Category: Văn Nghị Luận Mẫu

  • [Văn Nghị luận Mẫu] “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”

    [Văn Nghị luận Mẫu] “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng”

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    DÀN Ý:

    Mở bài: Giới thiệu triết lí sống “sống trong đời sống cần có một tấm lòng” hay cụ thể chính là tấm lòng yêu thương giữa con người với con người.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Là những điều được rút tỉa, chắt lọc bởi những trải nghiệm trong cuộc sống, làm nền tảng cho tinh thần con người. Triết lí sống liên quan mật thiết đến những định hướng sống của con người như lí tưởng sống, niềm vui, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc, thiện – ác.

    – “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” đó là tiêu chuẩn đánh giá tư cách làm người.

    – Tình thương: là tấm lòng yêu thương chân thành và trong sáng, là tình cảm chỉ trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, không toan tính. Có thể nói, tình thương là một thứ tình cảm đẹp đẽ luôn tồn tại trong bản chất của mỗi con người.

    1. b) Bàn luận:

    – Trao đi yêu thương một cách tự nhiên, chúng ta sẽ nhận lại hạnh phúc xứng đáng. Bởi: khổ đau được san sẻ sẽ vơi đi còn hạnh phúc được sẻ chia sẽ nhân đôi.

    – Tình yêu thương cũng không nằm ngoài định luật bảo toàn năng lượng của ngành vật lí: nó ví như một dạng năng lượng bất biến, tình yêu thương chỉ  truyền từ nơi này sang nơi khác, chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi. Những người trao tặng và đón nhận tình yêu thương cũng đang làm một sứ mệnh chuyển giao như thế. Người trao tặng yêu thương và ban phát tình thương nhận về mình niềm vui, niềm hạnh phúc khi được cảm thông, thấu hiểu, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình, đó có thể không phải là sự giúp đỡ về vật chất mà là những giá trị về tinh thần, điều còn quý giá hơn gấp bội.

    – Chuyện xúc động kể lại cuộc đời của một người đàn ông có tên là Mark. Câu chuyện đó được in trong cuốn “hạt giống tâm hồn” của Martin Luther king, như một bài thánh ca cho sự hiện hữu của tình thương luôn tràn ngập.

    – Nhà tỷ phú Bill Gate hiến toàn bộ gia tài của mình làm từ thiện.

    1. c) Bài học nhận thức: Học cách yêu thương từ những điều đơn giản xung quanh ta; trân trọng tình yêu thương mà ta nhận được từ mọi người.

    Kết bài: tình thương làm đẹp cuộc sống, làm đẹp con người.

    Văn Nghị luận Mẫu “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng"

    BÀI LÀM:

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng. Để làm gì em biết không? Để gió cuốn đi, để gió cuốn đi…” . Lời bài hát với âm điệu du dương của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã nhẹ nhàng đi vào lòng người như một lời nhắc nhở đầy chân thành và ấm áp, cái ấm áp của tình người, tình đời… Đối với tôi, lời nhắc nhở ấy chính là một quan niệm sống, một triết lí sống quý báu.

    Tôi cho rằng triết lý sống là những điều được rút tỉa, chắt lọc bởi những trải nghiệm trong cuộc sống, nó làm nền tảng cho tinh thần con người. Triết lí sống liên quan mật thiết đến những định hướng sống của con người như lí tưởng sống, niềm vui, thái độ sống, các quan niệm về hạnh phúc thiện ác.

    Mỗi con người sinh ra trên thế gian này đã là một niềm hạnh phúc lớn lao. Nhưng sinh ra để sống trong vô nghĩa thì cái diễm phúc lớn lao kia lại trở thành một thứ bi kịch chua xót. Ý nghĩa cuộc sống – điều làm nên hạnh phúc thực sự, để hạnh phúc tồn tại lâu bền nhất lại chỉ vang lên nhịp đập của nó khi được nuôi dưỡng bởi suối nguồn của tình yêu thương. Dường như quy luật ấy đã trở thành muôn thuở và là chân lý của cuộc sống. Cũng bởi thế mà đã có ý kiến cho rằng: “Tình thương là hạnh phúc của con người.”

    “Sống trong đời sống cần có một tấm lòng” đó là tiêu chuẩn đánh giá tư cách làm người.Yêu thương ở đây nghĩa là sống phải có tình thương. Dù mơ hồ hay rõ ràng, tôi nghĩ rằng ai trong chúng ta cũng có thể nhận ra tình thương là những tình cảm đẹp đẽ và nồng nhiệt của con người, gắn kết những trái tim đồng cảm. Nó có thể là tình cảm lứa đôi, tình cảm gia đình, bè bạn và cao hơn cả là tình người nói chung. Đó có thể là những tình cảm bình dị nhất, gần gũi nhất từ sự quan tâm, chăm sóc nhau trong cuộc sống đến những tình cảm lớn lao hơn mang tính cộng đồng.

    Tình thương là tấm lòng yêu thương chân thành và trong sáng, là tình cảm chỉ trao đi mà không cần nhận lại, không vụ lợi, không toan tính.Có thể nói, tình thương là một thứ tình cảm đẹp đẽ luôn tồn tại trong bản chất của mỗi con người. Tình thương mang lại một sức mạnh kì diệu và nhiệm màu, nó được ví như loại thảo dược mọc ở tất cả nơi đâu có dấu chân con người, một cây nấm linh chi quý giá và bổ dưỡng cho tất cả mọi can bệnh nan y, một củ nhân sâm khó tìm giữa cuộc đời vốn bao quanh là đầy rẫy những củ nhân sâm hình người giả. Và kết quả của sự yêu thương đó là sự thỏa mãn của con tim: cái được gọi là niềm hạnh phúc. Hạnh phúc đôi khi chỉ đơn giản và bình dị thế thôi.

    Trao đi yêu thương một cách tự nhiên, chúng ta sẽ nhận lại hạnh phúc xứng đáng. Bởi: khổ đau được san sẻ sẽ vơi đi còn hạnh phúc được sẻ chia sẽ nhân đôi. Đúng vậy, được yêu thương là một hạnh phúc, nhưng yêu thương người khác còn là một hạnh phúc lớn hơn. Tình yêu thương cũng không nằm ngoài định luật bảo toàn năng lượng của ngành vật lí: nó ví như một dạng năng lượng bất biến, tình yêu thương chỉ  truyền từ nơi này sang nơi khác, chuyển từ dạng này sang dạng khác mà thôi. Những người trao tặng và đón nhận tình yêu thương cũng đang làm một sứ mệnh chuyển giao như thế. Người trao tặng yêu thương và ban phát tình thương nhận về minh niềm vui, niềm hạnh phúc khi được cảm thông, thấu hiểu, giúp đỡ những người khó khăn hơn mình, đó có thể không phải là sự giúp đỡ về vật chất mà là những giá trị về tinh thần, điều còn quý gia hơn gấp bội.

