố cáo mạnh mẽ những kẻ tàn nhẫn, độc ác đã cố tình đẩy Chí và lợi dụng Chí để biến anh thành con quỷ của làng Vũ Đại. Chân dung ấy của anh chính là hiện thân cho nỗi thống khổ lớn nhất của người nông dân trong xã hội lúc bây giờ.
    Nhưng dưới ngòi bút nhân đạo của Nam Cao, Chí Phèo không hề đơn độc. Trong cơn cùng cực của cuộc đời, Chí được nhà văn khơi dậy phần người ít ỏi còn sót lại. Tiếng chửi trong hình hài của con quỷ dữ ấy ẩn chứa những thèm khát vô cùng được trở về thế giới loài người. Đó là tiếng gào thét của một con người đã chót bán linh hồn cho quỷ dữ. Nam Cao như đồng cảm, thấu hiểu điều ấy dù giọng văn có phần sắc lạnh. Đây chính là căn nguyên để Chí hoàn toàn thức tỉnh, trỗi dậy khát vọng hoàn lương sau cái đêm định mệnh gặp Thị Nở. Thực chất bản tính lương thiện của Chí không hề mất đi, mà nó chỉ tạm thời bị vùi sâu, âm ỉ. Nếu không còn nhân tính, Chí chẳng thể nhận ra một cuộc đời đắng cay với quá khứ tưởng như bình yên mà đầy nhục nhã, với hiện tại già nua, cô độc và với tương lai mờ mịt, đáng sợ bởi sự cô độc. Chí cũng chẳng thể nghe được những âm thanh, cảm nhận được những hương vị của cuộc sống nếu vẫn cứ triền miên trong những cơn say. Chí càng không thể cảm nhận được vị ngon của tình người qua bát cháo hành… Bao cảm xúc, suy tư của một con người lại trỗi dậy, Chí ao ước, khao khát được quay về xã hội bằng phẳng của loài người. Rồi ngay cả khi niềm hi vọng ngắn ngủi ấy nhanh chóng bị dập tắt bởi định kiến, Chí vẫn mơ tưởng. Hành động đòi lương thiện, đòi xóa những mảnh chai trên mặt trước Bá Kiến là một việc làm đầy dũng cảm. Không phải là con người sao Chí dám dõng dạc mà cất tiếng như thế. Thực chất, đó là nỗi đau của đời Chí. Bi kịch không được làm người đẩy Chí đến một hành vi quả quyết, giết kẻ thù và tự kết liễu đời mình. Đó là cách duy nhất Chí có thể làm lúc này để minh chứng cho khát vọng làm người của anh là có thật. Đây không phải là hành vi của một con quỷ, mà đó là sự bế tắc, đau đớn không có sự lựa chọn nào khác của một con người. Phần nhân tính của Chí đã trỗi dậy mạnh mẽ, Chí đã hồi sinh.

    Quá trình tha hóa của Chí Phèo là bước miêu tả quá chân thực về số phận người nông dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám – 1945. Từ một người nông dân hiền lành, chất phác, Chí biến thành một con quỷ của làng Vũ Đại. Đó là tiếng chuông tiếp tục cảnh tỉnh con người về một xã hội tàn nhẫn, bất công và vô nhân đạo. Nhưng Nam Cao đã để ngòi bút chan chứa tình yêu thương của mình khai thác, khám phá và khẳng định bản chất lương thiện trong con người anh. Dù Chí Phèo chết trên ngưỡng cửa trở về với cuộc đời, nhưng chắc chắn người ta đã cảm thông, đã tin về phần nhân tính vẫn còn trong con người anh.

  • Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 1)

    Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 1)

    Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 1)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:4 bài văn mẫu Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục

    [toc]

    Đề bài: Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo từ một nông dân hiền lành, chất phác thành con người tha hóa cả tâm hồn lẫn ngoại hình. Tuy vậy Chí Phèo vẫn còn nhân tính.

    Bài văn mẫu

    Chí Phèo một trong những đỉnh cao của Nam Cao, cũng như của văn học hiện thực Việt Nam viết về đề tài người nông dân. Nhân vật chính của truyện ngắn là Chí Phèo, từ một người nông dân lương thiện, hiền lành, chất phác, Chí Phèo đã bị tầng lớp thống trị và nhà tù thực dân làm cho tha hóa cả về nhân hình lẫn nhân tính. Nhưng bản chất lương thiện trong chí vẫn luôn tồn tại. Quá trình đó đã được Nam Cao mô tả bằng ngòi bút hết sức tinh tế và tài hoa.

    Chí Phèo sinh ra đã là một đứa trẻ bất hạnh, vừa cất tiếng khóc chào đời đã bị mẹ bỏ rơi ở cái lò gạch cũ, Chí được anh thả ống lươn mang về nuôi, sau đó chuyển qua bà góa mù, rồi bác phó cối. Chí Phèo lớn lên trong sự yêu thương, đùm bọc của dân làng. Mặc dù phải sống lang bạt, nhưng Chí Phèo khi lớn lên vẫn là con người hết sức lương thiện. Chí đi làm thuê ở gia đình bá Kiến, và trong cuộc sống thanh bình đó, Chí đã từng mang trong mình mơ ước, có một gia đình nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải, nếu có tiền thì mua mảnh đất để làm. Mơ ước thật bình dị, nhỏ bé, đó là mơ ước của bất cứ người nông dân nào. Họ chỉ mong muốn có cuộc sống bình yên, giản dị.

    Nhưng cuộc đời đối với Chí lại không bằng phẳng như thế. Làm việc tại nhà bá Kiến, Chí bị bà ba để ý, bắt bóp chân, điều đó làm Bá Kiến vô cùng căm hận, hắn ta từng mong muốn bỏ tù tất cả những thằng trai trẻ ở làng. Và Chí Phèo là một trong những nạn nhân của cơn ghen cuồng mù quáng ấy. Chính bọn cầm quyền và nhà tù thực dân đã nhào nặn, biến hóa một người nông dân chân chất, hiền lành trở thành một kẻ tha hóa cả về nhân hình và nhân tính.
    Sau bảy tám năm đi tù về, Chí Phèo biến đổi hẳn về ngoại hình, trông hắn như thằng săng đá, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt câng câng, người săm trổ đầy hình trông đến gớm. Hình hài hiền lành của Chí đã bị phá hủy. Không chỉ vậy, nhân tính của hắn cũng bị đập nát. Hắn trở về lấy nghề rạch mặt ăn vạ để sống qua ngày. Ngày đầu tiên ra tù, hắn đến ngay nhà bá Kiến để ăn vạ, nhưng nào ngờ lại bị những lời phỉnh nịnh của tên cáo già ru ngủ, Chí Phèo trở thành tay sai của bá Kiến. Chỉ cần có hơi men Chí Phèo có thể làm bất cứ việc gì được sai khiến: đốt nhà, giết người,… Chí Phèo đã phá hủy hạnh phúc biết bao gia đình, hắn ta trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Người ta tránh Chí như tránh hủi, mọi lời hắn chửi người ta luôn tự nhủ thầm hắn chừa mình ra. Tiếng chửi phẫn uất của Chí là một hình thức giao tiếp đặc biệt, một niềm khao khát tột cùng được giao tiếp, được hòa nhập cùng với cuộc sống của con người. Sự tha hóa của Chí Phèo không phải là một điều ngẫu nhiên mà nó là hệ quả tất yếu, là con đẻ của xã hội thực dân phi nhân tính đã hủy hoại không chỉ hình dáng mà còn hủy hoại nhân phẩm của con người.
    Nhưng cuộc đời Chí chưa dừng lại ở đó, gặp Thị Nở như một cột mốc đánh dấu và cho Chí biết rằng bản thân mình vẫn chưa tha hóa đến độ mất đi hoàn toàn nhân tính. Trong một lần say rượu, tình yêu giữa Chí Phèo và thị Nở nảy sinh, Chí Phèo ốm và nhận thức ra rất nhiều điều về cuộc sống về chính bản thân mình. Chí nghe thấy những âm thanh quen thuộc, mà bấy lâu nay trong hơi men hắn không còn nghe thấy nữa, hắn nhớ về mơ ước nhỏ bé giản dị của mình và đau đớn nhận ra mình đã đi sang cái dốc bên kia của cuộc đời mà vẫn cô đơn. Nào chỉ cô đơn không thôi, hắn còn bị cả xã hội gạt ra ngoài lề, coi như một con quỷ chứ không phải là một con người. Lần đầu tiên hắn biết đến vị cháo hành và nhận ra nó ngon đến kì lạ: “những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo hành rất ngon. Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo hành?”. Hắn nhìn thị Nở bằng đôi mắt thật hiền, đôi mắt hàm ơn và đôi mắt rơm rớm nước. Giọt nước mắt này chính là giọt nước mắt đánh dấu sự trở về của nhân tính trong Chí. Chí không chỉ nhận thức được về bản thân mà còn dấy lên khao khát hạnh phúc, thèm được làm hòa với mọi người: “Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao, thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Và chính Thị Nở sẽ là người mở đường cho hắn được trở về hòa nhập với cộng đồng. Như vậy phần nhân tính trong Chí chưa bao giờ bị mất đi, nó chỉ bị những cái độc ác, xấu xa của xã hội che khuất mất, chỉ cần có tình yêu thương, sự bao dung tất yếu phần người ấy sẽ quay trở về. Khao khát được làm người lương thiện, được hòa nhập với mọi người là khát khao, mong ước chính đáng của Chí Phèo.

    Nhưng cuộc đời thật biết trêu đùa với Chí, ngay khi phần nhân tính trở về thì Chí một lần nữa bị cự tuyệt quyền làm người. Thị Nở nghe lời của bà cô, đã đến nhà Chí mà sỗ sàng nói thẳng vào mặt, nó như một gáo nước lạnh, dội thẳng vào ngọn lửa hi vọng của Chí. Đau đớn, tuyệt vọng Chí xách dao vao mục đích ban đầu đến giết chết cả nhà con Nở, nhưng vì quen chân, vì Chí đã mơ hồ nhận ra kẻ thù của mình, nên Chí Phèo đã đến nhà bá Kiến. Hắn cao giọng đòi lương thiện, nhưng đồng thời Chí cũng nhận thức rõ: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể làm người lương thiện nữa?”. Rồi hắn rút dao giết chết bá Kiến và tự kết liễu chính mình. Cái chết của Chí là biểu hiện cao nhất khi nhân tính không bị mất đi. Nhân tính khi đã quay trở lại không cho phép Chí Phèo tiếp tục làm nghề rạch mặt ăn vạ, không cho phép Chí làm con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa. Nhưng đồng thời Chí cũng không thể quay trở lại với xã hội, vì đã bị mọi người cự tuyệt. Cái chết là lựa chọn duy nhất để bảo tồn chút nhân tính ít ỏi không bị ăn mòn bởi những bất công của cuộc đời. Cái chết của Chí là một đòn mạnh mẽ, lên án, tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời đã đẩy con người vào bước đường cùng.
    Xây dựng quá trình từ lương thiện đến tha hóa đến sự trở về của nhân tính trong nhân vật Chí Phèo cho thấy nghệ thuật xây dựng nhân vật và nghệ thuật miêu tả tâm lí bậc thầy trong ngòi bút của Nam Cao. Nghệ thuật trần thuật đảo ngược thời gian gây ấn tượng sâu sắc cho bạn đọc. Ngôn ngữ giản dị mà hàm súc, sâu sắc.

    Qua quá trình tha hóa của nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã bộc lộ niềm cảm thương sâu sắc với số phận của những người nông dân bất hạnh, bị đẩy đến bước đường cùng bị tha hóa. Nhưng đồng thời cũng thể hiện niềm tin tưởng của Nam Cao vào nhân cách, thiện tính trong người nông dân hiền lành, chất phác. Không chỉ vậy, còn là tiếng nói phê phán sâu sắc với chế độ thực dân nửa phong kiến đương thời đã đẩy con người đến bước đường cùng. Tác phẩm để lại giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc.

