Category: Khóa Học

  • TÌM HIỂU CÔNG  NGHỆ 3G

    TÌM HIỂU CÔNG NGHỆ 3G

    TÌM HIỂU CÔNG NGHỆ 3G

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:ĐỀ KIỂM TRA PHÁP LUẬT ĐẠI CƯƠNG


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/T%C3%8CM-HI%E1%BB%82U-C%C3%94NG-NGH%E1%BB%86-3G.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: TÌM HIỂU CÔNG NGHỆ 3G

    TÌM HIỂU CÔNG  NGHỆ 3G

    1. Mở đầu

    Sự phát triển nhanh chóng của dịch vụ số liệu mà IP đã đặt ra các yêu mới đối với công nghệ viễn thông di động. Thông tin di động thế hệ 2 mặc dù sử dụng công nghệ số nhưng là hệ thống băng hẹp và được xây dựng trên cơ chế chuyển mạch kênh nên không thể đáp ứng được dịch vụ mới này. 3G (third-generation) công nghệ truyền thông thế hệ thứ ba là giai đoạn mới nhất trong sự tiến hóa của ngành viễn thông di động. Nếu 1G (the first gerneration) của điện thoại di động là những thiết bị analog, chỉ có khả năng truyền thoại. 2G (the second generation) của ĐTDĐ gồm cả hai công năng truyền thoại và dữ liệu giới hạn dựa trên kỹ thuật số. Trong bối cảnh đó ITU đã đưa ra đề án tiêu chuẩn hóa hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 với tên gọi IMT – 2000. IMT – 2000 đã mở rộng đáng kể khả năng cung cấp dịch vụ  và cho phép sử dụng nhiều phương tiện thông tin. Mục đích của IMT – 2000 là đưa ra nhiều khả năng mới nhưng cũng đồng thời đảm bảo sự phát triển liên tục của hệ thống thông tin di động thế hệ thứ hai (2G) vào những năm 2000. 3G mang lại cho người dùng các dịch vụ giá trị gia tăng cao cấp, giúp chúng ta thực hiện truyền thông thoại và dữ liệu (như e-mail và tin nhắn dạng văn bản), download âm thanh và hình ảnh với băng tần cao. Các ứng dụng 3G thông dụng gồm hội nghị video di động; chụp và gửi ảnh kỹ thuật số nhờ điện thoại máy ảnh; gửi và nhận e-mail và file đính kèm dung lượng lớn; tải tệp tin video và MP3; thay cho modem để kết nối đến máy tính xách tay hay PDA và nhắn tin dạng chữ với chất lượng cao…

    2. Thế nào là công nghệ 3G

    3G là thuật ngữ dùng để chỉ các hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 (Third Generation). Đã có rất nhiều người nhầm lẫn một cách vô ý hoăc hữu ý giữa hai khái niệm 3G và UMTS (Universal Mobile Telecommunications Systems).
    Để hiểu thế nào là công nghệ 3G, chúng ta hãy xét qua đôi nét về lịch sử phát triển của các hệ thống điện thoại di động. Mặc dù các hệ thống thông tin di động thử nghiệm đầu tiên đựơc sử dụng vào những năm 1930-1940 trong trong các sở cảnh sát Hoa Kỳ nhưng các hệ thống điện thoại di động thương mại thực sự chỉ ra đời vào khoảng cuối những năm 1970 đầu những năm 1980. Các hệ thống điện thoại thế hệ đầu sử dụng công nghệ tương tự và người ta gọi các hệ thống điện thoại kể trên là các hệ thống 1G.

    Khi số lượng các thuê bao trong mạng tăng lên, người ta thấy cần phải có biện pháp nâng cao dung lượng của mạng, chất lượng các cuộc đàm thoại cũng như cung cấp thêm một số dịch vụ bổ sung cho mạng. Để giải quyết vấn đề này người ta đã nghĩ đến việc số hoá các hệ thống điện thoại di động, và điều này dẫn tới sự ra đời của các hệ thống điện thoại di động thế hệ 2.

    Ở châu Âu, vào năm 1982 tổ chức các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông châu Âu (CEPT – Conférence Européene de Postes et Telécommunications) đã thống nhất thành lập một nhóm nghiên cứu đặc biệt gọi là Groupe Spéciale Mobile (GSM) có nhiệm vụ xây dựng bộ các chỉ tiêu kỹ thuật cho mạng điện thoại di động toàn châu Âu hoạt động ở dải tần 900 MHz. Nhóm nghiên cứu đã xem xét nhiều giải pháp khác nhau và cuối cùng đi đến thống nhất sử dụng kỹ thuật đa truy nhập phân chia theo mã băng hẹp (Narrow Band TDMA). Năm 1988 phiên bản dự thảo đầu tiên của GSM đã được hoàn thành và hệ thống GSM đầu tiên được triển khai vào khoảng năm 1991. Kể từ khi ra đời, các hệ thống thông tin di động GSM đã phát triển với một tốc độ hết sức nhanh chóng, có mặt ở 140 quốc gia và có số thuê bao lên tới gần 1 tỷ. Lúc này thuật ngữ GSM có một ý nghĩa mới đó là hệ thống thông tin di động toàn cầu (Global System Mobile).
    Cũng trong thời gian kể trên, ở Mỹ các hệ thống điện thoại tương tự thế hệ thứ nhất AMPS được phát triển thành các hệ thống điện thoại di động số thế hệ 2 tuân thủ tiêu chuẩn của hiệp hội viễn thông Mỹ IS-136. Khi công nghệ CDMA (Code Division Multiple Access – IS-95) ra đời, các nhà cung cấp dịch vụ điện thoại di động ở Mỹ cung cấp dịch vụ mode song song, cho phép thuê bao có thể truy cập vào cả hai mạng IS-136 và IS-95.

    Do nhận thức rõ về tầm quan trọng của các hệ thống thông tin di động mà ở Châu Âu, ngay khi quá trình tiêu chuẩn hoá GSM chưa kết thúc người ta đã tiến hành dự án nghiên cứu RACE 1043 với mục đích chính là xác định các dịch vụ và công nghệ cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 cho năm 2000. Hệ thống 3G của châu Âu được gọi là UMTS. Những người thực hiện dự án mong muốn rằng hệ thống UMTS trong tương lai sẽ được phát triển từ các hệ thống GSM hiện tại. Ngoài ra người ta còn có một mong muốn rất lớn là hệ thống UMTS sẽ có khả năng kết hợp nhiều mạng khác nhau như PMR, MSS, WLAN… thành một mạng thống nhất có khả năng hỗ trợ các dịch vụ số liệu tốc độ cao và quan trọng hơn đây sẽ là một mạng hướng dịch vụ.

    Song song với châu Âu, Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU – International Telecommunications Union) cũng đã thành lập một nhóm nghiên cứu để nghiên cứu về các hệ thống thông tin di động thế hệ 3, nhóm nghiên cứu TG8/1. Nhóm nghiên cứu đặt tên cho hệ thống thông tin di động thế hệ thứ 3 của mình là Hệ thống Thông tin Di động Mặt đất Tương lai (FPLMTS – Future Public Land Mobile Telecommunications System). Sau này, nhóm nghiên cứu đổi tên hệ thống thông tin di động của mình thành Hệ thống Thông tin Di động Toàn cầu cho năm 2000 (IMT-2000 – International Mobile Telecommunications for the year 2000). Đương nhiên là các nhà phát triển UMTS (châu Âu) mong muốn ITU chấp nhận hệ thống chấp nhận toàn bộ những đề xuất của mình và sử dụng hệ thống UMTS làm cơ sở cho hệ thống IMT-2000. Tuy nhiên vấn đề không phải đơn giản như vậy, đã có tới 16 đề xuất cho hệ thống thông tin di động IMT-2000 (bao gồm 10 đề xuất cho các hệ thống mặt đất và 6 đề xuất cho các hệ thống vệ tinh).

    3. Các tiêu chí chung để xây dựng IMT – 2000 như sau:

    IMT-2000 cung cấp hạ tầng kỹ thuật cho các dịch vụ gia tăng và các ứng dụng trên một chuẩn duy nhất cho mạng thông tin di động.

    – Sử dụng dải tần quy định quốc tế 2GHz như sau: Đuờng lên: 1885 – 2025 MHz; đường xuống: 2110 -2200 MHz. IMT-2000 hỗ trợ tốc độ đường truyền cao hơn: tốc độ tối thiểu là 2Mbps cho người dùng văn phòng hoặc đi bộ; 348Kbps khi di chuyển trên xe. Trong khi đó, hệ thống viễn thông 2G chỉ có tốc độ từ 9,6Kbps tới 28,8Kbps.

    – Là hệ thống thông tin di động toàn cầu cho các loại hình thông tin vô tuyến:

    + Tích hợp các mạng thông tin hữu tuyến và vô tuyến

    + Tương tác cho mọi loại dịch vụ viễn thông từ cố định, di động, thoại, dữ liệu, Internet đến các dịch vụ đa phương tiện

    – Có thể hỗ trợ các dịch vụ như:

    + Các phương tiện tại nhà ảo trên cơ sở mạng thông minh, di động các nhân và chuyển mạng toàn cầu

    + Đảm bảo chuyển mạng quốc tế cho phép người dùng có thể di chuyển đến bất kỳ quốc gia nào cũng có thể sử dụng một số điện thoại duy nhất.

    + Đảm bảo các dịch vụ đa phương tiện đồng thời cho tiếng, số liệu chuyển mạch kênh và số liệu chuyển mạch gói.

    – Dễ dàng hỗ trợ các dịch vụ mới xuất hiện.

    Môi trường hoạt động của IMT – 2000 được chia thành 4 vùng với tốc độ bit R như sau:

    + Vùng 1: Trong nhà, ô pico, Rb ≤ 2 Mbit/s

    + Vùng 2: thành phố, ô macrô, R b ≤ 384 kbit/s

    + Vùng 2: ngoại ô, ô macrô, Rb ≤  144 kbit/s

    + Vùng 4: toàn cầu, Rb  = 9,6 kbit/s.

    IMT-2000 có những đặc điểm chính:

    3.1 Tính linh hoạt:

    Với số lượng lớn các vụ sáp nhập và hợp nhất trong ngành công nghiệp điện thoại di động và khả năng đưa dịch vụ ra thị trường ngoài nước, nhà khai thác không muốn phải hỗ trợ giao diện và công nghệ khác. Điều này chắc chắn sẽ cản trở sự phát triển của 3G trên toàn thế giới. IMT-2000 hỗ trợ vấn đề này, bằng cách cung cấp hệ thống có tính linh hoạt cao, có khả năng hỗ trợ hàng loạt các dịch vụ và ứng dụng cao cấp. IMT-2000 hợp nhất 5 kỹ thuật (IMT-DS, IMT-MC, TMT-TC, IMT-SC, IMT-FT) về giao tiếp sóng dựa trên ba công nghệ truy cập khác nhau (FDMA – Đa truy cập phân chia theo tần số, TDMA – Đa truy cập phân chia theo thời gian và CDMA – Đa truy cập phân chia theo mã). Dịch vụ gia tăng trên toàn thế giới và phát triển ứng dụng trên tiêu chuẩn duy nhất với 5 kỹ thuật và 3 công nghệ.

    3.2. Tính kinh tế:

    Sự hợp nhất giữa các ngành công nghiệp 3G là bước quan trọng quyết định gia tăng số lượng người dùng và các nhà khai thác. .

    3.3. Tính tương thích:

    Các dịch vụ trên IMT-2000 có khả năng tương thích với các hệ thống hiện có. Chẳng hạn, mạng 2G chuẩn GSM sẽ tiếp tục tồn tại một thời gian nữa và khả năng tương thích với các hệ thống này phải được đảm bảo hiệu quả và liền mạch qua các bước chuyển.

    3.4. Thiết kế theo modul:

    Chiến lược của IMT-2000 là phải có khả năng mở rộng dễ dàng để phát triển số lượng người dùng, vùng phủ sóng, dịch vụ mới với khoản đầu tư ban đầu thấp nhất.

    Phân loại các dịch vụ của IMT-2000
    Kiểu Phân loại Dịch vụ chi tiết
    Dịch vụ di động
    Dịch vụ di động
    – Di động đầu cuối/di động cá nhân/di động dịch vụ
    Dịch vụ thông tin định vị – Theo dõi di động/theo dõi di động thông minh
    Dịch vụ viễn thông Dịch vụ âm thanh – Dịch vụ âm thanh chất lượng cao(16 – 64 kbit/s)

    – Dịch vụ âm thanh AM (32 –64 kbit/s)

    – Dịch vụ truyền thanh FM (64 – 384kbit/s)

    Dịch vụ số liệu – Dịch vụ số liệu tốc độ trung bình (64 – 144 kbit/s)

    – Dịch vụ số liệu tốc độ tương đối cao (144 – 2 Mbit/s)

    – Dịch vụ số liệu tốc độ cao (≥ 2Mbit/s)

    Dịch vụ đa phương tiện – Dịch vụ Video (384kbit/s)

    – Dịch vụ hình chuyển động (384kbit/s – 2Mbit/s)

    – Dịch vụ hình chuyển động thời gian thực (≥ 2Mbit/s)

    Dịch vụ Internet Dịch vụ Internet đơn giản – Dịch vụ truy nhập Web (384kbit/s – 2Mbit/s)
    Dịch vụ Internet thời gian thực – Dịch vụ Internet (384kbit/s – 2Mbit/s)
    Dịch vụ internet đa phương tiện – Dịch vụ Website đa phương tiện thời gian thực (≥ 2Mbit/s)

    4. Lộ trình phát triển từ các hệ thống thế hệ hai đến thế hệ 3

    4.1. Lịch trình nghiên cứu phát triển hệ thống thông tin di động thế hệ ba.

    Công trình nghiên cứu của các nước Châu Âu cho W-CDMA đã bắt đầu từ các đề án CDMT (Code Division Multiple Testbed): Phòng thí nghiệm đa truy nhập theo mã) và FRAMES (Future Radio Multiple Access Scheme: Sơ đồ đa truy nhập vô tuyến tương lai) từ đầu thập niên 90. Các dự án này cũng tiến hành thực nghiệm các hệ thống W-CDMA  để đánh giá chất lưọng đường truyền. Công tác tiêu chuẩn hoá chi tiết được thực hiện ở 3GPP. Lịch trình triển khai W-CDMA  được cho hình vẽ.

    Lịch trình nghiên cứu và đưa mạng W-CDMA vào khai thác

    Ở Châu Âu và Châu Á, hệ thống W-CDMA được đưa ra khai thác vào đầu năm 2002

    Lịch trình nghiên cứu phát triển của cdma2000/3GPP2 chia thành 2 pha:

    – Pha 1: (1997 – 1999)

    + Nghiên cứu phát triển mẫu đầu tiên của hệ thống;

    + Năm 1997: Xây dựng tiêu chuẩn , xây dụng cấu trúc mẫu đầu tiên hệ thống và thiết kế các phương tiện thử nghiệm chung.