    Tôi đã từng đọc một câu chuyện xúc động kể lại cuộc đời của một người đàn ông có tên là Mark. Câu chuyện đó được in trong cuốn “hạt giống tâm hồn” của Martin Luther king, nó như một bài thánh ca cho sự hiện hữu của tình thương luôn tràn ngập. “Trong một đêm mưa tầm tã, Mark đã quyết định chấm dứt cuộc đời mình. Mark không có vợ, chưa từng tìm thấy niềm hạnh phúc bên cạnh gia đình, làm một công việc bất đắt dĩ và dường như trên thế gian này không còn ai quan tâm đến sự tồn tại của ông nữa. Mark đi dọc những con phố, thẫn thờ đến nỗi không để ý đến một câu bé đang cầm tờ hai đô la đứng bên một hàng truyện. Cậu bé ngay cả đến sau nay Mark cũng không biết tên, nhìn thấy ông ướt sũng và khuôn mặt buồn rầu đang thất thần đi tới giữa ngã tư. Cậu bé bối rối nhìn Mark một chặp rồi từ bỏ ý định mua truyện để thay vào đó dùng một đô la mua một cây viết. Cậu bé chạy lại bên ông già Mark khốn khổ và đặt vào lòng bàn tay ông một đô la còn lại của mình và ôm Mark một cái thật nhanh. Cậu bé bỏ đi mà không biết rằng cuộc đời Mark đã thay đổi từ đó. Thật khó tin những điều đơn giản ấy thôi lại có thể thay đổi được cả cuộc đời của một con người đã sống trong sự cô đơn gần suốt hai mươi năm qua. Trên tờ một đô la ấy là dòng chữ nguệch ngoạc của cậu bé kì lạ “còn có ai đó yêu thương ông mà”. Martin Luther King đã nói đúng, mỗi người đều có thể trở nên vĩ đại, chỉ cần trái tim chan chứa lòng khoan dung và tâm hồn luôn tràn ngập một tình yêu thương. Cậu bé với trái tim bằng vàng là một ánh cầu vồng phản chiếu bản năng yêu thương có sẵn của con người. Bản năng ấy cứu vớt cuộc đời, đưa những người trao tặng yêu thương đến một thế giới của tâm hồn đẹp và cũng mở ra cho những con người đón nhận tình yêu thương một chân trời mới không còn sự cô đơn và lạc lõng.

    Còn nhiều lắm những con người mong muốn đem đến hạnh phúc cho mọi người. “Tôi không cần được nhớ đến” đó là câu nói của tỷ phú Mỹ Bill Gate, người đã đem hết của cải kếch xù của mình để làm từ thiện. Ông muốn đem đến cho những con người nghèo khổ, bệnh tật đang ngày ngày đấu tranh giành giật cuộc sống với tử thần một cuộc sống tốt đẹp hơn…

    Nơi đánh mất tình thương, đó là một địa ngục. Nơi chất chứa tình yêu, một thiên đường đã mở ra trước mắt. Nếu cuộc sống với những hạnh phúc và khổ đau làm nên hai bến bờ thì chính tình yêu thương là cầu nối hai bến bờ ấy, để hạnh phúc kia xoá tan mọi đau khổ và hiềm khích.

     

     

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Cho đi và nhận lại

    [Văn Nghị luận Mẫu] Cho đi và nhận lại

    Cho đi và nhận lại?

    Trong cuộc sống này những gì mà bạn cho đi không bao giờ ít hơn những gì mà bạn nhận được.


    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu liên quan: Nghị luận xã hội tư tưởng đạo lý 12


    DÀN Ý

    Mở bài: Giới thiệu triết lí sống: Trong cuộc sống này những gì mà bạn cho đi không bao giờ ít hơn những gì mà bạn nhận được.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Cho là gì? Cho ở đây không nhất thiết phải là cho những giá trị vật chất, mà đáng quý hơn cả là cho những giá trị tinh thần.

    – Nhận là gì? Người được nhận cũng không nhất thiết phải nhận được vật chất mà có thể là sự nhận về những giá trị tinh thần cao đẹp.

    – Là con người ai cũng luôn muốn được nhận nhiều hơn cho. Thế nhưng cuộc sống này luôn rất công bằng, “gieo nhân nào gặt quả đấy” chúng ta cho đi bao nhiêu thì chắc chắn sẽ nhận lại được bấy nhiêu.

    1. b) Bàn luận:

    – Trong sâu thẳm trái tim mỗi người luôn có sự hiện diện của tình thương và sự quan tâm. Đó sẽ là món quà ý nghĩa nhất, quý giá nhất, thiêng liêng nhất mà ai cũng muốn nhận được.

    – Hạnh phúc mà ta nhận được khi đã cho đi chỉ thực sự đến khi sự cho đi ấy xuất phát từ cả tấm lòng, không vụ lợi, toan tính.

    – Sự cho đi – bản thân nó đã là một phần thưởng.

    1. c) Bài học nhận thức: Mỗi chúng ta hãy tập cho mình cách sống sẵn sàng cho đi để cuộc đời này thêm nhiều ý nghĩa.

    Kết bài: Ý nghĩa của triết lý sống.

    Cho đi và nhận lại

    BÀI LÀM:

    Trong guồng sống tất bật của cuộc đời, không ít người đã vô tình để cho mình bị cuốn đi theo dòng chảy thời gian; để rồi đến một lúc nào đó, khi đã tìm được cho mình một khoảng lặng giữa nhịp sống xô bồ ấy, con người ta chợt thấy mình đang dần mất đi phương hướng.  Mình đang sống vì ai? Vì cái gì? Vì vậy, để không bị cuộc sống khắc nghiệt làm cho bão hòa, làm cho mất đi mục tiêu sống thì mỗi người tốt nhất nên có cho mình một triết lí sống. Để từ triết lí sống ấy ta tìm được chỗ dựa vững chắc cho những bước đi trên con đường tìm đến thành công và hạnh phúc.

    Tùy theo những trải nghiệm và cảm nhận về cuộc đời mà mỗi người tự chọn cho mình những triết lí sống khác nhau. Riêng với tôi, tôi luôn cố gắng làm theo một điều mà tôi hằng tâm đắc đó là: trong cuộc sống này những gì mà bạn cho đi không bao giờ ít hơn những gì mà bạn nhận được.

    Cho ở đây là cho cái gì? Đó có thể là sự cho đi về vật chất. Ta quyên góp tiền giúp đỡ những người gặp khó khăn, trao tặng sách vở cho trẻ em nghèo. Nhưng cũng đáng quý hơn cả là sự cho đi những giá trị tinh thần. Đó có thể chỉ là một cái vỗ vai động viên khi cuộc sống đang trở nên quá khó khăn, là ánh mắt ngời sáng khi ta chúc mừng thành công của một người thân, là một ly trà gừng khi ai đó đang cảm thấy lạnh… Tất cả chỉ là những cử chỉ giản đơn nhưng lại có đủ sức làm vơi bớt đi nỗi đau và nhân đôi niềm hạnh phúc.

