Category: Ôn Thi Đại Học

Tổng hợp kiến thức ôn thi vào đại học

  • Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu

    Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu

    Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/M%E1%BB%99t-s%E1%BB%91-b%C3%A0i-v%C4%83n-m%E1%BA%ABu-C%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-b%C3%A0i-th%C6%A1-Vi%E1%BB%87t-B%E1%BA%AFc-v%C3%A0-nh%C3%A0-th%C6%A1-T%E1%BB%91-H%E1%BB%AFu.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Một số bài văn mẫu Cảm nhận về bài thơ Việt Bắc và nhà thơ Tố Hữu

    Cảm nhận của bản thân về Việt Bắc và

     

    nhà thơ Tố Hữu

     

    Mở bài

     

     

    • Nhắc đến Việt Bắc là nhắc đến cội nguồn của cách mạng, nhắc đến mảnh đất trung du nghèo khó mà nặng nghĩa nặng tình – nơi đã in sâu bao kỉ niệm của một thời kì cách mạng gian khổ nhưng hào hùng sôi nổi khiến khi chia xa, lòng ta sao khỏi xuyến xao bồi hồi.

     

    Cứ thế sợi nhớ, sợi thương cứ thế mà đan cài xoắn xuýt như tiếng gọi “Ta – mình” của đôi lứa yêu nhau. Đúng như lời thơ Chế Lan Viên từng viết ” Khi ta ở đất chỉ là nơi ở/ Khi ta đi đất bỗng hóa tâm hồn”. Vâng! Việt Bắc đã hóa tâm hồn dào dạt nghĩa yêu thương trong thơ Tố Hữu với những lời thơ như tiếng nhạc ngân nga, với cảnh với người ăm ắp những kỉ niệm ân tình có bao giờ quên được.

     

    “Ta về mình có nhớ ta

     

     

    ………………………….

     

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

     

     

    Thân Bài

     

    Tố Hữu là nhà thơ trữ tình chính trị, thơ ông diễn tả những tình cảm cách mạng thật nhẹ nhàng mà cũng thật đậm sâu. Việt Bắc là đỉnh cao của thơ Tố Hữu nói riêng, của thơ ca kháng chiến chống Pháp nói chung. Bài thơ được viết vào tháng 10/1954, khi Trung ương Đảng và Chính phủ, Bác Hồ và cán bộ kháng chiến từ giã

     

    “Thủ đô gió ngàn” về với “Thủ đô Hoa vàng nắng Ba Đình”.

     

     

    Cả bài thơ là một niềm hoài niệm nhớ thương tuôn chảy về những năm tháng ở chiến khu Việt Bắc rất gian khổ nhưng vui tươi hào hùng. Nhưng có lẽ để lại ấn tượng sâu đậm nhất trong bài ca Việt Bắc có lẽ là đoạn thơ về bức tranh tứ bình với bốn mùa xuân – hạ – thu – đông. Mở đầu đoạn thơ là hai câu thơ giới thiệu nội dung bao quát cảm xúc chung của đoạn thơ:

     

    “Ta về mình có nhớ ta

     

     

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

     

    • Câu thơ đầu tiên sử dụng câu hỏi tu từ “mình có nhớ ta”, câu thơ thứ hai là tự trả lời, điệp từ “ta” lặp lại bốn lần cùng với âm “a” là âm mở khiến câu thơ mang âm hưởng ngân xa, tha thiết nồng nàn.

     

    • Với Tố Hữu, người cán bộ ra đi không chỉ nhớ đến những ngày tháng gian khổ “bát cơm sẻ nửa chăn sui đắp cùng”, mà còn nhớ đến vẻ đẹp đáng yêu của Hoa cùng Người.

     

    • Ở đây, hoa tượng trưng cho vẻ đẹp thiên nhiên Việt Bắc.

     

    • Con người là con người Việt Bắc với tấm áo chàm nghèo khổ nhưng đậm đà lòng son. Hoa và Người quấn quýt với nhau trong vẻ đẹp hài hòa đằm thắm để tạo nên cái nét riêng biệt,

    độc đáo của vùng đất này.

     

    Chính điều ấy đã tạo nên cái cấu trúc đặc sắc cho đoạn thơ.Trong bốn cặp lục bát còn lại câu sáu dành cho nhớ hoa, nhớ cảnh, câu tám dành cho nhớ người.Cảnh và Người trong mỗi câu lại có những sắc thái đặc điểm riêng thật hấp dẫn.

     

    • Nhắc đến mùa đông ta thường nhớ đến cái lạnh thấu xương da, cái ảm đạm của những ngày mưa phùn gió bấc, cái buồn bã của khí trời u uất. Nhưng đến với Việt Bắc trong thơ Tố Hữu thì thật lạ. Mùa đông bỗng ấm áp lạ thường:

     

    “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.

     

     

    • Điểm xuyết trên cái nền màu xanh bát ngát bao la của cánh rừng, là màu hoa chuối đỏ tươi đang nở rộ lung linh dưới ánh nắng mặt trời.

     

    • Cái màu “đỏ tươi” – gam màu nóng của bông chuối nổi lên giữa màu xanh bát ngát của núi rừng, làm cho thiên nhiên Việt Bắc trở nên tươi sáng, ấm áp và như tiềm ẩn một sức sống,

     

    xua đi cái hoang sơ lạnh giá hiu hắt vốn có của núi rừng. Câu thơ làm ta liên tưởng đến màu đỏ của hoa lựu trong thơ Nguyễn Trãi:

     

    “Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ

     

     

    Hồng liên trì đã tịn mùi hương”.

     

     

    => Từ liên tưởng ấy ta thấy, mùa đông trong thơ Tố Hữu cũng lan tỏa hơi ấm của mùa hè chứ không lạnh lẽo hoang sơ bởi màu đỏ của hoa chuối cũng như đang phun trào từ giữa màu xanh của núi rừng.

     

    + Cùng hiện lên với cái lung linh của hoa chuối ấy là con người của vùng chiến khu lên núi làm nương, phát rẫy sản xuất ra nhiều lúa khoai cung cấp cho kháng chiến “Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”.

     

    • Trước thiên nhiên bao la, con người dường như càng trở nên kỳ vĩ, hùng tráng hơn.

     

    • Ở đây nhà thơ không khắc họa gương mặt mà chớp lấy một nét thần tình rực sáng nhất. Đó

     

    là ánh mặt trời chớp lóe trên lưỡi dao rừng ở ngang lưng.

     

     

    + Ở đây câu thơ vừa mang ngôn ngữ thơ nhưng lại vừa mang ngôn ngữ của nghệ thuật nhiếp ảnh. Con người như một tụ điểm của ánh sáng. Con người ấy cũng đã xuất hiện ở một vị trí, một tư thế đẹp nhất – “đèo cao”. Con người đang chiếm lĩnh đỉnh cao, chiếm lĩnh núi rừng, tự do ” Núi rừng đây là của chúng ta/ Trời xanh đây là của chúng ta”.

     

    => Đấy là cái tư thế làm chủ đầy kiêu hãnh và vững chãi: Giữa núi và nắng, giữa trời cao bao la và rừng xanh mênh mang. Con người ấy đã trở thành linh hồn của bức tranh mùa đông Việt Bắc.

     

    Đông qua, xuân lại tới. Nhắc đến mùa xuân ta liên tưởng ngay đến sức sống mới của cỏ cây, hoa lá, của trăm loài đang cựa mình thức dậy sau mùa đông dài. Mùa xuân Việt bắc cũng vậy:

     

    “Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”.

     

     

    + Bao trùm lên cảnh vật mùa xuân là màu trắng dịu dàng, trong trẻo, tinh khiết của hoa mơ nở khắp rừng:

     

    “Ngày xuân mơ nở trắng rừng”. “trắng rừng” được viết theo phép đảo ngữ và từ “trắng” được dùng như động từ có tác dụng nhấn mạnh vào màu sắc, màu trắng dường như lấn át tất cả mọi màu xanh của lá, và làm bừng sáng cả khu rừng bởi sắc trắng mơ màng, bâng khuâng, dịu dàng của hoa mơ . Động từ “nở” làm sức sống mùa xuân lan tỏa và tràn trề nhựa sống.

     

    • Mùa xuân càng trở nên tươi tắn hơn nữa bởi sự xuất hiện của hình ảnh con người với hoạt động ” chuốt từng sợi giang”.

     

    • Con người đẹp tự nhiên trong những công việc hằng ngày. Từ “chuốt” và hình ảnh thơ đã nói lên được bàn tay của con người lao động: cần mẫn, tỉ mẩn, tài hoa, nhanh nhẹn, chăm chút đó cũng chính là phẩm chất tần tảo của con người Việt Bắc.

     

    • Mùa hè đến trong âm thanh rộn rã của tiếng ve, bức tranh Việt Bắc lại sống động hơn

     

    bao giờ hết:

     

    “Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình”.

     

     

    • Thời điểm ve kêu cũng là thời điểm rừng phách đổ vàng. Động từ “đổ” là động từ mạnh, diễn tả sự vàng lên đồng loạt của hoa phách đầu hè.

     

    • Màu của cây phách đổ vàng cả suối ngàn dường như làm cho ánh nắng của mùa hè và cả

     

    tiếng ve kêu râm ran kia nữa cũng trở nên óng vàng ra. Đây là một bức tranh sơn mài được vẽ lên bằng hoài niệm, nên lung linh ánh sáng, màu sắc và rộn rã âm thanh.Tố Hữu không chỉ có biệt tài trong việc miêu tả vẻ đẹp riêng của từng mùa, mà còn có tài trong việc miêu tả sự vận động đổi thay của thời gian và cảnh vật.

     

    • Chỉ trong một câu thơ trên mà ta thấy được cả thời gian luân chuyển sống động: tiếng ve kêu báo hiệu mùa hè đến và cây Phách ngả sang màu vàng rực rỡ.

     

    => Đây chính là một biểu hiện đặc sắc của tính dân tộc.

     

     

    • Hiện lên trong cái thiên nhiên óng vàng và rộn rã ấy, là hình ảnh cô gái áo chàm cần mẫn đi hái búp măng rừng cung cấp cho bộ đội kháng chiến: “Nhớ cô em gái hái

     

    măng một mình”.

     

     

    + Hái măng một mình mà không gợi lên ấn tượng về sự cô đơn, hiu hắt như bóng dáng của người sơn nữ trong thơ xưa; trái lại rất trữ tình, thơ mộng, gần gũi thân thương

     

    tha thiết. Hình ảnh thơ cũng gợi lên được vẻ đẹp chịu khó chịu thương của cô gái. Đằng sau đó, ẩn chứa biết bao niềm cảm thông, trân trọng của tác giả.

     

    • Thu sang, khung cảnh núi rừng chiến khu như được tắm trong ánh trăng xanh huyền ảo lung linh dịu dàng:

     

    “Rừng thu trăng rọi hòa bình

     

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung”

     

     

    • Không gian bao la tràn ngập ánh trăng, đó là ánh trăng của tự do, của hòa bình dọi sáng niềm vui lên từng núi rừng, từng bản làng Việt Bắc. Ta cũng từng biết đến mùa

     

    thu đầy ánh trăng trong thơ của Bác khi còn ở chiến khu:

     

    “Trăng vào cửa sổ đòi thơ

     

     

    Việc quân đang bận xin chờ hôm sau Chuông lầu chợt tỉnh giấc thu Ấy tin thắng trận liên khu báo về”.

     

    • Ở đây không có tiếng chuông báo thắng trận nhưng lại vang lên tiếng hát.

     

    • Đó là tiếng hát trong trẻo của đồng bào dân tộc, là tiếng hát nhắc nhở thủy chung ân tình.

     

    Đây cũng chính là tiếng hát của Việt Bắc của núi rừng của tình cảm mười lăm năm gắn bó thiết tha mặn nồng.

     

    Vâng! Bức tranh mùa thu Việt Bắc đã làm hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng và khép lại đoạn thơ bằng tiếng hát “ân tình thủy chung” gợi cho người về và cả người đọc những rung động sâu xa của tình yêu quê hương đất nước.

    Kết bài

     

    • Với những nét chấm phá đơn sơ giản dị, vừa cổ điển vừa hiện đại, đoạn thơ trên của Tố

     

    Hữu đã làm nổi bật được bức tranh cảnh và người qua bốn mùa của chiến khu Việt Bắc.

     

    • Cảnh và người hòa hợp với nhau tô điểm cho nhau, làm cho bức tranh trở nên gần gũi

     

    thân quen, sống động và có hồn hơn. Tất cả đã tan chảy thành nỗi nhớ nhung quyến luyến thiết tha trong tâm hồn người cán bộ về xuôi.

     

    Đề bài: Cảm nhận về Bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc của nhà thơ Tố Hữu

     

    Bài làm:

     

    Tố Hữu là một nhà thơ tiêu biểu cho nền văn Việt Nam hiện đại. Ông là một nhà thơ với tư tưởng cộng sản, một nhà thơ lớn, thơ ông gắn liền với cách mạng. Tố Hữu còn gắn bó với dân sâu sắc. Vì vậy mà trong các tác phẩm của ông luôn gần gũi với nhân dân. Ông để lại một sự nghiệp văn chương phong phú, giàu giá trị với phong các trữ tình – chính trị sâu sắc đậm đà bản sắc dân tộc. Tiêu biểu là bài Việt Bắc. Có thể nói, kết tinh của tác phẩm được lắng đọng trong mười câu thơ diễn tả nỗi nhớ của người về xuôi với cảnh thiên nhiên và con người Việt Bắc hòa quyện thành bức tranh tứ bình.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    “Ta về, mình có nhớ ta

     

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

     

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

     

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

     

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

     

    Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tahnsg 10 năm 1954 ngay sau khi cuộc kháng chiến

     

    chống thực dân Pháp thắng lợi, các cơ quant rung ương Đảng và chính quyền từ Việt Bắc về

     

    lại thủ đô Hà Nội. Tố Hữu cũng là một trong những cán bộ sống gắn bó với Việt Bắc nhiều

     

    năm, nay từ biệt chiến khu để về xuôi. Bài thơ như được viết trong buổi chia tay lưu luyến ấy.

     

    Và có lẽ đẹp nhất trong nỗi nhớ Việt Bắc là những ấn tượng không phai về sự hòa quyện của

     

    người dân với thiên nhiên núi rừng cao đẹp.

     

    “Ta về, mình có nhớ ta

     

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người”

     

    Mở đầu đoạn thơ là câu hỏi tu từ. Nhưng hỏi chỉ là cái cớ để thể hiện tâm tư tình cảm, nhấn mạnh nỗi nhớ da diết của người về Thủ đô. Hai câu đầu là lời hỏi đáp của ta của người cán bộ kháng chiến về xuôi. Ta hỏi mình có nhớ ta. Người cách mạng về xuôi hỏi người Việt Bắc để bộc lộ tâm trạng của mình là dù có ở nơi xa xôi , dù có xa cách nhưng lòng ta vẫn gắn bó với Việt Bắc. Chữ “ta” và “nhớ” được điệp đi điệp lại thể hiện lòng thủy chung son sắc. Nỗi nhớ hướng về “những hoa cùng người” hướng về thiên nhiên , núi rừng và con người Việt Bắc. “Hoa” là sự kết tinh của hương sắc, còn “người” là kết tinh của đời sống xã hội. Xét cho cùng, “người ta là hoa của đất”. Hoa và người được đặt cạnh nhau càng làm tôn lên vẻ đẹp cho nhau, làm sáng lên cả không gian núi rừng, Việt Bắc trùng điệp.

     

    Những câu thơ tiếp theo tái hiện cụ thể, chân thực vẻ đẹp bốn mùa của chiến khu. Cảnh và người hòa quyện đan xen vào nhau. Cứ một câu thơ lục tả cảnh thì lại có một câu thơ bát tả người. Mỗi mùa có một vẻ đẹp nét đặc trưng riêng tạo thành một bức trannh tứ bình ngập tràn ánh sáng , màu sắc , đường nét âm thanh vui tươi, ấm áp. “Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng”

     

    Mở đầu cho bức tranh tứ bình lại là khung cảnh mùa Đông. Chúng ta vẫn luôn thắc mắc rằng tại sao tác giả không diễn tả mùa theo trật tự quy luật tự nhiên là Xuân, Hạ, Thu, Đông lại là

     

    mùa Đông trước. có lẽ vì, thời điểm tác giả sáng tác bài thơ này là vào tháng 10 năm 1954, đó là thời điểm của mùa đông nên khung cảnh mùa đông việt bắc tạo cảm hứng để ông viết về mùa đông trước.

     

    Nhớ về mùa đông Việt Bắc, tác gủa không nhớ về cái giá buốt, lạnh lẽo, âm u. Tố Hữu nhớ đến những ngày màu đông rực rỡ, nắng ấm. Màu xanh bạt ngàn của núi rừng Việt Bắc. nó giống như màu nên flamf nổi bật lên màu đỏ tươi của hoa chuối. Hình ảnh “hoa chuối đỏ tươi”

     

    – hình ảnh đặc trưng của rừng núi Việt Bắc vào mùa đông, nó giống như ngọn đuốc, đốm lửa rực rỡ thắp sáng bức tranh mùa đông, xua tan đi cái u tối, lạnh lẽo của núi rừng nơi đây. Cả không gian như được sưởi ấm. Tô điểm thêm nét đẹp đặc trưng của mùa Đông Việt Bắc. Đằng

     

    sau bức tranh mùa đông ấy, ẩn hiên lên hình ảnh người nông dân lao động leo lên đèo cao để đi làm nương rẫy. Một hình ảnh khỏe khoắn của người lao động như được tỏa sáng, rực rỡ hơn. Tố Hữu sử dụng nghệ thuật đảo ngữ, ông không dùng “ánh nắng” là một danh từ mà lại dùng “nắng ánh” – một động từ, nhằm làm cho hình ảnh người lao động đẹp và rực rỡ hơn.

     

    Kết thúc mùa đông lạnh giá, Tố Hữu đưa chúng ta đến với mùa Xuân ấm ấp vui hơn “Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang”

     

    Mùa xuân – hình ảnh bông hoa “mơ nở trắng rừng” là loài hoa đặc trưng của mùa xuân nơi

     

    Việt Bắc. Hoa nở trắng xóa cả khu rừng. Màu không phải màu trăngs điểm như trong bài

     

    Truyện Kiều của Nguyễn Du “cành lê trắng điểm một vài bông hoa”. Đó là màu trắng tinh

     

    khiết, tinh khôi khoác lên cho núi rừng Việt Bắc. Và đằng sau mùa xuân tinh khiết, nhẹ nhàng,

     

    thơ mộng ấy. Nhà thơ nhớ đến những người đan nón. Hình ảnh “người chuốt từng sợi giang”

     

    đã làm nổi bật đức tính cần cù, tỉ mĩ, khéo léo, tài hoa của những con người nơi đây. Họ đã

     

    làm ra những sợi giang nõn nà để đan thành những chiếc nón. Đó là vật để che nắng che mưa

     

    không thể thiếu của người dân nơi đây và đó cũng có thể là thứ quà tặng dành cho những

     

    người mà họ yêu thương.

     

    “Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình”

     

    Khi âm thanh của tiếng ve vang lên, đó là âm thanh đặc trưng của mùa hè. Rừng phách đột ngột đổ vàng. Đó là sự chuyển biến đột ngột làm cho người ta có cảm giác khi tiếng ve vang lên thì những lá cây của cây phách từ lá màu xanh chuyển sang màu vàng. Cả không gian Việt Bắc như được nhuộm sắc vàng rực rỡ. Thời gian mang đến cho ta màu sắc và ẩn sâu trong cái sắc vàng rực rỡ ấy là hình ảnh cô em hái măng . Ở đó, toát lên được sự cần mẫn, cần cùm siêng năng , chăm chỉ . Măng là thứ rau để nuôi sống bộ đội cách mạng. Và hình ảnh cô gái hái măng một mình cho thấy được sự yên tĩnh, thư thái. Câu thơ làm ta liên tưởng đến câu: “Trám bùi để rụng , măng mai để già”

     

    Nếu như đặc trưng của mùa đông là hoa mơ, mùa xuân là hoa chuối, mùa hè là hoa phách vàng. Vậy còn mùa thu là hoa gì? Mùa thu không có hoa mà mùa thu có người. mà con người là loài hoa đẹp nhất. “Người ta là hoa của đất”.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Khác với nền văn học trung đại, một nền văn học mà các nhà văn lấy thiên nhiên làm tiêu chuẩn cho cái đẹp thì nền văn học hiện đại lại lấy con người làm tiêu chuẩn cho cái đẹp. Điều này được thể hiện rất rõ ở câu thơ tả mùa thu của Tố Hữu.

     

    “Rừng thu trăng rọi hoà bình

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung”

     

    Nếu câu thơ lục là câu thơ tả hình ảnh ánh trăng thì câu thơ bát có “tiếng hát ân tình”. Cặp đôi “trăng – nhạc” góp phần tạo nên vẻ đẹp lung linh, lãng mạn. Đất nước ta lúc ấy đang trong thời kì kháng chiến khốc liệt nhưng ở nhwunxg câu thơ của Tố Hữu ta chỉ thấy được sự bình yên, hòa bình, êm ả và ân tình thủy chung

     

    Đoạn thơ dạt dào tình thương, tha thiết nỗi nhớ bồi hồi thấm sâu vào cảnh và người. Kẻ ở người về thì “ta nhớ mình” “mình nhớ ta”. Tình cảm ấy vô cùng tha thiết, thiêng liêng, biết bao ân tình thủy chung. Năm tháng đi qua nhưng ân tình thủy chung cách mạng giữa Việt Bắc vớ con người về xuôi vẫn luôn thủy chung son sắc, in đậm trong lòng người.

     

    Tóm lại, với 10 câu thơ , Tố Hữu đã hài hòa trong câu lục tả cảnh , câu bát tả người, Và sự hài hòa ấy tạo nên một bức tranh tứ bình tuyệt đẹp , đầy màu sắc. Qua đó, Tố Hữu bộc bạch được tình cảm của mình với thiên nhiên núi rừng Việt Bắc và sự thủy chung son sắc với những con người chất phát, hiền hòa nơi đây. Sự yêu mến và tự hào của Tố Hữu với Việt Bắc . Và ở mỗi bản thân chúng ta, cần phải biết đến những địa danh của Đất Nước mình, yêu mến và luôn tự hào về vẻ đẹp diệu kì của nó. Điều quan trọng hơn hết, chúng ta cần ghi nhớ công ơn to lớn của những chiến sĩ đã hi sinh ra sức chiến đấu dựng xây khiến chúng ta có được một đất nước yên bình , xinh đẹp như ngày hôm nay.

     

    Đề bài: Cảm Nhận 10 Câu Đầu Bài Thơ Việt Bắc

     

     

    I. CÁCH ĐẶT VẤN ĐỀ:

     

     

    Cách A:1. Văn chương kết tinh vẻ đẹp của thời đại. Âm vang của lịch sử dường như đọng lại đẹp nhất, rực rỡ nhất trên những trang thơ. Mỗi câu chữ, hình ảnh thơ ngưng tụ hồn sông núi, ghi nhận ấn tượng sâu sắc cảm động nhất của một đời người. Hạnh phúc nhất của người cầm bút có lẽ là lúc tạo được dấu ấn nghệ thuật không phai mờ trong tâm trí người đọc mọi thế hệ.

     

    1. Việt Bắc của Tố Hữu là một trường ca tuyệt đẹp về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc chống thực dân Pháp. Bài thơ đi vào lòng người bằng giọng điệu ân tình chung thuỷ như ca dao, khắc hoạ sâu sắc nỗi niềm của những người con rời “thủ đô kháng chiến”, thâm tâm đầy ắp kỷ niệm nhớ thương.

     

    1. Trong tâm trạng kẻ ở – người đi, hình bóng của núi rừng – con người Việt Bắc vẹn nguyên cùng ký ức, với bao hình ảnh đơn sơ mà cảm động. Để hôm nay, những câu thơ còn rung động lòng người với những sắc màu, âm thanh tươi rói hơi thở của núi rừng chiến khu, hơi ấm của tình người lan toả: “Ta về … ân tình thuỷ chung”.

     

    Cách B: 1. Là người, ai cũng có một miền đời để nhớ để thương. Có những mảnh đất tuy không phải nơi chôn nhau cắt rốn nhưng vẫn không bao giờ phai mờ trong tâm khảm. Bởi đó là máu thịt, là nơi ghi lại kỷ niệm đẹp nhất của một đời người. Như Chế Lan Viên đã từng triết lý: “Khi ta ở chỉ là nơi đất ở – Khi ta đi đất đã hoá tâm hồn”

     

    1. Việt Bắc – quê hương của kháng chiến, cách mạng trong những ngày đầu tiên của nền dân chủ cộng hoà đã trở thành biểu tượng của tấm lòng gắn bó thuỷ chung với cách mạng, dân tộc. Nhà thơ Tố Hữu đã ghi lại mối tình sắt son đậm đà “mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng” trong bài thơ Việt Bắc, bằng tất cả cảm xúc nồng nàn của một hồn thơ đằm thắm thuỷ chung.

     

    1. Qua bao năm tháng, biến động của lịch sử, tiếng nói thiết tha ấy vẫn rung cảm lòng người, Việt Bắc của ngày xưa vẫn nguyên vẹn trong lòng người hôm nay: “Ta về … ân tình thuỷ chung”. Tiếng lòng ân tình thuỷ chung ngày ấy phải chăng đã thấm sâu vào mạch ân tình

     

    chung thuỷ của thi ca dân tộc, cho nên khoảng cách thời gian không làm nhạt nhoà ấn tượng về một vùng rừng núi chiến khu xưa hùng vĩ nên thơ?

     

    Tìm hiểu chi tiết nội dung phần Phân tích 12 câu trong đoạn 3 bài thơ Việt Bắc để học tốt môn Ngữ Văn 12 hơn.

     

    II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ:

     

     

    1. Cảm nhận chung:

     

     

    1. Điều làm nên sức sống diệu kỳ của bài thơ Việt Bắc nói chung và đoạn thơ nói riêng là giọng điệu thơ ngọt ngào, dân dã đậm sắc màu ca dao. Mạch tình cảm như suối ngầm ẩn tàng trong tâm hồn người Việt. Đó cũng là đặc trưng cơ bản của phong cách thơ Tố hữu – luôn đậm đà tính dân tộc.

     

    1. Tâm tình lại gắn với hình ảnh quê hương – với những nét gợi thương gợi nhớ – là mạch tâm linh chảy suốt chiều dài lịch sử, chạm vào sợi dây tình cảm thiêng liêng nhất của dân tộc Việt Nam “Anh đi anh nhớ quê nhà…”

     

    1. Cảm hứng chính trị xuyên suốt một đời thơ Tố Hữu. Với tâm tình, lẽ sống của nhà thơ, Việt Bắc là kết tinh của tình cảm riêng – chung. Hoà điệu tự nhiên của hai luồng tình cảm: dân tộc và cách mạng. tiếng nói của nhân vật trữ tình nhập vai cũng chính là những suy ngẫm, tình cảm của nhà thơ. Thật khó tách bạch chủ thể và nhân vật. Ở đó là một cái tôi gắn với phẩm chất và tình cảm dân tộc, tiếng nói riêng tư “mình – ta” đã nói hộ tấm lòng của nhân dân và những người con cách mạng. Chất tự sự – trữ tình chính trị như những lời thầm thì tâm sự cùng mọi người, thuyết phục lòng người.

     

    1. Phân tích chi tiết:

     

     

    1. Nỗi nhớ:

     

     

    1. Là cảm xúc chủ đạo của toàn bộ bài thơ, gắn với “ta – mình”, “mình – ta”, là cung bậc thiết tha của tình cảm, là miền ký ức không phai mờ của người ra đi.

     

    1. Nỗi nhớ ở đây mượn nguyên màu sắc ca dao, là sự nối tiếp, là khía cạnh tinh vi trong quan hệ khắng khít: hoa – người. Quê hương hiện hình trong vẻ đẹp cụ thể: vẻ đẹp tinh tuý của thiên nhiên (hoa) hoà hợp với vẻ đẹp và sức sống của con người.

     

    1. Mỗi một hình ảnh “hoa cùng nguời” như đem lại ấn tượng riêng biệt về nét đẹp núi rừng Việt Bắc. Sự nối tiếp, đan xen sắc màu làm nên mạch cảm xúc của đoạn thơ, nỗi nhớ qua từng câu càng đậm đà và mãnh liệt hơn. Trên cơ sở đó, nhà thơ hướng toàn bộ tâm tư về con người

     

    • nhân dân với những phẩm chất bình thường mà vĩ đại.

     

     

    1. Bức vẽ quê hương:

     

     

    1. Tố Hữu đã khéo léo vận dụng thành công đặc trưng tái hiện không gian vô cực của thi ca – gói trọn bốn mùa Xuân – Hạ – Thu – Đông trong những sắc màu đẹp nhất, hài hoà nhất. Bước luân chuyển của thời gian được tác giả chọn ở những thời điểm nên thơ, tạo ấn tượng không phai mờ trong ký ức. Nhớ cảnh để nhớ người.

     

    1. Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

     

     

    Nét son của bức tranh núi rừng ở đây là màu đỏ tươi của hoa chuối. Chấm phá của tranh thuỷ mặc điểm một sắc đỏ trong không gian xanh bao la, không gian mang sức sống mãnh liệt. Ở đấy là cách nhìn của thi nhân Á Đông, người đọc có thể nhớ đến một cảm xúc quen thuộc trong thơ Nguyễn Trãi:

     

    Hoè lục đùn đùn tán rợp trương

     

     

    Thạch lựu hiên còn phun thức đỏ…

     

     

    (Bảo kính cảnh giới 43)

     

     

    Mùa đông trong câu thơ Tố Hữu cũng lan toả hơi ấm của mùa hè, không hề có cảm giác lạnh lẽo, bởi sắc đỏ hoa chuối cũng như phun trào từ giữa màu xanh của rừng.

     

    Bên cạnh nét đẹp của hoa là nét đẹp của người thật khoẻ khoắn “Nắng ánh dao gài thắt lưng” là hình ảnh người dân miền sơn cước. Cách hoán dụ không phải tình cờ ngẫu nhiên mà chọn con dao đi rừng – vật bất ly thân của người miền núi – nét đặc trưng của cuộc sống Việt Bắc. Con người nổi bật trong không gian đèo cao, càng nổi bật trong ánh nắng , thành một điểm sáng giữa khung cảnh mùa đông, mang trong mình nét hiên ngang hùng vĩ kiêu hãnh của núi rừng.

     

    1. Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     

     

    Không gian mùa xuân bừng sáng trong sắc hoa mơ. Sức sống mùa xuân lan toả khắp núi rừng Việt Bắc. Giữa nền trắng hoa mơ, nổi bật hình ảnh “người đan nón”. Nỗi nhớ ở đây cụ thể đến từng chi tiết “chuốt từng sợi giang”. Người Việt Bắc hiện lên ở nét đẹp cần mẫn, chịu thương chịu khó. Trong cách tả không có một âm vang nào của núi rừng, nhưng vẻ đẹp của mùa xuân vẫn sinh động nhờ hoạt động của con người. Sợi nhớ, sợi thương đan dày trong tâm tưởng, con người đẹp tự nhiên trong những công việc tỉ mẩn hàng ngày.

     

    1. Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

     

    Không gian nỗi nhớ hình như rõ nét nhất, đậm đà nhất trong bức tranh mùa hạ. Và cũng đọng lại hình ảnh ngọt ngào thân thương nhất của “cô em gái hái măng”. Câu thơ tả cảnh giàu sức biểu cảm, tiếng ve ran gọi màu vàng tràn ngập không gian. Không gian lung linh hơn khi sắc vàng đổ xuống. Ấn tượng màu vàng đẹp như bức vẽ tả thực vừa làm xao xuyến lòng người trong tiếng ve dóng dả gọi hè, như gọi cả màu vàng đất trời về phủ kín cánh rừng.

     

    Nổi bật giữa khung cảnh là hình ảnh “cô em gái”. Cách gọi biểu lộ niềm thân thương trìu mến của con người. Câu thơ gợi nhớ vẻ đẹp nên thơ của một “cô hái mơ” trong thơ Nguyễn Bính (Thấp thoáng rừng mơ cô hái mơ). Nhưng ở đây cô gái Việt Bắc mang vẻ đẹp khoẻ khoắn mộc mạc hơn. Một mình nhưng không tạo cảm giác cô đơn hiu quạnh, vì cả không gian nhuộm rực ánh vàng.