    +Năm 1998: Tiếp tục xây dựng mẫu thử đầu tiên của hệ thống và các phương tiện thử nghiệm chung;

    + Năm 1999: Kiểm tra kết nối cho mô hình đầu tiên của hệ thống.

    – Pha 2: (2000 -2002)

    + Phát triển hệ thống với mục tiêu thương mại ở các nhà sản xuất hàng đầu ;

    + Năm 2002: Bắt đầu dịch vụ thương mại

    4.2. Lộ trình phát triển từ hệ thống IS-95 thế hệ hai đến cdma 2000 thế hệ ba

    Mặc dù mạng cdma One (IS-95) không phải là các mạng đầu tiên cung cấp truy nhập số liệu, nhưng đây là các mạng được thiết kế duy nhất để truyền số liệu . Trước hết chúng xử lý truyền dẫn số liệu và tiếng theo cách rất giống nhau. khả năng truyền dẫn tốc độ thay đổi có sẵn trong cdmaOne cho phép quyết định lượng thông tin cần phát, vì thế cho phép chỉ sử dụng tiềm năng mạng theo nhu cầu. Vì các hệ thống cdmaOne sử dụng truyền tiếng đóng gói trên đường trục (các đường truyền dẫn từ BTS đến MSC), nên khả năng truyền số liệu gói đã có sẵn trong thiết bị. Công nghệ truyền dẫn số liệu gói của cdmaOne sử dụng ngăn xếp giao thức số liệu gói số tổ ong (CDPD: Cellular Digital Packet Data) phù hợp với TCP/IP.

    Bổ sung truyền số liệu vào mạng cdma2000 sẽ cho phép nhà khai thác mạng tiếp tục sử dụng các phương tiện truyền dẫn, các phương tiện vô tuyến, cơ sở hạ tầng và các thiết bi đầu cuối hiện có bằng cách nâng cấp phần mềm cho chức năng tương tác. Nâng cấp lên IS-95B cho phép tăng tốc kênh để cung cấp tốc độ số liệu 64 – 115 kbit/s và đồng thời cải thiện chuyển giao mềm và chuyển giao cứng giữa các tần số. Các nhà sản xuất đã công bố các khả năng số liệu gói, số liệu kênh và fax số trên các thiết bị cdmaOne của họ.

    Một trong các mục tiêu quan trọng của ITU IMT – 2000 là tạo ra các tiêu chuẩn khuyến khích sử dụng một băng tần trên toàn cầu nhằm thúc đẩy ở mức độ cao việc nhiều người thiết kế và hỗ trợ các dịch vụ cao. IMT – 2000 sẽ sử dụng các đầu cuối bỏ túi kích cỡ nhỏ, mở rộng nhiều phương tiện khai thác và triển khai cấu trúc mở cho phép đưa ra các công nghệ mới. Ngoài ra các hệ thống 3G hứa hẹn đem lại các dịch vụ tiếng vô tuyến có các mức chất lượng hữu tuyến đồng thời với tốc độ và dung lượng cần thiết để hỗ trợ đa phương tiện và các ứng dụng tốc độ cao. Các dịch vụ trên cơ sở định vị, đạo hàng, hỗ trợ cấp báo và các dịch vụ tiên tiến khác cũng sẽ được hỗ trợ.

    Sự phát triển của hệ thống 3G sẽ mở cánh cửa cho mạch vòng thuê bao vô tuyến đối với PSTN và truy nhập mạng số liệu công cộng, đồng thời đảm bảo điều kiện tiện lợi hơn các ứng dụng và các tiềm năng mạng. Nó cũng sẽ đảm bảo chuyển mạng toàn cầu, di động dịch vụ, ID trên cơ sở vùng, tính cước và truy nhập thư mục toàn cầu. Thậm chí có thể hy vọng công nghệ 3G cho phép kết nối mạng vệ tinh một cách liên tục.

    Một trong các yêu cầu kỹ thuật của cdma2000là tương thích với hệ thống cũ cdmaOne về: Các dịch vụ tiếng, các bộ mã hoá tiếng, các cấu trúc báo hiệu và khả năng bảo mật.

    Bằng cách chuyển từ công nghệ giao diện vô tuyến IS-95CDMA hiện nay sang IS-2000 1X của tiêu chuẩn cdma2000, các nhà khai thác đạt được tăng dung lượng vô tuyến gấp đôi và có khả năng xử lý số liệu gói đến 144 kbit/s.

    Cùng sự ra đời của cdma2000 giai đoạn một, các dịch vụ số liệu cũng sẽ được cải thiện. Giai đoạn 2 cũng sẽ đuợc hình thành cơ cấu MAC (Medium Access Control: điều khiển truy nhập môi trường) và định nghĩa giao thức đoạn nối vô tuyến (RLP: Radio Link Prôtcol) cho số liệu gói để hỗ trợ các tốc độ số liệu gói ít nhất là 144kbit/s.

    Thực hiện giai đoạn 2 của cdma2000sẽ mang lại rất nhiều các khả năng mới và các tăng cường dịch vụ. Giai đoạn 2 sẽ hỗ trợ tất cả các kích cỡ kênh (6X, 9X và 12X) cơ cấu cho các dịch vụ tiếng, bộ mã hoá tiếng cho cdma2000, bao gồm tiếng trên nền IP. Với giai đoạn 2 các dịch vụ đa phương tiện thực sự sẽ được cung cấp và sẽ mang lại cơ hội thuận lợi bổ sung cho các nhà khai thác. Các dịch vụ đa phương tiện sẽ có thể thực hiện được thông qua MAC số liệu gói, hỗ trợ đầy đủ cho số liệu gói, hỗ trợ đầy đủ cho dịch vụ số liệu gói đến 2Mb/s, RLP hỗ trợ tất cả các tốc độ số liệu đến 2Mb/s và mô hình gọi đa phương tiện tiên tiến.

     

     

    Lộ trình phát triển từ cdmaOne đến cdma 2000

    Cả cdma2000 giai đoạn 1 và 2 đều có thể hoà trộn với cdmaOne để sử dụng hiệu quả nhất phổ tần tuỳ theo nhu cầu của khách hàng. Chẳng hạn một nhà khai thác có nhu cầu lớn về dịch vụ số liệu tốc độ có thể chọn triển khai kết hợp giao đoạn 1 cdma2000 và cdmaOne với sử dụng nhiều kênh hơn cho cdmaOne. Ở một thị trườmg khác, người sử dụng có thể chưa cần nhanh chóng sử dụng các dịch vụ tốc độ số liệu cao thì nhiều kênh hơn sẽ được dành cho các dịch vụ của cdmaOne. Vì các khả năng của cdma2000 giai đoạn hai đã sẵn sàng nên nhà khai thác khác có nhiều cách lựa chọn hơn trong việc sử dụng phổ tần để hỗ trợ các dịch vụ mới

    4.3. Tổng kết quá trình phát triển của hệ thống thông tin di động đến thế hệ ba

    Trong qua trình này ta tổng kết nền tảng công nghệ chính của thông tin di động từ thế hệ một đến thế hệ ba và quá trình phát triển của các nền tảng này đến nền tảng của thế hệ ba. Để tiến tới thế hệ ba có thể thế hệ hai phải trải qua một giai đoạn trung gian, giai đoạn này gọi là thế hệ 2,5.

    Tổng kết quá trình phát triển của các nền tảng thông tin di động thế hệ 1 đến thế hệ 3

    5. Các tiêu chuẩn công nghệ của hệ thống thông tin di động thế hệ ba:

    Các hệ thống thông tin di động thứ hai gồm: GSM, IS – 136, IS – 95 CDMA và PDC. Trong qúa trình thiết kế các hệ thống thông tin di động thế hệ ba, các hệ thống thế hệ hai đã được các cơ quan tiêu chuẩn hoá của từng vùng xem xét để đưa ra các đề xuất tương thích. Khuyến nghị ITU-R M.1457 đưa ra 6 tiêu chuẩn công nghệ cho giao diện truy nhập vô tuyến của thành phần mặt đất của các hệ thống IMT-2000 (tên gọi mạng 3G của ITU), bao gồm:

    – IMT-2000 CDMA Direct Spread (trải phổ trực tiếp), thường được biết dưới tên WCDMA.

    – IMT-2000 CDMA Multi-Carrier (nhiều sóng mang), đây là phiên bản 3G của hệ thống IS-95 (hiện nay gọi là cdmaOne)

    – IMT-2000 CDMA TDD

    – IMT-2000 TDMA Single-Carrier (một sóng mang), các hệ thống thuộc nhóm này được phát triển từ các hệ thống GSM hiện có lên GSM 2+ (được gọi là EDGE).

    – IMT-2000 FDMA/TDMA (thời gian tần số), đây là hệ thống các thiết bị kéo dài thuê bao số ở châu Âu.

    – IMT-2000 OFDMA TDD WMAN (thường được biết dưới tên WiMAX di động).

    Mỗi tiêu chuẩn trong sáu tiêu chuẩn công nghệ nêu trên đều được các công ty lớn và một số quốc gia có nền công nghiệp điện tử, viễn thông phát triển ủng hộ và ra sức vận động. Các tiêu chuẩn này cạnh tranh gay gắt với nhau trong việc chiếm lĩnh thị trường thông tin di động. Trong đó chỉ có 3 công nghệ được biết đến nhiều nhất và phát triển thành công là WCDMA, CDMA 2000 1x EV-DO và WiMAX di động.

    5.1. IMT-2000 CDMA Direct Spread:

    Công nghệ IMT-2000 CDMA Direct Spread được biết đến nhiều hơn dưới tên gọi thương mại là WCDMA, được chuẩn hoá bởi 3GPP. Dựa trên công ghệ WCDMA hiện có hai loại hệ thống là FOMA (do NTT DoCoMo triển khai ở Nhật) và UMTS (được triển khai đầu tiên ở Châu Âu, sau đó phát triển ra toàn thế giới). UMTS là sự phát triển lên 3G của họ công nghệ GSM (GSM, GPRS & EDGE), là công nghệ duy nhất được các nước châu Âu công nhận cho mạng 3G. GSM và UMTS cũng là dòng công nghệ chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường thông tin di động ngày nay (chiếm tới 85,4% theo GSA 8-2007).

    Một số đặc điểm chủ yếu của công nghệ WCDMA bao gồm: Mỗi kênh vô tuyến có độ rộng 5 MHz; tương thích ngược với GSM; chip rate 3,84 Mbps; hỗ trợ hoạt động không đồng bộ giữa các cell; truyền nhận đa mã; hỗ trợ điều chỉnh công suất dựa trên tỷ số tín hiệu/tạp âm; có thể áp dụng kỹ thuật anten thông minh để tăng dung lượng mạng và vùng phủ sóng (phiên bản HSPA từ Release 8 trở lên);hỗ trợ nhiều kiểu chuyển giao giữa các cell, bao gồm soft-handoff, softer-handoff và hard-handoff;

    UMTS cho phép tốc độ downlink là 0,384 Mbps (full mobility) và với phiên bản nâng cấp lên HSPA Release 6 hiện nay, tốc độ lên tới 14 Mbps (downlink) và 1,4 Mbps (uplink). Dự kiến phiên bản HSPA Release 8 ra mắt vào năm 2009 (thêm tính năng MIMO) thì tốc độ tương ứng sẽ là 42 Mbps & 11,6 Mbps.

    UMTS hoàn toàn tương thích ngược với GSM. Các máy handset UMTS thường hỗ trợ cả hai chế độ GSM và UMTS, do vậy chúng có thể sử dụng với các mạng GSM hiện có. Nếu một thuê bao UMTS ra khỏi vùng phủ sóng của mạng UMTS và đi vào vùng phủ sóng GSM thì cuộc gọi của thuê bao đó được tự động chuyển giao cho mạng GSM.

    Đặc biệt, trong băng tần 1900-2200 MHz thì WCDMA là công nghệ duy nhất hiện nay đã có thiết bị sẵn sàng, được nhiều nhà cung cấp thiết bị sản xuất và có thể cung cấp ngay khi có đơn đặt hàng. Mặt khác, do quy mô thị trường lớn và là công nghệ đã “trưởng thành” nên WCDMA cũng là một trong những công nghệ có chi phí đầu tư thấp nhất, đem lại hiệu quả cao nhất.

    Tuy nhiên UMTS cũng có một số nhược điểm. Chuyển giao cuộc gọi mới chỉ thực hiện được theo chiều từ UMTS sang GSM mà chưa thực hiện được theo chiều ngược lại. Tần số cao hơn mạng GSM900 nên số lượng trạm BTS dày đặc hơn do đó thời gian xây dựng mạng lâu hơn và chi phí cao hơn mạng GSM. Để cung cấp được dịch vụ Video-on-demand, các trạm gốc phải đặt cách nhau khoảng 1-1,5km; điều đó có thể thực hiện được ở khu vực đô thị nhưng sẽ là không kinh tế ở khu vực nông thôn.

    5.2. IMT-2000 CDMA Multi-Carrier:

    IMT-2000 CDMA Multi-Carrier còn được gọi là IMT-MC hay CDMA2000 là công nghệ phát triển lên 3G từ họ CDMAOne (IS-95) bởi 3GPP2. Đây là công nghệ cạnh tranh trực tiếp với công nghệ WCDMA trên thị trường thông tin di động.

    CDMA2000 có các phiên bản CDMA2000-1x (hay 1xRTT), CDMA2000-3x, CDMA2000 EV-DO, CDMA2000 EV-DV. CDMA2000 sử dụng các cặp sóng mang có độ rộng kênh 1,25 MHz. Phiên bản đầu tiên CDMA2000 1x (hay IS-2000) sử dụng 1 cặp kênh vô tuyến 1,25 MHz để chuyển tải 128 kênh lưu lượng, cung cấp tốc độ downlink 144 kB/s. Mặc dù CDMA2000 1x được công nhận là 3G nhưng nhiều người coi nó là đại diện của mạng 2,5G.

    CDMA2000 và CDMA2000 EV-DV sử dụng 3 kênh 1,25 MHz để tăng tốc độ. CDMA2000 EV-DV có tốc độ downlink lên đến 3,1 Mbps và uplink là 1,8 Mbps. Tuy nhiên cả hai phiên bản này đều không còn được tiếp tục nghiên cứu, phát triển để thương mại hoá do các nhà khai thác CDMA2000 lớn nhất (như Sprint Nextel và Verizon Wireless) đều đã lựa chọn phiên bản EV-DO. Hiện nay chưa có mạng thương mại nào triển khai hai phiên bản này.