    Còn nhận ở đây là nhận những gì? Trước hết đó có thể là cái nhận về vật chất. Khi còn nhỏ, ta nhận được những giá trị vật chất mà ba mẹ cung cấp hoặc với những gia đình khó khăn thì đó là số tiền trợ cấp từ chính quyền. Nhưng cũng quan trọng nhất là cái nhận về tinh thần. Đó là lời an ủi của người bạn thân khi ta gặp chuyện buồn, là tiếng vỗ tay động viên khi ta cảm thấy bối rối, là sự tĩnh lặng tuyệt đối khi ta cần sự tập trung để làm việc… Những điều ta nhận được ấy có thể không giúp ta giải quyết được những khó khăn trước mắt nhưng nó sẽ giúp ta biết rằng mình không hề cô đơn cũng như đã và đang được yêu thương.

    Cho và nhận tưởng chừng như là hai khái niệm hoàn toàn đơn giản nhưng đối với đa số chúng ta để cân bằng được nó lại không hề dễ dàng. Bởi lẽ là con người ai cũng luôn muốn được nhận nhiều hơn cho . Thế nhưng cuộc sống này luôn rất công bằng, “gieo nhân nào gặt quả đấy”, chúng ta cho đi bao nhiêu thì chắc chắn sẽ nhận lại được bấy nhiêu. Khi ta trao yêu thương thì cũng sẽ được yêu thương trở lại , khi ta giúp đỡ người khác thì cũng là lúc ta tự giúp đỡ chính mình. Bởi lẽ cuộc đời là một chuỗi những điều bất ngờ . Biết đâu rằng một ngày nào đó chính ta sẽ là người cần lắm một sự giúp đỡ từ người khác giống như ta đã từng làm cho họ. Như vậy, có thể nói khi ta cho đi cũng là lúc ta đang gieo trồng những hạt giống để đến một lúc nào đó ta sẽ nhận lại được những lợi ích mà chính những hạt giống ấy mang lại. Có ai đó đã từng nói rằng “ hạnh phúc là một cái rất kì lạ mà người ta chỉ nhận được khi đem nó cho người khác”. Vì vậy mỗi chúng ta hãy thử cho đi một cái gì đó để rồi biến niềm hạnh phúc của người khác thành niềm hạnh phúc của chính mình.

    Xin kể một câu chuyện rằng: Người ta bảo ở bên Palextin có hai biển hồ. Biển hồ thứ nhất gọi là Biển Chết. Đúng như tên gọi, không có sự sống nào bên trong cũng như xung quanh biển hồ này. Cá không thể sống nổi với nuớc trong hồ và khi con người uống phải thứ nước trong hồ cũng bị bệnh. Ai ai cũng đều không muốn sống gần đó. Biển hồ thứ hai là Galilê. Đây là biển hồ thu hút nhiều khách du lịch nhất. Nước ở biển hồ lúc nào cũng trong xanh mát rượi, con người có thể uống được mà cá cũng sống được. Nhà cửa được xây cất rất nhiều ở nơi đây. Vườn cây xung quanh tốt tươi nhờ nguồn nước này… Nhưng điều kỳ lạ là cả hai biển hồ này đều được đón nhận nguồn nước từ sông Jordan. Nước sông Jordan chảy vào Biển Chết. Biển Chết đón nhận và giữ lại riêng cho mình mà không chảy về đâu cả, không chia sẻ nên nước trong Biển Chết trở nên mặn chát. Biển hồ Galilê cũng đón nhận nguồn nước từ sông Jordan rồi từ đó tràn qua các hồ nhỏ và sông lạch, nhờ vậy nước trong biển hồ này luôn sạch và mang lại sự sống cho cây cối, muông thú và con người.

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường

    [Văn Nghị luận Mẫu] Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường

    Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu liên quan: [Nghị luận] Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn….


    [toc]

    Dàn ý

    1. Mở bài:

    “Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường”- câu nói ấy cứ hiện lên trong tâm trí và nó trở thành một triết lí sống, một kim chỉ nan để dẫn lối cho tôi vượt qua tất cả những chông gai dũng cảm cũng như đối mặt với mọi thách thức trong cuộc sống.

    2.Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Triết lí sống là những quan niệm sống chi phối cách nhìn nhận của mỗi người.

    – “Ý chí”: chính là nghị lực, là lòng quyết tâm của chúng ta để thực hiện thành công một điều gì đó. Ý chí được thể hiện bằng hành động và suy nghĩ có định hướng của con người vì thế người có ý chí là người theo đuổi để đạt được mục đích đã định trước và cố gắng vượt qua các trở ngại đó.

    – “Con đường”: ở đây được hiểu là con đường của thành công, hạnh phúc.

    – Ý nghĩa:

    +Ý chí giúp ta có niềm tin để nhìn thấy hướng đi và tương lai, tìm ra con đường phía trước.

    +Ý chí  giúp ta có được sự thành công, thành đạt trong sự nghiệp, tự mình thay đổi số phận.

    1. b) Bàn luận:

    – Không có sự vinh quang nào đến với bạn nếu không có sự phấn đấu gian khổ của bản thân. Ý chí chính là động lực quan trọng để tiếp thêm sức mạnh cho bạn vượt qua tất cả những chông gai ấy.

    – Biểu hiện của những người thiếu ý chí: buông xuôi khi gặp thất bại, mất niềm tin. Đó là những kẻ yếu đuối hèn nhát.

    – Những người có ý chí, dũng cảm đối mặt với khó khăn  sẽ thành công.

    – Mở rộng vấn đề:

    +Ý chí giúp ta có thêm kinh nghiệm đứng lên sau mỗi lần vấp ngã.

    +Ý chí có thể nói là cánh cửa duy nhất để tiến đến con đường của sự thành công và hạnh phúc

     – Dẫn chứng:

    + Bác sĩ Glenn Cunningham người chạy nhanh nhất thế giới trong cự li một dặm được mệnh danh là “cánh én”, “con ngựa sắt” .

    + Nhà sản xuất phim hoạt hình lơn nhất thế giới Walt Disney. Nhờ vào ý chí và niềm tin họ đã có được những thành công rực rỡ, đem lại niềm tự hào cho gia đình và đất nước.

    c) Bài học nhận thức: Mỗi chúng ta cần phải củng cố niềm tin, tin tưởng vào bản thân mình, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn tiến về phía trước để có thể hoàn thành tốt mọi công việc và thành công trong cuộc sống.

    3. Kết bài:

    Xác định mục đích sống rõ ràng và hãy là chình mình trong mọi hoàn cảnh. Nỗ lực hết sức quyết tâm cao độ và không được chùn bước dù gặp bất cứ khó khan, luôn ước mơ và có khát vọng vì ý chí chính là chiếc chìa khoá vạn năng để mở mọi cánh cửa trong cuộc sống.

    Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường.

     BÀI LÀM Tham Khảo:

    Trong cuộc sống, thành công hay thất bại chỉ cách nhau gang tất. Nó tùy thuộc vào con đường bạn đã đi qua. Để đến được đỉnh của vinh quang bạn phải đánh đổi bằng cả mồ hôi và nước mắt. Thất bại chỉ là phép thử để bạn tìm ra điều mình muốn. Ý chí chính là liều thuốc quan trọng giúp con người có thêm nghị lực và niềm tin để vượt qua tất cả những rào cản để biến những điều không thể thành có thể, làm nên điều kì diệu. “Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường”- câu nói ấy cứ hiện lên trong tâm trí và nó trở thành một triết lí sống, một kim chỉ nan để dẫn lối cho tôi vượt qua tất cả những chông gai dũng cảm cũng như đối mặt với mọi thách thức trong cuộc sống.