     

    • Rừng thu trăng dọi hoà bình Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung

     

    Không gian chuyển về đêm. Như hoàn chỉnh bức tranh tuyệt mỹ của núi rừng Việt Bắc. Đêm thu và ánh trăng như lan toả vào màu xanh của núi rừng. Vẻ đẹp của khu rừng dưới ánh trăng gợi lên vẻ huyền ảo. Khung cảnh gọi hồn thơ.

     

    Nỗi nhớ cũng mênh mang như ánh trăng, thành “tiếng hát ân tình thuỷ chung”. Nhớ không cụ thể một đối tượng nào. Như ca dao:

     

    Nhớ ai ra ngẩn vào ngơ

     

     

    Nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai

     

     

    Tình người bâng khuâng trong câu thơ gợi cảm xúc đồng điệu giữa kẻ ở – người đi. Đọng lại trong nỗi nhớ là “ân tình thuỷ chung” dào dạt.

     

    C. Tóm ý:

     

    Đoạn thơ diễn tả nỗi nhớ gắn với hình ảnh của núi rừng Việt Bắc. Mỗi mùa mang một sắc màu riêng và bốn mùa hoà chung màu sắc đa dạng, làm nên vẻ hấp dẫn cho bức tranh phong cảnh trữ tình.

     

    Thời gian diễn tả tuần tự, nhưng thời gian không làm phai nỗi nhớ. Mỗi mùa đi qua có một khoảnh khắc đáng nhớ – đó là khi trái tim nhà thơ bắt nhịp cùng không gian – cảnh vật.

     

    Đó là tình yêu đích thực, rung động chân thành của trái tim nhà thơ. Cũng là tấm lòng của những người con kháng chiến sâu năng với thủ đô kháng chiến.

     

    Bài Mẫu số 1: Phân Tích Nỗi Nhớ Của Người Cán Bộ Cách Mạng Về Xuôi Đối Với Việt Bắc Trong Bài Việt Bắc, Tố Hữu

     

    Bài thơ Việt Bắc là bài thơ được trích trong tập thơ Việt Bắc (1947 – 1954) của Tố Hữu. Tên bài thơ đã trở thành tên chung của cả tập thơ vì bài thơ đã thể hiện được những tình cảm tiêu biểu cho cả tập thơ. Bài thơ đã bộc lộ những tình cảm thiết tha, mặn nồng, gắn bó, thủy chung, son sắt của Việt Bắc đối với người cán bộ về xuôi và ngược lại người cán bộ cách mạng về xuôi cũng bộc lộ những tình cảm ấy đối với Việt Bắc trong buổi chia li bằng sự khẳng định nỗi nhớ của mình đối với Việt Bắc.

     

    Mở đầu bài thơ, Việt Bắc đã hỏi người cán bộ cách mạng về xuôi:

     

     

    Mình về, mình có nhớ ta

     

     

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng

     

     

    Câu hỏi này của Việt Bắc có nghĩa là: Anh về anh có nhớ tôi không? Nhớ anh và tôi đã gắn bó thiết tha mặn nồng suốt mười lăm năm ở Việt Bắc không? Và sau đó là hàng loại câu hỏi của Việt Bắc cũng mang nội dung này:

     

    Mình đi có nhớ nhưng ngày

     

     

    Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù

     

     

    Mình về có nhớ chiến khu

     

     

    Miếng cơm chấm muối mối thù nặng vai

     

     

    Mình về rừng núi nhớ ai

     

     

    Trám bùi để rụng măng mai để già

     

    Mình đi có nhớ những nhà

     

     

    Hắt hiu lau xám đậm đà lòng son

     

     

    Mình về còn nhớ núi non

     

     

    Nhớ khi kháng Nhật thuở còn Việt Minh Việt Bắc cứ sợ người cán bộ cách mạng về xuôi quên mình nên cứ gợi lại những hình ảnh ở Việt Bắc, với bao hình ảnh thân thương đậm đà tình nghĩa. Việt Bắc vừa bộc lộ yêu thương vừa

     

    khao khát được yêu thương, nên cứ hỏi: “Mình đi có nhớ…”, “mình về có nhớ… “Mình về còn nhớ…?”…

     

    Để trả lời cho những câu hỏi này của Việt Bắc, người cán bộ cách mạng về xuôi đã khẳng định với Việt Bắc một điều thật chắc chắn rằng sẽ không bao giờ quên Việt Bắc, vẫn trước sau như một, không bao giờ thay đổi:

     

    Ta với mình, mình với ta

     

     

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

     

     

    Mình đi mình lại nhớ mình

     

     

    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu

     

     

    “Ta” với “mình” gắn bó, xoắn xuýt, quyện chặt vào nhau làm nồng ấm cả một mối tình. Lòng người cán bộ cách mạng về xuôi đã chan chứa bao nhiêu tình cảm với Việt Bắc. Câu thơ “nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu” đã nói lên tất cả điều ấy.

     

    Để làm nổi bật nỗi nhớ da diết của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc nhà thơ đã sử dụng điệp từ “nhớ” lặp đi, lặp lại rất nhiều lần và đặc biệt là nhà thơ đã so sánh nỗi nhớ ấy như nỗi nhớ trong tình yêu “Nhớ gì như nhớ người yêu”. Đây là một sự so sánh thật độc

     

    đáo của Tố Hữu, bởi trong muôn ngàn nỗi nhớ của con người trên cuộc đời, có lẽ nỗi nhớ trong tình yêu là nỗi nhớ ray rứt nhất quay quắt nhất. Ông cha ta ngày trước cũng đã bộc lộ khá độc đáo tâm trạng này:

     

    Đêm nằm lưng chẳng tới giường

     

     

    Trông trời mau sáng ra đường gặp em

     

     

    (Ca dao)

     

     

    Hay:

     

     

    Nhớ ai bổi hổi bồi hồi

     

     

    Như đứng đống lửa như ngồi đống than

     

     

    (Ca dao)

     

     

    Cho nên, ở đây nhà thơ chỉ có mượn nỗi nhớ trong tình yêu mới nói hết được nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc. Hình ảnh cảnh vật ở Việt Bắc và con người Việt Bắc cứ sống dậy mãnh liệt trong tâm hồn kẻ ra đi. Nỗi nhớ Việt Bắc của người cán bộ cách mạng hiện lên trong từng màu sắc, từng hình ảnh của thiên nhiên và con người Việt Bắc. Những hình ảnh này như hòa quyện vào nhau, cảnh Việt Bắc đẹp và con người Việt Bắc cũng đẹp.

     

    Cảnh vật Việt Bắc và con người Việt Bắc hiện lên trong nỗi nhớ của người cán bộ qua bốn mùa. Mùa nào cũng đẹp, cũng nên thơ, cũng sinh động và dạt dào sức sống:

     

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Đèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng

     

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     

     

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

     

     

    Rừng thu trăng rọi hòa bình

     

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thủy chung

     

     

    Hình ảnh Việt Bắc trong trí nhớ của người cán bộ về xuôi còn là một thiên nhiên hùng vĩ. Thiên nhiên ấy đã trở thành một nhân vật che chở cho bộ đội, đã vây lá quân thù, cùng nhân dân đánh giặc, trở thành một vùng chiến khu mênh mông:

     

    Nhớ khi giặc đến, giặc lùng

     

     

    Rừng cây, núi đá ta cùng đánh Tây

     

     

    Núi giăng thành lũy sắt dày

     

     

    Rừng che bội đội, rừng vây quân thù

     

     

    Mênh mông bốn mặt sương mù

     

     

    Đất trời ta cả chiến khu một lòng

     

     

    Càng nhớ Việt Bắc, người ra đi càng tự hào về Việt Bắc, bởi chính Việt Bắc là nơi ghi nhận những hình ảnh hào hùng của quân và dân ta trong thời kì kháng chiến chống Pháp:

     

    Những đường Việt Bắc của ta

     

     

    Đêm đêm rầm rập như là đất rung

     

    Quân đi điệp điệp trùng trùng

     

     

    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

     

     

    Dân công đỏ đuốc từng đoàn

     

     

    Dấu chân nát đá muôn tàn lửa bay

     

     

    Nghìn đêm thăm thẳm sương dày

     

     

    Đèn pha bật sáng như ngày mai lên

     

     

    Việt Bắc còn là nơi ghi dấu, mở ra nhiều chiến công của quân và dân ta, đem lại bao niềm vui chiến thắng của dân tộc ta:

     

    Tin vui chiến thắng trăm miền

     

     

    Hòa Bình, Tây Bắc, Điện Biên vui về

     

     

    Vui từ Đồng Tháp, An Khê

     

     

    Vui lên Việt Bắc, đèo De, núi Hồng

     

     

    Người ra đi nhớ Việt Bắc cũng chính là nhớ nơi ghi dấu bao hoạt động của Trung ương Đảng và Chính phủ:

     

    Ai về ai có nhớ không

     

     

    Ngọn cờ đỏ thắm gió lồng cửa hang

     

     

    Nắng trưa rực rỡ sao vàng

     

     

    Trung ương, Chính phủ luận bàn việc công

     

    Điều quân chiến dịch thu đông

     

     

    Nông thôn phát động giao thông mở đường

     

     

    Giữ đê phòng hạn thu lương

     

     

    Gửi dao miền ngược thêm trường các khu

     

     

    Người cán bộ cách mạng về xuôi nhớ Việt Bắc không những chỉ nhớ thiên nhiên, núi rừng Việt Bắc mà còn nhớ những con người Việt Bắc chân chất, đậm đà tình nghĩa, cần cù trong lao động và rất thủy chung, son sắt.

     

    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

     

     

    Địu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

     

     

    Nhớ Việt Bắc, người cán bộ về xuôi không thể nào quên hình ảnh của Bác Hồ trong những năm tháng Người sống nơi đây, bởi Người là ánh sáng, là niềm tin của cả dân tộc.

     

    Ở đâu u ám quân thù

     

     

    Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

     

     

    Ở đâu đau đớn giống nòi

     

     

    Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền

     

     

    Mười lăm năm ấy ai quên

     

     

    Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hòa

     

     

    Tóm lại, nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi qua nghệ thuật diễn đạt của nhà thơ đó là một nỗi nhớ ray rứt, quay quắt như nỗi nhớ trong tình yêu, một nỗi nhớ có nhiều tầng, nhiều

     

    lớp, nhiều góc độ khác nhau. Nỗi nhớ ấy là cả một tấm lòng yêu thương, gắn bó, thủy chung, son sắt của người cán bộ cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc. Mối quan hệ tình cảm thắm thiết này đã nói lên được những tình cảm cách mạng cao đẹp của con người Việt Nam.

     

    Như vậy chúng tôi đã gợi ý Phân tích nỗi nhớ của người cán bộ Cách mạng về xuôi đối với Việt Bắc trong bài Việt Bắc bài tiếp theo, các em chuẩn bị cho phần Bức tranh tứ bình trong bài Việt Bắc và cùng với phần Tính dân tộc qua bài Việt Bắc để có thể hiểu rõ hơn về nội dung này.

     

    Bài Mẫu Số 2: Phân Tích Nỗi Nhớ Của Người Cán Bộ Cách Mạng Về Xuôi Đối Với Việt Bắc Trong Bài Việt Bắc, Tố Hữu

     

    Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, hòa bình lập lại, miền Bắc được giải phóng và tháng 10 năm 1945 các cơ quan của Trung ương Đảng và Chính phủ về chiến khu Việt Bắc về Hà Nội. Nhân sự kiện thời sự có tính lịch sử này, Tố Hữu đã sáng tác bài thơ Việt Bắc.

     

    Việt Bắc gồm hai phần: phần đầu tái hiện những kỉ niệm cách mạng và kháng chiến; phần sau gợi viễn cảnh tươi sáng của đất nước khi hòa bình lập lại và ngợi ca công ơn của Đảng của bác Hồ với dân tộc. Đoạn trích thuộc phần đầu của bài thơ.

     

    Nội dung chính diễn tả những tình cảm cách mạng cao quý của nhân dân ta trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp. Tố Hữu đã dùng lối hát giao duyên đối đáp giữa nam và nữ trong các hội hè đình đám ở miền Bắc nước ta. Trong ca dao, motip cặp từ mình ta rất phổ biến:

     

    • Mình về có nhớ ta chăng

     

     

    Ta về ta nhớ hàm răng mình cười

     

     

    • Mình về ta chẳng cho về Ta nắm vạt áo, ta đề bài thơ

     

    • Mình về mình có nhớ chăng

     

     

    Ta về như lạt buộc khăn nhớ mình.

     

     

    • Ta về ta cũng nhớ mình

     

     

    Nhớ yếm mình mặc, nhớ tình mình trao.

     

     

    Tố hữu thay vào nội dung tình yêu đôi lứa của dân ca bằng tình nghĩa cách mạng, tấm lòng son sắt thủy chung với Đảng, với nhân dân, qua cách nói cách xưng hô Mình – Ta. Tình cảm cao quý đó trở nên gần gũi, thắm thiết hơn:

     

    • Mình về mình có nhớ ta?

     

     

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

     

     

    Mình về mình có nhớ không?

     

     

    Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn.

     

     

    • Mình đi, có nhớ những ngày

     

     

    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

     

     

    • Ta với mình, mình với ta

     

     

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

     

     

    Mình đi, mình lại nhớ mình

     

     

    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

     

     

    Nhân vật trữ tình trong bài thơ là người cán bộ cách mạng về xuôi. Họ là tượng trưng cho dân tộc kinh và người dân Việt Bắc, tượng trưng cho dân tộc miền ngược. Do đó tình cảm cách

     

    mạng ở đây còn là tình đoàn kết gắn bó giữa hai vùng miền xuôi- miền ngược, thể hiện chính sách dân tộc của Đảng ta và nhà nước ta.

     

    Hai mươi câu thơ đầu là lời trao gởi ân tình thắm thiết của Việt Bắc đối với cán bộ cách mạng về xuôi. Một loạt câu hỏi tu từ và điệp kiểu câu:

     

    • Mình về mình có nhớ ta?

     

     

    • Mình về mình có nhớ không?

     

     

    • Tiếng ai tha thiết bên cồn?

     

     

    • Mình đi, có nhớ những ngày?

     

     

    Tác giả gửi cho người đọc cảm nhận được tình cảm lưu luyến không muốn rời trong buổi chia tay người đi kẻ ở. Nhớ Việt Bắc là nhớ quê hương cách mạng, nhớ ngọn nguồn cách mạng, nơi để bao bọc những người cán bộ, chiến sĩ cách mạng trong những ngày đầu của cuộc kháng chiến còn nhiều sóng gió:

     

    • Mình về mình có nhớ ta?

     

     

    Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng.

     

     

    Hình ảnh mười lăm năm ấy là một hình ảnh cụ thể, nhắc nhở thời kỳ đầu thành lập lực lượng vũ trang, tiến tới tổng khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân, cho đến ngày kháng chiến chống Pháp thắng lợi. Cả một thời gian dài gian khổ, đắng cay ấy, Việt Bắc đã ân tình, ơn nghĩa với cách mạng như thế, cho nên: nhìn cây nhớ núi nhìn sông nhớ nguồn.

     

    Người ra đi làm sao tránh khỏi tâm trạng xao xuyến, bâng khuâng? Hai tính từ láy “bâng khuâng”, “bồn chồn” cùng hiện diện trong câu thơ đổi ý càng khắc họa đậm nét tâm trạng ấy:

     

    Tiếng ai tha thiết bên cồn

     

    Bâng khuâng trong dạ, bồn chồn bước đi

     

     

    Áo chàm đưa buổi phân ly

     

     

    Cầm tay nhau biết nói gì hôm nay…

     

     

    Niềm vui nỗi buồn của những tháng ngày cùng nhau vào sinh ra tử gửi lại miền đất. Nhưng sự ghi nhớ công ơn cưu mang của đồng bào Việt Bắc mãi mãi sẽ còn ở trong trái tim của người cách mạng khi về xuôi. Những câu hỏi của của người ở lại cũng là lời tự nhắc nhỏ mình của người đi:

     

    Mình đi, có nhớ những ngày

     

     

    Mưa nguồn suối lũ, những mây cùng mù?

     

     

    Mình về, có nhớ chiến khu

     

     

    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai?

     

     

    Nhớ Việt Bắc còn là những kỷ niệm gian khổ, khó khăn trong thời kỳ kháng chiến. Câu thơ thơ liệt kê “mưa nguồn suối lũ” được nhấn mạnh thêm bằng từ ngữ, cùng “những mây cùng mù” để tạo một loạt, nhấn mạnh thêm ý gian khổ, vất vả của cuộc kháng chiến. Hình ảnh “miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai” có sức khái quát cao. Ý thơ nói lên tình đoàn kết chiến đấu, chia sẻ gian lao giữa hai vùng miền xuôi miền ngược là thấm thía, là sâu sắc, bền chặt.

     

    Nhớ Việt Bắc cũng là nhớ tình nghĩa đồng bào. Bằng cách nói mộc mạc, diễn tả tình cảm kín đáo mà tha thiết, tác giả bộc lộ niềm thương nhớ nỗi nhớ của người ở lại:

     

    Mình về, rừng núi nhớ ai

     

     

    Trám bùi để rụng, măng mai để già

     

    Mình đi, có nhớ những nhà

     

     

    Hắt hiu lau xám, đậm đà lòng son

     

     

    Mình về, còn nhớ núi non

     

     

    Nhớ khi kháng Nhật, thuở còn Việt Minh

     

     

    Mình đi, mình có nhớ mình

     

     

    Tân Trào, Hồng Thái, mái đình cây đa?

     

     

    Trám bụi để rụng, măng mai để già là cách nói bình dị mà sâu sắc vô cùng. Trám và măng là đặc sản quen thuộc của Việt Bắc. Đặc sản ấy từng là nguồn thức ăn của nhân dân và bộ đội trong những ngày kháng chiến. Ngày nay, qua rồi thời kỳ đói khổ, khó khăn, nhắc nhở những sản phẩm này với tấm lòng thiết tha trìu mến đối với Việt Bắc; xem đó là kỷ niệm sâu sắc trong đời. Qua đó làm nổi bật tấm lòng son sắt, thủy chung của người miền ngược và người miền xuôi.

     

    Đoạn sau là lời đáp tiếp theo tình nghĩa của cán bộ cách mạng trước lúc chia tay. Tó Hữu đã tái hiện thành công cảnh và người Việt Bắc bằng những chi tiết tiêu biểu nhất, đẹp đẽ nhất:

     

    Ta với mình, mình với ta

     

     

    Lòng ta sau trước mặn mà đinh ninh

     

     

    Mình đi, mình lại nhớ mình

     

     

    Nguồn bao nhiêu nước nghĩa tình bấy nhiêu…

     

     

    Nhớ gì như nhớ người yêu

     

     

    Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương

     

    Nhớ từng bản khói cùng sương

     

     

    Sớm khuya bếp lửa người thương đi về.

     

     

    Nhớ từng rừng nứa bờ tre

     

     

    Ngòi Thia sông Ðáy, suối Lê vơi đầy

     

     

    Ta đi, ta nhớ những ngày

     

     

    Mình đây ta đó, đắng cay ngọt bùi…

     

     

    Thương nhau, chia củ sắn lùi

     

     

    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng

     

     

    Nhớ người mẹ nắng cháy lưng

     

     

    Ðịu con lên rẫy bẻ từng bắp ngô

     

     

    Nhớ sao lớp học i tờ

     

     

    Ðồng khuya đuốc sáng những giờ liên hoan

     

     

    Nhớ sao ngày tháng cơ quan

     

     

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo.

     

     

    Nhớ sao tiếng mõ rừng chiều

     

     

    Chày đêm nện cối đều đều suối xa…

     

     

    Tuy thiếu thốn, gian khổ nhưng cảnh và người Việt Bắc đẹp và tình nghĩa chan hòa. Tình nghĩa sâu đậm ấy thể hiện qua hình ảnh tượng trưng “chia củ sắn lùi, bát cơm sẻ nửa, chăn sui

     

    đắp cùng” kết hợp với cách dùng từ cùng nghĩa chia sẻ. Cách dùng từ mượt mà diễn tả được mối tình cảm chia ngọt sẻ bùi giữa nhân dân Việt Bắc và cán bộ cách mạng. Biết bao tình nghĩa sâu nặng trong “củ sắn”, “bát cơm”, “chăn sui” mà người cán bộ cách mạng đã chịu ơn Việt Bắc

     

    Hình ảnh thơ được chọn lọc kĩ lưỡng khi nói về nỗi vất vả và hi sinh của con người Việt Bắc đối với cách mạng. Hình ảnh người mẹ nắng cháy lưng gợi cho người đọc liên tưởng đến sự tảo tần chắt chiu, sự cần cù lao động của bà mẹ chiến sĩ Việt Nam trong kháng chiến đã đùm bọc,cưu mang chiến sĩ, cán bộ cách mạng. Đó là hình ảnh tiêu biểu cho cái đẹp, cái ân tình trong cuộc sống kháng chiến không thể phai nhòa trong ký ức của người về xuôi.

     

    Đoạn thơ còn lại dựng lên những khung cảnh quen thuộc với những hình ảnh và âm thanh theo suất tiêu biểu cho sinh hoạt trong kháng chiến ở Việt Bắc. Câu thơ đối ý về nêu bật tinh thần lạc quan yêu đời của cán bộ, chiến sĩ cách mạng dù cuộc sống còn rất gian khổ, khó khăn:

     

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

     

     

    Âm thanh tiếng “mõ rừng chiều” và “chày đêm nện cối đều đều suối xa” là âm thanh đặc trưng của Việt Bắc, phản ánh sinh hoạt yên ả, bình dị nơi núi rừng, gợi nhớ một thời đã qua.

     

    Đặc sắc nhất là đoạn thơ hồi ức về cảnh đẹp rừng núi Tây Bắc qua bốn mùa trong năm tươi xanh:

     

    Ta về, mình có nhớ ta

     

     

    Ta về ta nhớ những hoa cùng người

     

     

    Rừng xanh hoa chuối đỏ tươi

     

     

    Ðèo cao nắng ánh dao gài thắt lưng.

     

    Ngày xuân mơ nở trắng rừng

     

     

    Nhớ người đan nón chuốt từng sợi giang

     

     

    Ve kêu rừng phách đổ vàng

     

     

    Nhớ cô em gái hái măng một mình

     

     

    Rừng thu trăng rọi hoà bình

     

     

    Nhớ ai tiếng hát ân tình thuỷ chung.

     

     

    Một loạt từ chỉ màu sắc: xanh, đỏ tươi, trắng, vàng tạo một cảm giác tươi mát, vui mắt các bức tranh phong cảnh. Mùa xuân với hoa mai nở trắng rừng. Mùa hè với âm thanh ra kêu tạo thành một bạn học tới của rừng xanh. Mùa thu với ánh trăng hòa bình êm đềm trong sáng. Giữa cây cỏ thiên nhiên, con người Việt Bắc xuất hiện với sự hiền hòa, nhân hậu, trong tư thế lao động cần cù, tự tin. Hình ảnh “dao gài thắt lương”, “đan nón chuốt từng sợi giang”, “hái măng một mình” mang sức sống mạnh mẽ, khiến bức tranh thiên nhiên trở nên sinh động và có ý nghĩa hơn.

     

    Việt Bắc còn nghi lại những chiến công của bộ đội, nhân dân ta trong kháng chiến chống

     

    Pháp. Đoạn thơ toát lên vẻ đẹp hào hùng của dân quân ta:

     

     

    Những đường Việt Bắc của ta

     

     

    Đêm đêm rầm rập như là đất rung

     

     

    Quân đi điệp điệp trùng trùng

     

     

    Ánh sao đầu súng bạn cùng mũ nan

     

    Bằng những điệp từ điệp điệp, trùng trùng và từ ngữ láy phụ âm đầu rầm rập diễn tả được hào khí ngút trời của bộ đội, dân công trên đường ra mặt trận. Với lối nói thậm xưng, bước chân nát đá tác giả cũng muốn nhấn mạnh sự lớn dậy và kiên cường, bất khuất của bộ đội ta thời kì này. Họ bước đi trong ánh sáng của lý tưởng yêu nước và cách mạng dẫn đường. Họ đưa dân tộc bước đến tương lai tươi sáng. “Ánh sao đầu súng” là mọt hình ảnh tuyệt đẹp. Nó khiến ta nhớ đến hình ảnh “đầu súng trăng treo” trong bài thơ đồng chí của Chính Hữu khi nói về người lính thời kì đầu cuộc kháng chiến chống Pháp. Cũng là ánh sáng ấy, nhưng giờ đay nó lớn mạnh và rực rỡ vô cùng.

     

    Quê hương Việt Bắc còn là đầu não của cuộc kháng chiến toàn quốc, là niềm tin vững chắc của nhân dân về lãnh tụ:

     

    Ở đâu u ám quân thù

     

     

    Nhìn lên Việt Bắc: Cụ Hồ sáng soi

     

     

    Ở đâu đau đớn giống nòi

     

     

    Trông về Việt Bắc mà nuôi chí bền.

     

     

    Mười lăm năm ấy ai quên

     

     

    Quê hương cách mạng dựng nên Cộng hoà

     

     

    Đoạn thơ nhấn mạnh uy tín của Bác, của Đảng đối với toàn dân, toàn quân trong thời kỳ kháng chiến gian khổ.

     

    Việt Bắc là bài thơ thành công của Tố Hữu và của nền thơ cách mạng Việt Nam. Bằng thể thơ lục bát mang âm hưởng ngọt ngào, thiết tha của ca dao dân ca, Tố Hữu đã ghi lại những lời giao đối, những câu hỏi da diết, những tiếng vọng thủy chung của người đi kẻ ở trong một cuộc chia tay đầy lưu luyến. Từ lẽ sống và tình cảm lớn lao đến giọng điệu tâm tình ngọt

     

    ngào, từ những bút pháp nghệ thuật đậm đà tính dân tộc cho đến những thi liệu, thi tứ phảng phất âm hưởng của ca dao dân ca hết sức chân tình. Tình nghĩa của người cán bộ và đồng bào Việt Bắc với cách mạng, kháng chiến, với Bác Hồ là những tình cảm cách mạng sâu sắc của thời đại mới. Những tình cảm ấy hòa nhập và tiếp nối mạch nguồn tình cảm yêu nước, đạo lí ân tình thủy chung vốn là truyền thống sâu bền của dân tộc.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/K%C4%A8-N%C4%82NG-L%C3%80M-B%C3%80I-V%C4%82N-NGH%E1%BB%8A-LU%E1%BA%ACN-X%C3%83-H%E1%BB%98I.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

    KĨ NĂNG LÀM BÀI VĂN NGHỊ LUẬN XÃ HỘI

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    A/Điểm chung

     

    I/Loại:

    Cả 3 dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí; nghị luận về một hiện tượng đời sống; nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học đều thuộc loại bài nghị luận xã hội.

     

    II/Thao tác:

    Các dạng bài NLXH đều vận dụng chung các thao tác lập luận là giải thích, phân tích, chứng minh, so sánh, bác bỏ, bình luận. Ba thao tác cơ bản nhất là giải thích, chứng minh, bình luận.

     

    1/Giải thích

     

    a/Mục đích: Hiểu

     

     

    b/Các bước:

     

    -Làm rõ vấn đề được dẫn trên đề. Nếu vấn đề thể hiện dưới dạng là một câu trích dẫn khá nổi tiếng nào đó hoặc một ý tưởng do người ra đề đề xuất, người viết cần lần lượt giải nghĩa, làm rõ nghĩa của vấn đề theo cách đi từ khái niệm đến các vế câu và cuối cùng là toàn bộ ý tưởng được trích dẫn. Khi vấn đề được diễn đạt theo kiểu ẩn dụ bóng bẩy thì phải giải thích cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng của từ ngữ. Nếu vấn đề là một hiện tượng đời sống, người viết cần cho biết đó là hiện tượng gì, hiện tượng đó biểu hiện ra sao, dưới các hình thức nào (miêu tả, nhận diện)…

     

    Làm tốt bước giải nghĩa này sẽ hiểu đúng vấn đề, xác định đúng vấn đề (hoặc mức độ) cần giải thích để chọn lí lẽ cần thiết.

     

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi LÀ GÌ.

     

    -Tìm hiểu cơ sở của vấn đề: Trả lời tại sao có vấn đề đó (xuất phát từ đâu có vấn đề đó). Cùng với phần giải nghĩa, phần này là phần thể hiện rất rõ đặc thù của thao tác giải thích. Người viết cần suy nghĩ kĩ để có cách viết chặt chẽ về mặt lập luận, lô gíc về mặt lí lẽ, xác đáng về mặt dẫn chứng.

     

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi TẠI SAO.

     

    -Nêu hướng vận dụng của vấn đề: Vấn đề được vận dụng vào thực tiễn cuộc sống như thế nào. Hiểu nôm na, phần này yêu cầu người viết thể hiện quan điểm của mình về việc tiếp thu, vận dụng vấn đề vào cuộc sống của mình như thế nào.

     

    Trong quan niệm làm văn truyền thống, bước này được xem là bước trả lời câu hỏi NHƯ THẾ NÀO.

     

    **Lưu ý:

     

    -Nên đặt trực tiếp từng câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào đầu mỗi phần (mỗi bước) của bài văn. Mục đích đặt câu hỏi: để tìm ý (phần trả lời chính là ý, là luận điểm được tìm ra) và cũng để tạo sự chú ý cần thiết đối với người đọc bài văn. Cũng có thể không cần đặt trực tiếp ba câu hỏi (LÀ GÌ, TẠI SAO, NHƯ THẾ NÀO) vào bài làm nhưng điều quan trọng là khi viết, người làm bài cần phải có ý thức mình đang lần lượt trả lời từng ý, từng luận điểm được đặt ra từ ba câu hỏi đó. -Tuỳ

     

    theo thực tế của đề và thực tế bài làm, bước NHƯ THẾ NÀO có khi không nhất thiết phải tách hẳn riêng thành một phần bắt buộc.

     

    2/Chứng minh

     

    a/Mục đích: Tin

     

     

    b/Các bước:

     

    -Xác định chính xác điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.

     

     

    -Dùng dẫn chứng trong thực tế cuộc sống để minh hoạ nhằm làm sáng tỏ điều cần chứng minh, phạm vi cần chứng minh.

     

    3/Bình luận

     

    a/Mục đích: Đồng tình

     

     

    b/Các bước:

     

     

    • Nêu, giải thích rõ vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.

     

    • Dùng lí lẽ và dẫn chứng (chủ yếu là lí lẽ) để khẳng định giá trị của vấn đề hoặc hiện tượng (giá trị đúng hoặc giá trị sai). Làm tốt phần này chính là đã bước đầu đánh giá được vấn đề (hiện tượng) cần bình luận.

     

    • Bàn rộng và nhìn vấn đề (hiện tượng) cần bình luận dưới nhiều góc độ (thậm chí từ góc độ ngược lại) để có cái nhìn đầy đủ hơn.

     

    • Khẳng định tác dụng, ý nghĩa của vấn đề trong cuộc sống hiện tại.

     

    B/Nét riêng

     

     

     

    I.Dạng nghị luận về một tư tưởng, đạo lí

     

    1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

     

    2.Đề tài:

     

     

    Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…).

     

    Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lư cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ…).

     

    Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…).

     

     

    Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).

     

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

     

    -Giải thích tư tưởng, đạo lí cần bàn luận (hiểu vấn đề cần nghị luận là gì).

     

     

    -Phân tích những mặt đúng, bác bỏ những biểu hiện sai lệch có liên quan đến vấn đề bàn luậ

     

    -Nêu ý nghĩa của vấn đề (bài học nhận thức và hành động về tư tưởng, đạo lí).

     

    4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:

     

     

    • Tình thương là hạnh phúc của con người.

     

    • “Mọi phẩm chất của đức hạnh là ở trong hành động”

     

     

    • kiến trên của M.Xi-xê-rông (nhà triết học La Mã cổ đại) gợi cho anh (chị) những suy n học tập của bản thân?