    CDMA2000 EV-DO lại có nhiều revision khác nhau: Rev. 0, Rev. A, Rev. B, Rev. C. Tiêu chuẩn CDMA2000 EV-DO đầu tiên được gọi là Revision 0 có tốc độ downlink lên đến 2,4 Mbps và uplink là 153 kbps. CDMA2000 Rev. A có tốc độ lên đến 3,1 Mbps downlink và 1,8 Mbps uplink. Rev. B hỗ trợ tốc độ uplink lên đến 14,7 Mbps (3 kênh sóng mang). Dự kiến đến giữa năm 2009 khi Rev. C hay còn gọi là UMB ra đời (sử dụng MIMO và OFDMA) sẽ hỗ trợ tốc độ downlink lên đến 275 Mbps và uplink lên đến 75 MBps. Tốc độ này cho phép người ta coi UMB là công nghệ của mạng 4G, sánh ngang với LTE của dòng công nghệ HSPA/WCDMA. Cũng giống như HSPDA, các modem từ Rev. A trở lên của CDMA2000 sử dụng chipset của Qualcomm cũng có khả năng xử lý đồng thời cuộc gọi voice bằng chuyển mạch kênh và truy cập dữ liệu bằng chuyển mạch gói.

    Hiện nay thiết bị CDMA2000 ở băng tần 1900-2200 MHz trên thế giới mới chỉ có 1 nhà khai thác duy nhất là KDDI của Nhật Bản triển khai CDMA2000 ở băng tần 1900-2200 MHz. Thiết bị cho mạng này được KDDI đặt hàng riêng của Toshiba nên không phổ biến trên thị trường. Thiết bị CDMA2000 trong băng 1900-2200 MHz có thể sẽ chỉ có sau khi Rev. C (hay UMB) được thương mại hoá vào cuối năm 2009, đầu năm 2010.

    Tuy nhiên thị trường cho công nghệ CDMA2000 vốn đã nhỏ hơn GSM/UMTS nay lại đang suy giảm. Tại một số nước, các nhà khai thác CDMA2000 cũng đang chuyển hướng sang HSPA. Tại Hàn Quốc, KTF và SK Telecom đã tuyên bố ngừng đầu tư vào mạng CDMA2000 và bắt đầu từ đầu năm nay đã chuyển dần khách hàng sang HSPA. Tại Australia, Telstra đã tuyên bố sẽ thu hẹp và ngừng hoạt động mạng EV-DO và chuyển dần khách hàng sang mạng HSPA. Các nhà sản xuất cũng không còn quan tâm nhiều đến CDMA2000 nữa. Nokia đã tuyên bố rút khỏi việc nghiên cứu phát triển CDMA và chỉ tiếp tục kinh doanh các sản phẩm CDMA ở một số thị trường trọng điểm.

    5.3. IMT-2000 CDMA TDD:

    Họ công nghệ CDMA TDD bao gồm TD-CDMA và TD-SCDMA. Công nghệ TD-SCDMA do chính phủ Trung Quốc chỉ đạo Học viện Công nghệ Viễn thông Trung Quốc và Công ty Datang nghiên cứu, phát triển với mục tiêu “không lệ thuộc vào công nghệ Phương Tây” nhằm tránh phải trả một khoản phí bản quyền không nhỏ cho các sáng chế của các công ty Âu-Mỹ đồng thời thúc đẩy ngành công nghiệp điện tử-viễn thông Trung Quốc phát triển. Công nghệ TD-SCDMA còn đang được nghiên cứu phát triển và chưa có nước nào ngoài Trung Quốc dự định triển khai.

    TD-CDMA hay còn gọi là UMTS-TDD sử dụng chung một kênh vô tuyến 5 MHz cho cả đường lên và đường xuống. Mỗi khung thời gian rộng 10 ms chia thành 15 time slot. Các time slot được phân bổ cho đường lên và đường xuống theo một tỷ lệ cố định. Công nghệ truy cập CDMA được sử dụng trong mỗi time slot để ghép kênh các dòng dữ liệu từ các tranceiver khác nhau.

    Công nghệ TD-CDMA chủ yếu được sử dụng để truy cập dữ liệu internet băng thông rộng chứ không dành cho thoại. Nó chủ yếu được dùng cho các pico-cell và micro-cell có nhu cầu dữ liệu lớn. Hiện nay đã có khoảng 20 nước triển khai TD-CDMA ở các thành phố lớn. Tuy nhiên công nghệ này chưa thực sự chín muồi và quy mô thị trường cũng như số lượng các nhà cung cấp thiết bị còn nhiều hạn chế.

    5.4. IMT-2000 TDMA Single-Carrier:

    Công nghệ TDMA Single-Carrier còn được gọi là WUC-136, được phát triển từ tiêu chuẩn IS-136 TDMA. Nó sử dụng các kênh có độ rộng 30 KHz, 200 KHz và 1,6 MHz. Công nghệ này vẫn còn đang ở giai đoạn nghiên cứu phát triển, chưa có hệ thống nào được triển khai thương mại, do đó cũng ít có khả năng chiếm lĩnh thị trường.

    5.5. IMT-2000 FDMA/TDMA:

    Công nghệ này còn có tên gọi là DECT. Nó được ETSI phát triển và được triển khai ở một số nước châu Âu, châu á và châu Mỹ cho các hệ thống điện thoại không dây tổng đài cơ quan (PBX) và điện thoại vô tuyến nội thị công cộng. Do có công suất nhỏ, vùng phủ sóng hẹp (maximum 0,25W) nên công nghệ này không thích hợp cho việc phủ sóng toàn quốc đến các vùng nông thôn.

    5.6. IMT-2000 OFDMA TDD WMAN:

    Công nghệ này dựa trên tiêu chuẩn 802.16e-2005 hay còn gọi là Wimax di động. Nó được IEEE phát triển và đang được thử nghiệm triển khai ở một số nước. Mobile Wimax có một số đặc điểm cơ bản như sau:Thiết kế mạng dựa trên cấu trúc All-IP; kênh vô tuyến có độ rộng 3.5, 5, 7, 10, 20 MHz; song công TDD; sử dụng điều chế OFDMA; tần số 2.3; 2.5; 3.5 GHz; từ CW2 (2008) trở lên sẽ hỗ trợ ăngten thông minh (MIMO); tốc độ (CW2) DL = 37.4 Mbps; UL=10 Mbps.

    Công nghệ Wimax đang được khá nhiều các công ty tham gia phát triển, đặc biệt là các công ty đang chiếm thị phần khiêm tốn trong môi trường thông tin di động như Nortel hay Motorola. Wimax là công nghệ có tiềm năng cạnh tranh cao trong việc cung cấp dịch vụ truy cập không dây băng rộng. Hiện nay Wimax forum đã có tới 469 thành viên (7/2007) là các nhà sản xuất chip/linh kiện; các nhà cung cấp thiết bị, các nhà cung cấp dịch vụ và các nhà cung cấp ứng dụng.

    Tuy nhiên Mobile Wimax cũng có một số nhược điểm. Băng tần cho Mobile Wimax không được thống nhất cao trên toàn cầu như UMTS nên quy mô thị trường bị phân mảnh, dẫn đến chi phí sản xuất cao, thiết bị có giá thành cao. Công nghệ Wimax được phát triển từ con số 0 nên không tương thích với bất kỳ công nghệ nào có trước đó. Ngoài ra, việc phát triển Wimax xuất phát từ nhu cầu cung cấp dịch vụ dữ liệu băng rộng không dây nên chi phí để cung cấp dịch vụ thoại qua mạng Wimax di động là khá tốn kém trong khi nhu cầu chủ yếu của người tiêu dùng hiện nay vẫn là thoại (80-90% lưu lượng toàn mạng), số lượng người sử dụng laptop và PDA vẫn còn khá ít.

    Quan trọng hơn cả là công nghệ Wimax không có mặt ở băng tần 1900-2200 MHz đã được cấp phép ở Việt Nam.

    6. MÔ HÌNH KIẾN TRÚC CỦA CÁC HỆ THỐNG THÔNG TIN DI ĐỘNG 3G

    6.1. Kiến trúc chung mạng thông tin di động 3G

    Mạng thông tin di động 3G lúc đầu sẽ là mạng kết hợp giữa các vùng chuyển mạch gói (PS) và chuyển mạch kênh (CS) để truyền số liệu gói và tiếng.

    Các trung tâm chuyển mạch gói sẽ là các chuyển mạch sử dụng công nghệ ATM. Trên đường phát triển đến mạng toàn IP, chuyển mạch kênh sẽ dần đựoc thay thế bằng chuyển mạch gói. Các dịch vụ kể cả số liệu lẫn thời gian thực (như tiếng và video) cuối cùng sẽ được truyền đi trên cùng một môi trường IP bằng các chuyển mạch gói. Hình vẽ cho thấy ví dụ về một kiến trúc tổng quát của thông tin di động 3G kết hợp với CS và PS trong mạng lõi.

    Kiến trúc tổng quát của một mạng di động kết hợp cả CS và PS

    6.2. Mô hình tham khảo mạng cdma2000.

    Hình vẽ cho thấy mô hình tham khảo mạng cho cdma2000. Các ký hiệu trên hình như sau:

     

    Mô hình tham khảo hệ thống mạng cdma2000

    – AAA = Authentication, Authorization và Accounting: Nhận thực trao quyền và thanh toán. AAA là một thực thể đảm bảo hoạt động giao thức Internet để hỗ trợ nhận thực, trao quyền và thanh toán. Các chức năng IP được định nghĩa trong các tài liệu IETF. AAA tương tác với PDSN để thực hiện các chức năng AAA trong việc hỗ trợ PDSN cho các trạm di động yêu cầu. AAA tương tác với các thực thể AAA khác để thực hiện các chức năng khi AAA tại nhà nằm ngoài mạng di động đang phục vụ.

    – AC =  Authentication Center: Trung tâm nhận thực. AC là thực thể quản lý thông tin nhận thực liên quan đến MS. AC có thể hoặc không đặt bên trong HLR> Một AC có thể phục vụ nhiều HLR.

    – BS = Base Station: trạm gốc. BS là thực thể cung cấp phương tiện để MS truy nhập mạng bằng đường vô tuyến. MS bao gồm BSC và BTS.

    – BSC: Base Station Controller: Bộ điều khiển trạm gốc. BSC là thực thể đảm bảo điều khiển và quản lý đối với một hay nhiều BTS. BSC trao đổi bản tin với cả BTS bvà MSC. Lưu lượng và báo hiệu liên quan với điều khiển cuộc gọi, quản lý tính di động và quản lý MS có thể được truyền trong suốt qua BSC

    – BTS = Base Transceiver Station: Trạm phát gốc. BTS là thực thể đảm bảo các khả năng truyền dẫn qua điểm tham khảo U.

    – CDCP = Call Data Collection Point: Điểm thu thập số liệu cuộc gọi. CDCP là thực thể thu thập thông tin chi tiết về cuộc gọi ở khuôn dạng IS-124.

    – CDGP = Call Data Generation Point: Điểm tạo số liệu cuộc gọi. CDGP là thực thể cung cấp các thông tin chi tiết về cuộc gọi cho CDCP ở khuôn dạng IS-124 . Tất cả các thông tin đưa đến CDCP từ CDGP phải ở khuôn dạng IS-124.

    – CDIS = Call Data Information: Nguồn thông tin số liệu cuộc gọi. CDIS là thực thể có thể có thể là nguồn thông tin chi tiết về cuộc gọi. Thông tin này có thể ở một khuôn dạng riêng không nhất thiết phải là IS-124.

    – CDRP = Call Data Rating Point: Điểm tính cước số liệu cuộc gọi. CDRP là thực thể nhận thông tin chi tiết cuộc gọi khuôn dạng IS-124 không tính cước và cung cấp thông tin liên quan đến cước phí hoặc có thể tính cước. Thông tin cước được bổ sung bằng cách sử dụng khuôn dạng IS-124.

    – CF = Collection Funtion: Chức năng thu thập. CF là thực thể chịu trách nhiệm thu thập các thông tin bị chặn cho cơ quan thi hành pháp luật được uỷ quyền hợp pháp. Thường thì CF bao gồm:

    + Khả năng nhận và xử lý thông tin về nội dung cuộc gọi cho từng đối tượng bị chặn.

    + Khả năng nhận thông tin liên quan đến từng đối tượng bị chặn (chẳng hạn cuộc gọi liên kết hoặc không liên kết)từ chức năng mạng và xử lý nó.

    – CSC = Customer Service Center: Trung tâm phục vụ khách  hàng. CSC là thực thể mà tại đó các đại diện của nhà cung cấp dịch vụ nhận các cuộc gọi điện thoại từ các khách hàng muốn đăng ký cho việc bắt đầu dịch vụ vô tuyến hoặc yêu cầu thay đối dịch vụ hiện có của khách hàng. CSC sử dụng giao diện riêng với OTAF để thực hiện các thay đổi liên quan đến mạng và MScần thiết cho việc thực hiện yêu cầu cung cấp dịch vụ.

    – DCE = Data Circuit Equipment: Thiết bị mạch số liệu. DCE là một kết cuối đảm bảo giao diện giữa mạng với người sử dụng không phải là ISDN.

    – DF = Delivery Function: Chức năng chuyển. DF là một thực thể chịu trách nhiệm chuyển các cuộc gọi bị chặn đến một hay nhiều CF.

    – EIR = Equipment Identity Register: Bộ ghi nhận dạng thiết bị. EIR là thực thể đảm bảo để ghi lại số nhận dạng thiết bị của người sử dụng.

    – HLR = Home Location Register: Bộ ghi định vị thuờng trú. HLR là bộ ghi định vị để ghi lại số nhận dạng của người sử dụng (chẳng hạn số seri điện tử (ESN), số danh bạ di động (MDN), thông tin lý lịch, vị trí hiện thời và chu kỳ uỷ quyền)

    – ISDN = Intergrated Service Digital Network: Mạng số liệu liên kết đa dịch vụ

    – IP = Intelligent Peripheral: Ngoại vi thông minh. IP (ngoại vi thông minh) là thực thể thực hiện chức năng tài nguyên đặc biệt như: thông báo bằng lời (từ băng), thu thập các chữ số , thực hiện việc chuyển đổi tiếng thành văn bản hoặc văn bản thành tiếng , ghi và lưu các bản tin tiếng, các dịch vụ fax , các dịch vụ số liệu…

    – IAP = Intercept Access Point: Ngoại vi thông minh. IAP đảm bảo việc truy nhập đến các cuộc thông tin đến hoặc từ thiết bị, các phương tiện hay các dịch vụ của một đối tượng bị chặn.

    – IWF = Internetworking Function: Chức năng kết nối mạng. IWF là một thực thể đảm bảo việc biến đổi thông tin cho một hay nhiều WNE. Một IWFcos thể có một giao diện đến một WNE để đảm bảo các dịch vụ biến đổi. IWF có thể làm tăng thêm một giao diện được nhận dạng giữa hai WNE để cung cấp các dịch vụ biến đổi cho cả hai WNE.