  • Văn mẫu: Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

    Văn mẫu: Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

    Văn mẫu: Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ)

    [toc]

    Top 15 bài phân tích, dàn ý tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    Phần Hai đứa trẻ (Thạch Lam) Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. Dàn ý Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
    2. 3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất
    3. 3 bài văn mẫu Cảm nhận về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam
    4. 2 bài Dàn ý Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất
    5. 2 bài văn mẫu Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất
    6. Dàn ý Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất
    7. 3 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất
    8. Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất
    9. 5 bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất
    10. 2 bài văn mẫu Phân tích cảnh đợi tàu của hai chị em Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ
    11. 3 bài văn mẫu Cảm nhận của anh chị về nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ
    12. Thông điệp và ý nghĩa cảnh đợi tàu trong truyện Hai đứa trẻ
    13. Phân tích Chất thơ trong truyện ngắn Hai đứa trẻ
    14. Phân tích Sức hấp dẫn của truyện ngắn Hai đứa trẻ
    15. Phân tích Nét đặc sắc nghệ thuật trong truyện ngắn Hai đứa trẻ

  • 4 bài văn mẫu Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục

    4 bài văn mẫu Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục

    4 bài văn mẫu Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:3 bài văn mẫu Cảm nhận của anh chị về nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ

    [toc]

    Đề bài: Phân tích thái độ nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục trong Chữ người tử tù của Nguyễn Tuân

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu vài nét tiêu biểu về tác giả Nguyễn Tuân và tác phẩm Chữ người tử tù: Tác giả với phong cách tài hoa uyên bác. Chữ người tử tù là một truyện ngắn đặc sắc trong Vang bóng một thời
    – Khẳng định trong truyện ngắn này, nhân vật Huấn Cao và quản ngục là hai nhân trung tâm của tác phẩm.Thông qua thái độ của Huấn Cao đối với viên quản ngục càng làm nổi bật nhân cách cao đẹp của họ

    II. Thân bài
    1. Thái độ của Huấn Cao khi chưa biết quản ngục là “thanh âm trong trẻo”
    a. Thái độ khi lần đầu tiếp xúc với quản ngục
    – Giới thiệu hoàn cảnh gặp gỡ của hai nhân vật: Huấn Cao và quản ngục gặp nhau lân đầu tiên khi quản ngục tiếp nhận nhóm tử tù nguy hiểm, trong đó có Huấn Cao – thủ lĩnh
    – Ngay khi đặt chân vào nhà ngục: Thản nhiên rũ rệp trên thang gông: “dỡ cái gông nặng tám tạ xuống nền đá tảng đánh thuỳnh một cái” và “lãnh đạm” không thèm chấp sự đe dọa của tên lính áp giải.
    ⇒ Đối với Huấn Cao, quản ngục và bọn lính áp giải chỉ là “một lũ tiểu nhân thị oai”. Cho nên, mặc dù chịu sự giam giữ của bọn chúng nhưng ông vẫn tỏ ra “khinh bạc”. ⇒ Ông đứng đầu gông, ông vẫn mang hình dáng của một vị chủ soái, một vị lãnh đạo
    ⇒ khí phách, tiết tháo của nhà Nho

    b. Thái độ trong đối với quản ngục trong những ngày biệt giam
    – Trong những ngày biệt giam, mặc dù được quản ngục đối đãi rất mực tử tế, nhưng do Huấn Cao nghĩ quản ngục vẫn là một tay sai trung thành cho chế độ, không có tấm lòng lương thiện nên ông vẫn lạnh lùng với những hành động biệt đãi của quản ngục:
    – Hành động biệt đãi của quản ngục:
    + Mong muốn: “Ta muốn biệt đãi ông Huấn Cao, ta muốn cho ông ta đỡ cực trong những ngày cuối cùng còn lại”
    + Sai người đem rượu và đồ nhắm đến cho Huấn Cao vì sợ trong buồng giam lạnh
    + Khép nép bày tỏ: Biết ngài là một người có nghĩa khí, tôi muốn châm chước ít nhiều
    – Thái độ, hành động của Huấn Cao:
    + Khi được viên quản ngục biệt đãi: “Thản nhiên nhận rượu thịt” như “việc vẫn làm trong cái hứng bình sinh”
    ⇒ phong thái tự do, ung dung, xem nhẹ cái chết.
    + Trả lời quản ngục bằng thái độ khinh miệt: “Ngươi hỏi ta muốn gì …vào đây”.
    ⇒ Không khuất phục trước cường quyền.
    ⇒ khí phách của một người anh hùng.
    2. Thái độ của Huấn Cao thay đổi khi nhận ra quản ngục chính là “thanh âm trong trẻo”
    – Khi biết tấm lòng”biệt nhỡn liên tài” của quản ngục: Huấn Cao nhận lời cho chữ
    ⇒ Chỉ cho chữ những người biết trân trọng cái tài và quý cái đẹp.
    – Cảnh cho chữ diễn ra thể hiện thái độ trân quý tấm lòng trong thiên hạ của Huấn Cao dành cho quản ngục
    – Lời khuyên quản ngục: “Ở đây lẫn lộn…”
    ⇒ Lời khuyên thể hiện thái độ trân trọng, lo lắng cho một nhân cách cao đẹp
    – Câu nói của Huấn Cao với quản ngục: “Thiếu chút nữa … trong thiên hạ”
    ⇒ Sự trân trọng đối với những người có sở thích thanh cao, có nhân cách cao đẹp.
    ⇒ Huấn Cao là một anh hùng – nghệ sĩ, một thiên lương trong sáng.

    III. Kết bài
    – Khẳng định thái độ của Huấn Cao đối với quản ngục kể cả khi ông chưa biết tấm lòng và nhân cách cao đẹp của quản ngục đến khi ông đã biết càng làm nổi bật vẻ đẹp của khí phách và thiên lương trong sáng của Huấn Cao

    Bài văn mẫu 1

    Nguyễn Tuân một trong những gương mặt tiêu biểu, độc đáo nhất của văn học lãng mạn. Trước cách mạng ông tìm về quá khứ của một thời chỉ còn vang bóng với những thú vui hết sức tao nhã: ăn kẹo mạch nha, uống trà thưởng trăng,… và một trong những thú vui đó chính là chơi chữ. Thú vui này đã được tái hiện đầy đủ trong tác phẩm Chữ người tử tù. Nhưng tác phẩm không chỉ đơn thuần là sự tái hiện nét chữ cuối cùng của người tử tù Huấn Cao mà đó còn là hành trình nhận thức, để trân trọng tấm lòng biệt nhỡn của quản ngục.

    Mang trong mình hùng tâm, tráng trí chọc trời khuấy nước, Huấn Cao nổi loạn chống lại triều đình, nhưng khởi nghĩa thất bại, ông bị bắt giam chờ ngày xử án. Trong quãng thời gian chờ ngày xử án ông đã gặp viên quản ngục. Lần giáp mặt đầu tiên giữa Huấn Cao với quản ngục, Huấn Cao tỏ ra vô cùng khinh bạc. Khi đứng trước viên quản ngục, ông cùng các đồng chí của mình vẫn rỗ gông “đánh uỳnh một cái” không thèm để ý đến những lời dọa nạt của bọn lính quản ngục. Cuộc đời ông tung hoành ngang dọc, chọc trời quấy nước, đến cái chết chém ông còn không sợ thì sao có thể run rẩy trước lời thị uy, ra oai, trước những ngón đòn tiểu nhân của chúng được.
    Những ngày sau đó, Huấn Cao vẫn tự nhiên nhận những đồ ăn, thức uống mà quản ngục biệt đãi riêng cho mình, nhưng ông vẫn dửng dưng, không hề vồn vã: “Suốt nửa tháng, ở trong buồng tối, ông Huấn Cao vẫn thấy một người thơ lại gầy gò, đem rượu đến cho mình uống trước giờ ăn bữa cơm tù với một thái độ cực kì lễ phép” “Huấn Cao vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, coi như đó là một việc vẫn làm trong cái hứng sinh bình, lúc chưa bị giam cầm”. Ngày viên quản ngục đến gặp Huấn Cao, quản ngục đem những lời lẽ chân thành ngợi ca ông và hỏi ông cần gì để mình chu tất hơn, đáp lại sự ân cần đó, Huấn Cao chỉ đáp lại một cách trịch thượng: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều: là nhà người đừng đặt chân vào đây”. Đó là thái độ bất cần, không hoảng sợ trước uy lực của quyền thế. Dù quản ngục có biệt đãi như vậy hay hơn thế nữa, thì nhất quyết Huấn Cao cũng không vì thế mà đánh mất phẩm chất, khí phách của bản thân.
    Nhưng thái độ của ông đã thay đổi hẳn khi biết tâm nguyện cao đẹp, đáng trân trọng của viên quản ngục. Trước những lời tường thuật hết sức chân thành của thầy thơ lại, Huấn Cao đã hiểu hết cả sự biệt đãi riêng mà quản ngục dành cho mình cũng như cho những người bạn của mình, cái thái độ khúm núm khi lần trước vào diện kiến ông, sự lễ phép và những món đồ biệt đãi vẫn mang vào bình thường như trước. Thì ra không phải quản ngục muốn khai thác thêm thông tin gì từ ông, mà thực chất quản ngục khâm phục tài năng và ý chí của mình mà làm như vậy. Ông đã hiểu tất cả tấm lòng biệt nhỡn liên tài của viên quản ngục với mình. Và đồng ý cho chữ viên quản ngục: “Về bảo với chủ ngươi, tối nay, lúc nào lính canh trại về nghỉ, thì đem lụa, mực, bút và một bó đuốc xuống đây rồi ta cho chữ” “Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm long trong thiên hạ”. Huấn Cao cảm động thực sự trước tấm lòng biết yêu cái đẹp và quý trọng người tài của quản ngục. Trong câu nói đó vừa là sự trân trọng đối với quản ngục, vừa chứa cả sự ân hận, tự trách về thái độ kinh bạc của mình đối với quản ngục trước đây.
    Ngay trong đêm đó, một cảnh tượng xưa nay chưa từng có diễn ra nơi ngục tù tối tăm, ẩm thấp. Trong buồng giam chật hẹp, dưới ánh sang tỏa ra từ bó đuốc rực sáng cùng tấm lụa trắng còn nguyên vẹn lần hồ, cả ba cái đầu chụm vào để chiêm ngưỡng khoảnh khắc cái đẹp được hình thành. Từng nét chữ Huấn Cao viết ra thể hiện chí tung hoành ngang dọc của một đời người. Từng chữ được viết xong, quản ngục lại khúm núm cất những đồng tiền kẽm đi, thầy thơ lại run run bưng chậu mực. Quá trình tạo tác cái đẹp hoàn thành, Huấn Cao đỡ quản ngục dậy và căn dặn: “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy Quản nên thay chốn ở đi. Chỗ này không phải là nơi để treo một bức lụa trắng với những nét chữ vuông vắn tươi tắn nó nói lên những cái hoài bão tung hoành của một đời con người… Tôi bảo thực đấy: Thầy Quản nên tìm về nhà quê mà ở đã, thầy hãy thoát khỏi cái nghề này đi đã, rồi hãy nghĩ đến chuyện chơi chữ. Ở đây, khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng đến nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Quản ngục cảm động, hai hàng nước mắt chảy ra và chắp tay vái người tù một vái: “kẻ mê muội này xin bãi lĩnh”. Cái đẹp, cái thiên lương có sức cảm hóa phi thường, nó giúp con người nhận ra chân lí, lẽ phải, giúp người ra đi đúng hướng.
    Không phải ngẫu nhiên mà có sự thay đổi trong thái độ của Huấn Cao đối với quản ngục. Ban đầu Huấn Cao tỏ ra khinh bạc, thậm chí căm ghét quản ngục, bởi quản ngục là đại diện cho cường quyền, cho thế lực thù địch với Huấn Cao. Bởi vậy khi bất ngờ nhận được biệt đãi, Huấn Cao càng phải đề cao cảnh giác hơn, bởi ông đã quá quen với những chiêu trò được sử dụng trong nhà tù. Hơn nữa một con người khí phách ngang tàng, chọc trời khuấy nước thì không thể chỉ vì một chút biệt đãi của quản ngục mà có thể đánh mất đi nhân cách, khí phách của bản thân. Thái độ đó hoàn toàn phù hợp với tính cách ngang tàng của Huấn Cao.
    Nhưng sau đó, Huấn Cao đã hoàn toàn thay đổi khi biết được nguyện ước chân thành, tha thiết của quản ngục. Huấn Cao không chỉ là một con người có tài năng khí phách, mà còn là một người có tâm hồn đẹp, trân trọng những con người biết yêu cái đẹp. Sự thay đổi đó của Huấn Cao đã hoàn chỉnh vẻ đẹp hoàn thiện, toàn mĩ của nhân vật: ông không chỉ có khí phách mạnh mẽ mà còn là nhân cách đẹp.

    Hành trình thay đổi trong nhận thức của Huấn Cao cũng là hành trình tìm thấy người bạn tri âm, để biết rằng trong cuộc đời đen bạc kia vẫn có những thanh âm trong trẻo biết quý trọng người tài, quý trọng cái đẹp. Qua đây Nguyễn Tuân cũng muốn gửi gắm đến bạn đọc thông điệp: cái đẹp có sức mạnh vô biên, nó có thể giúp kết nối những tâm hồn đồng điệu, nó làm cho con người trở nên người hơn, hướng con người đến cái đích của chân – thiện – mĩ.

    Bài văn mẫu 2

    “Chữ người tử tù” là tác phẩm nổi tiếng được in trong tập “Vang bóng một thời” của Nguyễn Tuân sáng tác trước cách mạng tháng Tám, thể hiện sâu sắc cho quan niệm của ông về cái đẹp. Huấn Cao là nhân vật làm nên cái đẹp lí tưởng của người hùng tài hoa, có thiên lương trong sáng. Qua sự chuyển biến thái độ của Huấn Cao với viên quản ngục trước lạnh lùng, khinh bạc sau quý mến, trân trọng càng làm cho người đọc hiểu sâu hơn vẻ đẹp tâm hồn người nghệ sĩ tài ba cũng như tấm lòng của viên quan coi ngục.