     

    • Hãy phát biểu ý kiến của mình về mục đích học tập do UNESCO đề xướng: “Học đ chung sống, học để tự khẳng định mình”.

     

    • Suy nghĩ của em về triết lí sau: “Đừng xin người khác con cá, mà hãy tìm học cách làm c

     

    • Trả lời câu hỏi điều tra của nhà bác học Hantơn, nhà bác học Đacuyn nói về kinh nghiệm

     

    sau: “Tôi nghĩ rằng tất cả những gì có giá trị một chút, tôi đều đã thu nhận được bằng cách tự học.”

     

    Bình luận câu nói trên. Anh, chị có suy nghĩ gì về con đường học tập sắp tới của mình?

     

     

    • “Nếu đứa trẻ dửng dưng với những gì đang diễn ra trong trái tim của nguời bạn, người hoặc của bất cứ một đồng bào nào mà em gặp, nếu đứa trẻ không biết đọc trong mắt người khác đ tim người đó thì đứa trẻ chẳng bao giờ trở thành con người chân chính.”

     

    Em hãy bày tỏ ý kiến của mình về nhận định trên của nhà sư phạm Xukhômlinxki.

     

     

    • Bình luận danh ngôn: “Tiền mua được tất cả, trừ hạnh phúc.”

     

    • Trong thư gửi thanh niên và nhi đồng cả nước nhân dịp Tết 1946, Bác Hồ viết:

     

     

    “Một năm khởi đầu từ mùa xuân, một đời khởi đầu từ tuổi trẻ. Tuổi trẻ là mùa xuân của xã Hãy giải thích và nêu suy nghĩ của em về lời dạy của Bác.

     

    • Giải thích câu nói của Gorki: “Sách mở ra trước mắt tôi những chân trời mới.”

     

     

    • Đồng chí Lê Duẩn có nói: “Cái gốc của đạo đức, của luân lí là lòng nhân ái.”

     

     

     

     

     

    • Nhà thơ Pháp La Phôngten (La Fontaine) có nói :

     

    • Tính ích kỉ là thuốc độc giết chết tình bạn. » Hãy bình luận câu nói trên.

     

    • Suy nghĩ của em về câu danh ngôn: “Một người bạn chân thành là một người bạn tốt”.

     

    • Một nhà giáo dục đã nêu một quan niệm như sau:

     

     

    Con đường từ nhà đến trường của mỗi người học sinh tuy khác nhau nhưng nơi đến ở cu giống nhau: ở đó, có một ngôi trường đầy tình thân và sự san sẻ.

     

    Trình bày suy nghĩ của em về quan niệm đó.

     

    -Phê phán thái độ thờ ơ, ghẻ lạnh đối với con người cũng quan trọng và cần thiết như ca ngợi

     

     

    Anh (chị) suy nghĩ như thế nào về ý kiến trên?

     

    • Suy nghĩ của anh (chị) về câu nói:

     

     

    “Đường đi khó không khó vì ngăn sông cách núi mà khó vì lòng người ngại núi e sông.” (

     

    • Phải chăng, “Bạn là người đến với ta khi mọi người đã bỏ ta đi.”?

     

    • “Lí tưởng là ngọn đèn chỉ đường. Không có lí tưởng thì không có phương hướng kiên đ hướng thì không có cuộc sống.” (Lép Tôn-xtôi)

     

    Anh (chị) hãy nêu suy nghĩ về vai trò của lí tưởng nói chung và trình bày lí tưởng riêng c

     

     

    • Phải chăng “Cái chết không phải là điều mất mát lớn nhất trong cuộc đời. Sự mất mát l hồn tàn lụi ngay khi còn sống.”? (Noóc-man Ku-sin, theo “Những vòng tay âu yếm – NXB Trẻ, 200

     

    • Tiền tài và hạnh phúc.

     

    • “Có ba điều làm hỏng một con người: rượu, tính kiêu ngạo và sự giận dữ.”

     

     

    Anh, chị suy nghĩ như thế nào về ý kiến đó?

     

    II/Dạng nghị luận về một hiện tượng đời sống

     

    1/Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

     

     

    2.Đề tài: Những hiện tượng tốt hoặc chưa tốt cần được nhìn nhận thêm.

     

     

    -Chấp hành luật giao thông ở nông thôn.

     

     

    -Hiến máu nhân đạo

     

    -Nạn bạo hành trong giao đình

     

    -Phong trào thanh niên tiếp sức mùa thi

     

    -Cuộc vận động giúp đỡ đồng bào hoạn nạn

     

     

    -Cuộc đấu tranh chống nạn phá rừng

     

    -Những tấm gương người tốt việc tốt

     

     

    -Nhiều bạn trẻ quên nói lời xin lỗi khi mắc lỗi

     

    -Nhiều bạn trẻ quên nói lời cảm ơn khi được giúp đỡ

     

    -…

     

     

    **Lưu ý:

     

    Nên quy thành từng cụm đề tài nhỏ như dạng bài NLVMTT, ĐL để dễ nhận diện:

     

     

    Về nhận thức (lí tưởng, mục đích sống, mục đích học tập…).

     

    Về tâm hồn, tính cách (lòng yêu nước, lòng nhân ái, lòng vị tha, lòng bao dung, lòng độ lư cương quyết, tính hoà nhã, tính khiêm tốn, tính ích kỉ…).

     

    Về quan hệ gia đình (tình mẫu tử, tình anh em…).

     

    Về quan hệ xã hội (tình đồng bào, tình thầy trò, tình bạn…).

     

     

     

     

     

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

     

    -Nêu rõ hiện tượng.

     

    -Nêu nguyên nhân. Phân tích các mặt đúng-sai, lợi-hại.

     

    -Bày tỏ thái độ, ý kiến về hiện tượng xã hội đó.

     

     

     

    4.Một số đề tham khảo:

     

    • Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, tổ chức thu nhận trẻ em cơ nhỡ, lang t thành phố, thị trấn về những mái ấm tình thương để nuôi dạy, giúp các em học tập, rèn luyện, vươ đẹp.

     

    Anh (chị) hãy bày tỏ suy nghĩ về hiện tượng đó.

     

    • Về hiện tượng ngày càng có nhiều người rời bỏ quê hương để đổ xô về các thành phố lớn.

     

     

    • Về hiện tượng nhiều người trong lớp trẻ hôm nay lạnh nhạt với âm nhạc truyền thống.

     

     

    -…

     

    III/Dạng nghị luận về một vấn đề xã hội trong tác phẩm văn học

     

    1.Loại: Thuộc loại bài nghị luận xã hội.

     

    2.Đề tài:

     

    Một vấn đề xã hội có ý nghĩa sâu sắc nào đó đặt ra trong tác phẩm văn học, *Vấn đề xã hội có ý nghĩa có thể lấy từ hai nguồn: tác phẩm văn học đã học trong chương trình hoặc một câu chuyện nhỏ, một văn bản văn học ngắn gọn mà HS chưa được học.

     

    3.Về cấu trúc triển khai tổng quát:

     

    a/Phần một: Phân tích văn bản (hoặc nêu vắn tắt nội dung câu chuyện) để rút ra ý nghĩa của vấn đề (hoặc câu chuyện).

     

    b/Phần hai (trọng tâm): Nghị luận (phát biểu) về ý nghĩa của vấn đề xã hội rút ra từ tác phẩm văn học (câu chuyện).

     

     

    4.Một số đề tham khảo từ sách chuẩn và nâng cao:

     

    -Từ đoạn trích vở kịch “Hồn Trương Ba, da hàng thịt” của Lưu Quang Vũ, nghĩ

     

    về niềm hạnh phúc khi được sống thực với mình và với mọi người.

     

    -Đọc văn bản “Hoa hồng tặng mẹ”:

     

     

     

     

    Nêu suy nghĩ của anh (chị) từ ý nghĩa của câu chuyện “Hoa hồng tặng

     

    mẹ”.

     

     

     

    “Con cò mà đi ăn đêm,

     

    Đậu phải cành mềm, lộn cổ xuống ao.

     

    Ông ơi, ông vớt tôi nao!

     

     

    Tôi có lòng nào, ông hãy xáo măng.

     

    Có xáo thì xáo nước trong,

     

     

    Đừng xáo nước đục, đau lòng cò con”

     

    Từ bài ca dao, hãy bàn về vấn đề lẽ sống của con người Việt Nam.

     

    -Từ tiểu thuyết “Mùa lá rụng trong vườn” của nhà văn Ma Văn Kháng, hãy bàn về mối quan hệ giữa gia đình và xã hội.

     

    -Từ truyện ngắn “Chiếc thuyền ngoài xa” của nhà văn Nguyễn Minh Châu, nghĩ thêm về mối quan hệ giữa nghệ thuật và cuộc đời.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

    Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

    Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cách làm bài văn lập luận giải thích


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%E1%BA%A3m-nh%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-b%C3%A0i-th%C6%A1-T%E1%BB%8F-L%C3%B2ng.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cảm nhận về bài thơ Tỏ Lòng

    Cảm nhận về bài thơ “Tỏ Lòng”

     

    BÀI LÀM

    Triều đại nhà Trần (1226-1400) là một mốc son chói lọi trong 4000 năm dựng nước và

     

     

    giữ nước của lịch sử dân tộc ta. Ba lần kháng chiến và đánh thắng quân xâm lược Nguyên

     

     

    – Mông, nhà Trần đã ghi vào pho sử vàng Đại Việt những chiến công Chương Dương,

     

     

    Hàm Tử, Bạch Đằng… bất tử.

     

     

     

     

     

    Khí thế hào hùng, oanh liệt của nhân dân ta và tướng sĩ đời Trần được các sử gia ngợi

     

     

    ca là “Hào khí Đông A”. Thơ văn đời Trần là tiếng nói của những anh hùng – thi sĩ dào

     

     

    dạt cảm hứng yêu nước mãnh liệt. “Hịch tướng sĩ” của Trần Quốc Tuấn, “Thuật hoài” (

     

     

    Tỏ lòng ) của Phạm Ngũ Lão, “Bạch Đằng giang phú” của Trương Hán Siêu.v.v… là

     

     

    những kiệt tác chứa chan tình yêu nước và niềm tự hào dân tộc.

     

     

     

     

     

    Phạm Ngũ Lão (1255-1320) là một danh tướng đời Trần, trăm trận trăm thắng, văn võ

     

     

    toàn tài. Tác phẩm của ông chỉ còn lại hai bài thơ chữ Hán: “Thuật hoài” và “Vãn

     

     

    Thượng tướng Quốc công Hưng Đạo Đại vương”.

     

     

     

     

     

     

    Bài thơ “Tỏ lòng” thể hiện niềm tự hào về chí nam nhi và khát vọng chiến công của

     

    người anh hùng khi Tổ quốc bị xâm lăng. Nó là bức chân dung tự hoạ của danh tướng

     

     

    Phạm Ngũ Lão.

     

     

     

    Hoành sóc giang san kháp kỉ thu

     

     

     

     

     

    Tam quân tì hổ khí thôn ngưu

     

     

     

     

     

    Nam nhi vị liễu công danh trái

     

     

     

     

     

    Tu thính nhân gian thuyết Vũ Hầu.

     

     

     

    Cầm ngang ngọn giáo (hoành sóc) là một tư thế chiến đấu vô cùng hiên ngang dũng

     

     

    mãnh. Câu thơ “Hoàng sóc giang sơn kháp kỷ thu” là một câu thơ có hình tượng kỳ vĩ,

     

     

    tráng lệ, vừa mang tầm vóc không gian (giang sơn) vừa mang kích thước thời gian chiều

     

     

    dài lịch sử (kháp kỷ thu). Nó thể hiện tư thế người chiến sĩ thuở “bình Nguyên” ra trận

     

     

    hiên ngang, hào hùng như các dũng sĩ trong huyền thoại. Chủ nghĩa yêu nước được biểu

     

     

    hiện qua một vần thơ cổ kính trang nghiêm: cầm ngang ngọn giáo, xông pha trận mạc

     

     

    suốt mấy mùa thu để bảo vệ giang sơn yêu quý.

     

    Đội quân “Sát Thát” ra trận vô cùng đông đảo, trùng điệp (ba quân) với sức mạnh phi

     

     

    thường, mạnh như hổ báo (tỳ hổ) quyết đánh tan mọi kẻ thù xâm lược. Khí thế của đội

     

     

    quân ấy ào ào ra trận. Không một thế lực nào, kẻ thù nào có thể ngăn cản nổi. “Khí thôn

     

     

    Ngưu” nghĩa là khí thế, tráng chí nuốt sao Ngưu, làm át, làm lu mờ sao Ngưu trên bầu

     

     

    trời. Hoặc có thể hiểu : ba quân thế mạnh nuốt trôi trâu. Biện pháp tu từ thậm xưng sáng

     

     

    tạo nên một hình tượng thơ mang tầm vóc hoành tráng, vũ trụ: “Tam quân tì hổ khí thôn

     

     

    Ngưu”. Hình ảnh ẩn dụ so sánh: “Tam quân tì hổ…” trong thơ Phạm Ngũ Lão rất độc

     

     

    đáo, không chỉ có sức biểu hiện sâu sắc sức mạnh vô địch của đội quân “Sát Thát” đánh

     

     

    đâu thắng đấy mà nó còn khơi nguồn cảm hứng thơ ca; tồn tại như một điển tích, một thi

     

     

    liệu sáng giá trong nền văn học dân tộc:

     

     

     

     

     

    -“Thuyền bè muôn đội;

     

     

     

     

     

    Tinh kỳ phấp phới

     

     

     

     

     

     

    Tỳ hổ ba quân, giáo gươm sáng chói…”

     

    (Bạch Đằng giang

     

     

    phú)

     

     

     

     

     

    Người chiến sĩ “bình Nguyên” mang theo một ước mơ cháy bỏng: khao khát lập

     

     

    chiến công để đền ơn vua, báo nợ nước. Thời đại anh hùng mới có khát vọng anh hùng!

     

     

    “Phá cường địch, báo hoàng ân” (Trần Quốc Toản) – “Đầu thần chưa rơi xuống đất, xin

     

     

    bệ hạ đừng lo” (Trần Thủ Độ). “…Dẫu cho trăm thân này phơi ngoài nội cỏ, nghìn xác

     

     

    này gói trong da ngựa, ta cũng cam lòng” (Trần Quốc Tuấn)… Khát vọng ấy là biểu hiện

     

     

    rực rỡ những tấm lòng trung quân ái quốc của tướng sĩ, khi tầng lớp quý tộc đời Trần

     

     

    trong xu thế đi lên đang gánh vác sứ mệnh lịch sử trọng đại. Họ mơ ước và tự hào về

     

     

    những chiến tích hiển hách, về những võ công oanh liệt của mình có thể sánh ngang tầm

     

     

    sự nghiệp anh hùng của Vũ Hầu Gia Cát Lượng thời Tam Quốc. Hai câu cuối sử dụng

     

     

    một điển tích (Vũ Hầu) để nói về nợ công danh của nam nhi thời loạn lạc, giặc giã:

     

     

     

    “Công danh nam tử còn vương nợ

     

     

     

     

     

     

    Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”

     

     

     

     

    “công danh” mà Phạm Ngũ Lão nói đến trong bài thơ là thứ công danh được làm

     

     

    nên bằng máu và tài thao lược, bằng tinh thần quả cảm và chiến công. Đó không phải là

     

     

    thứ “công danh” tầm thường, đậm màu sắc anh hùng cá nhân. Nợ công danh như một

     

     

    gánh nặng mà kẻ làm trai nguyện trả, nguyện đền bằng xương máu và lòng dũng cảm.

     

     

    Không chỉ “Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ Hầu”, mà tướng sĩ còn học tập binh thư, rèn

     

     

    luyện cung tên chiến mã, sẵn sàng chiến đấu “Khiến cho người người giỏi như Bàng

     

     

    Mông, nhà nhà đều là Hậu Nghệ có thể bêu được đầu Hốt Tất Liệt ở cửa Khuyết, làm rữa

     

     

    thịt Vân Nam Vương ở Cảo Nhai,…” để Tổ quốc Đại Việt được trường tồn bền vững:

     

     

    “Non sông nghìn thuở vững âu vàng” (Trần Nhân Tông).

     

     

     

     

     

    “Thuật hoài” được viết theo thể thơ thất ngôn tứ tuyệt. Giọng thơ hùng tráng, mạnh

     

     

    mẽ. Ngôn ngữ thơ hàm súc, hình tượng kỳ vĩ, tráng lệ, giọng thơ hào hùng, trang nghiêm,

     

     

    mang phong vị anh hùng ca. Nó mãi mãi là khúc tráng ca của các anh hùng tướng sĩ đời

     

     

    Trần, sáng ngời “hào khí Đông-A”.

     

     

     

     

     

     

     

    (Sưu tầm)

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Cách làm bài văn lập luận giải thích

    Cách làm bài văn lập luận giải thích

    Cách làm bài văn lập luận giải thích

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1ch-l%C3%A0m-b%C3%A0i-v%C4%83n-l%E1%BA%ADp-lu%E1%BA%ADn-gi%E1%BA%A3i-th%C3%ADch.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách làm bài văn lập luận giải thích

    Cách làm bài văn lập luận giải thích

    I.                 HƯỚNG DẪN CHUNG

     

     

    1.     Các bước làm bài văn lập luận giải thích

     

     

    1. Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý – Đề yêu cầu giải thích vấn đề gì?

     

    Có khi vấn đề cần giải thích được nêu ra một cách trực tiếp (ví dụ: giải thích về “lòng

     

     

    nhân đạo”, giải thích về “lòng khiêm tốn”,…) nhưng cũng có khi đề bài gián tiếp đưa ra

     

     

    vấn đề bằng cách mượn hình ảnh, câu văn, câu tục ngữ, ca dao, thành ngữ, …, ví dụ:

     

     

    Nhân dân ta có câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hãy giải thích nội

     

     

    dung câu tục ngữ đó. Trước những đề bài dạng này, khi xác định vấn đề (luận điểm)

     

     

    chính cần giải thích phải lưu ý:

     

     

    Cắt nghĩa được hình ảnh, câu văn, câu tục ngữ, thành ngữ, … nêu ra ở đề bài. Nghĩa

     

     

    là phải tiến hành giải thích từ ngữ, nghĩa gốc, nghĩa chuyển,… của hình ảnh, câu văn… để

     

     

    nắm được nội dung của chúng từ đó mới xác định được chính xác vấn đề cần giải thích.

     

     

    • Liên hệ với thực tế đời sống, với những ý kiến trong sách vở,… khác để xác định những biểu hiện cụ thể của vấn đề. Ví dụ, với yêu cầu giải thích câu tục ngữ “Đi một

     

    ngày đàng, học một sàng khôn”, một mặt cần tìm những ví dụ cụ thể trong thực tế (đi

     

     

    tham quan để hiểu biết thêm những điều mới lạ, những khám phá của con người trước

     

     

    những miền đất mới, em đã từng thất bại khi làm một việc gì đó nhưng vì thế mà em có

     

     

    được kinh nghiệm để bây giờ có thể làm tốt được việc ấy,…), mặt khác cần liên hệ với

     

     

    những câu ca dao, tục ngữ tương tự (Làm trai cho đáng nên trai, Phú Xuân đã trải, Đồng

     

     

    Nai đã từng; Đi cho biết đó biết đây, Ở nhà với mẹ biết ngày nào khôn;…) thậm chí liên

     

     

    hệ đến những dẫn chứng có ý nghĩa tương phản: Ếch ngồi đáy giếng,…

     

     

    1. Bước 2: Lập dàn bài

     

     

    Lập dàn bài theo bố cục ba phần:

     

     

    – Mở bài: Giới thiệu vấn đề cần giải thích hoặc giới thiệu câu tục ngữ, thành ngữ, ca

     

     

    dao, câu văn,… và nêu ra nội dung của nó. Ví dụ: Giới thiệu câu tục ngữ “Đi một ngày

     

     

    đàng, học một sàng khôn” và ý nghĩa về sự đúc kết kinh nghiệm và thể hiện mơ ước đi

     

     

    nhiều nơi để mở mang hiểu biết.

     

     

    – Thân bài: Giải thích vấn đề (luận điểm) đã giới thiệu ở phần Mở bài

     

     

    + Giải thích các từ ngữ, khái niệm, ví dụ: Đi một ngày đàng nghĩa là gì? Một sàng

     

    khôn nghĩa là gì? “nhân đạo” là gì? “khiêm tốn” là thế nào? “phán đoán” là gì? “thẩm mĩ”

     

     

    là gì?

     

     

    • Giải thích các ý nghĩa mở rộng của vấn đề, liên hệ với thực tế, với các dẫn chứng

     

     

    khác

     

     

    • Giải thích ý nghĩa khái quát của vấn đề đối với cuộc sống của con người, lí giải sâu vấn đề

     

    Chú ý cân nhắc cách sắp xếp các ý giải thích để làm sáng rõ, nổi bật vấn đề

     

     

    • Kết bài: Nhấn mạnh ý nghĩa của vấn đề vừa làm sáng tỏ c) Bước 3: Viết bài

     

    • Mở bài: Có thể viết theo các cách:

     

     

    • Giới thiệu thẳng vào vấn đề cần giải thích, ví dụ: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn là câu tục ngữ đúc kết kinh nghiệm học tập của nhân dân ta, qua đó thể hiện ước mơ vươn tới những chân trời mới để mở mang hiểu biết.
    • Đi từ vấn đề có ý nghĩa đối lập, dẫn tới vấn đề cần giải thích, ví dụ: Em cứ nhớ mãi hình ảnh một chú ếch không huênh hoang, kiêu ngạo, không chịu mở rộng tầm mắt để

     

    dẫn tới hậu quả bị chết bẹp dưới chân trâu. Thế mới thấy thấm thía lời răn dạy của cha

     

     

    ông ta: Đi một ngày đàng, học một sàng khôn. Còn gì thú vị hơn khi được đi đến những

     

     

    chân trời mới, ở những nơi cho ta bao điều mới lạ, kì thú.

     

     

    + Đi từ cái chung đến cái riêng, dẫn dắt vào vấn đề, ví dụ: Cha ông ta để lại cho con

     

     

    cháu muôn đời cả một kho tàng ca dao, tục ngữ. Đó cũng là cả một kho tàng kinh nghiệm

     

     

    quý báu. Ta có thể tìm thấy ở đó những lời khuyên răn bổ ích về việc phải mở mang tầm

     

     

    hiểu biết, đi đây đi đó để trau dồi vốn sống, vốn tri thức.

     

     

    • Thân bài: Mỗi ý giải thích nên viết gọn thành một đoạn. Chú ý đến việc lựa chọn cách dẫn dắt từ Mở bài đến Thân bài, từ đoạn này chuyển sang đoạn khác.

     

    • Kết bài: Cách Kết bài phải hô ứng với cách Mở bài; thâu tóm được những ý chính

     

     

    đã triển khai trong phần Thân bài.

     

     

    II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

     

     

    Với đề bài: Nhân dân ta có câu tục ngữ: “Đi một ngày đàng, học một sàng khôn”. Hãy

     

     

    viết thêm những cách kết bài khác.

     

     

    Gợi ý: Tham khảo hai đoạn kết bài sau:

     

    – Đi một ngày đàng, học một sàng khôn là một chân lí sống sâu sắc và tiến bộ không chỉ

     

     

    trong thời trước mà cả trong thời đại ngày nay nữa.

     

     

     

     

     

     

     

    Khi thế giới đang ngày càng có xu hướng mở rộng giao lưu thì với mỗi cá nhân việc đi để

     

     

    mà học lấy những cái khôn lại càng trở nên cần thiết, nhất là đối với những người trẻ

     

     

    tuổi. Hơn bao giờ hết, ngày nay, chúng ta cành cần phải “đi cho biết đó biết đây” để mà

     

     

    giao lưu, mà học hỏi, để học tập và làm việc tốt hơn.

     

     

     

     

     

     

     

    – Nói một cách công bằng thì bài học đã được nhân dân ta đức kết trong câu tục ngữ “Đi

     

     

    một ngày đàng, học một sàng khôn” là một chân lí không bao giờ cũ. Ngày xưa người ta

     

     

    mong ước được đi đây, đi đó để vượt ra khỏi cái không gian chật trội của làng của xã.

     

     

    Ngày nay, trong một xã hội ngày càng phát triển mạnh mẽ, con người lại càng nhất thiết

     

     

    phải học hỏi, giao lưu.

     

     

    Đi nhiều “ngày đàng” để học lấy nhiều “sàng khôn” hơn nữa nếu không muốn đất nước

     

     

    mình tụt hậu, đó là trách nhiệm của mọi người và của bản thân mỗi chúng ta.

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

    Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

    Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/C%C3%A1ch-l%C3%A0m-b%C3%A0i-ngh%E1%BB%8B-lu%E1%BA%ADn-v%E1%BB%81-m%E1%BB%99t-v%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-t%C6%B0-t%C6%B0%E1%BB%9Fng-%C4%91%E1%BA%A1o-l%C3%AD.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

     

    Văn mẫu lớp 9: Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

     

     

    I.                   KIẾN THỨC CƠ BẢN

     

     

     

    1.     Đọc các đề bài sau, so sánh và chỉ ra những điểm giống nhau giữa chúng.

     

     

    Đề 1: Suy nghĩ từ truyện ngụ ngôn Đẽo cày giữa đường.

     

     

    Đề 2: Đạo lí Uống nước nhớ nguồn.

     

     

    Đề 3: Bàn về tranh giành và nhường nhịn.

     

     

    Đề 4: Đức tính khiêm nhường.

     

     

    Đề 5: Có chí thì nên.

     

     

    Đề 6: Đức tính trung thực.

     

     

    Đề 7: Tinh thần tự học.

     

     

    Đề 8: Hút thuốc có hại.

     

     

    Đề 9: Lòng biết ơn thầy, cô giáo.

     

     

    Đề 10: Suy nghĩ từ câu ca dao: Công cha như núi Thái Sơn – Nghĩa mẹ như nước trong

     

     

     

    nguồn chảy ra.

     

     

    Gợi ý:

     

    Những điểm giống nhau giữa các đề:

     

     

    • Các đề đều đưa ra một vấn đề thuộc tư tưởng, đạo lí.

     

     

    • Dù có đưa ra mệnh lệnh hay không thì các đề đều có điểm chung về yêu cầu: nghị luận (tức là đòi hỏi người viết phải nhận định, giải thích, bình luận, chứng minh).

     

    2. Em thử nghĩ thêm một số đề bài khác tương tự như các đề bài trên.

     

     

    Gợi ý: Có thể lấy các truyện ngụ ngôn, truyện cười hoặc các câu tục ngữ mà em đã được học, đọc làm vấn đề nghị luận.

     

    Chú ý: Đề bài có thể đưa ra mệnh lệnh hay không nhưng vấn đề nghị luận thì nhất định

     

     

    phải có và chỉ tập trung vào một vấn đề. Phân biệt giữa vấn đề tư tưởng, đạo lí với vấn đề

     

     

     

    là sự việc, hiện tượng đời sống.

     

     

    3. Cách làm bài nghị luận về một vấn đề tư tưởng, đạo lí

     

     

    Chẳng hạn với đề bài: Suy nghĩ về đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”, các bước làm bài sẽ

     

     

    là:

     

     

    • Bước 1: Tìm hiểu đề và tìm ý – Tìm hiểu đề:

     

    • Đề bài đưa ra vấn đề gì? (đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”)

     

     

    • Đề bài yêu cầu như thế nào? (nêu suy nghĩ).

     

     

    • Phải huy động những tri thức nào xung quanh vấn đề nghị luận? (Hiểu biết về tục ngữ

     

     

     

    Việt Nam; Hiểu biết về đời sống có liên quan đến đạo lí Uống nước nhớ nguồn).

     

     

    – Tìm ý:

     

     

    • Tìm hiểu nội dung tư tưởng, đạo lí (nghĩa đen, nghĩa bóng của câu tục ngữ);

     

     

    • Liên hệ với thực tế (Nội dung câu tục ngữ thể hiện truyền thống ân nghĩa như một nguyên tắc sống của người Việt Nam; Ngày nay, đạo lí Uống nước nhớ nguồn vẫn còn nguyên giá trị và tiếp tục được khẳng định ở những khía cạnh mới…)

     

    • Bước 2: Lập dàn bài

     

     

    Lập dàn bài theo bố cục 3 phần.

     

     

    (1) Mở bài

     

     

    – Giới thiệu tư tưởng, đạo lí sẽ nghị luận (Giới thiệu câu tục ngữ “Uống nước nhớ

     

     

    nguồn”);

     

     

    – Nêu khái quát về nội dung và ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí (Khái quát nội dung của câu

     

    tục ngữ “Uống nước nhớ nguồn” và ý nghĩa răn dạy của nó).

     

     

    (2) Thân bài

     

     

    – Giải thích nội dung tư tưởng, đạo lí (Giải thích nội dung câu tục ngữ “Uống nước nhớ

     

     

    nguồn”):

     

     

    • Cắt nghĩa tư tưởng, đạo lí (nghĩa đen, nghĩa bóng của câu tục ngữ);

     

     

    • Phân tích những biểu hiện của tư tưởng, đạo lí (những điều hàm chứa trong câu tục ngữ).

     

    – Đánh giá tư tưởng, đạo lí (Sự đúng đắn và sâu sắc của đạo lí “Uống nước nhớ nguồn”):

     

     

    • Đưa dẫn chứng để chứng minh sự đúng đắn của tư tưởng, đạo lí (Truyền thống ân nghĩa của người Việt Nam);

     

    • Khẳng định sự sâu sắc, đúng đắn của tư tưởng, đạo lí trong đời sống xã hội hiện tại và

     

     

    tương lai (Uống nước nhớ nguồn còn là nền tảng duy trì, phát huy những giá trị đã được

     

     

    hình thành trong truyền thống dân tộc; là ý thức trách nhiệm với sự nghiệp bảo vệ, xây

     

     

    dựng và phát huy thành quả của các thế hệ cha ông; nhắc nhở những kẻ sống vong ân bội

     

     

     

    nghĩa,…).

     

    (3) Kết bài

     

     

    • Khẳng định ý nghĩa của tư tưởng, đạo lí (Khẳng định truyền thống đạo lí Uống nước nhớ nguồn của dân tộc, ý nghĩa sâu sắc của đạo lí này trong hiện tại và tương lai).
    • Tự rút ra bài học cho bản thân từ vấn đề vừa nghị luận.

     

     

    • Bước 3: Viết bài

     

     

    Dựa trên hệ thống các ý đã sắp xếp trong dàn ý, viết thành bài văn hoàn chỉnh.

     

     

    • Bước 4: Đọc lại bài viết và sửa chữa

     

     

    II. RÈN LUYỆN KĨ NĂNG

     

     

     

    Lập dàn bài cho đề bài: Tinh thần tự học.

     

     

    Gợi ý: Thực hiện đúng các bước:

     

     

    – Tìm hiểu đề và tìm ý:

     

     

    + Tìm hiểu đề: Vấn đề nghị luận là gì? (Tinh thần tự học) Mệnh lệnh của đề là gì? (Đề

     

     

    bài này không có mệnh lệnh cụ thể nhưng vẫn phải xác định các thao tác cụ thể khi làm

     

     

     

    bài: phân tích, giải thích, chứng minh…).

     

    • Tìm ý: Tự học là gì? Tại sao phải tự học? Tự học có tác dụng, ưu thế gì? Người có tinh thần tự học là người như thế nào? Em đã biết đến những tấm gương tự học nào? Em đã có tinh thần tự học chưa?

     

    – Lập dàn ý: Dựa vào hướng dẫn ở phần trên để lập thành dàn ý.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: 9 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT CHÍ PHÈO TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/B%C3%ACnh-gi%E1%BA%A3ng-b%C3%A0i-%E2%80%9CS%C3%B3ng%E2%80%9D-c%E1%BB%A7a-nh%C3%A0-th%C6%A1-Xu%C3%A2n-Qu%E1%BB%B3nh.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Bình giảng bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

     

    Bình giảng đoạn thơ sau đây trong bài “Sóng” của nhà thơ Xuân Quỳnh

     

     

    Bài Làm

    “…Con sóng dưới lòng sâu…..

    Hướng về anh một phương”.