    – MWNE = Managed Wireless Network: Mạng vô tuyến đuợc quản lý. MWNE là thực thể vô tuyến bên trong thực thể tập thể hay một thực thể mạng đặc thù bất kỳ cần quản lý vô tuyến của OS hay bao hàm cả OS khác.

    – MC = Massege Center: Trung tâm nhắn tin. MC là thực thể lưu rồi phát các bản tin ngắn. MC cũng có thể đảm bảo các dịch vụ bổ sung cho dịch vụ bản tin ngắn (SMS).

    – MS = Mobile Station: Trạm di động. MS là đầu cuối được thuê bao sử dụng để truy nhập mạng ở giao diện vô tuyến. MS có thể là thiết bị cầm tay, dặt trong xe hoặc đặt cố định . MS là thiết bị vô tuyến đựoc sử dụng để kết cuối đường truyền vô tuyến tại thuê bao.

    – MSC = Mobile Switching Center: Trung tâm chuyển mạch di động. MSC là thực thể chuyển mạch lưu lượng được khởi xướng hoặc kết cuối ở MS. Thông thường một MSC được kết nối với ít nhất một BS . Nó cũng có thể kết nối với các mạng công cộng khác (PSTN, ISDN…) các MSC khác trong mạng hoặc các MSC ở các mạng khác .

    – MT = Mobile Terminal: Đầu cuối di động. MT (đầu cuối ) là kết cuối MS có khả năng tự truyền số liệu mà không cần hỗ trợ giao diện ngoài.

    – NPBD = Number Portability Database: Cơ sở dữ liệu tính cầm tay số. NPDB là một thực thể cung cấp thông tin về tính cầm tay cho các số danh bạ cầm

    – OSF =  Operation Systemb Function: Chức năng hệ thống khai thác. OSF đựoc định nghĩa bởi OSF của TMN (mạng quản lý viễn thông). Các chức năng này bao hàm cả các chức năng lớp quản lý phần tử, lớp quản lý mạng, lớp quản lý dịch vụ và lớp quản lý kinh doanh phân bổ ở tất cả các chức năng của hệ thống điều hành (chẳng hạn quản lý sự cố, quản lý hiệu năng, quản lý cấu hình, quản lý thanh toán và quản lý an ninh)

    – OTAF = Over-The-Air-Service Function: Chức năng dịch vụ không gian. OTAF (chức năng dịch vụ không gian) là thực thể giao diện theo chuẩn riêng đến CSC để hỗ trợ các hoạt động trang bị dịch vụ. OTAF giao diện với MSC để phát đến MS các lệnh cần thiết cho việc thực hiện các yêu cầu trang bị dịch vụ.

    – PDN = Public Data Networrk: Mạng số liệu công cộng. PDN  đảm bảo cơ chế truyền tải số liệu gói giữa các thực thể mạng thực hiện xử lý có khả năng sử dụng các dịch vụ này

    – PDSN = Packet Data Servicing Node. PDSN là thực thể cung cấp chức năng giao thức Internet với mạng di động. PDSN thiết lập, duy trì và kết cuối các phiên của lớp đoạn nối với MS. PDSN định tuyến các dẩgm IP đến PDN. PDSN có thể hoạt động như một tác nhân MIP ngoài nhà trong mạng di động . PDSN tương tác với AAA để đảm bảo sựu hỗ trợ nhận thực, trao quyền và thanh toán. PDSN có thể giao tiếp với một hay nhiều mạng IP hoặc công cộng hoặc Intranet để đảm bảo truy nhập mạng IP.

    – PSTN = Public Switched Telephone Network: Mạng điện thoại chuyển mạch công cộng

    – SCP = Service Control Point: Điểm điều khiển dịch vụ. SCP là thực thể hoạt động như một cơ sở dữ liệu thời gian thực và hệ thống xử lý thao tác để đảm bảo chức năng điều khiển dịch vụ và số liệu dịch vụ.

    – SN = Service Node: Điểm dịch vụ. SN là thực thể đảm bảo điều khiển dịch vụ, số liệu dịch vụ, các tài nguyên đặc biệt và các chức năng điều khiển cuộc gọi để hỗ trợ các dịch vụ liên quan đến vật mang.

    – SME = Short Message Entity: Thực thể bản tin ngắn. SME là thực thể sắp xếp và giải xếp các bản tin ngắn. SME có thể hoặc không đựoc đặt bên trong HLR, MC, VLR hay MSC.

    – TA = Terminal Adapter: Bộ thích ứng đầu cuối. TA là thực thể chuyển đổi báo hiệu và số liệu của người sử dụng giữa giao diện không phải ISDN và giao diện ISDN.

    – TE = Terminal Equipment: Thiết bị đầu cuối.

    + TE1 là đầu cuối số liệu đảm bảo giao diện người sử dụng ISDN- mạng

    + TE2 là đầu cuối số liệu đảm bảo giao diện người sử dụng không phải ISDN- mạng

    – UIM = User Identity Module: Mô den nhận dạng người sử dụng. UIM chứa thông tin thuê bao và có thể chứa thông tin đặc thù thuê bao. UIM có thể hoặc được kết hợp bên trong đầu cuối di động hoặc có thể rút ra được.

    – VLR = Visitor Location Register: Bộ ghi định vị thường trú. VLR là bộ ghi định vị khác với HLR nó được MSC sử dụng để thu nhận thông tin cho việc xử lý cuộc gọi đến hoặc từ thuê bao khác. VLR có thể hoặc không được đặt bên trong MSC.

    – WNE = Wireless Network Entity: Thực thể mạng không dây. WNE là thực thể mạng ở thực thể tổng thể.

    Kiến trúc chung của một hệ thống cdma2000 cùng với PDSN để xử lý các dịch vụ gói  (hình vẽ)

    Kiến trúc chung của hệ thống cdma2000

     

    6.3. Mô hình tham khảo mạng WCDMA

    Hình vẽ cho thấy cấu trúc mạng cơ sở W-CDMA trong 3GPP Release 1999 (tập tiêu chuẩn đầu tiên cho UMTS).

    Kiến trúc mạng WCDMA phát hành năm 1999

    Mạng lõi gồm các trung tâm chuyển mạch di động (MSC: Mobile Switching Center) và các nút hỗ trợ chuyển mạch gói phục vụ  (SGSN: Serving General  Packet Radio Service Support Node). Các kênh thoại và số liệu chuyển mạch gói được kết nối với các mạng ngoài qua các trung tâm chuyển mạch kênh và nút chuyển mạch gói cổng: GMSC (không đựoc chỉ ra ở hình vẽ) và GGSN. Để kết nối trung tâm chuyển mạch kênh với mạng ngoài cần có thêm phần tử làm chức năng tươgn tác mạng (IWF). Ngoài các trung tâm chuyển mạch kênh và nút chuyển mạch gói, mạng lõi còn chứa các cơ sở dữ liệu cần thiết cho các mạng di động như: HLR, AUC và EIR (hai phần tử cuối cùng không đựoc chỉ ra ở hình vẽ).

    mạng truy nhập vô tuyến chứa cấc phần tử sau:

    – RNC: Radio Network  Controller: Bộ điều khiển mạng vô tuyến, đóng vai trò nhưu BSC ở các mạng thông tin di động

    – Nút B đóng vai trò như các BTS ở các mạng thông tin di động

    – UE: User Equipment – thiết bị của người sử dụng .

    UE bao gồm thiết bị di động (ME) và modun nhận dạng thuê bao UMTS (USIM). USIM là vi mạch chứa một số thông tin liên quan đến thuê bao cùng với khoá bảo an (giống như SIM ở GSM) . Giao diện giữa UE và mạng gọi là giao diện Uu. Trong các quy định của 3GPP, trạm gốc được gọi là nút B. Nút B được nối đến một bộ điều khiển trạm vô tuyến RNC. RNC điều khiển các tài nguyên vô tuyến của các nút B được nối với nó. RNC đóng vai trò như BSC ở GSM. RNC kết hợp với các nút B nối với nó được gọi là hệ thống con mạng vô tuyến RNS(Radio Network Subsystem). Giao diện giữa nút B và RNC gọi là giao diện Iub. Khác với giao diện Abis tương đương ở GSM , gioa diện Uib được chuẩn hoá hoàn toàn và để mở, vì thế có thể kết nối nút B vcủa một nhà sản xuất này với RNC của một nhà sản xuất khác.

    Khác với  ở GSM, các BSC trong mạng W-CDMA không nối với nhau, trong mạng truy nhập vô tuyến của UMTS (UTRAN) có cả giao diện giữa các RNC . Giao diện này gọi là Iur có tác dụng hỗ trợ tính di động giữa các RNC và chuyển giao giữa các nút B nối đến các RNC khác nhau.. Báo hiệu Iur hỗ trợ chuyển giao.

    UTRAN được nối đến mạng lõi qua giao diện Iu. Giao diện Iu có hai phần tử khác nhau: Iu-CS và Iu-PS. Kết nối UTRAN đến phần chuyển mạch kênh được thực hiện qua giao diện Iu-CS, giao diện này nối RNC đến một MSC/VLR. Kết nối UTRAN đến phần chuyển mạch gói được thực hiện qua giao diện Iu-PS, giao diện này nối RNC đến một SGSN

    Từ hình vẽ ta thấy tất cả các giao diện UTRAN của 3GPPP phát hành năm 1999 đều được xây dựng trên cơ sở ATM. ATM được chọn vì nó có khả năng hỗ trợ nhiều laọi dịch vụ khác nhau (chẳng hạn tốc độ bít khả biến cho các dịch vụ trên cơ sở gói và tốc độ bít không đổi cho các dịch vụ chuyển mạch kênh). Mặt khác mạng lõi sử dụng  cùng một kiến trúc cơ sở như kiến trúc của GSM/GPRS, nhờ vậy công nghệ mạng lõi hiện có có thể hỗ trợ công nghệ truy nhập vô tuyến mới. Chẳng hạn cuĩng có thể nâng cấp mạng lõi hiện có để hỗ trợ UTRAN sao cho một MSC có thể nối đến cả UTRAN RNC và GSM BSC.

    Trong thực tế các tiêu chuẩn UMTS cho phép hỗ trợ chuyển giao cúng từ UMTS đến GSM và ngược lại. Đây là một yêu cầu rất quan trọng vì cần phải có thời gian để triển khai rộng khắp UMTS nên sẽ có khoảng trống trong vùng phủ sóng của UMTS và vì tghế thuê bao UMTS phải có khả năng nhận được dịch vụ ở vùng phủ sóng của GSM. Nếu UTRAN và GSM BSS được nối đến các MSC khác nhau, chuyển giao giữa cấc hệ thống đạt được bằng cách chuyển giao giữa các MSC. Nếu giả thiết rằng nhiều chức năng của MSC/VLR giống nhau đối với UMTS và GSM, MSC cần phải có khả năng hỗ trợ đồng thời cả hia kiểu dịch vụ. Tương tự hoàn toàn hợp lý khi giả thiết rằng SGSN phải có khả năng hỗ trợ đồng thời kết nối Iu-PS đến RNC và Gb đến  GPRS BSC.

    Trong hầu hết sản phẩm của nhà sản xuất, nhiều phần tử mạng đang được nâng cấp để hỗ trợ đồng thời GSM/GPRS và UMTS. Các phần tử mạng này bao gồm MSC/VLR, HLR, SGSN và GGSN. Đối với nhiều nàh sản xuất, các trạm gốc được triển khai do GSM/GPRS đã được thiết kế để có thể nâng cấp chúng hỗ trợ cho cả GSM và UMTS. Đối với một số nhà sản xuất BSC đựoc nâng cấp để hạot động như cả hai GSM BSC và ÚMT RNC. Tuy nhiên cấu hình này rất hiếm. Yêu cầu giao diện và các chức năng khác nhau (như chuyển giao mềm)của UMTS RNC chứng tỏ rằng công nghệ của nó hoàn toàn khác với GSM BSC. Vì thế thông thường ta thấy các UMTS RNC và GSM BSC tách biệt.

    Kiến trúc mạng W-CDMA phat hanh 4

    Hình vẽ cho thấy kiến trúc cơ sở của mạng W-CDMA phát hành 4. Sự khác nhau cơ bản giữa phát hành 1999 và phát hành 4 là ở chỗ  khi này mạng lõi là mạng phân bố. Thay cho việc có các MSC chuyển mạch kênh truyền thống như ở kiến trúc trước, kiến trúc chuyển mạch phân bố được đưa vào.

    Về căn bản, MSC được chia thành MSC Server và cổng các phương tiện (MGW: Media Getway). MSC chứa tất cả các phần mềm điều khiển cuộc gọi, quản lý di động có ở một MSC tiêu chuẩn. Tuy nhiên nó không chứa ma trân chuyển mạch. Ma trận chuyển mạch nằm trong MGW được MSC Serve điều khiển và có thể đặt xa MSC Serve.

    Báo hiệu điều khiển các cuộc gọi chuyển mạch kênh được thực hiện giữa RNC và MSC Serve. Đường truyền cho các cuộc gọi chuyển mạch kênh được thực hiện giữ RNC và MGW. Thông thường MGW nhận các cuộc gọi từ RNC và định tuyến các cuộc gọi này đến nơi nhận trên các đường trục gói. Trong nhiều trường hợp đường trục gói. Trong nhiều trường hợp đường trục gói sử dụng  giao thức truyền tải thời gian thực (RTP: Real Time Transport Protocol)tren giao thức IP (Internet Protocol). Theo hình vẽ ta thấy lưu lượng số liệu gói từ RNC đi qua SGSN và từ SGSN đến GGSN trên mạng đwongf trục IP. Nếu giả thiết rằng cả số liệu và tiếng đều có thể sử dụng phương thức truyền qua IP bên trong mạng lõi , thì có thể cấu trúc một đường trục để hỗ trợ cả hai dịch vụ này. Tuy nhiên điều này đòi hỏi đầu tư và chi phí cho khai thác rất lớn so với trường hợp sử dụng các mạng đường trục tách biệt cho chuyển mạch kênh và gói.

    Ở nơi mà cuộc gọi cần chuyển đến một mạng khác, PSTN chẳng hạn, sẽ có một cổng các phương tiện khác (MGW) được điều khiển bởi MSC Serve cổng (GMSC serve). MGW này sẽ chuyển thoại đwocj đóng gói thành PCM tiêu chuẩn để đưa đến PSTN. Như vậy chuyển đổi mã chỉ cần thực hiện tại điểm này. Ví dụ: Giả thiết nếu tiếng ở giao diện vô tuyến được truyền tại tốc độ 12,2 kbit/s thì tốc độ này phải đwocj chuyển vào 64 kbit/s ở MGW gioa tiếp vơiư PSTN. Truyền tải kiểu đóng gói này cho phép tiết kiệm đáng kể độ rộng băng tần nhất là khi các MGW cách xa nhau.