    Triết lí sống là những quan niệm sống, quan niệm về cuộc đời chi phối cách nhìn nhận của từng người. Nó có thể giúp chúng ta đi đúng hướng nhưng cũng có thể là nguyên nhân dẫn đến thất bại hay những sai lầm to lớn. Vì vậy mỗi người cần lựa chọn chính xác triết lí sống đúng đắn phù hợp với bản thân. “Nơi nào có ý chí nơi đó có con đường”- Con đường mang ý nghĩa tượng trưng cho những thành công và hạnh phúc mà mỗi người vươn đến trong cuộc đời. Có ý chí mới có con đường bởi không có sự vinh quang nào đến với chúng ta nếu không có sự phấn đấu, hi sinh, nỗ lực của bản thân. Cuộc đời không bao giờ đóng cửa với bất kì ai có ý chí và nỗ lực. Vì khi một cánh cửa khác đóng lại thì cũng sẽ có một cách cửa khác mở ra và nơi đó sẽ có con đường dành riêng cho bạn. Ý chí giúp ta có thêm niềm tin để nhìn thấy hướng đi nhìn thấy tương lai, tìm ra con đường phía trước. Nó giúp ta có được sự thành công, thành đạt trong sự nghiệp và trong cuộc sống, tự mình thay đổi số phận.

    Lỗ Tấn, một nhà văn nổi tiếng của Trung Quốc đã nói rằng: “Trên bước đường thành công không có dấu chân của kẻ lười biếng”. Con đường để chạm tới được thành công không hề dễ dàng và nó cũng lắm chông gai, thách thức. Một kẻ lười biếng chỉ muốn “há miệng chờ sung”, ỉ lại vào người khác thì chẳng mấy chốc trở thành một người vô dụng và là gánh nặng của xã hội. Nhưng với một người có ý chí kiên định, sự quyết tâm không gì lay chuyển được thì mọi khó khăn thử thách đều có thể vượt qua. Có thể nói ý chí chính là động lực quan trọng tiếp thêm niềm tin và sức mạnh để cuốn văng đi mọi khó khăn đang đợi ta ở phía trước. Khi thất bại con người thường bị nỗi đau khổ, tuyệt vọng che lấn áp cả tâm hồn. Dường như ai trong chúng ta đều từng bị rơi vào cái hố sâu không đáy, không có cách nào tìm được hướng đi đúng của bản thân. Những câu hỏi cứ luôn được đặt ra chúng ta nghĩ đến quá khứ và cảm thấy sợ hãi có thể mình cũng sẽ lại thất bại chăng. Ý chí giảm sút, tinh thần suy sụp và con người lại rơi vào tình trạng bế tắc. Tôi thiết nghĩa ai trong chúng ta cũng đã trải qua tâm trạng như vậy. Tôi có thể hiểu hết những cảm giác mà một người chết đuối đang cố tìm lấy chiếc phao cứu sinh, một người đang từng phút giành lấy mạng sống với Tử thần. Những cảm giác mà có lẽ trong đời tôi chưa từng quên. Tôi vẫn nhớ như in cái ngày mà tôi đậu vào cấp 3: những giọt lệ lăn dài trên khuôn mặt bố mẹ tôi làm tôi chạnh lòng. Mẹ ôm tôi với tất cả niềm vui sướng. Còn bố chỉ lặng lẽ đứng nhìn tôi và mẹ. Một nụ cười thoáng hiện khiến lòng tôi như được sưởi ấm. Cái cảm giác suýt rớt khiến tôi thấy hụt hẫng và yếu đuối. Tôi thấy mình thật nhỏ bé và vô dụng. Nếu ý chí bị quật ngã ngay lúc đó thi có thể tôi sẽ không được như hôm nay. “Hãy nhìn về phía mặt trời, bóng tối sẽ khuất sau lưng bạn”- nhìn về tương lai đừng hoài niệm về quá khứ đau buồn hay mộng tưởng về cái thời hoàng kim đã qua chúng ta sẽ tìm được con đường cho đúng cho bản thân. Đứng lên sau mỗi lần vấp ngã sẽ làm chúng ta có thêm kinh nghiệm, rút ra được nhiều bài học quý giá bởi ý chí đã tăng thêm sức mạnh cho khối óc và đôi chân. Nhờ đó, con người có thể xô đẩy những bức tường vô hình để tiến tới con đường mà mình đã chọn. Ý chí chính là cánh cửa duy nhất để tiến tới sự thành công và hạnh phúc. “Kì thực trên mặt đất làm gì có đường, người ta đi mãi nên thành đường thôi” (Lỗ Tấn) – muốn tìm ra con đường phải có ý chí phấn đấu vươn lên như thế thì mới đạt được những mục đích mà bản thân để ra. Tính cách quyết định số phận của con người.