     

     

     

    Sóng biển rộng lớn, bao la mà vẫn điệp trùng thương nhớ. Sóng biển vật vã, thương đau mà vẫn một đời mê đắm. Sóng biển dữ dội thét gào mà vẫn nồng cháy thương yêu. Phải, có những con sóng như thế, những con sóng mang trong mình biết bao đói cực vẫn đêm ngày cuộc tròn trong thơ, trong tâm hồn người phụ nữ đa tài, đa tình và cũng đa đoan ấy: nữ sĩ Xuân Quỳnh. Và bài thơ “Sóng” của Xuân Quỳnh đã chuyên chở hết cái tài, cái tình và cả cái đa đoan ấy của nữ sĩ mà tiêu biểu là đoạn thơ:

     

    “Con sóng dưới lòng sâu

     

     

    Hướng về anh một phương”

     

    Hòa cùng những con sóng: sóng thơ, sóng lòng, ta tìm về cõi sâu kín của

     

    tâm hồn thi sĩ và cũng là của muôn kiếp “má hồng”.

     

    bài thơ “Sóng” ra đời khi những con sóng lòng dâng lên dữ dội, những con sóng nhớ thương, thao thức của một tâm hồn đang yêu. Cả bài thơ là những đợt sóng nối nhau vỗ vào tâm hồn người đọc. Sóng và nhân

     

    vật em đan quyện vào nhau để thì thầm những nỗi niềm, những tâm

     

    tư. Và có thể nói, khổ thơ:

     

    “Con sóng dưới lòng sâu

     

     

    Hướng về anh – một phương”

     

    Đây là một khổ thơ vô cùng đặc biệt bởi trong bài thơ chỉ duy nó có sáu câu. Sáu câu thơ trải dài như nỗi thao thức, băn khoăn của tâm hồn thi sĩ trong đêm. “Con sóng dưới lòng sâu Con sóng trên mặt nước”

     

     

    Hai câu thơ với hình thức lặp quyện hòa cùng nghệ thuật đối vỗ nên điệp trùng những con sóng với nhiều dạng thức khác nhau. Con sóng lặn sâu dưới lòng đại dương qua thanh bằng cuối câu thơ. Con sóng dữ dội tung bọt trắng xóa trên mặt biển với thanh trắc. Cả hai kết hợp với nhau làm nên sự đa dạng của sóng biển. Sóng là em, em là sóng. Cũng như sóng kia, tâm hồn em cũng vô vàn những phức tạp khó hiểu. Lúc

     

    lặng lẽ, êm đềm khi nồng nàn dữ dội, nhưng thế nào đi nữa, em vẫn mãi là em, vẫn mãi ôm trong lòng một nỗi nhớ thương không dứt. Cũng như sóng kia thôi, dù dịu êm hay dữ dội thì: “Ôi con sóng nhớ bờ

     

     

    Ngày đêm không ngủ được”

     

    Xuân Quỳnh vô cùng tinh tế khi mượn một hình tượng rất động để diễn ta nỗi niềm của người phụ nữ khi yêu. Sóng muôn đời vẫn thế, có bao

     

    giờ thôi vỗ sóng, có khi nào chẳng cồn cào, ẩn sâu trong ngực sóng là nhịp đập của đại dương mênh mông. Sóng chẳng còn là sóng nếu tĩnh yên, lặng lẽ. Vì vậy mà sóng đã được Xuân Quỳnh diễn tả bằng một từ ngữ rất sáng tạo “ không ngủ được”. Sóng là vậy, dù lặng yên dưới lòng biển hay dữ dội trên mặt đại dương thì ngàn đời vẫn khát khao tìm về

     

    bến bờ tĩnh tại. Chưa đến được bờ thì nhớ thương, thương nhớ, thì thao thức một nỗi niềm. Chọn hình tượng sóng-một trong những hình tượng đồng nhất của tự nhiên, Xuân Quỳnh đã khẳng định được bản lĩnh của mình. Chọn hình tượng động để gắn với người phụ nữ, người mà xưa nay được ví như liễu yếu đào tơ, Xuân Quỳnh phải đứng trước nhiều thử thách nhưng chị đã vượt qua bằng một bản lĩnh vững vàng và hơn hết là bằng một tâm hồn phụ nữ nhạy cảm tinh tế. Còn sự vật nào hơn sóng có thể diễn tả hết được cái lòng người phụ nữ đang yêu: nồng nàn, băn khoăn, bồn chồn, thao thức lắm ! Nỗi băn khoăn ấy được góp nước từ nỗi nhớ: nhớ một người!

     

    “Lòng em nhớ đến anh

     

    Cả trong mơ còn thức”

     

    Sóng bây giờ dường như cũng đã không còn đủ sức chuyên chở nỗi lòng người phụ nữ. Nỗi nhớ như thiêu, như đốt, như phá tan những phàm tục đời thường, cất cánh đưa người phụ nữ đến một cõi mơ. Ở đây Xuân Quỳnh dùng từ “ lòng” thật chính xác để diễn tả tình cảm của người phụ nữ với tình yêu. Lòng là chốn sâu kín nhất của tâm hồn, lòng

     

    là kết tinh của tình cảm được chưng cất trong một thời gian dài qua

     

    biết bao thử thách. Vì vậy mà tấm lòng ấy không chút hời hợt mà đã là

     

    gan, là ruột của người phụ nữ rồi. “Lòng em nhớ đến anh”, ơi thương

     

    sao câu nói giản dị, chân thành mà nồng nàn, da diết đến thế. Câu thơ

     

    “cả trong mơ còn thức” lóe lên điểm sáng của nghệ thuật. Có thể nói,

     

    với câu thơ ấy, Xuân Quỳnh đã có thể được xem là thi sĩ tài năng bật

     

    nhất của thi ca hiện đại Việt Nam. Câu thơ như trào dâng nâng nỗi nhớ

     

    niềm thương

     

    Sóng-em đan quyện vào nhau. Em lặng đi để sóng trào lên. Nhưng sóng

     

    cũng là em, sóng trào lên mang theo lớp lớp tâm tình của em

     

    “Dẫu xuôi về phương Bắc

     

    Dẫu ngược về phương Nam”

     

    Đầu mỗi câu thơ, Xuân Quỳnh đã đóng vào đó những từ chỉ sự đối lập (“dẫu”). Nó chỉ một sự khẳng định chắc nịch, vững vàng rằng khó khăn, thách thức là mấy em vẫn mãi yêu anh. . Chẳng phải là “ngược Bắc”, “xuôi Nam” mà là “xuôi Nam” “ngược Bắc”.Phương hướng thế nào không quan trọng, quan trọng nhất vẫn là “phương anh”. “Nơi nào em cũng nghĩ

     

    Hướng về anh một phương”

     

    Xuân Quỳnh buộc chặt bao “sợi nhớ, sợi thương” về phương anh. Thế mới biết tình yêu của chị nồng nàn, mãnh liệt thế nào. Hướng về anh thì có thể thay đổi nhưng với lời khẳng định chắc nịch “một phương” thì

     

    nơi em hướng về là bất di bất dịch. Anh đã dành “hệ qui chiếu” của đời em. Cảm thông cho cuộc đời Xuân Quỳnh, ta càng hiểu thêm tình cảm của chị.

     

    Sự thành công của Xuân Quỳnh trong bài thơ “Sóng” không chỉ ở tình cảm chân thành nồng cháy mà còn ở nghệ thuật xây dựng hình tượng sóng_hình tượng trung tâm của bài thơ. Sóng trong bài thơ là một hình tượng kép. Sóng vừa là sóng biển vừa là sóng lòng của người phụ nữ đang yêu. Cả hai cuộn tròn trong sóng thơ dạt dào. Hình tượng sóng rất đa dạng: lúc dữ dội, ồn ào, lúc dịu êm lặng lẽ cũng như tâm hồn em vậy dịu dàng lắm nhưng cũng đôi khi nồng cháy, mãnh liệt. Hình tượng sóng được Xuân Quỳnh xây dựng như thế động. Sóng luôn vận động với bao đối cực, bao chiều kích và cũng chính nhờ vậy mà nỗi lòng của người phụ nữ đang yêu được bộc lộ chân thành hơn, chính xác hơn. Với hình tượng sóng Xuân Quỳnh đã góp vào thi đàn một hình tượng cũ mà mới. Mới bởi nó được ủ ấp những nỗi niềm của người phụ nữ. Và sẽ không quá lời khi ta khẳng định rằng, làm nên sự nghiệp Xuân Quỳnh không thể không có “sóng”.

    Xuân Quỳnh đã đi về một miền miên viễn. Chị đã đi xa nhưng sóng thì vẫn “bạc đầu thương nhớ” còn người thì vẫn bên chị cùng một nỗi nhớ thương. Người phụ nữ ấy sống mãi cùng sóng lòng, sóng thơ và “sóng”. Cũng như sóng kia, nhịp đập thủy triều có bao giờ nguội yên trong ngực biển, người nữ sĩ ấy vẫn mãi bên đời cùng một nhịp đập yêu thương.

     

    Con sóng trong thơ chị phải đâu là con sóng một thuở mà nó đã thành con sóng ngàn đời: con sóng tình yêu, con sóng yêu thương, con sóng của một tâm hồn đẹp. Vỗ mãi con sóng thương yêu!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • 9 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT CHÍ PHÈO TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO”

    9 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT CHÍ PHÈO TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO”

    9 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT CHÍ PHÈO TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: SEO Copywriting – 10 mẹo viết nội dung cho SEO năm 2013


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/9-B%C3%80I-V%C4%82N-M%E1%BA%AAU-%E2%80%9CPH%C3%82N-T%C3%8DCH-NH%C3%82N-V%E1%BA%ACT-CH%C3%8D-PH%C3%88O-TRONG-T%C3%81C-PH%E1%BA%A8M-C%C3%99NG-T%C3%8AN-C%E1%BB%A6A-NH%C3%80-V%C4%82N-NAM-CAO%E2%80%9D.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: 9 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT CHÍ PHÈO TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO”

     

    VĂN MẪU LỚP 11

     

    9 BÀI VĂN MẪU “PHÂN TÍCH NHÂN VẬT CHÍ PHÈO TRONG TÁC PHẨM CÙNG TÊN CỦA NHÀ VĂN NAM CAO”

     

    BÀI MẪU SỐ 1:

     

    a.Mở bài

     

    – “Chí Phèo” thật sự là một kiệt tác trong văn xuôi đương thời, là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của nhà văn Nam Cao.

     

    – Ngòi bút Nam Cao có những quan tâm, những khám phá riêng về số phận người lao động bị chà đạp. Hình tượng nhân vật Chí Phèo-một điển hình nghệ thuật bất hủ trong văn xuôi Việt Nam-đã thể hiện cái nhìn đầy đủ mới mẻ, độc đáo có chiều sâu trong thể hiện nỗi khổ con người đó của Nam Cao.

     

    b.Thân bài

     

    – Chí Phèo sinh ra không cha không mẹ, không họ hàng thân thích, không nhà không cửa, không tấc đất cắm dùi, cả đời không hề được biết đến một bàn tay chăm sóc của phụ nữ nếu không gặp thị Nở…Hắn ra đời trong một cái lò gạch cũ bỏ hoang, trong chiếc váy đụp; tuổi thơ của hắn bơ vơ “hết đi ở cho nhà này lại đi ở cho nhà nọ”, đến hai mươi tuổi thì làm canh điền cho nhà Bá Kiến.

    – Người nông dân cùng khổ ấy không được sống ngay cả cuộc đời nghèo khổ nhưng lương thiện của mình. Anh đã bị xã hội cướp đi cả bộ mặt người cùng linh hồn người để trở thành một con thú dữ, và bị loại khỏi xã hội loài người.

     

    – Bản chất lương thiện của anh đã bị xã hội ra sức hủy diệt. Lão cường hào Bá Kiến vì ghen tuông đã cho giải Chí Phèo lên huyện rồi sau đó để anh Chí ngồi tù. Cái nhà tù thực dân ấy đã tiếp tay lão cường hào bắt giam anh Chí lương thiện, vô tội để rồi thả ra một Chí Phèo lưu manh, hung ác. Trở về làng, Chí Phèo trở thành một con người khác hẳn-con quỉ dữ của làng Vũ Đại. Hắn muốn sống thì phải gây gỗ, cướp giật, ăn vạ…Muốn thế hắn phải gan, phải mạnh. Những thứ ấy Chí Phèo tìm thấy ở rượu. Thế là Chí Phèo luôn say, và “hắn say thì hắn làm bất cứ cái gì người ta sai hắn làm”. Chí Phèo thay đổi cả nhân hình và nhân tính: “ Cái đầu trọc lóc, cái răng cạo trắng hớn…hai mắt gườm gườm trông gớm chết”….Chí Phèo trở nên xa lạ với mọi người và xa lạ với chính anh. Chí Phèo giờ đây đã là con quỉ dữ của làng Vũ Đại “để tác quái cho bao nhiêu dân làng” , “hắn đạp đổ bao nhiêu sự nghiệp làm tan nát biết bao gia đình, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người…” Và thế là hắn không còn được mọi người coi là người nửa “ai cũng tránh mặt hắn mỗi lúc hắn qua”.

     

    – Nhưng điều đặc sắc và đáng quí hơn nữa ở Nam Cao là ngay trong khi miêu tả nhân vật bị tha hóa đến chỗ tận cùng, Nam Cao vẫn phát hiện trong chiều sâu của nhân vật bản tính tốt đẹp vốn có, chỉ cần một chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy với bao điều tốt đẹp. Sự xuất hiện của nhân vật thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu “ma chê quỉ hờn” ấy lại là nguồn ánh sáng đã rọi vào chốn tối tăm của Chí Phèo, thức tỉnh, gọi dậy bản tính người của Chí Phèo, thắp sáng một trái tim qua bao tháng ngày bi hắt hủi.

     

    -Sau cuộc gặp gỡ ngắn ngủi với thị Nở, Chí Phèo giờ đây đã nhận ra nguồn ánh sáng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe ra một tiếng chim vui vẻ, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá, tiếng lao xao của người đi chợ…Chí Phèo như đã thấy “tuổi già của hắn, đói rét , ốm đau và cô độc-cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau…Hắn khát khao làm hòa với mọi người…”

     

    – Nhưng bi kịch và đau đớn thay con đường trở lại làm người của Chí Phèo vừa hé mở thì đã bị đóng sầm lại. Bà cô thị Nở không cho phép cháu gái bà lấy “một thằng không cha chỉ có một nghề là rạch mặt ăn vạ”. Hay nói đúng hơn là định kiến xã hội đã không cho phép Chí được làm người. Chí Phèo thật sự rơi vào bi kịch tinh thần đau đớn. Hắn lại uống rượu nhưng “ càng uống càng tỉnh ra”. Tỉnh ra để thấm thía nỗi đau vô hạn của thân phận mình. Chí Phèo tìm đến nhà Bá Kiến đanh thép kết án lão và giết chết lão, sau đó anh tự sát. Anh không muốn sống nữa vì giờ đây ý thức về nhân phẩm đã trở về. Anh không thể sống kiểu lưu manh, sống như quỉ dữ nữa. Anh đã chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc đời.

     

    Qua hình tượng Chí Phèo, ngòi bút nhân đạo của Nam Cao đã đặt ra vấn đề có ý nghĩa xã hội lớn lao.

     

    c.Kết bài

     

    Nam Cao đã xây dựng hình tượng điển hình người nông dân Việt Nam trước CMT8-Chí Phèo.

     

    Bi kịch của Chí Phèo là bi kịch của một con người trong thời đại đen tối đã qua. Nhưng chúng ta cũng không được lãng quên mà phải ghi khắc để suy ngẫm về cuộc sống hôm nay. Điều đó nói lên giá trị lâu bền của tác phẩm và tầm vóc lớn lao của Nam Cao.

     

    BÀI MẪU SỐ 2:

     

    Khi nhận định về các tác phẩm của Nam Cao, Nguyễn Hoành Khung cho rằng: “Trong mảnh sáng tác về nông dân của Nam Cao, người đọc thường gặp những nhân vật xấu xí, thô lỗ cục cằn và những chuyện nhục nhã của họ. Chính vì thế mà một số người tỏ ra hoài nghi giá trị hiện thực và nhân đạo của ngòi bút Nam Cao, có biết đâu rằng, chính với đám nhân vật “có vấn để” đó mà cái nhìn hiện thực và quan điểm nhân đạo của nhà văn mới thể hiện rõ, đầy đủ nhất”. Và nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là một nhân vật “có vấn đề” như thế, nhưng chính những lời văn mà tác giả viết về nhân vật này và những bi kịch mà y phải chịu đựng đã thể hiện được giá trị hiện thực và nhân đạo sâu sắc của tác phẩm mà Nam Cao muốn gửi gắm qua nhân vật này.

     

    Chí Phèo có một tuổi thơ thật bất hạnh: Ngay từ khi chào đời, Chí Phèo đã là một đứa con hoang, bị bỏ rơi trong cái lò gạch cũ và không biết cha mẹ mình là ai. Chí lớn lên nhờ sự đùm bọc, cưu mang của dân làng. Lớn lên Chí đi ở hết nhà này đến nhà nọ. Cứ như thế, Chí lớn lên bình yên giữa những người dân nghèo khổ nhưng hiền lành. Chí cũng có ước mơ riêng của mình, đó là có một gia đình nho nhỏ “chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải”. Đến năm hai mươi tuổi, Chí trở thành một chàng trai có vẻ đẹp toàn vẹn từ ngoại hình mạnh khỏe cho đến nội tâm hiền lành. Nhưng rồi Chí đi làm cho nhà Bá Kiến và cũng chỉ vì chuyện ghen tuông vớ vẩn Chí bị đẩy vào tù, sau bảy, tám năm biệt tích trở về làng giờ đây Chí Phèo đã hoàn toàn thay đổi từ ngoại hình cho đến tính cách. Ngoại hình của Chí thật đáng sợ: cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen và rất cơng cơng, hai mắt gờm gờm trông gớm chết. Ngoại hình ấy ẩn chứa một tính cách đã hoàn toàn thay đổi, không còn tính cách “lành như đất” nữa mà giờ đây hắn chuyên đi đập đầu, rạch mặt ăn vạ, hắn lấy rượu để bầu bạn với mình và rồi trong cơn say hắn đến nhà Bá Kiến để trả thù nhưng kết quả của cả hai lần là hắn đã bị Bá Kiến “ru ngủ” bằng rượu, thịt và tiền. Và rồi từ đó, Chí rơi vào trạng thái mất phương hướng, không biết ai là kẻ thù của cuộc đời mình và lại tiếp tiếp tục rơi vào cái bẫy mà Bá Kiến đã giăng sẵn, hắn vào tù vì Bá Kiến và rồi khi ra tù lại tiếp tục biến mình thành tay sai cho chính kẻ thù của mình, còn gì nhục nhã hơn là điều đó.

     

    Cứ thế, cuộc đời hắn trượt dài trong những bi kịch, hắn không làm gì ngoài việc rạch mặt, ăn vạ để đòi tiền, để đâm chém những ai không cùng phe cánh với cụ Bá. Cuộc đời hắn chìm trong cơn say, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say và đánh nhau trong cơn say, “hắn đã phá tan bao nhiêu gia đình, đập vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện”. Cứ như thế đời hắn trượt dài, nhìn vào mặt hắn người ta không biết hắn bao nhiêu tuổi. Cuộc đời hắn đã xem như là bỏ đi, nhân hình bị hủy hoại, nhân tính bị xói mòn. Cả làng Vũ Đại đều tránh mặt hắn mỗi lần hắn đi qua. Ngay cả bản thân hắn cũng quên sự có mặt của hắn ở trên đời.

     

    Nhưng rồi người nông dân bị lưu manh hóa ấy cuối cùng cũng đã thức tỉnh. Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá ấy của Chí vẫn còn le lói một ánh sáng của lương tâm, lương thiện chỉ cần có cơ hội thôi là sẽ bừng sáng. Và Nam Cao đã cho Chí một cơ hội để ánh sáng ấy có dịp bừng lên, đó là cho Chí được gặp gỡ với Thị Nở. Chính cuộc gặp gỡ ấy, sự chăm sóc ân cần của Thị cùng bát cháo hành nóng hổi nghi ngút khói đã làm sống dậy bản chất lương thiện của Chí. Được Thị Nở chăm sóc, Chí Phèo rất ngạc nhiên vì xưa nay nào hắn có thấy ai tự cho ai cái gì, hắn phải dọa nạt hay cướp giật mới có. Lần đầu tiên khi tỉnh giấc, hắn bâng khuâng nghe tiếng chim hót, tiếng cười nói của những người đi chợ và cùng với đó là khát vọng được sống một cuộc sống khác, được hòa nhập cùng mọi người, họ sẽ nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, thân thiện của những người lương thiện. Hắn tự đặt ra câu hỏi cho mình: hắn có thể làm bạn được sao lại chỉ gây thù? Thị Nở chính là người mà Chí đặt niềm tin vào, Chí tin Thị Nở sẽ là chiếc cầu nối giúp Chí trở về với cuộc sống đó.

     

    Nhưng rồi, khát khao sống một cuộc sống lương thiện của hắn vừa mới được nhen nhóm thì đã bị dập tắt. Chiếc cầu nối ấy đã bỏ hắn mà đi chỉ vì lời nói của bà cô: “đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà lại phải lấy một thằng không cha, không mẹ chỉ biết rạch mặt ăn vạ”, bỏ lại Chí với nỗi đau khổ đến tột cùng, hắn đau xót nhận ra rằng sẽ chẳng còn chiếc cầu nào mang hắn về với cuộc sống của những người lương thiện nữa. Những lời lẽ cuối cùng đã bộc lộ tất cả bi kịch nội tâm của Chí: “Tao muốn làm người lương thiện (…). Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không!”.

     

    Và cuối cùng, bi kịch đã biến thành thảm kịch. Tột đỉnh của sự khổ đau đã biến thành tột đỉnh của sự căm thù, uất hận. Chí thấy kẻ thù trước mắt cướp đi tình yêu của hắn chính là bà cô Thị Nở nhưng trong sâu thẳm tâm hồn có lẽ hắn vẫn ý thức được ai mới chính là kẻ thù gây nên một chuỗi dài bi kịch của cuộc đời mình. Hắn xách dao đến nhà bà cô Thị Nở nhưng lại đi thẳng đến nhà Bá Kiến, Chí Phèo đã đâm chết Bá Kiến rồi tự kết liễu cuộc đời mình. Trong sự bế tắc đến tột cùng, Chí đã tự tìm ra lối thoát cho riêng mình, đó là cái chết, chết để kết thúc tất cả bi kịch của cuộc đời Chí.

     

    Nhân vật Chí Phèo là nhân vật tiêu biểu cho số phận của người nông dân trong xã hội nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Nam Cao đã thể hiện tấm lòng yêu thương, trân trọng của mình đối với những người có số phận bất hạnh. Ở sâu thẳm trong tâm hồn họ chính là sự khát khao hạnh phúc, được yêu thương và sống một cuộc sống tốt đẹp hơn.

     

     

     

    BÀI MẪU SỐ 3:

     

    Là một nhà văn luôn băn khoăn trăn trở về cách sống và cách viết, Nam Cao đã từng tuyên ngôn “Sống đã rồi hãy viết”.Một nhà văn muốn viết được nhân đạo trước hết phải sống cho nhân đạo bởi cuộc đời quyết định đến văn chương.Nam Cao luôn nhìn đời bằng đôi mắt của tình thương , đôi mắt của lòng nhân ái. Với cách nhìn đời này, Nam Cao bắt đầu cầm bút sáng tác.Trước Cách Mạng, Nam Cao viết về hai đề tài, đè tài người nông dân và đề tài người trí thức tiểu tư sản. Ở đề tài nông dân hay nhất, tiêu biểu nhất phải kể đến sáng tác đầu tay của Nam Cao, tác phẩm Chí Phèo.Linh hồn của câu chuyện là nhân vật cùng tên được nhà văn miêu tả với một tấn bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người:Sinh ra là người nhung không được làm người, cả đời khao khát lương thiện ,cuối cùng trỏ thành kẻ bất lương.Thông qua bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của hắn nông dân Chí, ngòi bút Nam Cao bộc lộ là một ngòi bút nhân đạo, nhân văn, sâu sắc và cao cả.

     

    Người ta thường nói bi kịch là một hoàn cảnh bi thảm, bi thương,bi đát nào đó, điều này không chính xác.Bi kịch vốn được hiểu là những khát vọng chân chính, cháy bỏng, mãnh liệt của một con người nhung không có điều kiện thực hiên trên thực tế, cuối cùng người mang khát vọng bị rơi vào kết cuc của một thảm kịch. Bi kịch là cuộc đáu trhắn dai dẳng, không khoan nhượng giữa thiện và ác, giữa ánh sáng và bóng tối, giữa cao thượng và thấp hèn, giữa chính nghĩa và phi nghĩa.Trong cuộc sống thường ngày, thương nhật, bi kịch không diễn ra giữa các lực lượng xã hội đấu trhắn với nhau, trái lai nó là lực lưọng tinh thần trong đời sống tâm hồn của một con người , ví như nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, cả đời hắn khao khát lương thiện, cuối cùng trở thành kẻ bất lương , sinh ra là người nhưng không dược làm người, để rồi hắn chết trên con đường trở về lương thiện.

     

    Cuộc đời con người là một chuỗi vân đọng liên hoàn mà chúng ta không thể phân tách hay chia cắt được.Tuy nhiên cuộc đời mỗi con người được hình thành bởi những điều kiện, hoàn cảnh . Ở những điều kiện lớn, hoàn cảnh lớn,bản chất con người mới được bộc lộ bởi nói như H.Balzac: “Bản chất của con người thường bị bánh xe của số phận che đậy, và khi lao vào bão tố, dù tốt hay xấu, tự nó bộc lộ.” Cuộc đời Chí Phèo tù lúc sinh ra đến lúc chết đi đươc chia làm hai chặng đường: chặng đường đầu tiên từ lúc Chí sinh ra đến năm hai mươi tuổi và sau khi ra tù.

     

    Lai lịch Chí Phèo đươc mỏ ra trong câu chuyện là một đứa trẻ xám ngắt, đượcbọc trong một tấm váy đụp bên cạnh lò gạch bỏ hoang, được người thả ống lươn đem về trong một buổi sớm tinh sương.Lớn lên, Chí Phèo được cưu mang bởi những con người nghèo khổ,Chí Phèo đi ở hết nhà này cho đến nhà khác, từ bà goá mù cho đến ông Phó Cối.Quá khứ ấy không khiến Chí Phèo trở thành một đứa trẻ hư hỏng, trái lại, đến năm hai mươi tuổi, khi đi làm hắn chắn điền cho nhà lí Kiến, Chí Phèo vẫn giữ nguyên bản tính của một người nông dân thuần hậu.Cũng như biết bao người nông dân làng Vũ Đại,

     

    Chí Phèo ước mơ có được một cuộc sống bình dị bởi mơ ước của một con người phần nào bộc lộ bản tính của người ấy. Ở đây,Chí Phèo ước mơ có một cuộc sống nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ con lợn để nuôi, khá giả mua năm ba sào ruộng cấy.Mơ ước ấy chứng tỏ rằng hắn là một người nông dân thuần hậu, thậm chí làng Vũ Đại còn gọi hắn là người “lành như cục đất”.Ta còn thấy Chí phèo là một người trong sáng và trọng dhắn dự.Làm hắn chắn điền cho nhà lí Kiến, rồi một lần bị bà Ba Kiến gọi lên bóp chân,Chí Phèo chỉ thấy nhục, thấy sợ .Trái tim của Chí Phèo hai mươi tuổi đau còn là gỗ đá, Chí Phèo đã nhận thức đượcđâu là tình yêu chân chính, đâu là thói dâm ô. Bị gọi “đấm bóp cho bà 3 quỷ quái hắn chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”. Như vậy, rõ ràng, đến đây ta có thẻ khẳng định hắn là một người nông dân thuần hậu, là người trong sáng và trọng dhắn dự nhưng xã hội ấy không cho Chí Phèo sống yên ổn với bản tính nông dân thuần hậu của hắn.Chí Phèo đang sống trong cái xã hội mà “Kiếp người cơm vãi cơm rơi- Biết đâu nẻo đất phương trời mà đi.”, trong cái xã hội mà cạm bẫy người giăng giăng như mắc cửi thì những ngời hiền lành như Chí Phèo bao giờ cũng phải chịu thiệt thòi.Vì một cơn ghen bóng gió,Chí Phèo đã bị Bá Kiến tống vào ngục tù, con người xảo quyệt này sẵn sàng chà đạp lên cuộc đời người khác không thương tiếc, không ghê tay.Bắt đầu từ đây, Chí Phèo chuyển sang một trạng thái khác, một cuộc sống khác.Nhân đây cũng phải nói qua cái nhà tù, đây là nhà tù thực dân, đồng loã với lão Bá tha hoá Chí Phèo.Nhà tù này có bản chất xã hội trái hoàn toàn với bản chất xã hội của một nhà tù mà loài người đang mong đợi.Nhà tù này chỉ thu nạp tù nhân khi hắn ta còn lành như cục đát, vào nhào năn, đào tạo đến khi thánh con quỉ dữ thì thả họ ra.Nhà tù này tiếp tay cho lão Bá tha hoá Chí Phèo, nhà tù này đã biến hắn Chí “lành như cục đất” giờ đây ra tù…hãy nghe Nam Cao mô tả diện mạo của Chí Phèo lúc ra tù:”Caí đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm, ngực và tay chạm trổ đầy những hình rồng phượng, có cả một ông tướng cầm chuỳ.Trông Chí Phèo đặc như một tên săng đá”.Hình ảnh này đã làm tái hiện một Chí Phèo khác hoàn toàn, thay thế hắn nông dân thuần hậu ngày xưa giờ đây là một Chí Phèo sinh ra làm người nhưng không được làm người, hiền lành chân chất là thế giờ dây trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại.

     

    Đây là bi kịch đầu tiên của Chí Phèo bởi bi kịch là khát vọng chân chính, mãnh liệt của một con người nhưng không có điều kiện thục hiện trên thực tế , Chí Phèo cả đời khao khát lương thiện nhưng giờ đay thành kẻ bất lương mất rồi, thành con quỷ dũ mất rồi. Hình ảnh của Chí say rượu vừa đi vừa chửi hết sức buồn cười, phải chăng đằng sau sự lãm nhãm của hắn là tiếng kêu gào tuyệt vọng của sự thèm khát được giao tiếp với đồng loại. Trong cơn say hắn nhận ra được sự cô đơn khủng khiếp của 1 con người bị xh ruồng bỏ. “Hắn thèm được người ta chửi, chửi hắn có nghĩa là còn công nhận hắn là người”. Thế nhưng hắn cứ chửi, xung quhắn hắn là sự im lặng đáng sợ, hắn chửi rồi lại

     

    nghe: “ chỉ có 3 con chó dữ với 1 thằng say rượu”. Hắn đã bị từ chối quyền làm người tuyệt đối. Bản chất của hắn đâu phải là kẻ l/mhắn, nát rượu. Khi còn trẻ hắn đã “ao ước có 1 mái gđ nho nhỏ, chồng cày thuê cuốc mướn vợ dệt vải nuôi heo”. Mơ ước của hắn thật bình dị bằng sức lao động chân chính, cái hạnh phúc đơn sơ nhưng ấm cúng tình người tưởng chừng ai cũng có được nhưng với Chí lại quá xa vời. Giờ đây, hắn muốn sống trong cái Làng Vũ Đại “đầy bọn ăn thịt người không thắn” thì hắn phải gây gổ, cướp giật, ăn vạ, muốn thế hắn phải có gan, phải mạnh, thế là hắn mượn rượu để say như hủ chìm, như thế hắn sẽ làm “bất cứ điều gì người ta muốn hắn làm”, xh đã vằm nát bộ mặt người của hắn để hắn không còn được coi là c/người nữa “ai cũng tránh mỗi lần hắn đi qua”.