    Giao thức điều khiển giữa MSC Serve hoặc GMSC Serve với MGW là giao thức ITU H.248. Giao thức này được ITU và IETF cộng tác phát triển. Nó có tên là điều khiển cổng các phương tiện(MEGACO: Media Getway Control). Giao thức điều khiển cuộc gọi giứ MSC Serve và GMSC Serve  có thể là một giao thức điều khiển cuộc gọi bất kỳ. 3GPP đề nghị sử dụng giao thứcđiều khiển cuộc gọi độc lập vật mang (BICC:Beare Indepentdent Call Cotrol) được xây dựng trên cơ sở khuyến nghị  Q.1902 của ITU.

    Trong nhiều trường hợp MSC Serve hỗ trợ cả các chức năng của GMSC Serve, Ngoài ra MGW có khả năng giao diện với tất cả RAN và PSTN. Khi này cuộc gọi đến hoặc từ PSTN có thể chuyển nội hạt, nhờ vậy có thể tiết kiệm đáng kể đầu tư. Ví dụ ta xét trường hợp khi một RNC được đặt tại thành phố A và đựoc điều khiển bởi một MSC đặt tại thành phố B. Giả sử thuê bao thành phố A thực hiện cuộc gọi nội hạt. Nếu không có cấu trúc phân bố, cuộc gọi cần chuyển từi thành phố A đến thành phố B (nơi  có MSC) để đấu nối thuê bao PSTN tại chính thnàh phố A. Với cấu trúc phân bố, cuộc gọi có thể được điều tại MSC Serve ở thành phố B nhưng đường truyền các phương tiện thực tế có thể vẫn ở thành phố A, nhờ vậy giảm đáng kể yêu cầu truyền dẫn và giá thành khai thác mạng.

    Từ hình vẽ ta thấy HLR cũng có thể được gọi là Serve thuê bao tại nhà (HSS:  Home Subscriber Serve)HSS và HLR có chức năng tương đương, ngoại trù giao diện với HSS là giao diện trên cơ sở truyền tải gói (IP chẳng hạn)trong khi HLRsử dụng giao diện trên cơ sở báo hiệu số 7. Ngoài ra còn có cá giao diện giữ SGSN với HSS/HLR và giữa GGSN với HSS/HLR.

    Rất nhiều giao thức được sử dụng bên trong mạng lõi là cá giao thức trên cơ sở gói sử dụng hoặc IP hoặc ATM. Tuy nhiên mạng phải giao tiếp với  các mạng giao tiếp truyền thống qua việc sử dụng các cổng các phương tiện . Ngoài ra mạng cũng phải giao diện với các mạng SS7 tiêu chuẩn. Giao diện này được thực hiện thông qua cổng SS7 (SS7 GW). Đây là cổng mà một phía nó hỗ trợ truyền tải bản tin SS7 trên đường truyền tải SS7 tiêu chuẩn , ở phái kia nó truyền tải các bản tin ứng dụng SS7 trên mạng gói  (IP chẳng hạn). Các thực htể như MSC Serve, GMSC Serve và HSS liên lạc với cổng SS7 bằng cách sử dụng các giao thưc truyền tải được thiết kế đặc biệt để mạng các bản tin SS7 ở mạngIP. Bộ giao thức này được gọi là Sigtran.

    Bước phát triển tiếp theo của UMTS là kiến trúc mạng đa phương tiện IP (hình vẽ)Bước phát triển này thể hiện sự thay đổi toàn bộ mô hình cuộc gọi. ở đây cả tiếng và số liệu được xử lý giống nhau trên toàn bộ đường truyền từ đầu cuối của người sử dụng đến nơi nhận cuối cùng. Có thể coi kiến trúc này là sự hội tụ toàn diện của tiếng và số liệu.

    Kiến trúc mạng đa phương tiện IP của 3 GPPP

    Từ hình vẽ ta thấy tiếng và số liệu không cần các giao diện cách biệt ; chỉ có một giao diện Iu duy nhất mang tất cả các phương tiện . Trong mạng lõi giao diện này kết cuối tai SGSN và không có MGW.

    Một đặc điểm quan trọng của kiến trúc IP là thiết bị của người sử dụng được tăng cường rất nhiều. Nhiều phần mềm được cài đặt ở UE. Trong thực tế UE hỗ trợ giao thức khởi đầu phiên (SIP: Session Initiation Protocol). UE trở thành một tác nhân của ngưòi sử dụng SIP. Như vậy, UE có khả nănng điều khiển các dịch vụ lớn hơn trước rất nhiều.

    CSCF quản lý việc thiết lập, duy trì  và giải phóng các phiên đa phương tiện đến và từ người sử dụng. Nó bao gồm cá chức nănng như: biên dịch và định tuyến. CSCF hoạt động như một đại diện Serve/hộ tịch viên.

    SGSN và GGSN là các phiên bản tăng cường của các nút đưựoc sử dụng ở GPRS và UMTS phát hành 1999 và 4. Điểm khác nhau duy nhất là ở chỗ các nút này không chỉ hỗ trợ dịch vụ số liệu gói mà cả dịch vụ chuyển mạch kênh (tiếng chẳng hạn). Vì thế cần hỗ trợ các các khả năng chất lượng dịch vụ (QoS) hoặc  bên trong SGSN và GGSN hoặc ít nhất ở các bộ định tuyến kết nối trực tiếp với chúng.

    Chức năng tài nguyên đa phuơng tiện(MRF) là chức năng lập cầu hội nghị được sử dụng để hỗ trợ các tính năng như tổ chức cuộc gọi nhiều phía và dịch vụ hội nghị.

    Cổng báo hiệu truyền tải (T-SGW) là một cổng báo hiệu SS7 để đảm bảo tương tác  với mạng tiêu chuẩn ngoài như PSTN. T-SGW hỗ trợ các giao thức Sigtran. Cổng báo hiệu chuyển mạng (R-SGW) là một nút đảm bảo tương tác báo hiệu với các mạng di động hiện có sử dụng SS7 tiêu chuẩn.

    MGW thực hiện tương tác với các mạng ngoài ở mức đường truyền đa phương tiện. MGW ở kiến trúc mạng của phát hành 3GPP 5 có chức năng giống như ở phát hành 4. MGW được điều khiển bởi chức năng cổng điều khiển các phương tiện  (MGCF). Giao thức điều khiển giữa các thực thể này là ITU-T H.248.

    Cấu trúc IP là một tăng cường của mạng ở phát hành 1999, hoặc 4. Nó đưa thêm vào một vùng mới trong mạng đó là vùng đa phương tiện IP (IM: IP Multimedia). Vùng mới này cho phép mang cả thoại và số liệu qua IP trên toàn tuyến nói đến máy cầm tay. Vùng này sử dụng vùng chuyển mạch gói PS cho mục đích truyền tải. Kiến trúc này được xây dựng trên các công nghệ gói và điện thoại IP cho đồng thời các dịch vụ thời gian thực và không thời gian thực. Kiến trúc cho phép chuyển mạng toàn cầu và tương hợp với các mạng ngoài như: các mạng thông tin di động thế hệ hai hiện có, các mạng số liệu công cộng, các mạng VoIP và các mạng đa phương tiện.

    7. Các loại thiết bị đầu cuối cho 3G:

    + Tiếng: 8/16/32 kbit/s

    + Số liệu (chẳng hạn PCM CIA).

    – Truyền dẫn số liệu bằng mô đem tiếng cho các tốc độ:1,2 kbit/s, 2,4 kbit/s, 4,8 kbit/s, 9,6 kbit/s, 19,2 kbit/s, 28,8 kbit/s.

    – Truyền dẫn số liệu số chuyển mạch theo mạch cho các tốc độ: 64 kbit/s; 128 kbit/s; đầu cuối video thấp hơn 2 Mbit/s

    + Ảnh tĩnh (đầu cuối cho PSTN)

    + Hình ảnh di động: được phân loại theo các cấp bậc chất lượng (32/64/128 kbit/s)

    + Thoại có hình chất lượng cao với tốc độ không thấp hơn 128 kbit/s

    Thiết bị đầu cuối giống máy thu hình

    + Đầu cuối kết hợp máy thu hình và máy vi tính

    + Máy thu hình cầm tay có khả năng thu được MPEG

    Thiết bị đầu cuối số liệu gói:

    +PC có cửa thông tin cho phép :

    – Điện thoại có hình

    – Văn bản, hình ảnh, truy nhập cơ sở dữ liệu, video

    + Đầu cuối PDA

    – PDA tốc độ thấp

    – PDA tốc độ cao hoặc trung bình

    – PDA kết hợp với sách điện tử bỏ túi

    + Máy nhắn tin hai chiều

    + Sách điện tử bỏ túi có khả năng thông tin

    Phân bổ tần số của IMT-2000 cho châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc và Mỹ được cho như sau:

    Châu Âu sử dụng hệ thống thế hệ hai là DCS (Digital Cellular System  –  Hệ thống mạng tổ ong số) 1800 với băng tần 1710 – 1755 Mhz cho đường lên và 1805 – 1850 Mhz ở đường xuống. Ở Châu Âu và hầu hết các nước châu Á băng tần IMT-2000 là 2×60 Mhz (1920 – 1980 Mhz cộng với 2110 – 2170 Mhz) có thể sử dụng cho W-CDMA FDD. Băng tần sử dụng cho TDD ở Châu Âu thay đổi, băng tần được cấp theo giấy phép có thể là 25 Mhz cho sử dụng TDD ở 1900 – 1920 MHz và 2020 – 2025 MHz. Băng tần cho các ứng dụng TDD không cần xin phép (SPA: Shelf Proviđe Application – Ứng dụng tự cấp) có thể là 2010 – 2020 MHz. Các hệ thống FDD sử dụng các băng tần khác nhau cho đường lên và đưòng xuống với phân cách là khoảng cách song công, còn hệ thống TDD sử dụng cùng tần số cho cả đường lên và đường xuống.

    Nhật Bản sử dụng hệ thống thế hệ hai là PDC, còn Hàn Quốc sử dụng hệ thống thế hệ hai là IS-95 cho cả khai thác tổ ong lẫn PCS. Ấn định phổ PCS ở Hàn Quốc khác với ấn định phổ PCS ở Mỹ, vì thế Hàn Quốc có thể sử dụng toàn bộ phổ tần quy định của IMT-2000. Ở Nhật Bnả một phần phổ tần của IMT-2000 TĐ đã được sử dụng cho PHS.

    Ổ Mỹ không còn phổ tần mới cho các hệ thống thông tin di động thế hệ ba. Các dịch vụ của  thế hệ ba sẽ được thực hiện trên cơ sở thay thế phổ tần của hệ thống thông tin thế hệ ba bằng phổ tần của hệ thống PCS thế hệ hai hiện tại.

    Ở Trung Quốc phổ tần dành trước cho PCS (Persional Comminication System: Hệ thống thông tin cá nhân) và WLL sử dụng một phần phổ tần của IMT-2000 mặc dù chúng chưa được ấn định cho hãng khai thác nào. Phụ thuộc vào quyết định về phân định tần số, sẽ có 2×60 MHz được sử dụng  cho W-CDMA ở Trung Quốc. Phổ tần cho TDD cũng sẽ được sử dụng ở Trung Quốc.

    Các nước đã bắt đầu cấp phép cho sử dụng phổ tần của IMT – 2000. Giấy phép đầu tiên được Phần lan cấp vào tháng 3/1999, sau đó là Tây Ban Nha. Một số nước cũng có thể đi theo quan điểm cấp phép giống như GSM được cấp phép ở Châu Âu. Tuy nhiên một số nước bán đấu giá tần phổ cho IMT-2000 giống như Mỹ bán đấu giá phổ tần cho PCS (nước Anh chẳng hạn)

    8 . Công nghệ 3G nào cho Việt Nam

    Chuẩn 3G mà Bộ Thông tin và Truyền thông Việt Nam đã cấp phép là chính là WCDMA ở băng tần 2100 MHz. Công nghệ này hoạt động dựa trên CDMA và có khả năng hỗ trợ các dịch vụ đa phương tiện tốc độ cao như video, truy cập Internet, hội thảo có hình… WCDMA nằm trong dải tần 1920 MHz -1980 MHz, 2110 MHz – 2170 MHz…

    Đây là sự lựa chọn đúng đắn bởi theo sự phân tích ở trên ta thấy rằng ở băng tần đã được cấp phép (1900-2200 MHz) cho mạng 3G ở Việt Nam hiện tại mới chỉ có công nghệ WCDMA là đã sẵn sàng. Các công nghệ khác, kể cả CDMA2000-1x EV-DO là chưa sẵn sàng ở đoạn băng tần này vào thời điểm hiện nay. Công nghệ EV-DO sớm nhất cũng chỉ có khả năng có mặt ở băng tần 1900-2200 MHz vào năm 2010 khi Rev. C được thương mại hoá. Mặc dù một số nước trên thế giới cấp phép băng tần 3G theo tiêu chí độc lập về công nghệ (không gắn việc cấp băng tần với bất kỳ công nghệ nào) nhưng thực tế triển khai ở nhiều nước cho thấy trong băng tần 1900-2200 MHz, công nghệ WCDMA/HSPA vẫn là công nghệ chủ đạo, được đa số các nhà khai thác lựa chọn. Quy mô thị trường lớn của công nghệ này cũng đảm bảo rằng nó sẽ được tiếp tục phát triển trong tương lai.

    Công nghệ W-CDMA có các đặc tính năng cơ sở sau:

    + Hoạt động ở CDMA băng rộng với băng tần 5MHz;

    + Lớp vật lý linh hoạt để tích hợp tất cả các tốc độ trên một sóng mang;

    + Tái sử dụng bằng 1.

    Ngoài ra công nghệ này có các tính năng tăng cường sau:

    + Phân tập phát;

    + ăng ten thích ứng

    + Hỗ trợ các cấu trúc thu tiên tiến.