    “Cánh én” hay “con ngựa sắt” là những cụm từ nói về tài năng của bác sĩ Glenn Cunningham người chạy nhanh nhất thế giới trong cự li một dặm. Sau một trận bỏng nặng ở cả hai chân khi mới lên năm, Glenn Cunningham được các bác sĩ chuẩn đoán rằng trường hợp của cậu là vô phương cứu chữa. Họ cho rằng cậu bé sẽ bị tàn tật và suốt đời phải ngồi xe lăn: “Cậu bé sẽ không bao giờ có thể đi lại được nữa”, họ khẳng định: “Không còn cơ hội nào nữa”. Các bác sĩ kiểm tra đôi chân của Glenn Cunningham, nhưng họ không thể hiểu được con người cậu. Cậu bé chẳng tin vào lời các bác sĩ, vẫn một mực bắt đầu tập đi trở lại. Nằm trên giường, với đôi chân đỏ đầy những vết sẹo chưa kéo da non, Glenn nguyện rằng: “Tuần tới mình sẽ bước xuống đường, mình sẽ đi được”. Và Glenn đã làm được. Mẹ cậu bé kể lại những lần bà vén màn nhìn ra cửa sổ, thấy cảnh Glenn rướn tay lên nắm lấy cái cày cũ kĩ trong vườn. Nắm lấy tay cầm của nó, cậu bé bắt đầu cuộc đấu tranh buộc đôi chân xương xẩu vặn vẹo của mình phải hoạt động. Mỗi bước đi của cậu là một bước đau. Mặt cậu bé liên tục nhăn lại, mồ hôi tủa ra như tắm. Nhưng cậu bé vẫn kiên định. Dần dần cậu có thể đi từng bước ngắn, và chẳng bao lâu sau, cậu gần như có thể đi lại bình thường. Khi cậu bé bắt đầu chạy được trên đôi chân chằng chịt sẹo bỏng của mình, cậu lại càng tỏ rỏ quyết tâm hơn. “Lúc nào tôi cũng tin là mình có thể đi được, và tôi đã làm như vậy. Còn bây giờ tôi đang cố gắng để có thể chạy nhanh hơn bất kỳ người nào khác”. Và cậu bé đã chứng minh rằng cậu có thể thực hiện những điều mình nói.Cậu bé ngày ấy đã trở thành nhà vô địch môn điền kinh đường trường cự ly một dặm khi lập kỷ lục thế giới trong thời gian chỉ có 4 phút 6 giây vào năm 1934. Anh đã được trao tặng bằng khen danh dự dành cho vận động viên tiêu biểu nhất thế kỷ ở quảng trường danh tiếng Madison. Một tấm gương rất đáng khâm phục sau khi gặp hàng loạt thất bại nặng nề những không bỏ cuộc chính là Walt Disney. Ngay sau khi xây dựng xưởng phim Disney Brothers, ông sáng tạo ra bộ phim Oswald the Lucky Rabbit. Vì sự non nớt của mình, ông đã tán thành một hợp đồng sản xuất và trong hợp đồng này ông sẽ sản xuất các bộ phim hoạt hình, nhưng công ty Mintz lại là chủ sở hữu các nhân vật. Bộ phim gây được tiếng vang lớn nhưng các nhà phân phối đã tàn nhẫn gạt người sáng tác ra khỏi cuộc chơi. Disney tuyên bố: “Không bao giờ ta làm việc cho bất kỳ ai nữa”. Sau thất bại với công ty phân phối Mintz, Walt Disney chán nản trở về California.Walt nhận ra rằng xưởng phim mới của mình sắp bị giải tán nếu như ông không phát minh ra nhân vật mới nào. Trở về California, bức phác thảo đầu tiên mà ông đưa ra là một con chuột hấp dẫn, lanh lợi, trông giống như tranh biếm họa. Để thực hiện bộ phim này, Disney phải bán chiếc xe ôtô thể thao yêu quý của mình. Ngày 18 tháng 11 năm 1928, Chuột Mickey được công diễn lần đầu ở Thành phố New York đã thu được thành công lẫy lừng. Bị ám ảnh từ thất bại trước, ông cố gắng phân phối phim hoạt hình của ông tới từng nhà hát. Lại một bài học mới xuất hiện, Chuột Mickey đang làm của cải trở lại nhưng số tiền quay trở lại với Disney rất ít ỏi. Cuối cùng, năm 1930, sau 7 năm ở Hollywood, Disney đã đầu hàng và bán xưởng phim, ký một thỏa thuận với hãng chiếu bóng Columbia, đồng ý phân phối phim với giá 7.000 USD một bộ phim, tiền chia đều cho hai bên nhưng Disney vẫn giữ bản quyền. Hãng phim Columbia đã phân phối phim hoạt hình của Disney đi khắp thế giới. Vào năm 1930, Chuột Mickey đã trở thành một nhân vật được toàn cầu quan tâm. Chẳng bao lâu, Disney đã nhận ra tiềm năng giá trị thương mại của Mickey. Ông trưởng thành, đủ kinh nghiệm lường trước những thất bại tiềm ẩn. Và cũng không phải thương trường ít chông gai hơn mà có lẽ mọi chông gai trở thành quá bé nhỏ đối với chàng khổng lồ Walt Disney. Nhờ vào ý chí họ đã đạt được những thành công rực rỡ. Họ cũng đã từng nếm trải những đau buồn thất vọng đời thường. Nhưng trong chính khoảnh khắc ấy họ đã bộc bộ những phẩm chất khác biệt giúp học luôn tiến về phía trước trong khi nhiều người chấp nhận đầu hàng, bỏ cuộc. Mỗi chúng ta cần phải củng cố niềm tin, tin tưởng vào bản thân mình, dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào cũng luôn tiến về phía trước để có thể hoàn thành tốt mọi công việc và thành công trong cuộc sống.

    Mỗi người trong chúng ta từ bây giờ nên xác định mục đích sống rõ ràng và hãy là chình mình trong mọi hoàn cảnh. Chúng ta phải nỗ lực hết sức, quyết tâm cao độ và không được chùn bước dù gặp bất cứ khó khăn nào, luôn ước mơ và khát vọng vì ý chí chính là chiếc chìa khoá vạn năng để mở mọi cánh cửa trong cuộc sống.

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ

    [Văn Nghị luận Mẫu] Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ

    Nghị luận câu nói: “Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ”.

    Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu liên quan: Nghị luận xã hội tư tưởng đạo lý 12


    [toc]

    Bài tham khảo 1

    Cuộc sống luôn tồn tại nghịch lý tốt và xấu. Con người thường khao khát đi tìm chân lý, tìm ra những điểm tốt song không phải ai cũng tìm ra sự thật, đôi khi sự thật làm con người cảm thấy tuyệt vọng. Dẫu thế người ta luôn muốn sự thật thuộc về mình, còn những điều dối trá mãi không tồn tại. Từ những kinh nghiệm sống, cha ông ta đã đúc kết ra câu nói: “Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ”.

    Trước khi hiểu được vế thứ nhất của câu nói, chúng ta cần hiểu từ “sự thật” là gì? Sự thật không là cảm giác, mà là ý nghĩ. Sự thật là điều minh nhiên hợp đạo lý mà không ai có thể chối cãi, dù người ta cố ý khước từ hoặc không muốn chấp nhận. Sự thật có tính vĩnh cửu, mãi mãi là sự thật. Từ “rạn nứt” được hiểu là tinh thần con người bị suy sụp, không được nguyên vẹn như trước. Vế thứ nhất của câu nói cho chúng ta hiểu rằng: sự thật là điều con người luôn phải tôn trọng, vì nó luôn luôn đúng, giúp con người nhìn nhận đúng đắn bản chất vấn đề ở một người nào đó hoặc một sự vật nào đó. Nhưng đôi khi sự thật cũng làm cho người khác phật ý, gây mất lòng đối phương, tình cảm giữa con người với con người trở nên xa cách và rạn nứt.

    Sự thật luôn luôn tồn tại hai mặt: sự thật có thể làm cho con người cảm thấy tin yêu cuộc sống, có niềm tin vào tương lai. Sự thật giúp con người phấn chấn, vượt qua tất cả những khó khăn, giông tố của cuộc đời để đi đến thành công. Để củng cố niềm tin sự thật mang đến cho con người nhiều mặt tích cực, chúng ta hãy quay trở về nhân vật Thạch Sanh và nhân vật Lí Thông trong truyện cổ tích “Thạch Sanh” để thấy được cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.

    Cái ác của Lí Thông là cái ác có thực trong xã hội. Nó bắt nguồn từ lòng tham, sự đố kị ghen ghét trước tài năng và công lao, thành tích của người khác. Cái ác của Lí Thông không chỉ là tội ác giết người, mà còn là tội ác của sự vong ân bội nghĩa, khiến cả con người lẫn đất trời đều phẫn nộ. Kẻ ác không những bị trừng trị mà còn bị trừng trị thật đích – đáng: bị biến thành bọ hung để đời đời kiếp kiếp bị người đời nguyền rủa và khinh bỉ.

