Category: Văn Nghị Luận Mẫu

  • Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    Văn mẫu Phân tích đoạn trích: “Người cầm quyền và khôi phục uy quyền”

    BÀI LÀM

    Cuối cùng thì người cầm quyền cũng khôi phục lại uy quyền của mình sau hơn hai mươi năm đổi mới và cải cách. [Đoạn văn trên được rút ra từ cuốn tiểu thuyết rất nổi tiếng của Victor Hugo Những người khốn khổ (1869)]. Đoạn trích giảng này từng được sử dụng trong sách giáo khoa trích giảng văn học cấp ba những năm tám mươi trở về trước, nay nó trở lại với bạn đọc học sinh trong một hoàn cảnh khác. Dĩ nhiên như một vòng tròn biện chứng, sự trở lại này sau hai mươi năm không hề là một sự lặp đơn thuần mà là có nâng cao thông qua cách hiểu, cách đọc mới cũng như theo yêu cầu của cách giảng dạy tích hợp mà người soạn sách dành cho học sinh. Sách giáo khoa đã sử dụng bản dịch duy nhất sau năm 1945 ở miền Bắc của nhóm dịch giả Lê Quý Đôn cho việc giảng dạy trong nhà trường. Đoạn văn trích trên nằm ở cuối phần thứ nhất, trọn vẹn chương 4 Người cầm quyền khôi phục uy quyền (l’autorité reprend ses droits) sau khi Giăng Van-giăng quyết định ra tự thú trước pháp luật để cứu một người bị Gia-ve bắt nhầm. Cảnh miêu tả cuộc gặp gỡ của ba người: Gia-ve, Giăng Van-giăng và Phăng-tin đang hấp hối dưới sự chứng kiến của bà xơ Xem-pli-xơ. Nhân vật bà xơ được nhắc đến một lần duy nhất trong cảnh không đóng vai trò đáng kể nào cho hành động kịch của cảnh truyện, nhưng giúp cho việc dẫn dắt cách diễn giải câu chuyện, định hướng người đọc.

    Đoạn văn dịch gồm bảy câu, trong đó có bốn câu hỏi, một câu trả lời trực tiếp, một câu phức mở rộng miêu tả mang giọng điệu trữ tình cảm thán. Trong số bốn câu hỏi, xét thực chất chỉ có một câu được láy đi láy lại với những biên độ, chiều kích mở rộng khác nhau mang dấu ấn phong cách tu từ học rất rõ và tiêu biểu của Hugo. Ông nói gì với chị, đó là nội dung câu hỏi duy nhất được đặt ra. Nhưng với cách sắp xếp các câu được lặp ý trong

    đoạn văn theo trật tự đan xen ngắn-dài, nên người đọc như nghe thấy nhịp điệu luyến láy của thuật hùng biện. Câu khẳng định Chẳng ai trên thế gian này nghe được vừa láy lại ý hai câu hỏi trước (nói cái gì), vừa chuyển hướng sang câu hỏi tu từ cuối cùng để làm đà bật lên câu văn trữ tình quen thuộc của Hugo (hiệu quả việc nghe như thế nào). Câu văn vừa mang tính triết lý, lại vừa có tính khoa trương hùng biện, vừa để trả lời lại vừa để suy tư thông qua phần miêu tả. Sự kết hợp của những hình ảnh tương phản trong câu văn: nụ cười và cái chết, nhợt nhạt và xa xăm, bà xơ (đại diện cho đức Chúa) và Phăng tin (từng làm nghề bán thân) đã làm cho câu văn mang giọng điệu tha thiết, buồn nhưng không đau xót. Nghệ thuật trữ tình hùng biện này, hẳn là Hugo học được trong các tác phẩm cổ đại, đã góp phần làm cho tác phẩm của ông mang âm vang sử thi.

    Các thao tác diễn giảng truyền thống như thế góp phần truyền cảm hứng đọc thông qua việc khám phá những thủ pháp nghệ thuật thiên về tu từ học. Thế mà có một câu hỏi bỗng được đặt ra: ai nói trong đoạn văn trên? Nói với ai? Cách đọc truyền thống sẽ trả lời rằng đó chính là Hugo. Theo cách nói mới hơn, người ta có thể trả lời rằng ở đây là chuyện giữa người kể chuyện (narrator/narrateur) và người nghe kể (narrataire). Trả lời câu hỏi này, chúng ta rẽ sang hướng nghiên cứu văn bản.

    Chính thực người kể chuyện toàn năng (narrateur omniprésent) – nhân vật thường gặp trong tiểu thuyết cổ điển, trong đó có Hugo – là kẻ dẫn chuyện duy nhất cho tác phẩm cũng như trong đoạn trích này. Người kể chuyện đó hiện ra với tư cách người biết hết, thông báo cho người nghe tất cả mọi chuyện. Kẻ ấy thâm nhập vào mọi ngóc ngách tâm

    hồn của tất thảy các nhân vật, để mách bảo cho người nghe chuyện, để báo trước cho người nghe. Ông ta có thể nói tất cả hay chỉ một phần nhằm phục vụ cho tiến trình kể chuyện của mình, lựa chọn những điều cần nói ở từng thời điểm sao cho câu chuyện trở nên hấp dẫn. Có thể hiểu một cách đơn giản, ít nhất là ở đoạn trích này, đó chính là tác giả. Mặc định là người kể toàn năng trong các tiểu thuyết cổ điển luôn có quyền lực dàn xếp tất thảy mọi thứ cho phù hợp với ý đồ riêng mình. Người nghe chuyện (narrataire) có thể hiểu một cách đơn giản chính là người đọc. Do thế, trong một số trường hợp khi nhân vật được bạn đọc yêu thích, họ có thể yêu cầu tác giả kéo dài tác phẩm để có được một kết quả như ý.

    Quay trở lại văn bản của Hugo, câu phỏng đoán có những ảo tưởng cảm động có thể là

    những sự thực cao cả có thể là của chính người kể Hugo. Nó thực ra là một lời khẳng

    định theo lối hàm ẩn những chuyện mà Giăng Van-giăng đã và sẽ làm cho Phăng-tin (cứu

    Cô-dét khỏi nhà Tê-nác-đi-ê và nuôi dạy cô bé thành người). Người kể chuyện này giữ

    quyền chi phối góc nhìn của ít nhất là toàn bộ đoạn văn này, và nói chung là của toàn bộ

    tiểu thuyết. Người kể chuyện ấy thuyết minh, lý giải, trình bày cho người nghe, định

    hướng cách hiểu cho người đọc, không cho phép hiểu sai. Trong tiểu thuyết của Hugo

    cũng như của những nhà văn đương thời, ta bắt gặp mẫu hình người kể chuyện toàn năng

    (hay toàn tri – tùy theo cách diễn đạt). Có thể lấy một ví dụ như câu văn sau của Hugo

    cũng ở trong đoạn trích:

    Chị không thể chịu đựng được bộ mặt gớm ghiếc ấy, chị thấy như chết lịm đi, chị lấy tay

    che mặt và kêu lên hãi hùng.

    Câu kể dường như miêu tả từ điểm nhìn của nhân vật với động từ thấy, chủ ngữ là chị (chỉ Phăng-tin), nhưng thực ra lại do người kể chuyện nhận xét với những tính từ gớm ghiếc, hãi hùng gắn với điểm nhìn từ bên ngoài. Chúng là lời định giá của người kể chuyện về cảm xúc, phản ứng của nhân vật chứ không thể là của nhân vật. Hãy hình dung, nếu là Phăng-tin, cô không thể diễn đạt một cách rõ ràng, minh bạch, và ngắn gọn những điều ấy đến như thế. Chính điều này lý giải vì sao tâm lý nhân vật của Hugo đơn giản, nguyên phiến. Tất cả các nhân vật đều chịu sự quản lý của một điểm nhìn, một giọng điệu duy nhất. Đơn giản là ông đã “chuyển mã” chúng theo một giọng điệu của chính mình. Giọng điệu của tiểu thuyết Hugo trở nên đơn thanh chứ không đa thanh như trong tiểu thuyết của Flaubert sau này. M. Bakhtine không xếp ông vào diện nhà văn đa thanh đã đành, mà ngay cả một nghiên cứu về phong cách và tính chất thực tại cuộc sống của E. Auerbach cũng không đặt ông vào dòng chảy các nhà văn hiện thực. Dù cho có sự xuất hiện nhiều loại ngôn ngữ xã hội khác nhau trong văn bản của ông thì không có nghĩa là ông với tư cách người kể đã chấp nhận chúng, cho phép chúng tồn tại một cách bình đẳng với mình. Giọng điệu của ông với tư cách người kể chuyện toàn năng luôn lấn át toàn bộ các giọng điệu khác, đồng hóa chúng, đưa tất cả về cùng một mặt phẳng, về cùng một góc nhìn và lập trường của người kể chuyện để đánh giá, phán xét mọi sự.

    Trong cảnh này, có những đoạn vẫn như được nhìn dưới góc độ của nhân vật của Phăng-tin qua nhiều cách diễn đạt: chị lấy tay che mặt; nghe thấy tiếng Gia-ve, Phăng tin lại mở

    mắt ra; chị thấy tên mật thám… Nhưng như chúng tôi vừa nói ở trên, thực ra đó là một cách tạo điểm nhìn giả của Hugo nhằm tạo kịch tính cho cảnh. Ông “giả vờ” mượn con mắt của Phăng-tin – một kẻ ngoài lề xã hội cũng đã bị thanh tra mật thám Gia-ve truy đuổi – để miêu tả cuộc chạm trán giữa Gia-ve và Giăng Van-giăng, một cuộc chạm trán nảy lửa giữa người tù khổ sai có những chiêu trốn chạy tuyệt kỹ và một thanh tra mật thám mẫn cán, tài giỏi nhưng cũng cực kỳ khắc nghiệt. Việc mượn điểm nhìn này về cơ bản sẽ diễn ra cho đến lúc Phăng-tin tắt thở, tức là hết lớp thứ ba. Cũng có những chỗ người kể chuyện trực tiếp tham gia việc bình luận cảm xúc nhân vật: Sự thật là Gia-ve run sợ. Lời bình luận ngắn gọn, ở đúng chỗ gay cấn nhằm chuẩn bị cho khoảng lặng sắp tới, của cuộc trò chuyện riêng tư giữa Giăng Van-giăng và Phăng-tin. Nó hé lộ cho bạn đọc một điều: Gia-ve không hẳn là con người của công việc và không bao giờ biết run sợ trước những kẻ khốn cùng. Lời trữ tình ngoại đề này sẽ chuẩn bị cho chi tiết Gia-ve phải lùi bước trước Giăng Van-giăng sẽ diễn ra ngay sau đó: nhường bước cho cuộc trò chuyện của người tù khổ sai và cô gái điếm. Nói cách khác, đó là một thuật kể chuyện kiểu Hugo nhằm làm lộ ra trong hoàn cảnh này, trong chương này, đứng trước con người nắm cán cân công lý của xã hội vốn không bao giờ biết nhân nhượng không hẳn là một tên tù khổ sai và một gái điếm, mà là những con người có tâm hồn lương thiện.

    Cách mượn điểm nhìn này gợi chúng ta nhớ đến nghệ thuật dựng kịch của Shakespeare trong vở Hamlet. Theo phân tích của Vygosky, người nghệ sĩ đã khéo léo đưa toàn bộ điểm nhìn của khán giả vào điểm nhìn của chính nhân vật Hamlet. Do thế đã diễn ra một sự va chạm giữa ba dòng thời gian: thời gian thực mà vở kịch diễn ra, thời gian quy ước

    mà nhân vật Hamlet có để đi từ chỗ biết sự thật đến chỗ quyết định hành động, và thời gian mà khán giả tự hình dung. Chính sự giao thoa ấy (Vygosky gọi là vòng cung nghệ thuật) đã khiến cho vở kịch này của Shakespeare trở nên đa nghĩa. Đoạn văn ngắn này của Hugo không thể có cái nghệ thuật được Shakespeare dồn toàn bộ tâm sức. Nhưng một so sánh như thế, có phần khập khiễng, cũng cho thấy sự dụng công trong nghệ thuật kể của Hugo. Toàn bộ cuộc chạm trán có thể chia thành bốn lớp, trong đó ba lớp đầu là qua cái nhìn của Phăng tin, còn lớp cuối là qua cái nhìn của một người khác mà chúng tôi sẽ nhắc tới ngay sau đây. Ba lớp đầu tiên thực ra cũng là ba mức phát triển của cuộc chạm trán qua tâm trạng Phăng-tin: lo sợ cầu cứu ông thị trưởng (từ đầu đến chị rùng mình), ngạc nhiên kinh hoảng khi chứng kiến sự đổi vai (ông thị trưởng bị túm áo cho tới khi Phăng tin run lên bần bật), và tuyệt vọng khi biết tin về đứa con. Cái chết của Phăng-tin được miêu tả trong đoạn văn kết thúc lớp thứ ba (kết thúc bằng câu văn đơn Phăng tin đã tắt thở) hết sức giản dị, chính xác với những mệnh đề đơn kế tiếp nhau. Bắt đầu từ đây là một điểm nhìn của một nhân vật khác: bà xơ Xem-plit-xơ. Nhưng dấu hiệu cho thấy cảnh được nhìn qua con mắt của bà xơ này, người đọc lại chỉ nhận ra ở những dòng gần cuối khi Giăng Van-giăng trò chuyện với người đã khuất.

    Có thể thấy dấu ấn của người kể chuyện qua lối miêu tả ám gợi (của chủ nghĩa lãng mạn) trong tình huống mà người đọc nhận ra. Chẳng hạn tư thế của nhân vật Gia-ve trước Giăng Van-giăng. Thoạt tiên là tiếng thét của Gia-ve đi kèm với lời bình của ngư¬ời kể chuyện: Không còn là tiếng ng¬ười nói mà là tiếng thú gầm. Hắn vừa gầm vừa như¬ thôi miên con mồi bằng động tác cứ đứng lì một chỗ, rồi phóng vào con mồi cặp mắt nhìn

    như¬ cái móc sắt. Sau đó hắn mới lao tới, tiến vào giữa phòng, ngoạm lấy cổ con mồi túm lấy cổ áo… Hắn đắc ý, phá lên cư¬ời, phô ra tất cả hai hàm răng. Thế là hình ảnh Gia-ve trong con mắt người kể chuyện, hay là của chính Phăng-tin, như gắn liền với hình ảnh con thú ăn thịt đang chuẩn bị vồ mồi. Hiệu quả đạt được như thế một phần là nhờ vào chính cách mượn điểm nhìn của Hugo. Thêm nữa, mượn điểm nhìn làm cho câu chuyện được kể thêm phần gay cấn. Người đọc được đẩy về phía tâm trạng của nhân vật nữ Phăng-tin, người đang quan sát tình thế truyện dường như liên quan đến chính số phận của mình. Cũng như thế với hình ảnh Giăng Van-giăng ở cuối đoạn trích trước cái chết của Phăng-tin. Ông ngăn cản Gia-ve một cách đầy uy quyền, rồi ông cúi xuống thì thầm với Phăng-tin làm cho cô như hé nụ cười trước khi bước vào cõi vĩnh hằng. Đó là một người bảo trợ, một Đấng cứu vớt đối với những người cùng khổ như Phăng-tin. Khuôn mặt rạng ngời của Phăng-tin tỏa sáng cùng lời bình (chết tức là đi vào bầu sáng vĩ đại) làm hình ảnh của Giăng Van-giăng giống hình ảnh Đức Chúa của Hugo trong tôn giáo Tình thương.

    Nhân vật bà xơ, như chúng tôi đã nói ở trên, gắn với lớp cảnh thứ tư và là nhân vật duy nhất trong truyện chứng kiến cảnh này, theo lời người kể chuyện. Bà chỉ được nhắc đến trong chương truyện sau khi Phăng-tin tắt thở. Trong lớp cuối cùng này, người ta chỉ còn thấy hai nhân vật, nhưng thực ra là một con người đang trò chuyện. Đó là Giăng Van-giăng. Như thế là người kể chuyện đã đột nhiên loại bỏ Gia-ve ra khỏi khung cảnh quan sát của mình. Nói cho chính xác thì nhân vật bà xơ cũng dường như đột nhiên hiện ra trong khung cảnh câu chuyện, và cũng sẽ đột nhiên bước ra khỏi cảnh không nguyên cớ.

    Dù rằng trước đó đã có hình ảnh chiếc giường dành cho các xơ trong những hôm trực đêm, nhưng chừng đó không đủ để cho thấy nhân vật này đã hiện diện một cách đầy đủ trong cảnh. Câu văn người duy nhất chứng kiến cảnh ấy như gợi ý cho ta một điều: phải chăng tất cả những cảnh vừa chứng kiến cũng được miêu tả qua con mắt của chính bà? Như vậy ở đây đã diễn ra một quá trình loại bỏ dần dần tất cả các nhân vật và điểm nhìn nhân vật. Quá trình đơn giản hóa ấy giúp tập trung điểm nhấn vào hai nhân vật như là hai võ sĩ đang thượng đài: Gia-ve và Giăng Van-giăng qua con mắt của Phăng-tin hoặc của bà xơ. Sự xuất hiện của bà xơ ở lớp cuối góp phần “chính danh hóa” cho những lời ngoại đề mà ngay sau đó người kể chuyện sẽ cất lên để ngợi ca hành động của Giăng Van-giăng. Sự xuất hiện bất ngờ này khiến cho lời ngợi ca mang âm hưởng thánh ca nhà thờ, như một lời rửa tội cho những kẻ nghèo khó vốn không bao giờ dám bước chân vào thánh đường, cho linh hồn người đàn bà phải bán thân để nuôi con được siêu thoát lên cùng Đức Chúa. Chính vì thế, Hugo mới hạ một câu kết cảnh, ngắn gọn nhưng cũng rất lãng mạn bởi tính chất tương phản trong bút pháp: chết tức là đi vào bầu ánh sáng vĩ đại. “Điểm nhìn” của bà xơ thế là giúp người kể chuyện thơ hóa cái chết của nữ nhân vật. Cái chết không còn là điều gì nặng nề mà nhẹ nhàng, thanh thản đối với người phụ nữ này. Nó xua tan ám khí cho câu chuyện để chuẩn bị chuyển sang một cao trào mới ở cuối lớp kịch thứ tư.

    Chúng tôi nghĩ rằng đó là một thủ thuật kể của Hugo mà thôi, chứ không phải điều bắt buộc. Có những chỗ không thể tìm thấy ai để mượn điểm nhìn thì người kể chuyện “xông thẳng” vào không gian tiểu thuyết để trình bày cảm xúc trữ tình. Những chương về cống

    ngầm của Những người khốn khổ hay con bạch tuộc trong Những người lao động biển cả là những ví dụ tiêu biểu.

    Tới đây, người ta có thể tự hỏi, vậy bà xơ đã đi vào và biến mất khỏi cảnh truyện từ khi

    nào? Câu hỏi ấy thực ra không quan trọng nếu xét theo thỏa ước hư cấu mà đôi khi chúng

    ta vẫn nói với nhau: điều đó chỉ xảy ra trong truyện cổ tích/tiểu thuyết. Đặt câu hỏi như

    thế, người đọc đã chú ý tới chất có thực của sự kiện mà quên rằng mình từng tham gia

    vào một thỏa ước văn bản mà người kể chuyện đã chìa cho anh ta ngay từ những dòng

    đầu tiên: đừng cố đi tìm hiện thực có thật (bao gồm cả những trật tự tất yếu của cuộc

    sống) trong những văn bản hư cấu. Trong văn bản của Hugo, thỏa ước này còn một điều

    khoản đòi hỏi người đọc chấp nhận: tính chức năng của các nhân vật và hành động. Một

    loạt các yếu tố, cả con người lẫn đồ vật, đều chỉ mang tính chức năng. Thực chất, người

    kể chuyện của Hugo chỉ mượn họ, bà xơ hay Phăng-tin, như những bệ đỡ để đưa lên kính

    ngắm của mình. Họ chỉ có tính chất chức năng để cho diễn biến của cảnh, cuộc chạm trán

    giữa người tù khổ sai chạy trốn cả đời mình và người phục vụ pháp luật, diễn ra theo

    đúng ý đồ tác giả. Ngay cả hai nhân vật này rốt cục cũng chỉ mang tính chất chức năng.

    Vậy, tâm lý hay tính cách đều chỉ cần giản đơn mà thôi. Cứ theo trục ấy mà suy thì thực

    tế các nhân vật khác cũng đều chỉ là những nhân vật chức năng hoạt động trong một tổng

    thể kịch được sắp đặt của tiểu thuyết Hugo. Vì thế, không thể đòi hỏi ở họ những suy tư

    phức tạp, những ý nghĩa trừu tượng mang tính triết lý. Trừ phi chúng ta nói tới tính triết

    lý trong giọng điệu người kể chuyện của Hugo. Nhưng khi đó chúng ta lại bàn sang một

    loại không gian khác của văn bản. Đặc điểm nguyên phiến này quy định một loạt những

    đặc điểm khác trong tiểu thuyết của Hugo. Người ta không thể và không nên quy chiếu những điều được kể trong tiểu thuyết của ông vào thực tại đời sống đương thời, trừ phi tiến hành một nghiên cứu xã hội học văn học một cách có hệ thống. Mặc dù người kể chuyện miêu tả trong góc phòng có chiếc giường sắt đã ọp ẹp dùng để các bà xơ ngả lưng những hôm phải trực đêm, nhưng có lẽ chiếc giường ấy cũng không hiện thực hơn hình ảnh Phăng-tin hay Giăng Van-giăng. Nói như R. Barthes thì chiếc giường này không để nằm mà là để chứng minh sức khỏe của nhân vật Giăng Van-giăng, cũng như sẽ là một phương tiện để nhân vật này dùng cho việc đe dọa Gia-ve.

    Phần trữ tình ngoại đề giữa người kể và người nghe này rõ ràng là lộ liễu, nó cũng nhấn

    mạnh thêm vào tính “ảo tưởng” của thế giới văn bản. Sự hiện diện của đoạn trữ tình

    ngoại đề khẳng định sự hiện diện của người kể chuyện toàn năng mà giới phê bình

    phương Tây thích sử dụng khái niệm ẩn dụ – nhưng cũng thích hợp trong hoàn cảnh này –

    đấng tạo hóa toàn năng (Démiurge). Tất cả mọi nguyên nhân, kết quả, trình tự câu

    chuyện được người kể chuyện ấy quyết định, đều quy về một mối là người kể chuyện đó.

    Thế giới đó không quy chiếu vào đâu ngoài chính nó. Người kể chuyện luôn hiện ra khi

    cần để thêm thắt những lời bình luận có cánh. Trong toàn tác phẩm có lúc là cả những

    trường đoạn dài trọn vẹn một chương như chương Paris dưới cánh cú bay hay về cống

    ngầm Paris chẳng hạn chỉ dùng để phô diễn tài miêu tả và hùng biện của Hugo. Không

    phải không có lúc chúng làm người đọc mệt mỏi, nhưng phải thừa nhận rằng chúng là

    những áng tản văn rất hay, giàu sức quyến rũ. Đoạn trữ tình ngoại đề này, sau cả một quá

    trình xung đột căng thẳng giữa các nhân vật, có thể gợi cho ta nhớ đến đoạn trữ tình trong

    sử thi Odyssée của Hy Lạp cổ đại (Uy-lít-xơ trở về) mà học sinh đã được học ở lớp 10. Đoạn văn ấy miêu tả cảm xúc những người thủy thủ sau những cơn bão đã đặt chân được lên đất liền với một niềm hạnh phúc lớn lao.

    Nhưng có một sự khác nhau căn bản về nghệ thuật và ý thức về nghệ thuật trong việc sử dụng trữ tình ngoại đề. Nếu như nhà thơ Hy Lạp cổ đại miêu tả cảm xúc ấy như một cách nói ẩn dụ trực tiếp cho cảm xúc của chàng dũng sĩ Uy-lít-xơ thì nhà văn thế kỷ XIX lại sử dụng lối ẩn dụ nghệ thuật. Nếu Homère sử dụng đoạn ngoại đề như một phần tất yếu trong mạch thời gian của tác phẩm liên quan đến tư duy cổ đại, thì đối với Hugo lại là một thủ pháp nghệ thuật. Nếu với Homère, tất cả được trình lên cho người thưởng thức ở cùng một bình diện, thì với Hugo đó là một thủ pháp kéo giãn thời gian nhằm che giấu những điều khác(2). Có những điều đối với Homère là đích, thì với Hugo lại là phương tiện và ngược lại. Nói cách khác, trữ tình ngoại đề được Hugo sử dụng một cách có ý thức trong mối liên quan với lối tư duy duy lý, có tính nhất quán của thời hiện đại. Do thế, nó tạo ra được một hiệu quả mang tính thẩm mỹ: đó là sự chậm rãi, là khoảng lặng của thời gian kể sau một cao trào. Vai trò người kể-toàn năng tham dự vào việc điều tiết, giữ nhịp cho cảm nhận của người đọc thông qua sự phối hợp các dòng thời gian. Còn đối với Homère, ngoại đề là điều mà người kể chuyện hướng tới nhằm đưa người đọc, người nghe bước hoàn toàn vào trong không gian sử thi.

    Trên kia, chúng tôi vừa nói tới dấu ấn người kể chuyện trong việc tạo điểm nhìn kể. Vai trò người kể chuyện của Hugo cũng được thể hiện thông qua cách xây dựng các lớp cảnh

    trong đoạn trích.

    Trước tiên, mở đầu đoạn trích, người kể chuyện thông báo bằng câu “từ ngày ông thị trưởng gỡ cho Phăng tin thoát khỏi Gia-ve…”. Cách gọi này đặt một điểm nhìn từ phía một người dân thành phố với Giăng Van-giăng, ở đây có thể chính là Phăng-tin. Ngay sau đó, người kể chuyện đính chính và cho biết nên gọi ông là Giăng Van-giăng để trả nhân vật này trở về đúng vai của mình. Như thế là bằng cách thay đổi tên gọi, người kể chuyện đã thay đổi tình huống truyện đặt Giăng Van-giăng trở lại tình huống ban đầu của tiểu thuyết khi phải trốn chạy trước Gia-ve, chánh thanh tra mật thám. Với tư thế ấy, chúng ta bắt gặp lời lẽ đầy tự tôn, mà khiêm cung của Giăng Van-giăng với Gia-ve. Đó là lời lẽ của một tù khổ sai bỏ trốn trước ông thanh tra khét tiếng Gia-ve từng làm biết bao kẻ đầu trộm đuôi cướp phải khiếp sợ, người chưa bao giờ biết sợ trước bất kỳ những ai bị coi là vi phạm pháp luật. Thế mà lần này, ông ta lại run sợ. Trong lớp thứ ba, khi những lời van xin của Giăng Van-giăng với Gia-ve trở nên vô ích, thì những lời của Gia-ve với Giăng Van-giăng lại trở thành sự đe dọa với Phăng-tin dẫn tới việc Giăng Van-giăng vô tình làm lộ ra bí mật đối với Phăng-tin là chưa cứu được Cô-dét. Cái chết của chị khiến cho tình huống bất ngờ đảo ngược. Không còn van xin, khiêm cung mà là lời lẽ cứng rắn của Giăng Van-giăng với Gia-ve, của một người tù khổ sai hai mươi năm với ông chánh thanh tra đại diện cho chính quyền và luật pháp. Thêm vào đó là hành động mang đậm chất kịch của nhân vật khiến cho chính Gia-ve phải lùi bước. Giăng Van-giăng đã khôi phục lại quyền uy của mình trước Gia-ve, nhưng không phải nhờ vào chức thị trưởng mà do nghĩa vụ mà ông tự đặt với mình trước người đã khuất. Cái chết của Phăng-tin mang

    lại sức mạnh cho ông. Đến dòng cuối cùng của đoạn trích, khi Giăng Van-giăng đã hứa xong với người đã khuất, chúng ta lại chứng kiến một sự đảo ngược thú vị: Giăng Van-giăng tự giao nộp mình cho Gia-ve – người đại diện cho pháp luật. Đây chính là cao trào thứ hai của chương truyện và đoạn trích sau cao trào thứ nhất khi Phăng-tin chết và ông thanh tra bị tên tù khổ sai đe dọa. Người kể chuyện lần này không như thói thường thâm nhập vào đầu óc của nhân vật để mách bảo mọi thứ cho người nghe chuyện. Ông ta im lặng đúng ở cao trào. Lối dàn cảnh của người kể chuyện liên quan tới những lối tương phản đặc trưng trong thi pháp của Hugo. Việc lên tiếng mách bảo người đọc trong lúc dẫn chuyện tạo tình huống và im lặng trong những khoảng cao trào của người kể chuyện tạo nên nhiều dư âm trái ngược nhau cho người đọc(3). Nhưng các nhân vật của Hugo chắc chắn không phải là những con người đầy suy tư trong các tiểu thuyết của Stendhal, Flaubert hay Gide. Vì thực chất họ chỉ là những nhân vật chức năng.

    Người kể chuyện toàn năng này cũng thể hiện quyền uy của mình thông qua việc đặt tất cả các nhân vật trong truyện ở ngôi thứ ba. Chúng ta có thể so sánh một cách đơn giản với truyện kể của Daniel Defoe Robinson Crusoe đã được giới thiệu trong chương trình cấp hai. Người kể chuyện xuất hiện trong vai trò nhân vật chính, tức là giữ ngôi thứ nhất. Vì thế về mặt nguyên tắc anh ta cũng không biết những chuyện khác xảy ra mà không có mặt mình. Dĩ nhiên vì kể chuyện kiểu cổ điển luôn mang tính quy ước nên người ta mặc định với nhau là câu chuyện đã xảy ra. Tức là kết thúc chuyện đã hoàn thành một cách rõ ràng, dù nhân vật chính trong vai người kể chuyện có gặp nguy hiểm đến đâu thì cuối cùng anh ta cũng vượt qua bình an vô sự để ngày nay ngồi kể lại cho bạn đọc. Nhân đây

    chúng tôi nghĩ cũng có thể nói thêm vài lời về vai trò và sự hiện diện người dịch trong tư cách người kể chuyện toàn năng thứ hai của bản dịch, ở đó người kể chuyện dàn xếp hệ thống đại từ tiếng Việt dành cho các nhân vật. Trong tiếng Pháp, người kể chuyện đối xử bình đẳng với các nhân vật bằng hệ thống đại từ, vì khó mà nói tới sắc thái đánh giá nhân vật thông qua vẻn vẹn chỉ hai đại từ: il (ông ta) và elle (cô ta). Người dịch tiếng Việt, với tư cách người đọc mẫu, phải chuyển đổi hai đại từ đơn sắc ấy của tiếng Pháp sang một hệ thống cực kỳ phong phú, nhưng cũng phức tạp vô cùng của đại từ tiếng Việt. Hệ chuyển đổi đó tất yếu đã bao hàm một cách mặc định cách đánh giá, dẫn giải của người dịch định hướng cho độc giả. Chúng ta thấy, Giăng Van-giăng thì được dịch là ông, cũng đại từ đó (il) thay cho Gia-ve thì được dịch là hắn, nhân vật Phăng-tin được dịch là chị từ chữ elle có thể được dùng trong tiếng Pháp chỉ cả bà xơ Xem-pli-xơ. Hệ thống đại từ đó đã phân xuất một cách vô tình và hữu ý, theo cách đánh giá của các dịch giả, các nhân vật trong đoạn trích và tác phẩm thành hai nhóm: những kẻ độc ác và những người lương thiện. Nhưng biết đâu đó lại chưa hẳn là chủ ý của Hugo? Chúng ta hãy hình dung một bản dịch khác dùng chữ hắn để chỉ Giăng Van-giăng, thị hay ả để chỉ Phăng-tin, ông để chỉ Gia-ve; khi đó chắc người đọc sẽ lại có một dịp khác để xem xét cách hiểu của mình với câu chuyện rất hấp dẫn và lý thú này với những cảm giác tương phản mới trong người đọc.

    Cuối cùng, chúng ta chú ý tới tiêu đề đoạn trích. Người biên soạn giữ nguyên tên của chương sách dịch vốn thể hiện phong cách hùng biện độc đáo của Hugo, đồng thời thể hiện toàn bộ quá trình đảo ngược tình thế trong chương truyện. Là một nhà thơ thế kỷ XIX, ông ưa những lối diễn đạt giàu ý vị dựa trên sự lỏng lẻo, mơ hồ của kết cấu câu văn.

    Những dịch giả – có lẽ cũng là những trí thức nghệ sĩ – đã gắng truyền đạt điều ấy qua lối diễn đạt nhịp nhàng, mang âm hưởng biền ngẫu của thơ ca Việt Nam: l’autorité reprend ses droits được chuyển thành người cầm quyền khôi phục uy quyền. Chữ người cầm quyền ở số ít như trong trường hợp này còn có thể hiểu là người có uy tín, chứ không chỉ là nhà cầm quyền vốn luôn được dùng ở số nhiều (les autorités). Vậy ở đây có thể hiểu nó hướng một cách mơ hồ đến cả hai đối tượng, tùy theo sự lựa chọn của người đọc: Giăng Van-giăng và Gia-ve. Gia-ve trong những chương trước đã tự thấy xấu hổ vì dám “nghi ngờ” ông Ma-đơ-len. Sau khi đích thân Giăng Van-giăng ra tự thú thì ông ta thấy khả năng đánh hơi của mình không tồi. Thế là từ chỗ là chánh thanh tra mật thám nhưng cúi mình trước ông thị trưởng Ma-đơ-len, nay ông ta cảm thấy mãn nguyện vì đã giành lại quyền lực trước con mồi khổ sai trốn tù đã lẩn trốn mình trong bao năm. Đó là việc khôi phục uy quyền của ông ta được hiểu như là quyền lực nhà nước trong chữ droits. Mặt khác, như trên kia chúng ta đã thấy, có một sự chuyển đổi thế và lực giữa các cảnh trong truyện. Nhân vật Giăng Van-giăng trước tiên là một ông thị trưởng có uy tín trong những chương trước. Vì để cứu một người vô tội bị bắt oan mà ông ra tự thú trước tòa án. Bắt đầu chương truyện này, ông tự đặt mình vào vị trí tội phạm, không quyền lực, không sức mạnh. Trong cảnh hai và cảnh ba, ông từ chối sức mạnh của mình. Điều ấy được thể hiện thông qua lời khẩn cẩu chánh thanh tra mật thám Gia-ve. Nhưng cho đến cuối đoạn trích, ông lại trở thành người nắm giữ sự chủ động, với sức mạnh/quyền lực khiến chính Gia-ve

    • người chưa từng biết sợ ai và luôn khiến cho (theo lời người kể chuyện) mọi tên tội phạm hoảng sợ – phải lùi bước. Ông đã giành lại sức mạnh/quyền lực để làm những điều thuộc về nghĩa vụ mà ông tự đặt ra cho mình. Nghĩa vụ cứu và nuôi nấng cô bé Cô-dét,

    con của Phăng-tin. Chữ droits được dịch thành uy quyền còn có thể hiểu như là những nghĩa vụ tất yếu của một người trung thực như ông đã hứa trước người đã khuất. Chúng ta lại bắt gặp ở đây tính chất hùng biện, nghệ thuật tu từ thường gặp trong sáng tác của Hugo.

    1. Hugo – nhà văn dưới con mắt nhiều nhà nghiên cứu văn bản học hiện đại không có những cách tân độc đáo hướng đến hiện đại. Tuy nhiên phong cách với những thủ pháp kể chuyện khéo léo tới mức bậc thầy của ông – dấu ấn của lối kể dân gian trong tiểu thuyết báo chí đương thời – vẫn để lại những dư âm thú vị, mang đến sự say mê cho

    người đọc. Sự phối hợp những thủ pháp, kỹ thuật kể chuyện của Hugo chỉ có ý nghĩa với người đọc, chỉ vượt được biên giới các quốc gia khi nó được chỉ hướng bằng một tình cảm cao cả. Đó là lý tưởng nhân văn, trân trọng giá trị con người.

    Xúc cảm ấy đã thấm đẫm trong toàn tác phẩm, trong từng câu từng chữ, từng cách sắp xếp lớp cảnh. Những phân tích về mặt kỹ thuật như trên vẫn chỉ là một cách rất hạn chế, rất thô sơ để thấy rõ hơn xúc cảm và lý tưởng của ông mà thôi. Một bài đọc chi tiết, cẩn trọng toàn đoạn trích sẽ mang đến cho người đọc những xúc cảm không thể nói thành lời.

  • Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương

    Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương

    Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Câu hỏi trắc nghiệm môn Kinh tế phát triển


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Văn học Việt Nam đại cương

    Văn mẫu: Văn học Việt Nam đại cương

    BẰNG SỰ HIỂU BIẾT VỀ THƠ,VĂN, ANH/CHỊ HÃY GIỚI THIỆU VỀ ĐẤT NƯỚC VÀ CON NGƯỜI VIỆT NAM ĐẾN BẠN BÈ THẾ GIỚI.

    Bài mẫu 1

    Hỡi bạn bè khắp năm châu bốn bể hãy đến với chúng tôi, tôi tin chắc các bạn sẽ chẳng muốn về. Việt Nam là đất nước có nền lịch sử văn hiến từ rất lâu đời, chúng tôi tự hào vì nòi giống con rồng cháu tiên của mình. Trải qua bao thăng trầm biến cố của lịch sử Trung Quốc đô hộ 1000 năm, hàng trăm cuộc đời yên ổn ra đến khi Ngô Quyền xưng vương, mở đầu nền độc lập dân tộc. Rồi hơn 1000 năm phong kiến có thịnh có suy, một lần nữa, đất nước Việt Nam lại … Dân tộc Việt Nam là dân tộc anh hùng đã đẩy lùi thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, mở ra một kỷ nguyên sáng láng, độc lập, tự do, hạnh phúc. Qua bao thăng trầm của lịch sử, dân tộc VN vẫn giữ được những nét truyền thống của mình. Hẳn khi đến bất cứ vùng trời nào…, khi nhìn thấy một người ăn trầu, búi tóc, răng đen thì đó chắc là người VN. Người VN lấy nhân nghĩa làm gốc, “Trai thời trung hiếu làm đầu, gái thời tiết hạnh là câu trau mình”. Họ sống vẫn nhớ về tổ tiên với những phong tục cổ truyền như đám giỗ ngày tết:

    Thịt mỡ dưa hành câu đối đỏ

    Cây nêu, tràng pháo, bánh chưng xanh.

    Đất nước VN tồn tại đến ngày nay bởi có những con người kiên cường bất khuất, giặc đến nhà đàn bà cũng đánh. Hình ảnh Hai Bà Trưng cướp cờ khởi nghĩa mãi mãi sáng ngời trong thiên sử anh hùng dân tộc. Tiếng trống Mê Linh vang động đất trời khiến quân thù phải khiếp sợ đến ngày nay. Rồi Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi, Quang Trung, những con người kiệt xuất của dân tộc. Nguyễn Trãi nói không sai: “Tuy mạnh yếu có lúc khác nhau, song hào kiệt đời nào cũng có” (Trích Bình Ngô Đại Cáo).

    Họ chiến đấu vì nước quên thân, đến cả những người nông dân “chưa quen cung ngựa, đâu tới trường nhung, chỉ biết ruộng trâu, ở trong làng bộ” (Trích Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc) cũng đứng dậy đấu tranh khi người Tây xâm lược, người VN lại thề sống chết chiến đấu, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Từ cậu bé Lượm, đến những thanh niên như Võ Thị Sáu, Lê Văn Tám, Nguyễn Văn Trỗi. Những người phụ nữ hiên ngang, còn cái lai quần cũng đánh như chị Út Tịch, Tnú, bà bá hậu Giang, cả dân tộc đứng lên một lòng và sức mạnh nào cũng phải lui bước. Khi đất nước sạch bóng quân thù, họ lại trở về vui vẻ bên ánh lửa bập bùng, nơi nhà Rông, tiếng hát nghêu ngao trên những đoàn thuyền đánh cá, sáng chài lưới ta cùng nhau nhâm nhi chum rượu nếp ấm nồng, điệu hò, câu hát làm nên… nên thơ. Người VN lao động và biết tìm hạnh phúc trong cuộc sống lao động giản dị đời thường. Đến với VN, hẳn bạn bè trầm trồ với vẻ tạo hóa ban cho VN một cảnh sắc thiên nhiên tuyệt vời. Những người vợ nhớ chồng góp cho đất nước những hòn núi Vọng Phu, cặp vợ chồng yêu nhau góp nên hòn Trống Mái (Trích Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm). Du khách sẽ có dịp ngẩn người khi nhìn thấy màu nước xanh biếc, những bóng màu trời của Vịnh Hạ Long, hay những tạo tác kỳ diệu của thiên nhiên trong Động Phong Nha, rồi những bờ biển trải dài với cát mịn, mặt trời lên Đảo Phú Quốc như thiên đàng. Tất cả tạo nên một bức tranh VN có đủ mây trời, non nước, phong cảnh hữu tình làm say đắm khách phương xa. Hãy đến với chúng tôi, một đất nước biển lúa mênh mông, những con sông dạt dào nước chảy

    Quê hương tôi có con sông xanh biếc,

    Nước gương trong soi tóc những hàng tre

    Tâm hồn tôi là những buổi trưa hè

    Tỏa nắng xuống dòng sông lấp loáng

    (Trích Nhớ con sông quê hương – Tế Hanh)

    Con người VN thật là hồn hậu. Họ sẵn sàng chào đón bạn với những nụ cười dễ thương và ẩm thực có hàng ngàn món ngon như bún bò Huế, cơm hến, bánh xèo, cá nướng trui. Chúng dân dã, bình dị, nhưng đậm đà cả linh hồn dân tộc, mặn vị mặn nước mắm Phú Quốc, ngọt vị ngọt đường mía lau.

    Anh đi anh nhớ quê nhà

    Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương

    (Trích ca dao)

    VN giờ đây đang chuyển mình hội nhập và phát triển như con rồng của khu vực. Những bàn tay cầm súng giờ đây đang miệt mài trong các nhà máy, hàng ngàn thanh niên đang hăng hái nghiên cứu khoa học để tạo ra những máy móc, thiết bị hiện đại cho sản xuất tiêu dùng. Bao công trình mọc lên như đại lộ Đông Tây, hầm Thủ Thiêm v.v… Tất cả thể hiện một sức sống đang căng tràn, tiềm năng tăng trưởng. Hãy đến với VN, đến với những con người nhỏ bé nhưng có sức mạnh phi thường. Chúng tôi dang tay đón chào các bạn.

    Bài mẫu 2

    ………..Việt Nam quê hương tươi đẹp, mang vẻ đẹp không thể diễn tả bằng lời. Nó được gửi gắm vào các câu thơ, bài văn, tình cảm của các nhà văn nhà thơ. Tổ quốc dân tộc cũng là đề tài quen thuộc của ca dao trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Tuy nhiên, cứ mỗi làn ra trận thì đề tài ấy lại sáng rực. Vốn dĩ bình thường, trong sâu thẳm mỗi người, điều ấy nó vẫn khuất đâu đó trong lời ru của mẹ, trong câu hát điệu hò. Ngày từ thuở dân tộc chưa có chữ viết, ta cũng đã quen với điều này qua thần thoại truyền thuyết, ca dao. Rồi đến thời kỳ văn học trung đại phong kiến, dân tộc trải qua bao thăng trầm, thì hình ảnh đất nước vẫn lồng lộng, hiên ngang chói sáng những ánh vàng, những chiến công vang dội gắn liền với tên tuổi trong lịch sử dân tộc Lý Trần Lê. Trong TK XX dân tộc ta trải qua 2 cuộc kháng chiến trường kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Văn học VN cuối năm 75, ta bắt gặp nhịp cùng thời đại, nhịp cùng tổ quốc non sông trong nhịp bước song hành của lịch sử. Ghi lại những ngày tháng ấy, nhà thơ : “Đât nước của những đội quân song song cùng lịch sử, đi suốt thời gian đi suốt không gian, sừng sững giữa trời anh hùng anh dũng hiên ngang”. Đất nước là cả một cuộc kháng chiến trường kỳ máu lửa, khó khăn thử thách, nhưng cũng rất đáng tự hào với một niềm tin tưởng của đât nước đã thuộc về sở hữu của con người VN. Trong nhiều nhà thơ viết về đề tài này thì có lẽ Tố Hữu chưa bao giờ dừng lại. Ở đề tài này, Tổ quốc trong thơ anh hiện lên nhiều dáng vẻ, nhưng tựu chung lại thì góc độ nào, anh cũng muốn đồng bào miền Nam hát vang bài ca yêu tổ quốc.

    Việt Nam, ta lại gọi tên mình

    Hạnh phúc nào hơn được tái sinh

    Mát dạ ông cha nghìn thuở trước

    Cho đời, hai tiếng mới quang vinh!

    Lịch sử VN tôi hào hùng vậy đấy. Từ xa xưa hình ảnh thiên nhiên, VN hiển hiện trong câu ca dao, câu văn của các thi sĩ.

    Thừa Thiên cảnh đẹp đẹp ngời.

    Núi xanh khí phách, biển ngời sức xuân

    Ngày nay sau hơn 4000 năm lịch sử, thiên nhiên VN hiện lên một vẻ đẹp thơ mộng, hùng vĩ và tráng lệ. Con người biết sử dụng đôi bàn tay khéo léo của mình để uốn nắn…nhưng vẫn giữ nguyên vẻ đẹp non sông của nó, có Phong Nha Kẻ Bàng, vịnh Hạ Long. Có rất nhiều bãi tắm đẹp như Nha Trang, Sầm Sơn, Phan Thiết, Phú Quốc v.v… Đi cùng năm tháng là những nét văn hóa độc đáo, những phong tục tập quán phong phú, lâu đời, gắn liền với bản sắc văn hóa riêng của 54 dân tộc anh em trải dài từ Bắc vào Nam. Mỗi mảnh đất đều mang dấu ấn đặc trưng khác nhau. Kìa là miền Trung thương nhớ, nhớ những con người thân thiện, lam lũ với cuộc sống mưu sinh; vùng đất khô cằn, vào những ngày đông giá lạnh, ngoài chén trà nóng trong tay, khách sẽ ấm lòng với vị cay xé lưỡi của ớt, tỏi, tiêu. Trong những món ăn dân tộc dân dã, nhiều người kể lại là những năm mất mùa, nhiều người nghèo miền Trung, họ ăn ớt thay cơm, đem cá kho mặn với ruốc rồi đem ớt ra ăn dần mỗi ngày, hầu như nhà nào cũng có hũ ớt ngâm để ăn trong những ngày mưa dầm. Nhà thơ Nguyễn Khoa Điềm từng viết: “Biết ăn ớt để đánh lừa cái lũ, bởi trong đó là ẩn ý đánh lừa vị giác để quên đi sự đạm bạc khi thiếu thốn”. Kìa miền Bắc thân yêu, những cảnh khi mùa về mang tới miền Bắc có đủ 4 mùa xuân hạ thu đông. Xuân về mang tới sắc trời âm áp, rực rỡ sắc màu. Hạ về mang theo ánh nắng chói chang, nóng bức, đất đai khô cằn. Đông sang trời rét buốt, da cắt, yêu cái vị mặn mà trong bữa cơm gia đình. Về miền Nam nghe giọng hò ầu ơ mẹ ru con ngủ. Đi sâu vào trái tim mỗi người làm cho ta xao xuyến muốn về với tuổi thơ có lời ru ngọt ngào của mẹ. Miền Nam có 2 mùa mưa nắng đưa về với vị ngọt của các món ăn.

    VN quê hương tôi thế đấy. Mỗi vùng đất, con người khác nhau, nhưng mang đậm chất tình người, thân thiện có truyền thống gia đình, đẹp đẽ với tình cảm vợ chồng thương yêu

    Râu tôm nấu với ruột bầu

    Chồng chan vợ húp gật đầu khen ngon

    Rồi tình anh em, tình đồng chí

    “Súng bên súng, đầu sát bên đầu,

    Đêm rét chung chăn thành đôi tri kỷ,

    Đồng chí”

    VN có một nền văn hóa đặc sắc lâu đời, gắn liền với sự hình thành và phát triển của dân tộc. Người VN vốn thiết thực “ăn chắc mặc bền”, “có thực mới vực được đạo”. Các món ăn thì đa dạng phong phú… Trang phục nam giới phát triển, đóng khố, ở trần…………………

    VN quê hương tôi đẹp mãi như vậy. Dù đi đâu xa xôi trong trái tim mỗi người VN đều ấp ủ một hoài niệm được trở về với mảnh đất sinh ra và lớn lên này.

    ——————————————————————————————————————-

    – SO SÁNH TRUYỆN CỔ TÍCH DÂN GIAN VÀ TRUYỆN CỔ TÍCH VIẾT LẠI.

    So sánh truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích hiện đại?

     Định nghĩa truyện cổ tích, phân loại

    Truyện cổ tích là những truyện truyền miệng dân gian kể lại những câu chuyện tưởng tượng xoay quanh một số nhận vật quen thuộc như nhân vật tài giỏi, nhân vật dũng sĩ, người mồ cô, người em út, người con riêng, người nghèo khổ, người có hình dạng xấu xí, người thông minh, người ngốc nghếch và cả những câu chuyện kể về các con vật nói năng và hoạt động như con người.

    Căn cứ vào các nhân vật chính và tính chất của sự việc được kể lại, có thể chia truyện cổ tích ra làm 3 loại: Truyện cổ tích loài vật, truyện cổ tích thần kỳ và truyện cổ tích thế tục (cổ tích sinh hoạt). Căn cứ vào quan điểm lịch đại, và một số đặc điểm khác, người ta còn có các phân chia khác, chia truyện cổ tích ra thành 2 loại: truyện cổ tích dân gian và truyện cổ tích hiện đại.

    Nội dung so sánh:

    Truyện cố tích dân gian là những tác phẩm thường bằng văn xuôi truyền miệng, hư cấu với hình ảnh kỳ vĩ, có cấu trúc kết cấu truyện ổn định và hướng người nghe bằng hình thức kể chuyện. Truyện cổ tích hiện đại có hình thức truyện là tự sự, mang đặc điểm hư cấu được thừa nhận bởi tác giả và người nghe hoặc độc giả.

    Truyện cổ tích hiện đại ra đời sau, tuy mang nhiều đặc điểm tương đồng cơ bản với truyện cổ tích dân gian nhưng vẫn có một số nét riêng của cùng một thể loại văn học:

    Đặc điểm Truyện cổ tích dân gian Truyện cổ tích hiện đại
    Tác giả Là sản phẩm của nhiều thế hệ dân chúng (tức là không có tác giả cụ thể – khuyết danh) Là sáng tác của cá nhân, có tên tuổi cụ thể,…
    Phương thức lưu truyền Vốn lưu truyền chủ yếu bằng hình thức truyền miệng và về sau được ghi chép lại. Là thể loại được lưu truyền bằng văn bản
    Tồn tại Có nhiều dị bản khác nhau và hàng loạt môtip nghệ thuật có sẵn được lặp đi lặp lại nhiều lần. Là sáng tác duy nhất và không lặp lại, được thể hiện thông qua cá tính sáng tạo của nhà văn và phát triển theo quy luật sáng tạo văn học.
    Cốt truyện Để phù hợp với phương thức truyền miệng à cốt truyện thường đơn giản, ngắn gọn. Có đan xen cả cốt truyện từ đơn giản đến phức tạp; có trường hợp có tới 2-3 cốt truyện cố tích dân gian khác nhau được tác giả ghép nối vào nhau à truyện không phải để kể mà để đọc.
    Nhân vật Nặng về khái quát hóa, nhân vật mang đặc điểm loại tính nhiều hơn. Chủ yếu sử dụng những yếu tố có sẵn để miêu tả nhân vật theo con đường trừu tượng hóa, khái quát hóa. Nhân vật mang đặc điểm tâm lí và khắc họa chân dung ngắn gọn, được xây dựng chủ yếu qua con đường đối thoại và hành động. Nhân vật vừa có tính khái quát vùa có tính cá thể. Trong các truyện cổ tích hiện đại, việc đi sâu vào miêu tả tâm lí nhân vật bước đầu được chú ý hơn. Ít đặt nhân vật vào những hoàn cảnh có tính chất hoang đường mà tập trung vào bề sâu bên trong của con người đó.
    Triết lý, bình luận Truyện cổ tích dân gian không có bình luận, có chăng chỉ là những lời giải thích sự việc xuất hiện ở phần kết thúc câu chuyện. Trong truyện cổ tích hiện đại, lời bình luận, triết lí của tác giải không chỉ xuất hiện ở phần kết thúc mà nhiều khi được xen lẫn vào từng phần của câu chuyện. Sử dụng nhiều khái niệm mới, hiện đại.
    Thế giới quan Thể hiện quan niệm của con người về thiên nhiên, về thế giới xung quanh mình nhưng lại không phải biểu hiện nhận thức và sáng tạo nghệ thuật một cách có ý thức, không có phạm trù thế giới quan mà chỉ có phạm trù thẩm mĩ. Quan niệm về thế giới quan, nhiệm vụ tư tưởng thẩm mĩ của thời đại và quan hệ với phương pháp nghệ thuật của nhà văn.

    ——————————————————————————————————————-

    – PHÂN TÍCH “BÌNH NGÔ ĐẠI CÁO” CỦA NGUYỄN TRÃI VÀ “TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP” CỦA HỒ CHÍ MINH ĐỂ CHỈ RA SỰ KHÁC NHAU GIỮA VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VÀ VĂN HỌC HIỆN ĐẠI.

    Điểm giống và khác nhau giữa 2 bản :tuyên ngôn độc lập và bình ngô đại cáo là gì?

    1/- Điểm giống nhau giữa “Tuyên ngôn độc lập” (Hồ Chí Minh) và “Bình Ngô đại cáo” (Nguyễn Trãi) :

    a- Về lịch sử : Cả hai tác phẩm đều được viết vào thời điểm có ý nghĩa lịch sử trọng đại của đất nước: là bản tổng kết kết thúc một thời kỳ đau khổ, tủi nhục bị ngoại xâm giày xéo ( “Bình Ngô đại cáo” của Nguyễn Trãi là kết thúc 10 năm gian khổ kháng chiến chống quân Minh của nghĩa quân Lam sơn; còn “Tuyên ngôn độc lập” của HCM là kết thúc thời kỳ nước ta bị “một cổ 2 tròng” dưới 2 tầng áp bức của thực dân Pháp và phát xít Nhật) , và mở ra một kỷ nguyên mới – kỷ nguyên tự do, độc lập của đất nước !

    b- Về thể loại : Cả hai tác phẩm đều thuộc thể văn chính luận có bố cục chặt chẽ (3 phần) lập luận sắc sảo ; lý lẽ hùng hồn, mang tính luận chiến cao ; dẫn chứng rõ ràng cụ thể, chính xác ; tình cảm thiết tha,… . Hai tác phẩm đều có chung ý nghĩa “tuyên bố rộng rãi cho toàn thể nhân dân được biết về nền độc lập tự do của dân tôc”.

    c- Về nội dung : Cả hai tác phẩm đều có các nội dung cơ bản giống nhau, đều mang giá trị Văn học – nhân văn sâu sắc :

    * Hai bản tuyên ngôn đều xuất phát từ tư tưởng nhân đạo của dân tộc : “BNĐC” đứng trên lập trường Nhân nghĩa của dân tộc là “yên dân – trừ bạo” ; còn “TNĐL” thì đứng trên lập trường quan điểm về quyền sống, quyền tự do, độc lập của dân tộc

    * Hai bản “tuyên ngôn” đều có nội dung tố cáo tội ác “trời không dung đất không tha” của giặc
    * Hai bản “tuyên ngôn” đều có nội dung “lược thuật tóm tắt quá trình chiến đấu của nhân dân vì độc lập tự do”

    * Hai bản tuyên ngôn đều có lời tuyên bố hòa bình , mở ra một thời kỳ độc lập tự do cho đất nước và ý chí quyết tâm giữ gìn nền tự do độc lập đó

    2/- Điểm khác nhau :

    a- Về thời đại lịch sử :

    * “BNĐC” của NT ra đời vào cuối năm 1427 đầu năm 1428 sau khi chiến thắng quân Minh
    * “TNĐL” của HCM ra đời vào ngay khi cách mạng tháng Tám thành công 1945 – thời điểm nóng bỏng đến kết thúc của chiến tranh Thế giới thứ 2.

    b- Về thể loại : Cùng mang phong cách của văn chính luận, nhưng :

    * “BNĐC” của NT được viết bằng chữ Nôm theo lối văn Biền ngẫu với thể loại “Cáo” dùng để kết thúc chiến tranh (thuộc nền văn học Trung đại) .

    * “TNĐL” của HCM thì được viết theo lối văn hiện đại, bằng chữ Quốc ngữ (thuộc nền văn học Hiện đại)

    c- Về cơ sở pháp lý :

    * “BNĐC” của NT dựa trên lập trường “Nhân nghĩa” của dân tộc Việt Nam (yên dân, trừ bạo)
    * “TNĐL” của HCM đứng trên lập trường “quyền bình đẳng, quyền độc lập, tự do của các dân tộc” trên thế giới

    d- Về phạm vi ý nghĩa :

    * “BNĐC” của NT có phạm vi nội bộ trong nước Đại Việt, chỉ “xa gần bá cáo / Ai nấy đều hay” …
    * “TNĐL” của HCM ngoài việc tuyên bố trước toàn thể dân tộc Việt Nam, mà còn có ý nghĩa tuyên bố với toàn thế giới về độc lập chủ quyền của dân tộc Việt Nam và ngăn chận cả âm mưu tái xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp !

    Ở thời điểm này, tại biên giới phía Bắc, Mỹ đứng sau quân Tàu -Tưởng đang lăm le tràn vào nước ta núp dưới bóng của tổ chức Vệt Nam quốc dân Đảng. Tại phía Nam, lính viễn chinh Pháp đang núp sau quân đội Anh vào giải giáp vũ khí của Nhật . Thực dân Pháp lại tuyên bố rằng : Đông Dương là thuộc địa của Pháp bị Nhật chiếm, nay Nhật đã đầu hàng, vậy Đông Dương đương nhiên thuộc quyền “bảo hộ” của người Pháp…”TNĐL” đã cương quyết bác bỏ luận điệu đó của Pháp !

     

     

     

    MỘT SỐ NÉT TƯƠNG ĐỒNG GIỮA NGUYỄN TRÃI VÀ HỒ CHÍ MINH TRONG VĂN CHƯƠNG

    16/01/2012
    _Đặng Minh Hải_ (Trường ĐH Sư phạm Tp. HCM)

    I. Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh – hai vị anh hùng dân tộc:

    Có nhà nghiên cứu đã nói rằng con người Nguyễn Trãi phải nhìn từ hai phía mới rõ: Một là, từ thời Lí Trần, một thời đại hào hùng trong công cuộc xây dựng, bảo vệ nền độc lập tự chủ của chế dộ phong kiến nước ta. Trong giai đoạn này, đã xuất hiện bao chiến công oanh liệt, bao tấm lòng yêu nước thương dân cao vọi mà đặc biệt là thời nhà Trần với hào khí Đông A mạnh mẽ, với đôi tay vạm vỡ “sát Thát”. Nguyễn Trãi đã học ở đó bài học sức mạnh toàn dân, tinh thần yêu nước cao cả. Mà trực tiếp nhất là học tập qua người ông ngoại của mình là Trần Nguyên Đán, một trí thức uyên thâm. Chính việc học hỏi kinh nghiệm lịch sử cộng với tài trí của mình, Nguyễn Trãi đã có những phát triển vượt bậc, tiến xa thời đại Lí Trần về quan niệm dân, nước và sức mạnh của nhân dân lao động; Bên cạnh đó, từ thời đại của Nguyễn Trãi là thời cuối Trần, đầu Lê, giặc Minh xâm lược. Khắp chốn bao cảnh binh đao, chết chóc. Hai mươi năm giặc Minh đặt vó ngựa lên nước ta là hai mươi năm đen tối “trời không dung, đất không tha”. Đau đớn thay ! bao cảnh khốn cùng của nhân dân, nhục nhã thay ! đất nước đang tràn bóng giặc. Nguyễn Trãi đã bao đêm không ngủ, bao ngày quên ăn để tìm đường cứu dân, cứu nước. Hình ảnh Nguyễn Trãi đau đáu nỗi lòng dân, nước “Đêm ngày cuồn cuộn” thật đẹp đẽ và cao cả. Tất cả những điều vừa nêu, đã hun đúc và phát triển tấm lòng vì dân vì nước của Nguyễn Trãi đến đỉnh cao nhất, để cả đời Nguyễn Trãi dù gian nan, nguy hiểm đến mấy vẫn luôn kiên định với lí tưởng cao đẹp, thiêng liêng này.

    Hồ Chí Minh là một chiến sĩ cách mạng chân chính, tiến bộ. Cả cuộc đời đã dành trọn cho giang sơn gấm vóc mà không gợn chút mảy may tư lợi. Cứ mỗi khi nhắc đến Hồ Chí Minh là trái tim, mạch máu con người Việt Nam như đập mạnh hơn, rạo rực hơn từng giây từng phút tưởng nhớ về vị cha già kính yêu của dân tộc. Cũng như Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh không nguôi nghĩ về dân, về nước. Sinh ra trong hoàn cảnh đất nước mất tự do, giặc Pháp xâm lược, chế độ phong kiến thối ruỗng, nhân dân một cổ hai tròng khổ cực xiết bao. Vì vậy, Hồ Chí Minh đã sớm có tư tưởng yêu nước và giải phóng dân tộc. Năm 1911, Hồ Chí Minh ra nước ngoài tìm con đường cho cách mạng Việt Nam. Người đã được làm việc, hoạt động trong môi trường công nhân các nước phương Tây. Người đã đi khắp năm châu bốn bể, qua các nước đế quốc, các nước thuộc địa, nửa thuộc địa, tiếp xúc với mọi dân tộc mọi màu da, đã chứng kiến bao tiếng kêu thất thanh của những thân phận khốn khổ, của nô lệ khắp nơi trên thế giới. Điều đó hình thành nên tính nhân dân sâu sắc trong con ngưới Hồ Chí Minh gắn liền với tính đảng và giai cấp công nông thế giới. Mười năm Nguyễn Trãi lưu lạc (1407-1417) và ba mươi năm Hồ Chí Minh bôn ba (1911-1941) năm châu bốn bể đã giúp hai vị anh hùng tìm ra cho dân tộc những con đường cứu nước đi đến thắng lợi. Với Nguyễn Trãi là “mưu phạt”, “tâm công”, với Hồ Chí Minh là cách mạng vô sản. Cả cuộc đời Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã chiến đấu đến hơi thở cuối cùng để thực hiện hoài bão giải phóng dân tộc, mang lại hạnh phúc cho mọi người. Nguyễn Trãi có ước nguyện “Dân giàu đủ khắp đòi phương”, Hồ Chí Minh có ham muốn tột bậc “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Hai con người, hai thời đại khác nhau nhưng cùng chung một tấm lòng yêu nước, thương dân “bát ngát đại dương” như vậy quả thật hiếm có và đáng để chúng ta trân trọng, tôn kính.

    Tình yêu nước, thương dân của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh luôn gắn liền với hành động cụ thể. Mọi tư tưởng chính trị luôn chi phối một cách đúng đắn, sáng suốt trong suy nghĩ, chủ trương của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Và chưa bao giờ tư tưởng chính trị lại đóng vai trò chỉ đạo chặt chẽ và nhất quán như trong thơ văn Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh.

    II.Quan điểm về văn chương nghệ thuật của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh

    1. Quan điểm về văn chương nghệ thuật của Nguyễn Trãi

    a. Văn chương gắn liền với cuộc sống và hướng đến phục vụ nhân dân

    Với tư cách là nhà văn, nhà thơ, Nguyễn Trãi đã đem văn học phục vụ cho cuộc sống, chỉ có bắt nguồn từ cuộc đấu tranh của nhân dân giành lại độc lập, hạnh phúc thì văn nghệ mới có thể phát huy được tác dụng mạnh mẽ. Tác phẩm văn học của Nguyễn Trãi luôn gần gũi đối với thiên nhiên, đời sống đất nước và nhân dân. Với Nguyễn Trãi, văn chương phải là tiếng nói tinh thần của con người, phải lột tả cho hết được những cảm xúc sâu lắng của con người: “Say mùi đạo trà ba chén/ Tả lòng phiền thơ bốn câu” (Thuật hứng 13- Quốc âm thi tập). Hiện thực đời sống phong phú là cơ sơ của tác phẩm văn học. Vì vậy theo Nguyễn Trãi, nếu văn chương xuất phát từ cuộc sống thì con người ta có thể làm thơ, viết văn ở mọi lúc, mọi nơi: “Qua đòi cảnh chép câu đòi cảnh; Nhàn một ngày nên quyển một ngày” (Tự thán 5 – Quốc âm thi tập) hoặc như: “Nhàn lai vô sự bất thanh nga” (khi nhàn thì không gặp việc gì không ngâm nga). Mặt khác Nguyễn Trãi cũng đòi hỏi người nghệ sĩ phải là người nhạy cảm. Nhà văn, nhà thơ phải để cho lòng mình sẵn sàng rung động như sợi dây đàn, luôn có sự cảm ứng nhạy bén với ngoại cảnh:

                                    “ Nhãn để nhất thời thi liệu phú. Ngâm ông thùy dữ thế nhân đa”.