    W-CDMA nhận được sự ủng hộ lớn nhất trước hết nhờ tính linh hoạt của lớp vật lý trong việc hỗ trợ các kiểu dịch vụ khác nhau, đặc biệt là các dịch vụ tốc độ bít thấp và trung bình. Nhược điểm của W-CDMA là hệ thống không cấp phép trong băng tần TDD với phát thu liên tục, công nghệ W-CDMA không tạo điều kiện cho các kỹ thuật chống nhiễu ở các phương tiện làm việc như máy điện thoại không dây. Ưu điểm của công nghệ này là hỗ trợ nhiều mức tốc độ khác nhau: 144Kbps khi di chuyển nhanh, 384Kbps khi đi bộ (ngoài trời) và cao nhất là 2Mbps khi không di chuyển (trong nhà). Với tốc độ cao, WCDMA có khả năng hỗ trợ các dịch vụ băng rộng như truy cập Internet tốc độ cao, xem phim, nghe nhạc với chất lượng không thua kém kết nối trong mạng có dây. WCDMA nằm trong dải tần 1920MHz -1980MHz, 2110MHz – 2170MHz.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây


  • Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-%C4%91%E1%BA%A7u-t%C6%B0-th%E1%BB%8B-tr%C6%B0%E1%BB%9Dng-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật đầu tư thị trường chứng khoán

    Thị trường chứng khoán đang trở thành một điểm nóng thu hút sự quan tâm rất lớn của mọt đối tượng trong xã hội. Cùng với sự quan tâm đó, giới tham gia thị trường chứng khoán cũng bắt đầu quan tâm đến những kĩ thuật ứng dụng trong phân tích và đánh giá để đưa ra quyết định đầu tư phù hợp. Hai hệ thống kĩ thuật phân tích được nói đến nhiều nhất là phân tích cơ bản và phân tích kĩ thuật. Trong khi đa số chúng ta đều ít nhiều có những kiến thức nhất định về phân tích cơ bản thì số lượng người hiểu và nắm về phân tích kĩ thuật còn hạn chế, hơn thế nữa khả năng ứng dụng và tính chính xác của nó còn là một vấn đề đang bàn cãi hàng trăm năm nay. Để thành viên Saga cũng có kiến thức nhất định về khía cạnh phân tích kĩ thuật, chúng tôi quyết định cung cấp loạt bài nghiên cứu về phân tích cơ bản. Đây là loạt bài lấy từ bài nghiên cứu của hai thành viên của Saga. Hy vọng có thể giúp các bạn một chút về kiến thức và nhận được góp ý của các Saganors.

    ———————————————————————

    Lịch sử hình thành
    Lịch sử của Phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ cách đây hơn 100 năm, từ một người tên là Charles H. Dow. Ông là người đã sáng lập lên tạp chí phố Wall (The Wall Street Journal). Sau nhiều năm nghiên cứu, năm 1884 ông đưa ra chỉ số bình quân của giá đóng cửa của 11 cổ phiếu quan trọng nhất thị trường Mĩ thời gian đó. William Peter Hamilton là người thực sự mang lại sức sống cho những nghiên cứu của Dow bằng việc tiếp tục nghiên cứu và xuất bản cuốn sách “The Stock Market Barometer” (Phong vũ biểu thị trường chứng khoán) vào năm 1922. Suốt những năm 1920 và 1930, Richard W. Schabacker là người đã đã đi sâu vào những nghiên cứu của Dow và Hamilton, Schabacker là người đã đưa ra khái niệm đầu tiên về Phân tích kỹ thuật. Schabacker từng là chủ biên của tạp chí Forbes nổi tiếng. Ông chỉ ra rằng những dấu hiệu mà lý thuyết Dow đưa ra được với chỉ số bình quân thị trường vẫn giữ nguyên giá trị và tầm quan trọng khi áp dụng vào đồ thị của từng cổ phiếu riêng lẻ. Điều này đã được ông thể hiện và chứng minh trong cuốn sách của mình: “Stock Market Theory and Practice, Technical Market Analysis and Stock Market Profit”. Như vậy những cơ sở đầu tiên của Phân tích kỹ thuật đã xuất hiện từ trong lý thuyết Dow, nhưng phải đến Schabacker – người cha của Phân tích kỹ thuật hiện đại tiếp đó là Edward và Magee với “Technical Analysis of Stock Trend” (cuốn sách đã được tái bản 8 lần) và ngày nay là John Murphy, Jack Schwager, Martin Pring, … thì mới thực sự ra đời cái tên “Phân tích kỹ thuật ” và được nâng cao, tổng kết thành một hệ thống lý luận quan trọng trong phân tích đầu tư trên thị trường chứng khoán nói riêng và thị trường tài chính nói chung.

    Các quan điểm về Phân tích kỹ thuật
    Nguyên lý của thành công trong đầu tư chứng khoán là dựa trên giả định rằng trong tương lai người ta sẽ tiếp tục lặp lại những sai lầm mà họ đã mắc phải trong quá khứ.
    (Edwin Lefevre, Reminiscenses of a Stock Operator)

    Thị trường chứng khoán hay bất kì thị trường nào đều không bao giờ phản ánh đúng giá trị thực của một hàng hóa được trao đổi bên trong đó mà nó phản ánh giá trị mà nhà đầu tư nhận thức được và cho rằng nó đáng giá như thế.

    Giá của bất kì một chứng khoán đã cho nào đều không chi ra mối quan hệ thực tế giữa cung và cầu mà là phản ánh kỳ vọng tương lai của cung và cầu.

    Vậy “Phân tích kỹ thuật” là gì? Nhiều nhà quan sát coi Phân tích kỹ thuật là một tập hợp những mánh khóe và cần đến sự tập luyện nghiêm túc thực sự. Những người vận dụng kết quả sau quá trình tập luyện ấy còn được gọi là “pháp sư”. Nhiều người hiểu về tính đúng đắn của công việc này nhưng họ vẫn đặt ra câu hỏi về tính chính xác trong dự báo các xu thế chính trên thị trường chứng khoán và thị trường các loại hàng hóa khác. Bản thân trong những người sử dụng Phân tích kỹ thuật cũng không có một sự thống nhất về quan điểm về bản chất của Phân tích kỹ thuật vì Phân tích kỹ thuật có thể dược hiểu thuần túy là một khoa học mà cũng có thể được hiểu là một nghệ thuật.

    Hiểu một cách rộng nhất thì Phân tích kỹ thuật luôn cố gắng nghiên cứu tình trạng “sức khỏe hiện tại của toàn thị trường hay của mỗi chứng khoán với mục đích là nhằm dự báo biến động tương lai của giá bằng cách dựa trên những kinh nghiệm có được với các hình mẫu kĩ thuật (hay mô hình kĩ thuật) thị trường đã xuất hiện trong quá khứ và áp dụng lại khi có mô hình tương tự xuất hiện. Giả thuyết căn bản trong Phân tích kỹ thuật là những kiến thức đã có về giá và hình mẫu đồ thị trong quá khứ sẽ được sử dụng “tham khảo” nhằm xác định giá có xu thế như thế nào trong tương lai đối với mỗi thị trường cụ thể.

    Ta sẽ xem xét một số định nghĩa đã được đưa ra về Phân tích kỹ thuật :
    Nick và Barbara Apostolous định nghĩa Phân tích kỹ thuật là “quá trình dự báo biến động giá chứng khoán trong tương lai dựa trên cơ sở phân tích những biến động trong quá khứ của giá và các áp lực cung cầu có ảnh hưởng đến giá”. Tuy nhiên định nghĩa này làm cho Phân tích kỹ thuật dường như trở lên gần tương đương với phân tích cơ bản – là quá trình ước lượng giá trị chứng khoán hay hàng hóa bằng cách phân tích các điều kiện kinh tế tài chính cơ bản mỗi công ty, mỗi ngành,…”

    Norman Fosback, trong cuốn “Stock Market Logic”:
    “Nếu như bản chất của phân tích cơ bản là việc xác định giá trị và xác định mua hay bán cổ phiếu khi giá trên thị trường sai lệch khỏi giá trị thực, thì Phân tích kỹ thuật lại dựa trên 2 giả thuyết cơ bản khác hoàn toàn. Thứ nhất, những ước lượng mang tính chủ quan là quá mơ hồ và không thích hợp và thứ hai là dao động giá trong tương lai có thể dự đoán được qua việc phân tích biến động giá trong quá khứ, phân tích mối quan hệ cung – cầu và một số yếu tố khác có ảnh hưởng trực tiếp đến giá cả thị trường “

    Clifford Pistolese đã đưa ra định nghĩa khá đầy đủ như sau: “Phân tích kỹ thuật là việc sử dụng biểu đồ giá và khối lượng giao dịch làm cơ sở cho các quyết định đầu tư. Cơ sở căn bản cho hướng tiếp cận này là ở chỗ các thông tin về giá và khối lượng trên biểu đồ phản ánh tất cả những gì diễn ra về việc mua hay bán một loại cổ phiếu. Vì biểu đồ cổ phiếu tóm tắt và phản ánh kết quả thực của các giao dịch đã thực hiện nên Phân tích kỹ thuật là cơ sở duy nhất cho việc ra các quyết định đầu tư”

    1. W. Schabacker, người cha đẻ của Phân tích kỹ thuật hiện đại đã mô tả Phân tích kỹ thuật như “một môn khoa học mới”. Schabacker giải thích rằng tất cả những yếu tố phân tích cơ bản  hợp lý đều mang đến tình trạng thị trường di xuống và chúng được đánh giá, tự động đưa vào và lưu lại trong các mức cân bằng thực trên biểu đồ chứng khoán. Ông còn mô tả sâu hơn đặc tính của biểu đồ cổ phiếu hay biểu đồ các loại hàng hóa khác như là một bộ nhớ hoàn hảo của thị trường và khẳng định chắc chắn rằng giá trị chủ yếu của một biểu đồ giá vượt ra ngoài ý nghĩa thực tế là một bức tranh ghi lại những giao dịch trong quá khứ.

    Định nghĩa cụ thể của Schabacker như sau:
    Việc Phân tích kỹ thuật các biến động thị trường là một khía cạnh của phân tích, dựa trên cơ sở những hiện tượng phát sinh từ chính thị trường, bỏ qua những tác động của các yếu tố trong phân tích cơ bản và các yếu tố khác.
    Trên thực tế Phân tích kỹ thuật có thể được giải thích đơn giản chỉ là phát biểu một cách đối lập lại với việc xem xét theo trường phái phân tích cơ bản. Khía cạnh cơ bản của phân tích thị trường nhắm mối quan tâm đặc biệt vào những yếu tố như doanh nghiệp phát hành cổ phiếu, việc kinh doanh của doanh nghiệp, tiềm năng, họat động trong quá khứ, thu nhập hiện tại và tương lai, bảng cân đối kế toán, sức mạnh tài chính, chất lượng của đội ngũ lãnh đạo doanh nghiệp, …Các yếu tố kĩ thuật là những gì có thể được coi là tổng thể các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng biến động về giá cổ phiếu sau khi đã bỏ qua các yếu tố thuộc phân tích cơ bản và những yếu tố không thực sự có ảnh hưởng. ”
     
    Còn theo Edward và Magee thì:
    “Phân tích kỹ thuật là môn khoa học của sự ghi nhận lại, thường là dưới dạng đồ thị, những hoạt động giao dịch diễn ra trong quá khứ gây lên những thay đổi về giá, khối lượng giao dịch, … của một chứng khoán bất kì hay với chung toàn bộ thị trường và sau đó sẽ dựa trên “bức tranh về quá khứ” đó để suy luận ra xu thế có thể xảy ra trong tương lai”

    Không phải ngẫu nhiên mà cuốn sách “Technical Analysis of Stock Trend” của Edward và Magee lại được tái bản tới 8 lần, đây là quyển sách mang tính đầy đủ nhất và cơ bản nhất khi tìm hiểu về Phân tích kỹ thuật , vì vậy để có thể hiểu rõ thì rất cần nghiên cứu kĩ cuốn sách này. ở đây sẽ trích dẫn thêm một số đoạn nhằm giúp người đọc hiểu kĩ hơn ”…những nhà Phân tích kỹ thuật luôn phát biểu với lý luận đầy đủ còn lượng thông tin, dữ liệu mà phân tích cơ bản nghiên cứu là quá cũ và không con giá trị sử dụng. Bởi vì tâm lý thị trường không quan tâm đến quá khứ và thậm chí là cả hiện tại, thị trường luôn hướng về phía trước, cố gắng phản ánh những tăng trưởng trong tương lai, xem xét đo lường và làm cân bằng tất cả những ước lượng, dự đoán của hàng trăm nhà đầu tư – những người cùng nhìn vào tương lai nhưng dưới những góc độ hoàn toàn khác nhau và với những cặp kính nhiều màu sắc. Tóm lại, giá thị trường được tạo lên bởi bản thân thị trường, bao gồm tất cả những thông tin thuộc về cơ bản mà những nguời phân tích thống kê muốn tìm hiểu cùng với nhiều những nguồn thông tin khác có tầm quan trọng ngang hoặc lớn hơn nhiều…”

    Edward và Magee còn đưa ra 4 điểm căn bản sau về Phân tích kỹ thuật:

    • Giá trị thị trường của một chứng khoán được xác định duy nhất thông qua tác động qua lại giữa cung và cầu.
    • Cung và cầu chịu ảnh hưởng, ở bất kì thời điểm nào, bởi hàng trăm những yếu tố, một số là ảnh hưởng hợp lý, một số hầu như phi lý. Thông tin, ý kiến, tâm lý, dự đoán,…(có thể đúng, có thể sai,…) về tương lai kết hợp và trộn lẫn với nhau và với những yếu tố cần thiết khác để tạo thành sự cân bằng chung của toàn thị trường. Không một cá nhân nào có thể nắm lấy và định lượng những điều này mà thị trường sẽ tự thực hiện.
    • Bỏ qua những dao động nhỏ thì giá nhìn chung sẽ vận động theo những xu thế giá chung của thị trường, những xu thế này là ổn định trong một khoảng thời gian tương đối dài.
    • Những thay đổi trong xu thế thị trường thể hiện qua sự dịch chuyển của điểm cân bằng cung cầu dù là vì bất kì nguyên nhân nào đều có thể xác định sớm hơn hoặc muộn hơn thời điểm thị trường biến động.

    Cuối cùng ta sẽ xem xét định nghĩa của Steven B. Achelis, tác giả của cuốn sách “Technical Analysis from A to Z”:
    “Phân tích kỹ thuật là việc nghiên cứu giá, với công cụ cơ bản là biểu đồ, nhằm nâng cao hiệu quả của hoạt động đầu tư…”

    Xét cho cùng định nghĩa về Phân tích kỹ thuật cũng chỉ cần đơn giản như vậy còn cụ thể bản chất, cách thực hiện sẽ được nghiên cứu ở các phần tiếp theo đặc biệt là phần lý thuyết Dow.

     

    Những giả định cơ sở và những bàn luận xung quanh việc áp dụng Phân tích kỹ thuật vào thị trường chứng khoán.

    1. Những giả định cơ sở
      Phân tích kỹ thuật là sự nghiên cứu biến động của thị trường, chủ yếu thông qua việc sử dụng các đồ thị nhằm mục đích dự đoán các xu thế biến động của giá trong tương lai.

    Thuật ngữ “biến động của thị trường” ám chỉ ba yếu tố biến động chính cung cấp thông tin cho quá trình Phân tích kỹ thuật là giá, khối lượng giao dịch và số lượng hợp đồng chưa tất toán (open interest).
    Có 3 giả định làm cơ sở cho việc tiếp cận Phân tích kỹ thuật:
    – Biến động thị trường phản ánh tất cả
    – Giá dịch chuyển theo xu thế chung
    – Lịch sử sẽ tự lặp lại

    Biến động thị trường phản ánh tất cả.
    Đây có thể coi là nền tảng của Phân tích kỹ thuật. Mọi lý thuyết, phân tích khác muốn được chấp nhận thì trước tiên phải hiểu và chấp nhận giả định này. Các nhà Phân tích kỹ thuật cho rằng bất cứ yếu tố nào có khả năng ảnh hưởng đến giá như tâm lý, chính trị hay các yếu tố tài chính của doanh nghiệp, tổ chức. . . đều được phản ánh rõ trong giá thị trường. Do đó có người cho rằng việc nghiên cứu biến động của giá là tất cả những gì ta cần và thực sự không thể phản đối lại ý kiến này.