     

    Trong cơn say rượu, Chí đã gặp TNở và họ đã ăn năm với nhau …. Sau khi tỉnh cơn

     

    say, hắn nhận được sự t/yêu c/sóc của TNở làm cho trong sâu xa t/hồn hắn lay động 1 tia chớp lóe sáng trong c/đ t/tăm dài dằn dặt của hắn và hắn nhận ra được tình trạng bi thương của số phận mình. “Hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có 1 lúc mà người ta k/thể liều lỉnh được nữa, bấy giờ mới nguy”, hắn tủi thân vì hắn nhận ra sự trơ trọi của chính mình. Đó những ân hận khi CP hiểu ra hắn đã làm quá nhiều điều tội lỗi, khốn nổi khi gây ra những điều này Chí triền miên trong những cơn say nên nào biết gì! TY của TNở làm cho hắn “bổng thèm lương thiện”, b/cháo hành đã đưa Chí rẽ vào bước ngoặc mới, b/cháo hành là biểu tượng của sự cảm thông y/t giữa những c/người cùng cảnh ngộ, nó mãi mãi đi vào c/s văn chương với tư cách là biểu tượng của CN nhân đạo. Hắn cảm động quá! cảm động vì lần đầu tiên hắn được ăn 1 thứ ngon như thế. Hơn nữa muốn có cơm ăn, rượu uống chí phải dọa, cướp giật. lần đầu tiên có người tự nguyện cho hắn ăn, đặc biệt hơn đó lại là đ/bà nên con quỹ dữ đã mềm ra thành từng giọt nước mắt. Cùng với những giọt nước mắt là Chí nghe được tiếng chim hót b/sáng, tiếng gõ mái chèo của người thuyền chày đuổi cá trên sông, tiếng trò chuyện của những người đi chợ sớm. Cái đẹp của tự nhiên, c/đẹp của l/đ chứa chan tình người, tất cả thật đ/sơ nhưng cũng thật gần gủi thân thiết, những âm thhắn này ngày nào cũng có nhưng đây là l/đầu tiên chí cảm nhận được. Giọt nước mắt của chí cùng những âm thhắn b/sáng đã làm nên 1 CP khác hẳn, có nghĩa là hắn chắn điền l/thiện năm nào đã sống lại. Đây là lần đ/tiên Chí tỉnh và lần đ/tiên nhận thức được t/lỗi, sự ân hận muộn màng nhưng dù sao cũng đáng ghi nhận. Đó là biểu hiện của sự làm lành “hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao” Chí m/muốn được mọi người bỏ qua cho tất cả. Thị Nở sẽ giúp hắn làm loại từ đầu, niềm khát khao mới người làm sao!.

     

    TY của TNở làm cho hắn thức tỉnh và mở đường cho hắn trở lại làm người, nhưng thật trớ trêu, bà cô TNở đã đóng sầm cánh cửa lại, bà không cho cháu bà “đi lấy 1 thằng ăn vạ”. Cách nhìn của bà cũng chính là cách nhìn của Làng VĐ, linh hồn của Chí vừa trở về thì bị cự tuyệt, không ai nhận ra. K/vọng của Chí đã bị đã bị xh từ chối, điều này cũng

     

    dễ hiểu vì xh quen nhìn Chí trong bộ dạng quỹ dữ, k/thể chấp nhận một CP hiện lên với tư thế con người.

     

    Sự từ chối của xh đầy định kiến, xh không độ lượng bao dung đón đứa con lạc loài trở về v/tay cộng đồng, hoàn cảnh đặt Chí trước 2 con đường để l/chọn: “hoặc sống làm q/dữ hoặc chết để k/định g/trị làm người”. Thực chất Chí chỉ có 1 con đường để đi, khi g/trị làm người thức tỉnh thì chí không thể làm quỹ dữ, đó chính là bi kịch thân phận con người không được quyền làm người.

     

    Sự từ chối của TNở đã đóng sập cánh cửa hoàn lương của Chí. Lúc này hắn đã uống rất nhiều rượu “càng uống càng tỉnh ra” để thấm thía thân phận mình “hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Trong cơn say Hắn xách dao ra đi, hắn lãm nhãm đến nhà Tnở để đâm chém nhưng bước chân lại tìm đi tìm “kẻ gây ra tình trạng tuyệt vọng cho đời mình”. Thực trạng này đòi hỏi chúng ta phải x/đ Chí say hay tỉnh? Nếu bảo hắn tỉnh thì k/thuyết phục vì ý thức của hắn không còn k/năng điều khiển hành vi, bảo hắn say cũng không thỏa đáng vì người say không thể biết đòi l/thiện “tao muốn làm người l/thiện” và biết rất rõ không ai cho hắn l/thiện, nghịch lý này là rượu đã làm cho thế giới t/thần hắn mụ mị đi, nhưng 1 bộ phận mà rượu k/thể làm tê liệt được là ý thức làm người, cho nên hđ đòi l/thiện là vô cùng tỉnh táo vì vậy Chí đã giết BK và tự hủy diệt mình.

     

    Cái kết thúc thật rùng rợn vì máu chảy nhưng cũng thật nhân bản vì tội ác đã được trừng trị và g/trị làm người được khẳng định. Một CP tỉnh đã giết chết 1 CP say . CP bằng xương , bằng thịt đã chết nhưng còn lại trong lọng người đọc là CP đòi quyền sống , đang dõng dạc đòi làm người lương thiện. Như vậy, khi ý thức nhân phẩm đã trở về , CP không bằng lòng sống như trước nữa . Và CP chết trong bi kịck đau đớn , chết trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống . Đây khong thể là hành động lưu mhắn mà là sự vùng lên tuyệt vọng của người nông dân khi thức tỉnh cuộc sống.

     

    Chí Phèo – một tấn bi kịch của một người nông dân nghèo bị tha hóa trong xã hội cũ, một con người điển hình. Ở cuối tác phẩm, “đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạc cũ bỏ không, xa nhà cửa, và vắng người qua lại…”, chi tiết ấy muốn nói với chúng ta rằng, một ngày gần đây thôi,Thị Nở lại bụng mang dạ chửa vượt cạn giữa đồng không mông quạnh,giữa con mắt thờ ơ của người dân làng Vũ Đại,lai một Chí Phèo con xuất hiện. Điều này chứng tỏ rằng “Chí Phèo” không phải là bi kịch của một con người mà là bi kịch của người nông dân tồn tai trong lòng nông thôn trước Cách mạng tháng Tám. Mang đậm giá trị tố cáo rất cao, lên án giai cấp pk thống trị tha hoá, những bị kịch như vậy sẽ còn tiếp diễn

     

    BÀI MẪU SỐ 4:

     

    Chí Phèo là tác phẩm hay nhất của nhà văn Nam Cao viết về người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Thông qua hình tượng nhân vật Chí Phèo Nam Cao đã khắc hoạ bức chân dung của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng không lối thoát. Kết cục tha hoá lưu manh hoá là tất yếu như một sự giải thoát. Qua nhân vật Chí Phèo nhà văn đã mang đến cho người đọc những giá trị nhân văn sâu sắc mà mỗi lần gấp trang sách lại ta không thể nào quên.

     

    Chí Phèo xuất hiện lần đầu tiên trước mắt người đọc không phải bằng xương bằng thịt mà là bằng tiếng chửi “hắn vừa đi vừa chửi”. Đó là một tiếng chửi vật vã, đau đớn của một thân phận con người ít nhiều nhận thức được bi kịch của chính mình. Chí “chửi đời, chửi trời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn”. Chửi cũng là một cách để giao tiếp nhưng đớn đau thay đáp lại tiếng chửi của Chí Phèo là một sự im lặng đến rợn người. Chí đã bị đánh bật ra khỏi cái xã hội loài người. Xã hội mà dù sống trong nó Chí cũng không còn được xem là con người nữa.

     

    Lật lại trang đời của Chí, người đọc không sao cầm được nước mắt trước một hoàn cảnh đáng thương. Ngay từ khi mới ra đời Chí đã bị bỏ rơi bên cạnh chiếc lò gạch cũ giữa một cánh đồng mùa đông sương trắng. Rồi Chí được dân làng nhặt về nuôi nấng. Tuổi thơ của anh sống trong bất hạnh, tủi cực “hết lang thang đi ở cho nhà người này lại đi ở cho nhà người khác, năm 20 tuổi thì làm canh điền cho nhà Bá Kiến”. Đây là quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời của Chí, bởi đó là quãng đời lương thiện, quãng đời tuổi trẻ nhiều mộng đẹp. Chí giàu lòng tự trọng, biết ghét những gì mà người ta cho là đáng khinh. Bị con mụ chủ bắt làm điều không chính đáng, Chí vừa làm vừa run, thấy nhục hơn là thích. Chí cũng như bao con người khác, anh cũng có ước mơ giản dị:”có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc muốn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Đó chính là một ước mơ lương thiện. Nhưng đớn đau thay, cái xã hội bất lương ấy đã bóp chết cái ước mơ đó của Chí khi còn trứng nước. Một cơn ghen vu vơ của lão cáo già Bá Kiến đã đẩy anh vào cảnh tội tù. Chính nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão cáo già biến Chí Phèo từ một anh canh điền khỏe mạnh thành một kẻ lưu manh hóa, một kẻ tội đồ.

     

    Nhà tù thực dân đã vằm nát bộ mặt người của Chí, phá hủy cả nhân tính đẹp đẽ. Sau bảy tám năm ra tù Chí không còn là anh canh điền hiền lành như đất nữa. Trước mắt người đọc là một tên lưu manh với một nhân hình gớm ghiếc “cái đầu thì trọc lóc, cái mặt thì đen mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết… cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế”. Cả cái nhân tính cũng bị xã hội tàn hại. Giờ đây là Chí Phèo say, Chí Phèo với những tội ác trời không dung thứ khi hắn bỗng dưng trở thành tay sai đắc lực cho lão cáo già Bá Kiến, quay ngược lại lợi ích của dân làng Vũ Đại, đối lập với nhân dân lao động cần lao.

     

    Từ một người nông dân hiền lành lương thiện Chí trở thành thằng lưu manh “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Đáng buồn thay, mới ngày nào chính dân làng Vũ Đại nuôi Chí lớn lên trong vòng tay yêu thương vậy mà nay Chí đã quay lưng lại với chính cái nơi mà hắn được yêu thương và chở che. Từ đây Chí sống bằng rượu và máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện: “Hắn đã đập nát biết bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện”. Hắn làm những việc ấy trong lúc say ” ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say… đập đầu, rạch mặt, giết người trong lúc say để rồi say nữa say vô tận”. Chưa bao giờ hắn tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời bởi vì “những cơn say của hắn tràn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài mênh mang”. Nam Cao đã cho người đọc thấy một thực tế đau lòng về cuộc sống của nhân dân ta trước cách mạng tháng Tám. Đó chính là cuộc sống bị bóp nghẹt ước mơ và khát vọng, người nông dân bần cùng hóa dẫn đến lưu manh hóa. Một cuộc sống tối tăm không ánh sáng. Nhà văn xót thương cho nhân vật, cay đắng và đau đớn cùng nhân vật. Đây chính là vẻ đẹp của tấm lòng nhân đạo và yêu thương của nhà văn dành cho những kiếp người như Chí Phèo.

     

    Nam Cao không trách giận Chí Phèo, ngòi bút của ông dành cho nhân vật vẫn nồng nàn yêu thương. Ông phát hiện trong chiều sâu của nhân vật là bản tính tốt đẹp, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỉ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hắt hủi. Chính cuộc tình ngắn ngủi với Thị Nở trong một đêm trăng đã vô tình thắp lên ngọn lửa cuộc sống trong Chí. Lần đầu tiên trong cuộc đời Chí tỉnh dậy. Chợt nhận ra nơi căn lều ẩm thấp là ánh nắng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe được tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… Những âm thanh ấy ngày nào chả có. Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn! Chính cuộc sống đã lay động trong tiềm thức xa xôi của Chí làm sống dậy ước mơ một thời trai trẻ :”có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc muốn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Rồi cũng trong cái phút giây tỉnh táo ấy, Chí Phèo như đã thấy “tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc – cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau”. Phải chăng Chí đang hối hận và ăn năn những việc mà mình đã làm? Chẳng biết có phải hay không mà Chí thấy lòng buồn man mác. Và nếu như Thị Nở không qua, chắc là hắn đã khóc được mất.

     

    Và rồi chính bàn tay ân cần của Thị Nở cùng với tình yêu của thị đã khơi dậy trong Chí phần người. Bát cháo hành chính là liều thuốc giải độc góp phần thức tỉnh phần người trong con quỷ dữ. Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng

     

    khuâng. Hắn ăn cháo hành và lấy làm mãn nguyện vì vị ngon của nó. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời hắn được một tay người đàn bà cho. Trước đây chỉ toàn là giật cướp và dọa nạt. Thì nay chính bàn tay ân cần ấy và tình yêu ấy đã làm hắn thay đổi. Nhìn Thị hắn như muốn khóc, hắn cảm động và ngay trong chốc lát “Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền!”. Cảm giác được yêu thương và chở che đã làm Chí trỗi dậy một tình yêu cuộc sống. Đó là giây phút Chí “thèm lương thiện và khát khao làm hòa với mọi người”. Rồi đến khát vọng hạnh phúc với Thị Nở “hay là cậu sang đây ở với tớ một nhà cho nó vui”. Từ một con quỉ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí,… cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào!

     

    Nhưng, bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Cánh cửa trở về với xã hội lương thiện, xã hội loài người vừa mở ra thì cũng là lúc đóng sầm lại ngay trước mắt Chí Phèo. Thị Nở như tia chớp rạch ngang bầu trời đêm đen của Chí Phèo vừa đủ để soi lên một niềm cảm thông cũng là lúc nó tắt ngấm giữa đêm đen cuộc đời Chí. Nói xa hơn, cái xã hội thực dân nửa phong kiến đó đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Nó đã tiêu hủy và đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời.

     

    Chí Phèo tìm đến rượu nhưng rượu không phải bao giờ cũng làm cho người ta say. Càng uống Chí càng tỉnh, càng tỉnh càng nhận ra bi kịch của cuộc đời mình. Chí đau đớn khi nghe thoang thoảng mùi cháo hành rồi Chí ôm mặt khóc rưng rức. Phẫn uất, Chí xách dao đi, định đến nhà Thị Nở. Trong ý định, Chí định đến nhà đâm chết con “khọm già”, con “đĩ Nở” nhưng sự thức tỉnh ý thức về thân phận và bi kịch đã đẩy chệch hướng đi của Chí dẫn Chí đến thẳng nhà Bá Kiến. Hơn ai hết lúc này Chí hiểu ra rằng: kẻ đã làm cho mình phải mang lốt quỷ, kẻ đã làm mình ra nỗng nỗi khốn cùng này chính là Bá Kiến. Lòng căm thù đã âm ỉ bấy lâu trong con người của Chí, anh càng thấm thía tội ác kẻ đã cướp đi quyền làm người, cướp đi cả bộ mặt và linh hồn của mình. Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh, đòi quyền làm người:

     

    • Tao muốn làm người lương thiện

     

    • Ai cho tao lương thiện?

     

    Đó là những câu hỏi vút lên đầy cay đắng và không lời giải đáp. Câu hỏi chất chứa nỗi đau của một con người thấm thía được nỗi đau khôn cùng của bi kịch cá nhân. Câu hỏi đánh thẳng vào bộ mặt của xã hội bất lương. Câu hỏi như cứa vào tâm can người đọc về một thân phận con người đầy đắng cay trong xã hội cũ. Và Chí Phèo cũng đã tự kết

     

    liễu cuộc đời mình sau khi kết liễu tên cáo già Bá Kiến. Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách của nhà văn: Hãy cứu lấy con người! Hãy yêu thương con người!

     

    Chí Phèo là một kiệt tác bất hủ bởi nó chứa đựng trong đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời đại.

     

    BÀI MẪU SỐ 5:

     

    Khi Chí Phèo “Ngất ngưởng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cày ở một nước thuộc địa, bị cào xé, bị hủy hoại từ nhân tính đên nhân hình. Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa nhưng chị vẫn còn được là con người. Chí Phèo phải bán cả diện mạo và linh hồn của mình để trở thành con quỷ dữ”, (giáo sư Nguyễn Đặng Mạnh). Trong muôn vàn nỗi khốn khổ tủi nhục mà Chí đã nếm trải, không thể không chú

     

    • đến cái bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của y. Đó cũng là chủ đề xuyên suốt tạo nên giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của tác phẩm “Chí Phèo”.

     

    “Bi kịch là tình cảnh éo le đầy đau thương bế tắc chưa có lối thoát mà con người phải chịu đựng”. Hiểu theo nghĩa ấy, số phận Chí Phèo là một chuỗi dài bi kịch mà bi kịch sau bao giờ cũng đau đớn hơn bi kịch trước. Nhiều người khẳng định: Chí xuất hiện sau tiếng chửi, điều ấy đúng! Nhưng có lẽ chưa đủ Nam Cao thường giới thiệu với người đọc ở giai đoạn quan trọng nhất của số phận nhân vật. Đọc những dòng đầu tiên của tác phẩm, độc giả thấy xuất hiện một nhân vật chưa nêu tên, dường như chỉ có một hành động một cuộc độc thoại. Nhờ biện pháp nghệ thuật tăng cấp, nhờ những câu văn ngắn, nhịp văn gấp tưởng chừng như các câu văn bị xé rách, bị cắt vụn mà người đọc có cảm giác được chứng kiến tận tận mắt sự quằn quại của Chí trong cơn đau bị cự tuyệt quyền làm người. Chí chửi trời (đấng tối cao của muôn loài). Chí chửi làng “cái cộng đồng gần gũi, thiêng liêng của con người”… Nhưng không ai lên tiếng cả. Người ta không lên tiếng vì người ta không công nhận Chí là người. Cả làng Vũ Đại không ai hiểu Chí, giá có một người để chửi nhau, có lẽ Chí còn đỡ khổ. Bởi vì người ta sống – dù là để chửi nhau cũng không thể chửi một mình., Chí chỉ còn biết chửi người đẻ ra y. Chửi người đẻ ra mình thì cũng là chửi chính bản thân. Tiếng chửi của Chí thể hiện sự vật vã, dẫu là vô ý thức, để tìm ra căn nguyên của đau khổ. Nhưng khốn khổ thay, Chí càng chửi càng bế tắc. Giá như ngày ấy ở làng Vũ Đại có một người lên tiếng, cũng như sau đó, Thị Nở “không chỉ biết cho mà còn biết giữ”… Giá như… giá như… chỉ cần một lần giá như xảy ra, chỉ cần một trong hàng nghìn người ở làng Vũ Đại coi Chí là người thì tấn bi kịch của đời Chí sẽ có cơ hội không xảy ra. Nhưng chuyện gì đã xảy ra thì nó đã xảy ra… Nam Cao ngược dòng thời gian trở lại với quá khứ để dẫn dắt người đọc, giúp họ thấu hiểu quá trình bị cự tuyệt quyền làm người từ thấp đến cao của Chí, đồng thời, ông cũng chỉ rõ căn nguyên dẫn Chí đến tình trạng ấy.

     

    Chí là một “Đứa con hoang”, “một anh đi thả ống lươn (…) một buổi sáng tinh sương đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong cái váy đụp để bên một lò gạch bỏ không, anh ta rước lấy và mang cho một người đàn bà góa bụa”. Năm từ “một” tồn tại trong một câu văn dài, dường như đã báo trước cuộc đời cô độc triền miên của Chí. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời, Chí đã bị người mẹ, người đời cự tuyệt quyền làm người.

     

    Chí trở thành kẻ không cha, không mẹ; cũng may cho đời Chí, có lẽ vì lớn lên cùng với những người lao động, Chí trở thành anh canh điền khỏe mạnh, biết tự trọng, “biết không thích những cái gì mà người ta khinh”. Anh khát khao “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải”. Nhưng đời đã không dành cho Chí cái mà anh có thể với trong tầm tay.

    Một cơn ghen vu vơ của cụ Bá đã đẩy Chí vào tù. Cái thế lực phong kiến cấu kết với nhà tù thực dân tước bỏ quyền tự do của Chí gần bảy – tám năm. Đây là lần thứ hai Chí bị cự tuyệt quyền làm người. Nhà tù đã biến Chí thành con người khác. “Hắn về lần này trông khác hẳn”. Quyền làm người của Chí đã bị cự tuyệt bởi nhà tù đã cướp đi của y một phần nhân hình. Ớ tù ra trông hắn như một thằng “sắng cá” (lính tẩy), đầu trọc lốc, răng cạo trắng hớn, mặt đen lại rất “cơng cơng”, (“câng câng” thì còn ra cái mặt người?). Rồi “hắn mặc quần áo nái đen với cái áo tây vàng, cái ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm thùy trông gớm chết”. Đó là hình hài của kẻ côn đồ, hung hãn chỉ biết gây gổ, đâm chém, về làng hôm trước, hôm sau, Chí đã điên cuồng lao vào trả thù Bá Kiến bằng cách ăn vạ, chửi đổng. Nếu như trả thù là cái quyền của người có thù (Oán thì trả oán, ân thì trả ân) thì Bá Kiến đã khéo léo tước luôn quyền ấy của Chí. Không trả được thù, Chí lại từng bước trở thành tay sai cho kẻ thù, trở thành công cụ mù quáng của Bá Kiến. Hắn chỉ còn biết rạch mặt, ăn vạ để đòi tỉền, để đâm chém những ai không cùng phe cánh với cụ Bá. Từ đó, hắn chìm trong cơn say, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say và đánh nhau trong cơn say, “Hắn đã phá tan bao nhiêu gia đình, đập vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện”. Cứ như thế đời hắn trượt dài. Nhìn vào mặt hắn người ta không biết hắn bao nhiêu tuổi. Đời hắn đã xem như đời bỏ đi, nhân hình bị hủy hoại, nhân tính bị xói mòn. Cả làng Vũ Đại đều tránh mặt, mỗi lần hắn qua. Ngay bản thân hắn cũng đã quên sự có mặt của hắn ở trên đời. Có thể nói, trước khi gặp Thị Nở, Chí đã bị cự tuyệt quyền làm người đến cao độ. Nhưng có lẽ hắn không nhận ra điều ấy hoặc nhận ra một cách vô thức, không tìm thấy lối thoát, Chí đành phải dấn thân vào cuộc đời say rượu, chửi đổng, ăn vạ, đâm thuê chém mướn.

     

    Người ta sẽ đỡ khổ, nếu không biết mình sống trong cái khổ. Người ta sẽ đỡ đau đớn khi bị tước quyền làm người mà không hề hay biết. Trước khi gặp Thị Nở, Chí Phèo chưa nhận thức được tấn bi kịch của đời mình. Chí đâu có biết chính xã hội thực dân phong kiến chẳng những đã sinh ra Chí mà còn nuôi dưỡng tính côn đồ hung hãn của Chí bằng cách tước đoạt dần quyền làm người của y. Đúng lúc Chí dấn thân đến chỗ tột cùng của sự tha hóa, đúng lúc người ta tưởng Chí sẽ triền miên trong cuộc đời một con quỷ dữ thì Nam Cao đã phát hiện trong chiều sâu tâm linh của nhân vật một đốm lửa nhỏ nhoi bừng sáng. Chí ao ước trở lại làm người lương thiện. Vai trò, vị trí của Thị Nở trong tác phẩm là rất quan trọng. Con người “dở hơi, xấu ma chê quỷ hờn” lại là nguồn sáng duy nhất

     

    còn lại ở làng Vũ Đại có thể chiếu sáng cõi đời tăm tối của Chí. Cơ thể đàn bà của Thị không khơi gợi bản năng thú vật ở y. Tình thương của Thị đã gợi dậy cái tính người mà lâu nay Chí đã đánh mất. Sau cuộc tình ngắn ngủi với Thị Nở, Chí nghe được âm thanh của cuộc sống mà lâu nay hắn không để ý. Sau bao nhiêu năm, bây giờ hắn mới nghe thấy tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh ấy gợi nhớ trong Chí những ước mơ rất người đã có từ thuở xa xưa. Lần đầu tiên Chí cảm thấy buồn, rồi hắn “sợ tuổi già, đói rét, ốm đau và cô độc – cô độc còn sợ hơn đói rét và ốm đau”. Bát cháo hành của Thị Nở đã đánh thức trong Chí những tình cảm lành mạnh. Ăn cháo mà hắn thấy mắt ươn ướt. Chỉ cần một sự thương yêu – dù là tình thương yêu của kẻ dở hơi, của một người con gái quá lứa lỡ thì, có dòng giống mả hủi, cũng đủ làm sống lại bản tính người đã chết. Sức cảm háa của tình thương vô biên. Nam Cao đã thực sự hóa thân vào nhân vật để cảm thông, để chia sẻ những giây phút hạnh phúc rất người của Chí. Thế là sau hơn hai mươi năm bị cự tuyệt quyền làm người, Chí Phèo đã tự tìm cho mình con đường trở lại làm người. Chí đã tạo ra chiếc cầu nối để làm hòa với thế giới người. Chiếc cầu ấy chính là Thị Nở. Thị có thể sống chung với hắn thì làng Vũ Đại cũng có thể chấp nhận hắn. Nhưng bi kịch và đau đớn thay cho Chí, Thị Nở không thể gắn bó với Chí. Vì theo bà cô Thị, “đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà lại phải lấy một thằng không cha không mẹ chỉ biết rạch mặt ăn vạ”.

     

    Thế là một chút hạnh phúc nhỏ nhoi Chí đã có ở trong tay một lần nữa lại bị xã hội kia cướp đoạt. Thị Nở là chiếc cầu vồng sau cơn mưa. Chí đau đớn nghĩ ra rằng chẳng có chiếc cầu nào đưa Chí trở về với cuộc sống con người, xã hội đã cự tuyệt đến cao độ quyền được sống, được làm người của Chí. Không ai cho Chí làm người lương thiện kể cả khi Chí đòi làm người lương thiện. Chí không thể xóa được những vết sẹo đã vạch lên trên mặt mình. Chí đau xót cảm thấy: “Không được nữa rồi, chỉ còn cách này”. Chí còn cách chết trong, hơn sống đục. Chí đã nói câu cuối cùng với Bá Kiến và cũng là tự nói với bản thân mình. Hành động giết Bá Kiến và tự sát của Chí cho người đọc thấy cuối cùng rồi Chí cũng trả được mối thù. Nhung cái giá phải trả của Chí là quá đắt. Cái chết của Chí là lời tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội vô nhân, là lời kêu cứu khẩn thiết về quyền con người. Chí chết, mồm ngáp ngáp trong vũng máu, nhưng Chí không tuyệt tự. Sức sống, sức mở và giá trị điển hình của nhân vật này là vô biên. Chí không chỉ đại diện cho nỗi khổ của người nông dân thời kì nước ta còn sống trong vòng nô lệ. Chí còn đại diện cho cái phần khùng điên khuất tối mà sinh ra trên cõi đời này, ai cũng có thể có, nếu không biết tự kiềm chế và nếu bị các thế lực hắc ám “nuôi dưỡng”.

     

    Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí do nhiều căn nguyên. Có căn nguyên từ xã hội và cũng có căn nguyên từ bản thân Chí. Khi quyền con người còn bị xúc phạm thì bi kịch của đời Chí Phèo còn được nhắc đến như một nỗi đau của toàn nhân loại.

     

     

     

    BÀI MẪU SỐ 6:

     

    Tuy chỉ thực sự viết văn hơn mười năm, Nam Cao đã để lại khá nhiều sáng tác văn xuôi giá trị: hơn 60 truyện ngắn, một truyện vừa, một tiếu thuyết và vài vở kịch. Truyện của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám nêu bật nỗi băn khoăn đau đớn trước tình trạng con người bị hủy hoại dần mòn về nhân phẩm do cuộc sống nghèo đói, bế tắc. Bên cạnh đề tài về người trí thức nghèo, hình ảnh người nông dân bị áp bức, thậm chí bị lưu manh hóa do tội ác của bọn cường hào, địa chủ đã được thể hiện thật sâu sắc trong một truyện ngắn nổi tiêng của ông: Chí Phèo.

     

    Ngay từ khi ra đời, Chí Phèo là một đứa con hoang, bị bỏ rơi trong một lò gạch cũ. Được dân làng nuôi, Chí Phèo lớn lên như cây cỏ. tuổi thơ hết di ở nhà này lại di ở nhà nọ, tuổi thanh niên ra sức làm thân trâu ngựa cho nhà lí Kiến. Vì một chuyện ngờ ghen vỞ vẩn, lí Kiên đã nhẫn tâm đẩy Chí Phèo vào tù. Sau bảy, tám nám biệt tích, trơ về làng, Chí Phèo đã hoàn toàn biên đổi. Ngoại hình thật kinh tớm, cái dầu thì trọc lốc, cái răng cạo tráng hớn, cái mặt thì đen mà rất cong cơng, hai mất gườm gườm trông gớm chết!

     

    Chí Phèo chuyên dập đầu, rạch mật và đâm chém người cho nôn cái mật hấn vàng vàng mà lại muốn xạm màu gi, nó vằn dọc vần ngang, không thứ tự, biết bao nhiêu là sẹo.

     

    Người cô nông ấy hoàn toàn bị tước đoạt nhân hình, biến thành một loại nứa người nửa vật:… nó không còn phải là mặt người: nó là mặt một con vật lạ.

     

    Từ lúc trở về làng, Chí Phèo hoàn toàn bị tha hóa, hành động như người mất trí. Bao nhiêu việc ức hiếp pha phách, dâm chém, mưu hại, ngươi ta giao cho hắn làm! Trong cơn say, Chí Phèo hành động tàn bạo như một con quỉ dữ, hoàn toàn mất nhân tính. Những còn say của hán tràn cơn này sang cơn khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn

     

    trong lúc say,… uống rượu trong lúc say, để rồi say nữa, say vô tận (…) Hắn biết dâu hắn đã phá hao nhiêu cơ nghiệp, dập nát hao nhiêu cảnh yên vui, dạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện.

     

    Trong tâm hồn tưởng chừng như chai đá, thậm chí bị hủy hoại hoàn toàn của Chí Phèo, bản chất lương thiện ngày thường bị lấp đi vẫn lo lói một ánh sáng lương tri, sẽ bừng sáng khi gặp cơ hội. Lúc được thị Nở chăm sóc, Chí Phèo rất ngạc nhiên vì xưa nay, nào hắn có thấy ai tự nhiên cho cái gì. Hắn vẫn phải dọa nạt hay là giật cướp mới có.

     

    Tình cảm chân thật của thị Nở đã khơi dậy ý thức và lương tâm cứa Chi Phèo. Từ lúc này, anh mới ý thức được tình trạng tha hóa và bi kịch bắt đầu diễn ra trong đời sống nội tâm của anh.

     

    Sau khi được thị Nở chăm sóc, lần đầu tiên khi tỉnh giác, Chí Phèo bâng khuâng nghe tiêng chim hót, tiếng cười nói của những người di chợ thì niềm ao ước có một gia đình nho nhỏ bừng lôn. Hắn có thể t’wi bạn dược, sao lại chỉ gây kẻ thù?

     

    Bản chất tốt đẹp của người lao động tỉnh thức trong lòng anh: Trời ơi! Hán thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! (…) Họ sẽ lại nhận hấn vào cái xã hôi bàng phảng, thăn thiện của những người lương thiện…

     

    Chí Phèo tha thiết muôn trở về với mọi người, nhưng tất cả làng Vũ Đại đều sợ hãi xa lánh anh. Thị Nở lại “cắt dứt” với Chí Phèo. Anh lại rơi vào tình thế hoàn toàn tuyệt vọng: sông lương thiện thì không được chấp nhận, làm lưu manh như cũ thì không thể và cũng không muôn.

     

    Những lời lẽ cuối cùng của Chí Phèo bộc lộ tất cả bi kịch nội tâm đó: Tao muốn làm người lương thiện (…) Không dược! Ai cho tao lương thiện? Làm thê nào cho mất dược những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện dược nữa. Biết không!

     

    Chí Phèo đã đâm chết bá Kiên, kẻ đã gây ra bi kịch đời anh, rồi tự sát.

     

    Nhân vật Chí Phèo được xây dựng thành công: vừa có nét khái quát, vừa có cá tính. Người cố nông đó đã bị hủy hoại thân hình vừa bị tước đoạt cả nhân tính. Nhân vật được miêu tả sâu sắc từ chân dung đến tính cách, từ bộ mặt đến những diễn biên tâm lí, bằng biện pháp nghệ thuật miêu tả độc đáo.