    (Hý đề – Ức Trai thi tâp)

    Nguyễn Trãi muốn văn học phải gắn bó mật thiết với cuộc sống của quảng đại quần chúng. Mà chính những tác phầm của Nguyễn Trãi đã được hình thành trên mối quan hệ giữa văn học và đời sống “Túi thơ chứa chất mọi giang sơn” (Tự thán 2 – Quốc âm thi tập). Ông đã cùng sống với nhân dân, cùng họ chiến thắng bọn xâm lược hung tàn. Bao nhiêu máu và nước mắt của nhân dân đổ xuống là bấy nhiêu nhát cắt vào tấm lòng Nguyễn Trãi. Từ đó, ông đã phả vào trong tác phẩm văn chương của mình một tinh thần nhân đạo, nhân văn cao cả. Văn chương của Nguyễn Trãi phục vụ nhân dân nghĩa là văn chương được dùng như một thứ vũ khí huyền diệu để đánh tan quân gian ác, lũ xâm lược, giải phóng con người đem lại hạnh phúc cho nhân dân

    b. “Văn chương là thứ khí giới thanh cao và đăc lực…để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn”

    Qua thơ văn, Nguyễn Trãi tỏ rõ là một chiến sĩ kiên cường, tích cực đấu tranh cho nền ñoäc lập, hạnh phúc của nhân dân, của đất nước. Ông đã chứng minh văn học là một thứ vũ khí lợi hại. Bằng ngọn bút, bằng lí lẽ hùng hồn, Nguyễn Trãi đã uy hiếp tinh thần quân xâm lược góp phần giải phóng đất nước, giành lại độc lập đem lại hòa bình và tự do cho dân nhân ta

    Cả cuộc đời Nguyễn Trãi, tư tưởng yêu nước, thương dân luôn quán xuyến mọi hành động, suy nghĩ cũng như trong những sáng tác văn chương của ông. Văn chương trong thời chiến khác với văn chương trong thời bình, nó có sức mạnh trừ gian, trừ ác, giải phóng con người. Cứ đọc những bức thư Nguyễn Trãi gửi cho tướng giặc mà người đời sau gọi là Quân trung từ mệnh tập thì khắc rõ. Đó là giọng văn chính luận sắc bén, ngắn gọn và có sức mạnh bằng ngàn đội quân. Giọng điệu trong Quân trung từ mệnh tập lúc thì mềm dẻo, lúc thì cương quyết, làm cho tướng giặc vừa nể phục vừa khiếp đảm: “Các ngươi nếu biết kéo quân ra thành, cùng ta hòa hảo thân tình thì ta coi các ngươi như anh em ruột thịt…nếu không thế tùy các ngươi. Trong khoảng sớm tối, sẽ khắc thấy nhau, đến lúc bấy giờ hối cũng không kịp. Các ngươi hãy nên nghĩ đi” (Thư dụ thành Bắc Giang). Có thể thấy, Nguyễn Trãi đã coi văn chương là thứ vũ khí đắc lực nhất để xua đuổi quân thù, mang lại hạnh phúc cho con người vì “văn học là nhân học”

    Nguyễn Trãi còn coi văn chương là một hoạt động tinh thần có khả năng thanh lọc, cảm hóa con người và mang đến nhân nghĩa:

                    “Văn chương chép lấy đòi câu thánh

                    Sự nghiệp tua gìn phải đạo trung

                    Trừ độc, trừ tham, trừ bạo ngược

                    Có nhân, có trí, có anh hùng”

    (Bảo kính cảnh giới 5 – Quốc âm thi tập)

    Như vậy, với Nguyễn Trãi, văn chương là “thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người thêm trong sạch và phong phú hơn” (Thạch Lam)

    c. Văn chương phải giản dị, gần lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân

    Với vốn sống và vốn tri thức phong phú, sâu rộng, Nguyễn Trãi đã kết hợp văn học dân gian với văn học viết một cách nhuần nhuyễn, không chỉ ở ngôn ngữ nhân dân hàng ngày được ông nâng lên thành ngôn ngữ văn học có giá trị nghệ thuật cao mà còn ở phần nhân văn nhân đạo: trọng lao động, quý tục lệ ông bà, cách đối nhân xử thế.

    Nguyễn Trãi đã đưa khẩu ngữ hàng ngày của nhân dân vào thơ ca và tận dụng khả năng của những khẩu ngữ ấy để tả cảnh, tả người, tả vật:

    “ Nên thợ, nên thầy vì có học

    No ăn, no mặc bởi hay làm”.

    (Bảo kính cảnh giới 46)

    “ Co que thay bấy ruột ốc

    Khúc khuỷu làm chi trái hòe”.

    (Trần tình 8)

    Làm được điều này đòi hỏi cái tài của người người nghệ sĩ, thật khéo léo mà cũng thật tinh tế để làm cho tác phẩm của mình như là cuộc sống, hơi thở của con người. Ngoài ra, Nguyễn Trãi còn sử dụng ngôn ngữ của văn học dân gian trên cơ sở gọt giũa và cách điệu hóa, sử dụng những hình tượng, kết cấu vốn đã được cô đúc trong ngôn ngữ văn học dân gian để diễn tả cái tình, cái ý một cách nhuần nhị:

    Từ câu tục ngữ “Con sâu làm rầu nồi canh”. Nguyễn Trãi viết:

    “Chẳng ngừa nhỏ, âu lên lớn

    Nếu có sâu thì bỏ canh”.

    (Bảo kính cảnh giới 21 – Quốc âm thi tập)

    Từ câu ca dao:

    “ Bể sâu còn có kẻ dò

    Lòng người nham hiểm ai đo cho cùng”.

    Nguyễn Trãi viết:

    “ Dễ thay ruột bể sâu cạn

    Khôn biết lòng người ngắn dài”.

    (Ngôn chí 6- Quốc âm thi tập)

    Tuy không nói ra, nhưng chúng có thể cảm nhận được niềm tự hào của Nguyễn Trãi với những giá trị bổ ích của văn học dân gian, đặc biệt là khả năng vận dụng ngôn ngữ của cha ông xưa trong việc diễn đạt tâm tư, tình cảm. Nguyễn Trãi đã học hỏi, sử dụng ngôn ngữ nhân dân để làm tăng sự sinh động và gần gũi cho tác phẩm của mình, đồng thời Nguyễn Trãi còn lưu giữ và phát triển sự sáng đẹp của ngôn ngữ dân tộc đã được nhân dân gọt giũa, chọn lọc từ lâu đời.

    2. Quan điểm của Hồ Chí Minh về văn chương nghệ thuật:

    a. Văn chương phải coi quảng đại quần chúng là đối tượng phục vụ:

    Trong đường lối văn chương của chủ tịch Hồ Chí Minh, như chúng ta thấy, phục vụ cách mạng thống nhất với phục vụ nhân dân. Quan điểm nhân dân, quan điểm quần chúng của Hồ chủ tịch, nói như cố thủ tướng Phạm Văn Đồng: “Đó là điều cốt yếu hơn hết trong sự nghiệp cách mạng của Hồ chủ tịch”. Người khuyên nhà văn, nhà thơ đi sâu vào cuộc sống để hiểu tâm tư, nguyện vọng, cuộc sống của nhân dân, sao cho “mỗi tư tưởng, mỗi câu nói, mỗi chữ viết phải tỏ rõ cái tư tưởng và lòng ao ước cúa quần chúng”. Muốn làm được vậy, Hồ Chí Minh chỉ rõ, người nghệ sĩ phải xuống nông thôn, vào nhà máy, vào bộ đội, cùng sống, chiến đấu và lao động với quần chúng, như thế mới biết được khó khăn, chí khí và nguyện vọng của nhân dân như thế nào ?

    Hồ Chí Minh đã nêu lên quan điểm của mình về mối quan hệ giữa cuộc sống và tác phẩm, giữa người viết và người đọc, được cụ thể hóa trong hệ thống câu hỏi liên kết với nhau theo một trình tự chặt chẽ: “Viết cho ai ?”, “viết để làm gí ?”, “viết cái gì ?”, và “cách viết như thế nào ?”. Vấn đề đối tượng phục vụ, vấn đề “viết cho ai ?” được Hồ Chí Minh nêu bật hàng đầu như là xuất phát điểm, như là mục đích cụ thể quy định cả quá trình sáng tác. Văn học phục vụ nhân dân phải bắt nguồn tư hiện thực cuộc sống, phản ánh những sinh hoạt hàng ngày, những sự kiện trọng đại của dân tộc và cuộc sống. Chừng nào mà người nghệ sĩ chưa ý thức được rõ ràng mục đích và đối tượng phục vục chủ yếu của văn chương thì họ vẫn không thể có được một phương hướng sáng tác chính xác, vẫn dễ bị chập choạng và sáng tác của họ rất khó biến thành món ăn tinh thần của đông đảo nhân dân. Vì nhân dân bao giờ cũng là người đánh giá tác phẩm chính xác vá tinh tường nhất.

    b.“Văn hóa nghệ thuật là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”

    Hồ Chí Minh nói một cách giản dị “rõ ràng là dân tộc bị áp bức, thì văn nghệ cũng mất tự do. Văn học muốn tự do thì phải tham gia cách mạng” hoặc “Văn hóa nghệ thuật cũng như mọi hoạt động khác, không thể đứng ngoài, mà phải ở trong kinh tế và chính trị”. Như vậy là, Người đặc biệt quan tâm đến tác dụng, chức năng của văn chương xem văn chương như hoạt động thực tiễn của con người, như một sức mạnh cải tạo cuộc sống.

    Năm 1947, trong thư gửi anh chị em văn hóa và trí thức Nam bộ, Hồ Chí Minh có viết rằng: “Ngòi bút của các bạn cũng là những vũ khí sắc bén trong sự nghiệp phò chính trừ tà, mà anh em tri thức và văn hóa cũng phải làm như là những chiến sĩ anh dũng trong công cuộc kháng chiến để tranh lại quyền thống nhất và độc lập cho tổ quốc”. Năm 1951, Hồ Chí Minh lại khẳng định: “Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận, anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy”. Như vậy, ý kiến của Bác là rất nhất quán, sáng sủa, dễ hiểu: văn nghệ là mặt trận, văn nghệ sĩ là chiến sĩ, ngòi bút là vũ khí. Nhà văn, nhà thơ không thể “vị nghệ thuật’ tùy hứng muốn viết gì thì viết, không thể là một người “thư kí” khách quan chủ nghĩa mà phải là một chiến sĩ, một người có tính đảng cao, sống và viết cho một mục đích xác định. Trong bài thơ Cảm tưởng đọc Thiên gia thi Bác viết:

                                    “Thơ xưa thường chuộng thiên nhiên đẹp

                                    Mây, gió, trăng, hoa, tuyết, núi, sông

                                    Nay ở trong thơ nên có thép

                                    Nhà thơ cũng phải biết xung phong”

    Thơ phải có “thép”, tức là phải có tính chiến đấu. “Thép” trong thơ văn nói chung là tính cách mạng triệt để. Đây là điểm mới mà chủ tịch Hồ Chí Minh đem lại cho văn chương, khác với quan điểm văn chương phù phiếm, văn chương thù tạc của giai cấp phong kiến và giai cấp tư sản.

    Xác định mục đích của văn nghệ là phục vụ cách mạng, phục vụ nhân dân là hết sức đề cao văn chương nghệ thuật, gắn nó với những nguồn cảm hứng lớn lao nhất, bảo đảm cho nó một sự phát triển tự do và rực rỡ. Cũng như ở những lĩnh vực khác, ý kiến của Bác về văn nghệ bao giờ cũng thấm nhuần tinh thần thực tiễn cách mạng, có tính mục đích cao, nhưng đồng thời rất thiết thực, linh hoạt gắn liền với hánh động.

    c. Văn chương đừng như “dây cà, dây muống”

    Văn chương phải giản dị, gần gũi với sinh hoạt của nhân dân. Và Hồ Chí Minh cũng thấy được sức sáng tạo to lớn của quần chúng: “Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là sáng tác của quần chúng. Các sáng tác ấy rất hay mà lại gắn, chứ không trường thiên đại hải, dây cà dây muống…những sáng tác ấy là những viên ngọc quý”.

    Nhà văn phải chú ý đến hình thức thể hiện, tránh lối viết cầu kì, xa lạ, nặng nề. Hình thức tác phẩm phải trong sáng, hấp dẫn, ngôn từ phải chọn lọc. Hồ Chí Minh cũng đặc biệt quan tâm đến việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt. Theo Người tác phẩm văn chương phải thể hiện được tinh thần của dân tộc, của nhân dân và được nhân dân yêu thích.

    Văn chương xuất phát từ cuộc sống, văn chương lấy ngôn ngữ làm chất liệu tạo hình nên nó giúp ngôn ngữ đời sống ngày càng phát triển, còn ngôn ngữ văn học nhờ sự phong phú của ngôn ngữ đời sống nên cũng ngày càng sinh động, rực rỡ. Vì vậy, Hồ Chí Minh rất chú trọng đến hình thức giản dị, dễ hiểu, trong sáng, vui tươi của văn chương. Mặt khác Người cũng chống lại sự rập khuôn, đơn điệu, Người mong muốn “xây dựng văn nghệ ta ngày càng phong phú về tư tưởng và nghệ thuật”. Văn chương trong thời đại cách mạng gắn liền với chính trị, tuyên truyền cho đường lối của đảng, của cách mạng thì tác phẩm văn học phải thật giản dị, phải học lời ăn tiếng nói của nhân dân vì “cách nói của dân chúng rất đầy đủ, hoạt bát, rất thiết thực mà lại rất giản đơn”.

    III. Thơ Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh sáng ngời lòng yêu nước, thương dân, lo cho vận mệnh dân tộc

    Nguyễn Trãi khẳng định rằng: “Phúc chu, thủy tín dân do thủy” (lật thuyền mới thấy sức mạnh của dân như nước – Quan hải). Đây là cách nhìn mới mẻ, đầy sáng tạo và có sự trân trọng nhân dân đúng mực. Người làm vua, kẻ làm quan phải dựa vào dân trong đánh giặc cũng như xây dựng đất nước và luôn “chăm lo dân, khiến cho thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận, oán sầu”. Dù Nguyễn Trãi có gọi nhân dân là “dân đen “, “con đỏ” (Bình Ngô đại cáo) thì điều đó càng chứng tỏ tấm lòng chân thành của Nguyễn Trãi dành cho nhân dân. Trong kháng chiến chống quân Minh, sức mạnh của nhân dân đã được phát huy mạnh mẽ làm nên những chiến công vang dội nhất.

    Cả Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh cùng nhận thấy sức mạnh của nhân dân và luôn đề cao phẩm chất cao quý của họ. Nhưng đồng thời Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh cũng cảm nhận sâu sắc nỗi thống khổ của nhân dân.

    Khi lớn lên, Nguyễn Trãi sống với cha ở Nhị Khê hàng chục năm, rồi sau khi phải lưu lạc trong nhân dân, Nguyễn Trãi đã tự mình mắt thấy tai nghe muôn vàn khổ cực của dân dưới ách quân cướp nước và bán nước. Để rồi những vần thơ của Nguyễn Trãi như sống lên thành tiếng nói cảm thương sâu sắc, và ngược lại chính những vần thơ này càng giúp Nguyễn Trãi thấm thía hơn cuộc đời lam lũ, khốn khó, đau thương của nhân dân lao động, của người dân mất nước:

                                    “Nướng dân đen trên ngọn lửa hung tàn

                                    Vùi con đỏ xuống dưới hầm tai vạ”.

    (Bình Ngô đại cáo)

    Trái tim người đọc có bao cảm xúc lạ thường vừa thương cảm với nỗi thống khổ của nhân dân vừa càng yêu mến Nguyễn Trãi. Bầu trời Việt Nam như tối tăm hơn khi giặc Minh xâm lươc. Đã bao đêm Nguyễn Trãi không ngủ để tìm đường cứu nước cứu dân, bao nhiêu nỗi cơ cực, mất mát của dân chúng là bấy nhiêu nỗi đau đớn trong tấm lòng tác giả.

    Sinh ra khi nước đã mất nhà đã tan và lại có ba mươi năm tìm hiểu lăm châu bốn bể, Hồ Chí Minh đã thực sự thấm thía nỗi cơ cực của mọi giai cấp, tầng lớp nhân dân lao động. Về cảnh khổ của công nhân, Người viết:

    “ Lại còn đánh chửi tân phiền

    Cúp lương tháng trước, phạt tiền hôm qua”.

    (Ca công nhân)

    Về nỗi khổ của nông dân, Hồ Chí Minh viết:

    “Thương ôi ! những bạn dân cày

    Chân bùn, tay lấm suốt ngày gian lao”.

    (Ca dân cày)

    Còn tuổi thơ của những em nhỏ cũng thật đáng thương:

    “Sức còn yếu, tuổi còn thơ

    Mà đã khó nhọc cũng như người già”

    (Kêu gọi thiếu nhi)

    Với tấm lòng cảm thươg sâu sắc, Hồ Chí Minh không chỉ thấy được nỗi khổ quằn quại, triền miên của nhân dân, mà còn thấy tiềm lực vô tận, bản chất anh hùng của nhân dân.

    Thơ văn Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh không gì hơn tấm lòng yêu nước, thương dân và dòng máu truyền thống dân tộc luôn cuộn chảy trong họ. Tuổi trẻ của Nguyễn Trãi đã mang trong mình hoài bão, lí tưởng, cống hiến hết mình cho dân, cho nước. Trải qua bao khó khăn, thăng trầm trong cuộc đời, lí tưởng ấy của Nguyễn Trãi càng mãnh liệt, khôn nguôi:

    “Bui một tấc lòng ưu ái cũ

    Đêm ngày cuồn cuộn nước triều đông”

    (Thuật hứng 5 – Quốc âm thi tập)

    Cả cuộc đời Nguyễn Trãi “cật chưng hồ hải đặt chưa an” để suy nghĩ, để tìm câu trả lời: làm gì cho dân, những người dân lầm than, khổ cực. Chính vì vậy mà:

    “Còn có một lòng âu việc nước

    Đêm đêm thức nhẵn nẻo sơ chung”.

    (Thuật hứng 23 – Quốc âm thi tập)

    Rồi người đời càng cảm động hơn khi thấy một Nguyễn Trãi:

    “Bình sinh độc bão tiên ưu chí

    Tỏa ủng hàn khâm dạ bất miên”.

    (Suốt đời riêng ôm tấm lòng “lo trước”

    Ngồi quàng mảnh chăn lạnh, thâu đêm không sao ngủ được)

    (Hải khẩu dạ bạc hữu cảm 2- Ức Trai thi tập)

    Mỗi dòng thơ là một dòng tâm huyết, mỗi bài thơ là một tấm lòng trong sáng, đầy sức sống. Nguyễn Trãi hiện lên trong lòng người đọc đầy gần gũi mà luôn có sự kính phục, đầy yêu thương, tự hào. Cả cuộc đời Nguyễn Trãi quên ăn, quên ngủ cũng chỉ vì hai chữ dân, nước. Truyền thống yêu nước của dân tộc ta ngàn đời vẫn vậy. Và để rồi sau đó hơn năm thề kỉ cũng có một con người với tấm lòng như Nguyễn Trãi:
    “Một canh, hai canh lại ba canh

    Trằn trọc, băn khoăn giấc chẳng thành

    Canh bốn, canh năm vừa chợp mắt

    Sao vàng năm cánh mộng hồn quanh”.

    ( Không ngủ được”- Nhật kí trong tù – Hồ Chí Minh )

    Với lòng yêu nước chân chính và lòng nhân đạo cộng sản chủ nghĩa, Hồ Chí Minh không một giây phút nào rời xa tổ quốc dân tộc, ngay cả những ngày tháng gian lao nhất trong ngục tù đế quốc đến những ngày kháng chiến đầy sôi nổi nổi, ác liệt . Niềm lo âu việc nước luôn canh cánh bên lòng suốt đêm không ngủ:

    “Cảnh khuya như vẽ người chưa ngủ

    Chưa ngủ vì lo nỗi nước nhà”

    (Cảnh khuya)

    Giấc mộng hồn “sao vàng năm cánh” thật đẹp đẽ, thiêng liêng, là niềm tin sắt son vào thế chiến thắng của quân ta, biểu hiện bằng một hình tượng nghệ thuật mang tính thấm mĩ cao và cũng rất hiện thực, sáng ngời vẻ đẹp đất nước với cờ đỏ sao vàng tung bay phất phới trên nền trời tổ quốc.

    Tấm lòng yêu nước đó xuyên suốt cả cuộc đời Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Sáu mươi tuổi, Nguyễn Trãi vui mừng khôn xiết viết Biểu tạ ơn vua vì lại được vời ra chăm lo việc nước:

    “Thương thần như ngựa đến tuổi già, còn kham rong ruổi

    Cho thần như thông qua năm hết càng dạn tuyết sương”

    (Biểu tạ ơn)

    Tuy tuổi đã cao nhưng Nguyễn Trãi vẫn giữ được nhiệt huyết của tuổi trẻ, của khát vọng và ước mơ suốt cả cuộc đời. Với tấm lòng tràn đầy trẻ trung, Nguyễn Trãi mong muốn cống hiến thật nhiều cho dân tộc không ngại chi tuổi tác, thời gian. Và nếu có để giải thích cho tinh thần sôi nổi ấy, ta liền nghĩ ngay đến câu thơ đầy hóm hỉnh, đầy hình ảnh của Nguyễn Trãi: “Đạo ta cậy bởi chân non khỏe” (Mạn thuật 1 – Quốc âm thi tập). “Đạo” của “ta” (đạo về dân, về nước) thật vững chắc, không gì lay chuyển, phá vỡ được, nó như chân núi sừng sững, cao vợi phía chân trời. Và nhìn về phía chân trời rộng lớn, xa thẳm ấy, vượt thời gian, chúng ta lại nhớ ngay đến bài thơ Sáu mươi tuổi đầy tươi vui, khỏe khoắn của Hồ Chí Minh:

    “Sáu mươi tuổi vẫn còn xuân chán

    So với ông Bành vẫn thiếu niên

    Ăn khỏe, ngủ ngon, làm việc khỏe

    Trần mà như thế kém gì tiên”.

    Đó là mong ước phụng sự lâu dài cho dân tộc, cho nhân dân của Hồ Chí Minh. Giọng thơ hóm hỉnh, tươi vui nhưng lại rất sâu sắc. Tuy tuổi đã cao nhưng tinh thần Bác vẫn còn rất tráng kiện “còn xuân chán”, tâm hồn người cộng sản còn trẻ trung lắm!, còn làm được nhiều việc ích nước lợi dân. Hồ Chí Minh như đã vượt lên trên vòng xoay của thời gian, của tạo hóa để sống và cống hiến hết mình cho dân tộc.

    Tóm lại, tấm lòng yêu nước thương dân của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh thể hiện rất rõ trong thơ ca. Tuy có khoảng cách về lịch sử, về thời đại nhưng Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đều đúc kết được tấm lòng ấy trong những vần thơ trong sáng đầy nhiệt thành, vừa ngắn gọn, dễ hiểu vừa gần gũi, sâu sắc vô cùng. Chính điều này đã làm cho những áng thơ của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh có sức sống lâu bền, có sức cảm hóa và giáo dục rất lớn.

    IV. Hai áng “Thiên cổ hùng văn”: Bình Ngô đại cáo, ca khúc khải hoàn hùng tráng của dân tộc; Tuyên ngôn độc lập, bản anh hùng ca trong thời đại mới

    Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập được Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh viết trong tâm trạng “sảng khoái nhất”. Sau bao nhiêu năm trời nô lệ, hạnh phúc và tự do giờ đã tới đây. Cả dân tộc đang bước sang một thời vận mới – độc lập, tự do. Sau thắng giặc Minh, Nguyễn Trãi viết Bình Ngô đại cáo (1428). Sau cách mạng tháng Tám thành công (1945), Hồ Chí Minh viết Tuyên ngôn độc lập. Như vậy, Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập là những áng văn chính luận được viết vào những thời điểm lịch sử trọng đại của dân tộc nhằm tổng kết, khẳng định thắng lợi của dân tộc, quyền sống và chính nghĩa ở con người. Vì vậy, Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập có giá trị lớn trong lịch sử và nền văn học dân tộc.
    Giọng văn trong Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập đầy chất hùng tráng và niềm tự hào dân tộc. Âm hưởng của nó như được vút lên từ bầu trời đầy nắng, từ triệu trái tim con người Việt Nam. Nhưng qua giọng văn ấy, ta cũng thấy được thái độ của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Với nhân dân, giọng văn thật trìu mến: “Nhân dân bốn cõi một nhà dựng cần trúc ngọn cờ phất phới; Tướng sĩ một lòng phụ tử, hòa nước sông chén rượu ngọt ngào” (Bình Ngô đại cáo) hoặc như: “Hỡi đồng bào cả nước” (Tuyên ngôn độc lập). Còn với kẻ thù thì kiên quyết, khinh bỉ và căm ghét: “Thằng nhãi con Tuyên Đức”, “Thằng há miệng, đứa nhe răng máu mỡ bấy no nê chưa chán” (Bình Ngô đại cáo) và trong Tuyên ngôn độc lập thì “Những hành động của chúng trái hẳn với nhân đạo và chính nghĩa”, “chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong những bể máu”, “thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng, mở cửa nước ta rước Nhật”.

    Để khẳng định sự trường tồn và vị thế của dân tộc Nguyễn Trãi viết:

    “Từ Triệu, Đinh, Lí, Trần bao đời gây nền độc lập

    Cùng Hán, Đường, Tống, Nguyên mỗi bên hùng cứ một phương”.

    Đây là thực tại khách quan mà không bè lũ xâm lược nào có thể bác bỏ được, là bảo đảm lịch sử rất cương quyết và cứng rắn cho cương vực, lãnh thổ và sự tồn tại vững bền của dân tộc. Đến thời đại Hồ Chí Minh, trong Tuyên ngôn độc lập, Người đã dùng chính những lời lẽ trong tuyên ngôn của Mỹ, Pháp mà đòi độc lập, tự do cho nhân dân, cho dân tộc. Người đã đặt ba cuộc cách mạng (cách mạng Mỹ-1776, cách mạng Pháp-1791, cách mạng Việt Nam-1945), ba bản tuyên ngôn ngang hàng nhau “như đang gợi lại nguồn tự hào của tác giả Bình Ngô đại cáo ngày xưa khi mở đầu tuyên ngôn bằng hai vế cân xứng để đặt ngang hàng triều Đinh, Lí, Trần của Nam quốc với Hán, Đường, Tống, Nguyên của Bắc quốc”. Đó là tấm lòng yêu nước cao cả, lớn lao được kết tinh trong những lời văn tâm huyết, trong cách lập luận chặp chẽ như ghi tạc vào trời xanh, vào lòng người.

    Tác phẩm Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập có được sự mạch lạch, gắn kết như vậy là nhờ vào việc sử dụng nhiều từ nối. Trong Bình Ngô đại cáo là: “cố” (vậy nên), “khoảnh” (vừa rối), “dư” (ta đây), “nại dĩ” (lại ngặt vì), “toại” (bởi thế), “đặc dĩ” (chỉ vì), “nhiên kì” (thế mà), “tốt năng” (trọn hay), trong Tuyên ngôn độc lập là: “Tuy vậy, sự thật là, bởi thế cho nên, vì những lẽ trên”. Chính những từ nối ấy đã làm nổi bật lên bố cục rõ ràng, diễn ra theo trật tự tiệm tiến của hai tác phẩm: nêu nhân nghĩa, tội ác của quân giặc, chiến đấu, chiến thắng và độc lập. Nó góp phần làm cho người đọc nhanh chong xác định được nội dung của tác phẩm một cách sâu sắc, hoàn thiện. Và việc sử dụng những từ nối ấy đã xây dựng Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập thành mội khối thống nhất, chặt chẽ, kín kẽ. Vậy nên, bọn xâm lược, bọn phản động không thể phản biện hay bác bỏ được điều gì. Bên cạnh đó, với cách viết ngắn gọn, xúc tích, liệt kê hàng loạt sự kiện lịch sử, hàng loạt tội ác dã man của quân thù cùng với bút pháp tả thực có chọn lọc, Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập đã làm quân giặc không thể ngẩng mặt lên, không thể chối cãi trước những chứng cứ xác đáng. Chính vì vậy Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập không chỉ là khắc tinh của quân thù mà còn là những áng văn chính luận tiêu biểu trong nền văn học Việt Nam đáng lưu danh muôn thủa và học tập muôn đời.

    Nói về hình thức của Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập thì vô cùng giản dị nhưng lại sâu sắc, ngắn gọn mà hàm xúc, không cầu kì mà rất mạch lạc. Lời lẽ đanh thép, lập luận chặt chẽ, chính xác. Cả bài “Đại cáo” và “Tuyên ngôn” đều có kết cấu theo lối ta-địch: Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã đóng đinh kẻ thù trên đài dư luận, đánh đổ uy thế tinh thần quân giặc. Đồng thời ca ngợi chiến thắng, khẳng định quyền con người, quyền dân tộc. Cả Đại cáo cà Tuyên ngôn đều là thể văn chính luận nhưng bằng tài năng văn chương Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã phả vào nó những cảm xúc trữ tình sâu lắng, hấp dẫn tấm lòng người đọc.

    Qua Bình Ngô đại cáo và Tuyên ngôn độc lập, người đọc thật xúc động trước tấm lòng yêu nước, thương dân, gần gũi với nhân dân của hai vị anh hùng dân tộc-Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Nguyễn Trãi đã cùng quân dân chia ngọt sẻ bùi, sát cánh bên nhau: “Nhân dân bốn cõi một nhà….Tướng sĩ một lòng phụ tử” cùng quét sạch quân thù ra khỏi bờ cõi. Hồ Chí Minh đã gọi to trong niềm vui khôn tả, trong niềm hạnh phúc vô bờ “Hỡi đồng bào cả nước”. Đặc biệt ở Tuyên ngôn độc lập có một câu ngoài văn bản “Tôi nói đồng bào nghe rõ không ?”. Câu hỏi đầy tình nghĩa, đầy xúc động. Nó đã gắn kết muôn triệu trái tim con người Việt Nam. Nhân dân và Hồ Chí Minh là một, đất nước và nhân dân là một. Tất cả đã lặng đi, đã trào nước mắt trước con người vĩ đại-Hồ Chí Minh, Bác gần gũi, thân thiết và đẹp đẽ quá !.
    Nếu như Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi là áng “Thiên cổ hùng văn” hào hùng, đầy khí phách, tự hào dân tộc thì bản Tuyên ngôn độc lập của chủ tịch Hồ Chí Minh là áng “Thiên cổ hùng văn” hừng hực khí thế cách mạng tiến công trong thời đại mới. Và ẩn sau Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập là một tầm tư tưởng, tầm văn hóa lớn được tổng kết trong một văn bản ngắn ngọn, trong sáng, khúc triết, kinh nghiệm của nhiều thế kỉ đấu tranh vì độc lập, tự do, vì nhân quyền của dân tộc và nhân loại. Chính vì vậy mà Bình Ngô đại cáo, Tuyên ngôn độc lập mãi là những áng văn sáng ngời trong nền văn học Việt Nam.
    V .Kết luận

    Có rất nhiều những nét tương đồng giữa Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh trong văn chương cũng như trong cuộc đời. Điều đó chứng tỏ rằng ở Việt Nam nhân tài, “hào kiệt đời nào cũng có”, đây cũng chính là sự đồng điệu trong sáng tác và cảm thụ văn chương của hai con người Việt Nam vĩ đại: Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh. Những cống hiến lớn lao của hai vị anh hùng dân tộc này trong đó có văn chương thật đáng để người đời luôn trân trọng và học tập. Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh đã đem đến cho văn học Việt Nam sức sống mới, hướng đi mới: văn chương là hoạt động tinh thần, văn chương tham gia cách mạng và phục vụ con người.

    Dù vạn vật có đổi thay, thời gian có xoay vần thì danh tiếng, tâm hồn và tài năng văn chương của Nguyễn Trãi, Hồ Chí Minh mãi mãi không phai mờ, không bị khỏa lấp bởi rêu xanh và cát bụi, luôn sống mãi trong mỗi con người Việt Nam. Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh giờ đã là người thiên cổ, đã về thế giới người “hiền”. Nhưng trong suốt cuộc đời của mình, mỗi người luôn đau đáu với nỗi niềm dân, nước, luôn suy nghĩ về vận mệnh dân tộc. Giờ đây khi ở trên cao, linh ứng được cảnh đất nước ngày nay yên bình, phát triển, nhân dân hạnh phúc thì Nguyễn Trãi đã có thể “cất chiếc nhà tranh nơi chân núi phủ mây, múc nước khe đun trà và nằm dài trên đá ngủ ngon một giấc”. Còn chủ tịch Hồ Chí Minh, vị cha già kính yêu của dân tộc đã được thảnh thơi, tạm gác việc quân, việc nước “xách bương dắt trẻ ra vườn tưới rau”.
    (Đ.M.H)

    ———————————————————————————————————————

    BÀI CA DAO HOA SEN (TIẾNG VIỆT 2), 

    Bình giảng bài ca dao Hoa sen (Tv2)

    Ca ngợi vẻ đẹp của vạn vật, trên cơ sở đó, tạo liên tưởng về nét đẹp củaphẩm chất con người là một nội dung lớn của ca dao. Có thể nói, trong chiều hướng chung như vậy, bài ca dao quen thuộc ca ngợi vẻ đẹp tinh khiết, không lấm bùn của hoa sen, là một trong những bài hay về đề tài này. Đọc bài ca dao ta sẽ nhận ra sức thuyết phục của nó. Một sức thuyết phục rất riêng trong rất nhiều những hương cỏ lạ, rộ nở trong vườn hoa ca dao dân tộc.

    Mở đầu bài ca dao, sức thuyết phục của nó nằm trong tầng nghĩa thứ nhất. Tầng nghĩa này ẩn chứa vẻ đẹp của hoa sen. Việc đầu tiên, với một cách nhìn thẩm mĩ riêng, dân gian khẳng định: “Trong đầm gì đẹp bằng sen”. Lời khẳng định ngắn gọn mà chắc chắn, súc tích. Thật ra, theo tiêu chí thẩm mĩ chung, chưa chắc điều này đã được mọi người đồng ý, thế nhưng trong tất cả nét duyên dáng của hoa, sen thật là gần gũi với người nông dân chân lấm tay bùn, bởi điều kiện sống của nó. Không phải đã có một anh chàng trong ca dao đã giả vờ một cách khéo léo – giả vờ quên áo trên cành hoa sen – để làm quen cô gái đó sao ?

    Vì vậy, lời khẳng định vẻ đẹp của hoa sen ở đây tr­ớc hết là do cảm tính, sự gần gũi. Nh­ưng chỉ nói như­ vậy thì ch­ưa đủ đối với cái đẹp rất riêng của sen, sự phiến diện trong thẩm mĩ  thiên về cảm tính của ngư­ời nông dân. Nét đẹp không chỉ từ sự gần gũi, thân quen kiểu “Ao nhà vẫn hơn”. Đọc tiếp câu thứ hai, thứ ba: “Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng. Nhị vàng bông trắng lá xanh”, lời khẳng định ban đầu không chỉ là đơn thuần chuyện cảm tính, nét đẹp của sen còn là nét đẹp của một sự hài hoà gần như­ tuyệt đối. Đó là sự hài hoà về màu sắc. “Xanh – trắng – vàng”, “vàng – trắng – xanh”. Đó là sự hài hoà về chi tiết cấu tạo. “Lá – bông – nhị”, “nhị – bông – lá”. Tất cả tạo nên một chỉnh thể không thể tách rời, tôn tạo lẫn nhau, bổ sung lẫn nhau không thiếu, không thừa. Từ đó, câu ca dao đư­a ra yếu tố cuối cùng, quyết định tạo nên dáng vẻ riêng mà không phải loài hoa nào cũng có:

    “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”

    Hoá ra, lời khẳng định đầu tiên có lí do của nó. Yêu vẻ đẹp của sen đồng thời là yêu cái phẩm chất tinh khiết của một loài hoa: “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn”. Phẩm chất đó của sen như­ biện hộ thêm giá trị của những người đang ngày đêm chân lấm tay bùn, đồng sâu, đồng cạn vẫn thể hiện đầy đủ nét đẹp chân quê.

    Từ tầng nghĩa thứ nhất ta tiếp xúc với tầng nghĩa thứ hai. Rõ ràng, ở đây không chỉ là nét đẹp của hoa sen. Tiềm ẩn, kín đáo, bóng bẩy, nét đẹp “Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” của sen còn mang bóng dáng con người, những người không chịu khuất phục tr­ước hoàn cảnh. Họ vươn lên giữa bùn nhơ khẳng định chân giá trị của chính bản thân mình. Cái xấu đục của môi tr­ường, cuộc sống không vấy bẩn họ, trái lại, càng tôn thêm phần trong sạch, tinh khiết. Họ biến thành những tấm gương sáng về nghị lực, nhân cách.

    Ngời sáng phẩm chất này là hình ảnh Bác Hồ. Trong chốn tối tăm, mù mịt của chế độ lao tù T­ưởng Giới Thạch, Ng­ười vẫn dõng dạc tuyên bố:

    “Thân thể ở trong lao

    Tinh thần ở ngoài lao”.

    Người đã vươn lên như một đoá sen mọc thẳng, khẳng định sự thanh cao, một ý chí bất khuất trước hoàn cảnh tù đày.

    Như vậy, vẻ đẹp của bài ca dao là nét đẹp của những hình ảnh thực (hoa sen) cộng với hình ảnh tượng trưng (con người không khuất phục hoàn cảnh). Ngắm nhìn những đoá sen ấy ta bắt gặp sự sâu sắc trong suy nghĩ, thẩm mĩ của ngư­ời xưa. Nét đẹp trong đôi mắt của họ cần được hài hoà ở cả  hai khía cạnh: Khía cạnh nội dung và hình thức; vẻ đẹp bên ngoài và vẻ đẹp tâm hồn. Tâm hồn ấy, trước hết là tâm hồn của những người không khuất phục, biết vươn lên trước số phận như những đoá sen kia, tinh khiết, thanh cao giữa chốn bùn nhơ.

    Những câu tục ngữ, những câu vè, ca dao rất hay là những sáng tác của quần chúng… Những sáng tác ấy là những hòn ngọc quí (Hồ Chí Minh). Một viên ngọc quí ấy là bài ca dao về bông sen, một loài hoa đồng nội có dáng vẻ thanh nhã, màu sắc gợi cảm, hương thoang thoảng nhưng thơm lâu:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Nội dung ý nghĩa và đặc điểm nghệ thuật của bài ca dao như thế nào, hình ảnh hoa sen xuất hiện trong văn học ra sao?

    Trong đầm gì đẹp bằng sen Đây là lối so sánh hơn, hơn tuyệt đối. Không gì đẹp bằng sen, nhất là vào những ngày hè rực nắng. Người nông dân thăm đồng, cậu mục đồng hát nghêu ngao trên mình trâu, khách nhàn du lững thững dạo đường làng… tất cả đều dừng lại ngắm những đoá hoa đang khoe sắc màu, toả hương thơm ngát, rồi xúc cảm:

    Trong đầm gì đẹp bằng sen.

    Màu xanh lá sen, màu trắng cánh hoa, màu vàng nhị hoa chen nhau:

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng.

    Nhị vàng giữa những cánh hoa trắng, hoa trắng vượt lên mặt nước phủ mấy chiếc lá xanh. Xanh, trắng, vàng hoà hợp, tôn vẻ đẹp của hoa như tự nhiên mà có, lại như do một bàn tay xếp đặt. Dáng vẻ nào, màu sắc ấy: lá rộng trải trên làn nước, cánh hoa trắng che quanh đốm nhị vàng. Chỉ bằng mấy lời thơ, hình ảnh của hoa hiện lên như một bức tranh, thật là thi trung hữu họa (trong thơ cò hoạ)

    Nhị vàng bông trắng lá xanh.

    Đây chính là ý thơ trong cặp lục bát trước, nhưng ở vị trí đáo ngữ của câu 2 và rút bớt lại hai từ lại, chen. Nhà thơ Huy cận đã có lần phân tích: Chính nhờ sự đảo ngược hình ảnh ấy mà chúng ta như thấy hiện lên bàn tay ai đó đang lật từng lá sen xanh, chỉ từng bông sen trắng, đếm từng nhị sen vàng…

    Nhịp thơ câu 3 trở nên dồn dập, xác định màu sắc của nhị hoa, của cánh hoa và của lá. Toàn thể đoá hoa như hiện ra trên lá xanh, xinh đẹp, thanh nhã, quyến rũ hơn.

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Từ mà chia câu thơ thành hai vế, gắn với hai ý đối lập bề ngoài nhưng thống nhất trong ý nghĩa: sen sống trong bùn nhưng chẳng nhuốm mùi bùn. Câu thơ khởi đầu gần bùn như bị coi thường, khinh rẻ. Nhưng phô bày không giấu giếm cái vẫn bị xem là thấp kém của bản thân cũng là một thái độ ngầm tranh luận và hàm ý tự khẳng định mình. Mà chẳng hôi tanh mùi bùn là không chấp nhận sự tầm thường trong phẩm chất. Giá trị của hoa sen được thể hiện bằng một lời phủ định chẳng hôi tanh như thẳng tay bác bỏ mọi cách nhìn hời hợt, sai lệch trong việc đánh giá và tự xác định mình là một loài hoa cao quí, đáng ca ngợi.

    Bài ca dao miêu tả một loài hoa quen thuộc của ruộng đồng thôn dã. Hoa gợi liên tưởng đến con người, con người tay lấm chân bùn nhưng tâm hồn trong sáng, thanh cao. Họ chính là người nông dân thường bị bọn địa chủ khinh thường, coi là hạng người hôi tanh mùi bùn. Cho nên bài ca dao như một khúc hát ngợi ca, đồng thời cũng là một tuyên ngôn của người nông dân về bản thân mình, về tầng lớp mình. Đây còn là lời phản kháng mọi sự xúc phạm, xác định phẩm chất trong sạch của mình:

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Chẳng những hoa chẳng hôi tanh mùi bùn mà còn toả hương thơm ngát. Nông dân làm ra lúa gạo, nuôi sống con người, không ăn bám, không bóc lột xấu xa. Họ gắn bó với quê hương, sống theo nền nếp đạo lí truyền thông, bảo vệ và phát huy mĩ tục thuần phong của dân tộc như hoa sen cao quí.

    Về mặt nghệ thuật ca dao thường được kết cấu theo các lối phú, tỉ, hứng. Nhưng hiếm có bài tổng hợp cả ba lối như trong bài này.

    Bông sen hiện ra trước mắt ta (phú):

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh.

    Nói về một loài hoa với một xúc động thẩm mĩ (hứng), cùng lúc sử dụng phép so sánh (tỉ):

    Trong đầm gì đẹp bằng sen.

    Còn 4 câu ca ngợi hoa sen cùng lúc ngụ ý ẩn dụ (tỉ) với người có phẩm chất thanh cao:

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn.

    Bài ca dao gồm bốn câu thơ lục bát. Bởi không ngụ ý nuối tiếc một duyên tình lỡ làng như Nụ tâm xuân, hoặc tỏ tình một cách ý nhị như Tát nước đầu đình, hay giãi bày một nỗi buồn mênh mang như Buồn trông, bài ca dao Bông sen chỉ miêu tả một loài hoa, nên bốn câu thơ là vừa đủ, ít hơn thì ngắn, mà nhiều hơn có thể dài chăng?

    Lục bát trong bài có vần luật uyển chuyển, biến đổi trong ba câu sau, vần cuối của câu bát (câu 2) không gieo vần cuối câu lục kế tiếp (câu 3) mà ở tiếng thứ hai:

    Lá xanh bông trắng lại chen nhị vàng

    Nhị vàng bông trắng lá xanh.

    Hay là không cần gieo vần?

    Từ vần luật mà vượt lên vần luật, có thể mới đích thực là thơ. Ở đây sắc hương của hoa sen đã làm rung động lòng người, gợi cảm hứng dân tộc của người bình dân và vượt lên vần luật thông thường.

    Tiết tấu của bài ca dao giàu tính nhạc. Nhịp chẵn của câu lục 2-2-2, của câu 2 – 2 – 2 – 2 (câu 2) hoặc 2-6 (câu 4) thật giản dị nhưng không đơn điệu. Đặc biệt, số tiếng của câu 3 là rút lại từ câu 2, hay nói khác đi, câu 2 là dạng trải dài của câu 3 là rút lại từ câu 2, hay nói khác đi, câu 2 là dạng trải dài của câu 3, như láy đi láy lại âm hưởng của lời thơ. Rải ra thì chi tiết nào cũng hiện rõ, gộp lại là một loài hoa xinh đẹp, như những nốt nhạc hoà âm.

    Tiết tấu của bài ca dao như âm hưởng của một dòng suốt chảy êm đềm (câu 1, 2) chuyển mình qua những bậc đá (câu 3), rồi tiếp tục trôi xuôi. Mạch thơ uyển chuyển thông suốt, thanh thoát, êm đềm.

    Hoa sen là loài hoa được yêu thích. Trước hết vì hoa có dáng vẻ thanh lịch, màu sắc dễ cảm, hương thoảng thơm lâu. Văn chương vốn chuộng hoa sen. Đó là một loài hoa quí.

    Đời Tề (Trung Quốc) có Đông Hôn Hầu yêu dấu nàng họ Phan, cho đúc hoa sen vàng lát nền nhà để ngắm bước chân mĩ nhân bước đi, mà khen rằng: Mỗi bước nở một đoá sen. Từ đó có điển tích sen vàng, gót sen.

    Trong Truyện Kiều, sau một buổi thanh minh, đêm về Kiều nghĩ ngợi vẩn vơ, mơ màng thì hồn Đạm Tiên hiện lên báo mộng:

    Sương in mặt, tuyết pha than

    Sen vầng lãng đãng như gần như xa.

    Và khi Kiều sang nhà Kim Trọng để hò hẹn, thề bồi:

    Tiếng sen sẽ động giấc hoè

    Bóng trăng đã xế, hoa lê lại gần.

    Lí Bạch, nhà thơ nổi tiếng thời Thịnh Đường (Trung Quốc), có viết Thái liên khúc (Khúc hát hái sen) mà Tản Đà dịch rằng:

    Có cô gái nhà ai

    Hái sen chơi ở bên ngoài Nhược gia

    Mặt hoa cười cách đoá hoa,

    Cùng ai nói nói mặn mà thêm xinh

    Áo quần mặc mới trắng tinh

    Nắng soi đáy nước rung rinh bóng lồng

    Thơm tho vạt áo gió tung

    Bay lên phấp phới trong không ngọt ngào…

    Thiếu nữ đẹp như cười nói với hoa sen đẹp. Hương sen ngát toả lên y phục tinh khiết của người thiếu nữ. Sắc hoa, hương hoa hoà lẫn hương sắc giai nhân. Ca ngợi giai nhân hay ca ngợi hoa sen thanh quí thơm tho, hay ca ngợi cả hai?

    Trong một bài dân ca Trị Thiên. Mối tình thuỷ chung:

    Bèo dạt nhờ sen, nhờ khi sương sa ấm gốc.

    Sen lại nhờ bèo, nhờ khi nắng xốc mưa vùi

    Sen trách lòng bèo lại xin lui

    Để mình sen ở lại ngậm ngùi nhớ thương…

    Trong Truyện Kiều, suốt một năm dài Từ Hải ra đi lập nghiệp, Kiều ở nhà cô đơn thui thủi, lòng tràn ngập bao nỗi nhớ niềm thương: mong Từ Hải, nhớ cha mẹ già yếu, quê hương thân yêu xa cách đã mười năm…, rồi hoài tưởng cố nhân Kim Trọng:

    Tiếc thay chút nghĩa cũ càng

    Dẫu lìa ngó ý, còn vương tơ lòng.

    Duyên nàng với Kim Trọng đã tan vỡ, nhưng lòng vẫn vương vấn tơ tình, như ngó sen tuy gãy nhưng tơ vẫn còn liền, ngẫu đoạn nhi ti liên.

    Đặc biệt, nhà thơ Nguyễn Trãi một anh hùng dân tộc có công lớn trong cuộc kháng chiến chống quân Minh, rồi tận lực góp sức xây dựng đất nước hoà bình, vẫn thường nặng ưu tư vì lòng người đố kị, thói đời vùi dập, nên gởi tâm sự qua câu thơ buồn:

    Liên tử hữu tâm tri độc khổ

    (Hạt sen có tim biết nỗi đắng cay riêng mình).

    Bài ca dao miêu tả hoa sen lại làm cho ta suy nghĩ bao điều về ý nghĩ nhân sinh. Đó là loại hoa tiêu biểu cho những con người có tâm hồn cao đẹp, phẩm chất thanh cao.

    Hơn nữa, sen là một loài hoa dân dã nhưng vương giả, thanh khiết. Sen là loài hoa thường gắn bó với sinh hoạt, tâm tình của những người lao động. Anh trai làng tỏ tình cùng cô thôn nữ, sao mà khéo chọn nơi để quên cái áo sứt chỉ đường ta của mình:

    Hôm qua tát nước đầu đình

    Bỏ quên cái áo trên cành hoa sen.

    Xuất thân từ ruộng đồng nhưng hoa đượm mùi vương giả sang quí. Đời Trần Anh Tôn, Mạc Đĩnh Chi thi đậu Trạng Nguyên, nhà vui thấy ông hình dạng xấu xí, không muốn lấy đỗ đầu tiến sĩ. Như một cách trần tình, Mạc Đĩnh Chi làm bài Ngọc tĩnh liên phú (Bài phú hoa sen trong giếng ngọc), tự ví mình thanh cao như loài sen quí: Phải chăng giống hoa cao mười trượng, ngó cong như thuyền, lạnh giá như băng, ngọt ngon tựa mật…

    Hơn nữa, hoa sen là loài hoa thuần khiết. Đức Phật ngồi trên toà sen. Hình ảnh này thấp thoáng trong một bài thơ cảm hoài triệu đại vàng son nhà Lê đã thành vang bóng:

    Mấy toà sen rớt mùi hương ngự,

    Năm thức mây phong nếp áo chầu

    Sóng lớp phế hưng xem đã rộn,

    Chuông hồi kim cổ lắng càng mau.

    (Bà huyện Thanh Quan)

    Cuối cùng, sen cũng là một hình ảnh, hình tượng văn học thường được dùng tỏ bày tình cảm cho con người.

    Ở thời đại chúng ta, hoa sen được nhân dân Nam Bộ coi như một biểu tượng cao quí nhất dể tỏ lòng kính yêu đối với Bác Hồ:

    Tháp Mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

    Thu Huyền

    ———————————————————————————————————————-

    BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH(TIẾNG VIỆT 4), 

    BÌNH GIẢNG BÀI THƠ VỀ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH CỦA PHẠM TIẾN DUẬT

    Trong chùm thơ bốn bài của Phạm Tiến Duật đoạt giải nhất cuộc thi thơ Tuần báo Văn nghệ năm 1969, có ba bài viết về đường Trường Sơn, cụ thể là những chiến sĩ lái xe, thanh niên xung phong trên con đường huyền thoại ấy. “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một trong ba bài ấy. Khi in lại bài thơ này, có nhà biên tập có ý muốn bỏ đi ba chữ đầu tiên, chỉ để lại “Tiểu đội xe không kính”, với lý luận rằng “ba chữ bài thơ về là thừa ra, vì ai đọc lên chẳng biết đây là bài thơ”. Như vậy là chưa hiểu được ý của tác giả. Ở bài thơ này, để nói sự lạc quan của lính vận tải trên đường Trường Sơn, tác giả nhìn thực tế bằng con mắt chiến sĩ lái xe: Mọi gian khổ, khó khăn chỉ là chuyện vặt, xe không có kính có cái hay, cái được mà xe có kính không có! Hay nói một cách khác, tác giả viết bài thơ này để ngợi ca tiểu đội xe không kính mà nội dung sự ngợi ca đó đã báo trước trong ba chữ bài thơ về nằm ở đầu đề. Để hiểu được hoàn cảnh ra đời của bài thơ này, chúng ta cùng nhắc lại một thực tế: Trong 16 năm, từ 1959 đến 1975, qua đường Trường Sơn chúng ta đã chở vào chiến trường miền Nam hơn một triệu tấn hàng và vũ khí nhưng cũng bị máy bay Mỹ đốt cháy và phá hủy mất 90 nghìn tấn hàng và 14.500 xe, máy. Chính Phạm Tiến Duật từng viết: “Mỗi trọng điểm là một nghĩa địa ô tô. Xác xe cháy ngổn ngang lưng đèo, đỉnh núi”. Biết bao chiếc xe đã được thu gom, chắp nhặt từ các nghĩa địa ô tô đó. Chỉ cần có bánh xe, máy nổ là coi như còn xe. Và tất nhiên, người ta phải chắp nhặt những bộ phận sót lại ở những chiếc xe khác nhau để làm nên một chiếc xe có thể chạy được. Đã có biết bao tiểu đội xe vận tải có những chiếc xe như thế chạy, chở hàng đã hoạt động trên đường Trường Sơn, thế thì mất kính có thấm tháp gì đâu ngoài việc tạo sự phóng túng cho lính lái:

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất nhìn trời, nhìn thẳng.

    Thì ra chiến sĩ lái xe không hề bận tâm về việc xe mình không có kính, ngược lại, chính xe không có kính càng tạo cho anh cái thế ung dung ngồi trong buồng lái mà không có gì ngăn cách với thiên nhiên:

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa như ùa vào buồng lái.

    Sao trời và cánh chim là biểu tượng của ban đêm và ban ngày. Xe chạy không phân biệt ngày đêm, nhưng thực tế những năm tháng ấy, xe chạy đêm là chính để tránh máy bay Mỹ. Lòng yêu những con đường của người lái xe được tác giả mô tả bằng cảm giác khi xe chạy nhanh: “con đường chạy thẳng vào tim”, chạy thẳng được vì không có kính ngăn lại!

    Thế thì không có kính không đem lại những khó khăn gì hay sao? Có chứ, nhưng khó khăn xoàng không mảy may ảnh hưởng đến tinh thần người lính:

    Không có kính, ừ thì có bụi…

    Không có kính, ừ thì ướt áo…

    Điệp ngữ ừ thì thể hiện sự tất yếu đã biết, là một lẽ tất nhiên đã lường trước. Bụi chỉ làm trắng tóc lính trẻ, chỉ gây chuyện vui, chuyện buồn cười:

    Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

    Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

    Còn mưa ướt áo, ừ thì chuyện xoàng:

    Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

    Mưa ngừng, gió lùa mau khô thôi.

    Chúng ta lưu ý rằng, cái gió lùa hong khô áo đó chính do xe không có kính mang lại!

    Qua hai khổ thơ coi chuyện khó khăn do việc xe không có kính mang lại là chuyện vặt, tác giả trở lại khai thác cái thuận lợi, cái được sinh ra từ xe không có kính, đó là việc thể hiện tình đồng đội, đồng chí, tình những người lính lái xe trên tuyến lửa:

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

    Động tác bắt tay nhau vồn vã này không thể làm được khi xe có kính! Phạm Tiến Duật là nhà thơ tiêu biểu thế hệ nhà thơ thời chiến tranh chống Mỹ, những người luôn khai thác ở lính tinh thần lạc quan, coi thường gian khổ, chắt lọc ngọt ngào từ cay đắng, tìm kiếm thuận lợi từ khó khăn. Bên cạnh đó, ý thức trách nhiệm của thế hệ nhà thơ này cũng luôn thường trực: Tất cả vì công cuộc giải phóng miền Nam. Đọc khổ cuối bài thơ này, chúng ta không chỉ biết được rằng tiểu đội xe không kính chỉ là một ví dụ, còn bao chiếc xe nữa thiếu nhiều thứ khác, mặc dù vũ khí và phương tiện là quan trọng, nhưng con người mới quyết định:

    Không có kính rồi không có đèn

    Không có mui xe, thùng xe có xước

    Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.

    Trong khổ thơ này có một chữ mà tác giả và bạn đọc đều chưa ưng ý, đó là chữ xước, bởi từ đó quá nhẹ, nên dùng cho những chiếc xe con sang trọng bị va quệt nhẹ tróc sơn, hơn là dùng cho những chiếc xe tải đã đi qua bom đạn mà có khi thùng xe chỉ còn lại vài thanh xơ tướp hoặc gẫy gập, cháy sém. Đã có lần chính tác giả muốn sửa lại từ này, nhưng lại thôi vì nghĩ nó đã nhập tâm vào bạn đọc rồi.

    Nói về ngôn ngữ của bài thơ này, nhà thơ Phạm Tiến Duật tâm sự: “Tôi không tự cho tôi cái quyền quy định phạm vi ngôn ngữ cho từng bài thơ. Mỗi bài thơ có một văn hóa riêng, ngôn ngữ riêng”. Và theo tôi, ngôn ngữ trong bài thơ này là ngôn ngữ của lính, chính xác hơn là ngôn ngữ của cánh lính lái xe rất phù hợp với nội dung coi thường gian khổ, hy sinh… trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi thứ và cái chết luôn cận kề khi thực thi nhiệm vụ của mình.

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ TIỂU ĐỘI XE KHÔNG KÍNH

    “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…

    Là một trong những nhà thơ tiêu biểu của thế hệ nhà thơ trẻ những năm chống Mỹ “Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước – Mà lòng phơi phới dậy tương lai”(Tố Hữu), Phạm Tiến Duật có giọng thơ mang chất lính, khoẻ, dạt dào sức sống, tinh nghịch vui tươi, giàu suy tưởng. “Bài thơ về tiểu đội không kính” (trong chùm thơ được giải nhất cuộc thi thơ báo Văn nghệ năm 1969-1970) được Phạm Tiến Duật viết năm 1969 là bài thơ tự do mang phong cách đó.

    Mở đầu bài thơ là hình ảnh những chiếc xe không kính chắn gió – hình ảnh có sức hấp dẫn đặc biệt vì nó chân thực, độc đáo, mới lạ. Xưa nay, hình ảnh xe cộ trong chiến tranh đi vào thơ ca thường được mỹ lệ hoá, tượng trưng ước lệ chứ không được miêu tả cụ thể, thực tế đến trần trụi như cách tả của Phạm

    Tiến Duật. Với bút pháp hiện thực như bút pháp miêu tả “anh bộ đội cụ Hồ thời chống Pháp” của Chính Hữu trong bài Đồng chí (1948), Phạm Tiến Duật đã ghi nhận, giải thích về “những chiếc xe không kính” thật đơn giản, tự nhiên :

    Không có kính không phải vì xe không có kính

    Bom giật bom rung kính vỡ đi rồi

    Bom đạn ác liệt của chiến tranh đã tàn phá làm những chiếc xe ban đầu vốn tốt, mới trở thành hư hỏng : không còn kính chắn gió, không mui không đèn, thùng xe bị xước. Hìmh ảnh những chiếc xe không kính không hiếm trong chiến tranh chống Mỹ trên đường Trường Sơn lửa đạn nhưng phải là một chiến sĩ, một nghệ sĩ tâm hồn nhạy cảm, trực tiếp sẵn sàng chiến đấu cùng những người lính lái xe thì nhà thơ mới phát hiện được chất thơ của hình ảnh ấy để đưa vào thơ ca một cách sáng tạo, nghệ thuật.

    Không tô vẽ, không cường điệu mà tả thực, nhưng chính cái thực đã làm người suy nghĩ, hình dung mức độ ác liệt của chiến tranh, bom đạn giặc Mỹ.

    Mục đích miêu tả những chiếc xe không kính là nhằm ca ngợi những chiến sĩ lái xe. Đó là những con người trẻ trung, tư thế ung dung, coi thường gian khổ, hy sinh.

    Trong buồng lái không kính chắn gió, họ có cảm giác mạnh mẽ khi phải đối mặt trực tiếp với thiên nhiên bên ngoài. Những cảm giác ấy được nhà thơ ghi nhận tinh tế sống động qua những hình ảnh thơ nhân hoá, so sánh và điệp ngữ :

    Ung dung buồng lái ta ngồi

    Nhìn đất, nhìn trời, nhìn thẳng.

    Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng

    Nhìn thấy con đường chạy thẳng vào tim

    Thấy sao trời và đột ngột cánh chim

    Như sa như ùa vào buồng lái.

    Những câu thơ nhịp điệu nhanh mà vẫn nhịp nhàng đều đặn khiến người đọc liên tưởng đến nhịp bánh xe trên đường ra trận. Tất cả sự vật, hình ảnh, cảm xúc mà các chiến sĩ lái xe trực tiếp nhìn thấy, cảm nhận đã biểu hiện thái độ bình tĩnh thản nhiên trước những nguy hiểm của chiến tranh, vì có ung dung thì mới thấy đầy đủ như thế. Các anh nhìn thấy từ “gió”,”con đường” đến cả “sao trời”, “cánh chim”. Thế giới bên ngoài ùa vào buồng lái với tốc độ chóng mặt tạo những cảm giác đột ngột cho người lái. Hình ảnh “những cánh chim sa, ùa vào buồng lái” thật sinh động, gợi cảm. Hình ảnh “con đường chạy thẳng vào tim” gợi liên tưởng về con đường ra mặt trận, con đường chiến đấu, con đường cách mạng.

    Hiên ngang, bất chấp gian khổ, những người lính lái xe luôn lạc quan tin tưởng chiến thắng. Những câu thơ lặp cấu trúc tự nhiên như văn xuôi, lời nói thường ngày thể hiện hình ảnh đẹp, tự tin, có tính cách ngang tàng:

    Không có kính, ừ thì có bụi,

    Bụi phun tóc trắng như người già

    Chưa cần rửa, phì phèo châm điếu thuốc

    Nhìn nhau mặt lấm cười ha ha.

    Không có kính, ừ thì ướt áo

    Mưa tuôn mưa xối như ngoài trời

    Chưa cần thay, lái trăm cây số nữa

    Mưa ngừng, gió lùa khô, mau thôi.

    Phạm Tiến Duật từng là thành viên của đoàn 559 vận tải chiến đấu ở Trường Sơn nên chất lính, tính ngang tàng thể hiện rõ nét trong thơ. Các chiến sĩ lái xe không hề lùi bước trước gian khổ, trước kẻ thù mà trái lại “tiếng hát át tiếng bom”, họ xem đây là cơ hội để thử thách sức mạnh ý chí. Yêu đời, tiếng cười sảng khoái của họ làm quên đi những nguy hiểm. Câu thơ “nhìn nhau mặt lấm cười ha ha” biểu lộ sâu sắc sự lạc quan ấy.

    Tình đồng chí, đồng đội keo sơn gắn bó là phẩm chất của người lính. Những khoảnh khắc của chiến tranh, giữa sống chết, những người lính trẻ từ những miền quê khác nhau nhưng cùng một nhiệm vụ, lý tưởng đã gắn bó nhau như ruột thịt, gia đình :

    Những chiếc xe từ trong bom rơi

    Đã về đây họp thành tiểu đội

    Gặp bạn bè suốt dọc đường đi tới

    Bắt tay qua cửa kính vỡ rồi.

    Bếp Hoàng Cầm ta dựng giữa trời

    Chung bát đũa nghĩa là gia đình đấy

    Võng mắc chông chênh đường xe chạy

    Lại đi, lại đi trời xanh thêm.

    “Trời xanh thêm” vì lòng người phơi phới say mê trước những chặng đường đã đi và đang đến. “Trời xanh thêm” vì lòng người luôn có niềm tin về một ngày mai chiến thắng. Những người lính lái xe hiên ngang, dũng cảm, lạc quan, trẻ trung sôi nổi, giàu tình đồng chí đồng đội, có lòng yêu nước sâu sắc. Lòng yêu nước là một động lực tạo cho họ ý chí quyết tâm giải phóng miền Nam, đánh bại giặc Mỹ và tay sai để thống nhất Tổ quốc :

    Không có kính rồi xe không có đèn

    Không có mui xe, thùng xe có xước

    Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trước:

    Chỉ cần trong xe có một trái tim.

    Khổ thơ cuối cùng vẫn giọng thơ mộc mạc, mà nhạc điệu hình ảnh rất đẹp, rất thơ, cảm hứng và suy tưởng vừa bay bổng vừa sâu sắc để hoàn thiện bức chân dung tuyệt vời của những chiến sĩ vận tải Trường Sơn. Bốn dòng thơ dựng hai hình ảnh đối lập đầy kịch tính, bất ngờ thú vị. Hai câu đầu dồn dập những mất mát khó khăn do quân thù gieo xuống, do đường trường gây ra : xe không kính, không đèn, không mui, thùng xe bị xước …

    Điệp ngữ “không có” nhắc lại ba lần như nhân lên những thử thách khốc liệt. Hai dòng thơ ngắt làm bốn khúc “không có kính/ rồi xe không có đèn / Không có mui xe / thùng xe có xước” như bốn chặng gập ghềnh, khúc khuỷu, đầy chông gai bom đạn. Hai câu cuối âm điệu đối chọi lại, trôi chảy, hình ảnh đậm nét. Đoàn xe đã chiến thắng, vượt lên bom đạn, hăm hở hướng ra tiền tuyến lớn với tình cảm thiêng liêng “vì miền Nam”, vì cuộc chiến đấu giành độc lập, thống nhất cho cả nước. Chói ngời, toả sáng khổ thơ, cả bài thơ là hình ảnh “trong xe có một trái tim” .

    Cội nguồn sức mạnh của cả đoàn xe, gốc rễ anh hùng của mỗi người cầm lái tích tụ, kết đọng ở “trái tim” gan góc, kiên cường, chứa chan tình yêu nước này. Ẩn sau ý nghĩa câu thơ “chỉ cần trong xe có một trái tim” là chân lý của thời đại chúng ta :sức mạnh quyết định, chiến thắng không phải là vũ khí, công cụ mà là con người giàu ý chí, anh hùng, lạc quan, quyết thắng. Có thể cả bài thơ hay nhất là câu cuối, “con mắt của thơ”, làm bật lên chủ đề, toả sáng vẻ đẹp của hình tượng nhân vật trong bài thơ. Thiếu phương tiện vật chất nhưng những chiến sĩ vận tải Đoàn 559 vẫn hoàn thành vẻ vang nhiệm vụ, nêu cao phẩm chất con người Việt Nam anh hùng như Tố Hữu đã ca ngợi :

    Thiếu tất cả, ta rất giàu dũng khí

    Sống chẳng cúi đầu, chết vẫn ung dung

    Giặc muốn ta nô lệ, ta lại hoá anh hùng

    Sức nhân nghĩa mạnh hơn cường bạo

    “Bài thơ về tiểu đội xe không kính” là một bài thơ đặc sắc tiêu biểu cho phong cách thơ Phạm Tiến Duật cũng như một số tác phẩm tiêu biểu của nhà thơ Lửa đèn, Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây, Nhớ,…Chất giọng trẻ, chất lính của bài thơ bắt nguồn từ tâm hồn phơi phới của thế hệ chiến sĩ Việt Nam thời chống Mỹ mà chính nhà thơ đã sống, đã trải nghiệm. Từ sự giản dị của ngôn từ, sự sáng tạo của hình ảnh chi tiết, sự linh hoạt của nhạc điệu, bài thơ đã khắc hoạ, tôn vính vẻ đẹp phẩm giá con người, hoà nhập với cảm hứng lãng mạn cách mạng và âm hưởng sử thi hào hùng của văn học Việt Nam trong ba mươi năm chống xâm lược 1945 – 1975.

    ———————————————————————————————————————-

    BẦM ƠI (TIẾNG VIỆT 5), 

    Xã Gia Điền là một miền quê nghèo của vùng trung du Hạ Hòa (Phú Thọ), là nơi mà người dân quê gọi mẹ là bầm, là bủ. Và ở chính mảnh đất nghĩa tình này, nhà thơ Tố Hữu đã sáng tác bài thơ “Bầm ơi” nổi tiếng.