    Trên cơ sở nhận thức chung về việc giá phản ánh những biến động trong cung, cầu. Các nhà Phân tích kỹ thuật chỉ ra rằng khi giá tăng dù vì bất kì lý do gì thì cầu phải vượt cung và thị trường tăng giá. Chúng ta cũng đều biết và đồng ý rằng động lực chính của cung và cầu là những yếu tố kinh tế căn bản, chúng làm hình thành lên Bull Market hay Bear Market, còn đồ thị thì không tự nó làm cho thị trường dịch chuyển lên hay xuống. Đồ thị chỉ có thể phản ánh tình hình thị trường mà thôi.

    Giá vận động theo xu thế
    Khái niệm về xu thế là khái niệm vô cùng quan trọng trong Phân tích kỹ thuật do đó cần hiểu kĩ về giả định này trước khi muốn tìm hiểu sâu thêm về nó. Mục đích của việc xác lập đồ thị mô tả những biến động giá trên thị trường là nhằm xác định được sớm những xu thế giá, từ đó sẽ tham gia giao dịch trên cơ sở những xu thế này. Trên  thực tế những kĩ thuật ở đây đều mang tính lặp lại những xu thế giá có từ trước tức là mục đích của Phân tích kỹ thuật là nhằm xác định sự lặp lại của những dạng biến động của giá đã xuất hiện trong quá khứ để có thể tận dụng kinh nghiệm và đưa ra những quyết định phù hợp.

    Từ giả định này chúng ta còn có một hệ quả là “một xu thế giá đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó và ít khi có đảo chiều”. Hệ quả này rút ra từ định luật 1 về sự vận động của Newton, do đó nó cách phát biểu khác như sau:   “một xu thế đang vận động sẽ tiếp tục theo xu thế của nó cho đến khi nó đảo chiều”. Nhìn chung tất cả những nghiên cứu nhằm tiếp cận theo các xu thế đều nhằm để đi theo những xu thế giá hiện tại cho đến khi có dấu hiệu đảo chiều.

    Lịch sử sẽ tự lặp lại.
    Phần lớn nội dung của Phân tích kỹ thuật và việc nghiên cứu biến động thị trường đều phải nhằm vào nghiên cứu tâm lý con người. Chẳng hạn như những mô hình giá, những mô hình này đã được xác định và chứng minh từ hơn 100 năm nay, chúng giống như những bức tranh về đồ thị biến động giá. Những bức tranh này chỉ ra tâm lý của thị trường đang là lên giá hay xuống giá. Việc áp dụng những mô hình này đã phát huy hiệu quả trong quá khứ và được giả định rằng sẽ vẫn tiếp tục có hiệu quả trong tương lai bởi chúng dựa trên phân tích nghiên cứu tâm lý con người mà tâm lý con người thì thường không thay đổi. Như  thế giả định này có thể được phát biểu là : “Chìa khóa để nắm bắt tương lai nằm trong việc nghiên cứu quá khứ” hay “tương lai chỉ là sự lặp lại của quá khứ

    2. Những bàn luận xung quanh việc áp dụng Phân tích kỹ thuật vào thị trường chứng khoán

    Dự đoán trong phân tích cơ bản đối lập với trong Phân tích kỹ thuật
    Trong khi Phân tích kỹ thuật tập trung vào việc nghiên cứu biến động thị trường thì Phân tích cơ bản  lại tập trung  vào các động lực kinh tế của cung và cầu – những nguyên nhân gây ra sự vận động của giá. Phân tích cơ bản tiếp cận theo hướng phân tích các thành tố có liên quan ảnh hưởng đến giá thị trường nhằm xác định giá trị thực của một loại chứng khoán – giá trị được xác định thông qua cung cầu và cuối cùng là để xác định các điểm thị trường bán trên giá trị thực tế (overprice) và các điểm thị trường bán dưới giá trị thực (underprice). Cả hai hướng tiếp cận theo Phân tích cơ bản và Phân tích kỹ thuật đều nhằm xác định xu thế mà giá có thể vận động tuy nhiên cách tiếp cận là khác nhau: những nhà phân tích cơ bản thì nghiên cứu nguyên nhân của những biến động thị trường trong khi những nhà Phân tích kỹ thuật lại nghiên cứu tác động của các biến động ấy.

    Một số nhà đầu tư tự coi mình là người theo Phân tích cơ bản hay Phân tích kỹ thuật nhưng thực tế có rất nhiều sự trùng lặp: nhiều nhà Phân tích cơ bản có áp dụng những nguyên lý của Phân tích kỹ thuật trong công việc của mình trong khi hầu hết các nhà Phân tích kỹ thuật lại ít nhiều đều có thời kỳ đi theo Phân tích cơ bản.

    Thường thì vào những giai đoạn bắt đầu của một số biến động quan trọng của thị trường những nhà Phân tích cơ bản không giải thích và không ủng hộ những gì mà thị trường chuẩn bị diễn ra. Chính tại những thời điểm nhạy cảm này mà hai trường phái phân tích tỏ ra khác nhau nhất. Hai trường phái này rồi sẽ lại giống nhau ở một số điểm nhưng nếu nhà đầu tư nào muốn dựa vào những điểm đó để làm cơ sở chắc chắn cho các quyết định của mình thì nó sẽ là quá muộn.

    Một cách giải thích cho mâu thuẫn này là “giá thị trường có vai trò chỉ dẫn cho những người nghiên cứu Phân tích cơ bản” hoặc có thể nói giá thị trường là chỉ số dẫn đạo cho những nhà phân tích cơ bản. Những người có nghiên cứu về Phân tích kỹ thuật đều có thể nhận thấy những thay đổi về giá có tác động đến thị trường, hay là họ đã theo nhịp của thị trường, còn những người theo phân tích cơ bản lại chịu ảnh hưởng từ những biến động ấy. Những thời điểm thị trường lên giá mạnh và giảm giá trầm trọng được ghi nhận trong lịch sử thường do sự không nhận thức được hoặc nhận thức được quá ít những thay đổi thị trường và cho đến khi những biến động ấy được nhận thức rộng rãi thì bản thân nó đã chuyển hướng và vận động theo hướng khác rồi.

    Phân tích và chọn thời điểm có đối lập với nhau không?
    Quay lại với Phân tích kỹ thuật, quá trình ra quyết định có thể được chia thành 2 giai đoạn là phân tích và chọn thời điểm. Với những thị trường có “tác động đòn bẩy” lớn chẳng hạn như thị trường tương lai (thị trường có các công cụ phái sinh như: hợp đồng tương lai – futures và hợp đồng quyền chọn – Options) thì việc xác định thời điểm tham gia vào có vai trò rất quan trọng bởi hoàn toàn có trường hợp bạn đã phân tích và theo đúng tình hình thị trường nhưng bạn vẫn có thể mất tiền của mình. Cho dù mức tiền đặt cọc đối với thị trường tương lai là nhỏ (chỉ khoảng 10%) thì dù chỉ một lượng rất nhỏ giá vận động sai hướng có thể tác động đẩy nhà đầu tư ra khỏi thị trường và mất toàn bộ mức tiền đặt cọc ấy. Trái lại trong giao dịch trên thị trường chứng khoán, khi một nhà đầu tư nhận thấy mình đang lệch khỏi thị trường đối với một loại cổ phiếu nào đó thì anh ta chỉ việc đơn giản là giữ lại cổ phiếu đó và đợi cho đến khi cổ phiếu đó quay lại xu thế thị trường. Những người đầu tư vào thị trường tương lai sẽ không có đặc quyền ấy. Chiến lược “mua và nắm giữ” không thể áp dụng để đầu tư kiếm lời trên thị trường tương lai.

    Khi phân tích ta có thể áp dụng theo cơ bản hay kĩ thuật, nhưng để trả lời câu hỏi về xác định thời điểm tham gia vào hay thoát ra khỏi thị trường thì câu trả lời nằm hoàn toàn trong Phân tích kỹ thuật. Việc xác định thời điểm có ý nghĩa rất quan trọng với quyết định mua hay bán. Do đó khi xem xét các bước tiến hhành của nhà đầu tư trước khi đưa ra quyết định cuối cùng  ta có thể thấy việc áp dụng các nguyên lý của Phân tích kỹ thuật là không thể bỏ qua tại một số thời điểm của quá trình ra quyết định cho dù ở phần đầu của quá trình này khi tiến hành phân tích nhà đầu tư có thể áp dung theo phân tích cơ bản.

    Tính linh hoạt và tính thích dụng của Phân tích kỹ thuật.
    Một trong những thế mạnh lớn của Phân tích kỹ thuật là sự thích dụng của nó trong bất kì phương thức giao dịch nào và vào với bất kì khoản thời gian giao dịch nào. Không có một phần nào trong giao dịch chứng khoán hay các chứng khoán phái sinh mà Phân tích kỹ thuật không thể ứng dụng được.

    Một nhà phân tích đồ thị có thể sử dụng đồ thị trong bất kì và bao nhiêu thị trường tùy thích, nhưng điều này là không thể với một người sử dụng Phân tích cơ bản. Điều này là do với mỗi thị trường một người áp dụng Phân tích cơ bản sẽ phải xử lý một khối lượng  dữ liệu khổng lồ, nó cũng nói lên tại sao một người Phân tích cơ bản chỉ có thể chuyên vào một hay một nhóm nhỏ chứng khoán nhất định – những ưu thế này của Phân tích kỹ thuật là không thể bỏ qua.

    Mỗi thị trường đều phải trải qua những thời kỳ thị trường biến động mạnh và những thời kỳ trầm lắng, những giai đoạn mà giá biến động theo những xu thế rõ ràng và những giai đoạn mà xu thế của giá rất mờ nhạt thậm chí là không có một xu thế cụ thể nào. Khi đó những nhà Phân tích kỹ thuật có thể tập trung sự quan tâm cũng như những nguồn lực của mình vào những thị trường có cu thế vận động rõ ràng hơn và bỏ qua những thị trường loại kia. Điều này có nghĩa là họ có thể chuyển hướng đầu tư để tận dụng tính luân phiên tự nhiên của các thị trường. Vào những thời điểm khác nhau có những thị trường trởi lên “nóng”, có xu thế rõ ràng. Thông thường, tiếp theo những thời kỳ có xu thế giá cụ thể ấy là những thời kỳ giá biến động khá trầm và hầu như không có xu thế nào rõ rệt, trong khi đó ở một hay một nhóm thị trường khác lại có những dấu hiệu biến động nóng. Tóm lại, một nhà Phân tích kỹ thuật có thể tìm và tham gia những thị trường mà họ thấy có khả năng kiếm lời nhanh chóng, còn những nhà Phân tích cơ bản thì không có tính linh họat ấy do tính chuyên sâu vào một loại thị trường như đã nói ở trên. Mặc dù họ hoàn toàn có quyền chuyển hướng quan tâm của mình vào một thị trường khác, nhưng điều ấy cũng có nghĩa là họ phải đối mặt với việc xử lý một khối lượng lớn các dữ liệu của thị trường mới này và rõ ràng là họ sẽ mất rất nhiều thời gian.

    Một lợi thế khác của các chuyên gia Phân tích kỹ thuật là họ có “bức tranh tổng thể về thị trường”. Bởi vì họ theo dõi và nghiên cứu nhiều loại thị trường khác nhau nên họ luôn có được cảm nhận rất tôt về những biến động chung nhất của toàn thị trường, tránh được rơi vào tình trạng có những cái nhìn bó hẹp về thị trường – điều rất dễ xảy ra nếu chỉ chú trọng vào một hay một nhóm nhỏ thị trường nhất định. Đồng thời bởi vì mỗi thị trường đều xây dựng trên cơ sở những mối quan hệ kinh tế và cùng phản ứng lại những nhân tố kinh tế theo cách tương tự nhau cho nên biến động giá ở một hay một nhóm thị trường này có thể là những gợi ý cho việc dự đoán giá ở một hay một số thị trường khác.

    Ứng dụng Phân tích kỹ thuật vào các hình thức giao dịch khác nhau.
    Các nguyên lý của phân tích lĩ thuật có thể áp dụng trên thị trường chứng khoán cũng như trên thị trường tương lai. Các hợp đồng tài chính, bao gồm cả các hợp đồng về lãi suất và ngoại tệ trở nên vô cùng phổ biến trong những thập kỉ gần đây và đã chứng minh chúng là những đối tượng cần quan tâm mới cho phân tích biểu đồ. Trong giao dịch Options các nguyên lý của Phân tích kỹ thuật đóng vai trò rất lớn, rồi trong các giao dịch mang tính phòng vệ đầu tư (hedging) việc áp dụng Phân tích kỹ thuật cũng mang lại những lợi thế rất lớn.

    Phân tích kỹ thuật áp dụng vào những khoảng thời gian có độ dài khác nhau. 

    Đây là một trong những sức mạnh của Phân tích kỹ thuật. Cho dù nhà đầu tư tham gia vào những giao dịch ngắn chỉ trong một ngày trong đó quan tâm đến từng biến động nhỏ hay đầu tư theo phân tích xu thế giá thì những nguyên lý chung chưa bao giờ tỏ ra vô giá trị. ý tưởng cho rằng biểu đồ chỉ hữu ích cho phân tích trong ngắn hạn là sai bởi người ta luôn  nói đến những khoảng thời gian dài trong dự báo của Phân tích kỹ thuật. Cho dù người ta luôn nói rằng để phân tích trong dài hạn thì nên áp dụng phân tích cơ bản nhưng thực tế cho thấy những dự báo sử dụng Phân tích kỹ thuật trong các biểu đồ tuần, tháng, năm có giá trị không kém chút nào. Một người khi đã nắm vững Phân tích kỹ thuật thì hoàn toàn có thể áp dụng rất đa dạng và linh hoạt trên bất cứ thị trường hay lĩnh vực đầu tư nào. Phân tích kỹ thuật có thể dùng không chỉ để dự báo giá chứng khoán mà có thể áp dụng dự đoán biến động của các loại hàng hóa, các biến động của nền kinh tế, của lạm phát, lãi  suất….