     

    Tác phẩm Chí Phèo mang giá trị nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc, thể hiện ở tấm lòng yêu thương, trân trọng của Nam Cao đối với những người khôn khổ, tác gia phát hiện những phần sâu kín nhất trong tâm hổn họ những gì còn lại của tinh người, lòng khát khao hạnh phúc, được yêu thương, nhất là quyền được làm người lương thiện.

     

    Chí Phèo là tiếng kêu cứu thiết tha của những người bất hạnh: hãy bảo vệ và đấu tranh cho quyền được làm người của những con người lương thiện, đê họ được sông hạnh phúc, không còn những thế lực đen tối của xã hội, đẩy họ vào chỗ mất cả nhân hình lẫn nhân tính, đầy bi kịch xót xa…

     

    BÀI MẪU SỐ 7:

     

    Trong đề tài viết về người nông dân,Nam Cao là người đến muộn, trước đó đã sừng sững những Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Vũ Trọng Phụng. Sẽ tiếp tục thu hoạch gì đây trên mảnh đất đã được nhiều người cày xới? Thử thách ấy được đặt ra khá gay gắt với Nam Cao. Nhưng với một cảm quan hiện thực sắc sảo,với một tấm lòng nhân đạo cao đẹp và tài năng nghệ thuật độc đáo, Nam Cao đã vượt qua những thử thách ấy và để lại cho đời những áng văn bất hủ. Viết về đề tài nông thôn và người nông dân, ngòi bút Nam Cao đã đi sâu vào những xác xơ nghèo đói cùng thân phận bi kịch của những con người dưới đáy xã hội. Từ những trang viết của Nam Cao, hiện lên hình ảnh nông thôn Việt Nam những năm cuối cùng của chế độ thuộc địa tiêu điều, heo hút. Trong xã hội đó giai cấp thống trị tác oai, tác quái và những người nông dân bị đẩy vào ngõ cụt không lối thoát. Truyện ngắn Chí Phèo tiêu biểu cho các đặc điểm đó trong những sáng tác của nam cao. Nhân vật Chí Phèo đã trở thành một hình tượng nghệ thuật bất hủ không chỉ trong nền văn học dân tộc mà cả trong nền văn học nhân loại của thế kỉ XX.

     

    Chí Phèo sinh ra trong đói nghèo,cô độc, tủi nhục. Chết đi cũng trong tủi nhục,cô độc và đói nghèo. Trong làng Vũ Đại,Chí Phèo là một thằng cùng hơn cả dân cùng: không cha, không mẹ, không nhà cửa, không thân thích họ hàng. Cả cuộc đới hắn chưa bao giờ được chăm sóc bởi bàn tay của một người đàn bà. Người nhặt hắn về là một anh đi thả ống lươn, nuôi hắn là một bác phó cối không con. Đến nỗi ước mong chung sống với một người đàn bà xấu ma chê quỷ hờn như Thị Nở cũng không được chấp nhận.

     

    Mở đầu tác phẩm, Chí Phèo xuất hiện với những tiếng chửi. Chí chứi trời tức là đối lập với tạo hóa, Chí chửi đời tức là đối lập với cả xã hội. Đau đớn hơn, Chí “nghiến răng vào mà chửi cái đứa chết mẹ nào đã đẻ ra Chí Phèo”, điều ấy có nghĩa là Chí đối lập với chính nguồn gốc của mình. Trong tiếng chửi ấy, hiện lên một con người cô độc tuyệt đối. Giữa lúc đó, tiếng chó sủa xuất hiện, dường như Chí chỉ còn mối liên hệ với loài vật. Trong không khí vắng lặng của làng Vũ Đại, chốc chốc lại vang lên tiếng chửi của Chí Phèo, tiếng chó sủa đáp lại và thỉnh thoảng lại ồn lên tiếng gào thét rạch mặt ăn vạ rồi sau đó tất cả lại rơi vào tõm vào im lặng. Như thế Chí Phèo sinh ra để mà bị người ta khinh rẻ, bị quăng khỏi cuộ sống chỉ trông mong vào lòng trắc ẩn của kẻ qua đường. Rồi Chì tồn tại cũng trong sự khinh rẻ và ghê sợ của mọi người. Không có gì đau xót hơn khi Chí Phèo chết mà người ta mừng. Quả thật số phận khốn khổ ấy của Chí Phèo là số phận của lớp người dưới đáy xã hội.

     

    Hình tượng Chí Phèo vô cùng độc đáo nhưng không phải là ngẫu nhiên và cá biệt. Thông qua hình tượng nhân vật này, Nam Cao đã khái quát lên quy luật hủy hoại con người ghê gớm của xã hội cũ. Con quỷ dữ này cũng từng có một thời là người hiền lành, lương thiện. Từ tuổi bơ vơ, hết đi ở nhà này lại đến ở cho nhà khác, đến tuổi thanh niên, làm canh điền cho Lý Kiến, Chí Phèo sống cuộc sống lao động cực khổ của người cố

     

    nông Việt Nam trước Cách mạng. Anh nông dân hiền lành ấy đã từng mơ ước một cuộc sống hạnh phúc giản dị. Tuy còn trẻ nhưng anh đã phân biệt được tình yêu chân chính với thói dâm dục xấu xa. Thế nhưng bản chất trong sáng, lương thiện của người nông dân trong Chí Phèo đã bị bọn cường hào và nhà tù thực dân hợp sức bóp chết.

     

    Trở về làng trần trụi giữa bầy sói, Chí Phèo không thể hiền lành mà muốn sống thì phải cướp giật, ăn vạ, phải đâm chém. Muốn thế phải liều lĩnh, phải có gan. Những thứ ấy Chí Phèo tìm ở rượu. Rồi Chí luôn say, mà đã say thì hắn làm bất cứ điều gì người ta sai hắn làm. Chí Phèo đã gây tội ác trong khi say một cách vô ý thức. Linh hồn của y đã bán cho quỷ dữ mất rồi. Chí Phèo là người đau khổ tủi nhục nhất trên đời. Chị Dậu của Ngô Tất Tố phải dứt ruột để bán con nhưng chị còn có gia đình, còn có tổ ấm để mà tồn tại. Chí Phèo không có gì đành phải bán cái nhân tính của mình để mà sống. Mà Chí lại bán rất rẻ mạt. Mỗi lần chỉ 5 hào bạc để uống rượu mà thôi. Vì bán nhân phẩm như thế Chí Phèo đã bị tha hóa. Đáng lẽ phải đứng về hàng ngũ những người lương thiện, thì Chí lại trơ thành mối đe dọa của họ; đáng lẽ phải đối đầu vơi Bá Kiến thì Chí lại trở thành chỗ đầy tớ chân tay tin cậy của y.

     

    Qua đó Nam cao đã vạch trần một quy luật đau xót, nghiệt ngã của chế độ cũ: gặp phải kẻ thù xảo quyệt, nếu không tỉnh táo thì con người lương thiện bị biến thành đối ngược với đồng loại của mình. Người đọc khó có thể quên cái dáng đi ngất ngưỡng, cái bộ mặt cương cương, vằn ngang, vằn dọc và “đôi mắt gườm gườm trông gớm chết” của Chí Phèo. Cái xã hội tàn nhẫn ấy đã hủy hoại một cách sâu sắc và toàn diện con người chí Phèo.

     

    Sự xuất hiện của Thị Nở đã chia đôi cuộc đời Chí Phèo: Ở chặng đầu Chí bị tha hóa mà không biết. Gặp Thị Nở rồi, Chí bắt đầu có ý thức về sự tha hóa, về việc trượt quá xa loài người của mình. Lúc này, bi kịch tinh thần ở Chí mới xuất hiện. Cuộc gặp gỡ đã lóe sáng như một tia chớp trong chuỗi ngày tăm tối giằng giặc của Chí Phèo. Thị Nỏ với một tình yêu thô lỗ nhưng rất chân thành đã gợi lên bản chất con người vốn từ lâu bị vùi lấp trong lòng Chí. Từ đây mà Chí Phèo mới biết có một người thương mình. Lần đầu tiên trong đời, Chí mới được ăn một bát cháo hành tử tế do người khác đem cho chứ không phải vì cướp giật. Bát cháo hành ấy mang hương thơm chân thành của tình yêu. Nó gợi lại bao ước mơ thầm kín trong Chí Phèo ngày xưa để có một buổi sáng trong đời thật là cảm động.Nam Cao đã phát hiện ở những con người như Chí Phèo một tâm hồn thi sỹ. Những âm thanh hết sức bình thường của cuộc đời ngày nào cũng có, thế mà như lần đầu tiên Chí mới nghe thấy. Ước mơ trở lại với xã hội loài người của Chí lúc này thật mộc mạc và đáng nâng niu. Thị Nở không chỉ là người yêu mà còn là con đường sống của Chí Phèo: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao!” Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không

     

    thể được. Họ sẽ lại nhận hắn vào cái xã hội bằng phẳng, lương thiện của những người lương thiện.

     

    Nhưng cái tia chớp lóe lên thật ngắn ngủi rồi tắt ngấm. Nỗi đau xót ở chí Phèo là ước mơ trở lại làm người không được chấp nhận. Lúc thị Nở trở mặt, ban đầu Chí không hiểu nổi vì quá tin, vì đang say với tình yêu, say với ước mơ trở lại làm người. Khi hiểu ra rồi, Chí Phèo lại tìm đến rượu, nhưng lúc này y càng uống càng tỉnh.cái phản ứng sinh lí do rượu gây ra không lấn át nổi sự chấn động mạnh mẻ về tâm lí lúc này. Đó chính là chỗ sâu sắc nhất của ngòi bút Nam Cao khi miêu tả nỗi đau đớn tinh thần ở con người khốn khổ này. Bề ngoài là thị Nở và bà cô từ chối Chí Phèo nhưng thực chất là Chí Phèo đã bị cả xã hội cự tuyệt. Ai mà tin được Chí Phèo – con người có cái lí lịch gớm ghiếc đến như vậy, con người chỉ có độc một nghề là rạch mặt ăn vạ lại có thể thành người lương thiện được. Cái xã hội tàn nhẫn ấy đã đẩy Chí Phèo ra ngoài lề cuộc sống, giờ đây lại chặn đứng Chí Phèo lại ngay trên ngưỡng cửa Chí Phèo trở về làm người lương thiện, ngay khi Chí Phèo đang háo hức gia nhập lại xã hội loài người. Đó chính là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người – bi kịch xót xa, đau đớn nhất của Chí Phèo.

     

    Kết thúc tác phẩm, Chí Phèo đẫ tìm đến tiêu diệt kẻ thù truyền kiếp của mình và tự kết liễu cuộc đời. Hành động ấy là tất yếu khi con người đứng trước một tình thế tuyệt vọng. Không muốn tiếp tục làm quỷ dữ cũng không thể làm người lương thiện, Chí Phèo chỉ còn cách tìm đến cái chết. Vì chỉ có cái chết mới giải thoát cho Chí Phèo khỏi cái bi kịch đau đớn của đời mình. Cái chết của Chí Phèo là lời tố cáo đanh thép nhất đối với xã hội đương thời. Đồng thời khi thể hiện cái chết ấy, Nam Cao cũng bộc lộ phần hạn chế trong tư tưởng của mình. Đó là hạn chế về thế giới quan của nhà văn, điều đó cũng có nghĩa bản thân nhà văn Nam Cao cũng tột cùng bế tắc trong thời kì trước Cách mạng tháng Tám.

     

    Thông qua số phận bi thảm của Chí Phèo, nhà văn Nam Cao đã lên tiếng tố cáo mãnh liệt cả guồng máy xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời đã đè nghiến, hủy hoại con người một cách triệt để. Đồng thời qua Chí Phèo, nhà văn cũng bộc lộ một chủ nghĩa nhân đạo sâu sắc khi đồng cảm với bi kịch đau xót ở lớp người như Chí, khi nhìn thấy tia sáng lương thiện hồi sinh ở nhân vật này. “Chí Phèo” xứng đáng là hình tượng văn học bất hủ, vô cùng độc đáo và có ý nghĩa khái quát sâu rộng này./.

     

    BÀI MẪU SỐ 8:

     

    Chí Phèo vốn là đứa trẻ mồ côi được nuôi nấng trong vòng tay của những người nông dân lương thiện làng Vũ Đại. Năm 20 tuổi Chí làm canh điều khỏe mạnh cho nhà Lý Kiến. Khỏe mạnh nhưng hắn hiền như cục đất, thậm chí còn chăm. Chí cũng từng có một ước mơ giản dị và lương thiện như trăm người dân khác: một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, bỏ một con lợn làm vốn liếng, khá giả thì mua 5 – 3 sào ruộng làm. Chí còn là một người biết tự trọng.

     

    Vì tự trọng, anh nông dân ấy chỉ thấy nhục khi bị bà ba Bá Kiến sai làm những việc làm không chính đáng – làm canh điền cho nhà Bá Kiến là khẳng định quá trình tha hóa của Chí Phèo mà người tiếp tục là sự dâm ô của bà ba và thói ghen tuông xấu xa của Bá Kiến. Vì sự ích kỉ của mình, Bá Kiến sẵng sàng hủy hoại cuộc đời người khác đẩy Chí Phèo vào tù. Nhà tù thực dân lại là môi trường thuận lợi biến Chí Phèo từ người nông dân lương thiện thành lưu manh Sau 7,8 năm Chí Phèo ra tù với hình hài của một thằng lưu manh ( cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất câng câng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết…). Đó là sự tha hóa về nhân hình. Về nhân tính, Chí không còn hiền như đất mà hung hăng liều lĩnh. Hắn về hôm trước hôm sau đã thấy ngồi uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều. Rồi say khướt, hắn xách một cái vỏ chai đến cửa nhà Bá Kiến gọi tận tên tục ra mà chửi. Rồi Chí Phèo đánh nhau với Lý Cường, đập cái chai vào cột cổng, lăn lộn dưới đất, vừa kêu vừa lấy mấy mảnh chai cào vào mặt

     

    Hình tượng nhân vật Chí phèo được khắc họa sinh động

     

    Không may cho hắn, cái mãnh lực đen tối tiềm tàng trong hắn đã gặp phải tên cáo già xảo quyệt là Bá Kiến, như lửa to gặp gió lớn, càng tác oai tác quái nhiều ngườ hơn. Bá Kiến biết rằng với thằng hiền phải bóp cho ra bùn còn với hạng lưu manh côn đồ phải biến nó thành tay sai của mình. Bằng những đồng tiền lẻ, thủ đoạn: “trị không được thì dùng” Bá Kiến đã buộc Chí Phèo phải bán dần bán lẻ thể xác và linh hồn. Kể từ đó Chí Phèo triền miên trong những cơn say và hắn say thì hắn làm bất cứ những gì người ta sai hắn làm. Hắn đã phá biết bao cơ nghiệp, phá nát làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện để rồi hắn trở thành con quỷ dữ trong mắt của người dân làng Vũ Đại. Cái mặt của Chí không còn phải là mặt người, nó là mặt của con vật lạ. Nó vằn dọc vằn ngang không thứ tự biết bao nhiêu là vết sẹo. Dù vậy hình tượng của Chí không phải ngẫu nhiên cá biệt. Trước hắn đã có Năm Thọ, Bính Chức và biết đâu chẳng có một Chí Phèo con lại bước ra từ một cái lò gạch cũ mà truyện ngắn đã thoáng hình dung nối nghiệp bố? Trong một số truyện ngắn khác, Nam Cao cũng xây dựng những nhân vật tương tự: Trạch Văn Đoành ( Đôi móng giò), Cu Lộ (Tư cách mõ), Đức ( nửa đêm) Qua Chí Phèo, Nam Cao đã khẳng định một sự thật đau đớn ở làng quê Việt Nam trước cách mạng: hình tượng người dân lương thiện bị chà đạp về tinh thần và thể xác bị xã hội phi nhân tính cướp đi cả hình hài lẫn tính người. Nhân vật không chỉ vạch khổ cho người

     

    nông dân bị áp bức, bóc lột mà từ hình tượng nhân vật gián tiếp lên án, tố cáo các thế lực thống trị

     

    * Hồi sinh

     

    Vẽ nên hình ảnh người nông dân lưu manh đầy thú tính, Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân, trái lại nhà văn đã phát hiện và khẳng định phẩm chất tốt đẹp của những người này ngay cả khi tưởng chừng họ đã bị biến thành thú vật. Cuộc gặp gỡ với Thị Nở đã thức tỉnh phần người bấy lâu nay bị vùi lấp ở Chí để hắn trở về với cuộc sống kiếp người một cách tự nhiên. Chính sự quan tâm chăm sóc của Thị đã giúp Chí Phèo cởi bỏ cái vẻ giận dữ để sống lại là người, khao khát hoàn lương, lương thiện

     

    * Tỉnh rượu

     

    Buổi sáng đầu tiên sau đêm bị cảm ở bờ sông lần đầu tiên Chí Phèo tỉnh rượu: Lần đầu tiên hắn nhận thức về cái không gian của mình- một căn lều : “ở đây người ta thấy cùng lúc xế và gặp đêm khi trong vẫn sáng. Đó là lần đầu tiên sau bao nhiêu năm u mê, hắn lắng nghe những âm thanh hàng ngày của cuộc sống: tiếng chim hót ngoài kia nghe vui quá ! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chèo gõ mái chèo đuổi cả. Những âm thanh ấy hôm nào chẳng có, nhưng hôm nay những âm thanh ấy vang động sâu xa trong lòng Chí như một tiếng gọi tha thiết của cuộc sống văng đến đôi tai lần đầu tiên tỉnh táo của anh. Chí không chỉ nghe thấy mà còn cảm nhận cuộc sống” vui vẻ quá và hình dung phán đoán “ một người đàn bà hỏi một người đàn bà khác đi bán vải ở Nam Định về”. Lòng Chí buâng khuâng, Chí chỉ nhận thức được tâm trạng của chính mình, thấy “lòng mơ hồ buồn”

     

    * Tỉnh ngộ

     

    Ngay khi tỉnh táo cũng là lúc Chí Phèo nhìn lại cuộc sống của mình cả trong quá khứ, hiện tại và tương lai. Hắn nao nao buồn nhớ về những ngày rất xa xôi, nhớ một thời hắn từng mơ ước có một gia đình nho nhỏ. Còn hiện tại, Chí thấy hiện tại của mình thật đáng buồn bởi hắn thấy hắn già và vẫn còn cô độc, hắn đã tới cái dốc bên kia của cuộc đời và cơ thể thì đã hư hỏng nhiều. Tương lai, đối với Chí còn đáng buồn hơn: tuổi già, đói rét,và ốm đau, cô độc Như vậy, với sự trở lại của khả năng nhận thức, ngoại giới và nhận thức chính mình cùng những tình cảm, cảm xúc,rất người Chí đang thức tỉnh và bắt đầu hồi sinh để trở thành kiếp người. Động lực thúc đẩy ở đây là sự chăm sóc của Thị Nở thể hiện qua bát cháo hành. Bát cháo ấy có gì đâu: chút hành, chút muối và hạt gạo nhưng nó là tất cả tấm lòng của Thị Nở, tấm lòng của người đàn bà giản dị mộc mạc đầy nhân nghĩa kề bát cháo hành lên miệng Chí Phèo đã khóc. Nam Cao đã miêu tả bằng những câu văn tưởng như lạnh lùng dửng dưng mà chan chán tình thương “ thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên hắn thấy mắt hình như ươn ướt”. Nam Cao là nhà văn luôn đề cao giọt nước mắt. Với Nam Cao, nước mắt là biểu hiện của tính người – sự thức tỉnh trong các nhân vật của Nam Cao bao giờ cũng cùng với những giọt nước mắt và bằng những

     

    giọt nước mắt. Sống trong xã hội làng Vũ Đại cạn kiệt tình người, những tưởng nước mắt trong Chí Phèo đã khô cạn. Nhưng không, sâu thẳm song lòng Chí, nước mắt vẫn chảy, chảy lên lời, âm thầm và trong suốt. Đây cũng là sự cắt những của Nam Cao. Tình người có khả năng hồi sinh TÍNH NGƯỜI trong tâm chí. Hành động chăm sóc đầy yêu thương của Thị Nở đã khiến Chí phải ăn năn, “thấy lòng thành trẻ con và muốn làm lũng với Thị như với mẹ” Cùng với mong ước cháy bỏng được làm người lương thiện, Chí khát khao hạnh phúc và một mái ấm gia đình. Chí đã nói với Thị những lời thể hiện sự khao khát: “ Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ”, “hay là mình sang đây ở với tớ một nhà cho vui” Nam Cao khẳng định so sánh bất diệt của thiên lương, mang đến cho chúng ta niềm tin vào người, tin vào phẩm chất tốt đẹp của mỗi người.

     

    BÀI MẪU SỐ 9:

     

    Chí Phèo là tác phẩm hay nhất của nhà văn Nam Cao viết về người nông dân trước cách mạng tháng Tám. Thông qua hình tượng nhân vật Chí Phèo Nam Cao đã khắc hoạ bức chân dung của người nông dân bị đẩy vào bước đường cùng không lối thoát. Kết cục tha hoá lưu manh hoá là tất yếu như một sự giải thoát. Qua nhân vật Chí Phèo nhà văn đã mang đến cho người đọc những giá trị nhân văn sâu sắc mà mỗi lần gấp trang sách lại ta không thể nào quên.

     

    Chí Phèo xuất hiện lần đầu tiên trước mắt người đọc không phải bằng xương bằng thịt mà là bằng tiếng chửi “hắn vừa đi vừa chửi”. Đó là một tiếng chửi vật vã, đau đớn của một thân phận con người ít nhiều nhận thức được bi kịch của chính mình. Chí “chửi đời, chửi trời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi cha đứa nào không chửi nhau với hắn”. Chửi cũng là một cách để giao tiếp nhưng đớn đau thay đáp lại tiếng chửi của Chí Phèo là một sự im lặng đến rợn người. Chí đã bị đánh bật ra khỏi cái xã hội loài người. Xã hội mà dù sống trong nó Chí cũng không còn được xem là con người nữa.

     

    Lật lại trang đời của Chí, người đọc không sao cầm được nước mắt trước một hoàn cảnh đáng thương. Ngay từ khi mới ra đời Chí đã bị bỏ rơi bên cạnh chiếc lò gạch cũ giữa một cánh đồng mùa đông sương trắng. Rồi Chí được dân làng nhặt về nuôi nấng. Tuổi thơ của anh sống trong bất hạnh, tủi cực “hết lang thang đi ở cho nhà người này lại đi ở cho nhà người khác, năm 20 tuổi thì làm canh điền cho nhà Bá Kiến”. Đây là quãng thời gian đẹp nhất trong cuộc đời của Chí, bởi đó là quãng đời lương thiện, quãng đời tuổi trẻ nhiều mộng đẹp. Chí giàu lòng tự trọng, biết ghét những gì mà người ta cho là đáng khinh. Bị con mụ chủ bắt làm điều không chính đáng, Chí vừa làm vừa run, thấy nhục hơn là thích. Chí cũng như bao con người khác, anh cũng có ước mơ giản dị:”có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc muốn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Đó chính là một ước mơ lương thiện. Nhưng đớn đau thay, cái xã hội bất lương ấy đã bóp chết cái ước mơ đó của Chí khi còn trứng nước. Một cơn ghen vu vơ của lão cáo già Bá Kiến đã đẩy anh vào cảnh tội tù. Chính nhà tù thực dân đã tiếp tay cho lão cáo già biến Chí Phèo từ một anh canh điền khỏe mạnh thành một kẻ lưu manh hóa, một kẻ tội đồ.

     

    Nhà tù thực dân đã vằm nát bộ mặt người của Chí, phá hủy cả nhân tính đẹp đẽ. Sau bảy tám năm ra tù Chí không còn là anh canh điền hiền lành như đất nữa. Trước mắt người đọc là một tên lưu manh với một nhân hình gớm ghiếc “cái đầu thì trọc lóc, cái mặt thì đen mà lại rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết… cái ngực phanh, đầy những nét chạm trổ rồng phượng với một ông tướng cầm chuỳ, cả hai cánh tay cũng thế”. Cả cái nhân tính cũng bị xã hội tàn hại. Giờ đây là Chí Phèo say, Chí Phèo với những tội ác trời không dung thứ khi hắn bỗng dưng trở thành tay sai đắc lực cho lão cáo già Bá Kiến, quay ngược lại lợi ích của dân làng Vũ Đại, đối lập với nhân dân lao động cần lao.

     

    Từ một người nông dân hiền lành lương thiện Chí trở thành thằng lưu manh “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”. Đáng buồn thay, mới ngày nào chính dân làng Vũ Đại nuôi Chí lớn lên trong vòng tay yêu thương vậy mà nay Chí đã quay lưng lại với chính cái nơi mà hắn được yêu thương và chở che. Từ đây Chí sống bằng rượu và máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện: “Hắn đã đập nát biết bao nhiêu cảnh yên vui, làm chảy máu và nước mắt của biết bao nhiêu người dân lương thiện”. Hắn làm những việc ấy trong lúc say ” ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say… đập đầu, rạch mặt, giết người trong lúc say để rồi say nữa say vô tận”. Chưa bao giờ hắn tỉnh để thấy mình tồn tại trên đời bởi vì “những cơn say của hắn tràn từ cơn này sang cơn khác thành những cơn dài mênh mang”. Nam Cao đã cho người đọc thấy một thực tế đau lòng về cuộc sống của nhân dân ta trước cách mạng tháng Tám. Đó chính là cuộc sống bị bóp nghẹt ước mơ và khát vọng, người nông dân bần cùng hóa dẫn đến lưu manh hóa. Một cuộc sống tối tăm không ánh sáng. Nhà văn xót thương cho nhân vật, cay đắng và đau đớn cùng nhân vật. Đây chính là vẻ đẹp của tấm lòng nhân đạo và yêu thương của nhà văn dành cho những kiếp người như Chí Phèo.

     

    Nam Cao không trách giận Chí Phèo, ngòi bút của ông dành cho nhân vật vẫn nồng nàn yêu thương. Ông phát hiện trong chiều sâu của nhân vật là bản tính tốt đẹp, chỉ cần chút tình thương chạm khẽ vào là có thể sống dậy mãnh liệt, tha thiết. Sự xuất hiện của nhân vật Thị Nở trong tác phẩm có một ý nghĩa thật đặc sắc. Con người xấu đến “ma chê quỉ hờn”, kỳ diệu thay, lại là nguồn ánh sáng duy nhất đã rọi vào chốn tối tăm của tâm hồn Chí Phèo thức tỉnh, gợi dậy bản tính người nơi Chí Phèo, thắp sáng một trái tim đã ngủ mê qua bao ngày tháng bị dập vùi, hắt hủi. Chính cuộc tình ngắn ngủi với Thị Nở trong một đêm trăng đã vô tình thắp lên ngọn lửa cuộc sống trong Chí. Lần đầu tiên trong cuộc đời Chí tỉnh dậy. Chợt nhận ra nơi căn lều ẩm thấp là ánh nắng ngoài kia rực rỡ biết bao, nghe được tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá, tiếng anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá trên sông, tiếng lao xao của người đi chợ bán vải… Những âm thanh ấy ngày nào chả có. Nhưng hôm nay Chí mới nghe thấy. Chao ôi là buồn! Chính cuộc sống đã lay động trong tiềm thức xa xôi của Chí làm sống dậy ước mơ một thời trai trẻ :”có một gia đình nho nhỏ. Chồng cuốc muốn cày thuê, vợ dệt vải. Chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Rồi cũng trong cái phút giây tỉnh táo ấy, Chí Phèo như đã thấy “tuổi già của hắn, đói rét, ốm đau và cô độc – cái này còn sợ hơn đói rét và ốm đau”. Phải chăng Chí đang hối hận và ăn năn những việc mà mình đã làm? Chẳng biết có phải hay không mà Chí thấy lòng buồn man mác. Và nếu như Thị Nở không qua, chắc là hắn đã khóc được mất.

     

    Và rồi chính bàn tay ân cần của Thị Nở cùng với tình yêu của thị đã khơi dậy trong Chí phần người. Bát cháo hành chính là liều thuốc giải độc góp phần thức tỉnh phần người trong con quỷ dữ. Nhìn bát cháo bốc khói mà lòng Chí Phèo xao xuyến bâng

     

    khuâng. Hắn ăn cháo hành và lấy làm mãn nguyện vì vị ngon của nó. Có lẽ đây là lần đầu tiên trong đời hắn được một tay người đàn bà cho. Trước đây chỉ toàn là giật cướp và dọa nạt. Thì nay chính bàn tay ân cần ấy và tình yêu ấy đã làm hắn thay đổi. Nhìn Thị hắn như muốn khóc, hắn cảm động và ngay trong chốc lát “Hắn cảm thấy lòng thành trẻ con, hắn muốn làm nũng với thị như làm nũng với mẹ… Ôi sao mà hắn hiền!”. Cảm giác được yêu thương và chở che đã làm Chí trỗi dậy một tình yêu cuộc sống. Đó là giây phút Chí “thèm lương thiện và khát khao làm hòa với mọi người”. Rồi đến khát vọng hạnh phúc với Thị Nở “hay là cậu sang đây ở với tớ một nhà cho nó vui”. Từ một con quỉ dữ, nhờ Thị Nở, đúng hơn nhờ tình thương của Thị Nở, Chí thực sự được trở lại làm người, với tất cả những năng lực vốn có. Một chút tình thương, dù là tình thương của một con người dở hơi, bệnh hoạn, thô kệch, xấu xí,… cũng đủ để làm sống dậy cả một bản tính người nơi Chí Phèo. Thế mới biết sức cảm hóa của tình thương kỳ diệu biết nhường nào!

     

    Nhưng, bi kịch và đau đớn thay, rốt cuộc thì ngay Thị Nở cũng không thể gắn bó với Chí Phèo. Chút hạnh phúc nhỏ nhoi cuối cùng vẫn không đến được với Chí Phèo. Và thật là khắc nghiệt, khi bản tính người nơi Chí Phèo trỗi dậy, cũng là lúc Chí Phèo hiểu rằng mình không còn trở về với lương thiện được nữa. Cánh cửa trở về với xã hội lương thiện, xã hội loài người vừa mở ra thì cũng là lúc đóng sầm lại ngay trước mắt Chí Phèo. Thị Nở như tia chớp rạch ngang bầu trời đêm đen của Chí Phèo vừa đủ để soi lên một niềm cảm thông cũng là lúc nó tắt ngấm giữa đêm đen cuộc đời Chí. Nói xa hơn, cái xã hội thực dân nửa phong kiến đó đã cướp đi của Chí quyền làm người và vĩnh viễn không trả lại. Nó đã tiêu hủy và đã bẻ gãy chiếc cầu nối Chí với cuộc đời.

     

    Chí Phèo tìm đến rượu nhưng rượu không phải bao giờ cũng làm cho người ta say. Càng uống Chí càng tỉnh, càng tỉnh càng nhận ra bi kịch của cuộc đời mình. Chí đau đớn khi nghe thoang thoảng mùi cháo hành rồi Chí ôm mặt khóc rưng rức. Phẫn uất, Chí xách dao đi, định đến nhà Thị Nở. Trong ý định, Chí định đến nhà đâm chết con “khọm già”, con “đĩ Nở” nhưng sự thức tỉnh ý thức về thân phận và bi kịch đã đẩy chệch hướng đi của Chí dẫn Chí đến thẳng nhà Bá Kiến. Hơn ai hết lúc này Chí hiểu ra rằng: kẻ đã làm cho mình phải mang lốt quỷ, kẻ đã làm mình ra nỗng nỗi khốn cùng này chính là Bá Kiến. Lòng căm thù đã âm ỉ bấy lâu trong con người của Chí, anh càng thấm thía tội ác kẻ đã cướp đi quyền làm người, cướp đi cả bộ mặt và linh hồn của mình. Chí Phèo đến nhà Bá Kiến với tư cách là một nô lệ thức tỉnh, đòi quyền làm người:

     

    “- Tao muốn làm người lương thiện

     

    – Ai cho tao lương thiện?”