    Vào những năm 1947, 1948, đoàn văn nghệ sỹ trong hành trình “nhận đường” đã chọn Gia Điền làm nơi dừng chân và hoạt động văn học nghệ thuật. Khi ấy, các nhà văn, nhà thơ như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi, Nguyễn Huy Tưởng, Kim Lân đã ở lại thôn Gốc Gạo xã Gia Điền. Ngôi nhà mà các nhà văn chọn để ở trọ là nhà bà cụ Nguyễn Thị Gái. Khi các văn nghệ sỹ đến ở, bủ Gái đã dọn xuống bếp để nhường giường và không gian nhà trên cho khách. Cũng từ chính ngôi mà mái cọ bình yên này, vào khoảng thời gian ấy, bài thơ Bầm ơi được “khai sinh”.

    Một “lá thư” bằng thơ

    Theo lời kể của những người già trong thôn Gốc Gạo, ngày ấy, bủ Gái ban ngày lên nương trồng sắn, trồng đỗ hay xuống ruộng cấy lúa. Tối về, bủ dùng lá chuối khô bện lại làm đệm nằm cho đỡ lạnh. Nhưng cứ đêm đêm, các nhà thơ lại nghe tiếng khóc nhỏ của bủ Gái từ phía bếp. Đêm nào cũng như thế. Các nhà thơ lần hỏi mãi bủ Gái mới tâm sự rằng do bủ nhớ đứa con trai đi vệ quốc quân lâu ngày không thấy thư từ tin tức gì về. Bủ thương và lo cho nó quá. Biết vậy, các nhà văn, nhà thơ mới đề nghị nhà thơ Tố Hữu sáng tác một bài thơ và giả làm bức thư của con trai bủ Gái để an ủi lòng bủ. Nhà thơ Tố Hữu nhận lời và sáng tác liền bài thơ Bầm ơi với những câu từ đầu tiên như lời bức thư của đứa con gửi cho bầm của mình từ mặt trận: “Ai về thăm mẹ quê ta/Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm/Bầm ơi có rét không bầm/Heo heo gió núi lâm thâm mưa phùn…”. Khi bài thơ sáng tác xong, nhà thơ Tố Hữu đọc cho bủ Gái nghe và nói rằng đây chính là thư của con trai bủ gửi về chiến trường. Tin vậy, bủ Gái mừng lắm và cũng hết lo lắng cũng như khóc thầm vào mỗi đêm. Bủ Gái luôn mồm nói với nhà thơ Tố Hữu “anh thấy đấy, con tôi nó thương tôi thế đấy”. Ngày nào bà bủ Gái cũng nhờ nhà thơ Tố Hữu đọc lại bài thơ trên cho nghe ít nhất là một lần.

    Về sau, bài thơ Bầm ơi được truyền đi khắp các chiến trường và các chiến sỹ đã chép bài thơ này vào lá thư gửi cho người mẹ của mình ở quê nhà như một lời báo tin rằng ở chiến trường họ vẫn bình yên.

    Sau khi rời Việt Bắc, rời mảnh đất Gia Điền về Hà Nội công tác, nhà thơ Tố Hữu và các văn nghệ sỹ luôn nhắc tới kỷ niệm sâu nặng và đáng nhớ này. Năm 1981, khi nhà thơ Tố Hữu đang ở Hà Nội thì anh đại tá quân đội con trai bà bủ Gái đến thăm. Anh đại tá tỏ lòng cảm ơn nhà thơ đã sáng tác ra bài Bầm ơi để động viên, an ủi cho mẹ anh được yên tâm khi xa anh. Dịp ấy, nhà thơ đã lấy 3 m lụa làm quà gửi anh đại tá đem về may áo cho bủ Gái. 3 m lụa này là của Bác Hồ tặng cho con gái đầu lòng của nhà thơ khi cháu mới ra đời. 4 năm sau anh đại tá con trai bà bủ Gái lại đến chơi và báo tin cho nhà thơ biết mẹ anh mới qua đời. Trước khi mất cụ dặn người nhà phải mặc cho mình tấm áo lụa quý giá để cụ yên lòng sang thế giới bên kia.

    “Gia tài” người chiến sĩ

    Bài thơ Bầm ơi không còn là tình cảm riêng tư của người con trai nơi chiến trường với bủ Gái ngày nào nơi Gốc Gạo mà những dòng thơ đầy ân tình ấy đã có sức lan tỏa, trở thành tình cảm chung đầy sâu nặng của những người chiến sỹ nơi mặt trận dành cho người mẹ già đang ngồi ở quê nhà ngóng trông. Trong bài thơ, hình ảnh người mẹ trung du hiện lên thật bình dị với tình yêu thương sâu nặng dành cho những đứa con đang ngày đêm cầm súng canh giữ sự bình yên của Tổ quốc.

    Hình ảnh bà bầm hiện lên thật xúc động: “Bầm ra ruộng cấy bầm run/Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non/Mạ non bầm cấy mấy đon/Ruột gan bầm lại thương con mấy lần/Mưa phùn ướt áo tứ thân/Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu !”. Từng chi tiết, từng hình ảnh trong mỗi dòng thơ làm sống lại bà mẹ trung du nghèo, lam lũ và khó nhọc. Trong mỗi buổi chiều sương mưa phùn nơi xóm núi, tay mẹ run rẩy cắm từng rảnh mạ xuống bùn mà lòng xót xa, quặn đau khi đứa con nơi chiến trường bặt vô âm tín. Lời thơ như lời hỏi thăm của đứa con xa về bầm: “Bầm ơi có rét không bầm”; “Mưa bao nhiêu hạt thương bầm bấy nhiêu”. Người con muốn khuyên nhủ bầm xin bớt đi những lo toan, xin bớt đi những tiếng khóc thầm vào mỗi đêm khuya. Bởi một lẽ, những khó nhọc, chông gai mà con phải vượt qua nơi chiến trường ác liệt không thể đo được những nhọc nhằn của đời bầm, không thể đổi lại tình yêu thương của bầm với con: “Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều/Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe !/Con đi trăm núi ngàn khe/Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm/Con đi đánh giặc mười năm/Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi”.

    Từ tình cảm yêu thương, dõi theo mỗi bước chân mà bầm dành cho con, khi đến những phương trời xa, người chiến sỹ đã nhận được tình cảm ấy từ biết bao bà mẹ “từ tâm”, họ chăm sóc, nuôi dưỡng và chở che cho người chiến sỹ như những đứa con. Bởi vậy, gia tài mà người chiến sỹ có được khi đi chiến trường là có biết bao bà mẹ tuy không đẻ nhưng luôn dành cho họ những tình cảm nồng ấm như bầm đã dành cho con: “Con đi mỗi bước gian lao/Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm !/Bao bà cụ từ tâm như mẹ/Yêu quý con như đẻ con ra/Cho con nào áo nào quà/Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi”. Tình yêu nước, tình đồng chí, tình hậu phương đã hòa làm một để tạo nên tình cảm lớn giúp người chiến sỹ vượt qua mọi thử thách chông gai để đi đến ngày thắng lợi: “Con ra tiền tuyến xa xôi/Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền/Nhớ thương con bầm yên tâm nhé/Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân/Con đi xa cũng như gần/Anh em đồng chí quây quần là con/Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí/Bầm quý con, bầm quý anh em/Bầm ơi, liền khúc ruột mềm/Có con có mẹ, còn thêm đồng bào”. Trong bài thơ, xen kẽ những lời thơ về hình ảnh bà bầm trung du là những lời thủ thỉ tâm tình và an ủi vỗ về của người con dành cho bầm: “Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe !”; “Nhớ thương con bầm yên tâm nhé”; “Nhớ con, bầm nhé đừng buồn”. Đó là những câu thơ thể hiện sự quyết tâm của những người chiến sỹ sẵn sàng vượt lên phía trước để tiêu diệt kẻ thù. Bởi một lẽ, phía sau lưng họ có bà bầm, bà bủ luôn dõi theo để động viên và dành trọn tình yêu thương.

    Bài thơ kết thúc bằng hình ảnh bầm hết sức chân thực và gần gũi: “Mẹ già tóc bạc hoa râm/Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…”. Đó là một biểu tượng đẹp không thể nào phai mờ trong tâm hồn người chiến sỹ dù ở phương trời nào.

    Bài & ảnh:Nguyễn Thế Lượng

    *

    GIỚI THIỆU BÀI THƠ BẦM ƠI – TỐ HỮU

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn…

    Những câu thơ quá quen thuộc trên như mở ra một chân trời nhỏ, một góc bình yên riêng tư để chàng trai lính thả lời tâm sự về nơi quê nhà với Bầm, bà mẹ. Lời bài thơ nhẹ nhàng, thủ thỉ, rủ rỉ giống như một bức thư viết vội cho mẹ của một cậu trai làng đi lính xa nhà, xa mẹ, xa quê …Rồi trong nỗi nhớ thương, lo lắng cứ vơi đầy, lòng yêu thương cứ lên xuống theo đà thổ lộ cứ tuôn ra, tuôn ra như nước tràn …Cả bài thơ là những câu thơ chân chất địa phương, mang tính vùng miền với những câu từ giản dị, ngôn từ dễ nhớ dễ thuộc như những câu nói bình thường, nhưng lại được sắp xếp, đưa đẩy để câu chữ ngôn từ thấm sâu, và đi vào lòng người đến thế. Chính sự giản dị đó đã đưa bài thơ mau đến được và ở lại trong lòng người đọc thơ bao thế hệ qua, và thật khó kiếm ra người đọc nào không yêu bài thơ Bầm Ơi này.

    Bài thơ thể lục bát làm chủ đạo, phần sau chen thêm vài câu thơ thể song thất (2 câu 7 chữ). Nói thật lòng thì tôi không hiểu tác giả, nhà thơ Tố Hữu chen mấy câu song thất vào lục bát để làm gì. Song thất lục bát thì thật khó để có một bài thơ bình thường về ngôn từ nhưng cách gieo vần bỏ chữ rất đắc địa như bài thơ vốn có.

    Theo tôi thì có thể bài thơ này được hoàn thành trong một thời gian dài,với những khoảng bỏ trống, rồi sự thêm thắt vào tùy theo tinh hình hoặc theo hồn thơ chi phối. Chính vì vậy lối viết bổ sung như thế, tức là cứ có một cái nền rộng rãi rồi thong thả viết, câu thơ nào hay thì chép vào bài. Có thể bài thơ không liền lạc, ngắt mạch cảm xúc, với các kết nối rời rạc, nhưng lại vô cùng đắc dụng bởi mạch cảm xúc cùng các ngữ nghĩa của bài thơ luôn được chuyên chở và thăng hoa. Chưa kể người viết theo lối này sẽ còn chờ đợi ngày hồn thơ về nhập nội để chỉnh sửa bài thơ, khiến nó trở nên hoàn hảo,không tỳ vết của một bài thơ lục bát viết về người mẹ.

    Xin giới thiệu tác giả Tố Hữu (1920 – 2002) tên thật là Nguyễn Kim Thành. Tố Hữu đến với thi ca khá sớm, từ năm 18 tuổi. Cùng năm đó, ông gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Rồi ông bị tù, vượt ngục. Cách mạng tháng Tám, Tố Hữu làm Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Huế.

    Những năm sau Tố Hữu là một cán bộ chính trị quan trọng của chính quyền và ông phải chịu trách nhiệm về việc trấn áp những nhà văn, nhà thơ trong vụ Nhân Văn Giai Phẩm. Lịch sử sẽ phán xét ông chứ không phải chúng ta, bởi chúng ta không nhiều thì ít đều yêu những bài thơ của ông. Và dù chúng ta có phán xét ông thì cũng không vứt bở những bài thơ hay của ông. Hãy đọc vài đoạn bài thơ Việt Bắc :

    Mình về mình có nhớ ta?

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng. 

    Mình về mình có nhớ không? 

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

    Tiếng ai tha thiết bên cồn 

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi 

    Áo chàm đưa buổi phân ly 

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

    Những bài thơ của Tố Hữu phần lớn đều giản dị, đời thường và không trau truốt khoa ngôn. Ông thường đưa các thành ngữ vùng miền, câu chữ địa phương bình thường như văn nói vào thơ cùa mình. Thơ của ông giản di, mạnh mẽ, tha thiết và giàu tính chiến đấu của một nhà thơ CM. Bởi ông là một nhà thơ lãng mạn CM xuất sắc nhất trong thể thơ này.

    Trở lại bài thơ Bầm Ơi thì đây cũng là một bài thơ tuyên truyền, lãng mạn CM với các thủ thuật của việc tuyên truyền ấy. Nhưng ta sẽ rút được nhiều điều tuyệt vời, giông giống như với lá thư của người con, chàng Vệ Quốc quân gửi mẹ :

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm..

    Bài thơ này rất khó lấy ra những câu thật hay, hoặc khổ thơ hay nhất để minh họa. Bởi nếu chúng đứng riêng thì đều bình bình, không nổi trội, nhưng khi đứng chung toàn bài thơ thì lại là một đường đi điệu đàng của những câu chữ đơn giản và bình thường nhưng đắc địa để thăng hoa bay bổng. Chỉ một đến hai lần đọc bài thơ, thì cái hay của bài thơ được phát lộ bởi một tay cao thủ về thơ, tức nhà thơ Tố Hữu sắp đặt câu chữ khiến bài thơ hiện ra rõ ràng, chân phương và hay tuyệt.

    Cũng xin nói thêm là bài thơ Bầm Ơi này, cũng như một số bài khác như Việt Bắc, Điện Biên Phủ, Mẹ Suốt…là do tác giả có một vị trí quan trọng trong bộ máy chính quyền nên thơ của ông được đưa vào giảng dạy trong các nhà trường.khiến cho thơ ông như càng được bay bổng hơn.

    Đọc xong thơ ông, không thể không thốt ra lời ngợi khen. Thơ hay tuyệt. Hay đến thế là cùng. Tiên sư anh Tố Hữu…

    MTA

    Bầm Ơi

    Ai về thăm mẹ quê ta

    Chiều nay có đứa con xa nhớ thầm…

    Bầm ơi có rét không bầm!

    Heo heo gió núi, lâm thâm mưa phùn

    Bầm ra ruộng cấy bầm run

    Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non

    Mạ non bầm cấy mấy đon

    Ruột gan bầm lại thương con mấy lần.

    Mưa phùn ướt áo tứ thân

    Mưa bao nhiêu hạt, thương bầm bấy nhiêu!

    Bầm ơi, sớm sớm chiều chiều

    Thương con, bầm chớ lo nhiều bầm nghe!

    Con đi trăm núi ngàn khe

    Chưa bằng muôn nỗi tái tê lòng bầm

    Con đi đánh giặc mười năm

    Chưa bằng khó nhọc đời bầm sáu mươi.

    Con ra tiền tuyến xa xôi

    Yêu bầm yêu nước, cả đôi mẹ hiền.

    Nhớ thương con bầm yên tâm nhé

    Bầm của con, mẹ Vệ quốc quân.

    Con đi xa cũng như gần

    Anh em đồng chí quây quần là con.

    Bầm yêu con, yêu luôn đồng chí

    Bầm quý con, bầm quý anh em.

    Bầm ơi, liền khúc ruột mềm

    Có con có mẹ, còn thêm đồng bào

    Con đi mỗi bước gian lao

    Xa bầm nhưng lại có bao nhiêu bầm!

    Bao bà cụ từ tâm như mẹ

    Yêu quý con như đẻ con ra.

    Cho con nào áo nào quà

    Cho củi con sưởi, cho nhà con ngơi.

    Con đi, con lớn lên rồi

    Chỉ thương bầm ở nhà ngồi nhớ con!

    Nhớ con, bầm nhé đừng buồn

    Giặc tan, con lại sớm hôm cùng bầm.

    Mẹ già tóc bạc hoa râm

    Chiều nay chắc cũng nghe thầm tiếng con…

    1948

    TỐ HỮU

    —————————————————————————————

    AC HÃY PHÂN TÍCH VÀ CM NHẬN ĐỊNH “VH VIẾT VN PHÁT TRIỂN TRÊN TINH THẦN VIỆT HÓA YẾU TỐ NGOẠI LAI”

    Văn học Việt Nam là sản phẩm tinh thần của Việt Nam. Bên cạnh những điểm chung của nền văn học nước nhà, mỗi dân tộc, mỗi vùng miền lại có những đặc điểm bản sắc riêng tạo nên một nền văn học thống nhất mà đa dạng. Văn học Việt Nam được hợp thành từ hai bộ phận: văn học dân gian và văn học viết. Trong đó, nền văn học viết Việt Nam phát triển gắn liền với quá trình lịch sử- chính trị-văn hóa- xã hội của đất nước. Có ý kiến cho rằng “Văn học viết Việt Nam phát triển trên tinh thần Việt hóa yếu tố ngoại lai”. Nhận định này xuất phát từ đâu? Chúng ta hãy cùng đi vào phân tích.

    Văn học viết Việt Nam bắt đầu xuất hiện và hình thành từ thế kỷ 10 khi dân tộc ta giành được độc lập từ các thế lực phương Bắc. Trải qua 3 thời kỳ phát triển: thời trung đại từ TK 10 đến hết TK 19, thời kỳ từ đầu TK 20 đến CMT8 1945 và thời kỳ sau CMT8 1945 đến hết TK 20.

    Trong thời kỳ trung đại văn học viết nước ta được hình thành trên nền văn hóa lịch sử của khu vực Đông Á, có quan hệ giao lưu với các nền văn học khu vực. Đặc biệt là nền văn học Trung quốc nên chịu ảnh hưởng nhiều của học thuyết Nho giáo, Phật giáo và Đạo giáo; tiếp nhận một phần hệ thống thể loại và thi pháp văn học cổ – trung đại Trung Quốc. Giai đoạn này văn học viết tồn tại dưới 2 dạng chữ viết là chữ Hán và chữ Nôm. Trong giai đoạn đầu của thời kỳ trung đại này văn học chữ Hán được sử dụng rộng rãi và có nhiều thành tựu rực rỡ như các tác phẩm Nam quốc sơn hà (Lí Thường Kiệt), Hịch tướng sĩ (Trần Quốc Tuấn),… Tuy nhiên bắt đầu từ TK 15 và đỉnh cao là TK 18, văn học chữ Nôm phát triển rất mạnh mẽ. Chữ Nôm là kết quả phát triển của văn học dân tộc, là minh chứng hùng hồn cho ý chí xây dựng một nên văn hiến độc lập của dân tộc. Bằng chữ Nôm ông cha ta đã tiếp thu một cách chủ động sáng tạo các thể thơ nước ngoài và tạo nên các thể thơ riêng của dân tộc như lục bát, song thất lục bát. Nhờ có chữ Nôm, các tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ trở nên gần gũi với đời sống người dân lao động hơn. So với chữ Hán thì chữ Nôm tiếp nhận ảnh hưởng văn học dân gian toàn diện, sâu sắc hơn. Các tác phẩm tiêu biểu thời kì này như Truyện Kiều (Nguyễn Du), Quốc âm thi tập (Nguyễn Trãi), thơ Hồ Xuân Hương, Bà Huyện Thanh Quan,… Như vậy, ngay từ những ngày đầu hình thành, văn học viết VN đã cũng đã tiếp thu những cái hay của văn học các nước phương Đông và chủ yếu là Trung Quốc nhưng tiếp thu một cách sáng tạo theo cách của mình để dần Việt hóa văn hóa ngoại lai.

    Đến giai đoạn từ đầu TK 20 đến nay (thời kỳ văn học hiện đại) văn học viết phát triển trong bối cảnh giao lưu văn hóa, văn học ngày càng mở rộng.”Sự gặp gỡ phương Tây là cuộc biến thiên lớn nhất trong lịch sử Việt Nam từ mấy mươi thế kỷ”(Hoài Thanh). Từ chỗ chỉ tiếp xúc, giao lưu với văn học các nước trong khu vực, văn học Việt Nam đã tiếp nhận thêm tinh hoa của nhiều nền văn học trên thế giới để đổi mới. Văn học thời kì này chủ yếu được viết bằng chữ quốc ngữ. Số lượng tác giả, tác phẩm và người đọc tăng nhanh. Đời sống văn học sôi động hơn nhờ có báo chí và kĩ thuật in ấn hiện đại. Lối viết hiện thực lấn át lối viết ước lệ; cái tôi cá nhân dần được khẳng định; nhiều thể loại văn học mới ra đời thay thế hệ thống thể loại cũ. Trong quá trình phát triển, do nhu cầu đổi mới và hiện đại hóa nền văn học, các văn nghệ sĩ của nước ta tiếp thu văn học nước ngoài ở cả hai phương diện: nội dung và hình thức. Quá trình tiếp nhận này diễn ra rất phức tạp trong những bối cảnh lịch sử, xã hội khác nhau với các trào lưu, các nền văn học khác nhau. Quá trình văn học phương Tây ảnh hưởng đến văn học Việt Nam diễn ra ngay từ những thập niên đầu thế kỉ XX và kéo dài suốt thế kỉ này. Chính từ những sự tiếp nhận đó, trên cơ sở một xã hội Việt Nam thực dân nửa phong kiến, nền văn học Việt Nam đã từng bước đi vào con đường hiện đại hóa, hội nhập với văn học khu vực và sau này là văn học thế giới. Đặc biệt, vào những thập niên cuối của thế kỉ XX, khi Đảng và Nhà nước chủ trương hội nhập, mở cửa với các nước trên thế giới, đa phương hóa và đa dạng hóa các mối quan hệ nhằm xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh văn minh thì việc tiếp thu văn học nước ngoài càng diễn ra mạnh mẽ hơn. Trong nửa đầu của thế kỉ XX, văn học Pháp được giới thiệu ở Việt Nam với một khối lượng tác phẩm khá lớn. Thơ ngụ ngôn của La Fontaine, các vở kịch Trưởng giả học làm sang, tiểu thuyết Ba người ngự lâm pháo thủ (A. Dumas), Những người khốn khổ (V. Hugo)… đã lần lượt được đăng trên các tờ Nam phong tạp chí, Đông dương tạp chí và nhà xuất bản Âu Tây tư tưởng đóng một vai trò quan trọng. Các nhà văn lớn thời kì này phần lớn được đào tạo từ các trường Pháp-Việt và một số đã du học từ Pháp trở về như Hoàng Ngọc Phách, Vũ Đình Liên, Khái Hưng, Chế Lan Viên, Nhất Linh, Nguyễn Mạnh Tường… Đội ngũ này một mặt chịu ảnh hưởng khá mạnh mẽ tư tưởng Tây học, mặt khác là lực lượng cơ bản góp phần quảng bá văn học Pháp ở Việt Nam đầu thế kỉ. Vào những năm đầu của thế kỉ XX, trong văn học Việt Nam, văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực và phong trào Thơ mới chịu ảnh hưởng sâu sắc văn học phương Tây. Các nhà thơ mới và các nhà văn Tự lực văn đoàn là những người tiên phong đổi mới theo tư tưởng phương Tây trong nhận thức và phản ánh. Văn xuôi lãng mạn đã đưa vào văn học Việt Nam những tư tưởng tiến bộ của chủ nghĩa lãng mạn phương Tây. Đó là tư tưởng chống phong kiến, đề cao ý thức cá nhân. Từ những tiếp thu đối với văn học phương Tây, văn học lãng mạn Việt Nam đã có những bước chuyển biến mới trong kết cấu, cốt truyện và các hình thức phản ánh khác. Các nhà văn trong Tự lực văn đoàn như Khái Hưng, Hoàng Đạo, Thạch Lam, Thế Lữ đã “đem phương pháp Thái Tây ứng dụng vào văn chương An Nam”. Trong sáng tác của họ, dấu ấn của V. Hugo, Lamartine,…thể hiện khá rõ. Bên cạnh văn xuôi lãng mạn, văn xuôi hiện thực trong những thập niên đầu thế kỷ XX đã tiếp thu văn học phương Tây để hiện đại hóa thể loại tự sự. Trong một số tác phẩm của Vũ Trọng Phụng in rõ dấu ấn phong cách tự nhiên chủ nghĩa của E.Zola. Nhà văn Nam Cao đã chịu ảnh hưởng phong cách phân tích tâm lý nhân vật và trong Truyện người hàng xóm (Nam Cao) có nhiều nét tương đồng với truyện Ghi chép dưới nhà hầm của Đôxtôiepxki. Trong việc tiếp thu văn học phương Tây để đổi mới văn học nước nhà, trường hợp những sáng tác của Hồ Biểu Chánh là một hiện tượng khá đặc biệt. Theo Vũ Ngọc Phan, Hồ Biểu Chánh (1885- 1958) là “một nhà tiểu thuyết nổi tiếng”, một nhà văn bình dân nhất Nam Kỳ. Những tác phẩm của ông góp phần hình thành thể loại tiểu thuyết Việt Nam trên chặng đường phôi thai. Khi sử dụng chữ quốc ngữ để sáng tác, Hồ Biểu Chánh đã tiếp thu mạnh mẽ những tác phẩm văn học phương Tây. Một số tác phẩm của ông thường phóng tác theo các tác phẩm phương Tây nhằm thể hiện những nội dung mới của đời sống xã hội Việt Nam trên con đường vận động và biến đổi. Đó là trường hợp các tiểu thuyết như: Chúa Tàu Kim Quy (phóng tác theo Bá tước Monte-Cristo của A.Dumas), Cay đắng mùi đời (phỏng theo Không gia đình của H. Malot), Ngọn cỏ gió đùa (phỏng theo Những người khốn khổ của V.Hugo). Những tác phẩm trên nổi bật về xu hướng đạo đức xã hội, ngợi ca cái đẹp, cái tốt, cái thiện và lên án, chống lại cái ác. Việc phóng tác của Hồ Biểu Chánh đối với một số tác phẩm văn học phương Tây như trên là nhắm tiếp thu kinh nghiệm văn học nước ngoài để đổi mới thể loại tự sự mới hình thành và phát triển trong những năm đầu của thế kỷ XX. Ở đây, khi phóng tác, nhà văn không “chuyển dịch” như một số tác giả khác, mà biến thành riêng của mình để thể hiện cuộc sống và con người phức tạp của vùng Nam Bộ. Một số tác giả tiếp nhận khung cảnh tự sự của văn học nước ngoài để đưa vào bối cảnh cụ thể của Việt Nam. Như vậy, việc tiếp nhận không chỉ dừng lại ở hình thức như đã dẫn chứng ở trên mà còn thể hiện ở nội dung và quan niệm nghệ thuật. Trong lĩnh vực này, Phạm Thị Hoài và Nguyễn Huy Thiệp… là những ví dụ tiêu biểu. Cái triết lí “không có chúa thì mọi cái đều được phép làm” của Đôxtôiepxki trong Anh em nhà Karamadôp được Nguyễn Huy Thiệp chuyển thành triết lí “không có vua thì mọi cái đều được tự do” trong Không có vua. Phạm Thị Hoài đã lấy một chủ đề mang khung cảnh tự sự là mê cung của F. Kapkađể đặt tên cho một tác phẩm của mình là Mê lộ. Phản ánh sự tha hóa của con người và sự phi lí của cuộc sống xã hội hiện đại là một vấn đề nổi bật trong văn học phương Tây. Tác giả Phạm Thị Hoài cũng khai thác các vấn đề trên trong các tác phẩm của mình. Nếu nhân vật Menrsalt trong Kẻ xa lạ của văn học hiện đại chối từ kiểu sống theo những lề thói xã hội đã hằn sâu trong mỗi con người thì hai mẹ con cô Liễu trong Tổ khúc bốn mùa của Phạm Thị Hoài sống tách biệt với lối sống “giống nhau từ cái ngậm tăm, xỏ đôi dép đến những ước mơ quẩn quanh tội nghiệp… và mất khả năng ý thức về mọi sự”. Việc có cách viết giống nhau của các nhà văn Việt Nam và các tác giả văn học phương Tây chủ yếu do sự giao lưu và tiếp nhận. Nhưng cũng không loại trừ trường hợp trong những điều kiện lịch sử xã hội giống nhau, không trực tiếp chịu ảnh hưởng nhưng vẫn có sự gần gũi nhau đối với một số tác giả, tác phẩm.

    Mặc dù còn một số hạn chế trong tư tưởng khi tiếp thu nội dung và hình thức văn học phương Tây, nhưng rõ ràng nhờ quá trình tiếp xúc này các nhà thơ nhà văn Việt Nam đã mang vào thơ một luồng gió mới tạo ra sự biến đổi nhiều mặt trong văn học Việt Nam hiện đại. Trong quá trình phát triển và hiện đại hóa, nền văn học Việt Nam đã không ngừng tiếp thu và chịu ảnh hưởng của văn học phương Tây. Dấu ấn của văn học nước ngoài đối với văn học Việt Nam tuy từng giai đoạn có mức độ đậm nhạt khác nhau nhưng đã tác động mạnh mẽ đến nền văn học Việt Nam hiện đại. Các nhà văn nhà thơ Việt Nam đã tiếp thu và chuyển hóa văn học phương Tây thành văn học bình dị, dễ hiễu và dễ tiếp cận hơn cho người Việt Nam. Chính vì vậy có ý kiến cho rằng “Văn học viết Việt Nam phát triển trên tin thần Việt hóa yếu tố ngoại lai”

    ———————————————————————————————————————

     

    ĐÁNH GIÁ VỀ VHDGVN, CÙ HUY CẬN ĐÃ TỪNG VIẾT: “VĂN NGHỆ DG (FOLKLORE) LÀ VĂN NGHỆ GỐC. QUA VĂN NGHỆ DG, NHÂN DÂN TRƯỚC HẾT LÀ NHÂN DÂN LAO ĐỘNG TỰ BIỂU HIỆN MÌNH, TỰ PHẢN ÁNH CUỘC SỐNG CỦA MÌNH. CHÍNH TRONG VĂN NGHỆ DG, TA TÌM THẤY NHỮNG ĐIỀU CƠ BẢN NHẤT CỦA BẢN SẮC VĂN HÓA CỦA DÂN TỘC, MÀ BẢN SẮC VĂN HÓA LẠI LÀ CỐT LÕI CỦA BẢN SẮC DÂN TỘC. ĐIỀU NÀY VÔ CÙNG QUAN TRỌNG”. AC HÃY PT VÀ CM NHẬN ĐỊNH TRÊN

    Một tác phẩm “tiếng làng” của nhạc sĩ Minh Sơn, một bài thơ “Chân quê” của Nguyễn Bính, một “Bà tôi” của nhạc sĩ Nguyễn Vĩnh Tiến, một tiểu thuyết “Đất rừng phương Nam” của Đoàn Giỏi, một điệu múa hầu trăng (Ngắm mình dưới trăng) của nghệ sĩ Linh Nga; người thưởng thức đều nhận thấy từ nó rất chung của chúng là âm hưởng ngọt ngào từ ảnh hưởng của Văn nghệ dân gian. Có thể nói, nếu không có văn nghệ dân gian sẽ không có nền văn học nghệ thuật hiện đại và đương đại. Văn nghệ dân gian là khởi nguồn của nghệ thuật, phản ánh bức tranh vật chất và tinh thần của người lao động và kho tàng ẩn chứa bản sắc văn hóa dân tộc. Đánh giá về kho tàng văn học DG VN, Cù Huy Cận đã từng viết “Văn nghệ DG (Folklore) là văn nghệ gốc. Qua văn nghệ DG, nhân dân trước hết là nhân dân lao động tự biểu hiện mình, tự phản ánh cuộc sống của mình. Chính trong văn nghệ DG, ta tìm thấy những điều cơ bản nhất của bản sắc văn hóa của dân tộc, mà bản sắc văn hóa lại là cốt lõi của bản sắc dân tộc. Điều này vô cùng quan trọng”.

    Như chúng ta đã biết văn nghệ DG là sản phẩm truyền thống bao gồm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của quần chúng nhân dân. Văn nghệ DG bao gồm kiến trúc DG, hội họa DG, trang trí DG, âm nhạc DG… Từ khi bắt đầu có sự sống là bắt đầu có văn nghệ DG. Ban đầu, có thể chỉ là những tiếng hò dô, hay những hình vẽ trên cành cây, vách đá; sau đó, là những câu chuyện kể, những lời ru, những trò chơi. Như vậy, văn nghệ DG có trước VHDG. Vậy tại sao nói VNDG là văn nghệ gốc, ta có thể giải thích rằng VNDG là cội nguồn của mọi thứ Văn nghệ. Sau này, VNDG là thứ văn nghệ khai sinh đầu tiên, được con người sáng tạo ra đầu tiên. VNDG phản ánh cuộc sống của nhân dân lao động, tức là tác giả người sáng tạo nên VNDG là nhân dân lao động, và nội dung phản ánh trong VNDG là bức tranh cuộc sống sinh động của nhân dân lao động. Thật vậy, VNDG là khởi nguồn của văn nghệ xuất phát từ hoàn cảnh ra đời của VNDG xã hội nguyên thủy chưa có chữ viết, con người trong quá trình lao động sản xuất đã đạt tới một trình độ nhất định với những dạng quan hệ sản xuất nhất định. Đi kèm theo đó là sự nảy sinh và phát triển của những cảm xúc thẩm mỹ của con người. Nói cách khác, sự ra đời của sáng tác truyền miệng đánh dấu sự ra đời thực sự của nghệ thuật với tư cách là một hình thái ý thức xã hội có ảnh hưởng to lớn tới sự phát triển của nhân loại. Ta thấy trong VNDG có những cảnh sinh hoạt lao động sản xuất, đó chính là phản ánh cuộc sống của nhân dân, hình ảnh này ta có thể dễ dàng bắt gặp trong những bức tranh dân gian Đông Hồ, như cây dừa, đấu vật, thầy đồ; hay ca dao:

    Trên đồng cạn dưới đồng sâu

    Chồng cày vợ cấy con trâu đi bừa

    VNDG còn phản ánh tâm tư tình cảm của người lao động, tình yêu quê hương đất nước thì có bài:

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ

    Tình yêu đôi lứa

    Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi

    Nỗi bất hạnh của người phụ nữ phong kiến thì có câu ca dao

    Thân em như lá từ bi

    Ngày thì dãi nắng, đêm thì dầm sương

    VNDG còn phản ánh triết lý nhân sinh, truyện cổ tích trí khôn của ta đây, tấm cám, cây khế, truyện ngụ ngôn

    Về ý nghĩa sản xuất, thì tục ngữ có rất nhiều câu, như:

    Trăng quầng thời hạn, trăng tán trời mưa

    Hay ca dao có câu

    Tháng giêng là tháng ăn chơi

    Tháng hai trồng đậu, trồng khoai, trồng cà

    VNDG phản ánh đời sống tinh thần, bản sắc văn hóa. Như phản ánh tinh thần đoàn kết có truyền thuyết Thánh Gióng, Hai Bà Trưng. Tín ngưỡng tâm linh có chiều rộng từ thánh Gióng, trâu vàng. Phong tục tập quán qua bánh chưng bánh dày, trầu cau. Như vậy, VNDG mang bản sắc văn hóa dân tộc phản ánh đời sống tinh thần của dân tộc, phản ánh phong tục tập quán, tín ngưỡng tâm linh, nếp nghĩ của người Việt. Chính trong VNDG ta tìm thấy những điều cơ bản nhất của bản sắc văn hóa của dân tộc, mà bản sắc văn hóa lại là cốt lõi của bản sắc dân tộc. Điều này vô cùng quan trọng. Quan trọng nhất là văn học DG đã nuôi dưỡng tâm hồn của mỗi người dân Việt, từ đó sinh ra những nghệ sĩ làm nên nghệ thuật của văn nghệ sĩ cổ điển, hiện đại và đương đại. Để CM ta có thể kể đến đại thi hào Nguyễn Du với Truyện Kiều, hay bức tranh “Chơi ô ăn quan” của Nguyễn Văn Chánh, bài thơ Việt Bắc của Tố Hữu. Trải qua bao biến thiên thăng trầm của thời gian, những sáng tác tập thể dân gian vẫn luôn có được vị trí quan trọng trong văn hóa tinh thần của bao người. Cho tới nay, VNDG vẫn có sức sống mãnh liệt và ảnh hưởng tới nhiều mặt của đời sống, những ước mơ, khao khát, mong muốn kể chuyện quá khứ, đời sống hiện tại và nhìn về tương lai.

    ———————————————————————————————————————-

    HÃY CHỈ RA SỰ KHÁC NHAU CỦA NHÂN VẬT TRUNG TÂM TRONG CÁC THỂ LOẠI TỰ SỰ DÂN GIAN?

    CÁC KIỂU NHÂN VẬT TRONG TRUYỆN KỂ DÂN GIAN

    Văn học dân gian là một kho chứa khổng lồ và quý giá các tư liệu về cách tư duy cổ xưa của con người và cách nhìn nhận, cách đánh giá và giải thích về tự nhiên và chính bản thân con người trong thế gới ấy. Ở đó còn bảo tồn một cách nguyên vẹn nền văn hóa Việt đậm chất nhân văn, đậm đà bản sắc dân tộc của nòi giống Rồng, Tiên, của cộng đồng cư dân làm nông nghiệp lúa nước. Từ buổi sơ sinh của thời cổ đại, con người trên khắp thế giới đã có ý thức nghiên cứu Folklore nói chung và thi pháp học Folklore nói riêng. Chính họ nhận ra những giá trị quan trọng từ công việc đậm chất khoa học và rất phức tạp này. Người có công đầu trong lĩnh vực này là Aristote, người Hi Lạp (384-322 TCN) với công trình nghiên cứu dài 26 chương, mang tên Peotics (Nghệ thuật thi ca). Đây là cánh cửa đầu tiên và hết sức mới mẻ được mở ra không những cho khoa học nghiên cứu văn học mà còn là cánh cửa cho mĩ học và triết học. Sau Aristote đến lượt Viecgin người La Mã cổ đại (70-19 TCN) đã phân chia ngôn ngữ thi ca dân gian thành ba loại: loại mang phong cách cao quý, loại mang phong cách vừa phải và loại mang phong cách thấp và đương nhiên mỗi phong cách khác nhau sẽ có đặc điểm khác nhau và phục vụ một đối tượng khác nhau. Ở Trung Hoa thời cổ đại cũng xuất hiện nhiều công trình nổi tiếng, nghiên cứu về thi pháp học như: Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp, Thư gửi Nguyên Chuẩn của Bạch Cư Dị, Tùy viên thi thoại của Viên Mai. Ở Việt Nam, việc nghiên cứu Folklore và thi pháp Folklore muộn hơn với công trình mang tên Vân đài loại ngữ của Lê Quý Đôn (1726-1784) là dấu ấn quan trọng mở đầu cho ngành khoa học hấp dẫn này ở Đất nước hoa Sen – một dân tộc có nền Văn học dân gian phát triển. Càng về sau khoa học này càng thu hút sự say mê nghiên cứu và cống hiến của các nhà khoa học Folklore. Những công trình nghiên cứu của họ, khi được công bố là ánh đèn soi rọi, làm bừng sáng cả một kho tàng kiến thức vô giá về mọi mặt cuộc sống và cả về văn hóa.

    Để phân chia các loại nhân vật trong tác phẩm văn học nói chung và truyện kể dân gian nói riêng, ta dựa vào nhiều tiêu chí khác nhau. Mỗi tiêu chí khác nhau sẽ cho ta một cách phân loại và được các kiểu nhân vật khác nhau. Dựa trên cơ sở đánh giá vai trò của nhân vật trong việc triển khai cốt truyện, ta có thể chia nhân vật thành các loại sau:

    – Nhân vật chính, nhân vật chính đóng vai trò chủ đạo xuất hiện nhiều trong tác phẩm, trong câu chuyện liên quan đến các sự kiện chủ yếu của tác phẩm là cơ sở để tác giả triển khai đề tài của mình.

    – Nhân vật trung tâm là các nhân vật xuất hiện từ đầu đến cuối tác phẩm về mặt ý nghĩa, nó là nơi quy tụ mọi mâu thuẫn của tác phẩm thể hiện vấn đề trung tâm của tác phẩm ấy.

    – Nhân vật phụ, là những nhân vật thể hiện tính cách hoặc chỉ thấp thoáng trong tác phẩm để làm nổi bật nhân vật chính.

    Căn cứ vào tác động của nhân vật đối với sự phát triển của xã hội gắn với những đối kháng mâu thuẫn trong tác phẩm ta có các kiểu nhân vật sau:

    – Nhân vật chính diện, nhân vật mang vẻ đẹp lý tưởng, quan điểm tư tưởng đạo đức tốt đẹp được khẳng định, được đề cao như một tấm gương về phẩm chất cao đẹp của con người.

    – Nhân vật phản diện, là nhân vật có tính cách xấu đáng bị lên án, đáng phủ nhận và triệt tiêu.

    Nếu lấy cấu trúc nhân vật làm tiêu chí, ta có các kiểu nhân vật sau:

    – Nhân vật chức năng, là loại nhân vật không có đời sống nội tâm đặc điểm cố định từ đầu đến cuối tác phẩm. Nó tồn tại trong tác phẩm chỉ nhằm một số chức năng nhất định nào đó mà thôi.

    – Nhân vật loại hình, là kiểu nhân vật tập trung những phẩm chất, đặc điểm của một loại người tiêu biểu nhằm khái quát chung về tính cách điển hình.

    – Nhân vật bản thể, là kiểu nhân vật phức tạp có cá tính nổi bật, thường có những mâu thuẫn nội tại có những chuyển biến phức tạp. Nó vừa đáng ghét, vừa đáng thương, vừa lương thiện lại cũng vừa độc ác…

    Sau đây, chúng tôi đi vào nghiên cứu các kiểu nhân vật theo quan điểm của khoa học nghiên cứu thi pháp Folklore.

    1. Kiểu nhân vật thần thoại

    Nhân vật trong thần thoại là thần, hầu hết có nguồn gốc từ thiên nhiên. Họ là “lời giải thích” cho chính nguồn gốc mà họ sinh ra. Thần trụ Trời giải thích về sự hình thành của trời đất. Thần Mặt Trăng giải thích tại sao mặt trăng lại mát dịu hơn mặt trời. Thần Mưa, Thần Gió giải thích tại sao lại có hiện tượng mưa, gió. Thần Sông giải thích cho sự hình thành của sông…Đây là những nhân vật thần thoại đầu tiên có trong những câu truyện cổ tích đầu tiên về tự nhiên. Chính vì thế người ta gọi kiểu nhân vật này là nhân vật suy nguyên trong thần thoại suy nguyên.

    Nhân vật thần thoại có tầm vóc và hành động phi thường mang tầm cỡ vũ trụ. Để xây dựng típ nhân vật này, tác giả dân gian đã tận dụng tuyệt đối trí tưởng tượng bay bổng của mình và sử dụng biện pháp nghệ thuật thần thánh hóa và nhân cách hóa các hiện tượng tự nhiên. Đây là biện pháp nghệ thuật bắt nguồn từ thế giới tâm linh hoàn toàn biệt lập với những quy luật và kiến thức khoa học tự nhiên cho nên nó mang tính “vô thức” một cách thuần khiết. Người ta cho rằng tất cả mọi thứ, mọi sự vật trong thiên nhiên đều có thần, có hồn, có ý thức và có một khả năng phi phàm hơn hẳn cong người. (Không phải thần thánh sinh ra con người mà con người đã sáng tạo ra thần thánh bằng chí tưởng tương ngây thơ của mình).

    Câc nhân vật có nguồn gốc thiên nhiên, vũ trụ không có hình hài rõ ràng, vô hạn định, hành động của thần thì biến hóa khôn lường, đi mây về gió, thoắt biến, thoắt hiện, hành động của thần là nguyên nhân của các hiện tượng tự nhiên. Hành động đó vừa có yếu tố thực vừa có yếu tố hoang đường. Yếu tố thực lấy từ các hoạt động của con người, yếu tố hoang đường là màu sắc thần thánh là cách lý giải ngây thơ về các hiện tượng tự nhiên, xã hội” (TS. Lê Đức Luận).

    Hệ thống nhân vật thần thoại được nhấn chìm trong không gian huyền thoại, cổ kính và thiêng liêng với các tên gọi mang tầm vóc vũ trụ bao la như: Thần Mặt Trời, Thần Biển, Thần Núi…hoặc các tên goi đã được Hán hóa hoặc Nho giáo hóa như: Ngọc Hoàng, Nữ Hoàng…Hệ thống nhân vật thần thoại với những đặc điểm kỳ ảo mãi mãi là sự quyến rũ mạnh mẽ, sự kích thích khám phá trong say đắm của thế giới tuổi thơ nói riêng và sự tìm hiểu say mê của con người nói chung.

    2.Nhân vật truyền thuyết.

    Tìm hiểu nhân vật truyền thuyết, ta thấy cách xây đựng nhân vật có sự chuyển biến dần từ thần sang người. Điều này có thể được bắt nguồn từ cách nhìn nhận về tự nhiên và con người đã có sự thay đổi, bước đầu phát hiện ra bản chất và khoa học hơn. Nhân vật chính trong truyền thuyết chủ yếu là người và nhân vật bán thần (Nửa thần), nhân vật phụ có thể là người, là thần, bán thần vô cùng đa dạng và phong phú. Để tiện lợi trong việc tìm hiểu và theo dõi, có thể chia nhân vật truyền thuyết thành các tiểu loại sau:

    1. Tiểu loại nhân vật truyền thuyết khởi nguyên và anh hùng văn hóa

    Nhân vật khởi nguyên giải thích về nguồn gốc và quá trình hình thành các thị tộc, bộ tộc, bộ lạc, gia tộc, các làng xã, các thủy tổ của các làng nghề thủ công truyền thống. Tiến sĩ Lê Đức Luận cho rằng: “Đặc điểm loại nhân vật này là nhân vật bán thần trong truyền thuyết “Lạc Long Quân và Âu Cơ”, “Sơn Tinh Thủy Tinh” đây là hai nhân vật không rõ hình hài, tính cách thì người nhưng hành động thì thần. Đây là nhân vật mang ảnh hưởng của kiểu nhân vật thần thoại. Nhân vật trong thần thoại sử thi được kết cấu trong hệ thống môtip: 1. Môtip hồng thủy: Mưa, lụt – Đôi trai gái sống sót sinh đẻ (Đẻ đất đẻ nước), lũ lụt – đôi Nam, Nữ đẻ ra các dân tộc (Quả bầu mẹ). 2. Môtip người khổng lồ kiến tạo: Cây – Người – Trời đất hoặc cây – Người khổng lồ – Chim – Trứng – Nhiều người. 3. Môtip cây vũ trụ: Sự xuất hiện (Sự chết – Sự phục hồi (Đẻ đất đẻ nước)). Đây là môtip thuộc bộ phận truyền thuyết suy nguyên về nguồn gốc loài người và bộ lạc. Lớp truyền thuyết suy nguyên về nguồn gốc con người và các tộc người. Đó là Tô Tem Giáo và Bái Vật Giáo, đối với người Việt vật tổ là con rồng (Long), con Nêga của người Khơme, con NaGaRy của người Chăm, con Ngược của người Thái…Đây là hình thức sơ khai của tôn giáo nguyên thủy về thần và vật linh, vật tổ. Nhân bản người rồi thần thánh hóa con người là con đường nghệ thuật của truyền thyết suy nguyên”.

    Đối với nhân vật anh hùng văn hóa trong truyền thuyết, E. M. Meletinsky cho rằng: “Việc diệt trừ quái vật, yêu ma, việc tạo ra con người, dậy nghề và nghệ thuật cho họ, tạo ra các phong tục, trật tự các sông ngòi, biển cả, tạo ra khí hậu…đã thuộc vào những hoạt động quan trọng nhất của anh hùng văn hóa”. Thông qua nhân vật anh hùng văn hóa, huyền thoại giải thích những cái trước đây chưa hề có, xa lạ với con người hoặc những thứ mà con người chưa đủ khả năng để giải thích về nó. Các nhân vật trong truyền thuyết có khả năng điều chỉnh môi trường tự nhiên và xã hội.

    Trong truyền thuyết của dân tộc việt, tiêu biểu cho kiểu anh hùng văn hóa là Lạc Long Quân, Âu cơ…họ là những nhân vật khai sáng, là thủy tổ của loài người. Mẹ Âu Cơ sinh ra đồng bào ta trong bọc trứng, Lạc Long Quân tiêu diệt Ngư Tinh, Mộc Tinh…cứu sống con người và dạy cho họ biết cách làm ăn, sinh sống.

    1. Tiểu loại nhân vật anh hùng lịch sử

    Nhân vật anh hùng lịch sử trong truyền thuyết là những con người có thật trong lịch sử. Họ là những con người tự bản thân không có sức mạnh phi thường như thần linh nhưng họ có sức mạnh từ thần linh, được thần linh trợ giúp như: Lê Lợi, An Dương Vương. Bên cạnh các nhân vật là người như: Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi, An Dương Vương thì Thánh Gióng là nhân vật đậm màu sắc huyền thoại. Gióng mang trong mình sức mạnh phi thường của thần linh.

    Các nhân vật lịch sử được xây đựng trước thời đại Hùng Vương còn xa lạ với đời sống con người nhưng càng về sau này, họ càng được xây dựng một cách gần gũi với nhân dân hơn, đời thường hơn. Công trạng của họ cũng là một phần công trạng của nhân dân, họ được nhân dân yêu mến, gần gũi, kính trọng và bảo vệ mỗi khi gặp nguy hiểm. Tiểu hệ thống nhân vật này được xây đựng trên cơ sở thần thánh hóa các hiện tượng tự nhiên và con người. Nhân vật có khi là thần như Thánh Gióng, có khi là vật thần như Ngựa Sắt, Thần Kim Quy, có khi là con người nhưng đã được thần thánh hóa như Lạc Long Quân, Âu Cơ, Sơn Tinh, Thủy Tinh…

    Với những đặc điểm như đã trình bày, ta thấy nhân vật truyền thuyết đã gần gũi với con người hơn, người hơn và đậm đà tính nhân văn hơn.

    1. Nhân vật sử thi

    Nhân vật chính trong sử thi được xây đựng trên nguyên tắc triệt tiêu tuyệt đối những đặc điểm cá thể, tính cách cá nhân. Họ là những nhân vật tiêu biểu cho cả cộng đồng, bộ lạc, bộ tộc. Họ chính là hình tượng thể hiện những ước mơ, khát vọng của cộng đồng, ở họ là sự tập hợp tất cả những gì tốt đẹp nhất, ưu việt nhất. Điều này thể hiện mơ ước của bộ lạc, bộ tộc có được người đứng đầu người lãnh đạo xứng đáng để dìu dắt họ vượt qua những khó khăn trong cuộc sống và trong đấu tranh trống lại kẻ thù. Biện pháp khái quát hóa, lý tưởng hóa được sử dụng triệt để trong việc xây đựng nhân vật sử thi. Nhân vật trung tâm trong sử thi là nhân vật anh hùng, anh hùng văn hóa, anh hùng chiến trận. Trong các sử thi lớn, thường có một hệ thống nhân vật “hoành tráng” với nhiều lớp người, nhiều thế hệ trùng điệp. Tiêu biểu nhất là sử thi thần thoại “Đẻ đất đẻ nước” có đến sáu thế hệ, mỗi thế hệ là một lớp nhân vật.

    Xem sơ đồ sau:

    Thế hệ 1:

    Thế hệ hỗn mang
    Ông Thu Tha + Bà Thu Thiên

    Thế hệ 2:

    Thế hệ thiên sinh
    Dạ Dần

    Thế hệ 3:

    Con của Dạ Dần
    Bướm Bạc và Bướm Bồ

    Thế hệ 4:

    Con của Bướm Bạc, Bướm Bồ + Tiên
    Cun
    Khủng
    Lăng
    Cun
    Khủng
    Tập
    Cun
    Khủng
    Tồi
    Trứng
    ChimTùng
    Chim Tót

    Thế hệ 5:

    Con của chim trống và chim mái
    Thần Chớp, Mây, muôn vật trần gian Người nói tiếng các dân tộc
    ( Dịt Dàng, Lăng Cun Khủng, Lang Cun Cần)

    Thế hệ 6:

    Con của Lang Cung Cần
    Cun Tồi Cun Tàng Cung Khủng Tóng
    Ín

    Theo giáo sư Phan Đăng Nhật: “Phương pháp hiện thực theo tổng loại, một phương pháp phổ biến của Folklore, khác với phương pháp điển hình hóa cá thể là phương pháp của chủ nghĩa hiện thực trong văn học thời cận hiện đại”. Điều này làm cho nhân vật chính trong các sử thi anh hùng chiến trận được xây dựng với “những phẩm chất cao quý là lòng dũng cảm, xã thân vì cộng đồng trong cuộc chiến đấu chống lại kẻ thù và chinh phục thiên nhiên. Con người anh hùng có vẻ cường tráng của thể chất. Nhân vật anh hùng là hiện thân của ý chí và sức mạnh cộng đồng. Đó là hình tượng khái quát hóa và trìu tượng hóa”.

    Đặc điểm chung của nhân vật anh hùng trong sử thi là đẹp đẽ, dũng cảm, oai hùng, sang giàu, có sức mạnh phi thường và có những hành động không thể ngờ tới như: bắt Nữ Thần Mặt Trời, buộc ông Trời phải làm theo ý mình, chặt cây thần… Trong số nhiều anh hùng thường xuất hiện một anh hùng kiệt xuất hơn cả. Đó là người anh hùng có thể làm được một cách rất dễ dàng những việc mà người anh hùng khác không làm được hoặc làm được một cách vất vả trong một thời gian dài hay phải nhờ sụ trợ giúp từ thần linh, từ cộng đồng. Điều này thể hiện sự phân cấp, tài năng và thứ bậc của các anh hùng không đựa vào tuổi tác, cương vị trong gia đình mà phụ thuộc vào chính những khả năn tự bản thân của mỗi người anh hùng.

    Trong sử thi còn có các nhân vật là nữ và nhân vật thần. Họ không phải là nhân vật chính mà thường là nhân vật phụ. Các nhân vật này có một vai trò nhất định trong tiến trình phát triển của cốt truyện và của nhân vật chính. Nhân vật nữ thường là những cô gái đẹp và giàu sang, họ là nguyên nhân của những cuộc chiến tranh giành người đẹp giữa các bộ lạc, bộ tộc, cộng đồng. Người anh hùng nào giành được người đẹp thì càng trở nên có quyền lực, hùng mạnh, giàu sang hơn. Nhân vật thần thường sống lẫn lộn và gần gũi với con người, thường xuất hiện và giúp đỡ con người khi gặp phải những khó khăn, nguy hiểm trong cuộc sống và trong chiến đấu.

    Cũng cần chú ý rằng, hệ thống nhân vật trong sử thi anh hùng có một vài khác biệt so với nhânh vật sử thi thần thoại (Sử thi lịch sử). Nhân vật trong sử thi anh hùng không có nhiều lớp người, nhiều thế hệ người so với trong sử thi thần thoại. Tuy vậy lại có một tập thể người đông đảo trong cùng một cộng đồng, một làng bản cùng gánh vác gánh nặng với nhân vật anh hùng. Nhân vật trung tâm là anh hùng chiến đấu và anh hùng lao động.

    1. Nhân vật cổ tích

    Trong truyện cổ tích, hệ thống nhân vật đa dạng, phức tạp và mang tính hiện thực rõ rệt hơn so với nhân vật thần thoại và truyền thuyết. E. M. Melelinsky cho rằng: “Nhân vật trong truyện cổ tích không có sức mạnh ma thuật vốn có ở nhân vật huyền thoại. Nhân vật có sức mạnh nhờ sự bảo trợ đặc biệt của các thần. Về sau các sức mạnh thần kỳ đó nói chung như đã bị loại khỏi nhân vật và ở mức độ nhất định, chúng hoạt động thay cho nhân vật”. (Thi pháp huyền thoại – Trần Nho Thìn dịch) Nhân vật trong các kiểu truyện cổ tích khác nhau được xây dựng khác nhau.

    1. Nhân vật cổ tích thần kỳ

    Tùy thuộc vào cách kết thúc khác nhau của mỗi câu truyện cổ tích thần kỳ mà có các kiểu nhân vật khác nhau. Loại nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ kết thúc có hậu theo lý tưởng đổi đời của nhân vật chính với nhiều môtip khác nhau:

    – Môtip nhân vật có tài lạ.

    – Môtip nhân vật mồ côi ở với gì ghẻ và em cùng cha khác mẹ (Truyện Tấm cám).

    – Môtip nhân vật mồ côi ở với anh hoặc chú (Cây Khế).

    – Môtip nhân vật nghèo khổ đi làm thuê cho địa chủ hoặc phú ông (Cây tre trăm đốt, Sự tích con khỉ).

    – Môtip nhân vật mồ côi là dạng nhân vật tráng sĩ (Thạch Sanh).

    – Môtip nhân vật mồ côi có hình dạng xấu xí (Sọ Dừa, Lấy vợ Cóc, Lấy chồng Dê).

    Nhân vât cổ tích thần kỳ có sự phân biệt rõ ràng thành hai tuyến đối lập nhau. Tuyến thiện (Tuyến chính nghĩa, Tuyến tốt) Tuyến ác (Tuyến gian tà, Tuyến xấu). Các nhân vật ở hai tuyến được xây dựng một chiều, đã tôt là tốt tuyệt đối từ đầu cho đến cuối. Ngược lại đã xấu là xấu một cách độc địa từ lúc đầu cho đến mãi khi kết thúc, “không biết đến sự thay đổi, sự phát triễn của tính cách nhân vật. Nhân vật xuất hiện trong truyện cổ tích từ bắt đầu bằng những nhân cách nào thì nó sẽ tồn tai đến cuối truyện với những nhân cách đó”. Nhân vật thường không có tính cách cá nhân, các nhân vật trong cùng tuyến có bản chất giống nhau, tính cách gần giống nhau và có số phận cũng như kết cục gần giống nhau. Nhân vật cổ tích thần kỳ là nhân vật chức năng, chúng được sắp xếp theo một mạch cốt truyện để thực hiện chức năng chuyển tải một thông điệp nào đó. Tuy nhiên, đối với những truyện cổ tích trung gian thì nhân vật không được xây dựng theo hai tuyến thiện – ác rõ ràng.

    Trong truyện cổ tích thần kỳ có kiểu nhân vật kỳ diệu hoặc vật kỳ diệu. Họ là Tiên, Bụt, Giàng, Rùa Vàng, Ngựa Sắt…luôn đứng về tuyến nhân vật thiện để che chở, giúp đỡ mỗi khi họ gặp khó khăn hay nguy hiểm.

    1. Nhân vật cổ tích hiện thực(Cổ tích sinh hoạt)

    Nhân vật cổ tích hiện thực không có sự đối lập giữa hai tuyến thiện và ác. Không có sự đối kháng, loại trừ nhau mà chỉ là sự đối lập về tính cách, về trí tuệ giữa một bên là người ngờ nghệch, ngốc nghếch, đần độn (Thường là người chồng) với một bên là người quá thông minh, nhanh nhẹn (Thường là người vợ). Kết thúc truyện thường dẫn đến cái chết của nhân vật ngốc nghếch với những nguyên nhân rất buồn cười như chết đuối, trâu húc, ngã cây…Cũng có thể nhân vật ngốc nghếch được dạy dỗ, (được vợ dạy dỗ) hay vì một sự may mắn ngẫu nhiên nào đó mà nên người.

    Nhân vật cổ tích hiện thực thường được xây dựng với các típ sau:

    – Nhân vật tài năng nhưng bất hạnh (Trương Chi).

    – Nhân vật đức hạnh có người vợ hoặc người chồng tình nghĩa (Gái ngoan dạy chồng, Giết chó khuyên chồng, Mài dao dạy vợ).

    – Nhân vật đức hạnh có người bạn tốt, người dân trung thực (Trọng nghĩa khinh tài, Người ăn mía và người chủ vườn).

    -Nhân vật xấu xa và người vợ hoặc người chồng bất nghĩa hay đứa con bất hiếu, kẻ lừa đảo (Đồng tiền Vạn Lịch, Tiếc gà chôn mẹ, Dì phải thằng chết trôi tôi phải đôi sấu sành).

    1. Nhân vật cổ tích sự tích

    Nghệ thuật xây dựng nhân vật cổ tích sự tích là nghệ thuật lý tưởng hóa như đã thấy ở truyện cổ tích thần kỳ. Điều thú vị là ở truyện cổ tích thần kỳ thì nhân vật chỉ được xây dựng ở những đặc điểm chung nhất, tiêu biểu nhất cho cả cộng đồng mà triệt tiêu những đặc điểm cá nhân. Ngược lại nhân vật trong truyện cổ tích lại là những nhân vật cá thể với những đặc điểm riêng, tính cách riêng. Ở họ là những sinh hoạt rất đời thường, những sai lầm và cách xử sự trước cuộc sống và con người cũng rất đời thường.

    Nhân vật cổ tích sự tích không có sự phân tuyến thiện ác, giữa họ là các mối quan hệ ràng buộc và ứng xử với nhau nhưng không có nhân vật tốt cũng không có nhân vật xấu, các nhân vật đều có những sai lầm và những điều rất đáng yêu, đáng quý, cảm động và đáng trân trọng. Cách xây đựng nhân vật này rất giống với cách xây dựng nhân vật trong văn học hiện đại, các nhân vật trong truyện cổ tích thần kỳ giống với kiểu nhân vật bản thể trong văn học hiện đại. Họ là những nhân vật giống như những con người thực ngoài đời sống thực. Ở họ vừa có sự dữ tợn lại vừa là người hiền lành yếu đuối, vừa nhẫn tâm lại vừa lương thiện, vừa thông minh cũng lại vừa ngu dốt, vừa đáng ghét lại vừa đáng thương.

    Nhân vật cổ tích sự tích được xây đựng để ngợi ca, để phê phán. Thông qua các nhân vật trong Sự tích Trầu Cau và Vôi, Sự tích con Sam ca ngợi tình cảm thủy chung, son sắc của vợ chồng và tình cảm anh em thắm thiết yêu thương. Sự tích chim Quốc ca ngợi tình bạn gắn bó bền chặt. Các Truyện Sự tích con muỗi, Sự tích Dã Tràng phê phán thói bạc tình, phản trắc của người vợ. Sự tích chim Đa Đa phê phán những người làm cha, làm mẹ nhưng độc ác, nhẫn tâm…

    Khi kết thúc, nhân vật chính đều dẫn hoặc bị dẫn đến cái chết và hóa thân. Những nhân vật tốt khi chết được tự hóa thân, nhân vật xấu bị hóa thân, đây là một cách trừng phạt cho những hành động xấu của nhân vật. Tuy vậy cũng có nhiều nhân vật hóa thân không phải tự hóa thân hay bị trừng phạt phải hóa thân mà vì hoàn cảnh, vì những khó khăn, bất lợi tác động đến, dẫn đến sự hóa thân. Nhân vật cổ tích sự tích được cho là tốt hay xấu phải “xét trên quan hệ ứng xử và tiêu chuẩn đạo đức truyền thống chứ không phải là trên phương diện khái quát thành bản chất giai cấp như truyện cổ tích thần kỳ. Nhân vật tốt hoàn toàn không được lý tưởng hóa, nghĩa là không tốt tuyệt đối và hoàn hảo như nhân vật trong cổ tích thần kỳ. Họ có những sai lầm nào đó mà chính điều đó lại dẫn đến cái chết thương tâm….Ngay những nhân vật xấu, họ cũng không xấu đến tàn ác” (TS. Lê Đức Luận).

    1. Nhân vật cổ tích loài vật

    Thế gới nhân vật trong truyện cổ tích loài vật chỉ là những con vật trong đó có cả những con vật đã được con người thuần hóa và những con vật hoang dã. Chúng được xây dựng trên cơ sở của sự nhân cách hóa lài vật nhằm lý giải những đặc điểm sinh vật và thói quen trong sinh hoạt của chúng. Nhưng vấn đề không dừng lại ở đây, nói về loài vật nhưng không đơn thuần là dừng lại ở loài vật mà dùng loài vật để nói chuyện của loài người, cách ứng xử trong đời sống và xã hội của loài người.

    Theo Lê Trường Phát: “Hình ảnh các con vật cùng mối quan hệ giữa chúng vừa phải giống chúng tồn tại ngoài đời thưc, nghĩa là trong cái thế giới hoang dã của chúng, vừa mang theo đặc tính của con người và mối quan hệ giữa người với người”. Điều này làm cho các nhân vật chính trong truyện cổ tích loài vật có tính chất hai mặt: mặt “tự nhiên” tức là giống những con vật thật ngoài đời (Vật nuôi), ngoài tự nhiên (vật hoang dã), lại vừa mang tính “xã hội” nghĩa là lại vừa giống với những bản chất khác nhau của các hạng người trong xã hội.

    Tìm hiểu nhân vật cổ tích là một công việc thú vị và hấp dẫn, thông qua hệ thống nhân vật này, ta thấy cách xây đựng nhân vật trong truyện cổ tích có nhiều phát triễn tiến bộ. Hình tượng nhân vật người hơn, đời hơn nên nhân văn hơn. Cách xây dựng nhân vật mang tính chất đa diện là một biểu hiện rõ nhất của điều này, làm cho nhân vật vừa tốt lại vừ xấu, vừa tích cực lại cũng vừa tiêu cực như chính bản thân cuộc sống vậy.

    1. Nhân vật truyện thơ

    Nhân vật truyện thơ được xây dựng bằng bút pháp hiện thực, hình ảnh tính cách và những tình huống ứng xử, những xung đột của các nhân vật đều được lấy từ hiện thực cuộc sống chứ không phải được tưởng tượng ra theo bút pháp lãng mạn, thần thánh hóa. Nhân vật truyện thơ có tính cách, có lai lịch và tên tuổi rõ ràng như một con người đang tồn tại thực ở đâu đó trong cuộc sống.