    Nhân vật Thạch Sanh hiện lên thật đẹp. Với búa thần, cung tên vàng, đàn thần, với võ nghệ và phép thần thông biến hoá, chàng dũng sĩ đã chém Trăn tinh, giết Đại bàng, trừ diệt cái ác, tai họa cho nhân dân, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đem lại hoà bình. Thạch Sanh đã trải qua bao gian truân thử thách, lấp lánh bao chiến công hiển hách. Anh đã được kết duyên với công chúa, chàng đã thể hiện ước mơ của nhân dân, những ước mơ hồn nhiên, trong sáng và rất đẹp.

    Cuộc đấu tranh chống cái ác là một trận chiến gay go, phức tạp và dai dẳng. Tuy vậy, niềm tin và ước mơ về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác của nhân dân vẫn không hề suy giảm. Niềm tin và ước mơ ấy được họ gửi gắm vào trong các truyện cổ tích. “Thạch Sanh” là một truyện cổ tích tiêu biểu cho chủ đề chống cái ác.

    Như vậy, sự thật mang ý nghĩa tích cực vừa mang yếu tố khách quan, vừa mang yếu tố chủ quan. Nó giúp con người luôn dũng cảm đối mặt với sự thật, chúng ta có thể vượt qua những sự thật cay đắng để bước tiếp và những điều tốt lành sẽ đến với chúng ta.

    Sự thật của một việc hay của một ai đó nếu đựơc nói một cách trắng trợn và trần trụi thì dù có ích cho người nghe đi chăng nữa thì cũng khiến người nghe phải phật lòng.

    Cũng có một số người nói vì sự ghen tuông mà lời nói sẽ có âm lượng khác, cũng có thể lời nói đó đựơc nói ra từ thiện chí và muốn người nghe tiếp thu và sửa sai. “Sự thật” ở đâykhiến cho người nghe cảm thấy khó chịu, mơ hồ, không thể phân biệt đúng sai. Nó có thể được ví như là một món đồ xấu và làm tổn thương đến tâm hồn người nghe.

    Cũng có khi, chính bản thân người nghe biết rõ nhưng vẫn phật ý khi nghe người khác nói tới điều đó. Đúng như lời cha ông ta đã nhắc nhở qua câu tục ngữ: “Sự thật mất lòng”. Sự thật có thể làm cho người nói và người nghe từ một người bạn thân thiết trở thành kẻ thù của nhau, những nỗi đau về sự thật đó không thể hàn gắn lại được.

    Như vậy, sự thật đôi khi cũng mang yếu tố tiêu cực, sự thật khiến con người ta không dám tin tưởng vào bất kỳ ai, dần dần đánh mất niềm vào cuộc sống và đánh mất chính bản thân mình.

    Qua vế thứ nhất, câu nói muốn nhắc nhở người đời hãy luôn tin vào sự thật, đừng phủ nhận nó vì sự thật mãi mãi không thể thay đổi được. Dù sự thật có nghiệt ngã đến đâu, chúng ta vẫn phải trân trọng, và đứng trên lập trường của chính mình để giải quyết vấn đề một cách đúng đắn nhất.

    Đến vế thứ hai của câu nói, chúng ta lại thấy vế này đối nghịch với vế thứ nhất, nó phản ánh tính cách cũng như bản chất thường thấy trong con người chúng ta. Nếu như lương tâm mách bảo chúng ta làm điều tốt, nhưng vì lợi ích cá nhân hay vì hoàn cảnh bắt buộc chúng ta phải làm trái với lương tâm, phải nói dối để đạt được mục đích cho bản thân.

    “Nói dối” là hành vi cố tình cung cấp thông tin sai sự thật về vấn đề nào đó để người nói dối đạt được mục đích mà họ mong muốn – thường là không chính đáng. Người nói dối luôn tạo môi trường giống như thật, tạo mọi cử chỉ, hành động để đối tượng tin vào những gì họ đang nói. Những người nói dối sẽ luôn luôn tạo nên những “đổ vỡ” – giữa người nói dối và người bị nói dối sẽ tạo ra mối thù hằn sâu sắc, không thể hàn gắn lại được. Mối thù ấy có thể truyền lại từ đời này sang đời khác, hậu quả của nó không bao giờ giải quyết được.

    Có hai khía cạnh nói dối: nói dối có ý tốt và nói dối bất thiện. Nói dối có ý tốt nhằm mục đích cứu người, giúp người, tuy nhiên cũng tùy hoàn cảnh mà có nên nói hay không. Người nói dối sẽ trở nên đáng thương vì những lời nói dối tưởng chừng như an ủi được đối phương. Chắc hẳn các bạn đã từng nghe qua “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ: Vũ Nương đã làm tròn bổn phận của một phụ nữ, người vợ, người mẹ, người con, ở cương vị nào nàng cũng làm rất hoàn hảo. Nàng đúng là người phụ nữ lí tưởng của gia đình. Nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng hạnh phúc đã không mỉm cười với nàng.Câu chuyện của bé Đản, Vũ Nương vì thương con, và để con cảm nhận được tình yêu của cha dành cho con, Vũ Nương đã lấy cái bóng của mình để chỉ cho con trai đây là cha nó. Đứa co trai mới lên ba tuổi hồn nhiên, vô tư đó đã phủ nhận Trương Sinh khi anh đi đánh giặc trở về đã làm cho Trương Sinh nghi ngờ. Với bản tính hay ghen cộng thêm tính gia trưởng, thất học, Trương Sinh đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn. Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã “ mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” mặc cho Vũ Nương hết sức phân trần, mặc cho “hàng xóm can ngăn cũng chẳng ăn thua gì”. Nàng đau khổ đến xé lòng. Bi kịch dâng tràn đến đỉnh điểm, Vũ Nương phải tìm đến cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của chính mình!

    Qua câu chuyện đó giúp chúng ta rút ra bài học, trước khi quyết định nói dối một điều gì đó phải nghĩ đến hậu quả của nó. Bản thân chúng ta phải hạn chế đến mức thấp nhất vì nói như thế sẽ trở thành thói quen, dần dần sẽ chuyển từ ý nghĩ nói thiện sang nói bất thiện.

    Bên canh đó, chúng ta còn thấy những lời nói dối cố tình của người nói nhằm đánh lạc hướng người nghe, để người nghe gây thù hằn với người khác và đem lai lợi ích cho người nói. Nói dối bất thiện là lừa lọc, qua mặt người khác nhằm che đậy lỗi lầm của mình – đây là hành vi cần tránh. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng quy cho cùng thì lời nói dối xuất phát từ việc sợ người khác biết lỗi lầm của mình, chẳng hạn: người nổi tiếng nói dối là vì sợ ảnh hưởng đến tiếng tăm, doanh nghiệp nói dối là vì sợ mất uy tín trên thương trường, trẻ con nói dối là vì sợ bị la mắng…

    Hay như nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm “Chí phèo” của Nam Cao: Để đạt được mục đích của mình, Bá Kiến đã nhanh chóng tìm ra kế sách thích hợp nhất để đối phó với Chí phèo.Bá Kiến bắt đầu giở giọng đường mật, gọi đầy tớ cũ của mình – nay đã bị biến thành con vật gớm ghiếc – bằng “anh”, vồn vã mời Chí vào nhà uống nước. Chưa đủ, cụ tiên chỉ làng Vũ Đại đã dùng những lời nói và hành động dối trá như nhận họ hàng với Chí, rồi giết gà, mua rượu cho hắn uống, rồi còn đãi thêm đồng bạc để về uống nước. Cách cư xử, chứng tỏ cụ bá lõi đời đã đi guốc vào bụng dạ Chí Phèo lúc này: vừa ưa phỉnh nịnh, vừa hám cái lợi trước mắt. Rốt cuộc, bá Kiến chuyển bại thành thắng, đạt được cả hai mục đích: vừa tạm dập tắt ngon lửa hờn căm trong con người Chí, vừa chuẩn bị biến Chí thành tay sai lợi hại. Như vậy, chỉ cần mấy lời nói nham hiểm của bá Kiến đã biến Chí trở thành tay sai đắc lực nhất.