     

    Đó là những câu hỏi vút lên đầy cay đắng và không lời giải đáp. Câu hỏi chất chứa nỗi đau của một con người thấm thía được nỗi đau khôn cùng của bi kịch cá nhân. Câu hỏi đánh thẳng vào bộ mặt của xã hội bất lương. Câu hỏi như cứa vào tâm can người đọc về một thân phận con người đầy đắng cay trong xã hội cũ. Và Chí Phèo cũng đã tự kết

     

    liễu cuộc đời mình sau khi kết liễu tên cáo già Bá Kiến. Cái chết bi thảm của Chí Phèo là lời kết tội đanh thép cái xã hội vô nhân đạo, là tiếng kêu cứu về quyền làm người, cũng là tiếng gọi thảm thiết cấp bách của nhà văn: Hãy cứu lấy con người! Hãy yêu thương con người!

     

    Chí Phèo là một kiệt tác bất hủ bởi nó chứa đựng trong đó là tư tưởng, tình cảm lớn mang giá trị nhân đạo và hiện thực sâu sắc mà người đọc rút ra được từ những trang sách giàu tính nghệ thuật của Nam Cao. Sự kết hợp giữa giá trị hiện thực sắc bén và giá trị nhân đạo cao cả đã làm cho tác phẩm Chí Phèo bất tử, mãi mãi có khả năng đánh thức trí tuệ và khơi dậy những tình cảm đẹp đẽ trong tâm hồn người đọc mọi thời


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

    KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

    KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: NÂNG CAO KỸ NĂNG GIAO TIẾP CHO SINH VIÊN NGƯỜI DÂN TỘC Ở TRƯỜNG CAO ĐẲNG SƯ PHẠM ĐIỆN BIÊN


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/07/KH%C3%94NG-GIAN-N%C3%9AI-R%E1%BB%AANG-TRONG-V%C4%82N-XU%C3%94I-NG%E1%BB%8CC-GIAO.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

     

    ISSN: 1859-2171

    TNU Journal of Science and Technology

    201(08): 39 – 44

     

    e-ISSN: 2615-9562

     

     

     

     

    KHÔNG GIAN NÚI RỪNG TRONG VĂN XUÔI NGỌC GIAO

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu

    Trường Đại học Khoa học – ĐH Thái Nguyên

     

    TÓM TẮT

     

    Trong văn xuôi Ngọc Giao, không gian núi rừng vừa là không gian bối cảnh vừa là đối tượng nghệ thuật ấn tượng gắn với tư duy thẩm mĩ văn xuôi lãng mạn cùng những đặc trưng và tình cảm về một miền đất mới. Không gian ấy đã góp phần bổ sung những giá trị cho tác phẩm và khắc họa số phận tính cách của nhân vật nhưng chưa được quan tâm nghiên cứu. Qua việc thống kê, khảo sát và phân tích các giá trị văn chương của Ngọc Giao, bước đầu chúng tôi nhận thấy: Dưới sự cảm nhận của các nhân vật trong tác phẩm, núi rừng là những vùng đất lạ lẫm và không quen sống; hoang sơ mà thanh nhã, trong lành, tươi tắn; không gian của những cuộc chạy trốn thực tại bất hạnh, chuyến ngao du tìm hạnh phúc mới của các nhân vật; không gian gần gũi được dần cảm mến với tình người chất phác hồn hậu và nâng đỡ con người trong những hoàn cảnh bất hạnh.

     

    Từ khóa: Ngọc Giao; văn xuôi; văn học Việt Nam; không gian; núi rừng.

     

    Ngày nhận bài: 25/02/2019; Ngày hoàn thiện: 3/4/2019; Ngày duyệt đăng: 06/6/2019

     

     

    MOUNTAINOUS SPACE IN NGOC GIAO’S PROSE

     

    Nghiem Thi Ho Thu

    TNU – University of Science

     

    ABSTRACT

     

    In Ngoc Giao’s prose, mountainous space is both a contextual space as well as an impressive art object which associated with romantic aesthetic thought along with the characteristics and sentiments about a new land. This context has contributed a lot of value to the work and portrayed the character’s fate which has not been researched so far. Through the statistics, survey and analysis of Ngoc Giao’s literary values, we firstly noticed that: With the feeling of the characters in the work, mountainous area is strange, pristine and unfamiliar land but elegant, fresh and peaceful; the idea place of the fugitives from the misfortune reality; the journey to find new happiness of the characters; the close space is gradually affectionated with the rustic and upright humanity that has supported human beings in unhappy situations.

     

    Keywords: Ngoc Giao; prose; Vietnamese literature; space; mountainous areas.

     

     

     

     

     

    Received: 25/02/2019; Revised: 3/4/2019; Approved: 06/6/2019

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    Email: [email protected]

     

     

    http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]                                                                                                           39

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                     Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 39 – 44

     

     

    1.   Mở đầu

     

    Ngọc Giao là người sống chủ yếu ở thị thành Hà Nội. Vì vậy, sự gắn bó và am hiểu của ông với vùng đất này cũng được phô bày trên trang giấy nhiều hơn. Tuy nhiên, trải nghiệm của cuộc đời với những chuyến đi nhất là thời gian tản cư, không gian núi rừng cũng đủ gợi nhớ gợi thương và xuất hiện tự nhiên, hấp dẫn với nhiều ý nghĩa trong các tác phẩm có dung lượng lớn như tiểu thuyết Đất, Quán gió, Cầu sương và một số tác phẩm viết cho thiếu nhi như Bầu sữa hươu, Ma Thiên Lãnh, Úm ba la, Hang thuồng luồng… Việc tìm hiểu về không gian núi rừng trong văn xuôi Ngọc Giao cho phép người đọc mở rộng thêm trường liên tưởng nghệ thuật và khám phá các giá trị của tác phẩm. Đó cũng là vấn đề cần thiết được nghiên cứu, tìm hiểu trong văn xuôi Ngọc Giao khi tác phẩm của ông vẫn còn lạ lẫm với người đọc hiện đại.

     

    2. Nội dung

     

    Không gian nghệ thuật trong mỗi tác phẩm văn chương là sản phẩm sáng tạo mang những

     

    • niệm về cuộc sống. Đó là “mô hình thế giới của tác giả cụ thể, được biểu hiện bằng ngôn ngữ của các biểu tượng không gian” [1]. Không gian ấy phải góp phần thể hiện một dụng ý nghệ thuật nào đó của tác giả chứ không phải là sự phản ánh đơn thuần không gian địa lí, vật chất, không gian hiện thực. Không gian nghệ thuật vì vậy cũng chính là hình thức thể hiện quan niệm về thế giới và con người.

     

    Không gian rừng núi trong văn xuôi Ngọc Giao vừa là không gian bối cảnh làm nền và tô đậm thêm sự khắc họa số phận, tính cách của nhân vật vừa là đối tượng nghệ thuật mang nhiều giá trị. Đó như một phạm trù thẩm mĩ mang tính phổ biến của một loại không gian di trú gắn với cảm hứng lãng mạn trong văn xuôi lãng mạn. Núi rừng trong tác phẩm Ngọc Giao cũng như một số tác phẩm văn học lãng mạn khác là miền đất mới – nơi dung chứa những thân phận tha hương với

     

    mong muốn ước vọng về một tương lai khác với thực tại và những giấc mơ cải tạo cuộc sống. Và không gian núi rừng vì thế hiện lên khách quan, hấp dẫn dưới con mắt của “kẻ khác” và “người lạ”. Dưới những góc nhìn khác nhau được đặt vào các nhân vật của mình, Ngọc Giao đã có những “cú lia” tinh tế và ấn tượng về những khoảnh khắc của nhân vật gắn với không gian núi rừng.

     

    Trong mắt nhân vật Xã Bèo của tiểu thuyết Đất, người nông dân vốn nhiều năm quen với những cánh đồng ruộng lúa mênh mông, rặng tre làng, hàng cau trước ngõ…, núi rừng là khung cảnh lạ lẫm và không quen sống. Ngày đi tản cư lên miền ngược tạm xa những cánh đồng chiêm trũng vùng đồng bằng, trước mắt họ là những miền đất mới với cuộc sống mới đầy khó khăn. “Bọn Xã Bèo, Lý Còng đã xa nhà hơn năm mươi cây số. Càng đi họ càng thấy lạ nước, lạ non. Qua miền đồng chiêm nước gạch cua xa hút chân trời, tiếp đến miền đồi núi lầm đường bụi đỏ. Họ bỡ ngỡ, ngơ ngác nhìn đồi cao, cây rậm ở hai bên đường vượt cao, đổ dốc. Rừng hoang vắng, vi vút tiếng thông reo sườn đồi cỏ rậm. Trên đồi thấp thoáng có mầu vôi trắng của một ngôi đền đứng cô độc dưới bóng thông già cỗi…

     

    Xã Bèo không tin thần thánh nhưng anh cũng thấy rờn rợn, anh chợt nhớ đến câu chuyện ma rừng thần núi mà bác Bếp Năm, trong một đêm gác ở cổng làng dạo nọ đã kể anh nghe” [2]. Ban đầu, trong tư tưởng của Xã Bèo, rừng núi hoang vu, lạnh lẽo, và ẩn chứa nỗi sợ ma thiêng, nước độc. Đó là hình ảnh của những khó khăn và nỗi đau xé lòng như càng rõ hơn của người dân quê bấy lâu quen sống nơi đồng bằng với bao gắn bó. Không gian trên đường tản cư khác lạ với thói quen, nếp nghĩ hàng ngày khiến người dân quê như Xã Bèo càng thêm mông lung, lo lắng và nhớ tiếc làng quê.

     

    Rừng núi là vùng đất xa ngái cách quê anh nhiều lắm, thôn xóm đìu hiu, cây cối bạt ngàn, rừng rậm liên tiếp chứ đâu chỉ như mấy

     

     

    40                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                         Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                201(08): 39 – 44

     

     

    rặng tre quê anh. “Càng đi, càng thấy thưa làng vắng xóm. Những lũy tre xa gần màu xám đậm, ta vẫn thấy mọc thưa thớt trên những cánh đồng miền xuôi ở đây không còn nữa, mà chỉ còn bạt ngàn những rừng lim rừng trám um tùm bọc những ngọn đồi liên tiếp gối vào nhau. Dọc đường, chừng ngót mười cây số mới có một cái quán bé nhỏ trống tuyềnh tựa lưng vào sườn đồi hay một thân cây cổ thụ. Lưng đồi, một hai cô gái lom khom cắt cỏ giàng, họ không hát như những cô gái đồng xuôi, cũng chẳng buồn ngẩng nhìn đoàn người vật đang lặng lẽ đi dưới con đường đất đỏ” [2]. Những đặc trưng của vùng rừng núi trung du với đồi núi thấp và những cây bụi rậm với những con người miền núi ít nói, trầm lặng đã hiện lên trên đường tản cư xa ngái. Lũ trẻ nhặt đá ném chim và nhặt hoa thông như khi chúng nhặt bàng chín rụng trước sân đình làng. Mây trắng lờ đờ trôi trên đồi thông khiến Xã Bèo nhớ những buổi chiều tà ngà men rượu bắc chõng nằm giữa sân nhìn cò bay lả qua ngọn tre cong vút, giờ chỉ còn cái im lặng mênh mông hòa với tiếng chim kêu lẻ loi nhặt khoan ở một ngọn đồi cước đồi dẻ đâu đó.

     

    Xã Bèo được chính quyền cấp giấy đến ở tại xóm Dã, cách phố Núi chừng độ năm cây số. “Đây là một thôn xóm vắng teo, chừng mươi nóc nhà gianh lụp xụp. Con sông máng từ miền thượng du chảy về, nước cạn trơ lòng đất núi, váng xanh phủ lầy nhầy. Rừng lim, trám mọc cao vút trên đồi rộng, yên tĩnh suốt ngày đêm. Gần xa bao bọc sơn thôn này là đồi dẻ và đồi cước” [2]. Trước khung cảnh hoang sơ, vắng vẻ đó vợ chồng Xã Bèo lo lắng cho những tháng ngày sẽ làm gì để kiếm sống nơi hoang vu và bí ẩn đối diện với thú dữ, đất cằn. Thế rồi được bà con miền núi cưu mang, hướng dẫn, gia đình Xã Bèo định cư và kiếm sống. “Bọn Xã Bèo cùng chị Rõi giắt dao vào rừng. Họ đi men bờ sông máng. Hôm nay nước máng được tháo về tràn ngập, đôi bờ có những bụi sim dại hoa tím xẫm và những búi

     

    hoa bướm, hoa mua. Tiếng chim nhặt khoan vọng từ đồi này sang đồi khác. Sương lạnh loãng dần. Trời vàng trong và cao. Muôn vàn bông hoa dẻ sắc như kim phủ khắp mặt đường cát sỏi làm đau buốt bàn chân” [2]. Sống trên đồng khô, bãi trụi, núi cằn vợ chồng Xã bèo hoang mang, lo lắng. Nhưng với sự trợ giúp của bà con dân tộc thiểu số và quyết tâm vượt khó với lòng yêu đất thiết tha, vợ chồng Xã Bèo dần cảm mến đất và người nơi miền sơn cước. Lũ trẻ cũng bắt đầu thấy cuộc sống tản cư ở đây là thú vị. “Tha hồ trèo núi, xem rừng, đánh khăng trên sườn đồi vắng, tha hồ hát. Chúng dự định rồi mai kia mùa hè, chúng sẽ làm cái diều rõ to đứng trên núi cao mà thả, chúng sẽ tha hồ tắm lội sông máng, ăn sim, bắn chim” [2]. Núi rừng hoang sơ mà thanh nhã, trong lành, tươi tắn, sinh động cũng dần được người miền xuôi cảm mến. Người nông dân như Xã Bèo đã dần vượt qua nỗi sợ hãi của miền rừng núi âm u, hẻo lánh và tự tin hơn sống trong tình đồng bào chân thật, nghĩa tình dù trong lòng cũng vẫn phảng phất một niềm đau đáu nhớ quê, phấp phỏng vì điều kiện tự nhiên không thuận lợi, vì chiến tranh bom rơi đạn lạc luôn rình rập ào đến. Khung cảnh núi rừng với những gì gần gũi, giản dị, tươi đẹp và cũng tràn đầy yêu thương dường như xóa dần đi vết thương lòng của những người dân tản cư yêu đất thương làng tha thiết để hòa nhập với cuộc sống mới với niềm tin, hi vọng mới.

     

    Nếu như không gian núi rừng hiện lên trong Đất là một không gian sống mới với hi vọng tránh được mưa bom bão đạn, hiểm nguy kẻ thù của người nông dân nghèo thì núi rừng trong Cầu sương, Quán giónơi lẩn chốn của những câu chuyện tình yêu đầy bi kịch. Đó là không gian của những cuộc chạy trốn thực tại bất hạnh, chuyến ngao du tìm hạnh phúc mới của những nhân vật quen thuộc trong văn xuôi lãng mạn. Không gian ấy như gắn với khát khao vượt thoát, thỏa mãn tình cảm và mong muốn xác lập cái mới. Định

     

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            41

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                     Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 39 – 44

     

     

    mệnh đã dẫn lối đưa đường để họ cùng người yêu những mong về miền đất lạ có thể tìm được niềm vui mới bên người tình và đoạn tuyệt quá khứ khó hiểu, đầy những nỗi buồn. Dưới “hơi sương loãng dần trong ánh trăng trong. Hạnh ngồi bên chum nước suối dưới nhà sàn, lắng nghe cái tĩnh mịch triền miên của kiếp lâm tuyền” [3]. Trong căn nhà trên vùng sơn cước, những mong trong sự tĩnh mịch ấy của núi rừng, lòng người được an yên nhưng vẻ cô tịch càng làm Hạnh trong tác phẩm Cầu sương thêm rối bời chua xót, thổn thức và mù quáng với việc trốn chồng đi theo người tình Hải – một kẻ si tình lợi dụng vơ vét tài sản. Nàng biết đâu trong cái “nắng tràm đốt cỏ đồi, lúa ruộng. Nắng rợn lên thành đợt lửa bay lung linh phá vỡ cả thinh không. Đường đá gan gồ sống lưng trâu quằn mình như con trăn rừng giãy chết mỗi lần có trận gió tây bốc bụi. Đó đây, trên chặng đường xa, mấy quán nước không người thấp như chuồng lợn, bám chặt vào đất núi, ngay mái cỏ tranh cũng bốc khói, lửa nắng như sắp thiêu thành tro” [3], chồng nàng đang đạp xe đi tìm nàng. “Hết leo dốc đến đổ dốc… đồi trụi nối nhau trùng điệp chạy mênh mông tới chân trời”, Cung bồi hồi nhớ vợ, nhớ quê. Rồi Cung cũng hiểu được chuyện và đưa Hạnh chạy trốn tội lỗi với một lòng bao dung độ lượng. Cái lạnh lẽo, heo hút của núi rừng dần xua tan đi bởi tình người cao thượng. “Trời hửng nắng. Nắng rờn rợn trong gió bấc rọi xuống những dòng nước suối lũ sáng lấp lóa một màu bạc pha vàng. Hôm nay, chợ Mường họp Phiên ngày chẵn. Những màu áo chàm xanh điểm lác đác trên các nẻo đường đất đỏ lượn quanh co theo những hàng cây lim, cước mọc kín dãy đồi cao trùng điệp. Sơn nhân vội vã gánh hàng xuôi chợ, con địu ngang lưng, để rồi vội vã trở về với nương cày dở luống” [3]. Đó là sự đổi thay của cảnh vật và cũng là sự mong muốn, khát khao thay đổi cuộc sống sẽ ấm áp, sum vầy, đoàn tụ.

     

    Núi rừng không chỉ là không gian với nỗi lo rừng thiêng nước độc, mà cũng có lúc hiện

     

    lên như bức tranh đời thường đầy màu sắc của sức sống. Và có cả những khung cảnh đẹp hoang dã nhưng lãng mạn: “Ông Lâm rẽ một cành cây hoa trắng như hoa mai cho khỏi vướng vào mình Hạnh trên lưng ngựa. Cành cây rung động, rắc hoa xuống đầy mái tóc và tà áo. Nàng lỏng tay cương, nhặt mấy bông hoa ngàn rắc xuống đường” [3]. Cuộc sống ấm tình người cũng nhen nhóm lên những hi vọng mới. “Đàn én đã bay về rừng Việt Bắc, một sớm đưa thoi trong nắng xuân, trên những nương ngô đỗ và vườn cây của khu trên sân trại. Bờ rào nứa ken cánh sẻ, loài dây leo mướp, mồng tơi, đậu ván bám đầy phủ kín như bức thành vững chắc bao quanh khu trại rộng”. Nhưng tội lỗi khó gột rửa, những ám ảnh vẫn lẩn quất trong tâm hồn Hạnh và Cung. “Chim rừng thao thức kêu quanh lớp nhà chòi im ngủ trong tiếng thác đổ hồi đêm quạnh. Ánh sao không lọt được xuống nền lá kim cổ thụ giao kết vào nhau thành một bức trần cao bát ngát” [3]. Một sự thao thức, bế tắc vẫn tràn ngập tâm hồn Cung để rồi sau đó dẫn đến cái chết bi thảm của anh. Cái chết đầy tủi sầu của chồng khiến Hạnh càng buồn hơn về số kiếp của mình trên con đường trở về phố thị. Những hình ảnh cuối cùng trước cửa rừng càng làm cô thấy mình thêm lạc lõng.”Trên những sườn núi gan gà nhuộm nắng, đã thấy thưa thớt vài túp nhà cỏ mới. Một hai bóng áo tràm theo trâu gày đeo mõ, ngẩn ngơ nhìn bụi cuốn sau xe ngựa đang rong ruổi về cuối sơn thôn xa tắp… Khói ở nhà tranh bám chặt vào vách núi bên rừng quạnh, vơ vất vương vào nắng tháng ba” [3]. Lãng đãng không gian sơn thôn vừa quạnh hiu vừa cô quạnh, Hạnh nhớ chồng với một nỗi xót xa ân hận dâng lên. Núi rừng ở đây vì thế cũng mang nặng tình người khi buồn, cô đơn, bế tắc, lạc lõng, lúc dằn vặt, tâm trạng mông lung.

     

    Xa mẹ già theo lời vun đắp giới thiệu của anh trai, Trâm trong Quán gió lên miền ngược cùng chồng. Vượt qua đường dốc thăm thẳm, suối đổ ầm ầm, “núi rừng u uất dựng cao chót

     

     

    42                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                         Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                201(08): 39 – 44

     

     

    vót kẹp con sông dài vào giữa… Thỉnh thoảng vài con khỉ chuyền cành cây ở ven bờ kêu inh ỏi đuổi theo thuyền. Trâm lắng nghe tiếng nước róc rách vỗ mạn thuyền, nhìn vài cánh hoa cánh lá trôi xuôi” [4]. Trong bốn bề sông nước, rừng, cây hoang vu, tiếng vượn hú dài thảm sầu, Trâm khôn nguôi nhớ mẹ, nhớ đồng bằng và thương thân mình lênh đênh nơi đất khách quê người vì nhắm mắt đưa chân lấy người tốt nhưng chưa phải người yêu. Khung cảnh núi rừng trong thiên truyện như càng tô đậm thêm sự cô đơn, lạc lõng của Trâm với tình yêu không có hậu, Tiến chồng cô đã hi sinh khi tình yêu còn đang dang dở chưa như ý. Sự an ủi của người chú dân tộc của Tiến phần nào vỗ về cho nỗi dày vò, đau xót trong lòng cô nhưng nỗi nhớ nhà, nhớ mẹ, nỗi ân hận băn khoăn vẫn choán ngợp lòng cô khi trở về Quán gió. Và rừng núi hiện lên mênh mông, kì bí như tô rõ thêm cho sự phức tạp ngổn ngang của lòng người con gái đa đoan giữa dòng đời loạn lạc. Những bất ngờ, những lạ lẫm, những bí ẩn và mâu thuẫn không dễ gì tháo gỡ của Trâm như bao trùm lên bầu không khí và cảnh vật nơi rừng núi quê chồng cô. Như vậy, không gian miền núi trong những trang văn Ngọc Giao thường hiện lên qua cái nhìn, cảm nhận của những người nông dân vốn sống lâu đời ở đồng bằng, hoặc những trí thức tiểu tư sản sống ở thành thị. Lần đầu lên với núi rừng, xa quê hương môi trường sống quen thuộc, núi rừng hiện lên trước mắt họ đầy lạ lẫm với nhiều lo ngại. Quang cảnh núi rừng với những đặc trưng suối sâu, đèo cao, núi đồi trùng điệp, cây cối um tùm, con người ý nhị rụt rè nhưng chân tình, tốt bụng, không gian hiu quạnh, vắng vẻ. Từ những lo ngại, cô đơn ban đầu khi đi qua và sống ở vùng trung du, các nhân vật dần hòa hợp và cảm mến với đất và người nơi đây. Tuy nhiên, các nhân vật dù là phải chạy trốn thực tại cuộc sống hay cưỡng ép phải ra đi đến với núi rừng thì họ vẫn luôn luôn nhớ về quê và đều tạm biệt núi rừng để về với những nơi mình đã từng gắn bó.

     

    Không gian núi rừng với những nét đẹp hoang sơ, giản dị và khó khăn của nó hiện lên chân thật trong suy nghĩ khách quan của các nhân vật. Núi rừng rộng lớn giang vòng tay đón chào họ, là nơi họ hi vọng sẽ có một sự ẩn nấp tâm hồn với những niềm vui mới nhưng cũng là nơi càng tôn thêm cho nhân vật nỗi cô đơn, buồn khổ đến bi thương. Rừng núi cũng là chứng tích cho những thăng trầm của lịch sử kháng chiến chống kẻ thù và cuộc sống, số phận của các nhân vật.

     

    Bên cạnh đó, một số tác phẩm viết cho thiếu nhi của Ngọc Giao cũng đã đưa thiên nhiên núi rừng đến gần hơn với con người. Rừng núi, hang sâu cùng những con vật nghĩa tình được thi vị hóa trở thành nơi trú ẩn, nuôi sống con người trong những hoàn cảnh nguy khốn. Trong rừng sâu, hang rậm có những con vật tưởng chừng như ác nghiệt đáng sợ lại là những con thú nghĩa tình, biết làm việc tốt. Thiên nhiên và con người, người và vật như xích lại gần nhau với những bài học thiên nhiên cho trẻ thật tự nhiên, hiếu kì và hấp dẫn. Nhà văn đã giáo dục trẻ một cách tự nhiên mang âm hưởng truyện cổ tích với thông điệp: Sự cảnh báo con người đối xử tệ với thiên nhiên, muông thú ắt sẽ chịu hậu quả khôn lường và nếu ứng xử có nhân với loài vật, thiên nhiên sẽ được đáp đền xứng đáng. Tập truyện Úm ba la, Hang thuồng luồng là những tác phẩm như thế.

     

    Trong dòng văn xuôi những năm nửa đầu thế kỉ XX, Ngọc Giao không phải là nhà văn có đóng góp nổi bật khi viết về đề tài miền núi nhưng những nét phác thảo, gợi tả về không gian núi rừng trong văn xuôi của ông đã góp phần bổ sung thêm cho văn học thời kì này những trang văn ấn tượng về một dòng văn có lối đi riêng độc đáo. Các tác giả cùng thời như Triệu Luật, Lan Khai, Lê Văn Trương… đã có những tác phẩm đi sâu phản ánh khung cảnh miền núi với cuộc sống muôn màu, sức sống mãnh liệt và nhiều điều bí ẩn, hấp dẫn. Các nhà văn giai đoạn sau như: Vi Hồng, Triều Ân, Hà Lâm Kì, Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy… cũng tìm thấy ở mảnh đất núi rừng những mạch nguồn văn hóa và không gian

     

     

    http://jst.tnu.edu.vn; Email: [email protected]                                                                                                            43

     

     

    Nghiêm Thị Hồ Thu                     Tạp chí KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ ĐHTN                    201(08): 39 – 44

     

     

    cuộc sống nơi đây với năng lực khám phá và tưởng tượng phong phú. Và phần lớn các nhà văn đã đi sâu khai thác, tái hiện không gian nghệ thuật này qua cảm quan của nhân vật là những con người sinh ra, lớn lên và gắn bó với cuộc sống nơi này với cái nhìn quen thuộc đi liền với cuộc đời họ. Với Ngọc Giao, không gian núi rừng hiện lên không thuần nhất. Không gian ấy gắn với số phận thăng trầm của các nhân vật đến từ những miền đất khác – vùng đồng bằng và mang trong mình sự phức tạp trong đời sống tâm lí. Điều đó khiến cho núi rừng không chỉ là bối cảnh sống mới với nhiều dụng ý nghệ thuật miêu tả khắc họa tâm trạng, số phận nhân vật mà còn được nhìn nhận một cách đa chiều và khách quan. Không gian này không phải là không gian độc nhất và chính yếu trong mỗi tác phẩm của Ngọc Giao nhưng lại là không gian nghệ thuật góp phần tương hỗ, bổ trợ để biểu hiện và làm nổi bật những giá trị nghệ thuật của tác phẩm. Không gian ấy luôn vận động qua cái nhìn hướng tới một thế giới mới trong cảm quan của hệ thống nhân vật mang nặng tính trữ tình, lãng mạn nhưng giàu tính hiện thực.

     

    3. Kết luận:

     

    Dù những trang văn miêu tả không gian núi rừng của Ngọc Giao không nhiều, ông cũng không có những cái nhìn thật sự sắc sảo về không gian này như các nhà văn đường rừng như Triệu Luật, Lan Khai, Lê Văn Trương nhưng những trang viết về không gian miền núi của ông đã góp phần cho việc làm rõ tâm lí và số phận nhân vật. Mỗi khung cảnh núi rừng hiện lên dù thoáng qua nhưng tinh tế như một bức họa có chiều sâu của tâm hồn và cảnh vật. Và dường như, từ những trang văn viết về núi rừng của ông cũng đã ít nhiều phản ánh một cảm quan sinh thái- sự trân trọng, cảm mến với thiên nhiên và mong muốn con người sống hòa hợp với thiên nhiên.

     

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

     

    • Trần Đình Sử, Dẫn luận thi pháp học, tr.87, Nxb Giáo dục, Hà Nội, 1998.

     

    • Ngọc Giao, Đất,57,tr.58, tr.78, tr.81 Nxb Cây Thông, Hà Nội, 1950.

     

    • Ngọc Giao, Cầu sương, tr.36, tr.40, tr.106, tr.107, Nxb Hà Nội, Hà Nội, 2011.

     

    • Ngọc Giao, Quán gió,86, Nxb Hương Sơn,

    Hà Nội, 1948.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

    44                                                                                                            http://jst.tnu.edu.vn;  Email: [email protected]


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 21

    Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 21

    Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 21

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 15


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 21

    Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016): Mã đề thi 21

    Read the passage and choose the best answer.

    Education in the future

    Education is another area of social life in which information technology is changing the way we communicate. Today’s college students may not simply sit in a lecture or a library to learn about their field. Through their computers and the wonders of virtual reality they can participate in lifelike simulated experiences. Consider the following scenario of the future of education made possible through developments in information technology.

    For children over the age of 10, daily attendance at schools is not compulsory. Some of the older children attend school only once or twice weekly to get tutorial support or instruction from a teacher. For the most part, pupils are encouraged to work online from home. Students must complete a minimum number of study hours per year; however, they may make up these hours by studying at home at times that suit their family schedule. They can log on early or late in the day and even join live classes in other countries. In order to ensure that each student is learning adequately, computer software will automatically monitor the number of hours a week each student studies on-line as well as that students’ learning materials and assessment activities. Reports will be available for parents and teachers. The software can then identify the best learning activities and condition for each individual student and generate similar activities. It can also identify areas of weak achievement and produce special programs adjusted to the students’ needs.

    1. What is the topic of the passage?
    1. The effect of information technology on education.
    1. students don’t have to go to school any more.
    1. Computer software will make sure students learn at home.
    1. Students can know about their weak aspects to focus.
    1. How many times are children who are older than 10 required to go to school weekly?
    1. No time B. Once or twice C. Three                                  D. Four
    1. Who/What counts the number of hours per week that students spend learning?

    VanMau.Net                                                                                                                                                                   Page 1

     

    1. Virtual reality B. Teacher C. Parents                             D. Computer software
    1. What CAN’T the software do?
    1. Monitor the time the students learn.
    1. Design materials for the students.
    1. Find out the best activities for the students.
    1. Identify weaknesses of the students.
    1. What is NOT MENTIONED as a benefit of information technology to the students?
    1. Students can stay at home to learn.
    1. Students can learn at times that suit their schedule.
    1. Students’ learning time won’t be monitored.
    1. Students’ weak achievement can be identified.

    Choose the underlined word that has different pronunciation from the others:

     

    6. A. campaign B. foreign C. gain
    7. A. Christmas B. mortgage C. wanted
    8. A. marks B. curls C. collapse
    9. A. asthma B. smooth C. although
    10. A. adhesive B. hang C. exhaust
    1. sign
    1. whistle D. inherits D. father D. hill

    Choose the word whose stress pattern is different from that of these others:

    11. A. afterwards B. demonstrate C. dynamic D. survey
    12. A. environment B. colour C. happen D. revolutionary
    13. A. photography B. recycle C. manage D. exhibit
    14. A. provide B. famous C. program D. credit
    15. A. connected B. particular C. continuous D. primitive

    Choose the best answer to complete the sentence.