    Theo Tến sĩ Lê Đức Luận: “Nhân vật trong truyện thơ có hai dạng. Dạng thứ nhất là nhân vật tự bạch. Ngôi thứ nhất, cái tôi trữ tình và dạng thứ hai là ngôi thứ ba nhân vật được nhắc đến của người kể chuyện. Dạng thứ nhất nhân vật trữ tình tự bạch là dạng nhân vật tâm trạng. Trong truyện thơ Vượt Biển (Còn có tên là Pha Thuyền), tác giả dân gian để cho nhân vật tự kể về đời mình”:

    “Tôi thấy cay cho phận tôi lắm

    Tôi thấy đắng cho phận tôi nhiều”…

    Dạng thứ hai là nhân vật qua lời kể của tác giả. Dạng này có hai loại, loại thứ nhất là nhân vật tâm trạng – trữ tình. Tác giả nhập thân vào hai nhân vật nam và nữ để thể hiện vai giao tiếp. Đây là lời chàng trai nói với người yêu đi lấy chồng trong “Tiễn dặn người yêu”:

    “Xin hãy cho anh kề vóc mảnh

    Quấn quanh vai ủ lấy hương người

    Cho mai sau lửa xác đượm hơi

    Một lát bên em thay lời tiễn dặm”…

    Loại thứ hai là nhân vật tự sự – trữ tình. Đây là nhóm truyện thơ thừa kế truyện cổ dân gian. Nhân vật được phản ánh với nhiều mối quan hệ, với nhiều nhân vật chứ không phải như loại nhân vật trữ tình- tâm trạng chỉ xoay quanh quan hệ với người yêu là chủ yếu.

    1. Nhân vật ngụ ngôn

    Nhân vật ngụ ngôn phần nhiều là loài vật như nhân vật cổ tích nhưng cách xây đựng nhân vật cũng như bản chất của nhân vật ngụ ngôn thì hoàn toàn khác hẳn so với nhân vật cổ tích. Nhân vật ngụ ngôn là nhân vật được xây đựng bằng phương pháp giả tưởng, chúng được dựng lên từ đặc tính riêng của mỗi loài vật hoặc từ tính cách, đặc điểm, hoàn cảnh của một nhóm người, một hạng người nào đó trong xã hội. Nhân vật ngụ ngôn là vật, cũng có khi là người nhưng dù là vật hay là người thì nó cũng chỉ được xây đựng nên nhằm mục đích truyền tải, phản ánh một ý đồ một thông điệp đã được định sẵn của tác giả dân gian chứ hoàn toàn không hề có ý nói lên đặc điểm cấu tạo hay thói quen trong sinh hoạt của loài vật hay xây dựng chân dung một con người.

    Tác giả dân gian luôn gán cho mỗi nhân vật ngụ ngôn một tính cách hoàn toàn xa lạ với sự thật, với bản chất của nó mà nó phải nhận về mình một đặc điểm, một tính cách, một bản chất của một loại người nào đó trong xã hôi. Khi xây đựng nhân vât ngụ ngôn, tác giả dân gian luôn phải chịu sự chi phối của một yêu cầu là những đặc điểm những tính cách của con vật phải được mọi người từ trước đến nay đều biết đến và đều công nhận nó. Tức là phải dựa trên những quan niệm chung của con người về đặc điểm của các loài vật như :

    – Cọp thì dữ dằn, độc ác, nhẫn tâm.

    – Cáo thì xảo quyệt, gian manh.

    – Khỉ thì thông minh, lanh lợi.

    – Thỏ thì nhút nhát.

    – Chuột thì hôi thối, bẩn thỉu.

    – Cá Sấu thì đạo đức giả.

    Truyện ngụ ngôn là truyện kể có tính chất thế sự, dùng cách ẩn dụ để thuyết minh cho một chủ đề luân lý, triết lý một quan niệm nhân sinh hay một nhận xét về thưc tế xã hội. Nhân vật ngụ ngôn được xây đựng để phục vụ cho những mục đích ấy. Điều này làm cho nhân vật ngụ ngôn có những đặc điểm khác biệt hoàn toàn so với nhân vật cổ tích.

    1. Nhân vật truyện cười và giai thoại
    2. Nhân vật truyện cười

    Nhân vật truyện cười thường không được xây dựng với những đặc điểm ngoại hình, tính cách rõ ràng, cụ thể như các kiểu nhân vật khác. Tác giả dân gian chỉ tập trung vào khai thác những chi tiết, những hành động, lời nói tiêu biểu nhằm mục đích gây cười. Đó có thể là một lời nói một hành động, một hành vi ứng xử, một thói hư hay cũng có thể là một đặc điểm ngoại hình. Truyện cười nhằm mục đích đen tới cho người đọc tiếng cười sảng khoái để quên đi những giờ phút lao động mệt nhọc, hoặc những lo toan hằng ngày trong cuộc sống. Thông qua cái cười, tiếng cười mà đã kích, lên án những thói hư tật xấu của con người.

    Nhân vật truyện cười được chia thành hai loại. Loại nhân vật hài hước và loại nhân vật châm biếm, đã kích. Tuy vậy không thể phân biệt được một cách rõ ràng nhân vật hài hước và nhân vật châm biếm.

    1. Nhân vật giai thoại

    Trong giai thoại không có một hệ thống nhân vật đông đảo phong phú như trong các thể loại khác. Ở đó có rất ít nhân vật, thường là chỉ một hai nhân vật mà thôi. Giai thoại tập trung xây dựng nhân vật trung tâm, nhân vật chính, họ không phải là đối tượng để cười như nhân vật truyện cười mà họ đóng vai trò là người chủ động đặt tình thế cho đối tượng cười và cái cười phải bật ra. Họ là những con người thông minh, hóm hỉnh và giảo hoạt. Họ được xây dựng từ những nguyên mẫu có thật với lai lịch rõ ràng như tên, tuổi, quê quán, vợ con, quá trình học hành…

    Hệ thống nhân vật trong truyện kể dân gian vô cùng đa dạng và phong phú cả về số lượng, chủng loại (Thần, vật thần, bán thần, người, vật), bản chất (Tốt, xấu, bản thể). Thế giới nhân vật là yếu tố quan trọng nhất chi phối toàn bộ cốt truyện và quá trình diễn biến của truyện, là linh hồn của những câu truyện kể dân gian. Nghiên cứu về hệ thống nhân vật là công việc quan trọng và cần thiết của bộ môn Thi pháp văn học dân gian. Thông qua hệ thống nhân vật ta thấy được sự trưởng thành trong nhận thức của người xưa về tự nhiên, xã hội cũng như chính bản thân của con người. Nhận thức của họ có sự chuyển biến rõ rệt từ cái nhìn hiện tượng chuyển dần vào bản chất của tự nhiên và đời sống, đồng thời ngày càng mang tính nhân văn sâu sắc. Từ cái nhìn siêu hình của thế giới tâm linh đến cái nhìn khoa học hơn.

    Cách xây dựng nhân vật cũng có những thay đổi lớn, từ những nhân vật thần thánh xa vời với cuộc sống con người đến các nhân vật bán thần rồi cuối cùng đến nhân vật là con người với những đặc điểm sinh học, tính cách, hành động, sinh hoạt và lý lịch rất đời thường. Thông qua quá trình nghiên cứu thế gới nhân vật trong truyện kể dân gian giúp chúng ta thấy được những quan niệm, nhận thức của người xưa về tự nhiên, con người và xã hội. Hiểu được thế giới tâm hồn, những mong muốn, khát khao được giửi gắm qua nhân vật, ở đó ta cũng tìm thấy cả một tâm hồn Việt đậm đà bản sắc và giàu tính nhân văn. Nghiên cứu nhân vật trong truyện kể dân gian nói riêng và thi pháp văn học dân gian nói chung cho ta nhiều kiền thức thiết thực, nhiều bài học và kinh nghiệm đáng quý. Thiết nghĩ đây là một khoa học cần thiết và quan trọng cần được quan tâm, đầu tư, nghiên cứu nhiều hơn nữa.

    Nguyễn Thị Mỹ Liên

    (Xã Điện Phương – huyện Điện Bàn – tỉnh Quảng Nam)

    ———————————————————————————————————————

    – ANH/CHỊ HÃY PHÂN TÍCH CÁC BÀI THƠ “NAM QUỐC SƠN HÀ” CỦA LÝ THƯỜNG KIỆT, “HỊCH TƯỚNG SĨ ” CỦA TRẦN QUỐC TUẤN VÀ “ ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ” CỦA NGUYỄN TRÃI ĐỂ LÀM RÕ SỰ PHÁT TRIỂN CỦA CHỦ NGHĨA YÊU NƯỚC TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN TỪ THẾ KỶ X ĐẾN THẾ KỶ XV.

    Tư tưởng yêu nước Việt Nam – bảo bối của giữ nước và dựng nước

    Cách đây hơn 40 năm, Ủy ban khoa học xã hội có mở một cuộc hội thảo về đề tài “Tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam”.

    TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM

    MỘT BẢO BỐI CỦA SỰ NGHIỆP GIỮ NƯỚC VÀ DỰNG NƯỚC

    1. Trần Văn Giàu(1)

    Đánh giặc 10 năm, bây giờ gác súng, thảo luận triết lý của lịch sử ai lại chẳng ham ?, người tham dự đông. Số tham luận nhiều. Chỉ vài bài hơi lạc lõng, còn tất cả đều bảo rằng tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam suốt thời kỳ lịch sử là tư tưởng yêu nước.

    Lịch sử Việt Nam dài nhiều nghìn năm, chủ yếu là lịch sử đấu tranh giành lại và bảo vệ độc lập dân tộc. Cho nên tư tưởng chủ yếu của dân tộc Việt Nam là tư tưởng yêu nước xuyên suốt lịch sử, cổ kim. Sự hình thành và phát triển của tư tưởng yêu nước đi đôi với sự hình thành và phát triển của quốc gia dân tộc. Lịch sử Việt Nam trải qua bao nhiêu thời đại thịnh suy thì tư tưởng yêu nước có bấy nhiêu hồi tiến lên hay suy thoái rồi quật khởi, lúc nào thực tế cũng chứng minh rằng tư tưởng yêu nước không phải chỉ là một triết lý để nhàm chán, nó là kim chỉ nam cho hành động, là một tiêu chuẩn để nhận định đúng –sai; tốt – xấu; nên – chăng. Vận nước suy hay thịnh, mất hay còn, nhục hay vinh, phần rất quan trọng này là tùy thuộc ở chỗ ta ứng dụng và phát huy hay ta quên lãng và chôn vùi món vũ khí tinh thần ấy mà tất cả các thế hệ tổ tiên, ông cha đều có công góp cả xương máu để rèn luyện.

    … Ta có thể hiểu tại sao, một ngàn năm hơn bị đè dưới Ngũ Hành Sơn, dân tộc Văn Lang không chết mất, quốc gia Văn Lang lại được khôi phục trên một tầng phát triển cao hơn, tầng Đại Việt; Bài thuốc trường sinh bất tử ấy, bài thuốc cải tử hoàn sinh ấy, xét cho cùng là một hệ thống tư tưởng yêu nước được sơ khỏi hình thành trên đất tổ Hùng Vương, khiến cho lúc còn phải ăn sương, uống tuyết để mà sống, người Việt Nam – người Văn Lang – không bị động chờ hóa kiếp, mà chủ động phát huy các giá trị tinh thần của tổ tiên để lại, cuối cùng tự mình lật đổ Ngũ Hành Sơn. Gương ông Gióng mãi mãi sáng; gương hai bà Trưng mãi mãi sáng. Năm 938, Ngô Quyền chiến thắng trở về đóng đô ở Cổ Loa thành thiên cổ “Nước đi ra bể lại mưa về nguồn, nước non hội ngộ còn luôn” là vậy.

    Có người bảo: Hán mạt, Đường tàn thì các dân tộc bị đô hộ thì gặp cơ may tự tháo cổng, chớ Việt Nam sức mấy tài gì? thời cơ thuận lợi thì đúng là có đấy, nhưng nếu tài thiển, sức mọn thì làm sao tháo cổng? mà dù xông ra được, hùm thiêng vị tất đã có thể tung hoành ở rừng xưa, chủ trại còn đó sẽ có ngày lại bắt. Việt Nam không phải như thế, Sau Hán, Đường là Tống, Nguyên, Minh, Thanh, tất cả các triều đại của ông khổng lồ Bắc quốc đều một, hai hay ba lần ra sức đánh chiếm Việt Nam mà tất cả đều bị thất bại thê thảm, thì đó là “cơ may” hay “cơ rủi” ? Đó chẳng phải là Việt Nam giành lại và giữ được độc lập dân tộc bằng tài sức của chính mình thì nhờ đâu. Nhưng thắc mắc của người đọc sử như thế cũng chưa được giải đáp trọn vẹn; Người ta còn hỏi về sức thì họ hơn, họ đông hơn Việt Nam 10, 15, 20 lần, về tài họ có truyền thống tôn tử, Ngô Khởi, Đức Mạnh ai bì? họ không phải không có lý do để khinh thị Việt Nam nhỏ như “ngón tay”, “cái đấu” thì sao tiến công xâm lược, họ thua luôn? Hay là bên cạnh những cách giải thích thông thường, ta còn có thể tìm nguyên nhân chiến thắng của ta ở lãnh vực tư tưởng, tinh thần đặc biệt cao cả của các tướng sĩ, của binh sĩ nhất là của toàn dân, của mỗi người dân ?.

    Trong thời Đại Việt, dân tộc Việt Nam có nhiều người hay chữ, chữ hán và chữ nôm. Trước, trong và sau mỗi lần chiến thắng, đều thấy nảy nở những áng văn hay, sâu, viết trên giấy, khắc trên đá. Tất nhiên tôi vẫn dựa trên các sự kiện lịch sử, song ở đây, tôi chủ yếu dựa vào các áng văn đó để ghi lại những đặc trưng của tư tưởng yêu nước thời Đại Việt, nói cho gọn, đoạn này của bản tham luận nhằm ghi lại mấy đóng góp chính của thời Đại Việt vào chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam.

    LÝ THƯỜNG KIỆT – “NAM QUỐC SƠN HÀ”

    Tư tưởng yêu nước thì thời Văn Lang đã sinh nở. Trong thời Bắc thuộc, tư tưởng yêu nước không bị tàn lụi vì cuộc đô hộ lâu dài, trái lại, tư tưởng yêu nước chẳng những được duy trì, mà lại có cơ hội phát triển với sự phát triển của phong trào dân tộc giải phóng. Nhưng phải đợi đến khi độc lập được khôi phục thì văn học yêu nước mới hình thành, văn học yêu nước bắt đầu với các nhà sư triều (tiền) Lê, và phải đợi đến triều Lý đầu thế kỷ XI mới có những áng văn đem lại những nguyên lý mới làm phong phú thêm chủ nghĩa yêu nước Việt Nam. Nổi tiếng nhất, ảnh hưởng nhất tới trăm đời về sau là bài thơ bốn câu 28 chữ của Lý Thường Kiệt, Phát súng thần trên chuyến tuyến sông Như Nguyệt giữa quân Việt Nam với quân Tống. Từ đền thờ hai vị thần Trương Hống, Trương Hác, tướng của Triệu Việt Vương Quang Phục, đêm đêm vang lên mỗi bài thơ làm phấn chấn thêm tinh thần đã cao của quân Việt, làm nản chí quân xâm lăng. Sau đó nhiều trận quyết chiến đã buộc 20 vạn quân Tống phải rút về nước. Khiến hai ông Á Thánh Tống Nho phải ngậm ngùi tiếc rẻ sao chỉ còn 30 dặm đường vào Thăng Long, mà  không vào nổi! bài thờ thần trên dòng sông Như Nguyệt chỉ bốn câu mà nói lên hai nguyên lý trọng đại của chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam.

    “Nam quốc sơn hà, nam đế cư

     Tiệt nhiên định phận tại thiên thu”

    Núi sông nước Nam thì Hoàng đế nước Nam ở. Tức lãnh thổ Việt Nam thì dân tộc Việt Nam làm chủ. Cương giới đã ghi rành trên sách trời, tức là quyền độc lập tự chủ của dân tộc Việt Nam không ai tranh chấp được, không ai bôi bỏ được. Hai câu này đồng nội dung ý với câu “Tạo hóa sinh ra con người tự do và bình đẳng” của Tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp: với câu “các dân tộc đều có quyền độc lập tự do” của Tuyên ngôn độc lập Mỹ. Có khác một điều là Tuyên ngôn của Triều Lý Việt Nam xuất hiện trước hai Tuyên ngôn kia đến mấy trăm năm, ở đây, thì “Thiên thu”, ở đó thì “Tạo hóa”, khác gì mấy ?.

    “Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư”.

     Cớ sao lũ giặc dám tới xâm phạm ?, chúng bây hãy chờ xem, thế nào chúng bây cũng chuốc lấy bại vong! Đó là cách của thần nói rằng, bảo rằng ta nhất định thắng, địch nhất định thua.

    Bảy tám trăm năm sau, ta còn nghe lời thề quyết tâm ấy khi kháng Pháp, kháng Mỹ. Người sau cách mạng Tháng tám năm 1945 có lý khi cho rằng bài thơ thần trên chuyến tuyến sông Như Nguyệt là bản Tuyên ngôn độc lập lần thứ nhất của Việt Nam.

    TRẦN HƯNG ĐẠO – HỊCH TƯỚNG SĨ VÀ DI CHÚC

    Thiện chiến và tàn bạo của quân Thát Đát, còn góc trời Âu – Á đâu không biết? nay Thát Đát đã diệt tống rồi, vua tôi nhà Tống đã ôm nhau nhảy xuống biển rồi; đế quốc Nguyên Mông đã dựng lên rồi, thì số phận của nước Đại Việt “Nhỏ như cái đấu”, ở sát hà nước Nguyên, giống như quả chuông treo bằng một sợi chỉ, như một trái chín treo trước miệng kẻ háo ăn. Nay quân Nguyên Mông sắp vào Đại Việt  nói là mượn đường vào Đông – Nam Á, thì triều đình nhà Trần tất phải lo đối phó. Đối phó cách nào? Không cách nào khác ngoài cách chính mình: chuẩn bị về quân lực và chuẩn bị về tinh thần, về việc trọng đại mà sau này ta gọi là “Công tác tư tưởng” thì lịch sử ghi lại hai cuộc Hội nghị Diên Hồng và Hội nghị Bình Than cốt để cho ý thức “Sát Thát” trở thành ý thức chung của toàn dân, từ vua quan, vương hầu đến tất cả đồng bào ở đồng bằng và miền núi. Đối đầu với một kẻ địch đông nhất và  mạnh nhất thế giới thì “mưu cao, mẹo giỏi” không đủ để chiến thắng, tướng giỏi, binh khỏe không đủ để cứu nước. Nhà Trần huy động các bậc bộ lão để cùng nhau quyết định “đánh!” truyền quyết tâm ấy cho toàn dân. Và trong “công tác tư tưởng” năm 1284 thì bài Hịch tướng sĩ của Trần Hưng Đạo có tầm quan trọng quyết định tới việc rèn luyện một quân đội tuyệt đỉnh anh hùng. Hai cuộc Hội nghị và một bài Hịch đã đem những  nguyên lý gì góp vào chủ nghĩa yêu nước Việt Nam ?.

    1. Quân địch thiện chiến, tàn bạo và đông đúc nhất trên đời, trước nay chưa từng có, nhưng ta quyết không sợ địch, ta đem sức của toàn quân, toàn dân mà kháng chiến thì chắc chắn sẽ được “Bêu đầu Hốt Tất Liệt ở Cửa khuyết, làm rữa thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai”.

    Đánh tan tư tưởng sợ địch, phát huy tư tưởng quyết chiến, quyết thắng, trong tình thế này hẳn không phải là chuyện dễ, vì quân Mộng- Thát chưa hề thua ai trên chiến trường Trung – Tây Á, Đông Âu, Trung Âu và cả Đông Á, họ đánh bại tất cả, họ được xem như thiên thần; kỵ binh họ tới lui nhanh như chớp giật, họ đánh mạnh như sấm sét từ Giáo hoàng ở La Mã tới Vua Tống ở Biện Kinh đều tán đởm kinh tâm. chỉ có quân Việt Nam đời Trần mới không sợ. Mà không sợ địch mới có thể quyết chiến quyết thắng được. Lại phải đem hết lực lượng toàn dân nhất trí đánh giặc thì mới cản được, đuổi được giặc Mông Thát.

    1. Hịch Tướng Sĩ của Trần Hưng Đạo nhận thấy rằng sau cuộc quân ta đánh bại Vân Nam Vương thì trong một thời gian không ngắn, nước ta có hòa bình, nên trong quân ta phát sinh tư tưởng tự mãn; tự mãn sinh ra thờ ơ, thờ ơ sinh ra một cái họa đắm đuối trong một lối sống hưởng lạc. Cho nên làm “công tác tư tưởng”; Trần Hưng Đạo đòi hỏi ở các tướng sĩ:
    2. a) Phải chú tâm bảo vệ danh dự của nước nhà và của chính mình; phải “biết thẹn”, khi nước mình, dân mình bị nhục, khi thấy sứ giả Nguyên tại Thăng long nghênh ngang bắt nạt tể phụ; bọn chúng kiêu căng nhục mạ vô nhân như vậy mà các tướng sĩ thản nhiên không tức giận không căm hờn vì nước bị lăng nhục. Hịch tướng sĩ đã đánh vào cái chai lì và không biết thẹn đó.
    3. b) Không một phút thờ ơ với vận nước, phải tránh cái lối sống hưởng lạc: “Giặc Nguyên Mông tràn vào thì cựa gà không đâm thủng áo giáp, mẹo cờ bạc không thể làm mưu lược nhà binh, chó săn giỏi không đuổi được quân thù, chén rượu ngon không thể làm cho giặc say chết, tiếng hát hay không thể làm cho giặc điếc tai”.
    4. c) Phải bồi dưỡng tinh thấn thượng võ cho thật cao. “Hãy ra sức huấn luyện binh sĩ tập dượt cung tên khiến cho người người là Bàng Mông nhà nhà là hậu nghệ”. Có như vậy mới “bêu đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết” được.

    NGUYỄN TRÃI – ĐẠI CÁO BÌNH NGÔ _ TÂU VUA LÊ

    Khởi nghĩa Lam Sơn toàn thắng. Năm 1428 “Đại cáo bình Ngô” ra đời. Đại cáo bình Ngô được viết cho đồng bào Việt Nam, đồng thời cũng cho nhà Minh đọc. Chắc là đối với Thiên triều bài Đại cáo này thấm thía khá sâu.; Sau đó 300 năm mới thấy thiện triều Mãn Thanh trở qua Việt Nam để nhận thêm bài học Đống Đa. Còn người Việt Nam thì từ thủa ấy, ai lớn lên, đi học, mà không thuộc lòng vài đoạn của “thiên cổ hùng  văn” này. Đại cáo bình Ngô đã đem vào kho tàng chủ nghĩa yêu nước những tư tưởng lớn nào ?.

    1. Quốc gia dân tộc Việt Nam được khẳng định là một nước Văn Hiến lâu đời, chớ đâu phải một nước man di như các triều đại Bắc Phương kiêu căng xếp loại; Cũng được khẳng định là một dân tộc anh hùng; Từ đời nọ qua đới kia Việt Nam đối đầu với Hán, Đường, Tống, Nguyên “Mỗi bên hùng cứ một phương tuy mạnh yếu nhiều lúc khác nhau mà hào kiệt thời nào cũng có” Nếu không phải “Từ trước vốn xưng nền văn hiến đã lâu”  thì sao có thể chống lại nổi cái tử nạn Hán hóa sao có thể làm cho Việt hóa thắng Hán hóa. Nếu không phải “Hào kiệt đời nào cũng có”, không phải là anh hùng thì sao có thể đánh bại được kẻ xâm lược to lớn hơn mình hàng chục lần, đánh lại họ không phải chỉ một lần mà liên tiếp các lần họ xâm lược, các bại tướng của họ Lưu Cung, Triệu Tiết, Toa Đô, Ô Mã Nhi hay Vương Thông, Mã Anh đều là nhân chứng rõ ràng.

    Nguyễn Trãi và Đại cáo bình Ngô nói lên được ý thức tự hào dân tộc- một cơ sở chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam. Chủ nghĩa yêu nước phải làm nảy sinh chủ nghĩa anh hùng thì quốc gia dân tộc mới sống còn danh dự được, nhất là khi đất nước ở một vị trí địa dư chính trị đặc biệt như Việt Nam.

    1. Chống xâm lược là việc chính nghĩa; cứu nước, cứu dân là việc đại nghĩa; chính nghĩa thắng phi nghĩa, đại nghĩa thắng cường bạo. Đó là triết lý chính trị của Đại cáo bình Ngô, đó là lòng tin sắt đá của dân tộc Việt Nam.

    “Đem đại nghĩa để thắng hung tàn

    Lấy trí nhân để thay cường bạo”

    1. Yêu nước là yêu dân, cứu nước là cứu dân. Một tư tưởng lớn của Đại cáo bình Ngô. Trong một lần đánh bại Nam Hán, hai lần đánh bại quân Tống, ba lần đánh bại quân Mông Nguyên, bên phía ta phải huy động sức mạnh của toàn dân, chớ không phải chỉ dùng quân lực, thì mới có thể “Lấy ít địch nhiều”, “Lấy yếu chống mạnh ” được. Trong cuộc kháng Nguyên của nhà Trần thì đã rõ ràng rồi. Nhưng phải đến Đại cáo bình Ngô thì mục đích cứu nước và cứu dân thì mới quyện lại thành một mối, phải đến đây, vai trò cứu nước của nhân dân mới được chính thức tuyên dương xứng đáng
    2. a) Đại cáo bình Ngô là “bản án chủ nghĩa thực dân” thống thiết cụ thể nhất, đầy đủ nhất làm cho những người đương thời mà cả người đời sau sôi sục căm thù quân Minh cường bạo: “Độc ác thay trúc Nam Sơn không ghi hết tội, dơ bẩn thay nước Nam Hải không  rửa hết mùi” Lê Lợi khởi nghĩa, cuộc khỏi nghĩa nhằm cứu nước và cứu nước cũng là cứu dân, “cứu nước dân để dạ, chí háo hức muốn về đông
    3. b) Đặc điểm của Đại cáo bình Ngô là, chiến thắng rồi mà vẫn tuyên dương sức mạnh của nhân dân lao khổ như là sức mạnh đầu tiên xung phong đánh giặc Minh. Lúc khởi nghĩa Lam Sơn còn trong trứng nước “Tuấn kiệt như sao buổi sớm, nhân tài như lá mùa thu” mà nhân dân lao động khổ đã sẵn sàng “dựng gậy làm cờ, tụ họp bốn phương manh lệ”.Manh Lệ là ai? là nô tì ở các điền trang, là quần chúng lao khổ nhất. Không tụ họp được bốn phương manh lệ thì không thể đánh đuổi quân Minh. Ở thời khác, ở nơi khác, các ông chủ nhất là đặng chim bẻ ná, đặng cá quên cơm. Còn ở Việt Nam thời Lam Sơn, khởi nghĩa toàn thắng, khi non sông sạch bóng quân thù rồi thì Đại cáo bình Ngô hãy còn trân trọng ghi công cho quần chúng vô danh, chứ không phải chỉ ghi công cho trời thần, danh tướng. Đại cáo bình Ngô sở dĩ đã đem được cho chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam một tính chất nhân dân vốn đậm nét của toàn cuộc kháng Minh. Người dân lao khổ đi đánh giặc suốt mười năm, tự nhiên mang trên đầu giáo, mũi gươm những nguyện vọng của giai tầng mình. Và những người lãnh đạo kháng chiến đã từng “hòa rượu với nước” cùng uống với nhân dân, cũng tự nguyện không thể làm ngơ với nguyện vọng ấy.
    4. Thần vũ không giết, ta thể lòng hiếu sinh.Tư tưởng yêu nước Việt Nam cốt giành độc lập tự do, không cốt trả hận rửa thù bằng cách giết địch nhiều nhất. Ta hiếu sinh, không hiếu sát. Cho nên khi đánh thì quyết chiến, quyết thắng, không sợ tốn xương máu, “Nổi gió to quét sạch lá khô”, nhưng khi “quân giặc các  thành khốn đốn, cởi giáp ra ra hàng; tướng quân giặc cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng” thì “thần vũ chẳng  giết hại, thề lòng trồi ta mở đường hiếu sinh”, “Ta lấy toàn quân làm hơn để nhân dân nghỉ sức”. Bình Định Vương lại còn cấp cho Mã Kỳ 500 chiếc thuyền, cấp cho Vương Thông vài nghìn cỗ ngựa để họ về nước, họ về nước rồi mà còn “Ngực đập, chân run”. Quyết chiến là được độc lập và để có hòa bình; Độc lập, hòa bình mới là mục đích của Việt Nam.

    “Càn khôn hết bỉ lại thái,

    Nhật nguyệt hết mờ lại tỏ,

    Mở thái bình muôn thủa

    Rửa sạch mối sỉ nhục ngàn thu”

    Chủ nghĩa yêu nước Việt Nam không phải là chủ nghĩa quốc gia hẹp hòi càng không phải là chủ nghĩa chủng tộc.

    1. Cho thôn cùng xóm vắng không còn một tiếng hờn giận oán sầu. Thời gian trôi qua, bốn biển thái bình rồi thì những nhà cầm quyền lần lần xa dân, sa vào lối sống hưởng lạc, triều đình lo việc xây dựng cung điện, định lễ nhạc, người Trãi được lệnh chỉ đạo việc định lễ nhạc đó. Dịp này, Người Trãi đệ trình một lời tâu, lời tâu này đời sau xem như một biểu hiện nguyên lý của chủ nghĩa yêu nước thực tế đó là lời cảnh cáo của vua.

    “Đời loạn thì dùng võ, thời bình thì dùng văn” ngày nay định ra lễ nhạc là đúng lúc. Song, không có gốc thì không thể đứng vững, không có văn thì không thể lưu hành. Hòa bình là gốc của nhạc, thanh âm là văn của nhạc. Thần phụng chiểu định ra âm nhạc, không dâm không gắng hết tâm lực; song học vấn sơ sài,nông cạn, sợ trong âm thanh luật khó làm được hài hòa. Dám mong bệ hạ rủ lòng yêu thương và chăn nuôi muôn dân, Khiến trong thôn cùng xóm vắng không một tiếng hờn giận oán sầu, đó tức là cái gốc của nhạc vậy”. Hẳn việc làm cho “Thôn cùng xóm vắng bặt tiếng hờn giận, oán sấu” không chỉ cái gốc của nhạc, mà cũng là cái gốc cho mọi chính sách của nhà nước độc lập để bảo vệ nền độc lập.

    Chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam đến Lam Sơn khởi nghĩa toàn thắng đã mang tính chất nhân dân khá sâu sắc, nhưng chưa có ai, kể cả Nguyễn Trãi đi đến khái niệm “dân giàu nước mạnh”. Phải đợi đến 300 năm nữa khái niệm ấy mới đến tâm trí của người yêu nước. Còn bây giờ đây chủ nghĩa yêu nước của Nguyễn Trãi mới yêu cầu “vua Nghiệu Thuấn dường ấy ta đà phỉ sở Nguyên” và trong lúc các quan đều nói “ăn lộc mang ơn vua” thì Nguyễn Trãi viết “ăn lộc mang ơn kẻ cấy cày”. Nhà nho, dù là nho kháng chiến không ngó thẳng tới trước, chỉ ngó ngoái ra sau. Tuy vậy, các đại văn hào của trường phái yêu nước thân dân do Nguyễn Trãi đứng đầu đã dám nói lên những ước mơ không tưởng mà táo bạo, Nguyễn Mộng Tuần, Lý Tử Tấn, Nguyễn Trực đồng ca ngợi, mong chờ một xã hội “duy tân”.

    Dân ở trong cày yên ổn vui tươi

    Vật sinh nơi đó, dong chơi hớn hở

    Cày ruộng, đào giếng, mặc ấm, ăn no

    Già nua lụm cụm mà không thui, không lụi

    Ngày làm đêm nghỉ không biết  nhọc nhằn..

    Một Lý tưởng xã hội mọc lên với cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc thắng lợi.

    ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN HUỆ – NGƯỜI “ANH HÙNG ÁO VẢI CỜ ĐÀO” CHO HỆ THỐNG TƯ TƯỞNG YÊU NƯỚC VIỆT NAM

    Nguyễn Huệ không để lại một bài viết nào, một di chúc nào. Ông chết đột ngột. Nhưng thành tích của người anh hùng “áo vải cờ đào” này là cả một pho sách. Phần đóng góp của Nguyễn Huệ  vào chủ nghĩa yêu nước Việt Nam có hai trọng điểm, hai nguyên lý lớn là :

    1. Thứ nhất là luôn sẵn sáng chiến đấu. Lịch sử chép rằng khi Nguyễn Ánh rước hai vạn quân Xiêm với 300 chiến thuyền của họ thình lình đổ bộ lên Hà Tiên, nhằm Gia Định mà tiến, thì tướng Tây Sơn ở Nam liệu sức không cản nổi, liền phi báo cho Nguyễn Huệ ở Quy Nhơn. Đường Hà Tiên –  Gia Định bằng một phần ba đường Quy Nhơn – Gia Định. Vậy mà khi hai vạn quân Xiêm và tàn quân Nguyễn Ánh mới mò lên tới Tiền Giang, thì bị quân Nguyễn Huệ tiêu diệt ở Rạch Gầm gần toàn bộ trong nửa buổi sáng.

    Lấy cớ đưa vua Lê Chiêu Thống về , 250.000 quân Thanh vào Lang Sơn nhằm  Thăng Long mà tiến; Tướng Tây Sơn ở Bắc liệu sức không cản nổi, liền phi báo cho Nguyễn Huệ ở Phú Xuân. Đường Phú Xuân – Thăng Long hơn năm lần xa hơn đường Lạng Sơn – Thăng Long. Vậy khi mà đại quân Thanh vừa hạ trại bên bờ Sông Hồng đang lo vui tết, thì đại quân Nguyễn Huệ đã tới núi Tam Điệp, thong thả ăn tết sớm, rồi trong trận đánh liên tục kéo dài trong năm ngày đêm, toàn bộ 250.000 quân Thanh bị đánh tan tành, chủ tướng Tôn Sĩ Nghị chạy bỏ cả ấn tín !

    Có mấy ai, có đời nào sẵn sàng chiến đấu hơn? quyết chiền thắng hơn? cắt nghĩa chiến thắng bằng thiên tài quân sự của Nguyễn Huệ là đúng mà không đủ. Còn phải tìm nguyên nhân sâu xa hơn nữa với chủ nghĩa yêu nước truyền thống Việt Nam được phát huy cao độ bởi cuộc khởi nghĩa Lam Sơn ít nhiều tính chất chống  vua chúa áp bức.

    1. Phần đóng góp của Nguyễn Huệ vào hệ thống tư tưởng yêu nước Việt Nam là ý thức và sự nghiệp thống nhất nước nhà. Vấn đề lớn này ở triều Đinh được đặt ra lần thứ nhất và Đinh Bộ Lĩnh đã giải quyết bằng cách đánh dẹp Thập Nhị sứ quân. Đến thời Lý Trần và Lê sơ không có vấn đề này. Nước Việt Nam khi ấy là Đại Việt vốn là một nước thống nhất.Nhưng từ 1527, Đại việt bị phân liệt, tình trạng phân liệt kéo dài đến gần cuối thế kỷ XVIII, hơn 200 năm. Bắt đầu là phân liệt Bắc Nam triều giữa Lê và Mạc, kế đó là Trịnh – Nguyễn phân tranh. Phân liệt phân, tranh thì yếu. Yếu thì dễ xâm lược. Trong vài trăm năm, Trịnh – Nguyễn đánh nhau tới bảy lần. Mạc, Trịnh, Nguyễn không ai có tư tưởng thống nhất nước, tất cả họ chỉ có ý đồ xâm chiếm lẫn nhau. Cứ như thế thì cái họa bị xâm lăng ắt khó tránh. Nội chiến chỉ chấm dứt khi khởi nghĩa Tây Sơn thắng lợi, lần lượt đánh đổ cả hai chúa Nguyễn, chúa Trịnh, đánh đổ luôn vua Lê;  Trong Nam thì đuổi quân Xiêm, ngoài Bắc thì đánh đuổi quân Thanh; lãnh tụ Tây Sơn đường đường chánh chánh lên ngôi Hoàng Đế, vua Càn Long nhà Thanh dù mới đại bại (hay là vì đại bại) mà phải công nhận Quang Trung là vua nước Việt Nam. Thời gian thống nhất Việt Nam dưới cờ Quang Trung, tiếc thay quá ngắn! Quang Trung băng hà quá sớm, đột ngột, người nối nghiệp bất tài. Đại nghĩa tự nó không đủ  tạo ra đại nghiệp, còn phải có người đại tài. Quang Trung chết sớm, chết tức là một sự kiện ngẫu nhiên. Sau đó  thiếu gì những ngẫu nhiên khác. Các ngẫu nhiên kết lại, nối ra thành cái tất yếu. Đất đã được dọn thì sự thống nhất không thể không đến “nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một, sông có thể cạn, núi có thể mòn nhưng chân lý ấy không bao giờ thay đổi”. Trong việc lập lại sự thống nhất sau thời gian phân biệt lâu dài thời Lê mạt thì người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ là vĩ nhân đã khởi xướng và bắt đầu thực hiện sự nghiệp ấy.
    2. Vậy là từ khi Ngô Quyền tiêu diệt quân Nam Hán đến khi Nguyễn Huệ đánh bại quân Mãn Thanh trong hơn tám thể kỷ, Việt Nam đã đại thắng tám lần. Một nước “nhỏ bằng ngón tay”, “nhỏ như cái đấu” đã liên tiếp đuổi được quân cướp nước. Còn ai có thể nói đó là “cơ may” nữa? Nhưng trừ ra lần diệt quân Nam Hán, tất cả các lần đánh bại Tống, Nguyên, Minh, Thanh xong rồi, Việt Nam đều chiếu theo nguyên lý của chủ nghĩa yêu nước truyền thống là chiến thắng để có hòa bình lâu dài, biết rằng một nước nhỏ ở cạnh một đế quốc phong kiến khổng lồ, nên Việt Nam lần nào cũng phải nhún nhường để cho nước lớn chấm dứt binh đao, lợi cho hai bên mà cũng lợi cho họ, lợi cho tất cả các dân tộc gần xa.

    ________________■

    (1). Tham luận tại Hội thảo quốc tế về Việt Nam học lần thứ nhất, tổ chức tại Hà Nội từ ngày 15 đến ngày 17-7-1996

    Đề bài: Nhận xét giai đoạn văn học từ thế kỉ X đến thế kỉ XV có ý kiến cho rằng: Các nhà văn, nhà thơ tiêu biểu của văn học giai đoạn này, bất luận là nhà nho hay nhà sư, hầu hết là những người có tham gia cuộc chiến đấu chống ngoại xâm, và tác phẩm tiêu biểu của họ cũng là những tác phẩm viết về cuộc đấu tranh chống ngoại xâm… Bằng sự hiểu biết của em về thơ văn giai đoạn này, hãy chứng minh ý kiến trên.

    Với tư cách là những người trực tiếp nơi đầu sống ngọn gió để bảo vệ chủ quyền dân tộc, chống ngoại xâm phương Bắc, những nhà văn nhà thơ của giai đoạn văn học từ thế X đến thế kỉ XV đã lấy đề tài chống ngoại xâm như một đề tài chủ yếu trong những tác phẩm của họ. Cảm hứng thời đại của hào khí Đông A, của một thời Lam Sơn khởi nghĩa là chất men say, nguồn hiện thực giúp họ sáng tạo nên những tác phẩm bất hủ cửa mọi thời đại. Rõ ràng nói đến giai đoạn văn học thời kì này, không thể không nhắc đến bài thơ thần của Lí Thường Kiệt, Hịch tướng sĩ văn của Trần Quốc Tuấn, Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi…, thơ Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải, Trương Hán Siêu, Động Dung… tất cả đã tái dựng không khí anh hùng của một thời đại anh hùng, những anh hùng bất khuất chống ngoại xâm, bảo vệ đất nước.

    Mở đầu cho cảm hứng này là bài thơ thần của danh tướng Lí Thường Kiệt. Đây là bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên, khẳng định sức mạnh của đất nước Đại Việt, ở đây, với sức mạnh của quân và dân nhà Lí, chiến thắng trên sông Như Nguyệt là một nguồn thi hứng mãnh liệt làm tiền đề cho bản tuyên ngôn đầu tiên.

    Nam quốc sơn hà Nam đế cư

    Tiệt nhiên định phận tại thiên thư.

    Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm

    Nhữ đáng hành khan thu bại hư.

    Có hiểu được nỗi khổ nhục của một ngàn năm Bắc thuộc mới hiểu hết được sự sảng khoái, niềm tự hào của bài thơ:

    Núi sông Nam Việt, vua Nam ở

    Vằng vặc sách trời chia xứ sở.

    Giặc dữ cớ sao phạm đến đây

    Chúng mày nhất định phải tan vỡ

    (Lê Thước – Nam Trân dịch)

    Hùng khí của bài thơ vút lên tận trời, nó không chỉ làm hoảng kinh kẻ thù mà còn là một niềm động viên, cố vũ tinh thần chiến đấu của tướng sĩ.

    Ở Hịch tướng sĩ, sức mạnh càng được nhân lên gấp bội phần. Hiện thực lớn lao của ba lần kháng chiến đánh tan Nguyên – Mông đã được tái hiện. Hiện thực đó là bức tranh toàn cảnh toàn cảnh tác động lớn lao đến quân dân nhà Trần. Nó biến thành lòng căm thù quân cướp nước.

    Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối… chỉ căm tức chưa được xả thịt lột da, nuốt gan uống máu quân thù. Dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác ta gói trong da ngựa, ta cũng vui lòng.

    Không có sức mạnh của trận Bạch Đằng sấm vang chớp giật không thể có một âm điệu như thế trong Hịch tướng sĩ. Nên nhớ là mục đích của bài Hịch nhằm khích lệ tinh thần tướng sĩ nhà Trần. Cơ sở của sự khích lệ vẫn là sức mạnh long trời lở đất của những chiến thắng trước. Đó cũng là cơ sở để Trần Quốc Tuấn gọi sứ giả của cường địch phương Bắc là cú diều, dê chó.

    Ngó thấy sứ giặc đi lại nghênh ngang ngoài đường, uốn tấc lưỡi cú diều mà sỉ mắng triều đình, đem tấm thân dê chó mà bắt nạt tể phụ.

    Có hiểu được tương quan lực lượng, binh mã giữa ta với kẻ thù, tầm vóc của quân đội nhà Nguyên với thế giới mới thất hết giá trị của những từ xưng hô đầy khinh miệt, mang tính chiến đấu cao của Hịch tướng sĩ.

    Sức mạnh của lời động viên, khích lệ kia đã thành hiện thực. Quân đội nhà Trần đánh tan quân Nguyên lần thứ ba. Tràn ngập trong văn thơ giai đoạn này là cảm hứng tự hào về sức mạnh của một thời đại anh hùng chống ngoại xâm.

    Mở đầu cho bản đại hùng ca này là: Bạch Đằng Giang phú của Trương Hán Siêu. Có thể nối rằng đó là một bản tổng kết vĩ đại về sức mạnh chiến thắng của quân dân ta vớí kẻ thừ xâm lược.

    Đây là chiến địa buổi Trùng Hưng nhị thánh bắt Ô Mã

    Cũng là bãi đất xưa Ngô chúa phá Hoằng Thao

    Đương khi ấy:

    Thuyền bè muôn đời

    Tinh kì phấp phới

    Tì hô ba quân

    Giáo gươm sáng chói.

    Lời phú sảng khoái mà tha thiết, rực lửa chiến thắng mà vẫn chứa chan nhản nghĩa. Đó cũng là sức mạnh chiến thắng, lí tưởng sáng ngời của một đất nước luôn luôn bất khuất chống ngoại xâm.

    Trong âm diệu đó, những danh tướng đời Trần như Phạm Ngũ Lão, Trần Quang Khải vừa rời tay gươm, đã không ngăn cảm xúc, cầm bút hoà chung vào bản hợp xướng vĩ đại của đất nước. Trong Tụng giá hoàn kinh sư, Trần Quang Khải viết:

    Đoạt sáo Chương Dương độ

    Cầm hồ Hàm Tư quan

    Thái bình tu trí lực

    Vạn cô thứ giang sơn.

    Hay như Phạm Ngũ Lão, từ những chiến thắng, từ hình ảnh những người anh hùng thời dại, ông đã khắc tạc trong thơ tượng đài kì vĩ của người nam nhi mang lí tưởng chống giặc ngoại xâm:

    Hoành sóc giang san cáp kỉ thu 

    Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu.

    Nam nhi vị liễu công danh trái 

    Tu thỉnh nhân gan thuyết Vũ Hầu.

    Tự hào và vĩ đại biết bao hình ảnh:

    Múa giáo non sông trai mấy thu 

    Ba quân khí mạnh át sao Ngưu.

    Có thể nói rằng đó là hình ảnh chung của con người Việt Nam trên con đường gian khổ để giữ gìn giang san gấm vóc. Hình ảnh này tiêu biểu cho vẻ đẹp thời đại. Nó có giá trị khởi đầu để sau đó xuất hiện những hình ảnh kế tục mà nổi bật hơn cả là hình ảnh chiến đấu và chiến thắng của dân tộc trong Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi.

    Mười năm trường kì gian khổ, nếm mật nằm gai, mười năm ngẫm thù lớn há đội trời chung đã hun đúc nên sức mạnh long trởỉ lở đất của nghĩa quân Lam Sơn trước quân cuồng Minh. Nếu Nam quốc sơn hà là bản tuyên ngôn độc lập thì bài Cáo bình Ngô là bản tổng kết mười năm anh dũng, gian khổ chống giặc, mở ra một kỉ nguyên mới cho tương lai đất nước. Hiện thực đã thổi vào thơ văn những luồng gió làm bùng sáng ngọn lửa tiêu diệt kẻ thù:

    Đánh một trận sạch không kình ngạc,

    Đánh hai trận tan tác chim muông.

    Để rồi:

    Tướng giặc bị cầm tù, như hổ đói vẫy đuôi xin cứu mạng,

    Thần vũ chăng giết hại, thế lòng trời ta mở đường hiếu sinh.

    Quả là trong Đại cáo bình Ngô niềm tự hào và tinh thần dân tộc đã lên đên đỉnh cao. Cùng với những áng thơ văn chiến đấu đời Lí, Trần, tác phẩm là một tập đại thành cho phép chúng ta nghĩ rằng âm điệu chiến đấu và chiến thắng là âm điệu chủ yếu của giai đoạn văn học thời kì từ thế kỉ X đến thế kỉ XV. Đây là một thời đại mà mọi tác phẩm, trước hiện thực lớn lao của đất nước, đã hoà chung một điệu, tạo nên một khúc anh hùng ca chiến đấu và chiến thắng của một thời đại anh hùng.

    ĐẶNG PHƯỚC THẢO VI 

    PTTH Chuyên Lê Hồng Phong, TP. Hồ Chí Minh.

    Read more: http://taplamvan.edu.vn/tac-pham-tieu-bieu-cua-nha-van-nha-tho-tu-the-ki-x-den-xv-deu-la-nhung-tac-pham-viet-ve-cuoc-dau-tranh-chong-ngoai-xam/#ixzz4MStKgFZz

    ———————————————————————————————————————

    – VIỆC GIẢNG DẠY TRUYỆN CỔ TÍCH CHO HỌC SINH TIỂU HỌC CÓ NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN NHƯ THẾ NÀO? TÌM HIỂU KINH NGHIỆM GIẢNG DẠY TRUYỆN CỔ TÍCH CỦA MỘT GIÁO VIÊN TIỂU HỌC.

    TẠI SAO TRUYỆN CỔ TÍCH LẠI RẤT HẤP DẪN THẾ GIỚI TUỔI THƠ?

    Xem file pdf

    A/ PHẦN MỞ ĐẦU

    I/ LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI

    Nói đến văn học dân gian cùng với những giá trị vĩnh hằng của nó không thể không nhắc đến truyện cổ tích. Đây là một thể loại tự sự dân gian, sử dụng phương thức hư cấu để lưu giữ những yếu tố thần kì và kiến tạo nên một thế giới lung linh, huyền ảo sắc màu, âm vang bao niềm thương cảm.

    Học sinh Tiểu học được chúng ta âu yếm gọi bằng một cái tên khác đầy ý nghĩa: “lứa tuổi cổ tích”. Ở lứa tuổi này, các em nhìn đời bằng đôi mắt trong veo và tin cậy, “suy nghĩ bằng hình ảnh”, sống với thế giới của cái Đẹp, của viễn tưởng và sáng tạo. Trẻ cũng rất ưa thích sự phiêu lưu để khám phá và ngạc nhiên trước những bí mật của cuộc sống…Tất cả những điều đó đã đưa các em đến gần với cổ tích, thả mình bay bổng cùng với các nhân vật của truyện để cho trí tưởng tượng trẻ thơ có cơ hội du ngoạn đến những xứ sở lạ kì. Quả thực rất khó tìm thấy một thế giới tràn đầy cái Đẹp, lung linh những biểu tượng đượm màu sắc thần thoại như trong truyện cổ tích. Đến với cổ tích chính là cơ hội cho trẻ nuôi dưỡng, phát triển cảm xúc thẩm mĩ và phát huy trí tưởng tượng, đồng thời giúp chúng tìm tòi lẽ sống, làm phong phú tình cảm, đem đến cho ta niềm vui, giúp con người sống tốt hơn, nhân ái hơn . Như thế chính là trẻ đã được phát triển về mặt tâm hồn-một trong hai mục đích chính của giáo dục trẻ ở bậc Tiểu học.

    Đây cũng là lứa tuổi đang trong quá trình hình thành và phát triển nhân cách, cần được thụ hưởng những giá trị văn học, xây dựng những hình tượng đẹp, tốt, tích cực (vì trẻ em hay có sự bắt chước). Do vậy mà không phải ngẫu nhiên trong chương trình Tiếng Việt tiểu học, các nhà làm sách giáo khoa đã ưu tiên khai thác tương đối sâu thể loại truyện cổ tích. một thể loại gắn bó mật thiết với các em, là “món ăn tình thần” bổ ích cho các em. Truyện cổ tích vang lên trong giờ tập đọc, giờ kể chuyện thổi vào tâm hồn trẻ thơ những cảm xúc, ước mơ, trí tưởng tượng và niềm vui thích.

    Quan trọng, ý nghĩa là vậy nhưng thực tế hiện nay cùng với sự phát triển của rất nhiều loại hình văn hoá hiện đại thì niềm đam mê của các em đối với truyện cổ tích không còn mạnh mẽ như trước nữa. Các em có xu hướng thiên về các loại truyện tranh với nhiều hình ảnh sinh động nhưng trên thực tế một số tác phẩm mang tính thực dụng, thị trường nên giá trị văn học không cao, chưa đáp ứng nhu cầu phát triển trí tuệ của trẻ. Vậy nên trước tình hình đó, người thầy phải làm gì để khơi dậy hứng thú đọc truyện cổ tích trong các em? Mong muốn góp phần giải quyết thực tế đó tôi quyết định chọn đề tài: “Phát triển hứng thú đọc truyện cổ tích cho học sinh Tiểu học”

    II/ NHIỆM VỤ ĐỀ TÀI: Vì thời gian và trình độ của bản thân có hạn nên đề tài sáng kiến kinh nghiệm chỉ hướng tới hai nhiệm vụ trọng tâm :

    1/ Phân tích, khẳng định vai trò của truyện cổ tích đối với trẻ.

    2/ Khảo sát thực trạng và từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển hứng thú đọc truyện cổ tích cho học sinh Tiểu học.

    III/ GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU

    Đề tài được thực hiện khảo sát trên đối tượng học sinh lớp 1,2,3 trường Tiểu học Lê Văn Tám xã Pơng Đrang huyện Krông Búk tỉnh Đăk Lăk. Đây là một trường đóng trên địa bàn tương đối phức tạp về dân cư, tuy 98% là học sinh người Kinh nhưng trình độ dân trí thuộc khu vực này tương đối thấp, đa số là nông dân nên điều kiện chăm lo đến việc học tập của con em còn hạn chế nên trên thực tế việc được tiếp cận với truyện cổ tích đối với các em chủ yếu là ở trường.

            IV/ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    Để thực hiện có kết quả đề tài này chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:

    – Phương pháp điều tra giúp khảo sát thực trạng hứng thú đọc truyện cổ tích trong học sinh Tiểu học hiện nay.

    – Phương pháp thống kê giúp tổng hợp số liệu.

    – Phương pháp mô tả phân tích giúp làm rõ các nộ dung của đề tài.

    – Phương pháp so sánh giúp làm rõ vị trí, nét đặc sắc của các tác phẩm truyện cổ tích.

    – Phương pháp tổng hợp giúp bao quát, đánh giá tổng thể vấn đề nghiên cứu.

    B /NỘI DUNG CHÍNH

    I/ VAI TRÒ CỦA TRUYỆN CỔ TÍCH ĐỐI VỚI TRẺ EM

    1/ Khái niệm truyện cổ tích:

    Truyện cổ tích là một thể loại tự sự dân gian tiêu biểu, có vị trí đặc biệt quan trọng trong mỗi nền văn học. Nó xuất hiện trong xã hội có đấu tranh giai cấp, hướng tới phản ánh hiện thực cuộc sống đó. Khác với nhiều thể loại, truyện cổ tích tiếp cận hiện thực đấu tranh giai cấp đó từ góc độ đạo đức. Cho nên, cảm hứng trung tâm của truyện cổ tích chính là vấn đề Thiện – Ác trong cuộc đời.

    2/ Vai trò của truyện cổ tích đối với trẻ em:

    Đầu tiên tôi xin mượn lời của của nhà giáo dục học lỗi lạc người Nga V.A Xu Khom lin Xki để nói đến vai trò của truyện cổ tích đối với sự phát triển nhân cách của trẻ em: “Truyện cổ tích là môi trường nuôi dưỡng tâm hồn trẻ, là ngọn gió tươi mát thổi bùng lên ngọn lửa tư duy và ngôn ngữ của trẻ”. Vậy vì sao truyện cổ tích có vai trò quan trọng như vậy?

    2.1.Sự phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi thiếu nhi:

    Có lẽ đối với trẻ thơ, không có món quà nào hấp dẫn bằng truyện cổ tích. Từ em bé nhút nhát yếu đuối nhất đến những em được coi là ngỗ nghịch, bướng bỉnh nhất truyện cổ tích đều làm cho chúng say mê. Đối với trẻ đến với truyện cổ tích là đến với ngững giấc mơ thần tiên một cách tự nhiên nhẹ nhàng và đầy thích thú. Trên thực tế nếu tiết dạy kể chuyện được giáo viên quan tâm đúng mức ta sẽ thấy được những khuông mặt hồ hởi, say mê của các em khi đến giờ kể chuyện mà đặc biệt là kể truyện cổ tích. Các em sống cùng với diến biến của câu chuyện như thể mình là một nhân vật trong câu chuyện đó: lo lắng, căng thẳng, hồi hộp vui sướng, hả hê… dường như mọi cung bậc tình cảm được các em thể hiện không dấu diếm khi nghe truyện cổ tích. Các em được sống đúng với tuổi thơ của mình trong thế giới của truyện cổ tích. Mỗi khi đến với truyện cổ tích các em như lạc vào một thế giới khác thế giới mà trong đó có những có những con thú biết nói, những nàng công chúa xinh đẹp, những chàng hoàng tử thông minh, dũng cảm, những bà tiên ông bụt giàu phép biến hoá, tốt bụng và luôn luôn giúp đỡ mọi người khi gặp khó khăn hoạn nạn, những mụ phù thuỷ độc ác cuối cùng sẽ bị trừng trị… các em tự do hoà mình vào nhân vật, vui buồn cùng nhân vật trong chuyện và tự nhận mình là hoàng tử, công chúa…

    Như vậy rõ ràng truyện cổ tích có những yếu tố đáp ứng được nhiều nhu cầu tinh thần của trẻ và là món ăn không thể thiếu được của trẻ.

    Nhân vật chính diện trong truyện cổ tích đều trung thực, biết yêu thương và vị tha vô hạn. Đó là một thứ tình thương dành cho những người đồng cảnh ngộ. Ta có thể hiểu vì sao cô Tấm chỉ đến ở với bà lão trong hàng nước cô đơn, vì sao Sọ Dừa lại đầu thai vào một nhà nghèo khổ, cô gái nhỏ giấu cơm đưa cho ông lão qua đường mà được ban thưởng sắc đẹp, chàng nông dân cứu giúp con chó, con mèo mà được giúp đỡ trở nên giàu có, người nông dân là có thực nhưng anh ta có thể phục sinh người chết bằng cách cho ăn lá cây đa thần là yếu tố kì ảo…Chính những yếu tố đó làm cho truyện cổ tích có sức hấp dẫn kì lạ đối với trẻ thơ.

    Như vậy, có thể nói nghe kể chuyện là một nhu cầu thực sự của trẻ em. Dường như trong mỗi em bé có cái mà ta có thể gọi đó là nhu cầu “bản năng” về sự huyền diệu và kì lạ. Mà điều này truyện cổ tích có thể thỏa mãn cái nhu cầu rất tự nhiên và cũng rất khẩn thiết đó của trẻ thơ bởi những yếu tố kì ảo, thần diệu của nó

    2.2.Tính giáo dục:

    Lứa tuổi thiếu nhi là một giai đoạn phát triển phức tạp và có vị trí đặc biệt quan trọng trong đời sống con người. Cùng với sự hoàn thiện dần về thể chất, lứa tuổi thiếu nhi có những đặc điểm tâm sinh lý riêng biệt, tư duy hình tượng cụ thể chiếm ưu thế, giàu cảm xúc, thích tìm tòi khám phá ham hiểu biết. Nhân cách của các em đang trong giai đoạn phát triển và chịu sự chi phối tác động của nhiều yếu tố, các em dễ bắt chước. Việc in những dấu hằn đầu tiên về cái đẹp vào tâm trí các em có ý nghĩa quyết định đến việc hình thành những cảm xúc và quan niệm thẩm mỹ, lòng nhân ái của các em sau này. Chính lẽ đó mà truyện cổ tích đã trở thành một phương tiện giáo dục rất hiệu nghiệm đối với trẻ thơ. Mỗi câu chuyện là một bài học sống động về những phẩm chất đạo đức, về cách xử trí tinh khôn cần có để giúp trẻ biết sống đẹp với đời, biết ứng xử tốt với những người xung quanh và nhiều khi còn giúp trẻ cảm nhận một cách nhạy bén đối với cái thiêng liêng nhất, cao đẹp nhất trong tình cảm con người như: người mẹ vì thương nhớ con mà ốm đến chết. Vậy mà khi chết đi rồi bà vẫn hoá thành cây vú sữa chắt những giọt sữa tinh khiết nhất của mình cho con “Sự tích cây vú sữa – lớp 1”. Cô bé đã không quản đường xa giá rét đi tìm bông hoa cúc trắng đem về chữa bệnh cho mẹ, khi hái được bông hoa cô gái nghe văng vẳng lời bà cụ nói: “mỗi cánh hoa sẽ là một ngày mẹ cháu được sống” và cô bé đã kêu lên “Trời! Mẹ chỉ còn sống được hai mươi ngày nữa!” cô bé đã xé những cánh hoa ra nhiều sợi để mẹ được sống nhiều hơn. Truyện ca ngợi tình yêu mẹ, lòng hiếu thảo của cô bé trong truyện đã làm cho trời đất cảm thông, giúp cô chữa khỏi bệnh cho mẹ.

    Tóm lại vai trò của truyện cổ tích có tác động mạnh mẽ trong việc bồi dưỡng tâm hồn trẻ thơ, đem đến cho trẻ những ước mơ bay bổng, những xúc cảm thẩm mĩ về một thế giới huyền ảo, kích thích và phát triển trí tưởng tượng của các em, mở cánh cửa sổ cho tâm hồn các em hướng vào những ước mơ đẹp đẽ, kích thích những khát vọng của các em muốn hiểu biết, muốn vươn lên những tầm cao của tư tưởng, tình cảm và trí tuệ sau này.

    II/ TRUYỆN CỔ TÍCH TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC HIỆN NAY.

    Nhận xét :

    Trong chương trình giáo dục bậc Tiểu học thì việc dạy học truyện cổ tích chủ yếu do phân môn Tập đọc và Kể chuyện đảm nhiệm. Cùng với sự thay đổi chương trình sách giáo khoa theo quan điểm tích hợp với nguyên tắc đồng tâm thì Tập đọc và Kể chuyện đã gắn kết chặt chẽ với nhau. Các văn bản sử dụng trong tiết Kể chuyện là những văn bản đã được luyện đọc và tìm hiểu khá kĩ ở tiết Tập đọc. Chính từ những thuận lợi này mà đòi hỏi giáo viên phải điều chỉnh phương pháp dạy học cổ tích cho phù hợp với từng phân môn, tránh sự trùng lặp về nội dung giảng dạy. Làm được điều đó là cả một nghệ thuật của nhà sư phạm.

    1. Kết quả thống kê cho thấy: Số lượng tác phẩm truyện cổ tích được sử dụng nhiều cả trong sách Tiếng Việt lẫn Truyện đọc lớp 1,2,3. Gần hai mươi truyện trong năm năm học của cấp học này- đó quả là con số biết nói. Mặt khác, các nhà soạn sách cũng đã quan tâm đáng kể đến mảng truyện cổ tích nước ngoài. Như đã phân tích, truyện cổ tích vốn thích hợp với lứa tuổi nhi đồng. Cho nên, sự hiện diện với một mật độ dày như vậy là điều dễ hiểu.

    Tuy nhiên, để cho truyện cổ tích hoàn toàn vắng bóng ở chương trình  lớp 5, xét thấy đó là điều chưa hợp lí. Bởi thực ra cho đến lúc này và cả ở những bậc học cao hơn nữa thì học sinh chưa thể thoát khỏi ước muốn được khơi nguồn cảm xúc, trí tuệ, trí tưởng tượng từ những câu chuyện cổ thần kì

    1. Về nội dung: Hệ thống tác phẩm truyện cổ tích trong chương trình Tiểu học với những chủ đề, đề tài đa dạng, nội dung phong phú với những nhân vật, những màu sắc, dáng vẻ bút pháp khác nhau của chúng nhìn chung đều hướng về và xoay quanh đạo đức cho các em: lòng yêu thiên nhiên, yêu quê hương đất nước, yêu thương con người, tình cảm mẹ con, anh em bạn bè, ý thức tập thể, học tập lao động và rèn luyện các đức tính thật thà, dũng cảm, yêu điều thiện, ghét điều ác. Mười tám câu chuyện cổ là mười tám góc nhìn cuộc đời với những thanh âm trong trẻo về phẩm chất và tình người. Với những rung động chân thành từ chính trái tim, trẻ đã hình thành những biểu tượng đầu tiên về chính nghĩa lẫn mặt trái của nhân cách…Bên cạnh những bài học đạo đức là những khả năng tưởng tượng của các em “ảo giác êm đẹp” đầy quyến rũ từ những trang cổ tích.

    Tuy nhiên ở khối lớp 1,2,3 do đặc điểm tâm sinh lí lứa tuổi, tư duy còn thấp, chủ yếu dựa vào môi trường xung quanh nên người ta thường đưa vào chương trình những câu chuyện cổ tích có nội dung tương đối đơn giản, dễ hiểu và gắn liền với chủ đề chủ điểm của bài học.

    1. Nghệ thuật: Nghệ thuật nhân hóa – so sánh – hư cấu là thủ pháp sáng tạo trong hệ thống truyện cổ tích và đồng thoại, làm cho nó vừa giàu màu sắc cảm xúc vừa giàu tính ước mơ nên được các em tiếp nhận dễ dàng tự nhiên đi vào cuộc sống của bản thân tạo nên một sức mạnh nội tâm độc đáo vốn đuợc tình yêu và trí tưởng tượng cộng hưởng mà thành. Nghệ thuật quan sát và miêu tả trong cổ tích đã làm nên sự giàu có và nhận thức trong tâm hồn của trẻ thơ. Lời văn giản dị, mộc mạc, trong sáng, giàu hình tượng, giàu cảm xúc,kết cấu câu chuyện mạch lạc dễ hiểu, dễ nhớ, phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý và nhận thức của học sinh Tiểu học.

    C . KHÁO SÁT THỰC TẾ

    –  Khảo sát đối với học sinh lớp 1,2 3 trường TH Lê Văn Tám các nội dung sau:

    1/ Hình thức khảo sát:

    1. Phiếu khảo sát:

    Phiếu khảo sát: ( mẫu 1)

    Họ và tên

    Lớp

    Em có thích truyện cổ tích không?

    Rất thích

    thích

    Không thích

    Khảo sát: ( mẫu 2)

    Họ và tên

    Lớp

    Em thích truyện cổ tích Việt Nam hay nước ngoài?
    Việt Nam Nước ngoài

    Kết quả thu được như sau:

    1. Phiếu khảo sát: ( mẫu 1)
    Lớp 1 Lớp 2 Lớp3
    TS :54em TS :62em TS :67em
    Rất thích Thích Không thích Rất thích thích Không thích Rất thích Thích Không thích
    41 12 1 47 14 1 41 23 3

    Nhận xét:

    • Từ kết quả trên cho thấy đa số các em rất yêu thích đọc, học truyện cổ tích. Khi được hỏi vì sao em thích, đa số các em cho rằng vì truyện cổ tích rất hấp dẫn có các nhân vật có thể biến hoá được, những người hiền lành luôn luôn được giúp đỡ còn những ai độc ác đều bị trừng trị.các nhân vật chính trong truyện cổ tích thường rất đẹp, hiền lành, thông minh, nhân hậu…
    • Một số em không thích truyện cổ tích thì cho rằng em thích đọc truyện tranh như Conan, Đường dẫn đến khung thành, Đô rê mon ….hơn vì những truyện này ít chữ đọc nhanh, không mỏi mắt. Khi được hỏi: “Vì sao em không chọn các sách truyện cổ tích có minh hoạ bằng tranh?”thì các em nói truyện cổ tích không hấp dẫn bằng các truyện em đang đọc. Phải chăng đây là sự dễ dãi trong việc lựa chọn sách cho con em mình của các bậc phụ huynh hay thực sự truyện cổ tích không hấp dẫn như lời một số ít em đã nói.
    Lớp 1 Lớp 2 Lớp3
    TS :54em TS :62em TS :67em
    Việt Nam Nước ngoài Việt Nam Nước ngoài Việt Nam Nước ngoài
    17 37 25 37 32 35

    – Các em thích truyện cổ tích nước ngoài đưa ra lí do chủ yếu là truyện cổ tích nước ngoài li kì , hấp dẫn hơn truyện cổ tích Việt Nam. Khi đọc dễ thu hút  hơn vì có những tình tiết và kết truyện rất bất ngờ. Còn các em thích truyện cổ tích Việt Nam thì cho rằng vì nó ngắn gọn, gần gũi, dễ hiểu

    1. Phỏng vấn trực tiếp

    –  Qua cuộc phỏng vấn nhanh 18 em trong độ tuổi từ 7 đến 11 tại nhà sách trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột ngày 25 tháng 6 vừa qua với nội dung “ Em chọn sách nào để đọc trong dịp hè” kết quả thu được như sau:

    * 9 em chọn truyện cổ tích,

    * 4 em chọn sách khoa học

    * 2 em chọn truyện tranh nhật bản

    * 3 em chọn các loại sách khác

    -Kết quả khảo sát ý kiến độc giả trên VN Express từ ngày 3/6 đến ngày 6/7 /2009 như sau:

    2540/6229 (40,8 %) truyện cổ tích vẫn là sự lựa chọn phổ biến của các bậc phụ huynh dành cho con em mình trong bối cảnh thị trường sách thiếu nhi phong phú như hiện nay.