    Huấn Cao là một người anh hùng chọc trời khuấy nước lại có tài viết chữ rất đẹp nổi tiếng khắp vùng tỉnh Sơn. Ngay từ đầu tác phẩm Huấn Cao đã hiện lên với những phẩm chất đnág quý qua cuộc đối thoại giữa viên quản ngục và thầy thơ lại. Ông Huấn chưa hiểu biết về viên quản ngục mà chỉ có viên quan ngục biết và khâm phục tài năng của ông. Vua quan triều đình coi ông là một tên tội phạm cực kì nguy hiểm, dám cầm đầu “quân phiến loạn” chống lại triều đình. Có lẽ viên quan coi ngục đã sớm nghe danh người tài nên khi ông Huấn được đưa đến trại giam của mình thì có thái độ ưu ái khác thường. Ngày ngày viên quản ngục sai thầy thơ lại đem rượu thịt xuống nhà giam biệt đãi ông Huấn và những người bạn tù.Trước tấm lòng ấy Huấn Cao có những thái độ khác nhau ở mỗi thời điểm cho ta hiểu thêm nhân cách thanh cao của người tử tù.
    Thái độ Huấn Cao trong những ngày đầu khi chưa thực sự hiểu được hành động của viên quản ngục thì hoàn toàn dửng dưng thậm chí là khinh bỉ, coi thường. Ông Huấn vẫn thản nhiên nhận rượu thịt, vẫn ăn uống bình thường thật hiếm có một người tù nào có thể ung dung ăn uống trước khi chết như ông. Đến một ngày đích thân viên quả ngục mang rượu thịt xuống với thái độ rất cung kính, lễ độ và xin hỏi ông có cần thêm gì không thì Huấn Cao coi thường và lạnh lùng đáp: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều. Là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây.” Đó chính là thái độ bất cần của người hùng khi cái chết không còn là điều đáng sợ. Ông luôn hiên ngang khí phách, không bao giờ chịu khuất phục trước quyền lực và quyền uy. “Ông Huấn đã đợi một trận lôi đình báo thù và tàn bạo của quan ngục bị sỉ nhục. Đến cái cảnh chết chém ông còn chẳng sợ nữa là những trò tiểu nhân thị oai này”. Huấn Cao đã chuẩn bị tinh thần cho tất cả mọi chuyện thường xảy ra trong chốn lao tù nhưng không giống như ông nghĩ viên quản ngục không hề có bất cứ một hành động nào y chỉ lễ phép lui ra với một câu: “Xin lĩnh ý” rồi từ hôm ấy rượu thịt vẫn được đưa đến như mọi ngày. Chính thái độ ấy, việc làm ấy của quan ngục khiến cho Huấn Cao băn khoăn không hiểu vì sao “viên quản ngục muốn dò đến bí mật của ta, nhưng không phải vì ông đã khai bên ti Niết cả rồi”. Như vậy không chỉ coi thường khinh bạc với quản ngục mà ông còn phải băn khoăn, suy nghĩ, để tâm để hành động biệt nhỡn, ưu ái của viên quản ngục. Thái độ ấy hoàn toàn hợp lí bởi Huấn Cao chưa hề hiểu về quản ngục hơn nữa giữa hai con người ấy lại có một hố sâu ngăn cách bởi một bên là tử tù chống lại triều đình còn một bên là viên quản ngục người đại diện cho quyền lực nhà nước, nên ông Huấn phải đề phòng những mánh khóe, thủ đoạn tiểu nhân thâm độc mà ông đã biết. Thái độ ấy không làm cho viên quản ngục tức giận, nổi nóng mà càng trân trọng, khâm phục người tài hơn bởi ông thừa hiểu người như ông Huấn “Những người chọc trời khuấy nước đến trên đầu người ta, người ta cũng chưa còn biết có ai nữa, huống chi cái thứ mình chỉ là một kẻ tiểu lại giữ tù”
    Vì là một người tử tù nên việc sớm muộn cũng bị giải ra pháp trường, sở nguyện của viên quản ngục là xin được chữ ông Huấn vẫn chưa thành nên ông lo lắng cho một ngày mai ông Huấn bị chém đầu thì thật đáng tiếc vô cùng, cả một đời ông sẽ phải hối hận. Thái độ của Huấn Cao bị đẩy lên một tình huống kịch tính khi “Một buổi chiều lạnh, viên quan coi ngục tái nhợt người đi sau khi đọc công văn”. Sáng sớm tinh mơ ngày mai ông Huấn sẽ bị giải đi nên quan coi ngục buộc phải dãi bày tâm sự, mong muốn của mình cho thầy thơ lại. Hắn hiểu chuyện nên đã đem nỗi lòng ấy kể lại cho người tử tù mong ông có thể hiểu cho tấm lòng say mê cái đẹp, quý trọng người tài của viên quản ngục. Ông Huấn đã thay đổi thái độ từ lạnh lùng bất cần đến mỉm cười hòa dịu, từ coi thường đến coi trọng, quý mến. Huấn Cao quyết định cho chữ_đây là một việc làm hiếm có trong đời, ông Huấn chỉ cho chữ ba lần là ba người bạn thân. Ông cảm động trước tấm lòng biệt nhỡn liên tài, biết thưởng thức và quý trọng cái đẹp của viên quản ngục nên trong câu nói “Thiếu chút nữa ta phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ” có chút ân hận và sự tự trách bản thân về thái độ và sự hiểu lầm của bản thân trước đó đối với viên quan coi ngục.
    Trong đêm hôm ấy một cảnh tượng cho chữ xưa nay chưa từng có đã diễn ra tại nhà giam, trong căn phòng chật hẹp, tăm tối và bẩn thỉu tương phản hoàn toàn với nét chữ thanh cao được viết ra bởi một tâm hồn thăng hoa của con người có thiên lương trong sáng. Huấn Cao và viên quản ngục giờ đây là những người bạn tri âm, tri kỉ trên lĩnh vực nghệ thuật. Một người có tài sáng tạo ra cái đẹp, còn một người biết trân trọng, thưởng thức yêu quý cái đẹp nên bất chấp sự nguy hiểm đến tính mạng chỉ mong có được chữ Huấn Cao. Cũng bởi yêu mến tính cách quản ngục mà ông Huấn đã dành cho ông ta lời khuyên chân thành về nhân cách làm người có thiên lương cao đẹp “Ở đây lẫn lộn. Ta khuyên thầy quản nên thay chốn ở đi…Ở đây khó giữ thiên lương cho lành vững và rồi cũng nhem nhuốc mất cái đời lương thiện đi”. Trước câu nói ấy viên quản ngục nhận ra vấn đề và “cảm động vái người tù một vái, chắp tay nói một câu mà dòng nước mắt rỉ vào kẽ miệng làm cho nghẹn ngào: “Kẻ mê muội này xin bái lĩnh”.
    Như vậy thái độ Huấn Cao đối với viên quản ngục được chuyển hướng tích cực điều đó là vô cùng hợp lí với tính cách, con người ông Huấn. Khi chưa hiểu được tấm lòng cao đẹp của quan ngục thì khinh thường bởi ông không bao giờ chịu khuất phục trước cường quyền, khi đã thấu nhân cách ấy khiến cho ông cảm động và quý trọng vô cùng. Qua sự thay đổi thái độ đó có ý nghĩa quan trọng với tác phẩm. Tác giả cho ta hiểu sâu hơn về phẩm chất của Huấn Cao không chỉ là một người hùng hiên ngang, bất khuất mà còn là một người tài hoa tài tử lại mang trong mình thiên lương trong sáng. Mặt khác cũng làm nổi bật lên con người của viên quản ngục rất biết nhìn người, quý trọng người tài và say mê, khao khát thưởng thức cái đẹp. Đúng như Nguyễn Tuân đã nhận xét về ông “âm thanh trong trẻo chen vào giữa một bản mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ”. Cả hai con người ấy đều rất đáng quý, đáng trọng và hiếm có ở trong một xã hội tàn khốc, vùi dập cái tài cái đẹp lúc bấy giờ. Nguyễn Tuân thật tài ba khi đã đặt hai con người ấy cạnh nhau để cùng hô ứng, bổ sung cho nhau để làm sáng ngời cái đẹp trong cuộc đời.

    Thái độ của Huấn Cao đối với viên quản ngục thật hợp tình hợp lí và có ý nghĩa, để lại dấu ấn trong lòng bạn đọc về con người mang vẻ đẹp của một thời vang bóng, ẩn sau cái tài cái đẹp của nhân vật là sự nuối tiếc, buồn đau của nhà văn cũng như là nỗi đau lớn của dân tộc khi những con người có phẩm chất tốt đẹp lại bị sự nghiệt ngã của chế độ, khắc nghiệt của xã hội vùi dập, hủy diệt.

    Bài văn mẫu 3

    Nguyễn Tuân, nhà văn suốt đời đi tìm cái đẹp đã bao lần chẳng quản ngại đến những vùng đất xa xôi, quay về “lục xới” cả một thời vang bóng để ghi lại những cảnh đẹp, người đẹp của đất nước mình. Trước Cách mạng tháng Tám – 1945 của thế kỉ trước, ông có mang trong mình chút u uất, chút ngông, chút tàn dư của thời đại cũ để “xê dịch” và khắc họa nên chân dung những con người tài hoa bất đắc chí. Trong đó phải kể đến Huấn Cao trong truyện ngắn Chữ người tử tù, tuýp nhân vật như thế được Nguyễn Tuân đưa lên trang sách của mình với bao niềm ngưỡng vọng, tiếc nuối và đầy ấn tượng. Một trong những điều ấy, phải kể đến cái cách Huấn Cao đối xử vô cùng đặc biệt với viên quản ngục. Đó còn được gọi là thái độ “bất thường” của một kẻ tử tù với một tên cai tù mà người đọc khó có thể quên.