    Qua câu nói trên, chúng ta có thể thấy cuộc sống xã hội luôn biến động phức tạp. Sự thật và dối trá luôn luôn tồn tại song hàng trong cùng một con người. Vì thế, con người cần phải tỉnh táo phân biệt được đúng – sai, xấu – tốt để con người làm chủ được bản thân và sống đúng với lương tâm của mình. Nhưng con người trong cuộc sống ngày nay thường ít quan tâm và để ý đến nhau để có những lời nói thật. Vì thế, lời nói thật trở nên có giá trị, và tìm được một người luôn nói thật về ta cho ta nghe là một điều quả thật khó khăn. Tuy việc đi tìm sự thật đôi khi cũng tạo cho con người những rạn nứt về mặt tình cảm nhưng khi tìm ra được chân lý sự thật con người cũng sẽ cảm thấy có niềm tin vào cuộc sống. Hãy đi tìm sự thật, đừng tìm những lời dối trá để vụ lợi cho bản thân và sẽ lãnh chịu nhiều hậu quả.Nghị luận câu nói: “Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ”.

    Bài tham khảo 2

    Cuộc sống luôn tồn tại nghịch lý tốt và xấu. Con người thường khao khát đi tìm chân lý, tìm ra những điểm tốt song không phải ai cũng tìm ra sự thật, đôi khi sự thật làm con người cảm thấy tuyệt vọng. Dẫu thế người ta luôn muốn sự thật thuộc về mình, còn những điều dối trá mãi không tồn tại. Từ những kinh nghiệm sống, cha ông ta đã đúc kết ra câu nói: “Sự thật đôi khi gây nên những rạn nứt, còn dối trá luôn luôn tạo nên những đổ vỡ”.

    Trước khi hiểu được vế thứ nhất của câu nói, chúng ta cần hiểu từ “sự thật” là gì? Sự thật không là cảm giác, mà là ý nghĩ. Sự thật là điều minh nhiên hợp đạo lý mà không ai có thể chối cãi, dù người ta cố ý khước từ hoặc không muốn chấp nhận. Sự thật có tính vĩnh cửu, mãi mãi là sự thật. Từ “rạn nứt” được hiểu là tinh thần con người bị suy sụp, không được nguyên vẹn như trước. Vế thứ nhất của câu nói cho chúng ta hiểu rằng: sự thật là điều con người luôn phải tôn trọng, vì nó luôn luôn đúng, giúp con người nhìn nhận đúng đắn bản chất vấn đề ở một người nào đó hoặc một sự vật nào đó. Nhưng đôi khi sự thật cũng làm cho người khác phật ý, gây mất lòng đối phương, tình cảm giữa con người với con người trở nên xa cách và rạn nứt.

    Sự thật luôn luôn tồn tại hai mặt: sự thật có thể làm cho con người cảm thấy tin yêu cuộc sống, có niềm tin vào tương lai. Sự thật giúp con người phấn chấn, vượt qua tất cả những khó khăn, giông tố của cuộc đời để đi đến thành công. Để củng cố niềm tin sự thật mang đến cho con người nhiều mặt tích cực, chúng ta hãy quay trở về nhân vật Thạch Sanh và nhân vật Lí Thông trong truyện cổ tích “Thạch Sanh” để thấy được cái thiện luôn luôn chiến thắng cái ác.

    Cái ác của Lí Thông là cái ác có thực trong xã hội. Nó bắt nguồn từ lòng tham, sự đố kị ghen ghét trước tài năng và công lao, thành tích của người khác. Cái ác của Lí Thông không chỉ là tội ác giết người, mà còn là tội ác của sự vong ân bội nghĩa, khiến cả con người lẫn đất trời đều phẫn nộ. Kẻ ác không những bị trừng trị mà còn bị trừng trị thật đích – đáng: bị biến thành bọ hung để đời đời kiếp kiếp bị người đời nguyền rủa và khinh bỉ.

    Nhân vật Thạch Sanh hiện lên thật đẹp. Với búa thần, cung tên vàng, đàn thần, với võ nghệ và phép thần thông biến hoá, chàng dũng sĩ đã chém Trăn tinh, giết Đại bàng, trừ diệt cái ác, tai họa cho nhân dân, đẩy lùi nguy cơ chiến tranh, đem lại hoà bình. Thạch Sanh đã trải qua bao gian truân thử thách, lấp lánh bao chiến công hiển hách. Anh đã được kết duyên với công chúa, chàng đã thể hiện ước mơ của nhân dân, những ước mơ hồn nhiên, trong sáng và rất đẹp.

    Cuộc đấu tranh chống cái ác là một trận chiến gay go, phức tạp và dai dẳng. Tuy vậy, niềm tin và ước mơ về sự chiến thắng của cái thiện đối với cái ác của nhân dân vẫn không hề suy giảm. Niềm tin và ước mơ ấy được họ gửi gắm vào trong các truyện cổ tích. “Thạch Sanh” là một truyện cổ tích tiêu biểu cho chủ đề chống cái ác.

    Như vậy, sự thật mang ý nghĩa tích cực vừa mang yếu tố khách quan, vừa mang yếu tố chủ quan. Nó giúp con người luôn dũng cảm đối mặt với sự thật, chúng ta có thể vượt qua những sự thật cay đắng để bước tiếp và những điều tốt lành sẽ đến với chúng ta.

    Sự thật của một việc hay của một ai đó nếu đựơc nói một cách trắng trợn và trần trụi thì dù có ích cho người nghe đi chăng nữa thì cũng khiến người nghe phải phật lòng.

    Cũng có một số người nói vì sự ghen tuông mà lời nói sẽ có âm lượng khác, cũng có thể lời nói đó đựơc nói ra từ thiện chí và muốn người nghe tiếp thu và sửa sai. “Sự thật” ở đâykhiến cho người nghe cảm thấy khó chịu, mơ hồ, không thể phân biệt đúng sai. Nó có thể được ví như là một món đồ xấu và làm tổn thương đến tâm hồn người nghe.

    Cũng có khi, chính bản thân người nghe biết rõ nhưng vẫn phật ý khi nghe người khác nói tới điều đó. Đúng như lời cha ông ta đã nhắc nhở qua câu tục ngữ: “Sự thật mất lòng”. Sự thật có thể làm cho người nói và người nghe từ một người bạn thân thiết trở thành kẻ thù của nhau, những nỗi đau về sự thật đó không thể hàn gắn lại được.