    Qua kết quả trên, ta nhận thấy rằng tuy truyện cổ tích vẫn là lựa chọn của số đông phụ huynh và học sinh nhưng không phải là lựa chọn duy nhất.

    Tiến hành phỏng vấn học sinh tại Trường Tiểu học Lê Văn Tám những nội dung sau:

    Câu hỏi 1: Em thích đọc loại hình truyện cổ tích nào?( Truyện kênh chữ hay vừa kênh hình vừa kênh chữ.) Vì sao?

    Với câu hỏi này thì các kết quả ở các khối lớp là khác nhau. ở lớp 1 100% các em được hỏi thích truyện cổ tích có minh hoạ, 95,6% ở lớp 2 và 87% ở lớp 3. Kết quả hoàn toàn phù hợp với đặc điểm tâm lí ở trẻ. Ở lứa tuổi Tiểu học nói chung các em tư duy chủ yếu dựa vào trực quan bằng hình ảnh tuy nhiên nếu quá phụ thuộc vào hình ảnh các em sẽ giảm khả năng tưởng tượng.

    Câu hỏi 2 : Em có thích tiết học kể chuyện không ? Vì sao ?

    Đa số các em được hỏi câu này đều có ý kiến giống nhau là rất thích. Một số em không thích vì thường tiết học này diễn ra rất nhanh, có khi không học mà chuyển thời gian đó vào nội dung ôn tập các tiết khác.

    Khi được hỏi vì sao không thích học tiết kể chuyện truyện cổ tích em Hồ Hải Anh học sinh lớp 4 nói rằng “Vì những truyện trong chương trình em đọc hết rồi. đọc đi đọc lại chán lắm, còn những truyện khác ngoài sách thì dài quá, đọc mệt”.

    Câu hỏi 3: Em có nhận xét gì về kết thúc câu chuyện Tấm Cám?( đây là câu hỏi dành cho học sinh lớp 5) có rất nhiều ý kiến khác nhau:

    • em Nguyễn Thị Yến Nhi lớp 5a1 nói: “ Em không muốn cô Tấm làm như vậy vì như vậy em thấy độc ác quá”.
    • Em Nguyễn Hữu Thịnh lại nói: “ Em thấy bình thường vì mẹ con Cám cũng phải bị đền tội cho những tội ác mà mình gây ra”
    • “Giá mà để cho người khác xử tội mẹ con cám thì thích hơn” em Trần Như Quỳnh phát biểu.

    D/ MỘT SỐ GIẢI PHÁP

    Từ thực tế khảo sát trên chúng tôi mạnh dạn đưa ra một số giải pháp sau:

    1/   Bản thân người giáo viên phải phải đánh giá cao vai trò của tiết kể chuyện trong chương trình vì có như thế mới có sự đầu tư đúng mức cho phân môn này. Một nguyên nhân dẫn đến việc các em ít hứng thú nghe truyện cổ tích là một số ít giáo viên chưa sử dụng đúng mục đích của giờ kể chuyện ( căn cứ vào kết quả khảo sát và thực tế giảng dạy ở một số trường) tiết kể chuyện thường được dạy qua loa đại khái hoặc được sử dụng vào mục đích khác như ôn tập một số môn học được cho là quan trọng hơn học giải toán hoặc các em tự học… thực tế qua kháo sát em Bùi Khắc Định cho rằng : “Ở trên lớp cô đọc cho nghe có một lần rồi bảo về nhà tự đọc lại, nhiều chuyện em đọc mà chưa hiểu gì về nội dung cả”

    2/  Trong quá trình giảng dạy giáo viên phải tạo tâm thế tiếp nhận cho cho học sinh tức là phải tạo một không khí lớp học thật phù hợp với nội dung truyện kể. đồng thời phải giúp học sinh tiếp nhận nội dung truyện cũng như sự tác động của truyện một cách tự nhiên tránh hiện tượng gò ép

    3/   Một trong những nguyên nhân đưa đến thành công của tiết kể chuyện đó là giọng đọc giọng kể của giáo viên chính vì vậy giọng đọc giọng kể phải thường xuyên được luyện tập.

    4/  Trong quá trình của tiết học các lệnh của giáo viên đưa ra phải được mềm hoá.

    5/  Sử dụng hợp lí kênh hình:

    Nếu kênh hình được sử dụng một cách hợp lí sẽ là sự hỗ trợ tích cực cho hứng thú học, đọc truyện cổ tích cho học sinh. Đồng thời giúp hạn chế được tình trạng mỏi mắt ở trẻ. Tuy nhiên nếu quá lạm dụng kênh hình thì vô tình chúng ta làm giảm khả năng tưởng tượng của trẻ hay nói cách khác các hình ảnh có trong truyện là khuôn mẫu. Ví dụ hình ảnh cô Tấm xinh đẹp, hiền diệu sẽ mãi mãi là một cô gái mặc áo tứ thân, đội nón quai thao, mặt hoa da phấn trong các bìa minh hoạ truyện Tấm Cám hiện nay và vô hình chung các em đóng khung cô Tấm là cô gái vùng quan họ Bắc Ninh. Mặc khác nếu khi đọc truyện chỉ toàn những hình ảnh rối rắm, chất lượng in kém, câu từ sử dụng đơn điệu, bừa bãi, cộc lốc lâu dần sẽ hình thành ở các em thói quen xấu trong giao tiếp cũng như trong quá trình viết văn.

    Chính vì vậy trong quá trình giảng dạy giáo viên cũng phải linh hoạt sử dụng kênh hình sao cho kênh hình vừa mang tính chất hỗ trợ vừa là chất xúc tác giúp học sinh hứng thú với bài học

    Điều đáng mừng là hiện nay trên thị trường sách cho thiếu nhi đã được quan tâm đúng mức, rất nhiều đầu sách được thiết kế với mẫu mã đẹp, chất lượng giấy tốt, nội dung hay thu hút được nhiều độc giả.

    6/ Đa dạng hoá hoạt động học tập, tổ chức hoạt động ngoại khoá liên quan đến truyện cổ tích như :

    + Tổ chức thi sáng tác những kết bài khác cho truyện cổ tích.

    + Tổ chức thi vẽ tranh cho truyện cổ tích.

    + Thi thể hiện truyện cổ tích bằng cách đóng vai,diễn kịch.

    + Tổ chức thi sáng tác truyện cổ tích hiện đại.

    + Tổ chức cho học sinh xem phim cổ tích….

    Tôi nghĩ rằng qua các cuộc thi như thế ta sẽ thấy được hàng trăm hình ảnh cô Tấm, chàng Thạch Sanh khác nhau. Cũng như rất nhiều kết truyện bất ngờ thú vị mà với người lớn chúng ta khó mà nghĩ ra. Đơn cử trong cuộc thi viết lại kết truyện cho các câu chuyện cổ tích mà em yêu thích được tổ chức tại trường tiểu học Lê Văn Tám- xã Pơng Đrang- huyện Krông Búk trong năm học vừa qua em Nguyễn Mạnh Quân lớp 4a1viết lại kết chuyện cho truyện “Tấm Cám” như sau: “Thấy Tấm trẻ đẹp trắng trẻo, Cám cảm thấy ghen tức. Cám tức giận liền đi thẩm mĩ viện để sửa sắc đẹp sao cho giống y hệt Tấm rồi về nhà với sự sung sướng và tự hào về sắc đẹp của mình. Bà dì ghẻ tưởng Cám là Tấm nên đã hãm hại Cám.Về sau,dì ghẻ biết chính tay mình đã giết chết con gái nên tăng huyết áp chết ngay tại chỗ!”

    Hay em Võ Lê Như Quỳnh viết: “Sau khi biết chuyện, nhà vua bèn hạ lệnh chém đầu hai mẹ con Cám. Nhưng với lòng nhân hậu, Tấm xin vua tha tội hai người. Nhà vua y lời. Mẹ con Cám lạy tạ Tấm rồi rời khỏi hoàng cung. Quá xấu hổ cả hai không trở về làng cũ mà xuống thuyền định sang xứ khác. Nhưng, trời bất dung gian, thuyền trôi đến giữa sông, trời đang yên bỗng dưng nổi gió. Mây kéo đen mịt cả một góc trời, bão táp dâng lên ầm ĩ. Mẹ con Cám hoảng hốt hét vang:

    – Tấp vào bờ ngay đi!

    Nhưng tiếng la vừa dứt, sóng đã vỗ gãy lái thuyền, buồm rách toác, cột gãy làm đôi, thuyền tròng trành quay. Mẹ con Cám ngước mắt lên trời than:

    – Ngày xưa ta đã làm nhiều điều ác, nay trời phạt ta còn mong gì sống sót.

    Một tiếng sét nổ tung, hai mẹ con Cám văng ra khỏi mạn thuyền, sóng biển ào tới dập vào xác họ. Hai mẹ con Cám chới với một lúc rồi chìm nghỉm.”…

    7/ Giáo viên nên mạnh dạn đưa vào giới thiệu cho học sinh những tác phẩm mới vì lứa tuổi Tiểu học là lứa tuổi ưa thích cái mới  mà thực tế những truyện trong sách giáo khoa khi vừa mới mua về các em đã đọc thậm chí nhiều em thuộc cả truyện. Tất nhiên khi đưa vào giảng dạy những tác phẩm mới cần có sự quản lí của cấp trên.

    1. KẾT LUẬN

    – Với vị trí và vai trò của truyện cổ tích như đã nêu trên. cổ tích là thể loại văn học có khả năng thực hiên tốt trên hai phương diện giáo dục và giải trí. Nó phù hợp với đặc điểm tâm sinh lý, phù hợp với sự nhận thức của lứa tuổi thiếu nhi.Vì lứa tuổi thiếu nhi là lứa tuổi mà các em có nhiều ước mơ, nhiều hoài bão mong muốn được khám phá, được tìm tòi, được hiểu biết thế giới xung quanh. Bằng một ngôn ngữ giàu hình tượng, giàu cảm xúc, nhân hóa, hư cấu, bằng giọng văn trong sáng, dễ hiểu truyện cổ tích ngấm sâu vào thế giới cảm xúc của trẻ thơ, nhen lên trong trái tim non trẻ của em những tình cảm trong sáng, nhân hậu, làm cho các em biết tôn trọng, yêu thương, biết điều hay lẽ phải, biết tin yêu vào cuộc đời, khao khát khám phá hiểu biết, đưa những ước mơ bay bổng, bay cao, bay xa…Bằng cách đó, truyện cổ tích đã chuyển quá trình giáo dục thành tự giáo dục.  Chỉ cần mỗi người lớn chúng ta sưu tầm nhiều truyện cổ tích hay và dành cho cho trẻ chút thời gian là ta đã mang lại niềm vui lớn cho trẻ.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    – Văn học dân gian Việt Nam – Lê Nhật Kí – Châu Minh Hùng

    – SGK, SGV Tiếng Việt lớp 1,2,3,4,5

    – Sách truyện đọc lớp 1,2,3,4,5

    – Báo “khoa học và đời sống” số 37(1999)

    – Giáo trình văn học dân gian Việt Nam- Lê Chí Quế ( chủ biên )

    – Truyện cổ tích thần kì với trẻ em – Chu Thị Hà Thanh.

    ———————————————————————————————————————-

    AC HÃY PHÂN TÍCH VÀ CHỨNG MINH Ý KIẾN SAU: “HỌC VHDG LÀ ĐỂ TỰ BỒI DƯỠNG NHÂN CÁCH, ĐẠO ĐỨC, TÌNH CẢM, QUAN NIỆM THẨM MỸ VÀ TRAU DỒI TIẾNG MẸ ĐẺ”

    Văn học là nhân học, là dòng sông chở đầy hương vị của cuộc đời, mà văn hóa là một trong những yếu tố đã kết tinh nên hương sắc ấy, như …… đã từng nói: “Văn hóa đó là hồn thiêng của một dân tộc, của quốc gia là những gì làm nên bản sắc của dân tộc và quốc gia”. Và biện minh cho sự tồn tại của dân tộc đó, sức sống và sự kỳ diệu của văn học dân tộc được ươm mầm trên mảnh đất sâu thẳm của văn hóa VN. Mà sâu hơn là trong chính trái tim người VN. Vì lẽ đó mới có ý kiến cho rằng: “Học VHDG là để tự bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, tình cảm, quan niệm thẩm mỹ và trau dồi tiếng mẹ đẻ”

    VHDG là bộ phận văn học của người dân sáng tác và lưu truyền  bằng hình thức truyền miệng, nhằm thỏa mãn nhu cầu của bình dân. Dưới chế độ phong kiến, người dân chiếm số đông và thuộc giai cấp bình dị nên không có điều kiện học chữ, để đọc văn, học viết. Họ tự sáng tác văn học cho mình và để lại cho nền văn học dân tộc kho tàng VHDG tinh anh đồ sộ với 12 thể loại khác nhau. VHDG không chỉ thỏa mãn nhu cầu giải trí của người bình dân mà còn chứa đựng những bài học quý về đạo lý làm người. Người dân gửi gắm vấn đề này vào các sáng tác văn chương để nhắc nhở nhau bảo ban con cháu sống đôn hậu, hài hòa với cộng đồng, với người dân. Văn học là tinh hoa văn hóa của dân tộc. Ở đó hiện lên vẻ đẹp, nhân cách thanh tao của con người VN. Cho nên VHDG là để học làm người, bồi dưỡng nhân cách, đạo đức, thẩm mỹ. Qua văn học, ta kế thừa được kho tàng tri thức của dân tộc trên tất cả các lĩnh vực tự nhiên xã hội và con người. Nhờ các câu tục ngữ ta có thêm những kinh nghiệm sống, những bài học quý giá về lao động  sản xuất,  về các hiện tượng tự nhiên, về cách ứng xử với cộng đồng trong xã hội và với mọi người xung quanh:

    “Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng”

    “Chớp đằng đông nhay nháy, gà gáy thì mưa”

    “Ở bầu thì tròn, ở ống thì dài”

    Qua đó, ta còn học được cách sống hay, sống đẹp của cha ông ta ngày trước, phải yêu tổ quốc, yêu dân tộc, yêu non sông đất nước, phải đoàn kết, đùm bọc lẫn nhau. Có thể khẳng định rằng, văn học đã hướng thiện, đã dạy chúng ta cách sống, cách làm người:

    Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Không chỉ vậy, văn học còn là cuốn lịch sử bằng thơ. Thông qua văn học, ta còn nhận thức được tinh thần đấu tranh ngoan cường, bất khuất của cha ông về một đất nước tự do yên bình, về một cuộc sống ấm no hạnh phúc. Như vậy, VHDG là văn học dân tộc, qua ngôn ngữ tiếng Việt trong sáng, phong phú dễ đi vào lòng người, dạy cho ta những bài học thú vị. Qua VHDG, ta còn để tấm lòng rung cảm với những số phận bất hạnh, lên án các thế lực xấu xa, đã chà đạp lên quyền sống của con người, ca ngợi tình yêu đôi lứa, tình cảm gia đình, yêu lao động, những câu truyện cổ tích như  Tấm Cám, Sọ Dừa phản ánh sự chiến đấu không khoan nhượng giữa các thiện và cái ác, khẳng định vẻ đẹp và sức mạnh của con người gửi gắm nhiều ước mơ về một xã hội công bằng, tốt đẹp. Đồng thời, những câu truyện trên còn cho ta bài học quý về cách lựa chọn lối sống phù hợp để trở thành người tốt, được hưởng phúc hậu, tránh hại mình hại người. Một số câu truyện cổ tích khác cũng nhằm mục đích trực diện, như những truyện ngụ ý giáo dục lòng yêu thương, khinh ghét, thưởng phạt phúc của ………… dạy chúng ta bài học luận lý một cách gián tiếp của những tật xấu, những tính ý đáng chê cười: lanh chanh……hoặc những câu chuyện về loài vật hay loài người, ta thấy việc làm đó là dại dột, hành động nào đó không phù hợp với lương tri; chẳng hạn như anh chàng đẽo cày giữa đường, con cò con trai giành nhau để chúng chài được lợi. Những câu chuyện vừa khôi hài, tiếu lâm nhằm chế giễu thói hư tật xấu, giúp con người biết đề phòng cảnh giác, bồi dưỡng lòng lạc quan yêu đời, căm ghét khinh bỉ bọn người ăn bám. Chính vì vậy, trong VHDG, ta hiểu hơn về con người VN, về đất nước VN, ta thêm tự hào khi mình là người Việt được kế thừa những truyền thống tinh hoa ấy. Ngược dòng thời gian tìm hiểu về văn học VN, ta mới thấm thía  hết vẻ đẹp ấy. Trải qua những biến động của lịch sử, văn học dân tộc vẫn tỏa sáng …văn học là chiếc nôi êm ấm, là dòng sữa ngọt ngào, là lời mẹ ru, đã thấm sâu vào tâm hồn người VN. Mẹ ru con bên nôi, trai gái tự tình bên gối gạo. Những người lái đò hát với đêm trăng, họ đã truyền từ đời này qua đời khác những câu hát tuyệt vời của họ. Ngoài ra, VHDG còn mang lại cho chúng ta sự hưởng thụ lành mạnh, bổ ích cho tâm hồn. Đặc điểm của hưởng thụ thẩm mỹ là nâng cao tâm hồn con người lên trên những dục vọng lợi ích vật chất tầm thường, giúp người đọc chia sẻ những buồn vui sướng khổ với nhân vật. Chẳng hạn đọc Tấm Cám, ta vui mừng khi Tấm được bụt giúp đỡ và Cám đã bị hại. Học VHDG, ta biết yêu kẻ này, ghét kẻ kia, hoàn toàn không dính dáng gì đến lợi ích vật chất ngoài đời. Những giờ phút sống với tác phẩm là những giờ phút tâm hồn trong sáng, thanh thản nhất. Do đó VHDG mang đến cho con người một niềm vui tinh thần hoàn toàn vô tư nhưng không bàng quan, vô trách nhiệm. VHDG còn thỏa mãn thị hiếu thẩm mỹ của người đọc bằng vẻ đẹp ngôn từ vần điệu, bằng kết cấu khéo léo, lôi cuốn của từng tác phẩm đã làm cho tâm hồn ta rung động trước những hình tượng nhân vật điển hình, trước cách cảm cách nghĩ của nhà văn về con người và cuộc đời. Những điều đó có tác dụng rất lớn trong quá trình cảm thụ, hướng tới những giá trị chân thiện mỹ của con người mà VHDG đã đúc kết được. Học VHDG làm cho tầm vóc con người lớn hơn, đời sống tinh thần phong phú trong sáng hơn. Ca dao có câu:

    Hoa tàn vì bởi mất sương

    Xanh xao vì bởi quá thương miệng cười.

    Cái liếc mắt, cái miệng cười làm cho cơ thể con người không còn chỉ là một thân xác, một sinh thể, mà trở thành một đối tượng thẩm mỹ. Thành cái đẹp và thị hiếu thẩm mỹ không phải ngẫu nhiên mà trong ca dao khi nhắc về người đẹp, chúng ta thấy nổi lên hình tượng miệng cười và cách ăn nói.

    Người bao nhiêu tuổi hỡi người

    Người bao nhiêu tuổi miệng cười nở hoa.

    Những câu ca dao ấy đã làm nên hồn người đọc bởi cái miệng cười xinh tươi của cô gái thôn quê thật thà, chất phác. VHDG như là dòng sữa ngọt ngào nuôi dưỡng tâm hồn người VN qua bao thế hệ. Từ thuở còn nằm nôi, chúng ta đã được nghe những làn điệu dân gian ngọt ngào đằm thắm qua lời ru của bà của mẹ. Vì thế, có thể nói ca dao có một sức lôi cuốn mạnh mẽ đối với người VN bởi nó rất gần gũi với suy  nghĩ, lời nói hằng ngày của người lao động. Trong kho tàng văn học dân gian, ca dao trữ tình là nơi thể hiện rõ nhất điệu hồn của 1 dân tộc. Chính vì khả năng dễ nói, dễ tiếp thu, ca dao đã đi vào đời sống nhân dân một cách tự nhiên và trong mọi hoàn cảnh. Trong mỗi chúng ta ai cũng có một miền quê. Quê hương là cánh đồng lúa thơm mát, lũy tre xanh trải dài, dọc bờ đê là những hình ảnh thân thương nhất với mỗi con người.

    Lứa tuổi học sinh tiểu học rất cần VHDG. Và VHDG cũng rất cần cho họ. Đó là 2 mặt, 2 chiều, có quan hệ với nhau mật thiết. Trong điều kiện trước đây, khi nông thôn chưa có trường học và hầu hết trẻ em không được đi học thì tác phẩm VHDG chính là hoạt động học tập chủ yếu của họ. Đến độ vừa được đến trường, vốn ngôn ngữ và sự hiểu biết về thiên nhiên xã hội của các em đã khá, và do đó, các em có điều kiện học về VHDG nhiều hơn. Ngoài các câu đồng dao, các em còn mở rộng sự tiếp thu với nhiều thể loại VHDG khác như tục ngữ, câu đố, truyện kể đặc biệt là truyện cổ tích. Ngoài việc tiếp nhận thụ động qua lời hát, lời kể của người lớn, các em còn tham gia sinh hoạt VHDG qua kể chuyện, hát v.v… Cứ như thế, vốn VHDG của các em ngày một tăng lên, khả năng nhận thức, cảm thụ VHDG của các em ngày càng phát triển, VHDG làm cho các em phát triển vốn ngôn ngữ, tăng thêm tính tư duy, bồi dưỡng sự hiểu biết về mọi mặt. Ngày nay, các em độ tuổi tiểu học đã được đến trường. Học VHDG không còn là tài liệu giáo khoa truyền miệng duy nhất đối với các em nữa. Nhưng để đào tạo bồi dưỡng các em thành những công dân VN chân chính, phát triển toàn diện, cân đối, trong đó có một số sẽ là nhân tài của đất nước. Vì lẽ đó, nhà thi hào Macxim Gocki đã nhận định: Con người không thể sống mà không có chữ được, bởi vậy ca dao DG là  sản phẩm văn hóa tinh thần và cần thiết đối với mỗi dân tộc, mỗi con người, là thần dược quý giá để con người biết sống, trở về với cội nguồn của chính mình. Đó chính là tài sản vô giá mà VHDG đã đem đến cho chúng ta.

     

    HÌNH ẢNH THIÊN NHIÊN, ĐẤT NƯỚC QUA THỂ LOẠI CA DAO, ĐỒNG DAO, THƠ TRONG CHƯƠNG TRÌNH VHVN ĐƯỢC DẠY HỌC Ở TRƯỜNG TIỂU HỌC

    Sách giáo khoa Tiếng Việt bậc tiểu học đã được các nhà biên soạn làm ra với những hình ảnh, những bài thơ với sức thu hút, dễ đọc, dễ hiểu dành cho lứa tuổi măng  non. Đặc biệt, một đề tài nhiều màu sắc nhất, có lẽ là đề tài về non sông đất nước Việt Nam. Có không ít bài thơ trong sách giáo khoa tiểu học đã “đi qua” 2 thậm chí 3 thế hệ trong một gia đình. Những bậc làm ông làm bà, làm cha làm mẹ, vừa vui, vừa ngạc nhiên khi gặp lại trong bài học của con, cháu mình bài thơ ngày xưa mình đã học. Ðấy là những bài thơ gần gũi với tâm hồn, với cách nghĩ của trẻ, những bài thơ đuợc viết từ nỗi rung cảm, từ tình yêu thương trẻ nhỏ của nhà thơ. Không giới hạn ở chức nang chuyển tải những bài học nhân sinh, mà cả những kiến thức về từ ngữ, ngữ pháp, những kĩ năng đọc văn bản, viết chính tả, dùng từ viết câu, tập làm văn,… cùng đuợc thơ vẫn gồng gánh trên dôi vai của mình mang đến cho học sinh những bài học, những cảm xúc tươi mới,…

    Việt Nam đất nước ta ơi

    Mênh mông biển lúa đâu trời đẹp hơn

    (Trích Việt Nam thân yêu – Nguyễn Đình Thi- Tiếng Việt 1, tập 2)

    Mảnh đất chữ S mang tên Việt Nam đã được mẹ thiên nhiên ưu ái dành tặng nhiều vẻ đẹp đáng trân trọng, quý giá. Từ khi cái ý niệm về thẩm mỹ xuất hiện, con người Việt Nam đã nhận ra nơi mảnh đất mình sinh sống những vẻ đẹp không thể diễn tả hết bằng lời. Những vẻ đẹp ấy không chỉ được cảm bằng ánh mắt, nhưng nó còn làm cho tâm hồn, làm trái tim của bao người phải rung động. Cách đặc biệt, vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước Việt Nam đã trở nên nguồn cảm hứng vô tận cho các nhà văn, nhà thơ trải qua bao nhiêu thế kỷ. Nhiều nhà văn, nhà thơ đã miêu tả những gì họ đã thấy, đã nghe và đã cảm bằng chính cuộc sống của mình. Những tác phẩm ấy được lưu truyền mãi cho đến ngày nay, chia sẻ cho lớp thế hệ ngày nay niềm tự hào về đất nước tươi đẹp mà chúng ta đang sinh sống. Người ta nói: “Uốn cây từ thuở còn non, dạy con từ thuở hãy còn thơ ngây”. Chính vì thế, nền giáo dục Việt Nam chọn ra những tác phẩm đầy màu sắc, phù hợp để đưa vào chương trình tiểu học. Với mục đích tạo nên trong trí óc non nớt ngây thơ của các em một hình ảnh đất nước thật tươi sáng, rực rỡ. Cũng từ đó, giáo dục cho các em lòng tự hào, và nhiều bài học quý giá thông qua những cảm nghiệm từ thiên nhiên.

    Đã là con người, ai ai cũng có một quê hương. Chắc hẳn, ông bà ta sẽ có dịp tự hào vui thú khi kể cho con cháu mình nghe những ngày tháng năm xưa, về tuổi thơ của mình, về quê hương được nhớ đến là những chùm trái chín ngọt, là những buổi thả diều trên bầu trời xanh trong, là những đêm trăng sáng dưới mái hiên nhà. Nơi quê hương ấy, con người được  lớn lên cả về nhân cách lẫn tri thức. Có thể nói, quê hương giống như một người mẹ ấp ủ nuôi dưỡng con mình, để rồi, ai đi đâu cũng phải nhớ về:

    Quê hương mỗi người chỉ một

    Như là chỉ một mẹ thôi

    Quê hương nếu ai không nhớ

    Sẽ không lớn nổi thành người

    (Trích Quê hương – Đỗ Trung Quân)

    Hay như bài ca dao:

    Tiếng dừa làm dịu nắng trưa

    Gọi đàn gió đến cùng dừa múa reo

    Trời trong đầy tiếng rì rào

    Đàn cò đánh nhịp bay vào bay ra

    (Tiếng Việt lớp 1, tập 2)

    Thiên nhiên Việt Nam còn có những dòng sông êm ả, hiền hòa, mà như nhà thơ Hoài Vũ đã miêu tả tựa như dòng sữa mẹ – thật đáng yêu, đáng mến biết bao

    Đây con sông như dòng sữa mẹ

    Nước về xanh ruộng lúa, vườn cây

    Và ăm ắp như lòng người mẹ

    Chở tình thương trang trải đêm ngày

    (Trích Vàm cỏ Đông – Hoài Vũ – TV3, tập 1)

    Ở đây, hình ảnh thiên nhiên Việt Nam hiện lên thật êm đềm, nhẹ nhàng, giàu tình thương mến.

    Đất nước Việt Nam dù ở phương trời nào cũng mang những nét đẹp rất riêng, rất thơ mộng. Chẳng hạn, ở Huế, có cảnh sông núi tráng lệ, hùng vĩ, hữu tình, nên thơ, gợi lên niềm tự hào về giang sơn gấm vóc, về quê hương đất nước kì thú, xinh đẹp, mến yêu

    Đường vô xứ Nghệ quanh quanh,

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

    (Ca dao – TV3, tập 1)

    Đường vào xứ Nghệ nước non nhộm màu xanh tươi mát, còn đường vào miền Nam là sông nước mở rộng mênh mang:

    “Nhà Bè nước chảy chia hai

    Ai về Gia Định, Đồng Nai thì về”

    (Ca dao – TV3, tập 1)

    Mỗi địa danh, mỗi dòng sông, mỗi cánh đồng, ngọn núi đã in đạm bóng hình trong trái tim người Việt Nam. Người ta gắn bó với quê hương bằng một tình yêu sâu đậm, nồng nàn và ca dao chính là bức thông điệp dể gửi gắm những tình cảm thiết tha, nồng nàn đó.

    Nơi kinh thành Thăng Long – miền bắc nước ta- lại có một bức tranh tuyệt đẹp về cảnh mùa thu vào buổi sáng sớm. Cảnh đẹp thật gợi cảm, gợi tình trong khí thu mát mẻ trong lành. Câu thơ có màu xanh của trúc, khe khẽ của gió, và đương nhiên khí thu, tiết thu, bầu trời khoáng đạt, những cánh diều vi vu trên không, đằng sau những cành trúc la đà là tiếng oanh vàng thánh thót.

    Gió đưa cành trúc la đà,

    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.

    Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

    (Ca dao – TV 3, tập 1)

    Một hình ảnh khác không thể không nhắc đến khi nói đến Việt Nam, đó là hình ảnh về một loài hoa trinh khiết, dịu dàng, nó còn mang đến cho con người bài học về nhân cách con người. Làm người phải có nhân bản, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, con người cũng phải làm sao để tỏa ngát hương thơm nhân đức, tựa như loài hoa “gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn” trong bài ca dao “Hoa sen”

    Trong đầm gì đẹp bằng sen

    Lá xanh bông trắng lại chen nhụy vàng

    Nhụy vàng bông trắng lá xanh

    Gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn

    (TV1, tập 2)

    Đúng vậy, hoa sen chẳng ở nơi thanh cao. Nó mọc và sống ở nơi đầm lầy, nhưng vẫn giữ được mùi thơm nhè nhẹ, quyến rũ lòng người. Còn những loài hoa khác, chẳng hạn như hoa đào, hoa mai. Chúng lại có một nét đặc trưng khác. Chúng làm cho cảnh sắc thiên nhiên, đất trời Việt Nam thêm hương sắc mới khi mỗi dịp xuân về:

    Hoa đào ưa rét

    Lấm tấm mưa bay

    Hoa mai chỉ say

    Nắng pha chút gió

    Hoa đào thắm đỏ

    Hoa mai dát vàng

    (TV1, tập 2)

    Tất cả những bài thơ, bài ca dao ấy mang đầy màu sắc, tạo cho tuổi thơ học trò các em được tô điểm thêm dưới cái nhìn trẻ thơ.

    Tuy được mẹ thiên nhiên ưu đãi nhiều cảnh sắc là thế. Nhưng không phải là đất nước Việt Nam không phải gánh chịu những khắc nghiệt của thiên nhiên: những cơn lũ, những đợt gió lốc, hay những cái nắng đến cháy da. Như địa danh Phan Rang đã được người dân đọc trại ra để nói về cái khắc nghiệt của khí hậu nơi đây rằng: “gió như phang, nắng như rang”

    Mưa tháng 7 gãy cành trâm

    Nắng tháng 8 rám trái bòng

    Đất nước Việt Nam là thế: có đầy đủ những cái nắng, những cơn mưa; những khi dịu dàng, nhưng cũng có khi bão tố. Dù thế nào đi nữa, con người Việt Nam vẫn yêu lắm mảnh đất thân thương – nơi mình đang sinh sống. Bởi mảnh đất ấy đã gắn bó cùng con người đi qua biết bao gian khổ, hào hùng của dân tộc. Qua bao biến cố thăng trầm, thiên nhiên vẫn cùng với con người chiến đấu đến cùng

    Đất nghèo nuôi những anh hùng

    Chìm trong máu chảy lại vùng đứng lên

    Đạp quân thù xuống đất đen

    Súng gươm vứt bỏ lại hiền như xưa

    (Trích Việt Nam thân yêu – Nguyễn Đình Thi)

    Mảnh đất ấy đã nuôi lớn bao thế hệ anh hùng. Con người đã đổ máu mình ra để bảo vệ mảnh đất quê hương, và chính mảnh đất ấy cũng đã hy sinh, đã lưu giữ lại biết bao dấu tích anh hùng. Có thể nói, thiên nhiên Việt Nam tuy mang nhiều nét đẹp dịu dàng, thanh thoát. Nhưng trong những cuộc chiến đấu, thiên nhiên cũng cùng nổi dậy đấu tranh như có câu: “Giặc đến nhà đàn bà cũng đánh”

    Tre xanh

    Xanh tự bao giờ?

    Chuyện ngày xưa… đã có bờ tre xanh

    Thân gầy guộc, lá mong manh

    Mà sao nên lũy nên thành tre ơi

    (Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy – TV4, tập 1)

    Vâng, tre xanh nơi thôn quê hiền hòa là thế. Vào những buổi chiều, trong cơn gió nhẹ, tre chỉ reo lên những tiếng xào xạc, hoặc ngân lên những giai điệu ngọt ngào theo điệu hát từ những cây sáo trúc. Trông bề ngoài, tre mảnh mai, mong manh là thế. Nhưng tre đã trở nên mạnh mẽ biết bao trong kháng chiến. Hơn thế nữa, tre cũng để lại cho thế hệ sau của mình là những búp măng non nhiệt huyết của chính mình. Tre vẫn giữ mãi màu xanh, luôn vươn mình đứng vững dù qua bao thế hệ.

    Măng non là búp măng non

    Đã mang dáng thẳng thân tròn của tre

    Năm qua đi, tháng qua đi

    Tre già măng mọc có gì lạ đâu

    (Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

    Tre và măng đã truyền lửa cho con người. Bài thơ Tre Việt Nam được đưa vào chương trình tiểu học như để nhắc nhớ cho con người Việt Nam và đặc biệt các thế hệ măng non về lịch sử hào hùng của dân tộc, và như muốn nói với các em học sinh rằng: hãy luôn luôn giữ mãi những nét đẹp ấy đến muôn đời.

    Mai sau,

    Mai sau,

    Mai sau,

    Đất xanh tre mãi xanh màu tre xanh

    (Trích Tre Việt Nam – Nguyễn Duy)

    Thật khó có thể hình dung được, nếu trong chương trình giáo dục tiểu học lại thiếu đi những câu ca dao, đồng dao, thơ miêu tả về cảnh sắc thiên nhiên, đất nước. Bởi cùng với sự hướng dẫn của thầy cô giáo, những câu ca dao, đồng dao ấy thật cần thiết, và cũng thật phù hợp với ngôn ngữ của lứa tuổi ấy, nhằm giáo dục cho các em về thẩm mỹ, đạo đức, về tri thức, và cả về niềm tự hào để các em có thể phát triển toàn diện, trở thành những người tài đức vẹn toàn giúp ích cho tương lai nước nhà.

    ———————————————————————————————————————

    CĂN CỨ VÀO ĐÂU ĐỂ CHIA LỊCH SỬ VĂN HỌC VIẾT VN THÀNH 2 THỜI KỲ LỚN:VH TRUNG ĐẠI VÀ VH HIỆN ĐẠI? SỰ KHÁC BIỆT CƠ BẢN CỦA HAI THỜI KỲ VĂN HỌC? VẼ SƠ ĐỒ PHÂN KỲ CỦA VĂN HỌC VIẾT VN?

    1. Căn cứ:
    • Phân kỳ vừa theo vương triều vừa theo thời đại.
    • Phân kỳ theo thời gian bằng cách dựa trên chặng đường lịch sử, sự kiện lịch sử.
    • Phân kỳ theo chặng đường phát triển của chính văn học
    • Phân kỳ theo các thời kỳ lớn gắn với các hình thái xã hội trong lịch sử dân tộc
    • Về mặt khoa học, thì có 2 phương diện liên quan đến sự phân kỳ
    • Sự chi phối của xã hội, của lịch sử đối với sự tồn tại, phát triển của văn học.
    • Bản thân sự vận động của chính văn học theo thời gian
    1. So sánh

    Giống nhau:

    – Nội dung: – cùng thể hiện tình cảm, tư tưởng của tác giả ( nói lý luận văn học; tp là tiếng nói tư tưởng, tình cảm của tác giả, là đứa con tinh thầm, vậy nên nó luôn chứa đựng …)

    – Bao gồm ba nội dung chính nhân đạo ,hiện thực, yêu nước

    – Nghệ thuật: cùng có nhiều thể loại đa dạng

    Khác nhau:

    Tiêu chí so sánh Văn học trung đại VH hiện đại
    Nội dung Văn học trung đại là một cách gọi tên mang tính qui uớc, đó là một giai đoạn mà văn học hình thành và phát triển trong khuôn khổ của nhà nuớc phong kiến Việt Nam (Văn học thời phong kiến, văn học cổ) duợc xác dịnh từ thế kỷ X (dấu mốc cho sự ra đời của nhà nước phong kiến Việt Nam dầu tiên) đến hết thế kỷ XIX.

    – Văn học trung đại có vai trò vị trí rất quan trọng bởi đây là mốc đầu tiên, chặng đuờng đầu tiên của văn học. Về sau này các đặc tính của văn học hiện đại dều bắt nguồn từ văn học trung đại.

    – Nội dung tư tuởng của văn học trung đại có tính chất bao trùm nên nền van học dân tộc như phản ánh lòng yêu nuớc, lòng căm thù giặc, đòi quyền sống, quyền làm nguời… Sau này văn học hiện đại đều phản ánh rất sâu sắc những nội dung trên, tuy nhiên do tư duy của hai thời kỳ khác nhau, nhu cầu phản ánh khác nhau nên phương thức biểu đạt cũng khác nhau.

    Nội dung của văn học hiện đại đa dạng hơn văn học trung đại do có sự bùng nổ của cái tôi cá nhân từ 1930-1945 và sự giác ngộ lý tưởng từ sau cách mạng. Nó không chỉ dùng để tỏ chí, tỏ lòng (vhtđ) mà còn diễn tả nhiều góc khuất, khía cạnh của cuộc sống mà văn học trung đại không hoặc không được phép đề cập tới (bị kìm kẹp). có những tp đôi khi chỉ là một lát cắt rất nhỏ của cuộc sống như tản văn, thứ mà đôi khi bị cho cho là vô nghĩa trong xhpk. vhhđ đi sâu vào diễn tả nội tâm con người, thế giới bên trong,nhìn những giá trị cũ bằng một con mắt và từ một góc nhìn khác
    Nghệ thuật – Mang tính ước lệ tượng trưng, có các điển tích điển cố…=> phong cách cổ,cũ, tuân theo cái truyền thống, những cái được định sẵn(khác với vhhđ)

    -Mang tính qui phạm( tức là qui củ ấy), bó buộc: thể hiện ở các thể loại có vần luật chặt chẽ như thơ đường, thất ngôn tứ tuyệt, hịch, cáo, chiếu, biểu…

    Quan điểm nt ở vhhđ có cái nhìn rộng mở, phóng khoáng hơn, không bị ràng buộc bởi lễ giáo, qui củ. Các tg chủ trương thể hiện cái tôi cá nhân của mình một cách trực tiếp, điều ít thấy ở xhpk
    Thể loại Các thể loại chặt chẽ như đã nêu trên, các thể loại truyền thống như ca dao, tục ngữ, các dạng văn như lục bát, song thất lục bát=> tạo ra dấu ấn riêng cho vh việt nam

    Các thể loại văn vần như hịch cáo chiếu biểu cũng mang nhiều quy phạm với câu văn dài, có vần như thơ, đối xứng, có các hình ảnh ước lệ, tượng trưng

    Đa dạng hơn, có thêm truyện ngắn, tiểu thuyết, tản văn, tuỳ bút… giúp nhà văn tự do thể hiện tư tưởng, tình cảm của mình
    thơ có nhiều phá cách về vần luật, số lượng câu chữ, hình ảnh, nhiều thể thơ mới ra đời, đặc biệt là thơ tự do mang phong cách hoàn toàn mới.

    Truyện thay đổi về dung lượng (có thể rất ngắn hoặc rất dài), phong cách viết,cách dùng văn. câu văn không còn dài như trước, có các hình ảnh hiện đại .

    Quan niệm văn chương Viết văn nhằm thể hiện đạo lý. Sáng tác thơ để nói rõ ý chí Văn chương là nghệ thuật, đi tìm và sáng tạo cái đẹp
    Quan niệm thẩm mỹ Hướng về cái đẹp quá khứ, thiên về cái đẹp cao cả, tao nhã Hướng về cuộc sống hiện tại, đề cao vẻ đẹp con người
    Đội ngũ sáng tác Các nhà nho Tri thức tây học mang tính chuyên nghiệp
    Hình thức chữ viết Viết bằng chữ Hán, chữ Nôm Viết bằng chữ quốc ngữ
    Minh chứng bằng tác giả, tác phẩm, thời gian ra đời Nguyễn Trãi – Nam quốc sơn hà

    Bình Ngô đại cáo – Nguyễn Trãi

    Nam Cao, Chí Phèo

    Tuyên ngôn độc lập – Hồ Chí Minh

    1. Sơ đồ phân kỳ

    Văn học trung đại                    văn học hiện đại

    TK X                                       1900        1930        1945        1975

    ———————————————————————————————————————

    SO SÁNH VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ VĂN HỌC VIẾT

    VHDG VHV
    Giống nhau – Cà VHDG và VHV đều là 2 bộ phận hợp thành của Văn học Việt Nam
    – VHDG và VHV đều là sản phẩm tinh thần của con người Việt nam xây dựng nên
    – VHDG và VH viết đều có những thể thơ giống nhau và cùng có 2 nội dung lớn: Yêu nước và Nhân đạo
    Khác nhau Nguồn gốc Có từ rất lâu đời, có trước VH viết Có từ thế kỷ thứ X , sau VHDG
    Lực lượng sáng tác Tập thể nhân dân lao động (không có tên tác giả) Đội ngũ trí thức mang tính cá nhân (Có tên tác giả)
    Hình thức lưu truyền Truyền miệng. Quá trình truyền miệng vẫn tiếp tục kể cả khi tác phẩm VHDG đã được ghi chép lại Chữ viết (Hán, Nôm, Quốc ngữ)
    Nội dung Là kho tàng tri thức (tự nhiên, xã hội), là kinh nghiệm sống, kinh nghiệm đối nhân xử thế… của ông cha ta “Thi dĩ ngôn chí, văn dãi tải đạo” (Làm thơ là để nói lên cái chí , viết văn là để chở đạo lý làm người)
    Thể loại Chia làm 4 nhóm:

    – Truyện dân gian (Thần thoại, sử thi, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện cười, truyện ngụ ngôn,…)

    – Câu nói dân gian (tục ngữ)

    – Thơ ca dân gian (ca dao, vè)

    – Sân khấu dân gian (chèo).

    Phong phú và đa dạng hơn VHDG :

    + VH Trung đại : có các thể loại : Chiếu, chỉ, cáo, hịch, tấu, sớ, văn bia, văn tế, hành, hát nói, thơ lục bát, thơ song thất lục bát, tiểu thuyết chương hồi, thơ Đường luật (thất ngôn, ngũ ngôn,…)….

    + VH hiện đại : ngoài 1 số thể thơ của VH Trung đại còn hiện hành thì VH Hiện đại có các thể loại : TỰ SỰ (truyện ngắn , truyện dài, tiểu thuyết, ký sự, bút ký, phóng sự, tản văn, điếu văn….) ; TRỮ TÌNH (thơ ca các loại : lục bát, song thất lục bát, thất ngôn, ngũ ngôn, Thơ Mới, thơ tự do, thơ văn xuôi,…) ; KỊCH (bi kịch, hài kịch, kịch lịch sử)

    Ví dụ Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con

    Hoặc:

    Muốn sang thì bắc cầu Kiều

    Muốn con hay chữ phải yêu lấy thầy

    (TV5, tập 2, trang 92)

    Bài Tiểu đội xe không kính – Phạm Tiến Duật (TV4)

    ———————————————————————————————————————-

    NX VỀ CÁCH SẮP XẾP VHVN TRONG CHƯƠNG TRÌNH SGK TIẾNG VIỆT CHƯƠNG TRÌNH BẬC TIỂU HỌC

    Văn học có tác dụng tích cực trong việc làm giàu tâm hồn, phong phú hoá tình cảm, rèn luyện tính cách, nhân cách con người, có ý nghĩa giáo dục rất lớn về thẩm mĩ, về lòng yêu con người, yêu quê hương đất nước… Tác phẩm văn học có tác dụng giáo dục rất lớn trong việc hình thành nhân cách, tâm hồn trẻ, có vị trí quan trọng trong quá trình giáo dục trẻ thơ nói chung và dạy học ở tiểu học nói riêng. Chúng mang lại cho các em những bài học nhân sinh nhẹ nhàng, tự nhiên nhưng cũng không kém phần tế nhị, sâu sắc, hơn rất nhiều so với những lời giáo huấn khô khan, khiên cưỡng. Chính vì lý do đó mà các tác phẩm VHVN đã được chọn lọc và đưa vào chương trình giáo dục tiểu học

    – Những tác phẩm được dạy trong chương trình tiếng Việt tiểu học thường là tác phẩm trọn vẹn hoặc trích đoạn (chiếm đa số) của các tác giả Việt Nam và thế giới. Độ dài tác phẩm từ 70 tiếng (lớp 1) đến 10 trang (truyện kể dân gian ở lớp 5).

    – Đa phần đều mang phong cách trẻ thơ, phù hợp với tâm lý tiếp nhận của độc giả nhỏ tuổi nhằm giáo dục cho các em các giá trị nhân văn, tinh thần hướng thiện, lòng say mê cái đẹp, những hiểu biết về văn hoá xã hội… thông qua con đường tiếp thu lẫn phê phán.

    – Tác phẩm vừa đến với các em một cách trực tiếp (khi các em tự đọc), vừa gián tiếp, tích cực: thông qua vai trò trung gian, qua sự phân tích, hướng dẫn, gợi ý, gợi mở của người giáo viên.

    – Văn, thơ trong nhà trường tiểu học là một trong những công cụ giáo dục đặc biệt với sự tác động của môi trường đặc thù (trường học, lớp học) và dưới sự dẫn dắt của giáo viên, sự khống chế về thời gian (tiết học) và sự quy định chặt chẽ của tính chất văn bản – tác phẩm (có giờ học thơ, có giờ học truyện, kịch…) Đó vừa là phương tiện, công cụ nhận thức, vừa là đối tượng thẩm mĩ của những độc giả đặc biệt – học sinh.

    – Thường xoay quanh các chủ điểm: gia đình, nhà trường, quê hương, đất nước, măng non, Bác Hồ kính yêu,…

    – Sự đa dạng về thể loại, đề tài, nội dung phản ánh…

    => Đặc trưng của một tác phẩm văn học thiếu nhi trong nhà trường tiểu học:

    – Vừa đáp ứng được cả phần văn, vừa phải là công cụ để các em học tập phần tiếng, vừa phải là một văn bản mẫu mực, vừa là sự gợi mở để các em tiếp tục sáng tạo theo sự hiểu biết của mình.

    – Mở mang kiến thức, sự hiểu biết của trẻ về tự nhiên và xã hội, xây dựng cho các em những tình cảm đẹp, lối sống đẹp, cách cư xử, quan hệ trong đời thường và trong các mối quan hệ xã hội khác.

    – Góp phần nâng cao khả năng sử dụng tiếng mẹ đẻ, phát triển vốn ngôn ngữ mà còn góp phần tạo ra chất văn cho các em.

    – Vừa phải đảm bảo tính sư phạm, vừa phải đảm bảo tính khoa học, vừa phải là “văn mẫu” vừa là cơ sở để các em tưởng tượng, sáng tạo theo trình độ, vốn sống, sự hiểu biết của mình.

    => Có thể nói, văn học thiếu nhi trong nhà trường tiểu học là cuốn bách khoa toàn thư, giúp các em có chiếc chìa khóa phù hợp nhất mở cánh cửa cuộc đời và bước vào một cách tự nhiên. Phần lớn chúng đều thấm đượm sâu sắc chủ nghĩa nhân văn, tinh thần nhân đạo, có tác dụng quan trọng trong việc hình thành nên bản sắc của con người Việt Nam trong thời đại mới.

    Đối với chương trình của học sinh lớp 1. Các em chỉ mới làm quen với những chữ cái, tập đọc những cụm từ ngắn gọn. Những bài ca dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, thơ hoặc đoạn trích thơ có minh họa; văn xuôi hoặc đoạn trích có minh họa (độ dài khoảng 70 tiếng); truyện cổ dân gian (cổ tích, thần thoại, ngụ ngôn…) (độ dài từ 1 đến 2 trang) vui, giản dị, dễ hiểu của dân tộc và thế giới viết về thiên nhiên, con vật, nhà trường, gia đình, thiếu nhi, đất nước… có tác dụng giáo dục nhân cách và cung cấp những hiểu biết thú vị về đời sống.

    Ví dụ:

    *Tháng chạp là tháng trồng khoai

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà

    Tháng ba cày vỡ ruộng ra

    Tháng tư làm mạ, mưa sa đầy đồng

    * Khôn ngoan đối đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    *Đồng dao: Cái Bống

    Cái Bống là cái bống bang

    Khéo sảy, khéo sàng cho mẹ nấu cơm

    Mẹ Bống đi chợ đường trơn

    Bống ra gánh đỡ chạy cơn mưa ròng

    *Ca dao: Hoa sen

    *Câu đố:

    Con gì bé tí

    Chăm chỉ suốt ngày

    Bay khắp vườn cây

    Tìm hoa tìm mật?

    *Truyện ngụ ngôn: Con quạ thông minh (Laphongten)

    *Thơ: Ngôi nhà (Tô Hà)

    Em yêu ngôi nhà

    Gỗ, tre mộc mạc

    Như yêu đất nước

    Bốn mùa chim ca

    Lớn lên thêm 1 năm nữa. Khi bước vào lớp 2, các học sinh học ca dao, đồng dao, tục ngữ, thành ngữ, câu đố, thơ hoặc đoạn trích (có minh họa); các bài văn hoặc đoạn trích (có minh họa) (khoảng 150 tiếng); các truyện kể dân gian (độ dài từ 2 đến 3 trang)…

    *Truyện Ông Mạnh thắng thần Gió (Phỏng theo A-nhông, Hoàng Ánh dịch)

    *Thơ: mưa bóng mây – Tô Đông Hải

    Cơn mưa nào lạ thế

    Thoáng qua rồi tạnh ngay

    Em về nhà hỏi mẹ

    Mẹ cười: “Mưa bóng mây”.

    *Vè dân gian: Vè chim

    Hay chạy lon xon

    Là gà mới nở

    Vừa đi vừa nhảy

    Là em sáo xinh

    Hay nói linh tinh

    Là con liếu điếu

    Hay nghịch hay tếu

    Là cậu chìa vôi hay chao đớp mồi

    Là chim chèo bẻo

    Tính hay mách lẻo

    Thím khách trước nhà

    Hay nhặt lân la

    Là bà chim sẻ

    Có tình có nghĩa

    Là mẹ chim sâu

    Giục hè đến mau

    Là cô tu hú

    Nhấp nhem buồn ngủ

    Là bác cú mèo…

    *Truyện: Cò và Cuốc (Theo Nguyễn Đình Quảng)

    *Ca dao:

    Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang

    Bao nhiêu tấc đất, tấc vàng bấy nhiêu

    *Truyện cổ tích: Chuyện quả bầu (Truyện cổ Khơ-mú)

    Ở lớp 3, học sinh học các tác phẩm văn học dân gian, những đoạn trích hay những bài văn, thơ trọn vẹn của dân tộc và thế giới, có độ dài khoảng 200 tiếng – với bài văn xuôi, 2 đến 6 trang với các truyện đọc. Ý nghĩa của bài học tuy vẫn được nói rõ ra, nhưng so với văn bản lớp 2  đã phức tạp hơn.

    *Truyện cổ VN: Cậu bé thông minh

    *Truyện nước ngoài: Ai có lỗi (Theo Amixi, hoàng Thiếu Sơn dịch)

    *Ca dao:

    Gió đưa cành trúc la đà,

    Tiếng chuông Trấn Vũ, canh gà Thọ Xương.

    Mịt mù khói tỏa ngàn sương,

    Nhịp chày Yên Thái, mặt gương Tây Hồ.

    Người trí thức yêu nước (Theo Đức Hoài –nói về Đặng Văn Ngừ)

    Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử

    Ngọn lửa Olympic (những mẩu chuyện lịch sử thế giới)

    Trong chương trình lớp 4, học sinh đọc những đoạn trích hay tác phẩm trọn vẹn của văn học dân tộc và thế giới, độ dài khoảng 250 tiếng, có nội dung phong phú và phức tạp hơn các lớp 1, 2, 3.

    VD: Dế Mèn bênh vực kẻ yếu (Tô Hoài) (TV4- tập 1)

    Người ăn xin (Tuốc ghê nhép)

    Tre Việt Nam (Nguyễn Duy – TV4, tập 1)

    Bài thơ về tiểu đội xe không kính (Phạm Tiến Duật – TV4, tập 2)

    Lên lớp 5, các em đã trở thành những anh chị của khối tiểu học. Các em đã có được vốn từ khá, có suy nghĩ, hiểu biết hơn. Nên do đó, các em cũng cần được học rộng hơn về những tác phẩm dài hơn, phức tạp hơn và tinh tế hơn, các thể loại có nội dung như lớp 4. Chú ý hơn đến các tác phẩm vui, hài hước. Bổ sung thể loại kịch với 1, 2 tác phẩm đơn giản. Độ dài văn bản khoảng 300 tiếng với bài tập đọc, 3 đến 10 trang với các truyện kể dân gian, hiện đại.

    VD: Kịch: Lòng dân (TV5, tập 1)

    Người gác rừng tí hon (TV5, tập 1)

    Thầy thuốc như mẹ hiền (TV5, tạp 1)

    Luật tục xưa của người Ede (TV5, tập 2)

    Thơ: Đất nước (Nguyễn Đình Thi- TV5, tập 2)

    Có thể nói, văn học Việt Nam là một bộ phận cấu thành sách giáo khoa tiếng Việt của bậc tiểu học. Văn học Việt Nam gồm 2 bộ phận chính là văn học dân gian và văn học viết. Và văn học viết được chia thành 2 phân kỳ, là phân kỳ văn học trung đại và văn học hiện đại. Do hạn chế về suy nghĩ, nhìn nhận và nhất là ngôn ngữ của học sinh tiểu học, nên chương trình văn học Việt Nam khi đưa vào bậc tiểu học, đa số chỉ được chọn lọc từ các tác phẩm dân gian và trong giai đoạn văn học hiện đại, chứ không có tác phẩm văn học trung đại. Nhưng thiết nghĩ, từng ấy cũng đã đủ để qua các tác phẩm, dưới sự dẫn dắt của thầy cô giáo, các em được lớn lên về nhân cách, đạo đức, được giáo dục về tính thẩm mỹ, kinh nghiệm sống, quan điểm, và giúp các em trau dồi tiếng mẹ đẻ.

    ——————————————————————————————————————–

    AC HÃY PT VÀ CMR VHVN ĐÃ SÁNG TẠO CÁI ĐẸP MANG BẢN SẮC RIÊNG CỦA DÂN TỘC VN

    Đề bài Dùng hiểu biết của mình để làm sáng tỏ nhận định: Văn học Việt Nam đã thể hiện chân thực, sâu sắc đời sống tư tưởng, tình cảm của con người Việt Nam trong nhiều mối quan hệ đa dạng.
    A.Mở bài

    Không hiểu vì sao cứ mỗi lần nghĩ đến đất nước và con người VN ,chúng ta lại nghe vang vọng trong tâm trí mình những câu thơ của Huy Cận :

    “ Sống vững chãi bốn ngàn năm sừng sững

    Lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa

    Trong và thực , sang hai bờ suy tưởng

    Sống hiên ngang mà nhân ái, bao dung.”

    Sảng khoái biết bao! Tự hào biết bao! Trong tâm trí ta bỗng cuồn cuộn đổ về dòng lịch sử hang ngàn năm của dân tộc. Bừng sang trong tâm hồn của cha ông ta là công cuộc lao động , là chiến công xây dựng và bảo vệ Tổ quốc , là trời bể ân tình thủy chung như nhất , yêu thương đùm bọc lẫn nhau của những người quen đứng đầu song ngọn gió , chống mọi thế lực thù địch. Qua bao phong ba của lịch sử , dân tộc ta đã thể hiện một sức sống mãnh liệt “ Lưng đeo gươm , tay mềm mại bút hoa” .Quả thật văn học dtộc là một thứ máu của Tổ quốc . Dòng máu văn học ấy chảy và thắm vào tâm hồn chúng ta hôm nay với một sức sống rạo rực mãnh liệt . Yêu biết bao nền văn học ấy , nền văn học mà nội dung cũng như hình thức đều phản ánh chân thực , sâu sắc tư tưởng , tình cảm và sức sống , sự vươn lên của con người VN trong nhiều mối quan hệ đa dạng.

    B.Thân bài 

    1.Văn học trong quan hệ với thế giới tự nhiên

    Sức sống ấy bắt đầu bằng mối quan hệ gần gũi,gắn bó với thế giới tự nhiên vô cùng chân thực , sinh động và độc đáo.Mỗi mảnh đất quê hương chúng ta đều mang hơi thở cuộc sống của những ngày cha ông gian khổ khẩn hoang vỡ đất để xây dựng non sông đất nước tươi đẹp và tích lũy nhiều hiểu biết phong phú , sâu sắc về thiên nhiên. Dưới hình thức của tư duy huyền thoại , các tác phẩm dân gian đã vô tình trở thành cây đàn muôn điệu của tâm hồn nhân dân , nhất là những người lao động VN. Con người VN đổ mồ hôi , xương máu gắn chặt tâm hồn mình với mảnh đất thiêng liêng ấy. Thiên nhiên đất nước giàu đẹp nhưng cũng lắm thử thách , hăm họa rình rập theo mỗi bước đi lên của con người VN . Mặc dù vậy , cái tình ta yêu đời , cái tình ta yêu cuộc sống , gian khổ mấy cũng vui được , cái vui vừa ngời chói , vừa trong sang lạ lùng .Với quy mô hoành tráng , sử thi thần thoại “Đẻ đất đẻ nước” của người Mường đã tái hiện lại những hồi ức thô sơ nhưng hấp dẫn về một cộng đồng người trong quá khứ xa xưa vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt để tồn tại và phát triển . Hay câu chuyện truyền thuyết “ Sơn Tinh- Thủy Tinh” ngàn năm rồi vẫn sống trong long dân tộc , âm vang dữ dội , phản ánh những cố gắng không mệt mỏi của người Việt cổ để chiến thắng nạn lũ lụt ở đồng bằng Bắc Bộ . Truyện đề cao sức sống mạnh mẽ của loài người và phần nào giải thích hiện tượng lũ lụt hang năm. Ngoài ra , nhân dân lao động cũng tích lũy được khá sâu sắc về tự nhiên , thiên nhiên dưới hình thức những câu nói cô đúc . Những triết lí , trí tuệ trong tục ngữ bắt rễ từ cuộc sống sinh động phong phú nên nội dung cũng như hình thức của tục ngữ không khô khan mà nó vẫn như cây đời xanh tươi . Tục ngữ VN có rất nhiều chủ đề trong đó nổi bật là những câu tục ngữ về thiên nhiên , lao động sản xuất , về con người và xã hội :

    “ Ai ơi chớ bỏ ruộng hoang

    Bao nhiêu tấc đất , tấc vàng bấy nhiêu.”

    Hay

    “ Nhất nước , nhì phân , tam cần , tứ giống”

    Do điều kiện nền kinh tế nông nghiệp trồng cây lúa nước nên nhân dân ta hiểu rõ được giá trị của đất . Nói “tấc đất , tấc vàng” là vì sao? Vì đất là nơi ta ở , nơi ta sản xuất. Qua bàn tay và trí tuệ , tinh thần lao động , từ một mảnh đất cỏn con , chúng ta có thể làm ra lúa gạo , làm ra của cải , đem lại cuộc sống ấm no . Do đó , đất chính là vàng , một loại vàng sinh sôi và phát triển . Cùng với cách nhìn nhận , đánh giá giá trị của đất , cha ông ta cũng đã đúc kết bốn khâu quan trọng nhất trong quá trình làm ra cây lúa , hạt gạo trên đồng ruộng VN .Với con người Vn từ thuở xa xưa , thiên nhiên còn là người bạn thân thiết , Tình yêu thiên nhiên là một nội dung quan trọng của văn học VN . Trong ca dao , dân ca hiện lên những hình ảnh tươi đẹp , đáng yêu của thiên nhiên VN với đồng lúa , cánh cò , cây đa , bến nước , ánh trăng……

    “ Hỡi cô tát nước bên đàng

    Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi.”

    Dưới hình thức ca dao tỏ tình , ví ghẹo , con người giãi bày tâm sự của mình với quê hương , đất nước .Vẻ đẹp của thiên nhiên , vẻ đẹp của lòng người quyện vào nhau trong câu ca dao mượt mà , khơi lên và chảy đằm thắm trong long ta một sức sống vừa bền bỉ ,vừa rạo rực ,mãnh liệt . Con người VN yêu lao động , biết quý vô cùng những giot mồ hôi mình đổ ra để chắt chịu xây dựng cuộc sống . Hình ảnh ấy ở mỗi miền quê lại có vẻ đẹp riêng say đắm long người . Nó không phải là riêng của ai mà nó là tiếng hát của tất cả mọi người đang sống ,đang ngày đêm lao động. Đến với văn thơ thời trung đại (từ thế kỉ 10 đến hết thế kỉ 19) , hình ảnh thiên nhiên đã có bước phát triển mới , nó không chỉ gắn liền với những gì gần gũi , thân thuộc của thế giới xung quanh mà còn gắn với lí tưởng đạo đức , thẩm mĩ . Hình tượng những cây tùng , trúc , cúc,mai tượng trưng cho khí tiết thanh cao của nhà nho chân chính .Còn với những bậc hiền nhân đó là:

    “ Trong ghềnh thông mọc như nêm,

    Tìm nơi bong mát ta lên ta nằm.

    Trong rừng có bóng trúc râm,

    Dưới màu xanh mát ta ngâm thơ nhàn .

    ( Côn Sơn ca – Nguyễn Trãi)

    Hình ảnh những am mây , rừng cây , suối vắng (chốn lâm tuyền) ,rừng thông , núi trúc……thể hiện lí tưởng ẩn dật , thoát khỏi vòng danh lợi tầm thường . Trong văn học hiện đại , tình yêu thiên nhiên thể hiện ở sự gắn bó với quê hương ,đất nước , ở tình yêu cuộc sống đặc biệt ở tình yêu lứa đôi . Tình yêu thiên nhiên trong VH có ý nghĩa biểu hiện nhân cách , thấm nhuần một tinh thần nhân văn cao quý.ư
    2.Văn học trong lịch sử dân tộc

    Rồi cũng bước qua những ngày tháng chống thiên nhiên hung dữ , văn học cùng cha ông ta bước vào thời kì bảo vệ Tổ quốc , chống giặc ngoại xâm . Lịch sử dân tộc ta là lịch sử của những năm tháng con người VN đem xương máu của mình bảo vệ độc lập của dân tộc . Con người VN được tôi luyện và lớn lên không ngừng với cuộc chiến đấu chống ngoại xâm dai dẳng và quyết liệt . Buổi cha ông dựng nước cũng chính là buổi cha ông giữ nước . Những bàn tay biết cầm quốc , cái cày vỡ đất ấy cũng chính là những bàn tay vô cùng kiên quyết , dữ dội biết cầm vũ khí đánh giặc để bảo vệ vững chắc thành quả lao động của mình . Câu chuyện “ Thánh Gióng “ làm sống mãi trong tâm tư mỗi con người VN ý chí quyết chiến , quyết thắng quân xâm lược . Từ lòng yêu nước , con người VN này sinh long căm thù , giặc cướp nước . Đến một độ nào đó long căm thù ấy bùng lên , con người VN vụt trở mình lớn dậy cùng với hình tượng Thánh Gióng , cùng cây tre quê hương xung phong diệt giặt . Sức mạnh của long yêu nước , của ý chí căm thù là sức mạnh vô địch . Sức mạnh ấy bắt nguồn từ Thánh Gióng xa xưa và đã cuồn cuộn chảy trong mạch nguồn dân tộc ,làm nên một sức mạnh nội tại mãnh liệt không ngừng tăng lên , lớn lên mãi . Lịch sử những cuộc chiến đấu bảo vệ Tổ quốc đã sớm hình thành trong tâm trí con người VN một sự thống nhất tuyệt đẹp. Thống nhất là sự sống , là sức sống của Tổ quốc ta . Truyền thuyết đẹp về chín mươi chín voi quay đầu về mộ tổ vua Hùng , một con không chịu chầu liền bị chém cụt đầu đã chứng minh hung hồn chân lí đó. VH dân gian chúng ta có một ngạn ngữ được coi là phương châm sống : “ Giặc đến nhà ,đàn bà cũng đánh”. Ý chí đánh giặc đã sớm nhập tâm và dường như đã trở thành cái phần bẩm sinh trong mỗi con người VN.Cha ông chúng ta mỗi khi thấy vó ngựa của quân thù khua ngoài biên ải thì “ tới bữa quên ăn , nửa đêm vỗ gối , ruột đau như cắt , nước mắt đầm đìa ,chỉ căm tức rằng chưa xã thịt lột da nuốt gan , uống máu quân thù” ( Hịch tướng sĩ- Trần Quốc Tuấn) ngày đêm canh cánh ý chí giết giặc. Núi sông ta cũng đã từng rung chuyển bởi tiếng hô “ quyết đánh” của hội nghị Diên Hồng và ý chí “ Sát Thát” của hào khí Đông A vang động chiều dài lịch sử dân tộc . Tiếp đó là hình ảnh những nghĩa sĩ trong những ngày đầu tiên chiến đấu chống Pháp ở đất Nam Bộ được nhà thơ mù lòa ,thiết tha yêu nước Nguyễn Đình Chiểu khắc họa thành công trong tác phẩm nổi tiếng là “Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc”:

    “Ngoài cật có một manh áo vải , nào đợi mang bao tấu ,bầu ngòi

    Trong tay cầm một ngọn tầm vông ,chi nài sắm dao tu , nón gõ

    Hỏa mai đánh bằng rơm con cúi , cũng đất xong nhà dạy đạo kia

    Gươm đeo dung bằng lưỡi dao phay , cũng chém rớt đầu hai nọ.”