    Nhà văn Nguyễn Tuân xây dựng cốt truyện Chữ người tử tù dựa trên một tình huống đầy éo le, kỳ lạ. Đó là cuộc gặp gỡ đặc biệt giữa Huấn Cao và viên quản ngục trong nhà tù phong kiến. Sẽ chẳng có gì đáng nói nếu chỉ nhìn nhận Huấn Cao – một kẻ cầm đầu phiến quân phản loạn chống lại triều đình, đã bị bắt và chờ ngày hành quyết và viên quản ngục – người đại diện cho bộ máy chính quyền chuyên chế của triều đình phong kiến lúc bấy giờ, tiếp nhận cai quản Huấn Cao và đồng phạm. Một kẻ tử tù, một người cai tù, hai địa vị, hai chiến tuyến hoàn toàn đối lập. Huấn Cao phải hoàn toàn phục tùng theo mệnh lệnh của viên cai ngục, bởi quyền sinh, quyền sát, mạng sống của ông Huấn đang nằm trong tay ông ta. Nhưng mọi chuyện lại không diễn ra như ý thông thường vậy. Khốn đốn thay, cái tên tử tù ấy lại là ông Huấn – người có tài viết chữ đẹp nổi tiếng cả một vùng tỉnh Sơn mà viên quản ngục bấy lâu nay vẫn ngưỡng mộ, vẫn ao ước có được chữ của ông Huấn để treo, thì coi như có được báu vật ở trên đời. Thật trớ trêu, ông Huấn ấy lại ở ngay cạnh mình, “dưới quyền” mình mà chẳng thể nào xin nổi chữ. Và chỉ khi tiếng gọi của cái đẹp cất lên, hai con người ấy mới xích lại gần nhau, xóa nhòa khoảng cách. Bởi vậy, cả thiên truyện là “cuộc rượt đuổi” đầy kịch tính của viên quản ngục và Huấn Cao. Mà ở đó, sự chuyển biến trong thái độ của ông Huấn đối với viên quản ngục là yếu tố quan trọng làm nên sự li kì cho tình huống truyện và độ kịch tính, hấp dẫn của cuộc gặp gỡ này.
    Ngay từ khi Huấn Cao chưa xuất hiện trực tiếp, mới chỉ là cái tên trên phiến trát về sáu tên tử tù mà viên coi ngục nhận được, đã tỏ ra là một người có khí chất, tài năng, không hề dễ dàng để viên quản ngục tiếp cận. Ông Huấn không chỉ nổi tiếng viết chữ đẹp, mà còn có tài bẻ khóa vượt ngục. Ở đây cốt cách phi phàm của ông Huấn khiến “kẻ mê muội” coi ngục này không thể suy nghĩ đến cách “trị tù nhân” như thông lệ thường ngày. Ông ta đã băn khoăn, đã “khổ sở” nghĩ thế nào để “biệt đãi” ông Huấn cho “phải phép”. Điều đó có nghĩa là viên coi ngục đã hiểu tính cách, bản lĩnh của Huấn và muốn thực hiện được ước mơ thì chỉ còn cách phải xem chừng thái độ ông Huấn.
    Đúng như những suy tính của viên quản ngục, ông Huấn xuất hiện chẳng giống như bao tên tử tù, phạm nhân khác. Kẻ chọc trời khuấy nước ấy chẳng sợ đến ai, thì cái nhà tù bé nhỏ và một tốp quân lính canh chừng này có đáng gì. Ông Huấn bước vào nhà lao với một thái độ hiên ngang, hùng dũng. Chẳng màng gì đến những tên lính áp giải tới mỉa mai, cũng không hề quan tâm đến vẻ mặt và cách nhận tù “hiền lành” trái hẳn ngày thường của viên quản ngục. Ông Huấn lạnh lùng dỗ mũi gông nặng xuống sàn đánh thuỳnh một cái, rồi sừng sững khiến cánh cửa đề lao phải mở rộng. Thái độ ấy là biểu hiện của sức mạnh, khí phách anh hùng, của một người khát vọng đổi thay đất nước. Điều đó tiếp tục là lời dự báo cho một thái độ sẽ hoàn toàn coi khinh đối với viên quản ngục của Huấn Cao.
    Và đúng là mọi sự diễn ra như những gì viên quản ngục dự tính. Ông Huấn cùng cộng sự đã nhận được sự biệt đãi đặc biệt từ ngục quan nhưng không hề hay biết lý do. Ông Huấn cũng chẳng buồn muốn biết lý do mà cứ thản nhiên nhận rượu thịt và coi đó là là cái hứng lúc bình sinh ông vẫn làm. Nhưng cũng không phải vì thế mà ông không băn khoăn. Ông cũng hoài nghi về ý đồ của ngục quan trong sự việc này. Hắn ta muốn điều gì từ ông? Khai cái gì thì ông cũng khai hết ở bên kia rồi. Và dù có lý do gì chăng nữa ông cũng không thể chấp nhận một kẻ luôn sống trong sự cặn bã, lọc lừa và bị coi là lũ quay quắt. Bởi thế câu trả lời dứt khoát đến sắc lạnh “Ta chỉ có một mong muốn là nhà người đừng bao giờ đặt chân vào đây nữa” của ông đã bộc lộ thái độ khinh bỉ ngục quan ở mức độ cao nhất. Chính bản thân viên quản ngục cũng chẳng dám sai lời. Cứ thế, họ cứ ở hai đầu xa cách, dù ngục quan muốn đến đâu không thể tiến sát đến gần ông Huấn được. Còn Huấn Cao tính tình vốn “khoảnh” và hoàn toàn không muốn có bất cứ điều gì liên quan đến ngục quan.
    Cuộc gặp gỡ bởi vậy mà càng ngày càng éo le, trắc trở và đi vào bế tắc. Nếu cứ tiếp diễn, chẳng bao lâu sau Huấn Cao bị hành quyết, viên quản ngục không bao giờ có cơ hội để thực hiện mong ước xin chữ của mình. Liệu Huấn Cao có thay đổi thái độ với viên quản ngục? Bao nhiêu lời tâm sự, ngục quan đành chia sẻ với thầy thơ lại – nhân vật được coi là sợi dây kết nối hai con người đối lập lại. Trong hoàn cảnh gấp gáp của thời gian, ông Huấn chỉ còn đêm nay, ngày mai là phải ra pháp trường. Viên quản ngục chỉ còn cách trông chờ vào thầy thơ lại. Rồi người đọc mang theo cảm xúc vỡ òa khi Huấn Cao nói lại: Nào ta có biết đâu một người như thầy Quản đây mà lại có những sở thích cao quý như vậy. Thiếu chút nữa, ta đã phụ mất một tấm lòng trong thiên hạ. Chỉ bởi một chữ tấm lòng ông Huấn đã hoàn toàn đổ gục và thay đổi cái nhìn của mình đối với viên quản ngục. Hóa ra ông ta như là một thanh âm trong trẻo chen lẫn giữa bản đàn mà nhạc luật đều hỗn loạn, xô bồ. Hóa ra ông ta là một thứ gì đó thuần khiết, tinh khôi giữa đống cặn bã và lũ quay quắt. Huấn Cao đã chẳng ngần ngại mà “trả nghĩa” tấm lòng biệt nhỡn liên tài hiếm có ấy.
    Vậy là từ ánh mắt coi thường, khinh bỉ, ông Huấn đã thực sự cảm động trước niềm say mê cái đẹp của ngục quan. Và ông sẵn sàng đáp trả lại nỗi niềm ấy bằng một cảnh tượng xưa nay chưa từng có. Một người tử tù cổ đeo gong, chân vướng xiềng xích tô đậm từng nét chữ, kẻ giữ tù thì khúm núm, run run đứng cạnh bên. Sự thay đổi thái độ này đã thực sự tạo ra một cuộc hoán đổi vị trí đầy ngoạn mục. Người sắp chết lại đi ban phát sự sống, còn kẻ vẫn sống lại như thể được sinh ra thêm một lần nữa. Giữa họ không còn địa vị xã hội, không còn hận thù mà chỉ còn những trái tim vì cái đẹp mà xích lại gần nhau. Việc ông Huấn có thái độ như vậy là minh chứng cho sự chiến thắng lớn lao của cái đẹp, cái thiện ngay giữa xào huyệt của cái ác, cái xấu, hay đó là chiến thắng của ánh sáng đối với bóng tối. Khoảnh khắc ông Huấn đưa ra lời khuyên với viên quản ngục về việc thay đổi chỗ ở để giữ gìn cho trong sạch cái thiên lương chính là sự thăng hoa của mối hòa giải giữa hai người. Ông Huấn đã từ bỏ cái lòng tự trọng của một bậc nho sĩ ngay thẳng, của một đấng anh hùng khí phách hiên ngang để đối đãi với một người cũng lĩnh hội được giá trị nhân sinh lớn lao của cái đẹp, cái thiện. Viên quản ngục đã sẵn sàng rũ bỏ chức tước, địa vị để đi theo tiếng gọi của thiên lương. Cái đẹp chính là căn nguyên của sự thay đổi thái độ của ông Huấn với viên quản ngục. Điều đó đã mang tới những ý nghĩa nhân văn cao đẹp, sâu sắc cho tác phẩm.

    Câu chuyện gặp gỡ của viên quản ngục và Huấn Cao kết thúc bằng giọt nước mắt đầy hạnh phúc. Đó là giọt nước mắt của niềm vui sướng khi thực hiện được ước mơ cao đẹp trong cuộc đời con người. Nhưng trên hết là chúng ta nhìn thấy một sự hòa nhịp giữa những tâm hồn đồng điệu. Để có một kết thúc có hậu ấy Nguyễn Tuân đã tạo nên những giây phút căng thẳng, kịch tích mà trước hết xuất phát từ sự thay đổi thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục. Chắc chắn, mỗi chúng ta cũng hồi hộp theo từng thay đổi trong sự chuyển biến ấy cũng đã tự rút ra cho mình những nhận thức có ý nghĩa nhân sinh về cái đẹp.

    Bài văn mẫu 4

    Nguyễn Tuân là một trong những nhà văn tiêu biểu nhất của nền văn học Việt Nam từ trước đến nay. Những tác phẩm của ông thường có nhiều thành công lớn về nghệ thuật. Bên cạnh bút pháp lãng mạn, thủ pháp tương phản,… nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng tạo một ấn tượng khó phai mờ, góp phần vào sự thành công của truyện ngắn. Điều đó được thể hiện sinh động qua tâm lí nhân vật chính của thiên truyện – nhân vật Huấn Cao, đặc biệt là diễn biến thái độ của ông đối với nhân vật viên quản ngục.

    Huấn Cao là nhân vật được xây dựng với tất cả niềm yêu mến, quý trọng của tác giả. Đó là một người anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất, tài hoa vô song “có tài viết chữ”, văn võ song toàn. Chỉ vì không chịu bị giam cầm trong xã hội nhiều bất công ngang trái mà cùng nhân dân khởi nghĩa chống lại triều đình. Kết cục, ông đành lỡ dở một đời tài hoa anh dũng, bị giam vào chốn ngục tù.
    Bằng nghệ thuật xây dựng nhân vật của mình, tác giả đã xây dựng lên không gian hết sức khác lạ, đó là ngục tù, chính tại chốn ngục từ này là nơi “lí tưởng” để diễn ra cuộc đối đầu giữa hai luồng tư tưởng – hai thế lực thù địch: một bên là những quan lại quản ngục đại diện cho chính quyền phong kiến thối nát, bảo thủ, tàn ác đương thời; một bên là những kẻ “nổi loạn”, những tên “giặc cỏ” – những người anh hùng vì bất mãn cường quyền mà đứng lên khởi nghĩa. Hiểu rõ điều đó hơn ai hết, ban đầu Huấn Cao đã tỏ rõ khí khái tiết nghĩa bằng thái độ coi thường miệt thị viên quản ngục. Nhưng hỡi ôi, sự đời vẫn vốn trái ngang như thế. Thối nát, bảo thủ, tàn ác là từ dùng cho ai kia, nó không hoàn toàn đúng với viên quản ngục tỉnh Sơn, nơi Huấn Cao bị giam.
    Xây dựng nhân vật viên quản ngục, người đọc tưởng chừng sẽ được gặp nhân vật trái ngược hoàn toàn với Huấn cao, ngược lạiViên quản ngục lại là một người có tấm lòng “biệt nhỡn liên tài” rất mến phục, sùng bái tài viết chữ đẹp của Huấn Cao và thực sự là kẻ còn lại chút “thiên lương”. Cùng với hình tượng nhân vật Huấn cao, viên quản ngục hiện lên thật đẹp, thật đáng khâm phục cho con người có tấm lòng cao đẹp. Dẫu ở giữ chốn quan trường hiểm ác, giữ cái sống và cái chết nhưng viên quan ngục vân thức tỉnh được lương tâm của mình.
    Sau khi nhận ra điều ấy, Huấn Cao bằng tất cả sự cao đẹp của nhân cách một nhà nho chân chính đã cúi mình xuống, nâng dậy và phủi bụi cho một linh hồn đang trên bờ vực của tội lỗi. Huấn Cao dành những dòng chữ cuối đời mình tặng cho viên quản ngục, dành tiếng nói nhân tình vọng lên từ sâu thẳm tâm hồn khuyên giải viên quản ngục nhắc ông quay về với thiên lương.
    Diễn biến thái độ ấy của Huấn Cao là một quá trình biện chứng phức tạp. Lần đầu tiên “ra mắt” những quản ngục tỉnh Sơn, Huấn Cao đã có một thái độ, việc làm đầy thách thức: “rỗ mạnh gông”. Trong cái “rỗ mạnh” rất tự nhiên ấy ẩn chứa một thái độ khinh bạc: gông cùm của các người có là gì? ta rỗ gông đuổi rệp, và các ngươi chẳng khác chi lũ rệp bám đen mặt đất kia. Vào trong nhà giam rồi, thái độ của ông vẫn không hề nhún nhường uốn mình hơn. Trong khi viên quản ngục vì tấm chân tình tội nghiệp mà hết lòng ưu ái cho ông và các bạn đồng chí thì ông luôn luôn ra mặt: “khinh bạc đến điều”. Khi viên quản ngục đến gặp ông trong nhà giam “khép nép” hỏi: “Ngài muốn gì xin cho biết tôi sẽ cố gắng chu cấp” thì lạnh lùng trả lời: “Ngươi hỏi ta muốn gì? Ta chỉ muốn có một điều là nhà ngươi đừng đặt chân vào đây”. Ông rất ung dung nơi bùn lấy khắc nghiệt ấy, thái độ này tất đã nằm trong toan tính của Huấn Cao: ông càng tỏ ra ung dung bao nhiêu càng tỏ lòng khinh bạc lũ “tiểu lại giữ tù” bấy nhiêu, chúng chằng hề làm ông lo sợ, chúng đang bị mất hết uy quyền.
    Có thể nói, thái độ trên đây của Huấn Cao đối với viên quản ngục là một tất yếu. Bởi ông chưa được rõ nỗi trái ngang trong số phận người quản ngục. Trong suy nghĩ của ông lúc này, hắn là đại diện cho cái chính quyền ông thù ghét: hắn là kẻ thù của ông. Mà Huấn Cao, con người ông đâu chỉ tài năng xuất chúng, ông còn tiêu biểu cho nhân cách và khí phách người anh hùng. Ông đã xả thân vì đại nghĩa, cái chết còn coi nhẹ như lông hồng thì sao lại sợ kẻ giữ từ hèn mọn? Ông là con người đầy tự trọng “Ta nhất sinh không vì vàng ngọc hay quyền thế mà ép mình (…) bao giờ”. Câu nói khẳng khái ấy khiến ta nghĩ đến ý thơ thanh cao của Cao Bá Quát “Nhất sinh đê thủ bái hoa mai”, hay cái nhếch mép “Coi khinh nghìn lực sĩ” của Lỗ Tấn hay cái ý niệm sâu xa “Người đàn ông chỉ có thể quỳ trong hai trường hợp: Để uống nước nguồn và để hái hoa”. Với một nhân cách cao khiết như vậy, trong mắt Huấn Cao, ông chỉ coi viên quản ngục là kẻ tiểu nhân lê bước theo cái chính quyền suy mạt ông căm ghét: tất thảy bọn chúng chỉ là kẻ đáng khinh, đáng coi thường mà thôi!
    Thái độ này của Huấn Cao càng khiến người đọc cảm phục ông hơn nữa. Không cúi đầu trước ác quyền, tà lực; biết ghét cái ác đến tận cùng, điều đó chỉ có ở những con người có cái tâm rực rỡ như ánh dương, sáng trong nhưnước ngọt đầu nguồn và thanh cao như bông mai đầu núi. Nếu câu chuyện đi theo chiều hướng ấy thì cũng đã rất hay. Nhưng ngòi bút Nguyễn Tuân không muốn tuân theo những thói thường của cuộc sống(ông là một nhà văn đầy cá tính mà!). Viên quản ngục của Nguyễn Tuân thực chất không giống những viên quản ngục thông thường. Ông lại là một tâm hồn nhiều uẩn khúc kì lạ. Hiểu rõ con người ấy, Huấn Cao lại có một thái độ khác hẳn, hoàn toàn ngược lại lúc ban đầu.
    Ông đã thấy ân hận vì “biết đâu một người như thầy quản lại có tấm lòng biệt nhỡn liên tài”, vì “thiếu chút nữa ta đã phụ một tấm lòng trong thiên hạ”. Do đó, dù là một người rất “khoảnh” “trừ chỗ tri kỉ, ông ít chịu cho chữ” thì nay, những dòng chữ cuối cùng của đời mình ông dành tặng người quản ngục. Chẳng những vậy, ông còn coi người ấy như chỗ tri âm đưa lời khuyên giải. Đoạn văn miêu tả cảnh cho chữ, ban lời trong tác phẩm gây nhiều niềm rung cảm cho người đọc, xứng đáng là một trong những áng văn đẹp nhất của văn học Việt Nam.
    Đó quả thực là “Cảnh tượng xưa nay chưa từng thấy”. Nguyễn Tuân đã tập trung bút lực, tài năng, và sự bay bổng vào cảnh này. Viết chữ, cho chữ, chiêm ngưỡng chữ thánh hiền… Cảnh tượng ấy vốn chỉ dẫn ra nơi thư phòng trang nghiêm, trịnh trọng của những người học rộng tài cao. Còn chốn ngục từ kia nơi “buồng tối chật hẹp, ẩm ướt, đầy mạng nhện, đất bừa bãi phân chuột phân gián tưởng chỉ là nơi tận đáy cùng xã hội nhơ nhớp tanh hôi”.
    Nhưng vào cái đêm khuya thanh vắng trước ngày Huấn Cao về kinh chịu tội, việc cho chữ thiêng liêng đã diễn ta tại nơi mịt mù tăm tối kia. Ở đây, người cho chữ là con nợ rất mực tài hoa, người nhận chữ là viên quản ngục – người mà xã hội vốn chỉ coi là kẻ đi bên lề cuộc đời sinh động cao cả này. Tâm thế người cho chữ – người tù trong sáng bay bổng thanh cao cùng cái đạo chữ thánh hiền mặc thể xác bị giam cầm “cổ đeo gông chân vướng xiềng”. Người quản ngục “run run” khúm núm như đối nhận sự gia ơn của người tử tù.
    Đêm sâu thăm thẳm, nhà lao âm u tĩnh mịch giữa đêm đen đặc quánh, sánh lại thứ âm khí tội lỗi, oan khiên tù ngục, bất ngờ rực lên ánh sáng của bó đuốc tẩm dầu đỏ rực bừng lên, “mùi mực tàu” thơm ngát. Ánh sáng của bó đuốc, mùi thơm của mực tàu hay chính là ánh sáng, hương thơm của nhân cách khí phách, của cái thần con chữ thánh hiền, ánh sáng rực rỡ của bó đuốc soi tỏ “ba cái đầu chụm lại” trên vuông lụa trắng tinh “còn nguyên vẹn lần hồ”. Cảnh tượng thiêng liêng và trang trọng quá! Bóng tối không làm tắt đi ngọn đuốc, màn đêm không phủ được màu trắng tinh của lụa, và sự hôi tanh của phân gián phân chuột không ngăn được mùi thực ngào ngạt tỏa lên ướp hương, tẩm vị vào tâm hồn con người.
    Cao, tiếng nói của cái đẹp…, tiếng nói khuyên con người về với các Thiện “ở đây lẫn lộn ta khuyên thầy… về quê không ở đây nhem nhuốc” cả tâm hồn nhân phẩm. Và người quản ngục chỉ có thể nghẹn ngào một tiếng “kẻ mê muội này xin bái lĩnh”. Vậy là cái Đẹp đã cảm hoá cái xấu, cái ác và nói như Đôtxtôiepki “Cái Đẹp đã cứu vớt nhân thế”. Không gian im lìm tĩnh mịch, nếu có âm thanh vang lên thì đó là tiếng nói của Huấn Lời khuyên chân tình của Huấn Cao “ở đây không phải chốn treo tấm lụa” còn khẳng định một điều: Cái Đẹp không thể sống chung, sống cùng, sống lần lộn với cái ác, cái xấu.
    Sau câu nói của Huấn Cao, không gian tĩnh lặng. Tĩnh lặng để cho cái Thiện, cái Đẹp bồi hồi ngân vang… Và khi ấy, Huấn Cao, người quản ngục, từ thế đối lập đã hòa vào nhau chỉ còn niềm tôn kính vô bờ trang trọng với cái Đẹp, cái Thiện của cuộc đời này.
    Sự thay đổi trong thái độ của Huấn Cao đối với viên quản ngục thực ra không có điều gì bất ngờ và phi li. Bởi thực tế Huấn Cao là người khí phách nhưng viên quản ngục không phải hoàn toàn xấu xa. Huống hồ họ lại gặp nhau nơi lòng yêu mến, tôn sùng cái Đẹp. Vì vậy, ta có thể hiểu con đường họ đi từ thế đối lập đến sự hòa hợp trong sự toả hương của con chữ thiên lương. Không chỉ vậy, trong nhân cách Huấn Cao, ông còn là con người đầy tinh tế, độ lượng, biết trọng người có thiên lương. Ông vì cảm một tấm lòng mà cho chữ kẻ tội đồ của cái Thiện. Nơi tù ngục, lúc cuối đời ông đâu ngờ lại gặp được một tâm hồn tri âm, tri kỉ!
    Miêu tả thành công diễn biến thái độ của Huấn Cao đối với viên quản ngục, Nguyễn Tuân đã tô đậm vẻ đẹp nhân cách cho nhân vật ông yêu mến. Đó thực là hình mẫu lí tưởng cho một con người tài hoa, khí phách, độ lượng – một biểu tượng hoàn mĩ cho cái Đẹp, cái Thiện. Qua sự đổi thay trong tâm lí nhân vật, nhà văn cũng khẳng định một điều: cái Thiện có thể sinh ra từ cái ác (thiên lương cho người quản ngục được ban tặng chốn ngục tù) nhưng không thể sống chung, sống lẫn lộn cùng cái ác (Huấn Cao từng khinh thường viên quản ngục vì nghĩ nhầm đó là kẻ ác rồi sau đó khuyên ông rời chốn lao tù thì mới bảo toàn được “thiên lương”).
    Huấn Cao là một hình tượng văn học hoàn mĩ đẹp đẽ nhất từ trước đến nay trong văn học nước nhà. Nhưng hình tượng ấy không hề cứng nhắc hoặc lí tưởng hóa trong ngòi bút của nhà văn. Ngược lại nó vô cùng sinh động bởi có một diễn biến tâm tư lôgic, biện chứng. Điều đó càng khẳng định thành công của Chữ người tử tù và thêm một lần ngợi ca tài năng có một không hai của tác giả Nguyễn Tuân trong nền văn học Việt Nam vốn hiếm những hình tượng văn học như thế.