    16. The man got out of the car ………….. round to the back and opened the boot.
    A. walking B. walked C. walks D. walk
    17. ………………. the jury believed in the burglar’s innocence, the general public did not.
    A. Although B. Because C. In spite of D. However
    VanMau.Net Page 2

     

    18. A:“I’m eighteen today!”  B:“…………………………..”.
    A. Best wishes!” B. Good day! C. Congratulate! D. Happybirthday!”
    19. I’d like the work to be continued immediately once the rain ……………… .
    A. has stopped B. stopped C. will stop D. stopping
    20. One of the most miserable things that millions of families have to suffer from wars is that
    wars have set brother ……………. brother.
    A. against B. about C. apart D. with
    21“I haven’t got anything for you.”“……………………”
    A. Never mind! B. It isn’t the matter! C. Nothing! D. Not problem!
    22.“What are you doing?”
    “……………………………’
    A. It doesn’t touch B. It’s none of your C. You don’t enter at D. Look after your
    you. business all own affair
    23. I tried to ……..her, but she just couldn’t stop crying.
    A. comfortable B. comfort C. sympathy D. sympathise.
    24. The secretary put me …………. to the manager within a couple of minutes.
    A. across B. up C. over D. through
    25. I don’t think he will get …………… the shock in a short period of time.
    A. over b. through C. by D. off
    26. I hurt myself badly this morning when I fell ………………….. the bedroom widow.
    A. out from B. out of C. down D. over
    27. I think they are going to have a fight against each other. They go …………………….. each other
    furiously.
    A. at B. in C. to D. on
    28. This year’s sales figures go ………. ….. our expectations. What marvelous thing!
    A. for B. along with C. beyond D. away from
    29. God knows, this car is my biggest mistake I have ever made. I have to pay ……….. $500 for
    every 200 km
    VanMau.Net Page 3

     

    1. in
    1. out
    1. at
    1. by
    1. Poor me! She is the one in charge of our team, so I have to play ………………. all her odd ideas.
    1. along with
    1. at
    1. about
    1. off against
    1. No way will you beat him. You don’t ………a chance. He’s a hundred times better than you

    are.

    A. hold B. run C. possess D. stand
    32. The doctor asked Mr. Brown to keep …………… fried food because of high amount of fat.
    A. off B. at C. back D. up
    33. The government is putting …………… some radical social reforms.
    A. forward B. in C. through D. off
    34. There are a long line of people outside the cinema last week. They queued ………. to see a
    famous film.
    A. in B. on C. at D. up
    35. The injury destroyed his hopes of being………..world champion.
    A. peaked B. topped D. awarded D. crowned

    Read the passage and choose the best answer that best fits each space.

    Many parents believe that they should begin to teach their children to read when they are

    scarcely more than toddlers. This is fine if the child shows a real interest but (36) ……… a child
    could be counter-productive if she isn’t ready. Wise parents will have a (37)……. attitude and
    take the lead from their child. What they should provide is a selection of (38)…….. , books and
    other activities. Nowadays, there is plenty of good (39) ……….. available for young children, and
    of course, seeing plenty of books in use about the house will also (40)…… them to read.
    Of course, books are no longer the only (41)….. of stories and information. There is also a
    huge range of videos, which can (42) ……… and extend the pleasure a child finds in books and are
    (43)…………. valuable in helping to increase vocabulary and concentration. Television gets a bad
    (44)……… as far as children are concerned, mainly because too many spend too much time
    watching programs not intended for their age (45)……… . Too many television programs
    (46)………….. an incurious, uncritical attitude that is going to make learning much more difficult;
    however, (47)…………….. viewing of programs designed for young children can be useful. Just as
    adults enjoy reading a book after seeing it (48) …….. on television, so children will pounce on
    books which (49) ………… their favorite television characters, and videos can add a new (50)
    …………. to a story known from a book.
    VanMau.Net Page 4

     

    36. A. insisting B. forcing C. making D. starting
    37. A. cheerful B. contented C. hopeful D. relaxed
    38. A. bright B. thrilling C. stimulating D. energetic
    39. A. materials B. sense C. amusement D. produce
    40. A. provoke B. encourage C. provide D. attract
    41. A. source B. site C. style D. basis
    42. A. uphold B. found C. reinforce D. assist
    43. A. properly B. worthily C. perfectly D. equally
    44. A. review B. press C. criticism D. result
    45. A. set B. band C. group D. limit
    46. A. induce B. imply C. suggest D. attract
    47. A. cautious B. choice C. discriminating D. approved
    48. A. serialized B. revised C. transferred D. visualized
    49. illustrate B. extend C. feature D. possess
    50. A. reveal B. dimension C. option D. existence

    Read the passage and choose the best answer.

    It is always thought that women are the second class in the citizen, and men are the first. There is not real equality of opportunity for men and women. Years ago, people were living in a man-dominated society. Women had to obey their husbands and fathers absolutely. Women’s place was in the kitchen and women’s work was household. In many places, women were not even allowed to go to school. Women had no rights, even the right to choose a husband for them-selves. Men usually occupied high positions in society so they thought they were more intelligent and important than women. Men considered women their property. Sometimes, women were mistreated by their husbands and suffered this as a fate. Many parents did not even want to have female children.

    VanMau.Net                                                                                                                                                                   Page 5

     

    Thanks to the women’ liberation movement, women have nowadays proved that they are equal to men on every aspect. An average woman has weaker muscles than an average man but she may be as intelligent as him. Women can do everything that men can, and women can do one thing that no man can: they produce children.

    1. In a man-dominated society …………………………. .
    1. Women were in the first class
    1. Women had no rights
    1. Women were respected by men
    1. Women got a good education
    1. Years ago, women’s place was ……………….. .
    1. in the Parliament Houses
    B. in the Congress
    C. in the Town Hall
    D. in the kitchen
    53. In a man-dominated society, men considered women their ………………. .
    A. property B. queen C. great love D. all are correct
    54. In a man-dominated society …………………………. .
    A. all parents expected to have daughters
    B. most parents liked girl babies
    1. most parents did not want to have daughters
    1. most parents did not like sons
    1. Nowadays, women have proved that they are ………………….. men.
    1. more intelligent than
    1. more important than
    1. stronger than
    1. equal to

    Choose the underlined part among A, B, C or D that needs correcting.

    1. Not until recently has interest oftidal electric power plants been revived.

    A                          B                          C                                                       D

    1. Little they knew in 1926, when the first T.V. broadcast began, that it would have

    VanMau.Net                                                                                                                                                                   Page 6

     

    A B C such an impact on people’s everyday lives.

    D

    1. Lightning, it is essentially an enormous electric sparkthat seeks the path of

    A B C least resistance to ground.

    D

    1. Not one in one hundred children exposed to the disease arelikelyto develop

    A B C D symptoms of it.

    1. We must be There isa little timeleft.

    A                                    B         C                D

    Choose the correct sentence among A, B, C or D which has the same meaning as the given one.

    1. Study all night is good for neither your grades nor your health.
    1. Study all night is good for your grades.
    1. Study all night does not help at all.
    1. Study all night is good for your health.
    1. Study all night is helpful to you.
    1. My purpose in calling this meeting is to present the latest sales figures.
    1. I have called this meeting in order to present the latest sales figures.
    1. I aimed to call this meeting because I wanted to know the latest sales figures.
    1. I have called this meeting in order that I would present the latest sales figures.
    1. A and C
    1. But for his father’s early retirement, Richard would not have taken over the family’s business.
    1. Richard only took over the family’s business because his father decided to retire early.
    1. Richard didn’t take over the family’s business because his father decided to retire. C. His father retired early, but he ran the family’s business.
    1. Richard’s father didn’t want him to take over the family’s business despite his retirement.

    VanMau.Net                                                                                                                                                                   Page 7

     

    1. I find myself at a loss to understand Harold’s behavior.
    1. I lost contact with Harold, so I couldn’t understand his behavior.
    1. I have to lose a lot to understand Harold’s behavior.
    1. I understood Harold’s behavior completely.
    1. I find Harold’s behavior quite incomprehensible.
    1. With the exception of the music teacher every member of the staff attended the farewell party.
    1. The music teacher was very exceptional at the farewell party.
    1. All the staff members including the music teacher attended the farewell party.
    1. The music teacher was the only member of the staff not to attend the farewell party.
    1. All of the above.

    Read the passage and then choose the best answer for each following question.

    Psychologists are interested in the reasons why some people like taking part in risky sports. When they studied people who were learning to jump from a plane with a parachute, they found that parachutists’ bodies produced large amounts of two hormones, adrenaline and nor adrenaline, just before they made their jump.

    These hormones help to prepare us for any sudden activity. Adrenaline increases the heart rate and provides more sugar for the muscles, while nor does adrenaline make us react more quickly. However, nor adrenaline also stimulates apart of the brain which controls feelings of pleasure. Some psychologists have concluded that it is a feeling of pleasure caused by this hormone which makes certain people want to participate in dangerous sports.

    Another possible reason is the level of arousal in part of the brain. According to some psychologists, the brain tries to maintain a certain level of arousal. They believe that people who normally have a low level of arousal look for excitement and new experiences in order to stimulate themselves, whereas people who usually have a high level of arousal try to avoid risks and unfamiliar situations in order not to become overexcited. If the psychologists are right, people with a low arousal are the ones who enjoy participating in dangerous sports and activities.

    It is thought that people with low levels of arousal have a slower-reacting nervous system than people with higher arousal levels. It may therefore be possible to find out your level of arousal by testing your nervous system. A quick way of doing this is to put some lemon juice on your tongue. If you produce a lot of saliva, your nervous system has been affected by the lemon and so you probably have a high level of arousal; if you produce little of saliva, you probably have a low arousal level. If you have a low level, you might enjoy taking part in risky sports. However, this does not mean that you have to try parachuting!

    1. Why did the parachutists’ bodies produce a lot of adrenaline and nor adrenaline before they jumped from a plane?

    VanMau.Net                                                                                                                                                                   Page 8

     

    1. This is a natural reaction which helps to prepare one for sudden activity.
    1. Because they had high arousal levels.
    1. It is a natural reaction which guards them against the effects of accidents.
    1. Because they had taken drugs which led to the production of these two hormones.
    1. What two possible reasons are given for some people’s desire to participate in dangerous sports?
    1. A lack of common sense, and a high level of arousal.
    1. A low level of arousal, and an inborn desire for adventure.
    1. The pleasure that results from the production of nor adrenaline, and a low level of arousal.
    1. A desire to show off, and a lack of common sense.
    1. What dose the brain try to maintain, according to some psychologists?
    1. A high temperature. B. A low temperature.
    1. A certain level of arousal. D. A sense of safety.
    1. Why do psychologists believe that people with a high level of arousal try to avoid danger?
    1. Because they already have the level of excitement which the brain tries to maintain.
    1. Because they are more aware of the dangers involved.
    1. Because they already have enough of the two hormones, adrenaline and nor adrenaline.
    1. Because they would not be able to cope with accidents.
    1. What is shown by putting lemon juice on your tongue?
    1. It shows that you have a high level of arousal if no saliva is produced.
    1. It indicates your level of arousal by amount of saliva that is produced.
    1. It can indicate whether your saliva is more acidic or more alkaline.
    1. It is a good test of your sense of taste.
    1. What kinds of substances are adrenaline and nor adrenaline?
    A. Subatomic particles. B. Minerals.
    C. Vitamins. D. Hormones.
    72. What substances is thought to stimulate the brain to make us feel pleasure?
    A. Adrenaline. B. Nor adrenaline.
    C. Lemon juice. D. Manganese dioxide.
    73. Which of the following does adrenaline do?
    VanMau.Net Page 9

     

    1. It weakens the muscles.
    1. It makes people afraid.
    1. It makes the heart beat more quickly.
    1. It makes the heart beat more slowly.
    1. Where were the parachutists when, according to the passage, they produced large amount of

    the two hormones?

    1. On an airplane B. In the air C. On the ground D. At sea
    1. According to some psychologists, what kind of people try to avoid unfamiliar situations?
    1. People who do not like lemon juice.
    1. People who have a low hormone content.
    1. People who normally have a low level of arousal.
    1. People who normally have a high level of arousal.

    Choose the correct sentence.

    1. I/ and/ am / in/ a/ fourth-year/ accounting/ student/ currently/ at/ Foreign Trade University/, / majoring / finance.
    1. I am currently in a fourth-year student at Foreign Trade University, majoring finance and accounting.
    1. I am currently a fourth-year student at Foreign Trade University, majoring in finance and accounting.
    1. I am currently a fourth-year student in Foreign Trade University, majoring at finance and accounting.
    1. I am currently majoring a fourth-year student at Foreign Trade University, in finance and accounting.
    1. I/ consider/ would/ be/ happy/ you/ very/ and/ grateful/ request/ if/ could/ my.
    1. I would be very happy and if you could consider my grateful request.
    1. I would consider my request if you could be very happy and grateful.
    1. I would be very happy and grateful if you could consider my request.
    1. I would be very happy and consider my request if you could grateful.
    1. Thank / again/ time/ you/ consideration/ once/ for/ your/ and.

    VanMau.Net                                                                                                                                                                 Page 10

     

    1. Thank you, once again for your time and consideration.
    1. Once again you, thank for your time and consideration.
    1. Thank you for your time once, and consideration again.
    1. Once again, thank you for your time and consideration.
    1. Wind/ carry/ many/ seed/ island.
    1. Winds carry many seeds to islands.
    1. Wind carries many seeds to the islands.
    1. Winds carry many the seed to an island.
    1. Wind carry many of seeds to the islands.
    1. 80. Swimming/ very/ attractive/ form/ exercise/ which/ make/ swimming/ excellent/ way/ improve/ wind/ capacity/ endurance.
    1. Swimming, a very attractive form of exercise, which makes swimming an excellent way improves wind capacity and endurance.
    1. Swimming is a very attractive form of exercise which makes swimming an excellent way improving the wind of capacity and endurance.
    1. Swimming is a very attractive form of exercise, which makes swimming excellently way improving the wind, capacity, and endurance.
    1. Swimming is a very attractive form of exercise, which makes swimming an excellent way to improve wind capacity and endurance.

    ĐÁP ÁN ĐỀ 21

    VanMau.Net                                                                                                                                                                 Page 11

     

    1A 9A 17A 25A 33A 41A 49C 57A 65C 73C
    2B 10C 18D 26B 34D 42C 50B 58A 66A 74A
    3D 11C 19A 27A 35D 43D 51B 59B 67C 75D
    4B 12A 20A 28C 36B 44D 52D 60C 68C 76B
    5C 13C 21A 29B 37D 45C 53A 61B 69A 77C
    6C 14A 22B 30A 38C 46A 54C 62D 70B 78D
    7C 15D 23B 31D 39A 47D 55D 63A 71D 79A
    8B 16B 24D 32A 40B 48A 56B 64D 72B 80D

    VanMau.Net                                                                                                                                                                 Page 12

     

    VanMau.Net                                                                                                                                                                 Page 13

  • Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 15

    Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 15

    Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 15

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 11


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016) Mã đề thi 15

     

    Đề thi thử THPT Quốc gia môn Tiếng Anh (năm học 2015-2016): Mã đề thi 15

     

    Choose the word whose underlined part is pronounced differently from that of the others in the group.

    Question 1: A. Honest B. Home C. Vehicles D. Heiress
    Question 2: A. Books B. Carrots C. Floors D. Slopes

    Mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the word that differs from the rest in the position of the main stress in each of the following word.

    Question 3: A. Blackboard B. Listen C. between D. Student
    Question 4: A. Company B. Atmosphere C. Customer D. Employment
    Question 5: A. Institution B. University C. Preferential D. Indicative

    Mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the correct answer to each of the following questions.

    Question 6: When friends insist on ______ expensive gifts, it makes most people uncomfortable.

    1. them to accept B. they accepting C. their accepting              D. they accept

    Question 7: John lost the _______ bicycle he bought last week and his parents were very angry with him because of his carelessness.

    A. beautiful Japanese blue new B. beautiful new blue Japanese
    C. new beautiful blue Japanese D. Japanese beautiful new blue
    Question 8: Dr. Evans has _________ a valuable contribution to the life of the school.
    A. done B. created C. caused D. made
    Question 9: Look! The yard is wet. It______ last night.
    A. must have rained B. couldn’t have rained C. must rain D. should have rained
    Question 10: Shy people often find difficult to__________ group discussion.
    A. take part in B. get on with C. take place in D. get in touch with
    Question 11: They asked me a lot of questions, __________I couldn’t answer.
    A. much of which B. both of them C. neither of which D. most of which
    Question 12: I walked away as calmly as I could. __________, they would have thought I was a thief.
    A. In case B. If so C. Or else D. Owing to
    VanMau.Net Page 1

     

    Question 13: Not until the end of the 19th century ______ become a scientific discipline.

    1. plant breeding has B. did plant breeding C. plant breeding had     D. has plant breeding

    Question 14: Last year she earned _______ her brother.

    1. twice as much as B. twice more than C. twice as many as          D. twice as more as

    Question 15: – Linda: “I’ve passed my driving test.”

    -Peter: “__________”

    1. Congratulations! B. That’s a good idea C. It’s nice of you to say so.   D. Do you?

    Question 16: __________the storm, the ship couldn’t reach its destination on time.

    1. Because of B. In case of C. In spite of                       D. But for

    Question 17: -Lan: “Happy birthday! This is a small present for you.”       – Nga: “__________”

    1. What a pity! B. How terrible!
    1. Have a good time! D. How beautiful it is! Thanks.

    Question 18: Just keep________ on the baby while I cook the supper, will you?

    1. a look B. a glance C. an eye                                D. a care

    Question 19: Remember to appreciate what your friends do for you. You shouldn’t take them_______.

    A. as a rule B. as usual C. out of habit D. for granted
    Question 20: The twins look so much alike that almost no one can____ them____
    A. take/apart B. tell/away C. tell/apart D. take/on
    Question 21: The players’ protests_____ no difference to the referee’s decision at all
    A. did B. made C. caused D. created
    Question 22: Books are a wonderful__________of knowledge and pleasure.
    A. way B. information C. source D. type
    Question 23: Western women are more ________ than Asian women
    A. depend B. independent C. independently D. dependent

    Question 24: Unfortunately, the company closed down because it couldn’t keep___ with rapidly changing technology

    1. speed B. time C. fast                                     D. pace

    Mark the letter A, B, C, or D on your answer sheet to indicate the word that is closest in meaning to the underlined part in each of the following questions.

    Question 25: The famous racehorse Secretariat had to be destroyed because of a painful, incurable hoof disease.

    VanMau.Net                                                                                                                                                                                             Page 2

     

    A. irreparable B. vexatious C. dangerous D. disabling
    Question 26: In most countries, compulsory military service does not apply to women.
    A. superior B. mandatory C. beneficial D. constructive

    Question 27: Scientists warn of the impending extinction of many species of plants and animals.

    1. irrefutable B. imminent C. formidable                  D. absolute

    Question 28: The aircraft carrier is indispensable in naval operations against sea or shore based enemies.

    1. unique B. novel C. vital                                D. exotic

    Question 29 : The use of lasers in surgery has become relatively commonplace in recent years.

    1. absolutely B. relevantly C. comparatively            D. almost

    Each of the following sentences has four underlined words or phrases marked A, B, C, and D. Choose the word or phrase which be changed in order for the sentence to be correct.

    Question 30: Paulo has learnt English for five years ago.

    A             B                   C                                     D

    Question 31: Although they always argue with each other, but they are good friends.

    A                        B                               C                                      D

    Question 32: Thanks to the timely laws, some elephant populations, especially that in southern Africa,

    A                       B                                                                                                        C

    have recovered over the last decade.

    D

    Question 33: He stopped to smoke because cigarettes are harmful to his health.

    A                                                    B                    C                D

    Question 34: The professor together with his three students have been called to court.

    A                             B                                                             C                               D

    Mark the letter A,B,C or D on your answer sheet to indicate the correct word or phrase to fill in the blank in the following passage.

    NEIGHBORS INFLUENCE BUYING DECISIONS

    However objective we believe ourselves to be, most of us do not judge a product solely on its merits, considering quality, value and style before making a decision. (35)________, we are easily influenced by the people around us.

    There is nothing (36)___________ with this. It is probably a smarter way to make decisions than (37)________ on only our own opinions. But it does make life hard for companies. They have long understood that groups of friends and relatives tend to buy the same products, but understanding the reasons has been tricky. It is because they are so similar with (38)_______ to how much money they make and what television ads they watch that they independently (39)________ at the same decision? Or do they copy one another, perhaps (40)______ envy or perhaps because they have shared information about the products?

    VanMau.Net                                                                                                                                                                                             Page 3

     

    Research in Finland recently found overwhelming evidence that neighbours have a big influence on buying decisions. When one of a person’s ten nearest neighbours bought a car, the chances that that person would buy a car of the same brand during the next week and a half (41)__________ by 86 per cent. The researchers argued that it was not just a (42)_________ of envy. Used cars seemed to attract neighbours even more than new cars. This suggested that people were not trying to (43)_______ up with their neighbours, they were keen to learn from them. Since used cars are less reliable, a recommendation of one can (44)________influence a buying decision.

    Question 35:  A. What’s more B. Instead C. Unlike D. In place
    Question 36:  A. wrong B. silly C. bad D. daft
    Question 37:  A. basing B. trusting C. supposing D. relying
    Question 38:  A. connection B. regard C. relation D. concern
    Question 39:  A. reach B. come C. arrive D. get
    Question 40:  A. for B. as to C. out of D. about
    Question 41:  A. boosted B. rose C. enlarged D. lifted
    Question 42:  A. thing B. point C. matter D. fact
    Question 43:  A. keep B. stay C. hold D. follow
    Question 44:  A. fiercely B. strongly C. firmly D. intensely

    Read the following passage and mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the correct answer to each of the questions.

    The principle of use and disuse states that those parts of organisms’ bodies that are used grown larger. Those parts that are not tend to wither away. It is an observed fact that when you exercise particular muscles, they grow. Those that are never used dimish. By examining a man’s body, we can tell which muscles he uses and which he doesn’t. we may even be able to guess his profession or his reaction. Enthusiasts of the “body- building” cult make use of the principle of use and disuse to “build” their bodies, almost like a piece of sculpture, into whatever unnatural shape is demanded by fashion in this peculiar minority culture. Muscles are not the only parts of the body that respond to use in this kind of way. Walk barefoot and you acquire harder skin on your soles. It is easy to tell a farmer from a bank teller by looking at their hands alone. The farmer’s hands are horny, hardened by long exposure to rough work. The teller’s hands are relatively soft.

    The principle of use and disuse enables animals to become better at the job of surviving in their world, progressively better during their lifetime as a result of living in that world. Humans, through direct exposure to sunlight, or lack of it, develop a skin color which equips them better to survive in the particular local conditions.

    Too much sunlight is dangerous. Enthusiastic sunbathers with very fair skins are susceptible to skin cancer. Too little sunlight, on the other hand, leads to vitamin-D deficiency and rickets. The brown pigment melanin which is synthesized under the influence of sunlight, makes a screen to protect the underlying tissues from the harmful effects of further sunlight. If a suntanned person moves to a less sunny climate, the melanin disappears, and the body is able to benefit from what little sun there is. This can be represented as an instance of the principle of use

    VanMau.Net                                                                                                                                                                                             Page 4

     

    and disuse: skin goes brown when it is “used”, and fades to white when it is not.

    Question 45: What does the passage mainly discuss?

    1. How the principles of use and disuse change people’s concepts of themselves.
    1. The changes that occur according to the principle of use and disuse.
    1. The way in which people change themselves to conform to fashion.
    1. The effects of the sun on the principle of use and disuse.
    Question 46: The phrase “wither away” in line 2 is closest in meaning to____.
    A. split B. rot C. perish D. shrink
    Question 47: The word “Those” in line 3 refers to___.
    A. organisms B. bodies C. parts D. muscles
    Question 48 : According to the passage, men who body build____.
    A. appear like sculptures B. change their appearance
    C. belong to strange cults D. are very fashionable
    Question 49: From the passage, it can be inferred that author views body building____.
    A. with enthusiasm B. as an artistic from C. with scientific interest D. of doubtful benefic
    Question 50: The word “horny” in line 9 is closest in meaning to____.
    A. firm B. strong C. tough D. dense

    Question 51: It can be inferred from the passage that the principle of use and disuse enables organisms to____.

    1. survive in any condition B. automatically benefit
    1. change their existence D. improve their lifetime

    Question 52: The author suggests that melanin_____.

    1. helps protect fair-skinned people

    Question 53: In the second paragraph, the author mentions sun tanning as an example of____.

    A. humans improving their local condition B. humans surviving in adverse conditions
    C. humans using the principle of use and disuse D. humans running the risk of skin cancer
    Question 54: The word “ susceptiblecould be best replaced by____.
    VanMau.Net Page 5

     

    1. condemned B. vulnerable C. allergic                          D. suggestible

    Read the following passage and mark the letter A, B, C or D on your answer sheet to indicate the correct answer to each of the questions.

    Choosing a career may be one of the hardest jobs you ever have, and it must be done with care. View a career as an opportunity to do something you love, not simply as a way to earn a living. Investing the time and effort to thoroughly explore your options can mean the difference between finding a stimulating and rewarding career and move from job to unsatisfying job in an attempt to find the right one. Work influences virtually every aspect of your life, from your choice of friends to where you live. Here are just a few of the factors to consider.

    Deciding what matters most to you is essential to making the right decision. You may want to begin by assessing your likes, dislikes, strengths, and weaknesses. Think about the classes, hobbies, and surroundings that you find most appealing. Ask yourself questions, such as “Would you like to travel ? Do you want to work with children ? Are you more suited to solitary or cooperative work ?” There are no right or wrong answers ; only you know what is important to you. Determine which job features you require, which ones you would prefer, and which ones you cannot accept. Then rank them in order of importance to you.

    The setting of the job is one factor to take into account. You may not want to sit at a desk all day. If not, there are diversity occupation – building inspector, supervisor, real estate agent – that involve a great deal of time away from the office. Geographical location may be a concern, and employment in some fields is concentrated in certain regions. Advertising job can generally be found only in large cities. On the other hand, many industries such as hospitality, law education, and retail sales are found in all regions of the country.If a high salary is important to you, do not judge a career by its starting wages. Many jobs, such as insurance sales, offers relatively low starting salaries; however, pay substantially increases along with your experience, additional training, promotions and commission.

    Don’t rule out any occupation without learning more about it. Some industries evoke positive or negative associations. The traveling life of a flight attendant appears glamorous, while that of a plumber does not. Remember that many jobs are not what they appear to be at first, and may have merits or demerits that are less obvious. Flight attendants must work long, grueling hours without sleeps, whereas plumbers can be as highly paid as some doctors. Another point to consider is that as you get mature, you will likely to develop new interests and skills that may point the way to new opportunities. The choice you make today need not be your final one.

    Question 55. The author states that “There are no right or wrong answers” in order to _______.

    1. emphasize that each person’s answers will be different.
    1. show that answering the questions is a long and difficult process.

    VanMau.Net                                                                                                                                                                                             Page 6

     

    1. indicate that the answers are not really important.
    1. indicate that each person’s answers may change over time.

    Question 56: The word “them” in paragraph 2 refers to _________.

    1. questions B. answers C. features                                             D. jobs

    Question 57: The word “assessing” in paragraph 2 could best be replaced by ________.

    1. discovering B. considering C. measuring                                        D. disposing

    Question 58: According to paragraph 3, which of the following fields is NOT suitable for a person who

    does not want to live in a big city ?

    1. plumbing B. law C. retail sales                                        D. advertising

    Question 59: Those are all the factors you should take into account when choosing a job except__________.

    A.Your likes and your dislikes                               B. The atmosphere at work

    1. Geographical location D. Your strengths and weaknesses

    Question 60: The word “that” in paragraph 4 refers to

    1. occupation B. the traveling life C. a flight attendant                  D. commission

    Question 61: It can be inferred from the paragraph 3 that ________.

    1. jobs in insurance sales are generally not well-paid.
    1. insurance sales people can earn high salary later in their career.
    1. people should constantly work toward the next promotion.
    1. a starting salary should be an important consideration in choosing a career.

    Question 62: In paragraph 5, the author suggests that ________.

    1. you may want to change careers at some time in the future.
    1. as you get older, your career will probably less fulfilling.
    1. you will be at your job for a lifetime, so choose carefully.
    1. you will probably jobless at some time in the future.

    Question 63: Why does the author mention “long, grueling hours without sleeps” in paragraph 4 ? A. To emphasize the difficulty of working as a plumber.

    1. To contrast the reality of a flight attendant’s job with most people’s perception.
    1. To show that people must work hard for the career they have chosen.

    VanMau.Net                                                                                                                                                                                             Page 7

     

    1. To discourage readers from choosing a career as a flight attendant. Question 64: According to the passage, which of the following is true ?
    1. To make a lot of money, you should not take a job with a low starting salary.
    1. To make lots of money, you should rule out all factory jobs.
    1. If you want an easy and glamorous lifestyle, you should consider becoming flight attendant D. Your initial view of certain careers may not be accurate.

    WRITING

    Part I: Finish each of the following sentences in such a way that it means the same as the sentence printed before it.

    Question 65: I spend half an hour travelling to work by motorbike everyday.

    • It takes……………………………………………………………………………………………………

    Question 66: “ Can you give me a ride to school ?”

    • He asked his friend………………………………………………………………………………………

    Question 67: We can’t have breakfast in the garden because it is very cold.

    • It is so…………………………………………………………………………………………………..

    Question 68: I’ve never met a more intelligent man than him.

    • He………………………………………………………………………………………………………..

    Question 69: Without skilful surgery he would not have survived the operation.

    • But for ………………………………………………………………………………………………….

    Part II: In about 140 words, write a paragraph about one of your idols.

    …………………………………………………………………………………………………………………

    …………………………………………………………………………………………………………………

    …………………………………………………………………………………………………………………

    ———-THE END———-

    VanMau.Net                                                                                                                                                                                             Page 8

     

    ĐÁP ÁN ĐỀ 15

    PHẦN TRẮC NGHIỆM (8 điểm)

    Câu số Đáp án Câu số Đáp án Câu số Đáp án
    1 B 23 B 45 B
    2 C 24 D 46 D
    3 C 25 A 47 D
    4 D 26 B 48 B
    5 C 27 B 49 D
    6 C 28 C 50 C
    7 B 29 C 51 A
    8 D 30 D 52 A
    9 A 31 D 53 C
    10 A 32 C 54 B
    11 D 33 A 55 B
    12 C 34 C 56 A
    13 B 35 B 57 A
    14 A 36 A 58 D
    15 A 37 D 59 C
    16 B 38 B 60 C
    17 D 39 C 61 A
    18 C 40 C 62 C
    19 D 41 B 63 B
    20 C 42 C 64 D
    21 B 43 A
    22 C 44 B

    PHẦN VIẾT(2 điểm)

    I (0,5 điểm)

    Câu 65: It takes me half an hour to travell to work by motorbike everyday.

    Câu 66: He asked his friend to give him a ride to school/He asked his friend if (whether) he (she) could give him a ride to school.

    Câu 67: It is so cold that we can’t have breakfast in the garden.

    Câu 68: He is the most intelligent man I have ever met

    Câu 69: But for skilful surgery he would not have survived the operation.

    VanMau.Net                                                                                                                                                                                             Page 9

     

    1. (1.5 điểm)
    Mô tả tiêu chí đánh giá Điểm tối đa
    1. Bố cục 0.40
    o Câu đề dẫn chủ đề mạch lạc
    o Bố cục hợp lí rõ ràng phù hợp yêu cầu của đề bài
    o Bố cục uyển chuyển từ mở bài đến kết luận
    2. Phát triển ý 0.25
    o Phát triển ý có trình tự logic
    o Có dẫn chứng, ví dụ, … đủ để bảo vệ ý kiến của mình
    3. Sử dụng ngôn ngữ 0.30
    o Sử dụng ngôn từ phù hợp nội dung
    o Sử dụng ngôn từ đúng văn phong/ thể loại
    o Sử dụng từ nối các ý cho bài viết uyển chuyển
    4. Nội dung 0.30
    o Đủ thuyết phục người đọc
    o Đủ dẫn chứng, ví dụ, lập luận
    o Độ dài: Số từ không nhiều hơn hoặc ít hơn so với quy định 5%
    5. Ngữ pháp, dấu câu và chính tả 0.25
    o Sử dụng đúng dấu câu
    o Chính tả: Viết đúng chính tả
    _ Lỗi chính tả gây hiểu nhầm/ sai lệch ý sẽ bị tính một lỗi (trừ 1% điểm
    của bài viết)
    _ Cùng một lỗi chính tả lặp lại chỉ tính là một lỗi
    o Sử dụng đúng thời, thể, cấu trúc câu đúng ngữ pháp. (Lỗi ngữ pháp gây
    hiểu nhầm/ sai lệch ý sẽ bị trừ 1% điểm bài viết.)
    Tổng 1.5

    VanMau.Net                                                                                                                                                                                         Page 10