    Qua VH , sức sống người Việt còn rung lên mãnh liệt ,sảng khoái .Từ trong đêm đen nô lệ ,Đảng đã ra đời chói ngời ánh sang chân lí với một sức mạnh mới mẻ .Chủ nghĩa yêu nước trong VH hiện đại cũng ra đời trong hoàn cảnh đó. Khi gặp được chủ nghĩa Mác-Lê-nin ,Bác đã thắp lên triệu triệu niềm tin cho đồng bào . Bác đã chiến thắng mọi gian nguy , “ mặt trời chân lí chói qua tim” đốt nóng long người cuồn cuộn sinh lực vào ngày Cách mạng tháng 8 thành công. “ Tuyên ngôn độc lập “của Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực sự trở thành lời tuyên bố dõng dạc của dân tộc VN kiêu hãnh.

    Tình yêu lớn ấy đối với đất nước , những đồng cam cộng khổ vất vả hang ngày cũng như chiến đấu đã sớm gắn bó con người VN thành một khối yêu thương đùm bọc lẫn nhau trong tình nhân ái cao cả . Cha ông ta đã tự dặn mình và dạy con cháu :

    “ Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.”

    Tình thương ấy là một trong những cội nguồn của sức sống con người VN .VH dân tộc đã ghi chép lại thật cụ thể khát vọng nhân đạo của con người qua hai khía cạnh chủ yếu . Một là văn học cật lực tố cáo , phê phán các thế lực áp bức , chà đạp lên quyền sống chính đáng của con người và bày tỏ lòng thương cảm với những con người bị áp bức , đau khổ . Trước hết là trong VH dân gian :

    “ Thân em như hạt mưa sa

    Hạt vào đài các hạt ra ruộng cày.”

    Hay

    “ Thân em như tấm lụa đào

    Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai.”

    Trong xã hội phong kiến , người phụ nữ không được tự quyết định cuộc đời mình mà hoàn toàn phụ thuộc vào người khác. Họ dù xinh đẹp , tài hoa đến mấy thì cuộc đời vẫn xô đẩy , chà đạp không thương tiếc . Còn đối với Hồ Xuân Hương , tính đả kích XH lại được đẩy lên thật mạnh mẽ khi mà hang ngàn năm trôi qua mà người phụ nữ vẫn vậy . Đặc biệt , văn học hiện thực giai đoạn 1930-1945 cũng đã lên tiếng phê phán gay gắt , quyết liệt chế độ thực dân nửa PK , phản ánh cuộc sống tối tăm , thê thảm của người dân cày xứ thuộc địa . Ta bắt gặp chị Dậu trong cảnh sưu thuế đè nặng lên đôi vai làng Đông Xá , cái ngột ngạt trong tiếng mõ , tiếng tù và , tiếng quát tháo , đánh đập của bọn tay sai PK . Cúng giống như chị Dậu , anh Pha và Chí Phèo cũng vấp phải hoàn cảnh tương tự mặc dù trước đó họ lương thiện và tốt bụng biết bao. Liệu trong đời thực sẽ còn bao nhiêu Nghị lịa , Bá Kiến ức hiếp dành nữa? Song song với việc tốt cáo XH tàn nhẫn bất công , VH hiện thực VN đã khẳng định mạnh mẽ những phẩm chất tốt đẹp từ ngàn xưa . Ngay trong giờ phút khó khăn đen tối nhất của cuộc sống , những phẩm chất đó lại càng sáng ngời hơn bao giờ hết , Hai là , VH thể hiện ước mơ tha thiết về một XH công bằng , nhân đạo đối với con người . Trong VH dân gian , mỗi truyện cổ tích là một giấc mơ đẹp , người xưa mơ ước ở hiền gặp lành , ước mơ đổi đời , điều đó làm cho truyện cổ tích kết thúc có hậu . Ca dao ca ngợi tình nghĩa giữa con người với người . Các tác giả trung đại như Nguyễn Du lại hướng đến tư tưởng nhân đạo cao cả . Những vần thơ lục bát của dân tộc VN vượt qua mọi phong ba của lịch sử , vượt qua mọi sự tấn công của các thể thơ Trung Quốc vẫn giữ được nét uyển chuyển đáng yêu của con người VN . Kiều là một nạn nhân song Từ Hải lại là người anh hung chiến đấu cho chính nghĩa . Chính nghĩa đi từ nước này sang nước khác không có giấy thông hành , VH chân chính không có biên giới . Nhiều nhân vật trong VH chống Pháp , chống Mĩ xâm lược tiêu biểu cho lí tưởng anh hung CM . Ta tìm về với mẹ Tơm , mẹ Suốt , người mẹ giành cơm nuôi đồng chí , nuôi dưỡng và bảo vệ Đảng bằng buồng tim mình . Phản ánh con người và cuộc sống trong các mỗi quan hệ XH đã hình thành chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo trong VHVN.
    3.Văn học với ý thức bản thân con người

    Trong lịch sử và thực tiễn cuộc sống , con người luôn phải giải quyết mối quan hệ giữa tư tưởng vị kỉ và tư tưởng vị tha giữa ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng . Không phải bằng nguyên lí triết học mà bằng con đường riêng của nghệ thuật , VHVN đã phản ánh quá trình lựa chọn , đấu tranh để khẳng định đạo lí làm người quý báu của dân tộc VN trong sự kết hợp hài hòa hai phương diện đó. Trong những hoàn cảnh nghiệt ngã quyết liệt như đấu tranh chống giặc ngoại xâm , đấu tranh với thiên nhiên khắc nghiệt , con người VN buộc phải đề cao ý thức cộng đồng hơn ý thức cá nhân . Vì thế đôi khi con người ta phải hi sinh “ cái tôi “ cá nhân , coi thường mọi cám dỗ để bảo vệ đạo nghĩa và lí tưởng:

    “Nếu mai đây có chết một thân lôi

    Hai mươi tuổi tim đang dào dạt máu

    Hai mươi tuổi hồn quay trong gió bão.”Cái chết đó là cái chết cho cách mạng . Một cái chết mà như một du kích Pháp trước khi bị phát xít treo cổ nói : “ Tôi chết đi như chiếc lá rơi xuống , cho đất thêm màu , cho cây thêm tốt .” Đọc , ngta suy nghĩ . Một chân trời mới hiện ra , lí tưởng cộng sản chủ nghĩa vĩ đại . Ngta hiểu được long một người cộng sản . Nhưng trong hoàn cảnh khác ,như giai đoạn 1930-1945 hoặc từ sau 1986 đến nay , con người cá nhân thức tỉnh và được đề cao . Con người trong văn học các giai đoạn này đã suy ngẫm ý nghĩa cuộc sống trần thế , nghĩ đến quyền sống cá nhân , quyền hưởng tình yêu , hạnh phúc.Thể hiện “cái tôi” cá nhân cần khẳng định và Xuân Diệu đã làm được điều đó :

    “Ta là Một , là Riêng , là thứ Nhất

    Không có chi bè bạn nổi cùng ta.”

    Nhìn chung , trong quá trình phát triển , VHVN cố gắng vun đắp xây dựng một đạo lí làm người với nhiều phẩm chất tốt đẹp như nhân ái , thủy chung , tình nghĩa , vị tha , giáu đức hi sinh vì sự nghiệp chính nghĩa, đấu tranh chống chủ nghĩa khắc kỉ đề cao quyền sống của con người cá nhân nhưng không chấp nhận chủ nghĩa cá nhân cực đoan.

    C.Kết bài 

    Cuộc sống lên men ngây ngất . Những con người cầm sung “xung kích” dành giật từng mảnh đất với giặc lại lao vào cuộc chiến công hòa bình và văn học lại là chiếc máy quay nhỏ quay lại toàn cảnh xã hội . Văn học là nhân học , là tiếng nói của con người , là tấm gương phản chiếu thời đại . Đảng ta rất coi trọng văn học , cói nó như là một vũ khí đấu tranh sắc bén vì nó “ đã thể hiện chân thực , sâu sắc đời sống tư tưởng , tình cảm của con người VN trong nhiều mối quan hệ đa dạng “. VH có khả năng mang chính trị vào nhân dân như sức mạnh vật chất vậy . Chúng ta yêu cuộc sống của chúng ta , chúng ta yêu VH của chúng ta , một nền VH vì dân , do dân . Chúng ta không tiếc sức lực nhỏ bé của mình góp phần vào lực lượng mạnh mẽ đó . VH là sông mà mỗi người chúng ta phải là làn sóng nhỏ . Chúng ta vô cùng tán đồng với M.Gorki: “ Văn học là nhân học” . Một nền khoa học về con người thúc đẩy con người đi lên.

    ——————————————————————————————————————–

     – VĂN HỌC DÂN GIAN VÀ CÁC TÁC PHẨM VĂN HỌC DÂN GIAN TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC. TÁC DỤNG CỦA VĂN HỌC DÂN GIAN ĐỐI VỚI HỌC SINH TIỂU HỌC.

    NÊU NHẬN XÉT VỀ THỊ HIẾU CỦA HỌC SINH TIỂU HỌC ĐỐI VỚI CA DAO (ĐA SỐ CÁC EM THÍCH LOẠI CA DAO NÀO? VÌ SAO?).

    THỂ LOẠI CÂU ĐỐ VÀ CÂU ĐỐ TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIẾNG VIỆT TIỂU HỌC;

    Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy rằng, trong chương trình đổi mới SGK Tiếng Việt Tiểu học và sách Truyện đọc Tiểu học được biên soạn với nội dung chương trình phong phú. Trong đó, truyện dân gian cũng chiếm một số lượng tương đối lớn được phân bố rải rác từ lớp 1 đến lớp 5. Trong sách Tiếng Việt Tiểu học và sách Truyện đọc Tiểu học các thể loại truyện dân gian được biên soạn đan xen với nhau. Theo thống kê trong SGK Tiếng Việt Tiểu học và sách Truyện đọc Tiểu học, chúng tôi thu được kết quả như sau:

    Lớp Số lượng tác phẩm Tỉ lệ
    1 34 26%
    2 28 22%
    3 23 18%
    4 33 25%
    5 12 9%

    Như vậy ta thấy truyện dân gian trong chương trình Tiểu học chủ yếu phân bố ở các lớp 1, 2, 3, 4 còn lớp 5 chiếm số lượng ít hơn. Điều này cũng là dụng ý nghệ thuật của người biên soạn chương trình. Ở những lứa tuổi càng nhỏ thì những câu chuyện với các giá trị giáo dục lại càng cần thiết hơn.

    Đề bài: Hãy khảo sát trong chương trình Tiếng Việt lớp 2 đến lớp 5 các tác phẩm truyện dân gian, và văn vần dân gian.

    Bài làm.

    STT Lớp Tuần/Chủ điểm Nội dung Thể loại Tập Trang

    1.

    2

    1 – Em là học sinh Có công mài sắt có ngày nên kim Truyện ngụ ngôn 1 4
    2. 2 8 – Thầy cô Đổi giày. Truyện cười 1 68
    3. 2 10 – Ông bà Lên non mới biết non cao

    Nuôi con mới biết công lao mẹ thầy.

    Tục ngữ 1 85
    4. 2 11 – Ông bà Đi chợ. Truyện cười 1 92

    5.

    2

    11 – Ông bà

    – Nhà sạch thì mát

    Bát sạch ngon cơm.

    –    Cây xanh thì lá cũng xanh

    Cha mẹ hiền lành để đức cho con.

    – Thương người như thể thương thân.

    –     Cá không  ăn muối cá ươn

    Con cãi cha mẹ trăm đường con hư.

    Tục ngữ

    1

    93

    6. 2 13 – Cha mẹ Há miệng chờ sung. Truyện cười 1 109

    7.

    2

    13 – Cha mẹ

    – Dung dăng dung giẻ

    Dắt trẻ đi chơi

    Đến ngõ nhà trời

    Lạy cậu, lạy mợ

    Cho cháu về quê

    Cho dê đi học.

    Đồng dao

    1

    110

    8.

    2

    13 – Cha mẹ

    –      Làng tôi có lũy tre xanh.

    Có sông Tô Lịch chảy quanh xóm làng.

    Trên bờ vải nhãn hai hàng.

    Dưới sông cá lội từng đàn tung tăng.

    –          Ta về ta tắm ao ta

    Dù trong dù đục ao nhà vẫn hơn.

    Ca dao

    1

    110

    9.

    2

    14 – Anh em

    Câu chuyện bó đũa.

    Tryện ngụ ngôn

    1

    112

    10. 2 16 – Bạn trong nhà Trâu ơi. Ca dao 1 136

    11.

    2

    18 – Ôn tập cuối năm Cò và Vạc. Tuyện cổ dân gian 1 151

    12.

    2

    19 – Bốn mùa

    – Mồng một lưỡi trai, mồng hai lá lúa.

    – Kiến cánh vỡ tổ bay ra

    Bão táp mưa sa gần tới.

    –     Muốn cho lúa nảy bông to

    Cày sâu, bừa kĩ, phân gio cho nhiều.

    Tục ngữ

    2

    7

    13.

    2

    21 – Chim chóc

    –        Chân gì ở tít tắp xa

    Gọi là chân đấy nhưng mà không chân?

    –     Có sắc để uống hoặc tiêm

    Thay sắc bằng nặng là em nhớ bài?

    Câu đố

    2

    26

    14. 2 21 – Chim chóc Vè chim. 2 28
    15. 2 25 – Sông biển Sơn tinh, Thủy tinh.

    Truyện cổ DG

    2 60
    16. 2 28 – Cây cối Kho báu. Tuyện ngụ ngôn 2 83

    17.

    2

    28 – Cây cối

    –   Ơn trời mưa nắng phải thì

    Nơi thì bừa cạn, nơi thì cày sâu

    Công lênh chẳng quản bao lâu

    Ngày nay nước bạc ngày sau cơm vàng.

    Ai ơi đừng bỏ ruộng hoang,

    Bao nhiêu tấc đất, tác vàng bấy nhiêu.

    –     Tò vò mà nuôi con nhện

    Đến khi nó lớn, nó quyện nhau đi

    Tò vò ngồi khóc tỉ ti

    Nhện ơi, nhện hỡi, nhện đi đằng nào?

    Ca dao

    2

    85

    18.

    2

    28 – Cây cối

    Cái gì cao lướn lênh khênh

    Đứng mà không tựa ngã kềnh ra ngay?

    Câu đố

    2

    85

    19. 2 32 – Nhân dân Chuyện quả bầu. Tuyện cổ DG 2 116

    20.

    2

    32 – Nhân dân

    Đi đâu mà vội mà vàng

    Mà vấp phải đá, mà quàng phải dây

    Thong thả như chúng em đây

    Chẳng đá nào vấp, chẳng dây nào quàng.

    Ca dao

    2

    118

    21.

    2

    32 – Nhân dân

    –   Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    –   Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.

    Tục ngữ

    2

    122

    22.

    2

    33 – Nhân dân

    – Đông sao thì nắng, vắng sao thì mưa.

    – Tham thì thâm.

    – Tiên học lễ, hậu học văn.

    Tục ngữ

    2

    127

    23.

    2

    33 – Nhân dân

    Con công hay mua

    Nó múa làm sao?

    Nó rụt cổ vào

    Nó xòe cánh ra

    Đồng dao 2 127

    24.

    2

    33 – Nhân dân

    Con cò mà đi ăn đêm

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao

    Ông ơi ông vớt tôi vào

    Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng

    Có xáo thì xáo nước trong

    Đừng xáo nước đục đau lòng cò con.

    Ca dao

    2

    127

    25.

    2

    34 – Nhân dân

    Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn

    Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?

    Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng

    Đèn ra trước gió còn chăng hỡi đèn?

    Ca dao

    2

    135

    26. 3 1 – Măng non Cậu bé thông minh. Truyện cổ DG 1 4
    27. 3 1 – Măng non Anh em như thể tay chân Ca dao 1 8
    28. 3 2 – Măng non Ăn quả nhớ kẻ trồng cây

    Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

    Tục ngữ 1 17

    29.

    3

    3 – Mái ấm

    –      Vừa dài mà lại vừa vuông

    Giúp nhau kẻ chỉ, vạch đường thẳng băng?

    – Tên nghe nặng trịch

    Lòng dạ thẳng băng

    Vành tai thợ mộc nằm ngang

    Anh đi học vẽ sẵn sàng đi theo?

    Câu đố

    1

    22

    30.

    3

    3 – Mái ấm

    Bầu ơi thương lấy bí cùng

    Tuy rằng khác giống nhưng chung một giàn.

    Ca dao

    1

    25

    31.

    3

    4 – Mái ấm

    –      Hòn gì bằng đất nặn ra

    Xếp vào lò lửa nung ba bốn ngày

    Khi ra, da đỏ hây hây

    Thân hình vuông vắn đem xây cửa nhà?

    – Trắng phau cày thửa ruộng đen

    Bao nhiêu cây trắng mọc lên thành hàng?

    Câu đố

    1

    31

    32.

    3

    4 – Mái ấm

    – Con có cha như nhà có nóc.

    – Con cái khôn ngoan, vẻ vang cha mẹ.

    – Anh em như thể chân tay

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Ca dao

    1

    33

    33.

    3

    4 – Mái ấm

    Công cha như núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Ca dao

    1

    34

    34. 3 5 – Tới trường Chim khôn kêu tiếng rảnh rang

    Người khôn ăn nói dịu dàng dễ nghe.

    Ca dao 1 43
    35. 3 6 – Tới trường Dao có mài mới sắc, người có học mới khôn. Tục ngữ 1 51

    36.

    3

    7 – Cộng đồng

    – Mình tròn mũi nhọn

    Chẳng phải bò, trâu

    Uống nước ao sâu

    Lên cày ruộng cạn?

    –   Trên trời có giếng nước trong

    Con kiến chẳng lọt, con ong chẳng vào.

    Câu đố

    1

    56

    37. 3 7 – Cộng đồng Em thuận anh hòa là nhà có phúc Ca dao 1 59

    38.

    3

    8 – Cộng đồng

    Khôn ngoan đối đáp người ngoài

    Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau

    Tục ngữ

    1

    66

    39.

    3

    10 – Quê hương

    –    Đẻ nguyên ai cũng lặc lè

    Bỏ nặng, thêm sắc – ngày hè chói chang?

    –       Có sắc mọc ở xa gần

    Có huyền, vuốt thẳng áo quần cho em?

    –    Để nguyên giữa đầu và mình

    Đổi sang dấu ngã sẽ thành bữa ngon?

    –    Không dấu trời rét nằm cong

    Thêm huyền bay lả trên đồng quê ta

    Có hỏi xanh tươi mượt mà

    Trâu bò vui gặm nhẩn nha từng đàn?

    Câu đố

    1

    82

    40.

    3

    12 – Bắc, Trung, Nam

    –   Để nguyên – giúp bác nhà nông

    Thêm huyền ám miệng cụ ông, cụ bà

    Thêm sắc từ lúa mà ra

    Đố bạn đoán được đó là chữ chi?

    – Quen gọi là hạt

    Chẳng nở thành cây

    Nhà cao nhà đẹp

    Dùng tôi để xây?

    Câu đố

    1

    96

    41. 3 12 – Bắc, Trung, Nam

    Cảnh đẹp non sông.

    Ca dao 1 87

    42.

    3

    13 – Bắc, Trung, Nam

    – Vừa bằng hạt đỗ, ăn giỗ cả làng?

    –  Sông không đến, bến không vào

    Lơ lửng giữa trời làm sao có nước?

    –   Vừa bằng cái nong

    Cả làng đong chẳng hết?

    –      Con gì nhảy nhót leo trèo

    Mình đầy lông lá, nhăn nheo làm trò?

    – Trong nhà có bà hay quét?

    – Tên em không thiếu, chẳng thừa

    Chín vàng ngon ngọt rất vừa lòng anh?

    Câu đố

    1

    105

    43. 3 13 – Bắc, Trung, Nam Ít chắt chiu hơn nhiều phung phí Tục ngữ 1 108

    44.

    3

    14 – Anh em

    một nhà

    – Tay làm hàm nhai, tay quai miệng trễ.

    – Nhai kĩ no lâu, cày sâu tốt lúa.

    – Chim có tổ, người có tông.

    – Kiến tha lâu cũng đầy tổ.

    – Tiên học lễ, hậu học văn.

    Tục ngữ

    1

    120

    45. 3 15 – Anh em một nhà Hũ bạc của người cha. Cổ tích

    Chăm

    1

    121

    46.

    3

    15 – Anh em một nhà –    Lời nói chẳng mất tiền mua

    Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau.

    – Một điều nhịn, chín điều lành

    – Không thầy đố mày làm nên.

    Tục ngữ

    1

    127

    47. 3 16 – Thành thị và nông thôn Một cây làm chẳng nên non

    Ba cây chụm lại nên hòn núi cao

    Ca dao 1 135

    48.

    3

    16 – Thành  thị và nông thôn

    –      Công cha nhu núi Thái Sơn

    Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra.

    Một lòng thờ mẹ kính cha

    Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con.

    –       Con người có tổ có tông

    Như cây có cội, như sông có nguồn.

    Ca dao

    1

    137

    49.

    3

    16 – Thành thị và nông thôn Ba điều ước. Truyện cổ tích Bana

    1

    136

    50.

    3

    16 – Thành thị và nông thôn

    –     Cái gì mà lưỡi bằng gang

    Xới lên mặt đất những hàng thẳng băng

    Giúp nhà có gạo để ăn

    Siêng làm thì lưỡi sáng bằng mặt gương?

    –      Thuở bé em có hai sừng

    Đến tuổi nửa chừng mặt đẹp như hoa

    Ngoài hai mươi tuổi đã già

    Gần ba mươi lại mọc ra hai sừng?

    Câu đố

    1

    138

    51.

    3

    17 – Thành thị và nông thôn

    Mồ côi xử kiện.

    Truyện cổ tích Nùng

    1

    139

    52.

    3

    17 – Thành thị và nông thôn

    –     Cây gì gai mọc đầy mình

    Tên gọi như thể bồng bềnh bay lên

    Vừa thanh, vừa dẻo, lại bền

    Làm ra bàn ghế, đẹp duyên bao người?

    – Cây gì hoa đỏ như son

    Tên gọi như thể thổi cơm ăn liền

    Tháng ba đàn sáo huyên thuyên

    Ríu ran đến đậu đầy cành?

    Câu đố

    1

    142

    53.

    3

    17 – Thành thị và nông thôn

    – Tháng chạp thì mắc trồng khoai

    Tháng giêng trồng đậu, tháng hai trồng cà

    Tháng ba cày vỡ ruộng ra

    Tháng tư bắc mạ, thuận hòa mọi nơi

    Tháng năm gặt hái vừa rồi

    Bước sang tháng sáu, nước trôi đầy đồng.

    – Đèo cao thì mặc đèo cao

    Trèo lên đến đỉnh ta cao hơn đèo

    Đường lên, hoa lá vẫy theo

    Ngắt hoa cài mũ tai bèo ta đi.

    Ca dao

    1

    143

    54.

    3

    17 – Thành thị và nông thôn Đường vô xứ Nghệ quanh quanh

    Non xanh nước biếc như tranh họa đồ.

    Ca dao

    1

    145

    55. 3 17 – Thành thị và nông thôn Người nhát nhất. Truyện cười 1 150
    56. 3 19 – Bảo vệ tổ quốc Hai bà trưng. Truyền thuyết 2 4

    57.

    3

    19 – Bảo vệ tổ quốc

    –      Đúng là một cặp sinh đôi

    Anh thì lóe sáng, anh thời ầm vang

    Anh làm rung động không gian

    Anh xẹt một cái , rạch ngang bầu trời.

    – Miệng dưới biển, đầu trên non

    Thân dài uốn lượn như sóng

    Bụng đầy những nước trắng ngần

    Nuốt tôm cá, nuốt cả thân tàu bè

    Câu  đố

    2

    15

    58. 3 19 – Bảo vệ tổ quốc Nhiễu điều phủ lấy giá gương

    Người trong một nước phải thương nhau cùng.

    Ca dao 2 18

    59.

    3

    22 – Sáng tạo

    –      Mặt tròn mặt lại đỏ ngay

    Ai nhìn cũng phải nhíu mày vì sao

    Suốt ngày lơ lửng trên cao

    Đêm về đi ngủ chui vào nơi đâu?

    –     Cánh gì mà chẳng biết bay

    Chim hay sà xuống nơi đây kiếm mồi

    Đổi ngàn vạn giọt mồ hôi

    Bát cơm trắng dẻo, đĩa xôi thơm bùi?

    Câu đố

    2

    34

    60.

    3

    24 – Nghệ thuật

    Rủ nhau đi cấy đi cày

    Bây giờ khó nhọc, có ngày phong lưu.

    Ca dao

    2

    54

    61. 3 26 – Lễ hội Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử Cổ tích 2 65

    62.

    3

    26 – Lễ hội

    Dù ai đi ngược về xuôi

    Nhớ ngày giỗ Tổ mồng mười tháng ba.

    Ca dao

    2

    70

    63. 3 30 – Ngôi nhà chung Uốn cây từ thuở còn non

    Dạy con từ thưở con còn bi bô

    Ca dao 2 103

    64.

    3

    31 – Ngôi nhà chung

    – Dáng hình không thấy, chỉ nghe

    Chỉ nghe xào xạc vo ve trên cành

    Vừa ào ào giữa rừng xanh

    Đã về bên cửa rung mành leng keng?

    –      Giọt gì từ biển, từ sông

    Bay lên lơ lửng mênh mông lưng trời

    Cõi tiên thơ thẩn rong chơi

    Gặp miền giá rét lại rơi xuống liền?

    Câu đố

    2

    108

    65. 3 33 – Bầu trời và mặt đất Cóc kiện trời. Truyện cổ DG 2 122
    66. 3 33 – Bầu trời và mặt đất Yêu trẻ, trẻ hay đến nhà

    Kính già, già để tuổi cho

    Ca dao 2 127

    67.

    3

    33 – Bầu trời và mặt đất

    –     Nhà xanh lại đóng đố xanh

    Tra đỗ, trồng hành, thả lợn vào trong?

    – Lòng chảo mà chẳng nấu kho

    Lại có đàn bò gặm cỏ ở trong

    Chảo gì mà rộng mênh mông

    Giữa hai sườn núi, cánh đồng cò bay?

    Câu đố

    2

    129

    68.

    3

    34 – Bầu trời và mặt đất Sự tích chú cuội cung trăng. Truyện cổ DG

    2

    131

    69.

    3

    34 – Bầu trời và mặt đất – Lưng đằng trước, bụng đằng sau

    Con mắt ở dưới, cái đầu ở trên?

    –     Một ông cầm hai cây sào

    Đuổi đàn cò trắng chạy vào trong hang?

    Câu đố

    2

    133

    70. 3 34 – Bầu trời và mặt đất Tháp mười đẹp nhất bông sen

    Việt Nam đẹp nhất có tên Bác Hồ.

    Ca dao 2 135

    71.

    4

    1 – Thương người như thể thương thân

    –   Muốn tìm Nam, Bắc, Đông, Tây

    Nhìn mặt tôi, sẽ biết ngay hướng nào?

    –       Hoa gì trắng xóa núi đồi

    Bản làng thêm đẹp khi trời vào xuân?

    –      Để nguyên, lấp lánh trên trời

    Bớt đầu, thành chỗ cá bơi hàng ngày.

    Câu đố

    1

    6+7

    72.

    4

    1 – Thương người như thể thương thân Bớt đầu thì bé nhất nhà

    Đầu đuôi bỏ hết hóa ra béo tròn

    Để nguyên, mình lại thon thon

    Cùng cậu trò nhỏ lon ton tới trường?

    Câu đố

    1

    12

    73.

    4

    1 – Thương

    người như thể thương thân

    – Để nguyên tên một loài chim

    Bỏ sắc thường thấy ban đêm trên trời?

    – Để nguyên vằng vặc trời đêm

    Thêm sắc màu phấn cùng em tới trường?

    Câu đố

    1

    17

    74.

    4

    2 – Thương người như thể thương thân –  Ở hiền gặp lành.

    –  Trâu buộc ghét trâu ăn.

    Tục ngữ

    1

    17

    75.

    4

    2 – Thương người như thể thương thân – Môi hở răng lạnh.

    – Máu chảy ruột mềm.

    – Nhường cơm sẻ áo.

    – La lành đùm lá rách.

    Tục ngữ

    1

    34

    76.

    4 4 – Măng mọc thẳng Những hạt thóc giống. Truyện DG 1 46

    77.

    4

    4 – Măng mọc thẳng

    –     Mẹ thì sống ở trên bờ

    Con sinh ra lại sống nhờ dưới ao.

    Có đuôi bơi lội lao xao

    Mất đuôi tức khắc nhảy nhao lên bờ?

    –      Chim gì lượn tựa con thoi

    Báo mùa xuân đẹp giữa trời say xưa?

    Câu đố

    1

    48

    78.

    4

    5 – Măng mọc thẳng

    – Thẳng như ruột ngựa.

    – Giấy rách phải giữ lấy lề.

    – Thuốc đắng dã tật.

    – Cây ngay không sợ chết đứng.

    – Đói cho sạch, rách cho thơm.

    Tục ngữ

    1

    49

    79.

    4

    7 – Trên đôi

    cánh ước mơ

    – Rủ nhau chơi khắp Long Thành

    Ba mươi sáu phố rành rành chẳng sai:

    Hàng bồ, hàng bạc, hàng gai

    Hàng buồm, hàng thiếc, hàng hài, hàng Khay

    Mã Vĩ, hàng Điếu, hàng giày

    Hàng Lờ, hàng cót, hàng mây, hàng Đàn

    Phố Mới, phúc kiến, hàng Than

    Hàng mã, hàng mắm, hàng Nang, hàng Đồng

    Hàng muối, hàng nón, Cầu Đông

    Hàng hòm, hàng đậu, hàng bông, hàng bè

    Hàng thùng, hàng bát, hàng tre

    Hàng The, hàng giấy, hàng Gà

    Quanh quanh về đến hàng Da

    Trải xem phường phố thật là đẹp xinh.

    –      Chim trời ai dễ đếm lông

    Nuôi con ai dễ kể công tháng ngày.

    – Má ơi đừng đánh con đau

    Để con bắt ốc, hái rau má nhờ.

    –       Đi cho biết dó biết đây

    Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn.

    Ca dao

    1

    74

    80. 4 11 – Có chí thì nên Ông trạng thả diều. Truyền thuyết 1 104

    81.

    4

    11 – Có chí thì nên

    – Có công mài sắt, có ngày nên kim.

    –       Ai ơi đã quyết thì hành

    Đã đan thì lận tròn vành mới thôi!

    – Thua keo này, bày keo khác.

    – Người có chí thì nên

    Nhà có nền thì vững.

    – Hãy lo bền chí câu cua

    Dù ai câu chạch, câu rùa mặc ai!

    – Chớ thấy sóng cả mà rã tay chèo.

    – Thất bại là mẹ thành công.

    Tục ngữ

    1

    108

    82.

    4

    12 – Có chí thì nên

    Rùa và Thỏ.

    Truyện ngụ ngôn

    1

    112

    83.

    4

    12 – Có chí thì nên

    – Lửa thử vàng, gian nan thử sức

    –         Nước lã mà vã nên hồ

    Tay không mà nổi cơ đồ mới ngoan.

    –        Có vất vả mới thanh nhàn

    Không dưng ai dễ cầm tàn che cho.

    Tục ngữ

    1

    118

    84.

    4

    16 – Tiếng sáo diều

    – Chơi với lửa.

    – Ở chọn nơi, chơi chọn bạn.

    – Chơi diều đứt dây.

    – Chơi dao có ngày đứt tay.

    Tục ngữ

    1

    157

    85. 4 19 – Người ta là hoa đất Bốn anh tài. Truyện cổ DG 2 4

    86.

    4

    19 – Người ta là hoa đất

    – Người ta là hoa đất.

    – Chuông có đánh mới kêu

    Đèn có khêu mới tỏ.

    Tục ngữ

    2

    11

    87. 4 20 – Người ta là hoa đất Ăn được ngủ được là tiên

    Không ăn không ngủ mất tiền thêm lo.

    Tục ngữ 2 19

    88.

    4

    23 – Vẻ đẹp muôn màu

    – Tốt gỗ hơn tốt nước sơn.

    – Cái nết đánh chết cái đẹp.

    – Trông mặt mà bắt hình dong

    Con lợn có béo thì lòng mới ngon.

    – Vỏ quýt dày có móng tay nhọn.

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn.

    – Có học phải có hành.

    Tục ngữ

    2

    52

    89.

    4

    24 – Vẻ đẹp muôn màu

    – Để nguyên loại quả thơm ngon

    Thêm hỏi – co lại chỉ còn bé thôi?

    – Thêm nặng mới thật lạ đời

    Bỗng nhiên thành vết xoong nồi nhọ nhem?

    – Bình thường dùng gọi chân tay

    Muốn có bút vẽ thêm ngay dấu huyền.

    Thêm hỏi làm bạn với kim

    Có dấu nặng, đúng người trên mình rồi?

    Câu đố

    2

    57

    90.

    4

    25 – Những người quả cảm Cái gì cao lướn lênh khênh

    Đứng mà không tựa ngã kềnh ra ngay?

    Câu đố

    2

    69

    91.

    4

    29 – Khám phá thế giới

    – Sông gì đỏ nặng phù sa?

    – Sông gì lại hóa được ra chín rồng?

    – Làng quan họ có con sông

    Hỏi dòng sông ấy tên gì?

    – Sông tên xanh biếc sông chi?

    – Sông gì tiếng vó ngựa phi ngang trời?

    –   Sông gì chẳng thể nổi lên

    Bởi tên của nó gắn liền dưới sâu?

    – Hai dòng sông trước sông sau

    Hỏi hai sông ấy ở đâu, sông nào?

    –      Sông nào nơi ấy sóng trào

    Vạn quân Nam Hán tâ đào mồ chôn?

    Câu đố

    2

    105

    92. 4 34 – Tình yêu và cuộc sống Nói ngược. Vè DG 2 154
    93. 4 34 – Tình yêu cuộc sống Ăn mầm đá. Truyện DG 2 158

    94.

    5

    3 – Việt Nam tổ quốc em

    – Chịu thương chịu khó.

    – Dám nghĩ dám làm.

    – Muôn người như một.

    – Trọng nghĩa khinh tài.

    – Uống nước nhớ nguồn.

    Tục ngữ

    1

    27

    95.

    5

    3 – Việt Nam tổ quốc em

    – Cáo chết ba năm quay đầu về núi.

    – Lá rụng về cội.

    – Trâu bảy năm còn nhớ chuồng.

    Tục ngữ

    1

    33

    96.

    5

    4 – Cánh chim hòa bình

    – Chết vinh còn hơn sống nhục.

    – Gạn đục khơi trong.

    – Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng.

    – Anh em như thể tay chân

    Rách lành đùm bọc, dở hay đỡ đần.

    Tục ngữ

    1

    39

    97.

    5

    4 – Cánh chim hòa bình – Ăn ít ngon nhiều.

    – Ba chìm bảy nổi.

    – Nắng chóng trưa, mưa chóng tối.

    Tục ngữ

    1

    43

    98.

    5

    5 – Cánh chim hòa bình

    –     Trùng trục như con chó thui

    Chín mắt, chín mũi, chín đuôi, chín đầu?

    –     Hai cây cùng có một tên

    Cây xòe mặt nước, cây trên chiến trường?

    Cây này bảo vệ quê hương

    Cây kia hoa nở soi gương mặt hồ?

    Câu đố

    1

    52

    99.

    5

    6 – Cánh chim hòa bình

    – Cầu được ước thấy.

    – Năm nắng, mười mưa.

    – Nước chảy đá mòn.

    Tục ngữ

    1

    56

    100.

    5

    8 – Con người với thiên nhiên – Lên thác xuống ghềnh.

    – Góp gió thành bão.

    – Khoai đất lạ, mạ đất non.

    Tục ngữ, thành ngữ

    1

    78

    101.

    5

    9 – Con người với thiên nhiên

    Cái cò, cái vạc, cái nông

    Sao mày giẫm lúa nhà ông, hỡi cò?

    Không không, tôi đứng trên bờ

    Mẹ con cái diệc đổ ngờ cho tôi

    Chẳng tin ông đến mà coi,

    Mẹ con nhà nó còn ngồi đấy kia.

    Ca dao

    1

    93

    102.

    5

    9 – Con người với thiên nhiên

    Đèn khoe đèn tỏ hơn trăng

    Đèn ra trước gió còn chăng, hỡi đèn?

    Trăng khoe trăng tỏ hơn đèn

    Cớ sao trăng phải chịu luồn đám mây?

    Ca dao

    1

    94

    103.

    5

    10 – Ôn tập học kì I

    –       Nói lời phải giữ lấy lời

    Đừng như con bướm đậu rồi lại bay.

    –       Tốt gỗ hơn tốt nước sơn

    Xấu người đẹp nết còn hơn đẹp người.

    Tục ngữ

    1

    98

    104.

    5

    17 – Vì hạnh phúc con người – Có mới nới cũ.

    – Xấu gỗ, tôt nước sơn.

    – Mạnh dùng sức, yếu dùng mưu.

    Tục ngữ

    1

    167

    105. 5 17 – Vì hạnh phúc con người Ca dao về lao động sản xuất Ca dao 1 168
    106. 5 19 – Người công dân Làm việc cho cả ba thời Truyện vui DG 2 7

    107.

    5

    19 – Người công dân

    –     Hoa gì đơm lửa rực hồng

    Lớn lên hạt ngọt đầy tràn bị vàng?

    – Hoa nở trên mặt nước

    Lại mang hạt trong mình

    Hương bay qua hồ rộ

    Lá đội đầu mướt xanh?

    Câu đố

    2

    7

    108. 5 20 – Người công dân Giữa cơn hoạn nạn. Truyện vui DG 2 17
    109. 5 21 – Người công dân Bởi chưng bác mẹ tôi nghèo

    Cho nên tôi phải băm bèo, thái khoai.

    Ca dao 2 33

    110.

    5

    7 – Nhớ nguồn

    –      Muốn sang thì bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

    –     Núi cao bởi có đất bồi

    Núi chê đất thấp núi ngồi ở đâu?

    –     Con có cha như nhà có nóc

    Con không cha như nòng nọc đứt đuôi.

    –     Nói chín thì phải làm mười

    Nói mười làm chín, kẻ cười người chê.

    –        Sông sâu còn có kẻ dò

    Nào ai lấy thước mà đo lòng người.

    –     Chiều chiều ra đứng ngõ sau

    Trông về quê mẹ ruột đau chín chiều.

    – Trách người một, trách ta mười

    Bởi ta tệ trước nên người tệ sau.

    –          Có làm thì mới có ăn

    Ngồi không ai dễ đen phần tới cho.

    Ca dao,

    Tục ngữ

    2

    91

    111.

    5

    31 – Nam và nữ

    – Chỗ ướt mẹ nằm, chỗ ráo con lăn.

    – Nhà khó cậy vợ hiền, nước loạn nhờ tướng giỏi.

    – Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh.

    – Trên kính dưới nhường.

    – Kính lão đắc thọ.

    – Kiến tha lâu cũng đầy tổ.

    – Chọn bạn mà chơi.

    – Mật ngọt chết ruồi.

    – Tre già măng mọc.

    – Một con sâu làm giàu nồi canh.

    – Nhập gia tùy tục.

    – Ăn trông nồi, ngồi trông hướng.

    Tục ngữ

    2

    129

    ———————————————————————————————————————

    – THẠCH LAM VÀ TÁC PHẨM CỦA ÔNG TRONG CHƯƠNG TRÌNH TIỂU HỌC

    Thạch Lam là tên tuổi nổi bật của nền van học Việt Nam giai đoạn 1930- 1945. Với độc giả, ba tác giả này khá quen thuộc và gần gui bởi từ lâu những sáng tác của họ đã in đậm dấu ấn trong tâm thức nhiều thế hệ.

    Trong số những ñại diện xuất sắc của nền van học Việt Nam truớc Cách mạng tháng Tám, ngoài Thạch Lam, Nam Cao, Nguyên Hồng, những nguời viết về những vấn ñề liên quan ñến trẻ em không

    nhiều. Ðây là ba cây bút có nhiều “duyên nợ” với thế giới trẻ tho. Không giống nhu nhiều tên tuổi khác trong giai ñoạn van học 1930 -1945 thuờng huớng ñến ñề tài nguời nông dân bị tha hoá, bần cùng hoá, nguời trí thức nghèo hay những kẻ luu manh ở ñô thị, ba tác giả này còn có một mảng riêng, ghi ñuợc dấu ấn trong lòng nguời ñọc: mảng sáng tác về ñề tài trẻ em – ñối tuợng cần ñuợc quan tâm, yêu thuong và bảo vệ. Nhờ họ, nguời ñọc có ñiều kiện hiểu sâu hon về những số phận khốn cùng, những bi kịch và thân phận con nguời trong xã hội thực dân phong kiến. Chính vì vậy, mảng truyện này ñã hấp dẫn nhiều ñộc giả, nhất là trẻ em, bởi nhờ thế, nguời ñọc nhỏ tuổi có thể tìm thấy bóng dáng mình ở ñấy và nguời lớn nhu ñuợc quay về với thế giới tuổi tho của mình.

    Ở Việt Nam, truớc Cách mạng tháng Tám, van học thiếu nhi rất ít ñuợc coi trọng. Từ những nam 20 của thế kỉ truớc, van học cho trẻ em mới bắt ñầu ñuợc chú ý thông qua những cuộc cách tân van học theo xu huớng hiện ñại hoá do chịu ảnh huởng của van học phuong Tây. Ðến những nam 30, van học viết cho trẻ em trở nên phong phú hon. Nhóm Tự lực van ñoàn cho xuất bản các loại sách: Sách Hồng, Hoa Mai, Hoa Xuân, Học Sinh, Tuổi Xanh, Truyền Bá… Các nhà van thuộc xu huớng hiện thực nhu Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam, Nguyên Hồng, Nam Cao, Tô Hoài, Tú Mỡ… ñã có ý thức viết cho các em lành mạnh hon. Những trang viết của họ chứa chan tinh thần nhân ñạo và thấm ñẫm khuynh huớng hiện thực.

    Thạch Lam tên thật là Nguyễn Tuờng Vinh, sau ñổi thành Nguyễn Tuờng Lân, sinh nam 1909. Thạch Lam bắt ñầu hoạt ñộng van học từ 1932, thành viên của Tự lực van ñoàn. Ông tham gia biên tập các tờ tuần báo Phong hóa, Ngày nay. Ông  mất vì bệnh lao ngày 26-2- 1942 tại Yên Phụ – Hà Nội.  Mặc dù trên van ñàn van học Việt Nam truớc Cách mạng tháng Tám, Thạch Lam chua ñuợc xếp ở vị trí số một nhung cung là một tên tuổi rất ñáng coi trọng và khẳng ñịnh, bởi ông ñã có nhiều ñóng góp vào sự phát triển của truyện ngắn Việt Nam, trong ñó có

    mảng van học viết cho thiếu nhi. Về bút pháp, Thạch Lam là nhà van mở ñầu cho một giọng ñiệu riêng – giọng ñiệu trữ tình trong truyện ngắn. Truyện của Thạch

    Lam thuờng không có cốt truyện (hoặc cốt truyện rất ñon giản) nhung lại chan chứa tình cảm. Ông có biệt tài ñi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vật với những cảm giác, cảm xúc mo hồ, mongmanh, tinh tế. Hai yếu tố hiện thực và lãng mạn trữ tình luôn ñan cài, xen kẽ, tạo nên nét ñặc thù khó lẫn trong phong cách nghệ thuật của Thạch Lam.

    Các nhân vật trẻ em trong nhiều truyện ngắn của Thạch Lam  dù bị vùi dập, nguợc ñãi, ñày ñọa nhung vẫn giữ ñuợc sự trong sáng, thanh khiết vốn có của mình. Bên cạnh những mảnh ñời lấm láp, truyện của Thạch Lam cung suởi ấm nguời ñọc bằng những tâm hồn trẻ tho thanh khiết, trong sáng và giàu lòng nhân ái. Ðó là hình ảnh cậu bé Son trong Gió lanh ñầu mùa. Hay những rung ñộng sâu xa trong lòng cô bé Liên ñối với những ñứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ. – Bên cạnh một hiện thực u ám, ñói nghèo, nguời ñọc còn nhận thấy bi kịch trẻ tho trong sáng tác Thạch Nam còn ñến từ sự tàn héo, cũ mòn của cái “ao đời bằng phẳng”. Hai đứa trẻ là một minh chứng. Xây dựng hình tuợng những ñứa trẻ bất hạnh – nạn nhân trực tiếp của hoàn cảnh gia ñình và xã hội, Thạch Lam, muốn gióng lên một hồi chuông khẩn thiết: Trẻ con cần phải khôn lớn, cần phải ñuợc yêu thuong, cần phải biết uớc mo và khát vọng khám phá thế giới kì diệu xung quanh, nhất là tìm ñuợc mục ñích sống cho riêng mình. – Ngòi bút Thạch Lam trân trọng và tinh tế khi phát hiện những uớc mo thầm kín trong thế giới trẻ tho. Liên, An trong Hai ñứa trẻ luôn uớc mo, khao khát ñuợc vuon tới một cuộc sống tốt ñẹp hon, có ý nghia hon.

    Vốn tinh tế nhẹ nhàng, Thạch Lam cung ñã tạo ấn tuợng với độc giả bằng những tình huống truyện mang đậm phong cách của nguời viết. Tình huống truyện ngắn của Thạch Lam guợng nhẹ hon rất nhiều so với những nhà van cùng thời nhung vẫn gợi ñuợc những rung ñộng sâu xa trong lòng nguời ñọc về vẻ ñẹp trong sáng, tâm hồn thanh khiết của những ñứa trẻ bị cuộc ñời vùi dập, ñọa ñầy.

    – Thạch Lam thuờng không miêu tả những bùng vỡ từ mốixung ñột gay gắt của sự kiện, mà từ việc sử dụng tài tình các chi tiết, sự kiện ñó cứ lúc lại nhói lên với sự hắt hiu, mòi mỏi của những nỗi niềm bất trắc, những nếp u ẩn, khuất lấp trong tâm hồn của từng số phận. Sự kiện trong truyện Thạch Lam là những sự thực khêu gợi cảm giác, tự nhận thức.

    -Ngôn ngữ trần thuật trong những sáng tác của Thạch Lam giản dị mà tinh tế, nhẹ nhàng mà giàu hình ảnh, cảm xúc và nhiều khi “rất đậm chất thơ”.

    ————————————————————————————————

    HÃY PT TRUYỆN TẤM CÁM ĐỂ CMR VHDG LÀ SỰ KẾT HỢP ĐAN XEM NHIỀU LOẠI HÌNH THÁI Ý THỨC (THẨM MỸ, TÍN NGƯỠNG, TÔN GIÁO, TRIẾT HỌC, KHOA HỌC SƠ KHAI)

    Tính triết lý trong tấm cám

    1. Mở đầu

    Trong nhiều quy luật đời sống, quy luật nhân quả bao trùm tất cả mọi quy luật. Từ triết học cổ đại như Bà-la-môn giáo, Phật giáo, Đạo giáo đến triết học Mac-Lê-nin đều thừa nhận quy luật nhân quả. Quy luật này chi phối mọi hoạt động đời sống, có nhân ắt có quả. Ngay trong lĩnh vực tự nhiên cũng tuân theo quy luật này. Lomonosov trong định luật bảo toàn năng lượng đã phát biểu: Năng lượng không tự sinh ra cũng không tự mất đi mà chỉ chuyển từ dạng này sang dạng khác hay chuyền từ vật này sang vật khác. Trong văn học, ở thể loại truyện cổ tích, triết lý nhân quả là bộ xương sống xuyên suốt, chi phối kết cấu, nội dung, nghệ thuật, ý nghĩa của truyện. Mỗi câu chuyện trong truyện cổ tích là một bài học đầy ý nghĩa, mang đậm tính triết lý nhân sinh. Truyện cổ tích Tấm Cám là một trong những tác phẩm tiêu biểu của tuyện cổ tích, mang triết lý nhân quả sâu sắc.

    1. Giới thuyết thuật ngữ

    Để đi vào vấn đề nghiên cứu, trước hết cần làm rõ một số thuật ngữ trong đề tài này.

            “Triết lý” là một thuật ngữcó nguồn gốc từ tiếng Hy lạp cổ là philosophia, nghĩa là con đường, hướng đi. Martin Heidegger, nhà triết học Đức định nghĩa triết lý là suy lý, suy tưởng. Còn theo Từ điển Tiếng Việt (Hoàng Phê, Từ điển bách khoa, 2010), triết lý có nghĩa là lý luận. Triết lý, theo nghĩa rộng là quan điểm, phương hướng tư duy của con người về một đối tượng, vấn đề nào đó.

    “Nhân quả”, theo nghĩa chiết tự, nhân là hạt (hột), quả là trái. Nghĩa khái quát, nhân quả là cặp phạm trù chỉ mối quan hệ sản sinh của các sự vật hiện tượng, hiện tượng trong hiện thực khách quan, chỉ mối liên hệ tất yếu, phổ biến giữa các sự vật, hiện tượng. Trong đó, cái sản sinh là nguyên nhân, cái được sản sinh là kết quả.

    Truyện cổ tích:một thể loại của văn học dân gian, phản ảnh mâu thuẫn trong xã hội có có cấp, thông qua xung đột giữa cái thiện và cái ác. Qua đó, phản ánh khát vọng dân chủ, công bằng, hạnh phúc của nhân dân lao động.

    “Tấm Cám” là một truyện cổ tích thần kỳ, tiêu biểu cho thể loại cổ tích*, mang đậm đặc trưng của thể loại cổ tích. Nét đặc biệt ở Tấm Cám là triết lý nhân quả biểu hiện rất sâu sắc, vừa mang nét chung của truyện cổ tích, vừa có nét độc đáo, sáng tạo riêng.

    III. Thực trạng vấn đề triết lý nhân quả trong truyện cổ tích

    Truyện cổ tích gắn bó máu thịt với đời sống văn hóa tinh thần của nhân dân, được lưu truyền qua bao thế hệ. Trải qua hàng nghìn năm lịch sử với bao biến đổi thăng trầm, truyện cổ tích được sàng lọc qua sự thử thách khắc nghiệt của thời gian. Những giá trị của truyện cổ tích được lưu truyền đến ngày nay đã khẳng định sức sống lâu bền của nó trong dòng lịch sử dân tộc. Vậy điều gì đã tạo nên sức sống bất diệt của truyện cổ tích ? Phải chăng đó là giá trị nhận thức, giá trị giáo dục và giá trị thẩm mỹ của nó. Những giá trị đó lồng giá trị văn hóa, ẩn trong tiềm thức, thấm trong máu thịt của con người trong đối nhân xử thế nhau hằng ngày. Tất cả các truyện cổ tích đều cùng một bản chất, chung một quy luật, đó là nhân quả. Đọc truyện cổ tích mà không thấy được bài học nhân quả, đó là điều thật đáng tiếc. Do sống trong thời “bão mạng”, thiếu niên ngày nay ít đọc sách, truyện cổ tích càng ít đọc. Trong chương trình Văn học ở trường phổ thông, một số truyện cổ tích được chọn lọc để đưa vào giảng dạy, tuy nhiên cách tiếp cận của giáo viên đâu đó còn hời hợt, chưa khái quát được đặc điểm quy luật của truyện cổ tích qua các tác phẩm. Trong khi đó, học sinh chỉ tiếp nhận những đơn vị kiến thức rời rạc, thiếu hệ thống, không rút ra được bài học ứng xử cần thiết của mình trong cuộc sống, đó là quy luật nhân quả. Nhiều người nghĩ nhân quả là duy tâm, thực ra nó hoàn toàn khoa học. Trộm cắp, bạo lực, giết hại, lừa gạt, giả dối, tàn phá môi trường … đều do mơ hồ, “vô minh” về nhân quả mà gây ra. Đừng nói “xưa như cổ tích”. Bài học nhân quả trong truyện cổ tích nói chung, truyện cổ tích “Tấm Cám” nói riêng, ngày nay cần thiết được nhận thức hơn bao giờ hết.

    1. Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích nói chung

            Triết lý nhân quả chi phối toàn bộ quá trình hình thành và phát triển của truyện cổ tích về nhiều mặt : đề tài, chủ đề, xây dựng cốt truyện, nhân vật … Nếu thiếu nó thì truyện cổ tích thần kỳ không đứng vững hoặc không còn là nó nữa.

    Theo quan niệm dân gian, triết lý nhân quả chính là triết lý “Ở hiền gặp lành”, “Ở ác gặp dữ”, đây là niềm tin và mơ ước của nhân dân về lẽ công bình. Đối với các nhân vật chính diện như Sọ Dừa, Thạch Sanh, người em trong truyện “Cây khế” tác giả dân gian không chỉ dừng lại ở sự phản ánh và cảm thông với với nỗi đau khổ, đắng cay, oan ức của họ mà còn đặc biệt quan tâm, tìm cách để tìm đường giải thoát cho họ, để họ được đền bù xứng đáng. Nhờ vậy mà nhân vật chính diện trong truyện cổ tích được đổi đời, làm cho người kể lẫn người nghe đều hả hê, sung sướng (Sọ Dừa thi đỗ trạng nguyên và lấy được con gái phú ông, Thạch Sanh lấy công chúa và lên làm vua…).

    Đối với các nhân vật phản diện (Lý Thông, người anh tham lam trong truyện Cây khế …) thì tác giả dân gian không chỉ phản ánh, tố cáo, lên án sự tham lam, ích kỷ, độc ác, dã man của chúng mà còn tìm cách loại trừ, tiêu diệt chúng để cho người lương thiện được sống yên vui. Vì thế hầu hết các nhân vật phản diện trong truyện cổ tích đều dẫn đến kết cục bi thảm và bị trừng phạt đích đáng.

    Mức độ thưởng, phạt (quả) đối với các nhân vật được thực hiện có phân biệt, tương ứng vớitài đức, tội trạng (nhân) của từng nhân vật. Thạch sanh có tài năng, đức độ, có nhiều công tích được lấy công chúa và làm vua, Sọ Dừa thì đỗ trạng. Người em (trong truyện Cây khế) là người nghèo khổ, hiền lành, thật thà nhưng không có tài năng, công tích gì đặc biệt nên chỉ được chim thần cho vàng (vừa đầy túi ba gang) để trở thành giàu có mà thôi. Đối với các nhân vật phản diện, sự trừng phạt cũng có sự phân biệt rõ rệt, Lý Thông tham của, tham sắc, tham danh vọng, địa vị, vong ân bội nghĩa, lợi dụng, lừa gạt, cướp công và hãm hại Thạch Sanh thì bị trời đánh hóa thành kiếp bọ hung, đời đời chui rúc nơi hôi hám. Người anh trong truyện cây khế ích kỷ tham lam thì chim thần cũng chiều theo tham vọng của hắn để cho hắn phải tự chuốc lấy cái chết nhục nhã.

    Vậy, sự thưởng phạt trong truyện cổ tích đối với các nhân vật tuân theo triết lý nhân quả : nhân nào quả ấy. Triết lý nhân quả có mục đích giáo dục đạo lý làm người, khẳng định niềm tin và ước mơ của nhân dân vào công lý, chính nghĩa. Về phương diện nghệ thuật, triết lý nhân quả có vai trò tạo nên mạch logic để xây dựng cốt truyện, cũng như có tác dụng liên kết các tình tiết, sự việc trong truyện cổ tích.

    1. Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám

    Truyện cổ tích Tấm Cám có sự kết hợp, hòa trộn giữa niềm tin và triết lý truyền thống “Ở hiền gặp lành” của nhân dân và thuyết luân hồi quả báo (thiện giả thiện báo, ác giả ác báo) của đạo Phật. Vì vậy triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám có sự đặc biệt hơn với nhiều truyện cổ tích khác.

    1/ Quan hệ nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám

    1.1/ Tấm hiền lành, lương thiện nên được Bụt giúp đỡ đắc lực :

    Bản chất của Tấm là hiền lành, thật thà, chăm chỉ, chịu thương chịu khó, hiếu thảo. Đây là cái “nhân” tốt để Tấm nhận “quả” lành. Điều này thật rõ ràng và dễ dàng nhận thấy qua việc Tấm luôn nhận được sự giúp đỡ của Bụt trong những hoàn cảnh khó khăn, đau khổ, bế tắc. Tại sao Bụt giúp Tấm ? Vì Tấm hiền lành, lương thiện nhưng bị mẹ con dì ghẻ chèn ép, đày đọa. Bụt đứng về cái thiện, bênh vực, ủng hộ cái thiện nên Bụt giúp đỡ Tấm trong bất kỳ tình huống khó khăn, đau khổ, bế tắc nào. Bụt xuất hiện rất nhanh, bất ngờ, đúng lúc và giúp đỡ Tấm một cách hoàn toàn vô tư, sẵn lòng – điều mà Tấm không ngờ tới, không nghĩ đến chuyện cầu cứu ở Bụt. Tấm bị Cám lừa trút mất giỏ tôm tép, Bụt cho Tấm con cá bống (và thần chú) để Tấm có người bạn an ủi. Mẹ con Cám giết bống ăn thịt, Bụt bày cho Tấm cách chôn xương bống, chứa đựng phép màu mà Tấm không ngờ tới. Mụ dì ghẻ bày việc trộn chung một đấu gạo và một đấu thóc rồi bắt Tấm nhặt để không cho Tấm đi xem hội, Bụt sai chim sẻ giúp Tấm.

            1.2/ Tấm biết vực dậy đấu tranh đến cùng để chống lại cái ác, cái xấu nên Tấm mới có được hạnh phúc đích thực và bền vững  :

    Trong truyện cổ tích, nhân vật thần kỳ có vai trò “mở nút” cho sự bế tắc của nhân vật chính. Nếu không có nhân vật thần kỳ, nhân vật chính – người hiền lành, lương thiện mà yếu đuối, thân cô thế cô – sẽ hoàn toàn bế tắc, không có lối thoát. Nếu thế, câu chuyện sẽ không được tiếp tục phát triển, đi đến kết thúc nhanh chóng, không có kịch tính, thiếu hấp dẫn và mối quan hệ nhân quả sẽ không xảy ra.

    Truyện Tấm Cám vừa tuân theo đặc điểm thi pháp này, vừa có sự dị biệt so với những truyện cổ tích khác (Thạch Sanh, Sọ Dừa, Cây khế…) ở chỗ nhân vật thần kỳ chỉ có vai trò hỗ trợ chứ không có vai trò quyết định. Không thể phủ nhận vai trò rất quan trọng của Bụt trong truyện Tấm Cám, nhưng ở truyện này Bụt không quyết định được sự đổi thay cuộc đời, số phận, hạnh phúc của Tấm.

    Trong thời kỳ sống chung với mẹ con Cám, Tấm hiền lành tới mức yếu đuối, cam chịu và hoàn toàn thụ động – Tấm chỉ biết khóc, khóc và khóc trước sự đối xử bất công, tàn nhẫn của mẹ con Cám. Bị Cám lừa trút hết giỏ tôm tép, Tấm ngồi khóc. Khi biết mẹ con Cám giết bống ăn thịt, Tấm “ôm mặt khóc rưng rức”. Bị mụ dì ghẻ tìm cớ không cho đi xem hội, Tấm lại khóc. Quần áo rách rưới, không thể đi xem hội, Tấm cũng chỉ biết khóc.

    Khi trở thành hoàng hậu, Tấm vẫn thể hiện bản chất của mình. Tấm không quên ngày giỗ cha. Khi dì ghẻ bảo Tấm trèo hái cau để cúng cha, Tấm vâng lời ngay. Mụ dì ghẻ chặt gốc cau để hại Tấm, Tấm hỏi, mụ bảo đập kiến để khỏi cắn Tấm, Tấm cũng tin, không một chút mảy may nghi ngờ hành động của dì ghẻ.

    Nhưng từ khi bị mẹ con Cám giết hại (chặt gốc cau để Tấm ngã xuống ao chết), từ một cô Tấm yếu đuối, cam chịu, thụ động, Tấm đã biết vực dậy để đấu tranh cho chính mình. Khi là chim vàng anh, Tấm cảnh báo với Cám sự có mặt của mình với lời lẽ cứng cỏi : “Phơi áo chồng tao, phơi lao phơi sào, chớ phơi bờ rào, rách áo chồng tao”. Khi biến thành khung cửi, Tấm nguyền rủa và đe dọa Cám : “Cót ca cót két, lấy tranh chồng chị, chị khoét mắt ra”. Khi Tấm trở lại kiếp người, Cám thấy Tấm trở về trẻ đẹp như xưa, Cám hỏi Tấm “làm thế nào mà đẹp thế ?”, nhân cơ hội này Tấm đã trả thù Cám. Cái chết của Cám kéo theo cái chết của mụ dì ghẻ độc ác đã kết thúc quá trình đấu tranh quyết liệt, không khoan nhượng của Tấm đối kẻ thù để giành lấy hạnh phúc chính đáng của bản thân.

            Như vậy, để đòi lại công bằng, giành lại hạnh phúc, Tấm phải tự mình đấu tranh với mẹ con Cám. Ở chặng này, Bụt không xuất hiện nữa, còn việc Tấm hóa từ kiếp này sang kiếp khác chẳng qua là sự hiện thân của Tấm, tức là sự hiện thân của cái thiện – không bao giờ bị tiêu diệt, không bao giờ chịu đầu hàng trước cái ác, cái xấu.

    1.3/ Mẹ con Cám độc ác, tàn nhẫn nên cuối cùng chịu kết cục thê thảm

    Trước hết là hành động Cám lừa trút hết giỏ tôm tép của Tấm :

    Từ chỗ lười biếng, ỷ lại được mẹ cưng chiều, Cám lừa trút hết giỏ tôm tép của Tấm. Hành động này của Cám là hành động cướp công, cướp sức lao động của người khác. Mụ dì ghẻ không nhúng tay vào việc này, nhưng mụ đã tiếp tay cho Cám, tạo nên sự bất công giữa con đẻ và con chồng.

    Hành động lừa Tấm đi chăn trâu đồng xa để ở nhà giết bống ăn thịt của mẹ con Cám là hành động tàn nhẫn. Họ đã cướp đi “người bạn” của Tấm, lấy đi niềm vui, niềm an ủi tinh thần duy nhất của Tấm.

    Nếu hai hành động trên mang tính lừa lọc, che đậy thì hành động trộn chung một đấu gạo và một đấu thóc rồi bắt Tấm nhặt của mụ dì ghẻ là hành động trắng trợn, hành hạ, dày dọa Tấm. Hành động này vừa độc ác vừa tàn nhẫn.

    Khi Tấm trở thành hoàng hậu, mẹ con mụ dì ghẻ càng ganh ghét, đó kỵ với Tấm. Cùng với đó là lòng tham, muốn Cám, con đẻ của mình trở thành hoàng hậu, nên mụ dì ghẻ đã dã tâm giết Tấm trong ngày giỗ cha Tấm. Thậm chí khi biết Tấm chết, hóa thân thành kiếp những khác nhau, rất nhỏ bé, yếu đuối và vô hại như chim vàng anh, cây xoan đào, khung cửi, Cám cũng không chịu buông tha cho Tấm. Tất cả vì lòng ganh ghét, đố kỵ và độc ác của Cám.

    Điều này giải thích vì sao Tấm trả thù Cám một cách quyết liệt, mạnh mẽ đến như vậy (Tấm sai quân hầu đào một hố sâu, Tấm lừa Cám xuống đó, rồi sai quân hầu dội nước sôi vào hố cho Cám chết). Sở dĩ Tấm phải hành động mạnh mẽ như vậy vì mẹ con dì ghẻ quá tàn nhẫn và độc ác, họ không từ bỏ một dã tâm nào để hãm hại Tấm, quyết hãm hại Tấm đến cùng. Ngày nào họ còn tồn tại thì ngày đó họ còn hãm hại Tấm, họ dồn Tấm vào đường cùng. Chính vì thế Tấm không có sự lựa chọn nào khác. Có ý kiến cho rằng, hành động trả thù của Tấm là khác lạ với bản chất hiền lành của cô, nhưng đa số ý kiến cho rằng Tấm hành động như vậy là hợp lý và cũng là cách duy nhất để bảo vệ mình.

    Cách kết thúc của truyện Tấm Cám khác với cách kết thúc trong những truyện cổ tích khác. Thông thường trong truyện cổ tích, nhân vật chính diện không trực tiếp trả thù nhân vật phản diện. Thạch Sanh hoàn toàn tha bổng cho mẹ con Lý Thông; người em trong truyện Cây khế không hề phàn nàn, oán trách người anh tham lam; Sọ Dừa và vợ chàng không hề đả động gì đến tội trạng của hai người chị gái (con phú ông)… Việc trừng phạt các nhân vật phản diện trong cổ tích phần lớn do các nhân vật thần kỳ (trời, Phật, thần linh…) thực hiện, hoặc do bản thân các nhân vật phản diện tự chuốc lấy. Trái lại, ở truyện cổ tích Tấm Cám, tác giả dân gian để cho Tấm trả thù và trả thù một cách quyết liệt, dữ dội. Truyện Tấm Cám dù kết thúc không có hậu, nhưng nó vẫn tuân theo đúng quan niệm dân gian trong các thành ngữ  “Tức nước vớ bờ”, “Con giun xéo lắm cũng quằn”. Còn về mối quan hệ nhân – quả, tất nhiên là quá rõ ràng,  nhân nào quả ấy, “gieo gió gặt bão”, “ác giả ác báo”, kết cục thê thảm của mẹ con Cám tương xứng với tội ác của mẹ con mụ hành xử với Cám.