    Huấn Cao trong chữ người tử tù hiện lên thật đẹp, thật đáng khâm phục. Dù trong hoàn cảnh khó khăn khắc nghiệt, cái chết cận kề nhưng vị anh hùng này vẫn chấp nhận, vẫn anh dũng kiên cường. Hình ảnh của nhân vật như là tấm gương cho thế hệ chúng ta suy nghĩ là làm theo.

  • 3 bài văn mẫu Cảm nhận của anh chị về nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ

    3 bài văn mẫu Cảm nhận của anh chị về nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ

    3 bài văn mẫu Cảm nhận của anh chị về nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:Văn mẫu: Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học

    Đề bài: Phân tích quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Đôi nét về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo
    – Trong tác phẩm, quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo được ngòi bút Nam Cao tập trung khắc họa một cách chân thực và rõ nét

    II. Thân bài
    1. Sơ lược về nhân vật Chí Phèo trước khi bị tha hóa
    – Hoàn cảnh xuất thân: không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dúi cũng không có
    – Tuy vậy, Chí vẫn giữ những phẩm chất tốt đẹp:
    + Là một con người lương thiện: đi ở hết nhà này đến nhà khác, cày thuê cuốc mướn để kiếm sống ⇒ làm ăn chân chính
    + Từng mơ ước giản dị về cuộc sống gia đình: có một ngôi nhà nho nhỏ, chồn cày thuê cuốc mướn… ⇒ Chí Phèo là một người lương thiện.
    + Có lòng tự trọng: Bà ba Bá Kiến gọi lên đấm lưng, bóp chân, Chí cảm thấy nhục ⇒ Là người có ý thức về nhân phẩm.
    2. Quá trình bị tha hóa
    – Sự kiện Chí Phèo bị bắt vào tù:
    + Vì Bá Kiến ghen với vợ hắn.
    + Chế độ nhà tù thực dân đã biến Chí trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”
    – Hậu quả của những ngày ở tù:
    + Hình dạng: “Cái đầu trọc lốc, hàm răng cạo trắng hớn, cái mặt thì câng câng đầy những vết sứt sẹo, hai con mắt gườm gườm”

    ⇒ Sự tha hóa về nhân hình
    + Nhân tính: du côn, du đãng, triền miên trong cơn say, đập đầu, chửi bới, phá phách và làm công cụ cho Bá Kiến
    ⇒ Sự tha hóa về nhân tính
    – Quá trình tha hóa của Chi Phèo: Đến nhà Bá Kiến trả thù ⇒ Chí mắc mưu, trở thành tay sai cho Bá Kiến
    ⇒ Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính, là điển hình cho hình ảnh người nông dân bị đè nén đến cùng cực
    3. Quá trình thức tỉnh
    a. Sự thức tỉnh sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở
    – Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở, lần đầu tiên Chí Phèo thực sự “tỉnh”
    + Bâng Khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài
    + Tỉnh để cảm thấy miệng đắng và “lòng mơ hồ buồn”
    + Cảm thấy “sợ rượu” ⇒ dấu hiệu của sự thức tỉnh rõ ràng nhất
    + Cảm nhận những thanh âm của cuộc sống: âm thanh của tiếng chim hót, tiếng người cười nói…
    + Hắn đủ tình để nhận thức hoàn cảnh của mình, để thấy mình cô độc
    ⇒ Cuộc gặp với Thị đã làm Chí Phèo thực sự tỉnh táo sau những cơn say triền miên
    – Niềm hi vọng của thời trẻ quay trở lại: mong muốn một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải; nuôi lợn, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng
    – Tình yêu với Thị Nở khiến hắn đủ hi vọng và mong ước có một gia đình: “Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”
    ⇒ Gặp Thị Nở, Chí Phèo đã trải qua những cảm xúc chưa hề có trong đời, đã thực sự “tỉnh” để yêu, để hi vọng, để mong ước
    b. Từ bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người đến sự thức tỉnh nhận rõ kẻ thù
    – Tình yêu bị ngăn cấm bởi bà cô thị Nở, nởi vậy, khi Thị Nở từ chối, Chí Phèo thất vọng và đau đớn: Hắn tìm đến rượu rồi “ôm mặt khóc rưng rức”
    ⇒ Mong muốn trở về làm người lương thiện không còn nữa, Chí đau đớn, tuyệt vọng
    – Hắn quyết định đến nhà thị Nở “để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó”.
    – Nhưng “hắn không rẽ vào nhà thị Nở mà thẳng đường đến nhà Bá Kiến và nói thẳng với Bá Kiến: Chí Phèo xác định đúng kẻ thù của mình
    – Câu hỏi: “Ai cho tao lương thiện”: thể hiện sự thức tỉnh rõ ràng nhất nhưng cũng là đau đớn nhất, Chí Phèo nhận ra rằng mình mong muốn trở về thành người lương thiện nhưng không thể nào được nữa
    ⇒ Hành động tự kết liễu thể hiện sự thức tỉnh rõ ràng nhất và cũng đau đớn nhất

    III. Kết bài
    – Khái quát những nét đặc sắc nghệ thuật góp phần thể hiện quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo: nghệ thuật khắc họa tâm lí, bút pháp hiện thực…
    – Liên hệ trình bày cảm nhận bản thân

    Bài văn mẫu 1

    Nam Cao là một trong những cây bút xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực Việt Nam. Những tác phẩm của ông không chỉ chứa đựng làm lượng hiện thực lớn mà còn sâu sắc về nhân đạo. Trong đời văn, ông để lại nhiều tác phẩm, nổi bật nhất là tác phẩm Chí Phèo viết về đề tài người nông dân. Tác phẩm vừa cho thấy sự tha hóa vừa cho thấy sự thức tỉnh của họ. Cho nên tác phẩm chứa được giá trị nhân văn, nhân đạo to lớn.