    Như vậy, sự thật đôi khi cũng mang yếu tố tiêu cực, sự thật khiến con người ta không dám tin tưởng vào bất kỳ ai, dần dần đánh mất niềm vào cuộc sống và đánh mất chính bản thân mình.

    Qua vế thứ nhất, câu nói muốn nhắc nhở người đời hãy luôn tin vào sự thật, đừng phủ nhận nó vì sự thật mãi mãi không thể thay đổi được. Dù sự thật có nghiệt ngã đến đâu, chúng ta vẫn phải trân trọng, và đứng trên lập trường của chính mình để giải quyết vấn đề một cách đúng đắn nhất.

    Đến vế thứ hai của câu nói, chúng ta lại thấy vế này đối nghịch với vế thứ nhất, nó phản ánh tính cách cũng như bản chất thường thấy trong con người chúng ta. Nếu như lương tâm mách bảo chúng ta làm điều tốt, nhưng vì lợi ích cá nhân hay vì hoàn cảnh bắt buộc chúng ta phải làm trái với lương tâm, phải nói dối để đạt được mục đích cho bản thân.

    “Nói dối” là hành vi cố tình cung cấp thông tin sai sự thật về vấn đề nào đó để người nói dối đạt được mục đích mà họ mong muốn – thường là không chính đáng. Người nói dối luôn tạo môi trường giống như thật, tạo mọi cử chỉ, hành động để đối tượng tin vào những gì họ đang nói. Những người nói dối sẽ luôn luôn tạo nên những “đổ vỡ” – giữa người nói dối và người bị nói dối sẽ tạo ra mối thù hằn sâu sắc, không thể hàn gắn lại được. Mối thù ấy có thể truyền lại từ đời này sang đời khác, hậu quả của nó không bao giờ giải quyết được.

    Có hai khía cạnh nói dối: nói dối có ý tốt và nói dối bất thiện. Nói dối có ý tốt nhằm mục đích cứu người, giúp người, tuy nhiên cũng tùy hoàn cảnh mà có nên nói hay không. Người nói dối sẽ trở nên đáng thương vì những lời nói dối tưởng chừng như an ủi được đối phương. Chắc hẳn các bạn đã từng nghe qua “Chuyện người con gái Nam Xương” của Nguyễn Dữ: Vũ Nương đã làm tròn bổn phận của một phụ nữ, người vợ, người mẹ, người con, ở cương vị nào nàng cũng làm rất hoàn hảo. Nàng đúng là người phụ nữ lí tưởng của gia đình. Nàng xứng đáng được hưởng hạnh phúc nhưng hạnh phúc đã không mỉm cười với nàng.Câu chuyện của bé Đản, Vũ Nương vì thương con, và để con cảm nhận được tình yêu của cha dành cho con, Vũ Nương đã lấy cái bóng của mình để chỉ cho con trai đây là cha nó. Đứa co trai mới lên ba tuổi hồn nhiên, vô tư đó đã phủ nhận Trương Sinh khi anh đi đánh giặc trở về đã làm cho Trương Sinh nghi ngờ. Với bản tính hay ghen cộng thêm tính gia trưởng, thất học, Trương Sinh đối xử với vợ hết sức tàn nhẫn. Giấu biệt lời con nói, Trương Sinh đã “ mắng nhiếc nàng và đánh đuổi đi” mặc cho Vũ Nương hết sức phân trần, mặc cho “hàng xóm can ngăn cũng chẳng ăn thua gì”. Nàng đau khổ đến xé lòng. Bi kịch dâng tràn đến đỉnh điểm, Vũ Nương phải tìm đến cái chết để chứng minh cho sự trong sạch của chính mình!

    Qua câu chuyện đó giúp chúng ta rút ra bài học, trước khi quyết định nói dối một điều gì đó phải nghĩ đến hậu quả của nó. Bản thân chúng ta phải hạn chế đến mức thấp nhất vì nói như thế sẽ trở thành thói quen, dần dần sẽ chuyển từ ý nghĩ nói thiện sang nói bất thiện.

    Bên canh đó, chúng ta còn thấy những lời nói dối cố tình của người nói nhằm đánh lạc hướng người nghe, để người nghe gây thù hằn với người khác và đem lai lợi ích cho người nói. Nói dối bất thiện là lừa lọc, qua mặt người khác nhằm che đậy lỗi lầm của mình – đây là hành vi cần tránh. Có rất nhiều nguyên nhân nhưng quy cho cùng thì lời nói dối xuất phát từ việc sợ người khác biết lỗi lầm của mình, chẳng hạn: người nổi tiếng nói dối là vì sợ ảnh hưởng đến tiếng tăm, doanh nghiệp nói dối là vì sợ mất uy tín trên thương trường, trẻ con nói dối là vì sợ bị la mắng…

    Hay như nhân vật Bá Kiến trong tác phẩm “Chí phèo” của Nam Cao: Để đạt được mục đích của mình, Bá Kiến đã nhanh chóng tìm ra kế sách thích hợp nhất để đối phó với Chí phèo.Bá Kiến bắt đầu giở giọng đường mật, gọi đầy tớ cũ của mình – nay đã bị biến thành con vật gớm ghiếc – bằng “anh”, vồn vã mời Chí vào nhà uống nước. Chưa đủ, cụ tiên chỉ làng Vũ Đại đã dùng những lời nói và hành động dối trá như nhận họ hàng với Chí, rồi giết gà, mua rượu cho hắn uống, rồi còn đãi thêm đồng bạc để về uống nước. Cách cư xử, chứng tỏ cụ bá lõi đời đã đi guốc vào bụng dạ Chí Phèo lúc này: vừa ưa phỉnh nịnh, vừa hám cái lợi trước mắt. Rốt cuộc, bá Kiến chuyển bại thành thắng, đạt được cả hai mục đích: vừa tạm dập tắt ngon lửa hờn căm trong con người Chí, vừa chuẩn bị biến Chí thành tay sai lợi hại. Như vậy, chỉ cần mấy lời nói nham hiểm của bá Kiến đã biến Chí trở thành tay sai đắc lực nhất.

    Qua câu nói trên, chúng ta có thể thấy cuộc sống xã hội luôn biến động phức tạp. Sự thật và dối trá luôn luôn tồn tại song hàng trong cùng một con người. Vì thế, con người cần phải tỉnh táo phân biệt được đúng – sai, xấu – tốt để con người làm chủ được bản thân và sống đúng với lương tâm của mình. Nhưng con người trong cuộc sống ngày nay thường ít quan tâm và để ý đến nhau để có những lời nói thật. Vì thế, lời nói thật trở nên có giá trị, và tìm được một người luôn nói thật về ta cho ta nghe là một điều quả thật khó khăn. Tuy việc đi tìm sự thật đôi khi cũng tạo cho con người những rạn nứt về mặt tình cảm nhưng khi tìm ra được chân lý sự thật con người cũng sẽ cảm thấy có niềm tin vào cuộc sống. Hãy đi tìm sự thật, đừng tìm những lời dối trá để vụ lợi cho bản thân và sẽ lãnh chịu nhiều hậu quả.