    1. Ý nghĩa của triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám

    2.1/ Thể hiện niềm tin, ước mơ công lý của nhân dân vào lẽ công bằng, vào cuộc đấu tranh và chiến thắng của cái thiện đối với cái xấu, cái ác

    Cũng như truyện cổ tích nói chung, truyện Tấm Cám phản ánh sự xung đột giữa cái thiện và cái ác. Đó là cuộc đấu tranh gay gắt, quyết liệt, nói theo ngôn ngữ triết học là không thể điều hòa mâu thuẫn. Cái thiện và cái ác là hai đối cực. Cái ác không có lý do để tồn tại vì tính phi nhân đạo, phản nhân văn của nó, vì thế, muốn tồn tại nó phải tìm mọi cách, mọi thủ đoạn để triệt tiêu cái thiện. Truyện Tấm Cám thể hiện rất rõ điều này qua hành vi độc ác, tàn nhẫn của mẹ con Cám. Sự tấn công của cái ác vào cái thiện bao giờ cũng chủ động, lấn lướt, trấn áp, nhất là đối với cái thiện (nhân vật lương thiện) bị thân cô, thế cô, bất hạnh (người mồ côi, người em út, người nghèo khổ, người có ngoại hình xấu xí…). Trong hoàn cảnh ấy, cái thiện yếu đuối vô cùng, vì vậy truyện cổ tích mới có nhân vật thần kỳ (tiên Bụt, thần, thánh…) hoặc vật thần kỳ (chim thần, sách ước, đàn thần…) để bảo vệ, bênh vực cho cái thiện. Ở truyện Tấm Cám, nhân vật Bụt nhiều lần xuất hiện để giúp đỡ Tấm vượt qua những bế tắc, đó chính là ước mơ cái thiện được bảo vệ, được ủng hộ của nhân dân ta xưa, vì mỗi khi xã hội còn bất công, người hiền không dễ gì sống yên ổn với điều lành, thậm chí có nơi có lúc cái thiện, cái đúng, cái lẽ phải bị cô lập, bơ vơ trước phường “giá áo túi cơm” cơ hội, thực dụng, xu thời hoặc trước hạng người an phận thủ thường, ích kỷ, thấy đúng không dám bảo vệ, thấy sai không dám đấu tranh.

    Sự chiến thắng của Tấm đối với mẹ con Cám thể hiện niềm tin vào công lý, vào lẽ công bằng của nhân dân ta. Một cô Tấm hiền lành, chịu thương chịu khó, đẹp người, đẹp nết hoàn toàn xứng đáng trở thành hoàng hậu, sống hạnh phúc. Hai mẹ con mụ dì ghẻ vô lương, tàn độc, ích kỷ hại nhân nên cuối cùng đi đến kết cục bi thảm. Nhân dân ta gửi gắm niềm tin vào cuộc đấu tranh và chiến thắng của cái thiện đối với cái xấu, cái ác rất sâu sắc qua truyện cổ tích Tấm Cám.

    2.2/ Khẳng định triết lý nhân quả “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão” của nhân dân ta

    Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cámkhông chỉ thể hiện niềm tin, ước mơ của nhân dân vào công lý, mà còn khẳng định triết lý nhân – quả như một quy luật trong cuộc đời. Người “ở hiền” sẽ “gặp lành”, kẻ “gieo gió” ắt “gặt bão” – nhân dân ta luôn khẳng định điều đó như một lẽ tất yếu. Đấy không phải là tư tưởng duy tâm, siêu hình mà là quy luật thực sự. Từ triết học Bà-la-môn giáo, Phật giáo, Khổng giáo đến triết học Mác-Lênin đều khẳng định quan hệ nhân – quả mang tính quy luật.

    Bằng hình tượng nhân vật chính diện và phản diện sinh động, tác giả dân gian truyện cổ tích Tấm Cám đã khẳng định chân lý nhân – quả đó. Nhân vật Tấm biết bao nhiêu lần bị mẹ con Cám hãm hại, biết bao nhiêu lần Tấm đau khổ, bế tắc nhưng cuối cùng Tấm đã giành chiến thắng. Mẹ con mụ dì ghẻ không từ bỏ một dã tâm nào để bóc lột, đày đọa, hành hạ, tiêu diệt Tấm nhưng cuối cùng kẻ thất bại thê thảm chính là họ. Vậy thất bại của cái thiện chỉ là cái nhất thời, thất bại của cái ác mới là tất yếu. Do đó, có thể nói, “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão” là sự khẳng định của nhân dân ta về triết lý nhân quả.

            2.3/ Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám có ý nghĩa giáo dục đạo đức con người vô cùng sâu sắc

            Phật giáo khẳng định rằng : nhân – quả là chân lý, sớm muộn gì cũng xảy ra. Đừng vì lý do mau chậm của quả mà vội vàng hấp tấp, mà cho rằng cái luật nhân quả không hoàn toàn đúng, khi thấy có những cái nhân chưa phát sinh ra quả. Luật nhân quả chi phối tất cả vũ trụ vạn vật, không có một vật gì, sự gì thoát ra ngoài luật nhân quả được.

    Triết lý dân gian Việt Nam chắc chắn chịu ảnh hưởng của thuyết luân hồi, quả báo (thiện giả thiện báo, ác giả ác báo) của Phật giáo, nhưng nó không cao siêu, lý luận trừu tượng mà rất cụ thể, sinh động. Ông cha ta xưa sáng tạo nên những câu chuyện cổ tích với triết lý nhân quả “Ở hiền gặp lành”như truyện Tấm Cám để giáo dục đạo đức, đạo lý làm người một cách tự nhiên, nhẹ nhàng mà vô cùng sâu sắc. Những câu chuyện cổ tích hồn nhiên, hấp dẫn, đẹp nên thơ như cô Tấm bước ra từ quả thị thơm tho sẽ in đậm dấu ấn khó phai mờ trong tâm hồn trẻ thơ. Để rồi từ đó cùng với nền nếp gia phong, luân lý xã hội, giáo dục của nhà trường, các em lớn lên trở thành những công dân tốt, những con người hiền lành lương thiện, biết tin vào cái thiện và điều nhân nghĩa.

    2.4/ Triết lý nhân quả trong truyện cổ tích Tấm Cám là bài học đấu tranh để bảo vệ cái thiện, cái chính nghĩa

    Nét độc đáo, sáng tạo trong truyện cổ tích Tấm Cám, là bài học đấu tranh. Nhân vật chính diện phải đấu tranh trực diện, không khoan nhượng với kẻ thù để tự bảo vệ hạnh phúc của chính mình. Nhân vật thần kỳ chỉ xuất hiện ở nửa đầu truyện với vai trò phụ trợ. Nửa sau tác phẩm (từ khi Tấm trở thành hoàng hậu), nhân vật Bụt không xuất hiện nữa, dù tồn tại dưới nhiều hình thức biến hóa nhưng Tấm luôn chủ động đấu tranh với Cám để giành lấy hạnh phúc. Vậy, ý nghĩa của triết lý nhân quả trong đấu tranh là : trong cuộc đấu tranh với cái ác, cái thiện không thể cam chịu, thụ động ngồi chờ sự trợ giúp nào bên ngoài mà phải tự mình đứng lên đấu tranh. Có ý chí đấu tranh (tư tưởng), hành động đấu tranh và phương pháp đấu tranh (nhân) thì mới có thắng lợi (quả). Ngược lại, chỉ tin rằng thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà mà không đấu tranh (cam chịu hoặc thỏa hiệp) thì thắng lợi chỉ là ảo tưởng, khi đó triết lý nhân – quả chỉ là duy tâm, siêu hình. Cuộc đấu tranh với cái ác, cái xấu có tính mất còn nên cái thiện, cái tốt phải kiên trì, quyết liệt đấu tranh đến cùng. Vì sao ? Vì cái ác, cái xấu có bao giờ chịu nhường bước, nhượng bộ cái thiện, cái tốt đâu ! Hành động xấu xa, độc ác của mẹ con Cám đối với Tấm là minh chứng cụ thể và sinh động cho điều đó.

    1. Kết luận

    Maxim Gorki từng nói “Văn học là nhân học”. Văn học góp phần phát triển nhân cách con người. Văn học xuất phát từ con người, dù nó sâu xa, thăng hoa đến đâu cũng hướng đến con người. Trách nhiệm của người giáo viên dạy văn là qua những bài giảng phải làm cho học sinh thấy được ý nghĩa, lợi ích, giá trị đích thực của việc học văn. Theo tôi, một trong những hướng đi đó là qua mỗi bài học học sinh phải rút ra được ý nghĩa tác phẩm và biết liên hệ bài học đối với bản thân. Nói cách khác, học sinh phải rèn luyện được kỹ năng tự nhận thức. Học văn cũng là một hình thức “học sống”.

    Tài liệu “Giáo dục kỹ năng sống trong môn Ngữ Văn ở trường trung học phổ thông” đã định hướng những kỹ năng sống cơ bản mà học sinh rèn luyện qua bài Tấm Cám là : Tự nhận thức, xác định giá trị của cái tốt, cái thiện và có ý thức đấu tranh bảo vệ cái tốt, cái thiện, chống cái, cái xấu trong cuộc sống …

    Vận dụng đề tài nghiên cứu trên vào bài dạy sẽ giúp học sinh nhận thức được rằng “Ở hiền gặp lành”, “Gieo gió gặt bão”, “Ác giả ác báo” không phải là chuyện chỉ có trong cổ tích hay “xưa như cổ tích” (ngoài đời làm gì có; ai cũng biết, không có gì để nói). Triết học Phật giáo cũng như triết học Mác – Lê-nin đều khẳng định mối quan hệ nhân – quả là quy luật có tính tất yếu, tức nó là chân lý của cuộc sống. Không có nhân nào không sinh ra quả, và không có quả nào không do nhân nào đó tạo thành. Nhân – quả mang tính biện chứng. Không tin vào nhân –  quả là tư tưởng hết sức chủ quan, phi logic, phi khoa học. Đề cập đến triết lý nhân quả trong trường hợp này sẽ giúp học sinh củng cố niềm tin (tức kỹ năng thể hiện sự tự tin) thiện thắng ác, chính nghĩa thắng gian tà khi mà ngoài đời các em thấy cái thiện, sự chính nghĩa có lúc thua thiệt, bị cái ác, cái phi nghĩa lấn lướt. Khi hiểu được tính nhân – quả, các em sẽ thấy điều đó chỉ là nhất thời, không đánh mất niềm tin trước giá trị của cái tốt, cái thiện.

    Mặt khác, như đã phân tích ở trên “Tấm Cám” là bài học đấu tranh để bảo vệ cái thiện, cái chính nghĩa. Bảo vệ cái tốt, cái thiện là phải đấu tranh chống cái ác, cái xấu, chứ không phải thụ động ngồi chờ, không phải chỉ tin là được. Nếu chỉ dừng lại ở nhận thức và niềm tin mà không hành động thì “nhân – quả” dễ rơi  vào duy tâm, siêu hình, không mang tính tích_cực.

    Từ bài học lớn đối với học sinh là kỹ năng tự nhận thức và kỹ năng tự điều chỉnh hành vi. Không chỉ trong cuộc đấu tranh giữa cái thiện – cái ác mới có quan hệ nhân – quả, mà quan hệ nhân – quả có mặt khắp trong cuộc sống chúng ta. Mỗi khi suy nghĩ, hành động nếu nghĩ đến mối quan hệ nhân – quả, ta sẽ điều chỉnh, kiểm soát được hành vi của mình, tránh được lối nghĩ bừa, làm ẩu – nguyên nhân của kết cục xấu. Vậy, với nhận thức về mối quan hệ nhân quả (qua truyện cổ tích Tấm Cám), học sinh sẽ biết hành động theo hướng tạo nhân tốt, tích cực để cóquả tốt đẹptránh gieo nhân xấu, tiêu cực để khỏi rơi vào kết cục xấu, thất bại. Bài học này đơn giản mà sâu sắc, là “hành trang” đầy ý nghĩa theo suốt cuộc đời các em, nếu các em biết ý thức về nó./.

    LÊ XUÂN CHIẾN (Quảng Nam)

    – Từ việc phân tích bài thơ “Tương tư chiều” của Xuân Diệu và “Nhớ ” của Nguyễn Đình Thi, anh/chị hãy chỉ rõ sự khác nhau của văn học lãng mạn và văn học cách mạng.

    – Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh và thơ văn của Người dành cho thiếu nhi;

    Quà đồng nội (Tiếng Việt 3),

    Quang cảnh làng mạc ngày mùa (Tiếng Việt 5)…

  • Văn Nghị luận xã hội về Tình bạn

    Văn Nghị luận xã hội về Tình bạn

    Văn Nghị luận xã hội về Tình bạn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Nghị luận xã hội về Tình bạn

    Nghị luận xã hội về Tình bạn

    ĐỀ BÀI :

    Mỗi người thêm một con mắt

    Mỗi người thêm nhiều cảm rung

    Trời cũng thêm nhiều màu sắc

    Đất cũng thêm chiều mênh mông

    Hãy trình bày ý kiến của em về tình bạn từ những gợi ý ở khổ thơ trên .

    BÀI LÀM

    “ Bạn là của cải chứ không phải của cải là bạn” câu danh ngôn đó đã dành tất cả sự trân trọng ,ưu ái cho tình bạn . Thế gian sẽ đơn điệu biết mấy ,con người sẽ nghèo nàn , nhạt nhẽo nếu tình bạn không tồn tại . Tình bạn ấy là hai tiếng thiêng liêng cao đẹp . Ca dao từng đề cao tình cảm bạn bè :

    Ra đi vừa gặp bạn hiền

    Cũng bằng ăn quả đào tiên trên trời .

    Bao nhà thơ nhà văn cũng ca ngợi tình bạn . Nhà thơ Trần Lê Văn viết :

    Mỗi người thêm một con mắt

     

    Mỗi người thêm nhiều cảm rung

    Trời cũng thêm nhiều màu sắc

    Đất cũng thêm chiều mênh mông

    ( Bạn )

    Bốn câu thơ bao hàm một quan niệm ,một cách nhìn nhận sâu sắc và đầy đủ về tình bạn cuaTrần Lê Văn .

    Qua bao tháng năm biến động ccủa cuộc đời tình bạn vẫn tồn tại bền bỉ trong trong tâm hồn mỗi con người vẫn là ngọn lửa ấm nhen lên giúp chúng ta gắn bó đoàn kết yêu thương nhau hơn .

    Có lẽ phải từng trải sống hoà nhả với bạn bè , nhà thơ mới cảm được một cách chính xác :

    “ Mỗi người thêm một con mắt Mỗi người thêm nhiều cảm rung .”

    Vạn vật đều không thể hoàn thiện , cũng như mỗi con nngười không thể biết hết thế gian . Nhưng con người được taọ hoá ban cho đôi mắt để thấu hiểu cuộc đời để cảm nhận thế giới xung quanh . Tục ngữ nói “ giàu hai con mắt” lại nói “Giàu vì bạn sang vì vợ”. Phẩi chăng thêm bạn là thêm giàu , thêm những đôi mắt ,thêm những góc nhìn để tránh phiến diện hoặc sai lầm . “ Học thầy không tày học bạn”, người xưa nhắn con người phải biết mở rộng tầm nhìn và sự hiểu biết bằng cách học hỏi bạn bè . nếu có nhiều bạn thì sẽ có nhiều cơ hội để học hỏi để mở rộng tầm nhìn , trí tuệ . Mỗi người bạn làm nên một thế giới trong ta , giúp ta hiểu thêm một cuộc sống mới . Tình bạn nảy nở sẽ là phương thuốc quý báu giúp ta chống lại phong ba bảo táp , giukps ta nhận rõ đúng saải trái trong ứng xử , nuôi dưỡng và làm mát dịu tâm hồn ta . Khi

    chúng ta có những tình bạn đẹp , tâm hồn không những phong phú mà còn sâu sắc hơn . có thể trước đây ta vô tình hoặc ít tình cảm , chỉ biết sống cho riêng mình với những “giấc mơ con” đủ cho một “cuộc đời con”. Khi có bạn cuộc sống chúng ta sẽ khác “ cảm rung” của ta cũng sẽ khác sẽ nhiều lên , sẽ tinh tế hơn , chân thành hơn . “Người ta là hoa của đất”hoa đã phong phú lắm sắc màu thì cuộc sống sẽ đậm đà biết mấy :

    Trời cũng thêm nhiều màu sắc

    Đất cũng thêm chiều mênh mông

    Có thêm những người bạn tốt ,cuộc sống trở nên tươi thắm hơn . Trời thêm nhiều màu sắc , không chỉ một màu xanh mà lung linh baycs cầu vồng . đất như cũng mênh mông hơn , mỡ ra cho chúng ta thêm nhiều hiểu biết , hi vọng , nhiều ước mơ và hoài bảo .

    Từ xưa đến nay , người ta đã có bao nhiêu tình bạn cao đẹp , thiêng liêng , biểu hiện sâu sắc của tình bạn là tấm lòng tri âm , tri kỉ . Tiếng đàn của Bá Nha chỉ mình Chung Tử Kì nghe và hiểu được . Đến khi Tử Kì chết Bá Nha treo đàn không đánh vì không còn một Tử Kì thứ hai nữa .

    Song bạn bè hiểu nhau chưa đủ mà còn phải biết quan tâm chăm sóc lẫn nhau . Tình bạn giữa Nguyễn Trãi và Nguyễn Mộng Tuân cũng rất cao đẹp . Nguyễn Trãi nói về bạn mình :

    Nghèo ốm ta thương bạn

    Ngông cuồng bạn giống ta .

    Nguyễn Mộng Tuân mừng nhà mới của bạn đã tạ lại tấm lòng bạn mình :

    Mang rượu đến cùng ông thưởng thức

    Say theo người , chớ tỉnh mình ta .

    Quả thật đó là những tấm lòng tri , kĩ tri âm . Khác với Nguyễn Trãi và Nguyên Mộng Tuân , Nguyễn Khuyến với Dương Khuê Không cùng một tư duy chính trị , Song không vig thế mà họ không trở thành bạn bè , Dương Khuê mất Nguyễn Khuyến đã khóc bạn bằng những vần thơ đầy xúc động :

    Rượu ngon không có bạn hiền

    Không mua không phải không tiền không mua

    Câu thơ nghĩ đắn đo không viết

    Viết đưa ai , ai biết mà đưa

    Giường kia treo những hững hờ

    Dàn kia gãy cũng ngẫn ngơ tiếng đàn

    Viết tiếp những trang ca ngợi tình bạn . Thạch lam đã đem đến một câu chuyện nhẹ nhàng trong sáng : Gió lạnh đầu mùa , trong gió lạnh rét mướt , tình bạn ngây thơ

    • hồn nhiên , trong sáng làm ấm ám tình người . Chị em Sơn quyết định thật nhanh chóngđợi chờ sơn thấy “ lòng ấm áp vui vui”. Niềm vui ấy có lẽ chỉ có ở những con người biết cảm thông chia sẽ với bạn bè.

    Tình bạn cao cả và thiêng liêng chúng ta có thể tìm thấy trong tình v\cảm của những anh bộ đội, những” đôi tri kỉ” trở thành đồng chi sát cánh kề vai “ súng bên súng đầu sát bên đầu” ( Chính Hữu”_ Đồng chí) chiến đấu vì độc lập tự do.

    “Sống không có bạn là chết cô đơn” Giooc- giơ Hê –be). Ai cũng muốn có những người bạn rất tốt của mình. Nhưng kết bạn vốn đã khó, mà gữ giùn tình bạn gắn bó thuỷ chung còn khó hơn nhiều. Lí Thông từng kết nghĩa với Thạch Sanh nhưng sau lại lừa chàng đi vào chỗ chết và cướp đi công chúa của chàng. Trịnh Hâm hãm hại Vân Tiên chỉ vì sự ghen ghét nhỏ mọn, tầm thường. Những tấm gương phản

    bạ đó cho yhấy nếu hẹp hồi, nếu chỉ ích kỉ thì sẽ mù quáng, sẽ mất bạn bè và trở thành kẻ ác. Trịnh Hâm âm mưa hãm hại Vân Tiênchỉ vì sự ghen ghét nhỏ mọn, tầm thường. Những tấm gương phản bạn đó cho thấy nếu hẹp hòi, nếu ích kỉ thì sẽ mù quán, sẽ mất bạn bè và trở thành kẻ ác.

    Sẽ ra sao khi ta phát hiện một tring những người bạn của ta mất khuyết điểm trầm trọng ? Xa lánh ư ? Cắt đứt giao thiệp ư ? Hoặc không có ý kiến gì, vẫn quan hệ bình thường như cũ? Đây là một chuyện rất khó. Nhưng em cho rằng trước hết phải gần gủi và không được bỏ rơi, không xa lánh bạn.Aỉch cóthể mắc khuyết điểm. Nếu ta chỉ chọn những người hoàn hảo để kết bạn thì biết đâu đến lúc nào đó, bạn phát hiện ra nhược điểm của ta củng sẻ bỏ rơi ta ? Nhưng là một người bạn chân thànhcủng không có nghĩalà im lặng, không dám can ngăn, không dám phê bình,thậm chíđẩutanh với sai lầm khuyết điểm của bạn mình. Thái độ tốt nhất trong quan hệ bạn bè là nghiêm khắc với mình và độ lượng, bao dung với bạn. Chỉ có thế ta mới là một người được bạn bè tin cậy, ta mới có nhiều bạn và trở thành người giàu có.

    “Giàu bạn bè là không nghèo về mặt nào cả”. Cuộc sống thật bao la, rực rỡ sắc màu. Mỗi ngượi đều biết độ lựơng, sống cởi mở, khoan dung hơn thì tình bạn sẽ đơm hoa kết trái, sẽ chẳng bao giờ lụi tàn. Lúc ấy con người sẽ sống nhân ái, trong sáng và đẹp hơn nhiều. Đúng như nhà thơ Tố Hữu đã ngợi ca:

    Có gì đẹp trên đời hơn thế,

    Người yêu người sống để yêu nhau.

     

    NHẬN XÉT

     

    Bài viết đã giải quyết được những vấn đề cơ bản của đề bài : nêu lên quan niệm về tình bạn được trình bày trong khổ thơ. Người viết đã hiểu ý nghĩa của các câu thơ, làm sáng tỏ việc “thêm” những “con mắt” và “cảm rung” ở mỗi người là giàu có về trí tuệ và tình cảm. Đồng thời ý nghĩa mơ hồ, khó nắm bắt hơn trong hai câu thơ : “Trời cũng thêm nhiều màu sắc, Đất cũng thêm chiều mênh mông” được hiểu như cuộc sống đậm đà , tươi thắm hơn.

    Bằng các ví dụ về tình bạn được phản ánh qua văn thơ, người viết đã chứng minh rằng luôn luôn tồn tại những tình bạn thắm thiết qua nhiều thời đại. Tuy nhiênđiểm chính là con người sống giàu trí tuệ hơn, giàu tình cảm hơn, phong phú và sâu sắc hơn thì chưa rõ lắm. Vì quan tâm nhiều đến nội dung quan niệm tình bạn trong khổ thơ nên người viết cũng chưa chú ý đầy đủ đến việc bình luận về quan niệm đó, mặc dù theo mạch văn có thể hiểu là người viết tán thành, coi quan niệm đó là hoàn toàn đúng đắn.

    Quan niệm về tình bạn của người viết là một quan niệm có lí, có tình và khá chân thành, đúng mực.

  • Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

    Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

    Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn nghị luận Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam

    Đề bài: Truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc Việt Nam (đề mở)

    A. HƯỚNG DẪN LÀM BÀI

    “Để bài đặt ra một luận đề vừa lí thú lại vừa thiết thực trong cuộc sống của dân tộc ta cũng như của mỗi học sinh chúng ta. Đó là một đạo lí đã trở thành truyền thống đẹp của dân tộc Việt Nam từ bao đời nay: tôn sư trọng đạo. Ai cũng cảm nhận được vẻ đẹp của đạo lí này, nhưng hiểu cho hết ý nghĩa sâu xa của nó – cả ngày xưa và hôm nay – thì không đơn giản chút nào. Người viết phải tự mình đặt ra những câu hỏi nhỏ xung quanh truyền thống này để bàn luận, trả lời, giải đáp nhằm làm sáng tỏ vấn đề một cách toàn diện, sâu sắc. Dĩ nhiên có thể bàn luận cả luận đề hoặc chỉ đi vào một khía cạnh mà mình tâm đắc nhất, vì đây là đề mở. Đề bài không nêu thao tác lập luận để người viết hoàn toàn có thể lựa chọn thao tác lập luận phù hợp với vấn đề bàn luận của mình: phân tích, so sánh, bác bỏ, bình luận…” (Theo Nguyễn Xuân Lạc)

    B. BÀI LÀM THAM KHẢO

    Mở bài

    Dân tộc ta có truyền thống tôn sư trọng đạo. Đó là một truyền thống tốt đẹp của một dân tộc văn hiến và hiếu học. Từ xa xưa đã có câu ca:

    Muốn sang thì bắc cầu kiều

    Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy

    Hoặc thâm thuý hơn, ông cha ta cũng từng nhắc con cháu: Nhất tự vi sư, bán tự vi sư (Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy).

    Thân bài

    1. Thế nào là tôn sư? Vì sao phải tôn sư ?

    Tôn sư là đề cao, tôn vinh, coi trọng người thầy. Vì sao vậy? Người thầy dạy chữ, dạy kiến thức cho ta, đem đến cho ta những hiểu biết để ta sống tốt hơn, có ích hơn. Người thầy lại dạy ta đạo lí, nhân cách để ta biết làm người trong xã hội. Vai trò người thầy là hết sức quan trọng, không thể thiếu đối với bất kì một quốc gia dân tộc nào. Chủ tịch Hồ Chí Minh từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”. Thế thì sao lại không tôn vinh, đề cao người thầy? Đây là tôn vinh xuất phát từ chức năng cao quý và trách nhiệm lớn lao của người thầy.

    1. Thế nào là trọng đạo? Vì sao phải trọng đạo?

    Trọng đạo là gì? Trong kết cấu hai vế cân đối tôn sư/ trọng đạo, nếu tôn sư là tôn vinh người thầy thì trọng đạo là coi trọng nghề dạy học. Đạo ở đây là đạo làm thầy (1), là nghề dạy

    học. Nghề dạy học là nghề đáng được coi trọng vì sản phẩm nó đào tạo ra chính là con người, như ai đó đã nói : «Trong các nghề thì nghề dạy học là nghề cao quý nhất». Nhân dân ta «trọng đạo» chính là trọng cái nghề «trồng người» cao quý ấy, cũng như họ đã tôn vinh người thầy là những «kĩ sư tâm hồn».

    1. Bình luận mở rộng : Ý nghĩa của Tôn sư trọng đạo

    Tôn sư trọng đạo hàm chứa một ý nghĩa sâu sắc. Trước hết, đó là sự suy nghĩ, nhìn nhận đúng đắn và tiến bộ của nhân dân ta về một nghề đáng được coi trọng và một con người đáng được tôn vinh. Nó chứng tỏ dân tộc ta là một dân tộc văn hiến và hiếu học, bởi coi trọng nghề dạy học là một biểu hiện sâu sắc của một dân tộc hiếu học. Nhưng ý nghĩa sâu xa của tôn sư trọng đạo chính là nó gắn bó mật thiết với sự nghiệp trồng người để nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài làm cho dân giàu nước mạnh, xã hội phát triển tốt đẹp. Xưa, ông cha ta đã nói «hiền tài là nguyên khí của quốc gia»; nay, ta lại khẳng định «giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu» – những điều đó không thể không liên quan đến truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc ta. Tôn sư trọng đạo đã trở thành một đạo lí, một truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta chính là như thế. Nó là sức mạnh tinh thần, tình cảm lớn lao và bền vững của dân tộc để góp phần xây dựng nên một nước Việt nam văn hiến và giàu mạnh.

    1. Truyền thống tôn sư trọng đạo được kế thừa và phát triển trong xã hội ta hiện nay.

    Truyền thống tốt đẹp đó đã được nhân dân ta kế thừa và phát huy trong cuộc sống hiện nay. Trên khắp đất nước, ở đâu cũng vậy, từ thành thị đến nông thôn, miền xuôi miền ngược, người dân Việt nam đều yêu quý, tôn trọng ông thầy, đều dành cho thầy những tình cảm ưu ái nhất, đặc biệt là lòng biết ơn sâu sắc thầy đã dạy con cái họ nên người. Trong hoàn cảnh nước nhà còn nghèo, đời sống thầy giáo còn nhiều khó khăn, họ đã tận tình giúp đỡ thầy một cách chân thành và cảm động. Các dân tộc vùng cao đã coi các thầy giáo, cô giáo miền xuôi lên dạy học như người con của quê hương mình. Người thầy được tôn vinh thì nghề dạy học cũng được coi trọng. Không phải ngẫu nhiên mà giáo dục đào tạo là quốc sách hàng đầu và ngày 20 – 11 hàng năm đã trở thành ngày hội lớn của toàn dân để tôn vinh người thầy và nghề dạy học cao quý. Hình ảnh cha mẹ học sinh tặng hoa các thầy, cô giáo trong ngày 20 – 11 và cả những cán bộ cấp cao của Đảng và Nhà nước đến thăm thầy giáo cũ đã nói lên sâu sắc truyền thống và đạo lí cao đẹp. Từ một đạo lý truyền thống của dân tộc, tôn sư trọng đạo đã mang một ý nghĩa cách mạng mới trong thời đại ngày nay gắn liền với tư tưởng «trồng người» của chủ tịch Hồ Chí Minh. Nó không chỉ là đạo lí, tình cảm mà còn là tinh thần, sức mạnh, hành động cách mạng để đưa đất nước đi lên ngày càng giàu mạnh, văn minh. Đó là nét mới của truyền thống tôn sư trọng đạo trong cuộc sống hiện nay của nhân dân ta.

    Kết luận

    Bước sang thế kỉ XXI, cuộc sống có nhiều đổi mới kéo theo sự đổi mới của giáo dục, của vai trò người thầy và nghề dạy học. Trên cơ sở kế thừa, giữ gìn những mặt tốt đẹp của truyền thống, chúng ta cần biết phát huy và vận dụng đạo lí tôn sư trọng đạo một cách sáng tạo, phù hợp với thực tiễn cách mạng mới để đạt kết quả tốt đẹp nhất.

    (Bài làm của em Mai Thanh Thuỷ, học sinh

    Trường THPT Lam Sơn, Thành phố Thanh Hóa)

    (Ghi chú: Bài văn trên đây là bài làm của em Mai Thanh Thuỷ, chúng tôi dẫn theo tài liệu của Nguyễn Xuân Lạc, còn những đề mục của kết cấu bài thơ như: «Mở bài», «Thân bài», «Kết bài», và các luận điểm 1, 2, 3, 4, do chúng tôi thêm vào)

    Giáo viên: Nguyễn Quang Ninh.

  • PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: PHÂN TÍCH BÀI THƠ NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ CỦA NGUYỄN TUÂN

    Bài làm

    Cái nhan đề Người lái đò sông Đà ùa vào ta một liên tưởng kép: Nguyễn Tuân xưng tụng ông lái đò tài hoa trí dũng trên dòng sông thiên nhiên bạo liệt, còn ngôn ngữ Nguyễn Tuân lại hùa nhau xưng tụng tác giả của nó như một ông lái bậc thầy con thuyền chữ trên một dải sông văn không kém thác ghềnh. Bài ca lao động và bài ca ngôn từ song hành trong một áng kí lạ. Thì chính Nguyễn Tuân đã hạ bút ngay từ khúc dạo đầu: “Chúng thuỷ giai đông tẩu, Đà giang độc bắc lưu” (Mọi con sông đều chảy về đông, chỉ có sông Đà ngược bắc).

    Câu đề từ của Nguyễn Tuân vừa thâu tóm lấy cái thần sông Đà, vừa tóm luôn cái thần chữ của mình. Một mặt bắc lưu là sự cưỡng lại đông tẩu, cái riêng độc đáo là sự cưỡng lại sức xói mòn của cái chung nhàm cũ. Mặt khác, bắc lưu chỉ tồn tại trước đông tẩu, cái riêng độc đáo chỉ tồn tại trước cái chung khi nó đồng nghĩa với cái cao hơn sự khác lạ là cái sáng tạo (tức là cái độc đáo phải trở thành cái riêng mang giá trị). Phi giá trị, cái riêng hóa trò chơi duy mĩ. Đó là nguyên tắc của phép lạ hóa văn chương, để vừa chối bỏ sự nhàm lặp của cái chung, vừa hội nhập với cái chung mang giá trị văn chương bền vững. Còn nguyên tắc riêng của phép lạ hóa ngôn ngữ Nguyễn Tuân? Trong kho từ vị Việt, ngôn ngữ mang bản tính nguyên thủy của một vật liệu tĩnh, lạnh, khá ổn định. Tài năng nghệ sĩ là biết vung cây gậy thần biến nó thành chất liệu động và nóng, phập phồng sự sống. Nổi trội trong các tài năng, văn Nguyễn Tuân là thứ ngôn từ nóng giẫy sự sống. Có thể coi bài kí sông Đà này là cuộc thí nghiệm tâm đắc của ngôn ngữ nóng Nguyễn Tuân. Đầu tiên, sức nóng ngôn ngữ Nguyễn Tuân cũng tìm được một đối tượng “nóng”: sông Đà. Con sông độc lạ ấy thật thích hợp với một ngòi bút độc lạ. Ngôn ngữ Nguyễn Tuân đã lay con sông vô tri thức dậy, tưới linh hồn vào nó, và ông khai sinh dòng sông nghệ thuật của mình bằng một cái tên đủ in luôn tính nết vào đó: “hung bạo và trữ tình”. Nếu chỉ có một vế, con sông sẽ lười nhác trong đơn giản. Tính cách sông Đà phải là một hệ thống những phẩm chất đối chọi nhau như nước với lửa, và phải từ những nghịch lí nghịch âm ấy, con sông mới có điều kiện phô bày hết vẻ phức tạp phong phú, đầy hấp dẫn của mình. Đầu tiên là con thác – tâm điểm dữ dội của sông Đà. Nước dữ, đã đành. Đá cũng dữ. Đúng ra là do đá dữ mà nước dữ. Vậy thì cần phải dựng đá dậy cho lộ bản chất của nó ra. Và Nguyễn Tuân hạ một so sánh đắc địa: “Một hòn (đá) ấy trông nghiêng thì y như là đang hất hàm hỏi cái thuyền phải xưng tên tuổi trước khi giao chiến”. Trong công thức A = B của so sánh, cái độc lạ của Nguyễn Tuân chủ yếu tỏa sắc ở vế B. Trong câu văn trên, ông chêm động từ hất hàm vào B để mang đến cho nó một năng lượng sống, đủ khả năng truyền hồn vào đá vô tri, rọi một cái nhìn đậm tính điêu khắc vào thói du côn của thiên nhiên man dại. Nhưng gây cảm giác “chết người” nhất là cái hút nước. Nguyễn Tuân tả hình ảnh những cái thuyền bị dòng sông nuốt vào bụng, gợi cảm giác

    lạnh người: “Có những thuyền đã bị cái hút nó hút xuống, thuyền trồng ngay cây chuối ngược rồi vụt biến đi, bị dìm và đi ngầm dưới lòng sông đến mươi phút sau mới thấy tan xác

    • khuỷnh sông dưới”. Người ta nói văn Nguyễn Tuân là thứ văn ham cảm giác mạnh, có lẽ vì thế mà cái hút nước hiểm nguy kia trở thành một đam mê dưới ngòi bút của ông. Ông tiếp tục gây áp lực lên hệ thần kinh người đọc bằng cách bắt họ phải tự “chiêm nghiệm” cái cảm giác lạ lùng này: “Tôi sợ hãi mà nghĩ đến một anh bạn quay phim táo tợn nào muốn truyền cảm giác lạ cho khán giả, đã dũng cảm ngồi vào một cái thuyền thúng tròn vành rồi cho cả thuyền cả mình cả máy quay xuống đáy cái hút Sông Đà, – từ đáy cái hút nhìn ngược lên vách thành hút mặt sông chênh nhau tới một cột nước cao đến vài sải. Thế rồi thu ảnh. Cái thuyền xoay tít, những thước phim màu cũng quay tít, cái máy lia ngược contre- plongée lên một cái mặt giếng mà thành giếng xây toàn bằng nước sông xanh ve một áng thủy tinh khối đúc dày, khối pha lê xanh như sắp vỡ tan ụp vào cả máy cả người quay phim cả người đang xem. Cái phim ảnh thu được trong lòng giếng xoáy tít đáy, truyền cảm lại cho người xem phim kí sự thấy mình đang lấy gân ngồi giữ chặt ghế như ghì lấy mép một chiếc lá rừng bị vứt vào một cái cốc pha lê nước khổng lồ vừa rút lên cái gậy đành phèn”. Hình ảnh những cái thuyền bị cái hút nước nuốt chửng, hình ảnh cái hút nước như một cái giếng xây bằng nước sông đang xoay tít… tạo nên ở người đọc một cảm giác hình hết sức mạnh mẽ. Họ bị đặt vào trong cuộc, và cảm thấy bối rối vì khó bứt thoát khỏi những ám ảnh đầy ma lực mà ngôn từ Nguyễn Tuân truyền tới họ. Và đọng lại cuối cùng trong lòng người đọc là một sông Đà được nhìn như một hung thần, gây cảm giác hãi hùng về cuộc quyết đấu dữ dội giữa con người và thiên nhiên đã diễn ra nơi đây hàng bao thế kỉ.

    Cảm giác hình gắn với cảm giác âm nên ám ảnh của văn Nguyễn Tuân càng mạnh. Ở đây, người đọc lại hứng khởi nhận ra một đặc điểm khác của văn Nguyễn Tuân: những câu văn của ông thường liên kết trong một tính liên hoàn giàu giá trị thẩm mĩ, có khả năng thôi miên người đọc trong một chuỗi dây chuyền liên tưởng ngỡ như vô tận. Tả cái thác nước, Nguyễn Tuân viết: “Thế rồi nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng”. Đúng là một cảnh tượng man rợ như thời tiền sử. Để dò hết năng lượng thẩm mĩ của câu văn, liên tưởng của người đọc phải nối nhau trong cơ chế ba chặng: tiếng thác (rống) – tiếng trâu mộng (lồng lộn) – tiếng rừng lửa (gầm thét). Liên tưởng của Nguyễn Tuân rất lạ: âm thanh thác được động vật hóa thành tiếng gầm “trâu mộng”, nhưng cao tay nhất là lấy tháclửa (hỏa) gây một bất ngờ thẩm mĩ. Sức mạnh hoang dã của thiên nhiên qua miêu tả của Nguyễn Tuân, cứ như một trận động rừng, động đất hay nạn núi lửa thời tiền sử. Nguyễn Tuân còn chạm bút tới cái hút nước một lần nữa: “nước ặc ặc lên như vừa rót dầu sôi vào”. Hai chữ “ặc ặc” mô phỏng rất tài thứ âm thanh quái vật, khiến sông Đà như loài thủy quái bị bóp cổ đang quằn quại. (thủy) so sánh với Mặt thứ hai của sông Đà là trữ tình. Để lột tả đặc tính này của sông Đà, Nguyễn Tuân rất tâm đắc với những so sánh.

    Mỗi so sánh chứa đựng một góc nhìn độc đáo, đầy tính phát hiện của nhà văn trước đối tượng thẩm mĩ của mình. Sông Đà như loài thủy quái với những nanh vuốt nơi mặt ghềnh, hút nước và thạch trận dữ hiểm, được nhà văn ví như “kẻ thù số một” của con người. Song những so sánh đam mê nhất của Nguyễn Tuân là dành cho một Đà giang trữ tình: “Cái dây thừng ngoằn ngoèo” dưới chân người ngồi trên tàu bay nhìn xuống, cái “áng tóc trữ tình

    • ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân”; rồi lại “như một cố nhân” trong nỗi niềm du khách, như “cái miếng sáng lóe lên” trong trò chiếu gương con trẻ, như “một bờ tiền sử”, như “một nỗi niềm cổ tích ngày xưa”… Những so sánh biến hóa không trùng lặp, luôn gây men bằng những đột ngột, người đọc sửng sốt vì những so sánh lạ lẫm, gây đứt quãng liên tưởng, để rồi thán phục nhận ra không thể so sánh hay hơn, đúng hơn, và cứ thế bị thôi miên vào mê hồn trận của những so sánh ăm ắp tràn bờ… Vẻ đẹp ngôn ngữ Nguyễn Tuân không đơn thuần là thứ trời cho. Nhà văn phải lao động cật lực, trong đó có khổ công quan sát. Liệu đã mấy ai đủ công phu quan sát những biến đổi tinh vi đến thế của sông Đà, với mùa xuân thì “dòng xanh ngọc bích” mùa thu thì “lừ lừ chín đỏ”, giữa hai mùa ấy là cái “màu nắng tháng ba Đường thi”… Sông Đà giàu ám ảnh trở thành nỗi nhớ thật da diết của con người. Một sông Đà góc cạnh như thế ắt cần một đối tượng giao tiếp tương xứng cỡ ông lái đò. Hình như Nguyễn Tuân tô đậm sức hấp dẫn của sông Đà là để ngầm đề cao chính ông lái đó tài ba, nghệ sĩ này chăng. Để tiếp ông khách không vừa này, sông Đà “bày thạch trận trên sông” với một thế trận bài bản theo kiểu binh pháp Tôn Tử: nào là cửa tử, cửa sinh, đánh vu hồi, đánh du kích, đánh mai phục, đánh giáp lá cà…

    Sông Đà còn lắm mưu nhiều kế bày bao nhiêu mẹo lược và sự nham hiểm để sẵn sàng bóp chết con người. Ông lái đò thì nhỏ bé nhưng lại sừng sững hiện lên như một viên tướng trí dũng song toàn trước con thủy quái khổng lồ kia, với tư thế của kẻ đã nắm chắc “binh pháp của thần sông thần đá”. Để miêu ta cuộc giao tranh giữa người và thác dữ, Nguyễn Tuân có ngón chơi động từ độc đáo. Trong dăm trang kí, ông tốc tới ngót 300 động từ để đủ sức ganh tài cùng con nước cuồng nộ Đà giang và trí lực ông lái phi thường. Tần số động từ đậm đặc nhất là ở trường đoạn hỗn chiến giữa người và sông nước, khiến người đọc nghẹt thở. Cơn cuồng phong động từ xô lên cùng cơn thịnh nộ sông Đà: “rống lên, nhổm cả dậy, vồ lấy, đánh khuýp, reo hò, thúc, đội, túm, lật ngửa, bóp chặt… Phía ông lái, động từ cũng hợp sức tạo nên thế cưỡi hổ tung hoành: nắm chặt, ghì cương, bám chắc, phóng nhanh, lái miết, đè sấn, chặt đôi, phóng thẳng, chọc thủng… Hai hệ thống động từ đối chọi, tương phản gay gắt, nhưng đọc kĩ, vẫn thấy nổi lên thế chủ động, thế lấn lướt của ông lái đò. Hãy xem tiếp động từ phát huy sức mạnh như thế nào trong đoạn văn sau đây của Nguyễn Tuân: “Dòng thác hùm beo đang hồng hộc tế mạnh trên sông đá. Nắm chặt lấy được cái bờm sóng đúng luồng rồi, ông đò ghi cương lái, bám chắc lấy luồng nước đúng mà phóng nhanh vào cửa sinh, mà lái miết một đường chéo về phía cửa đá ấy. Bốn năm bọn thủy quân cửa ải

    nước bên bờ liền xô ra định níu thuyền lôi vào tập đoàn cửa tử. Ông đò vẫn nhớ mặt bọn mày, đứa thì ông tránh mà rảo bơi chèo lên, đứa thì ông đè sấn lên mà chặt đôi ra để mở đường tiến…”. Quả là một bức tranh chiến trận hào hùng, ngôn ngữ Nguyễn Tuân hả hê tụng ca con người trong cuộc quyết đấu với thiên nhiên để giành sự sống. Văn Nguyễn Tuân mang vẻ đẹp của sự tổng hòa văn hóa. Nàng văn của ông thật quảng giao đón du khách từ bốn phương trời kiến thức: lịch sử, địa lí, quân sự, võ thuật, điện ảnh, hội họa, điêu khắc, âm nhạc… Những kiến thức liên ngành đa dạng ấy tạo bề dày uyên bác trong vốn tri thức của nhà văn, nâng cho đôi cánh tài hoa bay bổng. Có thể coi Nguyễn Tuân là người đã nắm vững “binh pháp của ngôn ngữ”. Với một ý thức ngôn từ mới mẻ, hiện đại, Nguyễn Tuân đã truyền hồn cho chữ, chữ truyền hồn cho dòng sông, và dòng sông truyền xúc cảm vào người đọc. Song luận gì về Nguyễn Tuân cũng chớ quên văn ông không chỉ là tòa lâu đài chữ nghĩa mà còn là bể thẳm tâm hồn. Nhiều người từng than phiền văn Nguyễn Tuân cầu kì, rắc rối. Trước Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Tuân tự nhận xét: “Ngôn ngữ của Nguyễn lủng cà lủng củng, dấm dẳn cứ như đấm vào họng. Đọc lên nghĩa tối quá lời sấm ông trạng. Nguyễn cứ lập ngôn một cách bướng bỉnh vì đời nó ngu thế thì không bướng bỉnh sao được” (Đôi tri kỉ gượng). Nay ngôn ngữ Nguyễn Tuân là ngôn ngữ của một công dân đầy trách nhiệm trước một nước Việt Nam mới. Ông lái Nguyễn Tuân đã chở con đò chữ không chỉ bằng bàn tay khéo dùng từ, đặt câu mà còn bằng tình yêu tha thiết thiên nhiên và con người lao động xây dựng cuộc đời. Xin chiêm ngưỡng tấm lòng thơ của nhà văn ẩn trong câu văn òa ập nỗi niễm này: “Nói chuyện với người lái đò, như càng lai láng thêm cái lòng muốn đề thơ vào sông nước”.

  • Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Nghị Luận Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    Đề bài: Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo”

    A. Hướng dẫn cách làm

    1. Giải thích

    Xóa đói giảm nghèo là chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta: “Xóa đói giảm nghèo là nhiệm vụ vừa cấp bách, vừa lâu dài, phải huy động nguồn lực của toàn xã hội cùng nhà nước giải quyết, từng bước thanh toán đói nghèo, thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển, mức sống giữa các vùng, tầng lớp dân cư”

    Tham gia phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” thể hiện tấm lòng cao cả nhân văn “Thương người như thể thương thân” , “là lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Mọi người đều nên có ý thức ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” .

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” thu được kết quả to lớn trong nhiều năm qua, góp phần cùng nhà nước làm giảm số lượng và tỷ lệ người nghèo. Việt Nam đã được Liên Hợp Quốc biểu dương và tặng giải thưởng vì đã thành công lớn trong công cuộc xóa đói giảm nghèo.

    2. Bàn luận

    Xóa đói giảm nghèo chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước ta

    Xóa đói giảm nghèo muốn thành công phải huy động nguồn lực của toàn xã hội.

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” là hoạt động thiết thực huy động nguồn lực của toàn xã hội vào công việc xóa đói giảm nghèo.

    Phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” là nét đẹp phát huy truyền thống đoàn kết, nhân văn, quan tâm đến người nghèo của dân tộc ta. “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”

    Mỗi người dân nên nhiệt tình tham gia phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”

    3. Liên hệ

    • Bản thân em sẽ cố gắng trong từng việc có thể tham gia ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” Tuyên truyền vận động bạn bè và người thân tham gia phong trào.

    B. Bài làm tham khảo

    Đề : Suy nghĩ về phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”

    Mở bài:

    Nhiều năm nay, “Quỹ vì người nghèo” do mặt trận Tổ quốc Việt Nam thiết lập đã nhận được sự ủng hộ to lớn của nhân dân, từ cán bộ, công chức đến tầng lớp doanh nhân. Vì sao phong trào ủng hộ “Quỹ vì người nghèo” lan rộng và sôi nổi như vậy ?

    Thân bài:

    1.“ Quỹ vì người nghèo” góp phần vào công cuộc xóa đói giảm nghèo

    Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” chứng tỏ ý thức cộng đồng cao của dân ta, góp sức cùng nhà nước thực hiện công cuộc xóa đói giảm nghèo. Tháng vì người nghèo hàng năm thu được hàng nghìn tỷ đồng, liên tục trong hàng chục năm nay, làm cho tỷ lệ người nghèo ở nước ta liên tục giảm xuống. Các nước bè bạn, cả thế giới khâm phục thành công về xóa đói giảm nghèo của Việt Nam. Tổ chức Liên Hợp Quốc biểu dương và tặng giải thưởng về xóa đói giảm nghèo.

    1. Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn, của nhân dân ta.

    Phong trào ủng hộ “ Quỹ vì người nghèo” thể hiện tinh thần đoàn kết, nhân văn cao cả trong tâm hồn con người Việt Nam. Mọi người dân nước ta đều hiểu sâu sắc “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Trải qua bao gian khổ, hy sinh trong các cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm và thiên tai bão lụt, dân ta luôn có truyền thống “Thương người như thể thương thân”

    • “là lành đùm lá rách”, “lá rách ít đùm lá rách nhiều”. Hình ảnh cụ già bớt chút lương hưu, các em học sinh bớt tiền ăn sáng của bố mẹ cho để san sẻ với bạn nhỏ bất hạnh hơn mình luôn làm cho mọi người xúc động và thức tỉnh lương tâm trách nhiệm ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”.

    Công cuộc xóa đói giảm nghèo còn phải tiếp tục lâu dài , là mục tiêu “Thiên niên kỷ của Liên Hợp Quốc” cũng như của Nhà nước Việt Nam. Chúng ta hàng năm phải có ý thức và hành động thiết thực cùng toàn dân, toàn hệ thống chính trị tham gia công cuộc xóa đói, giảm nghèo, mà cụ thể nhất là ủng hộ “Quỹ vì người nghèo”. “Nhường cơm sẽ áo, chị ngã em nâng”

    1. Mọi người nuôi dưỡng ý thức và hành động thiết thực ủng hộ quỹ vì người nghèo. Nước ta là nước đang phát triển, thu nhập thấp, đại bộ phận dân cư sinh sống, làm nghề nông, thiên tai, bão lụt, hạn hán, dịch bệnh ở người và gia súc, rủi ro trong làm ăn, tai nạn trong

    sinh hoạt làm cho người ta nghèo đi. Số lượng người nghèo của nước ta rất đông, từ tỷ lệ khoảng 60% cách đây 30 năm, nay vẫn còn khoảng 15% tức là hơn 10 triệu dân trong diện người nghèo. Công cuộc xóa đói giảm nghèo còn lâu dài và mỗi người chúng ta phải kiên trì hành động, luôn

    Tài liệu khóa học Luyện thi Đại học đảm bảo môn Ngữ văn.

    nuôi dưỡng tấm lòng nhân văn cao cả, nghĩa hiệp để có việc làm, hành động đóng góp ủng hộ quỹ vì người nghèo.

    Ông cha chúng ta có khái niệm “nợ đồng lần”. Người ta giúp mình việc gì đó không phải để mong được mình trả ơn, mà mong mình sẽ lại đi giúp những người khác. Như thế, những tấm lòng thơm thảo sẽ được nhân lên, những hoàn cảnh được chia sẻ sẽ được tăng lên theo cấp số cộng, cấp số nhân. Nhờ đó, xã hội chúng ta sẽ đầy những tấm lòng nhân ái, cuộc sống ấm áp ngày càng tươi đẹp, thanh bình, hạnh phúc. Giúp đỡ người nghèo, ủng hộ quỹ vì người nghèo là một trong những cách thiết thực biểu hiện sự quan tâm tới người khác, tới xã hội, góp phần thực hiện mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn mình”.

    Kết luận

    Một nhà văn Nga đã viết “Nơi lạnh nhất không phải Bắc Cực mà là nơi không có tình thương” . Nhà văn Pháp Misen Êken Mongtenho cũng đã viết “Nghèo nàn về vật chất dễ chữa, nghèo nàn về tâm hồn rất khó chữa” .Một trong những việc nuôi dưỡng tâm hồn mỗi người là hàng năm hãy có hành động thiết thực ủng hộ quỹ vì người nghèo

    Giáo viên: Nguyễn Quang Ninh.

  • Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bài Làm

    “…Con sóng dưới lòng sâu…..

    Hướng về anh một phương”.

    Sóng biển rộng lớn, bao la mà vẫn điệp trùng thương nhớ. Sóng biển vật vã, thương đau mà vẫn một đời mê đắm. Sóng biển dữ dội thét gào mà vẫn nồng cháy thương yêu. Phải, có những con sóng như thế, những con sóng mang trong mình biết bao đói cực vẫn đêm ngày cuộc tròn trong thơ, trong tâm hồn người phụ nữ đa tài, đa tình và cũng đa đoan ấy: nữ sĩ Xuân Quỳnh. Và bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh đã chuyên chở hết cái tài, cái tình và cả cái đa đoan ấy của nữ sĩ mà tiêu biểu là đoạn thơ:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Hướng về anh một phương”

    Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của

    tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp “má hồng”.

    bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân

    vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm

    tư. Và có thể nói, khổ thơ:

    “Con sóng dưới lòng sâu

    Hướng về anh – một phương”

    Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước”

    Hai câu thơ với hình thức lặp quyện hòa cùng nghệ thuật đối vỗ nên điệp trùng những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Con sóng lặn sâu dưới lòng đại dương qua thanh bằng cuối câu thơ. Con sóng dữ dội tung bọt trắng xóa trên mặt biển với thanh trắc. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc

    lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì: “Ôi con sóng nhớ bờ

    Ngày đêm không ngủ được”

    Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao

    giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, ẩn sâu trong ngực sóng là nhịp đập của đại dương mênh mông. Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “ không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về

    bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm. Chọn hình tượng sóng-một trong những hình tượng đồng nhất của tự nhiên, Xuân Quỳnh đã khẳng định được bản lĩnh của mình. Chọn hình tượng động để gắn với người phụ nữ, người mà xưa nay được ví như liễu yếu đào tơ, Xuân Quỳnh phải đứng trước nhiều thử thách nhưng chị đã vượt qua bằng một bản lĩnh vững vàng và hơn hết là bằng một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm tinh tế. Còn sự vật nào hơn sóng có thể diễn tả hết được cái lòng người phụ nữ đang yêu: nồng nàn, băn khoăn, bồn chồn, thao thức lắm ! Nỗi băn khoăn ấy được góp nước từ nỗi nhớ: nhớ một người!

    “Lòng em nhớ đến anh

    Cả trong mơ còn thức”

    Sóng bây giờ dường như cũng đã không còn đủ sức chuyên chở nỗi lòng người phụ nữ. Nỗi nhớ như thiêu, như đốt, như phá tan những phàm tục đời thường, cất cánh đưa người phụ nữ đến một cõi mơ. Ở đây Xuân Quỳnh dùng từ “ lòng” thật chính xác để diễn tả tình cảm của người phụ nữ với tình yêu. Lòng là chốn sâu kín nhất của tâm hồn, lòng

    là kết tinh của tình cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua

    biết bao thử thách. Vì vậy mà tấm lòng ấy không chút hời hợt mà đã là

    gan, là ruột của người phụ nữ rồi. “Lòng em nhớ đến anh”, ơi thương

    sao câu nói giản dị, chân thành mà nồng nàn, da diết đến thế. Câu thơ

    “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Có thể nói,

    với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật

    nhất của thi ca hiện đại Việt Nam. Câu thơ như trào dâng nâng nỗi nhớ

    niềm thương

    Sóng-em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng

    cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

    Dẫu ngược về phương Nam”

    Đầu mỗi câu thơ, Xuân Quỳnh đã đóng vào đó những từ chỉ sự đối lập (“dẫu”). Nó chỉ một sự khẳng định chắc nịch, vững vàng rằng khó khăn, thách thức là mấy em vẫn mãi yêu anh. . Chẳng phải là “ngược Bắc”, “xuôi Nam” mà là “xuôi Nam” “ngược Bắc”.Phương hướng thế nào không quan trọng, quan trọng nhất vẫn là “phương anh”. “Nơi nào em cũng nghĩ

    Hướng về anh một phương”

    Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh. Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì

    nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã dành “hệ qui chiếu” của đời em. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của chị.

    Sự thành công của Xuân Quỳnh trong bài thơ “Sóng” không chỉ ở tình cảm chân thành nồng cháy mà còn ở nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng_hình tượng trung tâm của bài thơ. Sóng trong bài thơ là một hình tượng kép. Sóng vừa là sóng biển vừa là sóng lòng của người phụ nữ đang yêu. Cả hai cuộn tròn trong sóng thơ dạt dào. Hình tượng sóng rất đa dạng: lúc dữ dội, ồn ào, lúc dịu êm lặng lẽ cũng như tâm hồn em vậy dịu dàng lắm nhưng cũng đôi khi nồng cháy, mãnh liệt. Hình tượng sóng được Xuân Quỳnh xây dựng như thế động. Sóng luôn vận động với bao đối cực, bao chiều kích và cũng chính nhờ vậy mà nỗi lòng của người phụ nữ đang yêu được bộc lộ chân thành hơn, chính xác hơn. Với hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã góp vào thi đàn một hình tượng cũ mà mới. Mới bởi nó được ủ ấp những nỗi niềm của người phụ nữ. Và sẽ không quá lời khi ta khẳng định rằng, làm nên sự nghiệp Xuân Quỳnh không thể không có “sóng”.

    Xuân Quỳnh đã đi về một miền miên viễn. Chị đã đi xa nhưng sóng thì vẫn “bạc đầu thương nhớ” còn người thì vẫn bên chị cùng một nỗi nhớ thương. Người phụ nữ ấy sống mãi cùng sóng lòng, sóng thơ và “sóng”. Cũng như sóng kia, nhịp đập thủy triều có bao giờ nguội yên trong ngực biển, người nữ sĩ ấy vẫn mãi bên đời cùng một nhịp đập yêu thương.

    Con sóng trong thơ chị phải đâu là con sóng một thuở mà nó đã thành con sóng ngàn đời: con sóng tình yêu, con sóng yêu thương, con sóng của một tâm hồn đẹp. Vỗ mãi con sóng thương yêu!

  • Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    Suy nghĩ của em về bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ”

    của Thanh Hải

    (Tổng hợp)

    Bài Làm

    Bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ ” được Thanh Hải sáng tác năm 1980 khi nhà thơ đang nằm trên giường bệnh. Bài thơ là tiếng lòng thiết tha, yêu mến và gắn bó với đất nước ,với cuộc đời và thể hiện chân thành một ước nguyện hiến dâng .

    Mở đầu bài thơ là bức tranh mùa xuân của thiên nhiên được phác hoạ bằng vài nét chấm phá :

    Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc,

    Ơi! con chim chiền chiện

    Hót chi mà vang trời.

    Chỉ bằng vài nét đơn sơ mà đặc sắc ,với những hình ảnh nho nhỏ, thân quen , bình dị, nhà thơ đã vẽ lên bức tranh xuân thơ mộng, đậm phong vị xứ Huế .Bức tranh có không gian thoáng đãng ,sắc màu tươi tắn, hài hoà và âm thanh rộn rã tươi vui của tiếng chim chiền chiện . Cách lựa chọn hình ảnh “dòng sông xanh” , “bông hoa tím” ,

    cách sử dụng các từ ngữ “ơi” ,“chi” đi liền sau động từ “hót” khiến người đọc liên tưởng đến quê hương xứ Huế và cả tâm trạng say đắm hân hoan của tác giả . Dường như thấp thoáng đâu đó trong câu thơ là màu xanh của dòng Hương Giang mềm mại và những tà áo dài tím biếc của những cô gái Huế mộng mơ, cùng với âm thanh rộn rã, tươi vui của tiếng chim chiền chiện, khiến mùa xuân của cố đô trầm mặc, chợt trở nên rực rỡ, rộn ràng .Cảm xúc của tác giả trước mùa xuân còn được miêu tả ở chi tiết rất tạo hình :

    Từng giọt long lanh rơi

    Tôi đưa tay tôi hứng .

    Giọt âm thanh của tiếng chim thật trong ,thật tròn,vang ngân giữa không gian,đọng lại thành từng giọt hữu hình long lanh như hạt ngọc ,nhà thơ đưa tay hứng với tất cả sự trân trọng , đắm say . Sự chuyển đổi cảm giác khiến hình ảnh thơ trở nên lung linh, đa nghĩa góp phần diễn tả trọn vẹn hơn niềm say sưa, ngây ngất của tác giả trước vẻ đẹp của thiên nhiên, trời đất vào xuân .

    Từ mùa xuân của thiên nhiên, trời đất nhà thơ chuyển sang cảm nhận về mùa xuân của đất nước . Tác giả hướng tình cảm của mình tới những con người đang làm đẹp mùa xuân :

    Mùa xuân người cầm súng

    Lộc dắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ.

    Những câu thơ tạo ra hình ảnh sóng đôi đẹp như hai vế của câu đối mừng xuân nói về những người chiến sỹ bảo vệ và những người lao động dựng xây đất nước

    .“Lộc” theo bước chân người cầm súng ra trận,theo bàn tay người lao động ra đồng và gieo mùa xuân đến khắp mọi miền đất nước. Có lẽ bởi vậy mà không khí khẩn trương ,rộn ràng , náo nức lan toả khắp tứ thơ :

    Tất cả như hối hả

    Tất cả như xôn xao.

    Điệp từ “tất cả” ,từ láy “hối hả”, “xôn xao ” tạo nên nhịp điệu mùa xuân hối hả ,hào hùng ,mở ra những cảm nhận chan chứa tự hào về đất nước :

    Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước .

    Hình ảnh so sánh đẹp : “đất nước như vì sao” toả sáng, luôn vận động và phát triển không ngừng, có ý nghĩa định hướng ,giục giã mọi người hăng say cống hiến xây dựng quê hương .

    Trước mùa xuân của đất nước, nhà thơ tâm niệm về mùa xuân riêng của mỗi cuộc đời và dạt dào một khát vọng hiến dâng :

    Ta làm con chim hót

    Ta làm một canh hoa

    Ta nhập vào hoà ca

    Một nốt trầm xao xuyến .

    Nếu ở đầu bài thơ tác giả miêu tả những hình ảnh làm đẹp thêm ,tô điểm thêm cho mùa xuân là âm thanh náo nức vang trời của tiếng chim chiền chiện và sắc màu tím biếc dịu dàng của cánh lục bình nhỏ trên sông thì ở đây tứ thơ được lặp lại, tạo ra

    sự đối ứng chặt chẽ . Tác giả mong muốn được làm bông hoa toả ngát hương ,con chim mang tiếng hót và nốt trầm xao xuyến để hiến dâng nhưng không làm mất đi nét riêng của mỗi người .Đó thực sự là lời tâm niệm chân thành, tha thiết, khiêm nhường và khát khao được cống hiến phần tinh tuý nhất của mình làm đẹp thêm mùa xuân của quê hương, xứ sở mà không bị giới hạn bởi thời gian, tuổi tác :

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc .

    “Mùa xuân nho nhỏ” là một sáng tạo bất ngờ ,độc đáo mà tự nhiên, hợp lý của nhà thơ , bởi mùa xuân vốn là một khái niệm chỉ thời gian thế mà ở đây “ mùa xuân” lại có khối ,có hình ,một hình hài nho nhỏ thật xinh xắn . Mùa xuân đã trở thành một ẩn dụ nói về khát vọng , một lẽ sống cao đẹp, một ý thức khiêm nhường góp sức mình làm đẹp thêm mùa xuân của thiên nhiên,đất nước.Điệp từ “dù là” đặt ở đầu hai câu thơ liên tiếp có ý nghĩa khẳng định cho khát vọng dâng hiến miệt mài, không mệt mỏi của tác giả .

    Thể thơ năm chữ có nhạc điệu trong sáng, tha thiết ,gần gũi với dân ca nhiều hình ảnh đẹp , giản dị ,gợi cảm ,những so sánh và ẩn dụ sáng tạo đã góp phần tạo nên thành công không nhỏ cho bài thơ .

    Bài thơ kết thúc khi đã làm lay động trái tim mỗi người bởi chất hoạ gợi cảm, chất nhạc vấn vương và ước nguyện thiết tha chân thành của tác giả .Dường như ước nguyện nhỏ bé khiêm nhường ấy không còn là của riêng Thanh Hải mà đã trở thành

    tiếng lòng chung của nhiều người .Bởi vậy mà đọc xong bài thơ em muốn tự hỏi mình một điều giản dị :

    “Ôi sống đẹp là thế nào hỡi bạn ?

    Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình !”

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    I – Mở bài:

    Mùa xuân từ lâu đã là đề tài vô tận cho các thi sĩ. Nhưng hiếm có bài thơ nào viết về mùa xuân lại hay và trong hoàn cảnh đặc biệt như “mùa xuân nho nhỏ” của Thanh Hải, nhà thơ của xứ Huế mộng mơ. Bài thơ “mùa xuân nho nhỏ” được sáng tác năm 1980, khi tác giả đang nằm trên giường bệnh và chỉ mấy tuần lễ sau khi hoàn thành bài thơ thì nhà thơ đã qua đời. Đây là một bài thơ hay tiêu biểu cho hồn thơ Thanh Hải đã thể hiện được tâm nguyện thật thiết tha, cảm động của nhà thơ Thanh Hải với đất nước, với cuộc đời.

    II – Thân bài:

    1. Mùa xuân của thiên nhiên.

    Cảm hứng xuân phơi phới của Thanh Hải đã dệt nên một bức tranh mùa xuân thiên nhiên tươi đẹp, hiền hoà, đầy sức sống của xứ Huế mộng mơ.