    Trước hết về quá trình tha hóa của Chí Phèo được Nam Cao mô tả hết sức logic và chi tiết : Chí Phèo từ người nông dân lương thiện, trở thành kẻ lưu manh và cuối cùng là con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
    Chí Phèo vốn là một đứa con hoang, bị mẹ bỏ rơi ở lò gạch cũ ngay từ khi mới sinh ra. Hắn lớn lên bơ vơ, đi ở hết nhà này đến nhà khác. Trưởng thành là một thanh niên cường tráng, Chí làm canh điền cho Bá Kiến – một cường hào trong vùng, nổi tiếng độc ác, nham hiểm. Bấy giờ Chí là một người lương thiện, hiền như đất và là người giàu lòng tự trọng. Bà ba bắt bóp chân hắn chỉ thấy nhục mà không hề thích thú. Bấy giờ mơ ước của Chí thật giản dị, nhỏ bé : chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải. Tuy nhiên, trong một lần Ba Kiến nổi cơn ghen vu vớ đã khiến Chí bị bắt vào tù. Nhà tù thực dân đã biến một người lương thiện trở thành một kẻ khác hắn, Chí rơi vào quá trình tha hóa, khi phần người bị nhà tù thực dân giết chết, tạo tác nên một tên lưu manh với hình hài gớm giếc. Bảy, tám năm ở tù đã khiến Chí biến đổi về nhân hình: cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, hắn mặc chiếc quần nái đen, phanh trước ngực là những hình xăm trổ. Ai nhìn thấy hắn cũng xa lánh, những lời hắn chửi mọi người vẫn luôn tự nhủ chắc nó chừa mình ra. Hắn làm tan nát biết bao gia đình, hắn sẵn sàng chửi bớt, đốt quán, rạch mặt ăn vạ,.. Tất cả mọi người đều xa lánh hắn.
    Không chỉ dừng lại là một kẻ lưu manh, dưới bàn tay quỷ quyệt của Bá Kiến, Chí Phèo còn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Bá Kiến đã từng bước một biến Chí Phèo thành công cụ giúp hắn gây thêm tội ác, chỉ cần Chí Phèo có hơi men trong người thì bất cứ việc gì hắn cũng có thể làm. Hắn tác quái cho bao nhiêu dân làng, phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổi bao nhiêu hạnh phúc… . Chí Phèo trượt dài trong vũng bùn tha hóa, tự tay Chí Phèo đã hủy hoại cả nhân hình và nhân tính của chính mình. Với quá trình tha hóa của Chí Phèo Nam Cao đã vạch trần bộ mặt độc ác, nham hiểm, nhẫn tâm của bọn địa chủ cường hào ở nông thôn, của nhà thù thực dân đã hủy hoại cuộc đời của một con người, đã đẩy Chí vào con đường lưu manh, tha hóa.
    Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, thì tác phẩm của Nam Cao lại không thành công và có giá trị sâu sắc đến vậy. Nam Cao đã tiếp tục dùng con mắt tin yêu của mình để nhận thấy bản chất lương thiện ẩn sâu bên trong lốt quỷ dữ kia. Sau đêm gặp gỡ với thị Nở, sáng tỉnh dậy lần đầu tiên sau khi ra tù Chí mới lắng lòng cảm nhận âm thanh của cuộc sống : tiếng chim hoát, tiếng người đi chợ,… những âm thanh vui vẻ đó đã đánh thức, kéo hắn ra khỏi chuỗi ngày dài trong u mê, tăm tối. Nhắc Chí nhớ về ngày trước và giúp Chí nhận ra sự thể thảm của bản thân trong hiện tại và tương lại là sự đói rét và cô độc. Sự nhận thức ấy chính là mốc đánh dấu sự thức tỉnh ý thức, nhân tính trong con người Chí.
    Để phần người ấy có thể thực sự trỗi dậy, sống lại còn phải cần đến một chất xúc tác quan trọng hơn nữa, đó chính là tình yêu thương thị Nở dành cho Chí Phèo. Chỉ là một bát cháo giản dị, nhưng Chí Phèo đi từ ngạ nhiên, đấy xúc động, đến hạnh phúc, bởi đời Chí Phèo chưa được ai cho cái gì bao giờ, và hắn cũng chưa từng được chăm sóc bởi bàn tay của một người đàn bà. Bát cháo hành đã đánh thức trong Chí khát khao lành mạnh, chân chính: Trời ơi ! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao và Chí gửi gắm mọi niềm tin vào thị Nở, đó sẽ là người mở đường cho Chí quay về hòa nhập với cộng đồng. Quả thật bằng sự yêu thương chân thành, mà thật giản dị cũng có thể cảm hóa một con người tưởng như đã ở đáy của sự tha hóa. Đó là niềm tin của Nam Cao vào sức mạnh cảm hóa của con người bằng tình yêu thương và sự chân thành.
    Nhưng sự xuất hiện của thị Nở chỉ như cầu vồng sau mưa, niềm tin tưởng của Chí không được bao lâu thì bị dập tắt hoàn toàn, khi Chí bị thị Nở cự tuyệt. Chí Phèo bấy giờ mới cay đắng nhận ra khoong thể làm mất đi những vết sẹo trên mặt và cũng không thể làm người lương thiện được nữa. Chí Phèo ý thức sâu sắc bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của mình. Không còn con đường nào khác, hắn giết Bá Kiến và tự kết liễu chính mình. Cái chết ấy là sự hủy diệt con quỷ ở nhân hình và để giữ lại phần nhân tính trong sâu thẳm Chí Phèo. Đồng thời cái chết của Chí Phèo cũng cho thấy khao khát mãnh liệt của người nông dân bị tha hóa muốn trở về làm người lương thiện.

    Quá trình tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo cho thấy giá trị hiện thực nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Vừa là tiếng nói tố cáo đanh thép xã hội vô nhân đạo, vừa là sự cảm thương cho số phận của những người nông dân lương thiện khi bị đẩy vào bước đường cùng. Đồng thời, thể hiện quá trình tha hóa của nhân vật cũng cho thấy nội lực sáng tạo nghệ thuật già dặn, cây bút sắc sảo, tạo nên một hình tượng nhân vật đa dang, nhiều chiều, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.

    Bài văn mẫu 2

    Viết về đề tài người nông dân đã có rất nhiều cây đại thụ thành công trên nhiều khía cạnh, đó là một thử thách lớn cho các nhà văn đến sau như Nam Cao nhưng với ý thức “Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có” mà tác phẩm “Chí Phèo” của ông vượt lên thử thách sống mãi với thời gian. Điều làm nên giá trị nổi bật nhất của tác phẩm là ở chỗ: “Khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân mà trái lại đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để khẳng định nhân phẩm của họ, ngay cả khi họ bọ xã hội cướp đi cả nhân hình, nhân tính”. Quá trình Chí Phèo bị tha hóa và thức tỉnh là một nét tiêu biểu minh chứng cho điều đó và có giá trị nhân văn sâu sắc. Một mặt vừa đanh thép tố cáo xã hội phong kiến trước năm 1945, một mặt khẳng định bản chất tốt đẹp của con người chỉ bị khuất lấp chứ không bao giờ bị bất đi.

    Chí bản chất vốn là một con người hiền lành, lương thiện ngay từ khi sinh ra đã “trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không” được một anh đi thả ống lươn nhặt được đem về cho người đàn bà góa mù. Người đàn bà này lại bán hắn cho bác phó cối, bác ta mất Chí bơ vơ sống như cây như cỏ đi ở hết nhà này nhà nọ. Đến năm hai mươi tuổi hắn làm canh điền cho Bá Kiến, trong nhà có bà ba vợ ông lí thường hay dở trò với hắn. Ông chồng thì vốn hay ghen nhưng lại sợ vợ nên tìm cách đẩy Chí vào tù ở những năm tháng hoài bão, khát vọng của chàng trai trẻ. Chính chế độ hà khắc của nhà tù thực dân phong kiến đã biến một anh canh điền trở thành một thằng lưu manh để cho thế lực hắc ám như Bá Kiến hoàn thành nốt công đoạn biến hắn thành một con quỉ.
    Quá trình tha hóa của Chí được bắt đầu sau bảy, tám năm đi ở tù nay hắn trở về làng Vũ Đại chẳng khác gì con quỉ dữ với ngoại hình “Trông đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Diện mạo bên ngoài của Chí được tác giả đặc tả qua mấy câu văn con người hắn hiện lên thật đáng sợ và quá khác biệt với trước đây. Chí không còn là anh canh điền hiền lành mà là một thằng đầu bò chính cống với hành động hung hãn, lời nói thô tục vừa về đến làng hôm trước hôm sau đã thấy ngồi uống rượu với thịt chó từ trưa đến xế chiều. Hắn say khướt rồi xách vỏ chai đến nhà Bá Kiến rạch mặt ăn vạ. Nhưng hắn bị Bá Kiến_kẻ xảo trá, quỷ quyệt thu phục chỉ bằng vài lời nói dối ngọt ngào, vài lời nịnh bợ để hắn nguôi ngoai cơn giận ra về. Để rồi lần thứ hai đến Chí không gây gổ, ăn vạ mà điệu bộ hiền lành như đất gãi đầu, gãi tai đòi Cụ Bá cho đi ở tù nhưng thực chất là đòi miếng ăn chỗ ở-nhu cầu chính đáng của con người. Mục đích và yêu cầu ấy thật đáng trân trọng nhưng một lần nữa lại bị Bá Kiến lợi dụng biến Chí thành tay sai đắc lực là tên chuyên đi đòi nợ cho hắn. Kể từ đó cuộc đời của Chí triền miên trong cơn say “Những cơn say của hắn tràn cơn say này sang cơn say khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say,…” mà trong lúc say thì hắn có thể làm bất cứ cái gì mà người khác sai bảo. Chính điều đó đã biến hắn trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” “Phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện” hắn đã khiến cho “tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi khi hắn đi qua”. Chị Dậu dù phải bán con bán chó bán sữa nhưng quyết không bán lương tâm, nhân phẩm đạo đức còn Chí bán cả linh hồn cho quỷ dữ. Vạch ra một cách logic quá trình lưu manh tha hóa của Chí Phèo- hiện tượng độc đáo cho dòng văn học hiện thực tố cáo xã hội phong kiến nửa thuộc địa tàn nhẫn bất công, chà đạp lên tinh thần và thể xác của lao động nghèo khổ, đẩy họ đến bước đường cùng.
    Tưởng rằng những tháng ngày sau đó của Chí vẫn chìm đắm trong men say, sống mãi với kiếp thú vật nhưng Nam Cao là một nhà văn giàu tình thương, có tấm lòng nhân đạo lớn ông không nỡ cho nhân vật của mình say mãi mà không có phút giây tỉnh để làm người. Chính vì vậy nên ông đã để thị Nở-người con gái quá lứa lỡ thì, xấu ma chê quỷ hờn đến đưa Chí ra khỏi cơn say, đánh thức lương tri làm người bị khuất lấp đã lâu trong con người hắn. Đêm hôm ấy khi uống rượu dưới nhà tự Lãng say mèm trên con đường về nhà hắn gặp thị “Một người đàn bà ngồi tênh hênh”. Với bản năng của một người đàn ông và trận ốm lúc nửa đêm cùng bát cháo hành và tấm lòng của thị đã thức tỉnh phần người bấy lâu bị vùi lấp ở Chí.
    Từ khi đi ở tù về đây là lần đầu tiên Chí hết say và tỉnh táo để nghĩ về quá khứ, tương lai và cảm nhận âm thanh của cuộc sống. “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”. Những âm thanh quen thuộc ấy ngày nào chả có cớ sao hôm nay hắn mới để ý bởi đây là lần đầu tiên hắn tỉnh, lần đầu tiên hắn biết sợ rượu như người ốm sợ cơm. Chí khi ấy nhận thức được bản thân mình đã ở cái dốc bên kia của cuộc đời, hắn đã già mà vẫn còn cô độc và cơ thể như đã bị hư hỏng nhiều, tương lai cuộc sống mờ mịt bởi hắn đã chịu quá nhiều bất hạnh. “Chí Phèo như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Nam Cao đã đi sâu vào nội tâm của nhân vật không ngờ con quỷ dữ ấy cũng có ngày biết nghĩ biết sợ trước cho tương lai của mình. Chí đang dần hồi sinh kiếp người hắn nghĩ lại ngày xưa cũng đã từng có một thời mơ ước cuộc sống của người nông dân “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Chí đã từng mơ về một hạnh phúc gia đình bình dị như thế nhưng đã bị bọn địa chủ cường hào chà đạp, vùi dập để cho giờ ngẫm lại thấy nuối tiếc vô cùng.
    Thị Nở xuất hiện với tấm lòng nhân ái cùng bát cháo hành đã khiến cho Chí từ ngạc nhiên, xúc động đến khao khát hoàn lương. Nếu như cuộc tiếp xúc đầu tiên với một cô gái để lại cho Chí ít nhiều rung cảm thì bát cháo hành tình yêu và sự săn sóc của thị khiến đã trở thành liều thuốc giải độc và chữa lành cơn sốt bất thường trong người Chí, chữa lành cả tâm hồn đã bị bóp méo để rồi giờ đây Chí khao khát được làm người lương thiện “Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Hắn thấy mắt hình như ươn ướt, đó là một điều đơn giản và dễ hiểu bởi đây là lần đầu tiên hắn được săn sóc bởi một tay “đàn bà”. Hắn ân hận thấy lòng thành trẻ con muốn làm nũng với thị như với mẹ. Sao hắn hiền đến thế khác hẳn với một thằng Chí mà bao người vẫn sợ thường ngày. Bản chất con người lương thiện đã trỗi dậy lấn át đi con quỷ dữ. Để từ đó hắn khao khát có một hạnh phúc gia đình “Giá như thế này mãi thì thích nhỉ” đây là một câu tỏ tình xuất phát từ một trái tim chân thành, thuần phác, giản dị không hoa mĩ cầu kì trong ngôn từ. Chí đang ngẩn người nghĩ và mơ về tương lai của hạnh phúc có thị. Chí sẽ chấm dứt cuộc sống cô độc và tàn nhẫn bắt đầu lại đời người khi còn chưa muộn. Nam Cao quả là nhà nhân đạo chủ nghĩa của dòng văn học hiện thực dù cho khoảng thời hạnh phúc ấy ngắn ngủi trong năm ngày đếm trên đầu ngón tay nhưng đã cho thấy giá trị đạo đức tốt đẹp của con người chưa bao giờ bị mất đi có chăng chỉ là bị khuất lấp, vùi dập và chỉ cần có cơ hội nó sẽ trỗi dậy để sống lại làm một người lương thiện tử tế.
    Đặc biệt là đỉnh cao của sự thức tỉnh nằm ở cuối tác phẩm với hành động cầm dao đâm chết Bá Kiến và tự sát khi Chí bị thị Nở từ chối, bị xã hội cự tuyệt quyền làm người. Chí lựa chọn cái chết cho mình và kẻ thù là khi hắn thức tỉnh, ý thức nhân phẩm đã trở về hắn không chấp nhận được kiếp sống quỷ dữ, thú hoang nên phải kết liễu nó để làm lại cuộc đời. Nút thắt của câu chuyện đã được tháo gỡ bởi án mạng hai xác chết để lại ám ảnh cho độc giả. Như vậy Chí thức tỉnh không chỉ ở những ngày hạnh phúc mà còn là khoảnh khắc đau đớn, tuyệt vọng và căm uất vô cùng.
    Viết về quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo ngòi bút của Nam Cao như vừa khơi sâu vào hiện thực vừa mang nét trữ tình đặc sắc. Nhà văn đã khắc họa ngoại hình và lột tả thế giới nội tâm nhân vật thật tài tình, ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân để lại ấn tượng trong lòng độc giả về một tên Chí Phèo lưu manh nhưng vẫn khao khát làm người lương thiện.

    Quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo có giá trị nhân đạo sâu sắc Nam Cao đã khẳng định bản chất lương thiện và khao khát hạnh phúc là bản tính tự nhiên tốt đẹp tồn tại mạnh mẽ trong tâm hồn con người không bao giờ bị hủy diệt ngay cả khi con người ta bị tha hóa bị đẩy vào mức đường cùng nhưng chỉ cần có cơ hội là trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt. Qua đó cũng cho ta bài học nhận thức sống trên đời cần có sự quan tâm chia sẻ và dành cho nhau tình yêu thương bởi tình yêu thương làm cho người gần người hơn và có thể cảm hóa những trái tim, tâm hồn đang lầm đường lạc lối trở về con đường chính đạo.

    Bài văn mẫu 3

    Năm 1941, Nhà xuất bản Đời mới cho ra đời truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi”. Năm 1946, truyện được tái bản, Nam Cao đổi tên truyện thành “Chí Phèo”. Đó là một truyện ngắn độc đáo viết về đề tài nông dân trước cách mạng. Nam Cao không nói vể tô tức, sưu thuế, mà đi vào hiện tượng lưu manh hoá ở nông thôn. Qua cuộc đời của nhân vật Chí Phèo, tác giả đã sáng tạo nên một bức tranh xã hội chân thực về đời sống khổ cực và thê thảm của người dân cày và nông thôn Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.

    Với cảm quan hiện thực sắc sảo, với trái tim nhân hậu thiết tha, với hiểu biết sâu sắc về nông thôn, Nam Cao đã thể hiện một cách xúc động con đường bị tha hoá của nhân vật Chí Phèo, tạo nên giá trị tố cáo xã hội của tác phẩm đầy ám ảnh.
    Làng Vũ Đại, cái đất “quần ngư tranh thực” đã nở ra một Chí Phèo. Hắn sinh ra đã khổ rồi. Không cha mẹ, không một tấc đất cắm dùi, tứ cố vô thân. Tuổi thơ hắn vồ cùng đau khổ, đầy bất hạnh. Năm 20 tuổi, Chí Phèo làm canh điền cho bá Kiến. Vợ ba bá Kiến đã bắt hắn “bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy…” mà Chí Phèo bị giải huyện, phải đi tù bảy, tám năm trời.
    Nhà tù thực dân đã biến anh canh điền hiền lành, cục mịch thành một tên lưu manh ngổ ngáo. Mặt hắn thay đổi đáng sợ “trông đặc như thẳng sắng đá”. Cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, Cjậ mặt thì đen mà rất cơng comg, hai mắt gườm gườm, ngực và cánh tay chạm trổ rồng phượng, với ông tướng cầm chuỳ, trông gớm chết! Sự thay đổi của Chí “khắc hẳn”, đến nỗi cả dân làng Vũ Đại, mới đầu “chẳng ai biết hắn là ai”. Năm đó Chí Phèo 27 hay 28 tuổi gì đó.
    Về làng hôm trước thì hôm sau Chí Phèo ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều. Say khướt, hắn cầm một cại vỏ chai đến thẳng nhà bá Kiến “gọi tên tục ra mà chửi”, “chửi sướng miệng!’, “chửi ngoa ngoắt” làm sao! Cả làng Vũ Đại xưa nay đã có ai dám chửi bá Kiến như Chí Phèo? Lí Cường và Chí Phèo đã đấm, đã đá nhau “bình bịch”. Chí đập vỏ chai vào cột cổng, rạch mặt kêu làng. Hắn lăn lộn dưới đất “máu ra loe loét”. Cả làng Vũ Đại kéo đến xem. Như bị người ta cắt họng, hắn vừa chửi vừa kêu làng: “ôi làng nước ơi,bố con thằng bá Kiến nó đâm chết tôi!” . Bá Kiến một tên cường hào “khôn róc đời”, biết “mêm nắn rắn buông” đã xử nhũn với Chí. Cụ bá “thân mật” mời Chí vào nhà chơi. Cụ cho Chí biết là hắn “có họ” với lí Cường. Cụ giết gà, thết rượu, đãi thêm một đồng bạc để Chí uống thuốc. Hành động của Chí vừa mang tính chất rửa hận, trả thù, vừa mang tính chất côn đồ, nên hắn thấy hắn “cũng oai”, dám “độc lực chọi nhau” với cha con bá Kiến, bốn đòi làm tổng lí “khét tiếng” trong làng huyện. Hình ảnh Chí Phèo từ nhà bá Kiến ra về “loạng choạng vừa đi vừa cười”, hắn nghĩ đến bài thuốc dấu với vài nắm lá, là cái mặt hắn lại đâu vào đấy ngay, còn đồng bạc để uống rượu – cho ta thấy tính chất lưu manh của một anh nông dân ngu dốt đã bị tha hoá.
    Bốn ngày sau tiêu hết đồng bạc, Chí Phèo gây ra bao chuyện “động trời” ghê gớm. Hắn đốt quán mụ bán rượu… Hắn bốc của cô hàng xén một dúm muối trắng. Hắn vạn ba bốn quả chuối xanh của nhà nào đó. Hắn ngồi uống rượu với chuối xanh chấm muối và thấy rằng cũng ngon. Hành động ăn cướp ấy, cách ngồi uống rượu ấy ở cái miếu con tại bờ sông cho thấy Chí Phèo đã là một tên lưu manh rồi. Hắn đang đi tiếp con đường của Năm Thọ, của Binh Chức. Lần thứ hai, sáu ngày sau đi tù về, Chí Phèo lại đến nhà bá Kiến, với con dao nhọn và sắc bỏ trong túi áo, với “cái mắt thì ngầu lên, hai chân thì lảo đảo, cái môi bầm lại mà run bần bật”. Chí Phèo gặp cụ bá để “xin đi ở tù”, vì “từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích ở tù”. Hắn nói là phải đâm chết dãm ba thằng, để cụ Bá bắt hắn giải huyện! Chí cho biết “đi tù sướng quá” vì đi tù “còn có cơm để mà ăn..”. Nhà văn Nam Cao đã phản ánh cay đắng tột cùng của một bộ phận nông dân trong xã hội cũ đã bị chính quyền thực dân phong kiến đẩy họ và con đường lưu manh hoá. Muốn sống chỉ có một con đường: lưu manh, ăn cướp! Với một tiếng cười “khanh khách” – cái cười Tào Tháo, với cái “vỗ vai” và một câu nói khích, bá Kiến đã sai được Chí Phèo cầm dao đến nhà đội Tảo “một tay vai vế trong làng” để đòi nợ 50 đồng bạc cho cụ.
    Chẳng phải giao tranh đổ máu, chỉ bằng mấy tiếng chửi phủ đầu, Chí đã đòi được món nợ mà đội Tảo toan “vỗ tuột”. Chí Phèo “vênh vênh”, tự thấy “oai thêm bậc nữa”, hắn tự đắc: “Anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta!”. Năm đồng bạc thưởng, năm sào vườn ở bãi sông mới cắm thuế của một ngưòi làng, cụ bá đã ban cho Chí Phèo. Và hắn đã trỏ thành “anh đầy tớ chân tay mới” của bá Kiến. Vốn vô học, đầu bò, lưu manh, Chí Phèo đã bị bá Kiến dụ dỗ mơn trớn, mua chuộc bằng vật chất, hắn bị tha hoá, trượt dài trên con đường tội ác và tội lỗi.
    Từ đó trở đi, bàn tay Chí Phèo vấy đầy máu. Người ta đầu độc hắn bằng rượu. Hắn trở thành kẻ đâm thuê chém mướn, phá bao nhiêu cơ nghiệp, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện – Cuộc đời hắn giờ đây là những cơn say dài mênh mông, vô tận “hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy hãy còn say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới, doạ nạt trong lúc say..”. Cái mặt của Chí Phèo thật đáng sợ, như mặt của một con vật lạ, vằn dọc vằn ngang biết bao nhiêu là sẹo, “vàng vàng… xạm màu gio”. Cái thẻ biên tên hắn, hắn cũng không có. Hắn thuộc hạng lưu tán, người ta khai hắn “lâu nám không về làng”. Hắn không nhớ tuổi hắn, và “hắn không cỏn ngày tháng nữa”. Chí Phèo trở thành một kẻ điên khùng, gần như mất trí. Hắn vừa đi vừa chửi, cứ rượu xong là hắn chửi. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi những ai không chửi nhau với hắn. Hắn chửi “đứa chết mẹ nào thân hắn” cho hắn khổ! Con đường tha hoá của Chí Phèo chỉ trong vòng hơn mười năm trời và hắn đã trờ thành một con quỷ dữ, rất ghê tởm. Tất cả dân làng “đểu sợ hắn” và “tránh mặt hắn” mỗi lần hắn qua! Cái chế độ thực dân phong kiến, mà kẻ chủ mưu là tên cường hào xảo quyệt bá Kiến đã cướp đi cả hình người, cả lình hồn người của Chí!
    Chí Phèo đã đi tiếp con đường của những quỷ dữ.
    Năm đó, Chí Phèo 38 hay 39, 40 hay ngoài 40? Mọi chuyện khủng khiếp cuộc đời của Chí diễn ra trong vòng sáu ngày đêm. Bắt đầu từ một đêm trăng rằm “ánh trăng chảy trên đường trắng tinh”. Chí Phèo bất ngờ đến nhà Tự Lãng, một anh goá vợ làm nghề hoạn lợn kiêm thầy cúng. Hai đứa ngồi uống rượu dưới ánh trăng, hết ba chai, như “một đôi tri kỉ cuồng”… Chính đêm trăng đó, Chí Phèo đã ôm lấy thị Nở mà làm tình, khi thị đang “há hốc” mồm ngủ dưới trăng. Chính đêm ấy, Chí Phèo bị cảm rất nặng. Mắt hoa lên. Chân tay thì lẩy bẩy. Mửa thốc, mửa tháo, mửa ồng ộc… Bát cháo hành và bàn tay săn sóc của thị Nở đã làm cho hắn cảm động, hắn bâng khuâng buồn, gần như là ăn năn. Bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi, nay được đánh thức dậy. Lâu nay, hắn doạ nạt, cướp giật mới có ăn. Lần đầu tiên, Chí được một người đàn bà săn sóc. Chí “thèm lương thiện”, hắn muốn “làm hoà” với mọi người. Hắn cũng muốn với thị Nở “làm thành một cặp rất xứng đôi”. Trận ốm cũng đã làm cho Chí thay đổi cả về sinh lí lẫn tâm lí nữa? Lần đầu tiên hắn nhớ lại mơ ước bình dị, lương thiện thời trai trẻ muốn “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải..”.
    Sau năm ngày đêm Chí Phèo với thị Nở sống với nhau như vợ chổng, thị Nở “đừng yêu” để thị hỏi bà cô thị đã. Bà cô thị xỉa xói thị, không cho thị lấy một kẻ chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ! thị Nở đã trút mọi bực dọc lên mặt nhân ngãi. Chí Phèo bị đẩy vào hố thẳm của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Hắn tức quá, muốn đâm chết “cái con khọm già”. Hắn uống đến say mểm “rồi hắn đi!”. Với một con dao ở thắt lưng, Chí Phèo đến thẳng nhà bá Kiến chứ không đến nhà thị Nở! Lần thứ ba, Chí Phèo đến gặp bá Kiến, không phải để xìn tiền mà đòi lương thiện, hắn “không thê là người lương thiện nữa”, “làm thế nào chó mất được những vết mảnh chai trên mặt này?”. Đó I là những tiếng kêu đau đớn, uất hận, hãi hùng! Muốn được làm người lương thiện mà không ai cho, mà không thể được, cái bi kịch‘ấy của Chí Phèo thật khủng khiếp, đáng sợ! Kẻ bất lương muốn hoàn lương đã khó. Quỷ dữ làm sao có thể thành người lương thiện được? Chí Phèo chỉ còn một cách là đâm chết bá Kiến, kẻ làm hại đời anh, rổi tự sát! Cái chết cửa Chí Phèo là cái chết đầy bi kịch, cái chết khủng khiếp, đáng thương của một nông dân nghèo khổ, ngu dốt, bị XÔ đẩy, bị mua chuộc và bị đầu độc vào con đường tha hoá, lưu manh, tội lỗi không có lối thoát.
    Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo thành nhân vật điển hình vể sự thống khổ, lưu manh hoá, chết trong bi kịch thảm thương hãi hùng cửa một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân phong kiến. Năm Thọ đi biệt tăm, Binh Chức đã chết, Chí Phèo đã tự sát, nhưng cái lò gạch cữ vẫn còn, thị Nở đã thấy thoáng hiện ra… một Chí Phèo con sẽ ra đời. Cái xã hội ấy có bao giờ hết được những kẻ như Chí Phèo?

    Qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã tố cáo và lên án cái xã hội thực dân phong kiến đã xô đẩy những người nông dân lương thiện vào con đường lưu manh, tội lỗi, đã cướp đi của họ cả hình người lẫn tính người. Truyện đã dựng nên một bức tranh hiện thực đen tối đầy máu, nước mắt và tội ác. Truyện “Chí Phèo” thấm đượm một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Nó như một tiếng kêu thương: hãy xoá bỏ tận gốc mọi cái ác để cứu lấy con người, để người nghèo được làm người lương thiện, được sống trong lương thiện.

     

  • Văn mẫu: Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học

    Văn mẫu: Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học

    Văn mẫu: Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:Văn mẫu: Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)

    [toc]

    Top 15 bài Nghị luận văn học, dàn ý Viết bài làm văn số 5 lớp 11 hay nhất
    Phần Viết bài làm văn số 5: Nghị luận văn học Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, nghị luận, cảm nhận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. 3 bài văn mẫu Cảm nhận của anh chị về nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ
    2. 4 bài văn mẫu Phân tích thái độ của nhân vật Huấn Cao đối với viên quản ngục
    3. Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 1)
    4. Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 2)
    5. Phân tích quá trình tha hóa của Chí Phèo (Bài văn mẫu 3)
    6. Bài văn mẫu Phân tích quá trình bị tha hóa của nhân vật Chí Phèo
    7. Dàn ý Phân tích nghệ thuật trào phúng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
    8. Nghệ thuật trào phúng trong Hạnh phúc của một tang gia
    9. 5 bài văn mẫu Phân tích nghệ thuật trào phúng qua đoạn trích Hạnh phúc của một tang gia
    10. Người xưa có câu: “Đàn bà chớ kể Thúy Vân, Thúy Kiều”
    11. Cảm nhận của anh (chị) về hình tượng nhân vật Chí Phèo (2 Bài văn mẫu)

  • Màu sắc Nam Bộ trong truyện Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Màu sắc Nam Bộ trong truyện Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Màu sắc Nam Bộ trong truyện Những đứa con trong gia đình hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]p

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 3 bài Cảm nhận về tác phẩm Những đứa con trong gia đình hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Màu sắc Nam Bộ trong truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi.

    Bài văn mẫu

        Truyện “Những đứa con trong gia đình” của Nguyễn Thi là khúc tráng ca của tuổi trẻ miền Nam anh hùng thời đánh Mĩ.

        Một trong những nét đặc sắc về nghệ thuật là Nguyễn Thi đã tạo nên màu sắc Nam Bộ, một dấu ấn tuyệt đẹp mà độc giả dễ dàng nhận thấy.

        Màu sắc Nam Bộ biểu hiện rõ nhất là ở cảnh vật được miêu tả, ở sự việc được nói đến, ở tính cách và ngôn ngữ nhân vật được khắc hoạ (má Tư Năng, chú Năm, chị Chiến, Việt,…)

        Cảnh tượng chiến trường ở nơi nào, ở thời nào chẳng giống nhau, nhưng dưới ngòi bút của Nguyễn Thi, chiến trường sau tiếng bom rền đạn réo lại có nét riêng, rất Nam Bộ. Giữa đồng không mông quạnh “một sự vắng từ trên trời lao xuống…”, “tiếng dế gáy u u caovút mãi lên” giữa đêm sâu thăm thẳm. Chính giữa không gian ấy, người chiến sĩ bị thương nặng, lạc đơn vị mới cảm thấy rõ nhất mình đang trở về kỉ niệm tuổi thơ, mình đang sống giữa quê hương (một nơi trên vùng đồng bằng Nam Bộ): “Bóng đêm vắng lặng và lạnh lẽo bao trùm lấy Việt, kéo theo đến cả con ma cụt đầu vẫn ngồi trên cây xoài mồ côi và thằng chỏng thụt lưỡi hay nhảy nhót trong những đêm mưa ngoài vòm sông, cái mà Việt vẫn nghe các chị nói hồi ở nhà, Việt nằm thở dốc…”.

        Ngôi nhà má Tư Năng cũng như hàng ngàn hàng vạn mái nhà của bà con khắp vùng Hậu Giang, Tiền Giang, Bạc Liêu, Bến Tre… ở cạnh các vàm, các kênh, bao trùm bởi màu xanh của rặng bần, của khóm đước, mà người Bắc rất dễ nhận ra: “Nhà day ra cửa sông, trong đêm vui náo nức này, đom đóm từ ngoài rặng bần cũng kéo vào đầy nhà. Chúng bay chớp chớp như dò trên nóc rồi sà xuống mặt Việt”.

        Màu sắc Nam Bộ được thể hiện ở những vật dụng, ở cái gia tài của má Tư Năng để lại. Đó là “năm công ruộng hồi trước mấy chú cấp cho ba là “hai công mía để dành làm đám giỗ ba má”, là những thứ làm ăn của nhà nông nghèo khó, lam lũ: nồi, lu, chén, đĩa, cuốc, vá, đèn soi mà chị em Việt sẽ gửi lại chú Năm, trước khi đi đánh giặc.

        Cảnh đêm tòng quân của tuổi trẻ vùng đồng bằng Nam Bộ vui như ngày hội, bà con cô bác cả xã kéo đến, “đèn sáng rực”, hai chị em Chiến và Việt tranh giành nhau, làm cho anh cán bộ “đã cầm viết rồi lại đặt xuống”, chú Năm phải “nheo mắt nhìn” đứng ra phân xử: “Hai đứa cháu tôi nó một lòng theo Đảng như vậy, tôi cũng mừng. Vậy xin trên cứ ghi tên cả hai.Việc lớn ta tính theo việc lớn còn việc thỏn mọn trong nhà tôi thu xếp khắc xong”. Đó là tấm lòng, là ý nghĩ, là cách nói chất phác của bà con cô bác nơi miệt vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long.

        Cảnh hổn chiến giữa ta và giặc, cảnh tấn công như vũ bão của quân ta, qua sự lắng nghe, sự cảm nhận của Việt vừa hồi tỉnh sau cơn mê cũng mang nét rất riêng của Nam Bộ thời đánh Mĩ: “Việt ngóc dậy. Rõ ràng không phải tiếng pháo lểnh lảng của giặc. Đó là tiếng nổ quen thuộc, gom vào một chỗ, lớn nhỏ không đều, chen vào đó là những dây súng nổ vô hồi vô tận. Súng lớn và súng nhỏ quyện vào nhau như tiếng mõ và tiếng trống đình đánh dậy trời dậy đất hồi Đồng khởi”.

        Màu sắc Nam Bộ được thể hiện rõ nhất ở tính cách và ngôn ngữ của các nhân vật như má Tư Năng, chú Nãm, của Chiến, Việt.

        Hình ảnh má Tư Năng dẫn đàn con đi đòi đầu ba, hình ảnh má Tư Năng hiên ngang, thách thức: “Vợ Tư Năng đây!” khi đứng trước mũi súng và lời hăm dọa của lũ giặc: “Vợ Tư Năng đâu?”. Bọn lính bắn vọt qua đầu má, má đưa hai bàn tay to bản phủ lên đầu đàn con đang nép dưới chân. Má chèo xuồng, mà đi làm thuê, mà đi đấu tranh chính trị, má coi thường cái chết, vì má tin một cách mộc mạc, giản dị rằng “người chết có cái vui của người chết, nếu không, người ta sanh con ra làm gì?”. Hình ảnh má Tư Năng làm ta nhớ đến câu nói: “Còn cái lai quần cũng đánh” của chị út Tịch trong “Người mẹ cầm súng”.

        Cái cuốn sổ ghi bao việc “thỏn mỏn” trong gia đình bằng thứ chữ “lòng còng”. Chuyện thím Năm, ông nội, bác Hai, tía của Việt… bị giặc giết như thế nào, các chiến tích của ông nội, của thằng Hai, của chị em Việt, chú đều ghi rõ. Cuốn sổ ấy là truyền thống cách mạng của gia đình má Tư Năng, cũng là của hàng vạn gia đình nông dân Nam Bộ trong suốt ba mươi năm trời đánh Pháp, đánh Mỹ.

        Nguyễn Thi có tài sử dụng một số chi tiết nghệ thuật bắt nguồn từ hiện thực cuộc sống, nâng lên tầm khái quát, tô đậm màu sắc Nam Bộ. Tiếng hò của chú Năm là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc, độc đáo của Nguyễn Thi tạo dựng nên. Giọng hò của chú Năm “đục và tức như gà gáy”. Đã nhiều lần chú cất giọng hò. Trước bữa cúng má Tư Năng, chị em Việt Chiến sắp lên đường ra trận, chú Năm cất giọng hò: “Câu hò nổi lên giữa ban ngày, bắt đầu cất lên như một hiệu lệnh dưới ánh nắng chói chang, rồi kéo dài, từng tiếng một vỡ ra, nhắn nhủ, tha thiết, cuối cùng ngắt lại như một lời thề dữ dội”.

        Chị Chiến giống má như đúc. Chiến cũng có hai bắp tay tròn vo sạm đỏ màu cháy nắng như má. Tiếng “cóc”, tiếng “nghen” tiếng “ừ”, tiếng chân bước “bịch bịch” của Chiến có khác nào má, “in như má vậy”. Bàn việc thu xếp nhà cửa trước khi đi đánh giặc, nghe em nói, Chiến “hứ một cái “cóc” rồi trở mình. May mà chị không bẻ tay rồi đập vào bắp vế than mỏi” như má. Chiến đảm đang, sớm biết lo liệu, thường nhường nhịn em, chú Năm đã hết lời ca ngợi: “Không! Việc nhà nó thu được gọn thì việc nước nó mở được rộng, gọn bề gia thế, nặng bề nước non”. Chiến có tư thế hiên ngang, quyết liệt như các o du kích vườn dừa Bến Tre: “Đã làm thân con gái ra đi thì tao chỉ có một câu: Nếu giặc còn thì tao mất, vậy à!”.

        Việt là hình ảnh đẹp nhất, in đậm màu sắc Nam Bộ nhất trong truyện “Những đứa con trong gia đình”. Nụ cười “lỏn lẻn”, hai gò má “căng mướt như da trái vú sữa”, cái ná thun của tuổi thơ vẫn mang theo khi đi bộ đội, Việt rất giống ba, mỗi lần nghe tiếng ná thun của Việt, má lại nói: “Đó, lại giống cái thằng cha nó rôi!”. Việt hồn nhiên, trong sáng: hay tranh giành với chị, nhưng lại “giấu chị như giấu của riêng” trước đồng đội. Dũng cảm trong chiến đấu, không sợ giặc nhưng lại sợ “thằng chỏng thụt lưỡi”, “con ma cụt đầu”,… Mới hai tuổi quân đã lập công tiêu diệt một xe bọc thép Mỹ; bị trọng thương, lạc đơn vị, nằm giữa chiến trường, tuy chỉ còn một viên đạn đã lên nòng, Việt “vẫn sẵn sàng nổ súng”. “Trên trời có mày, dưới đất có mày, cả khu rừng này còn có mình tao. Mày có bắn tao thì tao cũng bắn được mày”… Hình ảnh Việt theo má lên tới quận “đòi đầu ba”, hình ảnh Việt trong đêm tòng quân, trong cảnh cùng chị gái khiêng bàn thờ má sang gửi nhà chú Năm đã làm ta nhớ mãi, nhớ đứa con trai má Tư Năng, nhớ một chàng trai mới lớn vùng miệt vườn đồng bằng sông Cửu Long thời chống Mĩ. Việt là hình bóng của quê hương; Việt là hiện thân trong câu hò của chú Năm: “… khi thì Việt biến thành tấm áo vá quàng hoặc con sông dài cá lội của chú, khi thì Việt biến thành người nghĩa quân Trương Định, ngọn đèn biển Gò Công, hoặc ngôi sao sáng ở Tháp Mười”.

        Thời chống Mĩ, tuổi trẻ cả nước ta nung nấu một lời thề: “Ra đi chỉ một lời thề – Chưa giết hết giặc chưa về quê hương”. Việt và chị gái khi khiêng bàn thờ má đi gửi cũng đinh ninh một lời thề: “Nào, đưa má sang ở tạm bên nhà chú, chúng con đi đánh giặc trả thù cho ba má, đến chừng nào nước nhà độc lập, con lại đưa má về”.

        “Những đứa con trong gia đình” đã kết tinh nghệ thuật của ngòi bút Nguyễn Thi. Nghệ thuật kể chuyện, dựng cảnh, tạo hình, chọn chi tiết điển hình, phân tích tâm lí nhân vật, cá biệt hoá ngôn ngữ nhân vật,… tất cả đều mang màu sắc và hương vị Nam Bộ. Màu sắc Nam Bộ tạo nên hồn cốt phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyền Thi trong “Người mẹ cầm súng” và “Những đứa con trong gia đình”.

        Sự thành công đó đã khẳng định vị thế được tôn vinh của Nguyễn Thi là “nhà văn của người nông dân Nam Bộ thời chống Mĩ”.