    Mọc giữa dòng sông xanh

    …………

    Tôi đưa tay tôi hứng

    • Xứ Huế đã đi vào trong thi ca của không ít các thi nhân như Hàn Mạc Tử, Tố Hữu… nhưng ở đây với bài thơ này ta vẫn cảm nhận được phong vị rất riêng của Thanh Hải. Bức tranh xuân ấy hiện lên rất ít chi tiết nhưng vẫn đẹp, một vẻ đẹp hoàn thiện với đầy đủ sắc màu, âm thanh và đường nét. Có một dòng sông xanh hiền hoà, mênh mang làm nền cho sắc tím của bông hoa, màu tím của xứ Huế thơ mộng, của nhớ nhung đã tạo nên cảm giác mát dịu làm sao! Nghệ thuật đảo ngữ càng làm nổi bật vẻ đẹp của bông hoa. Bông hoa ấy mọc từ giữa dòng sông như tâm điểm của một bức tranh đầy ấn tượng. Bông hoa ấy như phát sinh, khởi nguồn từ cái sức sống dồi dào, bất tận của dòng sông xanh để không ngừng vươn lên bất tử. Bức tranh ấy càng sống động hơn bởi âm thanh của tiếng chim chiền chiện quen thuộc của quê hương miền trung. Tiếng chim ấy hót vang bên trời cao, tiếng hót trong trẻo, ngân nga, rộn ràng có độ lan tỏa không dứt, làm cho không khí của mùa xuân trở nên náo nức lạ thường.
    • Hãy đọc lại khổ thơ đầu và lắng nghe trong đó: có phải là nhạc và thơ đã hoà quyện vào từng chữ, từng dòng trong cả khổ thơ, đem đến môt giai điệu mùa xuân vui tươi, rạo rực ? Nhà thơ lặng ngắm, lắng nghe với vẻ say mê và tấm lòng tràn đầy một cảm xúc thanh cao trong sáng. Bằng sự cảm nhận tinh tế của một tâm hồn nghệ sĩ, nhà thơ đã tạo dựng được một hình ảnh tuyệt đẹp, gợi ra sự liên tưởng phong phú cho người đọc về âm thanh của tiếng chim. Âm thanh mượt mà, trong vắt của tiếng chim thánh thót như chuỗi ngọc long lanh, đọng lại làm thành từng giọt niềm vui, rơi xuống cõi lòng rộng mở của thi sĩ, thấm vào tâm hồn đang rạo rực tình xuân. Như vậy từ một hình tượng, một sự vật được cảm nhận bằng âm thanh ( thính giác), tác giả đã chuyển đổi biến nó thành một sự vật có thể nhìn được bằng mắt ( thị giác) bởi nó có hình khối, màu sắc rồi lại được như cảm nhận nó bằng da thịt, bằng sự tiếp xúc ( xúc giác).

    Sự chuyển đổi cảm giác ấy là một sáng tạo nghệ thuật gợi cảm từ con mắt nhìn rất thơ của thi sĩ. Hình ảnh đưa tay “hứng” xiết bao yêu quý, nâng niu đã thể hiện được sự đồng cảm của tâm hồn nhà thơ trước thiên nhiên và cuộc đời.

    2.Trong mùa xuân lớn ấy, đất nước và con người cũng mang vẻ đẹp của sức sống vô tận, rộn ràng bước vào một mùa xuân mới:

    Mùa xuân người cầm súng

    ……

    Lộc trải dài nương mạ

    • Lộc xuân theo người cầm súng, lộc xuân trải dài nương mạ. Hình ảnh dân tộc Việt Nam kết tụ lại ở “người cầm súng” và “người ra đồng”. Đây là mùa xuân của con người đang lao động và chiến đấu, của đất nước vất vả gian lao đang đi lên phía trước. Câu thơ vừa tả thực vừa tượng trưng hàm chứa nhiều ý nghĩa trong hình ảnh người lính và người nông dân với từ “lộc” nhiều nghĩa. “Lộc” là chồi non, lá non, nhưng “lộc” còn có nghĩa là mùa xuân, là sức sống, là thành quả hạnh phúc. Người cầm súng giắt lộc để nguỵ trang như mang theo sức xuân vào trận địa, người ra đồng như gieo mùa xuân trên từng nương mạ. Những con người lao động chiến đấu ấy đã mang cả mùa xuân ra trận địa của mình để gặt hái mùa xuân về cho đất nước. Âm hưởng thơ hối hả, khẩn trương với nhiều điệp từ, điệp ngữ láy lại ở đầu câu cùng với các tính từ “hối hả”, “xôn xao” làm tăng thêm sức xuân phơi phới, mãnh liệt trong mỗi con người và trong cả cộng đồng rộng lớn là dân tộc. Điều đó làm cho tác giả nhớ đến niềm tự hào lớn lao của đất nước:

    Đất nước bốn nghìn năm

    ……

    Cứ đi lên phía trước”

    • Đất nước đang bước vào mùa xuân, từ thiên nhiên đến con người đều hối hả và xôn xao. Mang tình sông núi, nhà thơ Thanh Hải đã có một cái nhìn sâu sắc và tự hào về chiều dài lịch sử bốn nghìn năm của đất nước.Đó là truyền thống anh hùng trong đánh giặc, cần cù trong dựng xây, là truyền thống nhân ái, là khát vọng hòa bình. Mỗi truyền thống ấy đều được xây đắp nên từ mồ hôi, công sức, nước mắt và thậm chí cả xương máu của biết bao thế hệ con người. Trong quá trình xây dựng và giữ nước, đất nước ta còn đầy vất vả và gian lao nhưng đất nước Việt Nam vẫn ngời sáng cứ tiến lên phía trước như một vì sao sáng. Vần thơ so sánh và nhân hoá thể hiện một niềm tin sáng ngời, ngợi ca đất nước tráng lệ, trường tồn. Ba tiếng “cứ đi lên” đã thể hiện ý chí quyết tâm và niềm tin sắt đá của dân tộc để xây dựng đất nước giàu và mạnh.
    • Đặt bài thơ vào những năm 80 khi nước ta còn đang phải đương đầu với bao khó khăn, nền kinh tế còn rất thấp kém thì ta càng trân trọng lòng yêu đời, yêu cuộc sống và niềm tin của nhà thơ Thanh Hải vào quê hương, đất nước.

    3.Xúc cảm trước mùa xuân của thiên nhiên, của đất nước, nhà thơ muốn góp một mùa xuân nho nhỏ của mình để làm nên một mùa xuân lớn, mùa xuân của thiên nhiên, mùa xuân của đất nước, mùa xuân của cách mạng:

    Ta làm con chim hót Ta làm một nhành hoa Ta nhập vào hoà ca Một nốt trầm xao xuyến

    Đó là khát vọng sống hoà nhập vào cuộc sống của đất nước, cống hiến phần tốt đẹp, dù nhỏ bé, của mình cho cuộc đời chung, cho đất nước. Điều tâm niệm ấy được thể hiện một cách chân thành trong những hình ảnh tự nhiên giầu sức gợi tả, gây xúc động sâu xa trong lòng người đọc. Ước nguyện được làm một tiếng chim, một cành hoa để góp vào vườn hoa muôn hương muôn sắc, rộn rã tiếng chim, để đem lại hương sắc, tô điểm cho mùa xuân thêm tươi đẹp. Nhà thơ nguyện cầu được làm một “nốt trầm xao xuyến” không ồn ào, không cao điệu mà chỉ âm thầm, lặng lẽ để “nhập”vào khúc ca, tiếng hát của nhân dân vui mừng đón xuân về. Được tô điểm cho mùa xuân, được góp phần tạo dựng mùa xuân là tác giả đã nguyện hi sinh, nguyện cống hiến cho sự phồn vinh của đất nước. Một ước mơ nho nhỏ, chân tình, không cao siêu vĩ đại mà gần gũi quá, khiêm tốn và đáng yêu quá ! Hình ảnh nhuần nhị, tự nhiên, chân thành, giọng thơ nhè nhẹ, êm ái , ngọt ngào của những thanh bằng liên tiếp kết hợp với cách cấu tứ lặp lại như vậy đã mang một ý nghĩa mới nhấn mạnh thêm mong ước được sống có ích cho đời, cống hiến cho đất nước như một lẽ tự nhiên. Điệp từ “ta” như một lời khẳng định, vừa như một tiếng lòng, như một lời tâm sự nhỏ nhẹ, chân tình. Ước nguyện đó đã được đẩy lên cao thành một lẽ sống cao đẹp, không chỉ cho riêng nhà thơ mà cho tất cả mọi người, cho thời đại của chúng ta. Đó là lẽ sống cống hiến cho đời lặng lẽ, khiếm tốn, không kể gì đến tuổi tác:

    Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc.

    Thái độ ‘lặng lẽ dâng cho đời” nói lên ý nguyện thật khiêm nhường nhưng hết sức bền bỉ và vô cùng đáng quý vì đó là những gì tốt đẹp nhất trong cuộc đời. Thật cảm động làm sao trước ao wowcs của nhà thơ dẫu đã qua tuổi xuân của cuộc đời, vẫn được làm một mùa xuân nhỏ trong cái mùa xuân lớn lao ấy. Điệp ngữ “dù là” ở đây như một lời tự khẳng định để nhủ với lương tâm sẽ phải kiên trì, thử thách với thời gian tuổi già, bệnh tật để mãi mãi làm một mùa xuân nho nhỏ trong mùa xuân rộng lớn của quê hương đất nước. Giọng thơ vẫn nhỏ nhẹ, chân tình nhưng mang sức khái quát lớn. Chính vì vậy, hình ảnh “mùa xuân nho nhỏ” ở cuối bài như ánh lên, toả sức xuân tâm hồn trong toàn bài thơ.

    Những câu thơ cuối cùng mang đậm dấu ấn của những làn điệu dân ca trữ tình xứ Huế. Nó như tiếng tâm tình, thủ thỉ, như tiếng lòng sâu lắng thiết tha, nồng đậm nghĩa tình:

    Mùa xuân ta xin hát

    Câu Nam Ai, Nam Bình

    Nước non ngàn dặm

    Nhịp phách tiền đất Huế

    Cùng với ý nguyện ấy, khúc Nam Ai, Nam Bình ở khổ thơ kết nói lên niềm tin yêu tha thiết với quê hương, đất nước và cuộc đời. Đặt trong hoàn cảnh sáng tác bài thơ , tình cảm đó càng đáng trân trọng, càng cảm động biết bao !

    III – Kết bài:

    “Mùa xuân nho nhỏ” là một bài thơ có tứ thơ độc đáo, cảm hứng xuân phơi phới, hình ảnh sáng tạo, nhạc điệu vui tươi tha thiết. Đọc “mùa xuân nho nhỏ”, trái tim ta dường như xao xuyến, một cảm xúc thanh cao, trong sáng từ từ dâng ngập hồn

    1. Bài thơ đem đến cho chúng ta bao cảm xúc đẹp về mùa xuân, gợi cho ta suy nghĩ về một lẽ sống cao đẹp của một tâm hồn trong sáng khiến ta cảm phục và tin yêu. Còn gì đẹp hơn mùa xuân ? Có tình yêu nào rộng lớn hơn tình yêu quê hương đất nước ? Thấm nhuần tâm tư, ước nguyện của của nhà thơ, chúng ta càng thêm tin yêu vào mùa xuân của đất nước và “mùa xuân nho nhỏ” trong lòng mình. Chúng ta muốn cùng con chim chiền chiện hót lên khúc ca ngọt ngào gọi xuân về, muốn học thành tài để hiến dâng cho đất nước, góp phần công sức nhỏ bé để tô điểm cho mùa xuân cuộc đời thêm đẹp.

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    Thanh hải là 1 cây bút có công xaay dựng nền văn học cách mạng ở Miền Nam từ những ngày đầu Thơ ông thể hiện niêm yêu mến thiết tha của cuộc sống đất nước ước nguyện của tác giả . Và MXNN là 1 bài thơ nhu thê

    Bài thơ được sáng tác vao nhữung năm cúôi đời của thanh hải thế nhưng đặc biệt tràn ngập cả bai thơ là những cảm xúc của tác giả đi từ mùa xuân thiên nhiên đên mùa xuân đất nưuợc ocn người và cuối cùng đã bộc lộ khát vọng sống của con người . Bài thơ được viết theo thể thơ 5 chữ Đã tạo nên 1 giọng điệu thơ sâu lắng trữ tình tha thiết

    Mở đâu bài thơ thanh hải đã fác hoạc cảnh mùa xuân tươi đẹp dang về trên xứ

    huế

    mọc giuẵ dòng sông xanh

    một bông hoa tím biếc

    ơi con chim chiền chiện

    hót chi mà vang trời

    khổ thơ là cảm nhận của thanh hải về mùa xuân thiên mùa xuân quê hương . Đâu có gì nhiều chỉ 1 bông hoa 1 dòng sông 1 tiếng chim hsot . Đơn giản thế nhưng vui và đẹp biết bao ! . Chỉ bằng vài nét fác họa chọn lọc hình ảnh màu sắc và âm thanh nhà thơ như vẽ ra cả 1 không gian cao rộng dòng sông mặt đất bầu trờ cả màu sắc thắm tuơi sông xanh thắm hoa tím biếc và âm thanh rộn rã Tiếng chim chiền chiện hót vang trờ . Truwocs đây cũng đã nhiều thi nhân mieue tả mùa xuân vơi những ítn hiệu bông hoa chim hót

    chim hót véo von liễu nở đầy

    Nhưng điểm đặc biệt trong thơ Tanh hải là cảnh màu xuân mang nét đẹp riêng cảu quê hương xứ huế . Dòng sông xanh đây là dòng sông hương thở mông của huế ko phải là sông hồng đỏ nặng phù sa cũng chẳng phải là Vàm cỏ đông tươi mát trên dòng sông hương giang thơ mộng ấy ” mọc ” lên l1 bông hoa tím biếc. có lẽ đó là họa lục bình . 1 lòai hoa ưa sông nuwocs ưa đồng nội bình dị thân th ương . Thi nhân xuă thường nói đến màu xuân với những loài hoa tiêu biểu kiêu saquí hiếm như hoa đào mai lan nhưng ở đây mùa xuân trong thơ thanh hại lại được báo hiêu băng 1 bông hoa lục binh tím biêc .Cái màu tím đặc trunưg của xứ huếy ngươi huế . Cách đảo ngữ đưa từ mọc lên đầu câu thơ . Mọc giữa dòng sông xanh gây ấn tuợng về sự vương lên đầy sức sống của bông hoa . 1 sức sống tràn trề tuơi trẻ Chỉ với 2 câu thơ mở đầu nhà thơ đa miêu tả đựoc cả 1 sắc xuân đằm thắm dịu dàng mà xao xuyến lòng người Thanh hải còn cảm nhận thêm 1 nét đẹp nữa của thiên nhiên xứ huế đó là tiếng xuân rộn rã reo vui qua âm thanh thánh thó của chim chiền chienẹ . 1 lòai chim sơn ca sống rất nhiều

    • Huế Tiếng chim hót thánh thóe véo von vang vọng cả đâtd trờ Cã không gian cao rộng nghe tiếng chim hót nàh thơ thoế lên lời gọi của chim thậ thiết tha say đăm

    Ơi con chim chiền chiện hót chi mà vang trờ

    Hô ngữ Ơi kết hiưpự với cụm từ hót chi mà nghe sao mà dịu ngọt êm ái thân thương . 1 lần nữa qua cách thể hiện của TH ta bắt gạp các chât thơ ngọ ngào của xứ Huế qua tiếng thơ nhẹn nhang thân thương tràn đầy cảm xúc lẫn chất huế ấy đã thể hiện tình yêu tha thiêt của nàh thơ đối với quê hương ruột thịt của mình

    Thế ta mùa xuân đang đên ở xứ huế rất đẹp của hoa tím sông xanh ở sức sông của bông hoa và ở niềm vui trong tiếng chim chiền chiện hót. Tâm hồn nhà thơ rộng mỡ để đón nhận nâng niu trân trọng vẻ đẹp sứuc sống và niềm vui ấy

    Từng giọt long lanh rờ Tôi đưa tay tôi hứng

    Nhưng dòng thơ đã thể hiện cảm xúc của hôn thơ TH . bàk ca xứa huế vào xuân nghe tiếng hót trong trẻo véo von thánh thót của chim chiền chiện . Âm thanh đó được kết tinh lại đọng lại thanh từng giọt long lanh lấp lánh Và nhà thơ muốn đuă tay đón nhận từn ggiọt âm thẩ ấy . Rất sáng tạo và đầy gợi cảm . TH đã dùng hiện tượng chuyển đổi cảm giác để thể hiện cảm xúc của mình . Từ cái có tính thính giác chỉ có thê4r nghe được là âm thành của tiếng chim nhà thơ tưởng tnhư thấy được và có thể hứng đựoc cả tiếng chim trong tay . Cảm nhận nó bằng xúc giác nêu xuân diệu ddax có lần say sưa trược vẻ đẹp tươi trẻ của mùa xuân . Thàng giêng ngon như 1 cặp 1 gần để ròi hào hứng thốt lên

    Hơi hồng ta muốn căn vào ngươi thì thanh hải cũng ngất ngây tưởng chứng hưng được cả tiếng xuân . giọt xuana trong tay. Hiện tưởng chueyen đổi cảm giác ấy hoàn toàn màng tính chủ quan có lẽ phi lí ko thực tết .Nhưng đã trở thành nghệ thật trong thơ ca bởi nó đã thể hiện được cái cảm xúc nồng nàn say đăm của nhà thơ . Cací đất trờ xứ huế vào xuân và nhà thơ khương tư dung cũng đã có lần thể hienẹ cảm xúc của mình trong âm thanh của tiếng chim bằng 1 câu thơ có hiện tuơng chuyển đổng cảm giác tương tự

    Một tiếng chim kêu sống cả rừng

    Rồi tờ đó nàh thơ tiếp túc trải dài cảm xúc của mình với mùa xuân đất nước con người

    Mùa xuân người cẩm súng

    Lộc giắt đầy trên lưng

    Mùa xuân người ra đồng

    Lộc trải dài nương mạ

    • đay chún gtả đã thây thanh hỉa đề cập đên 2 hình ảnh đó là người cầm súng và người ra đông . Vì sao vậy có pảhi cahưng học chinh alf nhưng người đã chiến đấu bào vệ tổ quốc họl à những người đổ mồ hôi cong sức để góp phần xây dunựg đất nược đocọ lập hạnh phúc cho mọi người . Như vây jchín hhọc là nhưng nguơiừ mang lại mùa xuân cho nguơiừ khác .Bên cạnh 2 hình ản hnày là lộc Nói đến Lộc là nói đến sự đama chồi của cây là . Nhưng trong văn cảnh này lộc mang hàm ý là mùa xuân là sự may mắn là hạnh phúc đến với người khác Và lộc của người cầm sùng đó là cành lá nguyện trang . Và lộc của người ra đồng là nương mạ xanh tốt . Như vaỵa lộc đã

    theo họ ra chiến trường ra ruộng đồng hay là chín họ đã mang lộc về cho đất nước cho mọi người

    Từ hình ảnh con người tác giả đề cập đến hình ảnh đất nước

    Đất nước bốn ngàn năm

    Vất vả và gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước

    Đất nước tả kể từ buổi đầu dựng nước là quá trình giữ nước hết cuộc kháng chiến này đến cuộc kháng chiến khác . Cha ông ta sẵn sàng đổ xương máu để bảo vệ nền văn hiến cha ông. Đây là 1 quy trình đầy gian lao vất vả nhưng cũng đầy tự hào Niềm tự hảo đó đã được tác giả so sánh bằng hình ảnh rất đẹp ” như vì sao ” Nói đến vì sao là nói đến các tinh tú lấpl ánh trên bầo trời . Vì sao cứ ngàn năm mãi vình hằng đối với cuộc sống con người và đối với đất nước như vì sao có nghĩa là đất nước ta rất đẹp đất nước ta từ 4000 năm đã đặc xây dựng và phát triển “cứ đi lên phía trước “Chính vì thế mà trước vẻ đẹp đó trước niềm tự hào Con người khi cảm nhận về đó như cảm thấy hối hả . Ở 2 câu này vuằ có điệp từ ” tất cả ” Lạp lại cùng với những hình ảnh đầy hình tượng như âm thanh >Nó gợi tả đươcọ không khi và khí thế rộn ràng vui vẻ cảnh đất nước vào xuân

    Mở đầu bài thơ . Nó đã giớ thiệu cảnh sắc mùa xuana thiên nhiên đẹp tươi ddang đến trên quê hương xứ huế thân thương . Nhưng khổ thơ của thanh hải là cảm nhận của nhà thơ về mùa xuân đất nước . dân tộc . Và cũng từ mạch cảm xúc đó nhà thơ đã quay về với lòng mình . Suy nghĩ thật chân thành và lắng động

    Ta làm con chim hót

    Ta làm 1 cành hoa

    Ta nhập vào hòa ca

    Một nốt trầm xao xuyến

    Thanh Hải suy nghĩ về mình về trách nhiệm đóng góp của mình trong mùa xuân của đời . Nêu ở khổ thơ đầu mùa xuan thiên nhiên đưộc báo hiệu bằng hình ảnh 1 bông hoa đang nở rộ bằng âm thanh tháng thót của con chim chiền chiện thì giờ đây nhà thơ cũng muốn làm con chim hót 1 cành hoa để góp phần làm nên mùa xuân cho đời . Nêu trong khổ thơ truóc đó nhà thơ đã gợi ra mùa xuân của thiên nhiên đất nưộc dân tộc thì ở đaya nhà thơ đã liên hệ đến mình nghĩ về mình trong nhưng ngày cuối đời . khát khao đưộc cống hiến cho cuộc sống cho đất nước cho cách mạng. Trong cái lớn lao của đất trờ vào xuana . Tổ quốc vào xuân .Thanh Hải chỉ xin góp phần làm 1 tiếng chim trong giọng hót của muôn chim để âm thanh mùa xuân thêm rộn rã tưng bunừg màng đến niềm vui cho người . Làm 1 cành hoa trong hương sắc của muôn hoa góp them vẻ thắm tươi rực rỡ cho đời . Mà đặc biệt múôn làm 1 nốt trầm trong bản hoa tấu muôn lời muôn điều của cuộc sống . Thanh hải chỉ muốn làm 1 nốt trầm không vuốt cao ko âm ỉ một nót phụ trong vè phụ của giàn hợp xướng làm nền cho bè vút lên . Nhưng là 1 nốt trầm nghe xao xuyến lòng người cho đời thêm sinh động đáng yêu Nhà thơ dùng nhữung hình ản hđẹp của thiên nhiên như chim hót cành hòa để nói lên ược nguyện đươcọ sống có ich để cống hiến cái tinh túy cao đẹp nhất của chính mình cho cuộc đời chung . Số từ một đặt trứoc cành hoa notó trầm thể hiện sự khiêm tốn của nhà thơ ko làm đưộc 1 vường hoa thì hãy làm 1 bông hoa bé nhó ko làm 1 giàn hợp xướng thì hãy làm 1 nốt trầm xao xuyến > Chỉ xin làm 1 bông hoa 1 tiếng chim 1 nốt trầm để tô điểm làm đpẹ làm vui cho cuộc sống . Ước nguyện hóa thân ấy

    của nàh thơ ko cao xa vĩ đại mà gần gũi thân thương. đẹp và đáng yêu biêt mấy Bời khát vọng sống có ich có ý nghĩa và vô cùng khiêm tốn . Điệp ngữ ta làm ta nhập như 1 lời tự nhủ cùng với nhịp thơ sôi nổi thiết tha đã thể hienẹ 1 cách gợi cảm mạng mẽ cái khát vọng cháy bỏng của nàh thơ tự nguyện gop xuân đời riêng vào xuân đời chung của đất nước quyêh ương . 1 điều đán gchú ýe là từ chỗ xưng tôi ở đầu bài thơ với bao cảm xúc Thanh Hìa đã chuyển sang xưng ta với bao nhiêu nhận thức suy ngẫm . Rõ ràn gđã có sự vươn lên trong tư duy của nhà thơ để chuyển từ cái cá nhân riêng lẻ đến cái chung rộng lớn với ba ước nguyện cống hiến cho đời . Có thể thanh hải muốn gởi vào cái ta ấy 1 lời nhắc nhở đối với tất cả chúng ta trong cuộc đời này

    ko Những vậy khát vọng cống hiến ây rất khiêm tốn thầm lặng ko ngừng nghĩ . Khiêm tốn ở chỗ tất cả ước nguyện cảu nhà thơ đọng lại trong hìn hảnh

    Một màu xuan nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Hìn hản hthơ ở đay lạp lại nhan đề Mùa Xuân Nho Nhỏ là 1 điểm sáng thẩm mỹ của bìa tohư . Mùa xuana là 1 khải niệm về thơi gian vậy mà nhà thơ đã cụ thể hóa thàn hhính khôi nho nhỏ. Thanạ xinh xắn đễ thưonưg để thể hiện tấm lòng mình . KO phải là 1 mùa xuân xanh 1 mùa xuân hông hay mùa chín nhưng ở thanh hải là mùa xuân nho nhỏ Chính với khát vọng làm 1 tiếng chim hót cành hoa xinh nốt nhạ trầm là thanh hải đã tạo được 1 màu xuân nho nhro đề hòa mình với 1 mùa xuân lớn lao của đất nước .nó dâng hạnh phúc sự sống cho đời . Nhà thơ muốn gởi gắm qua hình ảnh mùa xuân nho nhỏ cái khát vọng thật nhro bé và vô cùng cao đẹp . Ước nguyện được làm 1 mùa xuân nghĩa là muốn song đẹp sống với sức xuana tương trẻ của mình dẫu chỉ là xuân nhỏ nhỏ trong cái mùa xuân rộng lớn của đất nước nhưng trong cái xuân

    đời riêng vào mùa xuân bào la bất tận của cuộc đời là khát vọng khiêm tốn đáng yêu của 1 người thiết tha muốn cống hiến cho tổ quốc và ý thức rất rrõ cái hữu hạn của cá nhân mỗi người truớc cái vô hạn cái rộng lớn của cuộc đời

    Điều đáng quý là cái MXNN mà nhà thơ muốn cống hiến đo ko chút âm ĩ phô trương mà chỉ âm thầm lặng lẽ như 1 dòng sông tháng ngày lặng lẽ bồi đắp phù sa cho ruộng đồng màu mỡ . cây trái xanh tươi. Từ láy gợi tả gơij cảm lặng lẽ của đông từ dàng cho thấy thái độ cống hiến trân trọng mà thầm lặng khiêm tốn đáng yêu đáng quí của nhà thơ . Thái đó cống hiến thầm lặng đó gợi ta nhớ đến cùng sự hi sinh dấn hiên lặng lẽ tuổi xuân xứ huế và hạnh phúc cá nhân mình cho tổ quốc thân yêu . Cú nhưng con người ngày đêm làm việc và lo nghĩ cho đất nước như anh than nhiên, người kĩ sư vường rau , anh cán bố nghiên cứu vê fsét bên dưới cái giá bằng thâm thùng mây tuyết ở Lặng Lẽ Sa Pa

    Điểm đáng nổi bật đặc biệt ở đaya là Thanh Hải dẫu chỉ mong được đóng góp cho đời 1 Mùa xuân nho nhro 1 cách âm thầm lặng lẽ nhưng lại miệt mài ko dứt hay nói cách khác là ko ngừng nghĩ dù khi tuổi trẻ đầu xanh hay tuổi già tóc bạc

    Dù là tuổi 20

    Dù là khi tóc bạc

    Mùa xuân nho nhỏ chính là tấm lòn gđáng quí của thanh hải đôiv ới cuộc đời và tấm kòng ấy còn đáng quí hơn nữa khi đã ý thức được sự hữu hạn cảu đời người trong cái vô cùng của đất trời thiên nhiên nhà thơ vẫn cớ muốn cóng hiến tất cả và mãi mãi cho cuộc sóng . Điệp ngữu dù là để lạp lại như mang ý nhấn mạng đã giúp cho thanh hải thể hiện thành công khát vọng cống hiến ko thôi bất chấp tất cả thách thức của tjhơi gian tuổi già bệnh tật khảng định quyết tâm cống hiến hết mình cống hiến ko

    giừoi hạn ở luằ tuổi nào . ko dừng lại ở thơi điểm nào . khi tuởi 20 tràn đầy như sống hay luắ đóc đã phải suơngư và đã qua đi tuổi xuân của đời mình . Nhà thơ cũng xin cống hiến nhưng gì thật đẹp tất cả sức lực và nhiệt tình coi đó là niềm vui là lẽ sống . khát vọng ấy đã trở thành 1tâm nguyện bất diệt . Thể hiện tình yêu thiết tha đối với quê hương đất nước cuộc đời sâu xa hơn đây là ý thức trách nhiệm đời với xã hội với con người

    Tấm lòng và nguyện ước của nhà thơ chính là tư tưởng là nhân sinh quan ai ước mông được sống với sự cống hiến nhiều hơn là hưởng thụ sống cũng là quan niệm sống mà Tố hữu đã từng khẳng định qua 1 khúc ca xuân

    Nếu ta làm con chim chiếc là

    Con chim phải hót , chiếc là phải xanh

    Lẽ nào vay mà ko trả

    Sống là cho đâu chỉ nhận riêng mình

    Nhưng nàh thơ cách mạng đó đã có chung 1 suy nghĩ thật đpẹ thật cao quý nhưng gì mà mình nhận của đời là vô cùng lớn lao nên sống là phải đóng góp dựng xây cuộc đời . Quan niệm này có nét giống và cũng có nét khác với quan niêm của nguyên công trứ ngày xuă Trước đay đã có nhưung suy nghĩ thật tiến bộ cho rằng khi sinh ra trên đời là để hưởng thụ bào di sản của lớp người đi truớc là ta đã mang 1 món nợ ở đời _ nợ tang bồng Và được vậy phải nhập thể hành đạo để trả nợ

    Nợ tang bồng vay trả trả vay

    Nguyễn Công Trứ đã có 1 nhận thức đúng đắn về mối quan hệ giữa cá nhận với xã hội và trách nhiêm của mỗi thành viên trong cộngđòng . QUan niệm như thể là đáng quí nhưung theo ông khi

    Nợ tang bồng trong trắc vỗ tay reo

    Thi con người có thể mãng nguyện nghỉ ngơi hương thanh nhàn . ko còn gì vướng bận với đời

    Thảnh thơi thơ túc rượu bầu

    Còn đối với thanh hải và quan niệm xã hội chủ nghĩa của chúng ta hôm nay thì sự cống hiến cho hạnh phúc chung ko bao giờ có thể nói hoàn thành là kết thúc . Cống hiến ây là vô cùng là mãi mãi và chỉ thức sự chấm dứt khi con người nhắm mắt xuôi tay QUan niệm káht vọng cống hiến mãi ko thôi của Thanh Hải ở đay tích cực hơn đáng quí hơn và do vậy cao đẹp hơn bởi có sự tiếp xức của thời đại và có cội nguồn sâu xa là tình yêu nống thắm đối với con người quê hương cuộc đời .

    Khổ thơ đã khép lại nhưng ý tình vẫn còn lắng đọng và ngân vang trong lòng người phải chăng 1 mùa xuân nho nhỏ lặng lẽ dâng cho đời kìa ko chỉ là của thanh hải mà còn lòa ước nguyện của mỗi chung ta những ai đã đọc bài thơ những ai muốn sống đẹp và hữu ích cho đời Có biết được haòn cảnh ra đời của bài thơ ta mới thây hết giá trị và ý nghĩa cao đẹp của nó . Bài thơ được thanh hải viết vào mùa đông tiết trời lạnh giá lúc nằm trên giường bệnh cận kề cái chết Ta chợt hiểu mùa xuân đây ko pảhi từ bên ngời đên mà đã có trong lòng nguời Như xuân Diệu đã có lần cảm nhận

    Xuân của đất trời hôm nay sao mới đến Trong tôi xuân đến tự lâu rồi ( xuân ko mùa )

    Chính mùa xuân vĩnh cữu trong lòng ấy đã giúp nhà thơ quên đi sự đau đớn của bệnh tật sự rình rập của cái chết đem lại cho nàh thơ niềm say xức với cuộc sống lòng tin yêu lạc quan với cuộc đời

    Hai khổ thơ ko hề có 1 từ ngữ bóng bẩy trau chuốt hoa mỹ lờ thơ nhẹ nhàng chân chất bình dị tình người ko phải ngẫu nhiên mà bài thơ mùa xuân nho nhở được phổ nhạc . Đây là 1 bài thơ giàu nhạc điệu giàu hình ản hvà khi nó đươcọ phổ nhạn thì đáy lại là 1 bài hạc giàu chất thơ. CHỉnh giau điệu nhẹ nhàng và tươi trẻ . từ đó ddax tạo cho bài thơ có sức truyền cảm lạ thường làm nỗi bật hơn những ước vọng cống hiến còa đẹp của 1 người rất tâm huyết với quê hương đất nước cuộc đời

    Chỉ 1 thang sau nàgy sáng tác bài thơ này Thanh ải qua đời Mùa Xuan nho nhỏ trở thành lời di chúc của chính nàh thơ . Bài thơ là lời tâm tình nhỏ nhẻ thiết tha mà vô cùng sâu lắng của 1 hồn thơ dịu dàg đăm thắm yêu đời yêu đất nước và ước nguyện sống đẹp sống có ích cống hiến cho đời tấm lòng khiêm tốn nhà thơ gợi lên trong em người là lẽ sống cao đẹp vượt lên những tình toán nhỏ nhen vuằ đời thường khơi dậy

    • em niềm káht khao muốn theo bước nàh thơ Tự nguyên góp xuân đời riêng vào xuân đời chung của dân tộc quê hương

    Như hạt muối hòa trong biển mặn Cùng góp mình cho cuộc đời chung

    ****************************************

    ****************************************

    ****************************************

    Sinh ra, lớn lên, hoạt động cách mạng và tham gia công tác văn nghệ suốt hai thời kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ ngay chính trên quê hương ruột thịt của mình. Ở địa diểm nào, hoàn cảnh nào Thanh Hải cũng thể hiện được lẽ sống của mình. Đó là sự giản dị, chân thành, yêu người và khát vọng dâng hiến sức mạnh

    cho đời như chính cuộc sống và tâm hồn ông. có thể nói bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ” là món quà cuối cùng mà Thanh Hải dâng tặng cho đời trước lúc về cõi vĩnh hằng. Chính vì vậy nó bâng khuâng, tha thiết và sâu lắng hơn tất cả để cuối cùng thể hiện một Thanh Hải yêu người, yêu cuộc sống, yêu quê hương đất nước và còn là một Thanh Hải sống cho thơ và sống cho đời.

    Trước lúc vĩnh viễn ra đi ông cũng để lại cho đời những vần thơ thật nhân hậu, thiết tha và thanh thản, không hề gợn một nét u buồn nào của một cuộc đời sắp tắt. Khi cuộc đời mình đã bước vào cuối đông, nhà thơ vẫn nghĩ đến một mùa xuân bất diệt, muôn thuở và nguyện dâng hiến cho đời.

    Hình ảnh của một mùa xuân rất Huế đã được tác giả mở đầu cho bài thơ:

    “Mọc giữa dòng sông xanh

    Một bông hoa tím biếc.

    Một nét đặc trưng nơi xứ Huế là hình ảnh màu tím. Một màu tím thật gợn nhẹ như màu tím hoa sim mọc giữa con sông xanh biếc hay như những tà áo dài với màu tím thật nhẹ nhàng của những cô gái Huế. Cảm xúc về mùa xuân mở ra thật ngỡ ngàng, bất ngờ, không gian như tươi tắn hơn, trẻ trung hơn, thánh thoát hơn:

    “Ơi con chim chiền chiện

    Hót cho mà vang trời,

    Trong không gian vang vang vui tươi của tiếng chim càng đậm đà chất Huế hơn . Một từ “Ơi” đặt ở đầu câu, một từ “chi” đứng sau động từ “hát” đã đưa cách nói ngọt ngào, thân thương của Huế vào nhạc điệu của thơ.

    Trước khung cảnh màu xuân ấy, Thanh Hải không giấu nổi cả xúc của mình Từng giọt long lanh rơi,

    Tôi đưa tay tôi hứng”.

    Từ “giọt long lanh” không chỉ hiểu là giọt mưa xuân trong anh sáng của sắc xuân mà còn được hiểu là giọt âm thanh, giọt sắc màu, giọt thời gian khiến tác giả say sưa ngây ngất . Một từ “hứng” cũng đủ diễn tả sự trân trọng của nhà thơ đối với vẻ đẹp của trời, của sông, của chim muông hoa lá; đồng thời cũng thể hiện cảm xúc trọn vẹn của Thanh Hải trước mùa xuân của thiên nhiên đất trời.

    chỉ bằng vài nét điẻm xuyến phác hoạ tác giả đã vẽ ra một không gian cao rộng, sắc màu tươi thắm, âm thanh vang vọng tươi vui của mùa xuân, của thiên nhiên đất trời.

    Từ mùa xuân của thiên nhiên đất trời, tác giả đã chuyển cảm nhận về mùa xuân của cuộc sống, nhân dân và đất nước. Với hình ảnh “người cầm súng” và “người ra đồng”, biểu tượng của hai nhiệm vụ: chiến đấu bảo vệ tổ quốc và lao động tăng gia để xây dựng đất nước với những câu thơ giàu hình ảnh và mang tính gợi cảm:

    “Mùa xuân người cầm súng,

    Lộc giắt đầy trên lưng.

    Mùa xuân người ra đồng,

    Lộc trãi dài nương mạ.

    Tất cả như hối hả,

    Tất cả như xôn xao…”

    Hình ảnh mùa xuân của đất trời đọng lại trong lộc non đã theo người cầm súng và người ra đồng, hay chính họ đã đem mùa xuân đến cho mọi miền của tổ quốc thân yêu.

    Tác giả đã sử dụng biện pháp điệp từ, điệp ngữ như nhấn mạnh và kết thúc một khổ thơ bằng dấu ba chấm. Phải chăng dấu ba chấm như còn muốn thể hiện rằng: đất nước sẽ còn đi lên, sẽ phát triển, sẽ đến với một tầm cao mới mà không có sự dừng chân ngơi nghỉ.

    Sức sống của “mùa xuân đất nước” còn được cảm nhận qua nhịp điệu hối hả, những âm thanh xôn xao của đất nước bốn ngàn năm, trải qua biết bao vất vả và gian lao để vươn lên phía trước và mãi khi mùa xuân về lại được tiếp thêm sức sống để bừng dậy, được hình dung qua hình ảnh so sánh rất đẹp:

    “Đất nước bốn ngàn năm

    Vất và vào gian lao

    Đất nước như vì sao

    Cứ đi lên phía trước”

    Cùng với động từ Cứ đặt ở đầu câu, tác giả đã khẳng định một sự khẩn trương, hói h, náo nức vào xuân của đất nước với vẻ đẹp lung linh, lấp lánh đang vững bước về phía trước khiến không một thế lực thù địch nào có thể ngăn cản nổi.

    Đó chính là lòng tự hào, lạc quan, tin yêu của Thanh Hải đối với đất nước, dân tộc. Những giọng thơ ấy rất giàu sức suy tưởng và làm say đắm lòng người.

    Từ cảm xúc của thiên nhiên, đất nước, mạch thơ đã chuyển một cách tự nhiên sang bày tỏ suy ngẫm và tâm niệm của nhà thơ trước mùa xuân của đất nước. Mùa xuân của thiên nhiên, đất nước thường gợi lên ở mỗi con người niềm khát khao và hi vọng; với Thanh Hải cũng thế, đây chính là thời điểm mà ông nhìn lại cuộc đời và bộc

    bạch tâm niệm thiết tha của một nhà cách mạng, một nhà thơ đã gắn bó trọn đời với đất nước, quê hương với một khát vọng cân thành và tha thiết:

    “Ta làm con chim hót,

    Ta làm một cành hoa.

    Ta nhập vào hoà ca,

    Một nốt trầm xao xuyến”

    Lời thơ như ngân lên thành lời ca. Nếu như đoạn đầu Thanh Hải xưng tôi kín đáo và lặng lẽ thì đến đoạn này ông chuyển giọng xưng ta. Vì sao có sự thay đổi như vậy? Ta ở đây là nhà thơ và cũng chính là tất cả mọi người. Khát vọng của ông là được làm con chim hót dâng tiếng ca lảnh lót , một cành hoa toả hương khoe sắc để hoà nhập vào “mùa xuân lớn” của đất nước, góp một nốt trầm vào bản hoà ca bất tận của cuộc đời. Hiến dâng “mùa xuân nho nhỏ” nghĩa là tất cả những gì tốt đẹp nhất, dù nhỏ bé của mỗi người cho cuộc đời chung cho đất nước. Điều tâm niệm đó thật chân thành, giản dị và tha thiết – xin được làm một nốt trầm trong bản hoà ca của cuộc đời nhưng là “một nốt trầm xao xuyến”.

    Điều tâm niệm của tác giả: “lặng lẽ dâng cho đời” chính là khát vọng chung của mọi người, ở mọi lứa tuổi, chứ đâu phải của riêng ai. Thanh Hải đã thể hiện hết mình vì lòng tin yêu cuộc sống và khiêm tốn hiến dâng cho đất nước, cho cuộc đời, bởi vậy, xuất phát từ tiếng lòng thiết tha, nhỏ nhẹ, chân thành của tác giả nên lời thơ dễ dàng được mọi người tiếp nhận và chia sẻ

    “Một mùa xuân nho nhỏ

    Lặng lẽ dâng cho đời

    Dù là tuổi hai mươi

    Dù là khi tóc bạc”.

    Một mùa xuân nho nhỏ hay phải chăng cũng là một ẩn dụ cho chính cuộc đời của tác giả: sống là cống hiến, cống hiến chính là mùa xuân của cuộc đời?Mà mùa xuân ấy thì là mãi mái: “Dù là tuổi hai mươi” khi mới tham gia kháng chiến cho đến khi tóc bạc, khi sức cùng lực kiệt vẫn lặng lẽ dâng hiến cho đời . và, dù Thanh Hải cũng có đi xa thì những lời ca tiếng hát mà ông để lại cho đời mãi mãi vẫn có giá trị, mãi mãi vẫn tô điểm cho đất nước đẹp xinh. Điệp ngữ dù là được tác giả nhác lại hai lần như một lời hứa, một lời khẳng định của nhà thơ: sống là phải cống hiếntuyệt đối.nNhư nhà thơ Tố Hữu đã từng viết :

    “Nếu là con chim, chiếc lá,

    Con chim phải hót, chiếc lá phải xanh

    Lẽ nào vay mà không trả,

    Sống là cho, đâu chỉ nhận riêng mình.”

    Tác giả Kết thúc bài thơ bằng một âm điệu xứ Huế: điệu Nam ai, Nam Bình mênh mang tha thiết, là lời ngợi ca đất nước, biểu hiện niềm tin yêu và gắn bó sâu nặng của tác giả với quê hương, đất nước, một câu chân tình thắm thiết

    “Mùa xuân ta xin hát

    Câu Nam ai, Nam Bình

    Nước non ngàn dặm tình

    Nước non ngàn dặm mình

    Nhịp phách tiền đất Huế”

    Những lời tâm sự cuối cùng của người sắp mất luôn là những lời thực sự, luôn chứa chan tình cảm, ước nguyện sâu lắng nhất… và bài thơ này cũng chính là những

    điều đúc kết cả cuộc đời của Thanh Hải. Ông đã giải bày, tâm tình những điều sâu kín nhất trong lòng, và chính lúc đó Thanh Hải đã thả hồn vào thơ, cùng chung một nhịp đập với thơ để ông và thơ luôn được cùng nhau, hiểu nhau và giải bày cho nhau.

    Với thể thơ năm chữ, mang âm hưởng dân ca nhẹ nhàng tha thiết, giàu hình ảnh, nhạc điệu, cất trúc thơ chặt chẽ, ‘’Mùa xuân nho nhỏ’’ mang một nét đặc sắc riêng Nét đặc sắc đó là ở chỗ nó đề cập đến một vấn đề lớn và quan trọng “nhân sinh”, vấn đề ý nghĩa cuộc sống của mỗi cá nhân được Thanh Hải thể hiện một cách chân thành, thiết tha, bằng giọng văn nhỏ nhẹ như một lời tâm sự, gửi gắm của mình với cuộc đời. Nhà thơ ước nguyện làm một “mùa xuân” nghĩa là sống đẹp, sống với tất cả sức sống tươi trẻ của mình nhưng rất khiêm nhường; là “một mùa xuân nho nhỏ” góp vào “mùa xuân lớn” của đất nước của cuộc đời chung .Bài thơ cũng có ý nghĩa hơn khi Thanh Hải nói về “mùa xuân nho nhỏ” nhưng nói được tình cảm lớn, những xúc động của chính tác giả và của cả chúng ta

  • Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn Mẫu Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Bài làm

    Lúc đầu:

    Trước khi gặp Thị Nở, tối ấy Chí Phèo đã uống rượu ở nhà Tự Lãng, một lão vừa làm nghề thầy cúng, vừa làm nghề hoạn lợn.

    Sau khi gặp Thị Nở:

    • Lúc đầu: Trước khi gặp Thị Nở, tối ấy Chí Phèo đã uống rượu ở nhà Tự Lãng, một lão vừa làm nghề thầy cúng, vừa làm nghề hoạn lợn. Ở đó, chưa bao giờ Chí Phèo được uống thoả thê đến thế… Người ta cư tưởng như cả làng Vũ Đại phải nhịn uống rượu để cho chúng uống. Khi trở về vườn, Chí đã quá say, không đi vào túp lều mà ra thẳng bờ sông đẻ tắm. Trên đường đi hắn gặp Thị Nở đang ngủ hớ hênh dưới trăng. Sự chung đụng ấy hoàn toàn ngẫu nhiên, mang tính bản năng của người đàn ông trong cơn say.

    Sự thức tỉnh:

    Sáng hôm sau, khi đã trải qua 2 biến cố: gặp Thị Nở rồi bị trúng gió được Thị Nở đưa vào lều.

    +Đầu tiên, Chí Phèo tỉnh rượu: Đây có lẽ là lần đầu tiên anh ta tỉnh rượu kể từ lúc ra tù về. Những lần trước, mỗi khi tỉnh rượu, anh lại uống, vì thế say kế tiếp say.

    Còn lần này, Chí Phèo tỉnh rượu với trạng thái khác hẳn: “ Người thì bủn rủn, chân tay không buồn nhấc; hay là đói rượu, hắn hơi rùng mình. Ruột gan lại nôn nao lên một tí. Hắn sợ rượu như những người ốm sợ cơm”. Đó là điều rất lạ ở Chí.

    +Từ tỉnh rượu, Chí Phèo dần thức dậy ý thức vốn có ở một người bình thường. Lần đầu tiên, nah ta nghe tiếng ríu rít bên ngoài, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng gõ mái đuổi cá của anh thuyền chài. Tất cả những âm thanh ấy là những tiếng quen thuộc hôm nào chả có, nhưng hôm nay Chí Phèo mới nghe thấy, bởi xưa nay anh chưa bao giờ hết say.

    Không những thế, Chí còn biết ngoài cái lều ẩm thấp chỉ có hơi lờ mờ của mình, mặt trời chắc đã lên cao, và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cũng như những người say tỉnh dậy, Chí Phèo thấy miệng đắng, lòng mơ hồ buồn. Nhưng với anh, đây là cảm giác, cảm xúc vừa được đánh thức. Khi Chí Phèo nghe những âm thanh của cuộc sống và biết đuợc trời sớm hay muộn cũng chính là anh đã dần ý thức về cuộc sống. Rồi anh lại nhớ về quá khứ, rằng có một thời, đã ước mơ có một cuộc sống gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc mướn cày thuê. Vợ dệt vải. Bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm. Thông thường, người ta nhớ lại thời gian quã vẵng để hiểu hiện tại.Chí cũng vậy: Hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc. Buồn thay ch đời! Có lí nào như thế được? Hắn đã già rồi hay sao? Ngoài bốn mươi tuổi đầu… Hắn đã tới cái dốc kia của đời.

    Rồi Chí Phèo đã hình dung được tương lai đầy bất trắc: Ở những người như hắn, chịu đựng biết bao là chất độc, đày đoạ cực nhọc, mà chưa bao giờ ốm, một trận ốm có thể là dấu hiệu báo rằng cơ thể đã hư hỏng nhiều. Nó là một cơn mưa cuối mùa thu cho biết trời gió rét, này mùa đông đã đến. Chí Phèo hình như đã trông trước thấy

    tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc… Càng nghĩ, Chí càng lo, vì cô độc đáng sợ hơn là đói rét và ốm đau. Nếu không có Thị Nở vào, cứ để hắn vẩn vơ, thì đến khóc được mất. Đến đay, không ai nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nữa. Một người không những giàu cảm giác, cảm xúc, mà còn ý thức có phần sâu sắc về cuộc đời, về bản thân phải là con người bình thường chứ! Với bản thân Chí Phèo, anh đã trở lại hoàn toàn con đường tự ý thức.

    • Khi được chăm sóc: Những ngày kế tiếp, Thị Nở sống chung với Chí Phèo. Anh ta ốm và Thị Nở trở thành người duy nhất chăm sóc. Nhà văn không kể lể nhiều về sự chăm sóc đó mà dừng lại miêu tả thật chi tiết bát cháo hành Thị Nở đã bón cho Chí.

    +Với Thị Nở, việc ấy xuất phát từ sự đáng thương đối với một người đau ốm mà nằm chòng queo một mình, lòng yêu của một người làm ơn và có cả lòng yêu của người chịu ơn.

    +Còn Chí Phèo, anh ta cảm nhận được rất nhiều: Lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. Xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì… Đời hắn chưa bao giờ đuợc săn sóc bởi một bàn tay “đàn bà” …Hắn chưa được người đàn bà nào yêu cả. Còn lần này, bát cháo hành của Thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được… Như vậy, qua bát cháo hành, Chí Phèo cảm nhận được sự chăm sóc yêu thương của người khác dành cho mình và chính anh ta cũng mong ước có niềm yêu thương ấy.

    +Từ cảm nhận về tình yêu của Thị Nở, cảm xúc, cảm giác càng được đánh thức sâu sắc hơn ở Chí Phèo: Hắn thấy mắt hình như ướt ướt…Hắn nhìn bát cháo hành bốc khói mà bâng khuâng… Hắn thấy vừa vui vừa buồn… Hắn thấy lòng thành trẻ con.

    Hắn muốn làm nũng Thị như với mẹ. Ôi sao mà hắn hiền… Không những thế, ở Chí còn giống một cái gì nữa như ăn năn… hối hận về tội ác khi không đủ sức mà ác nữa. Anh ta băn khoăn tự hỏi rồi tự trả lời, ngẫm nghĩ mà sợ hãi: Hắn đâu còn mạnh nữa. Và có lúc hắn ngẫm mình mà lo. Xưa nay hắn chỉ sống bằng giật cướp và doạ nạt. Nếu không còn sức mà giật cướp, dọa nạt nữa thì sao? Đã đành, hắn chỉ mạnh vì liều. Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có một lúc mà người ta không thể liều được nữa. Bầy giờ mới nguy!

    +Bùng nổ trong tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở là khát vọng lương thiện. Đấy cũng là đỉnh điểm của sự tỉnh thức của Chí Phèo: Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hoà với, vọi nguời biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lạo không thể đựơc. Họ sẽ thấy rằng hắn cũng có thể không làm hại được ai. Họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện… Chí đã đem cái khát vọng ấy ta thăm dò đặng tìm sự chia sẻ ở Thị Nở. Khi thị cười tin cẩn, Chí Phèo thấy tự nhiên nhẹ cả người và lòng thấy rất vuoi chứng tỏ anh ta đang tràn đầy hy vọng trở lại thế giới con người. Những ngày sau đó, Chí không còn kinh rượu nhưng cố uống thật ít. Để cho khỏ tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo mà yêu nhau. Đàn bà không có men như rượu nhưng cũng làm người say. Và hắn say Thị Lắm. Cả người kể chuyện ẩn hình, vốn rất lạnh lùng, cũng không giấu nổi cảm xúc cảm hình khi hình dung về tương lai của họ: Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi.

    – Bị từ chối quyền làm người lương thiện:

    Những ngày vui của Chí Phèo không kéo dài được bao lâu. Đến hôm thư sáu, thì Thị bỗng nhớ rằng có một ngưòi cô ở đời… Thị nghĩ bụng: hãy dừng yêu để hỏi cô Thị đã.

    +Bà cô Thị Nở quyết liệt phản đối cháu gái lấy thằng Chí Phèo vì ai lại đi lấy thằng Chí Phèo, một thằng không cha, chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ. Đau đớn cho Chí Phèo, khi anh ta hiền và muốn làm hoà với mọi ngưòi thì chính họ vẫn sợ và vẫn nghĩ Chí Phèo là con quỷ dữ ở làng Vũ Đại! Đến bà cô của Thị Nở, một người năm muơi tuổi vẫn chưa lấy chồng, sống cái đời dằng dặc, uất ức, còn nghĩ về Chí như vậy huống chi ngườ khác. Sự phản đối của bà cô Thị Nở đồng nghĩa với việc đóng chặt con đường trở về với thế giới lương thiện của Chí Phèo. Vì thế, ban đầu còn ngơ ngác, hắn nghĩ ngợi một tí rồi hình như hiểu, hắn bỗng nhiên ngẩn người. Chí thấy cần thiết phải trả thù: Hắn phải đến nhà ****** Nở kia. Đến để đâm chết cả nhà nó. Nếu không đâm được, đến lúc ấy hãy đập đầu ra kêu làng. Với Chí, đập đàu hay kêu làng cũng là cách tỏ rõ sức mạnh của mình, một cách trả thù. Nhưng muốn đập đầu phải uống thật say. Không có rượu lấy gì làm cho máu nó chảy! Thế là Chí uống, song lần này càng uống lại càng tỉnh ra và đặc biệt hắn cứ thoang thoảng thấy hơi cháo hành. Như vậy, đây cũng là lần đầu tiên trong đời, Chí Phèo uống rượu mà ngưòi lại tỉnh, khác với những cơn say dài mênh mông trước đó. Khi trong đầu anh cứ thoang thoảng mùi cháo hành chứng tỏ Chí không sao quên được những ngày ngắn ngủi từng được chăm sóc, vui sống. Bây giờ, tất cả những cái đó đã bị tước đoạt, vì thế Chí quyết phải đi trả thù, đi đòi lại lương thiện.

    Khi nghe Thị Nở kể chuyện, Chí nghĩ ngay đến việc giết bà cô của thị để trả thù. Nhưng sau khi uống rất nhiều rượu, với một con dao ở thắt lưng, miệng lảm nhảm

    • “Tao phải đâm chết nó!”, Chí Phèo cứ thẳng đường mà đi đế nhà Bá Kiến. Anh không hề quên đường, bời bà cô Thị Nở không phải là người cướp đi những gì mà anh vốn có, càng không thể cho anh những gì đã mất. Đây có thể coi là giây phút tỉnh táo nhất khi Chí đi tù về. Tỉnh táo xác định kẻ thù : Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào để mất được những vết mảnh trai trên mặt này? Tỉnh táo trong hành động tự sát vì không được sống lương thiện và không muốn trở lại kíêp sống thú vật như trước : Tao không thể làm người lương thiện nữa. Biết không? Chỉ có một cách…biết không?…

    Chỉ có một cách là …cái này ! Biết không !… Những câu nói đứt quãng vừa thể hiện quyết tâm trả thù, vừa bộc lộ niềm phẫn uất, nỗi bế tắc của Chí Phèo. Cái chét là cách chọn lựa duy nhất để Chí giải quyết bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người lương thiện. Vì thế, chết mà uất ức, vẫn còn muốn nói to với mọi người khát vọng của mình : …khi người ta đến thì hắn cũng đã giãy đành đạch ở giữa bao nhiêu là máu tươi. Mắt hắn trợn ngược, mồm hắn ngáp ngáp, muốn nói nhưng không ra tiếng. Ở cổ hắn, thỉnh thoảng máu vẫn còn ứ ra.

  • Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:VĂN MẪU PHÂN TÍCH TẤN BI KỊCH BỊ CỰ TUYỆT QUYỀN LÀM NGƯỜI CỦA NHÂN VẬT CHÍ PHÈO


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Văn mẫu Phân tích truyện ngắn Những đứa con trong gia đình

    Phân tích truyện ngắn “Những đứa con trong gia đình”

    BÀI LÀM

    Những đứa con trong gia đình của nhà văn Nguyễn Thi gắn liền với không khí của những ngày kháng chiến chống đế quốc Mỹ quyết liệt và hào hùng. Câu chuyện kể về những đứa con trưởng thành trong gia đình lớn cách mạng, hun đúc những vẻ đẹp truyền thống của quê hương. Mỗi một nhân vật trong tác phẩm đã thể hiện một cách đặc sắc phẩm chất, cá tính của con người Nam Bộ trung dũng kiên cường, gắn bó với gia đình, quê hương, trung thành với cách mạng.

    Tác phẩm được xây dựng theo kết cấu truyện ngắn hiện đại: là mạch hồi ức của anh tân binh Việt, đan xen giữa quá khứ và hiện tại, nối kết một cách tự nhiên tình cảm gia đình – quê hương – cách mạng. Không gian giàu kịch tính và thời gian nghệ thuật của tác phẩm tạo nên sự đan cái của những câu chuyện kể không theo trình tự tuyến tính mà có sự sắp xếp hợp lý, tạo ra sự liên tưởng nhiều chiều. Xoay quanh nhân vật trung tâm là hai chị em Chiến và Việt còn là hệ thống hình tượng nhân vật gắn bó với nhau trong tình ruột thịt, có những nét bản chất thống nhất như chảy ra trong cùng huyết thống, nhưng mỗi người một vẻ không ai giống ai. Chính những nét tiêu biểu đó đã góp phần tái hiện thành công phẩm chất đáng quí của những con người quê hương Nam bộ giàu lòng yêu nước, căm thù giặc, giúp người đọc hiểu rõ hơn về một thời đại hào hùng và giá trị nhân bản của cuộc kháng chiến chống Mỹ.

    Những nhân vật trong gia đình được giới thiệu gắn với hình ảnh thân thương của quê hương và những kỷ niệm cụ thể thời thơ ấu dữ dội của anh tân binh Việt.

    Chiến đấu giữa bầy giặc Mỹ, bị thương, lạc đồng đội, người chiến sĩ ấy giữa cơn mê tỉnh chập chờn đã nhớ về những hình ảnh thân thương nhất từ thời ấu thơ. Dường như đó chính là nguồn sức mạnh giúp anh vượt qua cái chết tìm về sự sống, tìm về đồng đội. Những con người trong gia đình Việt gắn với hồi ức thiêng liêng và cảm động làm sống dậy cả một quá khứ yêu thương và căm thù: chị Chiến, má, chú Năm. Hiểu theo một nghĩa rộng, đó cũng là những đứa con trong gia đình lớn: cách mạng.

    Tất cả những con người ấy cùng giống nhau ở lòng căm thù giặc sâu sắc, vì những tội ác mà chúng đã gây ra với người thân trong gia đình. Gắn bó với mảnh đất quê hương, những con người ấy còn giàu tình nghĩa, trung thành với cách mạng bởi cách mạng đã đem lại cho họ sự đổi đời thật sự. Dường như anh chiến sĩ Việt đã thừa hưởng được từ thế hệ đi trước, chú Năm và má, hành động dũng cảm gan góc và lòng say mê khao khát được đánh giặc. Trong các nhân vật được tái hiện, chú Năm và má được khắc hoạ với những nét riêng độc đáo.

    Chú Năm thể hiện đầy đủ bản tính tự nhiên của người nông dân Nam bộ hiền lành chất phác, giàu cảm xúc mơ mộng nội tâm. Một người từng trải qua đắng cay của cuộc đời làm mướn trước cách mạng, để thành bản tính ít nói. Đau thương hằn sâu từ cuộc đời gian khổ và với tư cách chứng nhân của tội ác của thằng Tây, thằng Mỹ và bọn tay sai phải chăng đã làm nên nét đa cảm trong gương mặt với đôi mắt lúc nào cũng mở to, mọng nước.

    Chất Nam bộ rặt trong con người ông thể hiện qua việc hay kể sự tích cho con cháu, và kết thúc câu chuyện thể nào cũng hò lên mấy câu. Néy đặc biệt độc đáo ở người đàn ông này là có sổ ghi chép chuyện gia đình. Cuốn sổ ghi đầy đủ những

    chuyện thỏn mỏn của nhiều thế hệ, như minh chứng cho tấm lòng thuần hậu của ông. Đoócòn là những trang ghi chép tội ác của kẻ thù gây ra, những chiến công của từng thành viên, như một biên niên sử. Bản thân ông cũng chính là một trang sử sống, khi gửi gắm, nhắn nhủ cho hai chị em Chiến và Việt: “chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông, để rồi chú sẽ chia cho mỗi người một khúc mà ghi vào đó…”. Nhân vật đã thể hiện vẻ đẹp của tấm lòng sắt son, ý thức trách nhiệm của thế hệ đi trước.

    Má của Chiến và Việt là hội tụ phẩm chất tốt đẹp của người phụ nữ Nam bộ anh hùng trong kháng chiến. Những ấn tượng tác giả để lại đậm nét trong người đọc về nhân vật này là về tính gan góc từ khi còn là con gái. Người đàn bà hết lòng thương yêu chồng con ấy đã phải trải qua thời khắc dữ dội khi kẻ thù chặt đầu chồng, nhưng má đã vượt lên đau thương để nuôi dạy đàn con khôn lớn trưởng thành. Hình ảnh người mẹ ấy đối mặt với họng súng quân thù như gà mẹ xoè cánh che chở đàn con, khiến kẻ thù phải run sợ trước đôi mắt của người vượt sông vuợt biển. Nuôi con và cả con của đồng chí, má là hiện thân của vẻ đẹp gan góc được tôi luyện trong đấu tranh, với đức hy sinh vô bờ bến lặng thầm, tảo tần lam lũ, đau thương chôn kín trong giọt nước mắt lặng lẽ kín đáo. Trong tâm hồn người phụ nữ ấy là tình yêu lớn lao, ý chí bất khuất kiên cường và cả tinh thần dám hy sinh, đổi mạng sống vì cách mạng.

    Hai chị em Chiến và Việt đã được thừa hưởng tất cả những vẻ đẹp của thế hệ đi trước, tính cách được tạo nên từ truyền thống gia đình, từ hoàn cảnh đặc trưng: thương cha má, cùng chung lo toan công việc cách mạng, giàu tình nghĩa với quê hương. Không phải ngẫu nhiên hai chị em đã cùng xung phong tòng quân một ngày, để trả mối thù cha bị chặt đầu, má bị trái cà nông quân thù sát hại.

    Trong hoàn cảnh khốc liệt của cuộc chiến đấu, biết căm thù cũng là một phẩm chất cần thiết, bởi căm thù giặc tàn phá quê hương, sát hại người thân cũng là một biểu hiện sâu sắc của tình yêu với quê hương, gia đình! Bởi vậy đêm tòng quân không chỉ có hai chị em tranh nhau ghi tên mà thanh niên trong xã ghi tên tòng quân cũng rất đông. Hành động của hai chị em có sự đồng tình của chú Năm, như một điểm nhấn hành động này hoàn toàn không phải là tự phát mà gắn với ý thức giác ngộ của tuổi trẻ trên quê hương đau thương và anh dũng.

    Kí ức của Việt gắn với hình ảnh của chị Chiến, với kỷ niệm tuổi thơ trong trẻo của hai chị em. Người con gái ấy có cá tính riêng, có những nét giống má, gan góc, chăm chỉ, đảm đang tháo vát. Hai chị em kề tuổi nên có lúc còn rất trẻ con, nhưng bao giờ trong những lần cãi vã thì chị cũng nhường em. Đến khi tham gia công việc cách mạng, Chiến tỏ ra chín chắn hơn Việt. Những mất mát đau thương đã khiến cô gái ấy sớm trưởng thành, nhưng không hề làm chai sạn tâm hồn giàu nữ tính. Lúc nào Chiến cũng có cái gương nhỏ, như những người con gái mới lớn nào cũng thích làm duyên. Câu chuyện của hai chị em trước đêm tòng quân đã chứng tỏ khả năng quán xuyến, thay thế vai trò của mẹ để chăm em, khiến cho bản thân cậu em thân thiết phải ngạc nhiên vì chứng kiến một chị Chiến giống in như má, răm rắp nghe theo sự cắt đặt của chị.

    Một trong những tình tiết truyện tạo được xúc động mạnh cho người đọc là hình ảnh hai chị em trước đêm tòng quân khiêng bàn thờ má qua gửi chú Năm. Hai chị em đã làm cho người chú phải ngạc nhiên vì sự trưởng thành trước tuổi. Đó là chi tiết cho thấy những đứa con trong gia đình cách mạng này đã ý thức rõ chỉ có lên đường diệt giặc mới trả được mối thù giặc Mỹ đè nặng hai vai. Việc nhà việc nước

    vẹn toàn, lời động viên của chú Năm dành cho hai chị em đã thể hiện niềm tin tưởng vào thế hệ trẻ thời chống Mỹ.

    Xuyên suốt mạch truyện là dòng hồi ức của Việt, nhân vật trung tâm của tác phẩm. Người chiến sĩ ấy vốn là đứa trẻ gan dạ từng chứng kiến cảnh kẻ thù quăng đầu cha mà xông tới nhằm thằng liệng đầu mà đá. Được dìu dắt từ ấu thơ, Việt cũng đã biết làm cảnh giới, chiếc ná cao su thành vật báo hiệu khi có động.

    Bản tính hồn nhiên của một cậu bé mới lớn thể hiện ra ở sự hiếu thắng, lúc nào cũng giành phần hơn, nhưng từ sâu thẳm là tình cảm yêu thương những người ruột thịt, tự hào với truyền thống quê hương. Những lần ngất đi tỉnh lại của Việt giữa bãi chiến trường ngổn ngang xác giặc đã giúp anh có thêm sức mạnh tình thương vượt lên cái chết để trở về đội ngũ. Nguyễn Thi đã thành công khi không miêu tả vào những chiến công của anh chiến sĩ mà đã chỉ ra cho người đọc vẻ đẹp nhân văn trong tâm hồn người cầm súng. Vẻ đẹp ấy là hội tụ của ý chí, quyết tâm và trên hết là tình thương yêu sự gắn gó với người thân và sau này là tình cảm chan hoà thân ái giữa cậu Tư với đồng chí đồng đội như trong một nhà.

    Tác phẩm thành công khi đã đem lại cho người đọc sự hình dung về mảnh đất Nam Bộ anh dũng và đau thương trong những ngày kháng chiến chống Mỹ. Đạc biệt, bằng sự am hiểu sâu sắc bản chất của người dân Nam Bộ yêu nước, tác giả đã dựng nên những con người vừa bình thường giản dị nhưng lại có vẻ đẹp, tầm vóc phi thường của con người thời đại chống Mỹ cứu nước. Giọng kể chuyện giản dị, xây dựng đối thoại tự nhiên và nghệ thuật xây dựng tính cách nhân vật đặc sắc đã để lại ấn tượng khó quên về những đứa con trong gia đình cách mạng. Đồng thời còn phát hiện

    sâu sắc về sự trưởng thành của thế hệ trẻ Việt Nam trong chiến đấu. Vẻ đẹp ấy kết tinh

    chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam, sức mạnh làm nên chiến thắng của nhân

    dân Việt Nam, một phẩm chất cao quí còn để lại những tấm gương cho thế hệ sau noi

    theo.