    Quá khứ có thể được dùng để dự đoán tương lai hay không?
    Hầu hết những những người phản đối Phân tích kỹ thuật đều đưa ra câu hỏi về vấn đề này. Nhưng hãy thử nhìn lại hầu hết những hình thức dự báo mà chúng ta đã biết đều hoàn toàn dựa trên những nghiên cứu đối với những dữ liệu trong quá khứ chẳng hạn như dự báo thời tiết hay kể cả Phân tích cơ bản. Liệu còn loại dữ liệu nào khác để sử dụng trong phân tích?

    Trong thống kê có hai loại là thống kê mô tả và thống kê quy nạp. Thống kê mô tả nhằm đưa ra dữ liệu dưới các dạng biểu đồ khác nhau. Còn thống kê quy nạp lại mang tính tổng quát hoá, dự đoán, ngoại suy, ước lượng tức là những thông tin được suy ra từ việc phân tích dữ liệu. Như vậy các biểu đồ giá mang tính chất và dáng dấp của phân tích mô tả, còn những nhà Phân tích kỹ thuật lại thực hiện công việc xử lý những dữ liệu về giá cần đến thống kê quy nạp.

    Trong một cuốn sách về thống kê có viết “ bước đầu tiên của dự đoán hoạt động kinh doanh hay dự đoán một hiện tượng kinh tế trong tương lai là tập hợp các quan sát ghi nhận được trong quá khứ”. Phân tích đồ thị cũng chỉ là cũng chỉ là một dạng của phân tích chuỗi thời gian, đều dựa trên cơ sở phân tích quá khứ – đó là tất cả những gì ta cần khi phân tích một chuỗi thời gian. Dạng thông tin duy nhất mà chúng ta có thể sử dụng là những thông tin trong quá khứ. Chúng ta chỉ có thể dự tính tương lai bằng cách áp dụng vào tương lai đó những kinh nghiệm có được trong quá khứ. Bất kì một ai nếu cứ dựa vào đây để phản đối lại Phân tích kỹ thuật thì người đó cũng nên đặt câu hỏi với tính chính xác của mọi dự báo trong phân tích cơ bản bởi chúng cũng đều dựa trên dữ liệu trong quá khứ.

    Lý thuyết “Bước đi ngẫu nhiên” – random walk
    Lý thuyết “bước đi ngẫu nhiên” cho rằng những biến động của giá là một chuỗi hoàn toàn độc lập và những biến động trong quá khứ của giá hoàn toàn không phải là một chỉ số đáng tin cậy cho việc dự đoán xu thế tương lai. Tóm lại biến động của giá là ngẫu nhiên và hoàn toàn không thể dự đoán được. Lý thuyết này dựa trên cơ sở lý thuyết “Thị trường hiệu quả”, trong đó cho rằng giá thị trường sẽ dao động xung quanh giá trị thực của nó. Thuyết này cũng cho rằng chiến lược đầu tư tốt nhất vào thị trường chỉ đơn giản là mua và nắm giữ, cũng có nghĩa là nó chống lại tất cả những cố gắng muốn “chiến thắng” thị trường. Lẽ dĩ nhiên trong bất kì thị trường nào cũng có những yếu tố ngẫu nhiên hay còn gọi là độ nhiễu, những rõ ràng nếu nói tất cả các biến động của giá đều là ngẫu nhiên thì khó có thể đồng tình. Đây có lẽ là một trong những phần mà những quan sát thực nghiệm, những kinh nghiệm thực hành có giá trị hơn những kĩ thuật thống kê công phu, kinh nghiệm là cái giúp cho mỗi người tự chứng minh cho suy nghĩ của riêng mình. ở đây khái niệm ngẫu nhiên cần được hiểu đơn giản là việc không thể xác định được các hình mẫu kĩ thuật đã có trong hệ thống, tức là những hình mẫu đồ thị giá mà người ta dùng để dự đoán xu thế tương lai của giá là hoàn toàn không thể nhận ra được. Tuy nhiên cho dù kể cả những chuyên gia giảng dạy trong lĩnh vực trong lĩnh vực này cũng đôi khi không thể xác định được sự xuất hiện của các hình mẫu kĩ thuật thì điều này cũng không có nghĩa là những hình mẫu giá đó không tồn tại.

    Điều này dẫn ra một câu hỏi là liệu xu thế thị trường có thực sự có ích lợi với những người đang hàng ngày phân tích hay tham gia vào thị trường nơi những xu thế (nếu có) đang hiện diện thực tế. Nhưng nếu nhìn bất cứ một đồ thị nào ta đều có thể thấy một xu thế của giá. Làm sao những người ủng hộ cho thuyết “bước ngẫu nhiên” giải thích cho những xu thế giá này nếu giá là ngẫu nhiên liên tục – nghĩa là những gì xảy ra vào ngày hôm qua, vào tuần trước, … đều không có ảnh hưởng vào những gì có thể xảy hôm nay và ngày mai? Làm sao họ giải thích được khả năng sinh lời thực tế của rất nhiều những chiến lược kinh doanh theo xu thế thị trường?

    Và nhiều câu hỏi khác:

    • Làm sao chiến lược mua và nắm giữ cổ phiếu có thể sử dụng trong thị trường giao dịch các hợp đồng tương lai, nơi mà việc xác định thời điểm tham gia và rút lui khỏi thị trường là yếu tố sống còn?
    • Liệu những hợp đồng dài hạn có thể được nắm giữ suốt thời kì thị trường đi xuống?
    • Làm sao nhà đầu tư có thể biết được sự khác biệt giữa một Bull Market và một Bear Market nếu như giá biến động hoàn toàn không theo qui luật và không theo xu thế nào?
    • Thậm chí là có tồn tại Bull Market hay Bear Market hay không nếu không tồn tại các xu thế giá trên thị trường?

    Khó có thể xác định liệu mọi kết quả thống kê có thể hoàn toàn chững minh hay bác bỏ lý thuyết “bước ngẫu nhiên”. Dẫu sao thì ý tưởng thị trường mang tính ngẫu nhiên là hoàn toàn bị bác bỏ trong “cộng đồng Phân tích kỹ thuật”.Trong khi không thể bác bỏ tính hợp lý của việc tiếp cận thị trường theo khuynh hướng kĩ thuật thì bản thân thuyết “Thị trường hiệu quả” lại có nội dung rất gần với giả thuyết cơ bản của Phân tích kỹ thuật là “thị trường phản ánh tất cả”. Những nhà nghiên cứu cho rằng bởi vì thị trường phản ánh quá nhanh (gần như ngay lập tức) tất cả các thông tin nên không có cách nào để tận dụng ưu thế của thông tin trên thị trường. Cơ sở của Phân tích kỹ thuật như đã nói ở trên cho rằng những thông tin quan trọng về thị trường đều đã được phản ánh từ lâu trong các biến động giá trước khi nó được mọi người biết đến. Mọi chuyên gia đều cho rằng cần phải nghiên cứu và theo dõi kĩ biến động của giá chứ không thể dựa vào những thông tin tài chính căn bản để hi vọng kiếm lời.

    Nhìn chung việc quan sát đồ thị và nhận thấy sự ngẫu nhiên hay tính nhiễu của thị trường chỉ xảy ra với những người không hiểu sâu sắc qui trình hoạt động của thị trường. Nó cũng giống như một điện tâm đồ, với một người không được đào tạo thì anh ta sẽ hoàn toàn không biết ý nghĩa của nó là gì, nhưng với một bác sĩ thì lại khác, những đốm sáng tối trên đó chắc chắn sẽ cung cấp được rất nhiều thông tin. Như thế sự cảm nhận về tính ngẫu nhiên hay tính nhiễu của thị trường sẽ dần mất đi khi trình độ phân tích biểu đồ của một người ngày càng tăng.

     

    Các khái niệm và công cụ cơ bản sử dụng trong quá trình Phân tích kỹ thuật.

    Các loại biểu đồ.
    Hiện nay trên Thị trường chứng khoán các chuyên viên phân tích dùng rất nhiều các loại biểu đồ khác nhau để phân tích, trong đó có 3 loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất đó là: biểu đồ dạng đường (Line chart), biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), biểu đồ dạng ống (Candlestick chart).

    Biểu đồ dạng đường (Line chart).
    Dạng biểu đồ này từ trước tới nay thường được sử dụng trên Thị trường chứng khoán, và cũng là loại biểu đồ được dùng một cách phổ biến nhất trong các ngành khoa học khác dùng để mô phỏng các hiện tượng kinh tế và xã hội…và nó cũng là loại biểu đồ được con người dùng trong thời gian lâu dài nhất. Nhưng hiện nay trên Thị trường chứng khoán do khoa hock kỹ thuật phát triển, diễn biến của Thị trường chứng khoán ngày càng phức tạp cho nên loại biểu đồ này ngày càng ít được sử dụng nhất la trên các Thị trường chứng khoán hiện đại. Hiện nay nó chủ yếu được sử dụng trên các Thị trường chứng khoán mới đi vào hoạt động trong thời gian ngắn, khớp lệnh theo phương pháp khớp lệnh định kỳ theo từng phiên hoặc nhiều lần trong một phiên nhưng mức độ giao dịch chưa thể đạt được như Thị trường chứng khoán dùng phương pháp khớp lệnh liên tục.Ưu điểm của loại biểu đồ này là dễ sử dụng, lý do chính là vì nó được sử dụng trên tất cả các Thị trường chứng khoán trên khắp thế giới từ trước tới nay. Hiện nay loại biểu đồ này ít được sử dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại vì các Thị trường chứng khoán hiện đại ngày nay thường diễn biến khá phức tạp, mức độ dao động trong thời gian ngắn với độ lệch khá cao, nếu dùng loại biểu đồ này để phân tích thì thường mang lại hiệu quả thấp trong phân tích.

    Ví dụ về dạng biểu đồ dạng đường (line chart):

    Đồ thị biến động VNIndex
    (tính đến ngày 18/01/2007 – bsc.com.vn)

    Hiện nay trên các Thị trường chứng khoán hiện đại đang dùng một số loại biểu đồ trong Phân tích kỹ thuật mang lại hiệu quả cao đó là Bar chart và Candlestick chart.

    Biểu đồ dạng then chắn (Bar chart)

    Ví dụ về dạng biểu đồ dạng then chắn (Bar chart):

    Cổ phiếu General Electric

    Trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên thế giới hiện nay các chuyên viên phân tích thường dùng loại biểu đồ này trong phân tích là chủ yếu lý do chính vì tính ưu việt của nó đó là sự phản ánh rõ nét sự biến động của giá chứng khoán.
    Hai kí tự mà dạng biểu đồ này sử dụng đó là:

    loại biểu đồ này thường được áp dụng để phân tích trên các Thị trường chứng khoán hiện đại khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh liên tục, độ dao động của giá chứng khoán trong một phiên giao dịch là tương đối lớn.

    Biểu đồ dạng ống (Candlestick chart)

    Ví dụ về dạng biểu đồ dạng ống (Candlestick chart):

    Đồ thị biến đông giá của YAHOO, 18/1/2007
    (nguồn: http://www.stockcharts.com)

    Đây là dạng biểu đồ cải tiến của biểu đồ dạng then chắn (Bar chart), nó được người Nhật Bản khám phá và áp dụng trên Thị trường chứng khoán của họ đầu tiên. Giờ đây nó đang dần được phổ biến hầu hết trên các Thị trường chứng khoán hiện đại trên toàn thế giới. Dạng biểu đồ này phản ánh rõ nét nhất về sự biến động của giá chứng khoán trên thị trường chứng khoán khớp lệnh theo hình thức khớp lệnh định kỳ.

    Hai kí tự mà loại biểu đồ này sử dụng là:

     

    Xu thế, Đường xu thế, Kênh

    Xu thế
    Khái niệm xu thế sẽ được giới thiệu kĩ hơn trong phần Lý thuyết Dow. Xu thế gồm có cả xu thế giá tăng và xu thế giá giảm. Xu thế giá tăng gồm liên tiếp những đỉnh giá cao dần và đáy giá cao dần (đỉnh trước cao hơn đỉnh sau và đáy trước cao hơn đáy sau). Một xu thế giá tăng sẽ được coi là vẫn duy trì cho đến khi xuất hiện một đáy mới thấp hơn đáy trước nó. Ngược lại xu thế giá giảm cũng sẽ được coi là vẫn đang tiếp diễn cho đến khi xuất hiện một đỉnh mới cao hơn đỉnh trước nó.

    Đường xu thế
    Xu thế giá tăng và xu thế giá giảm cũng được nghiên cứu dưới dạng các đường xu thế. Với xu thế giá tăng ta có đường xu thế giá tăng, đây là đường nối các điểm đáy cao dần lên và đường xu thế giảm là đường nối các đỉnh thấp dần. Đường xu thế có thể kéo dài thậm chí nhiều năm. Qui trình vẽ một đường xu thế khá đơn giản nhưng cũng rất dễ nhầm. Điều căn bản là phải có những dấu hiệu chắc chắn về sự xuất hiện một xu thế giá. Khi muốn vẽ một xu thế giá tăng ta phải có ít nhất hai điểm đáy mà đáy sau cao hơn đáy trước. Tất nhiên điều kiện cần và đủ để có thể vẽ được một đường thẳng là phải có hai điểm, tuy nhiên người ta thường đợi cho đến khi xuất hiện một đáy thứ ba cao hơn hai đáy trước và đường xu thế đi qua cả 3 đáy (một cách tương đối). Điều này có nghĩa là đường xu thế có thể không đi qua đáy thứ ba mà chỉ đi sát, nhìn chung như thế là đạt yêu cầu. Nhưng một đường xu thế đi qua cả đáy bao giờ cũng được coi là một đường xu thế chính xác và có độ tin cậy cao.

    Khi một đường xu thế đã được xác nhận về độ chính xác thì nó sẽ trở nên rất hữu ích bởi tính chính xác ấy đảm bảo chắc chắn hướng chuyển động ổn định của giá. Với xu thế giá tăng, sau mỗi đợt tăng biến động điều chỉnh xuất hiện sẽ kéo giá xuống sát hoặc đến đúng đường xu thế những sẽ không xuống thấp hơn nếu xu thế thị trường vẫn đang ổn định. Đường xu thế lúc này là biên thấp nhất của dao động giá. Tương tự, với thị trường đang có xu thế giá giảm thì đường xu thế sẽ là biên cao nhất cho mọi dao động giá. Như thế, các đường xu thế chính xác của thị trường sẽ là các biên dao động cơ sở để xác định mức giá mua và bán tối đa và tối thiểu hợp lý.

    Nếu chuyển động của đồ thị vượt lên đường xu thế giảm hoặc xuống dưới đường xu thế giá tăng thì đây là dấu hiệu, có thể nói là sớm nhất, cho sự thay đổi trong xu thế thị trường.

    Kênh
    Kênh là khoảng giao động của giá, nếu giá sẽ dao động trong một dải thì dải đó gọi là kênh. Dải dao động đó được xác định bởi hai đường biên là đường xu thế và đường kênh (channel line), hai đường này song song với nhau. Vấn đề là làm sao có thể xác định được hai đường này.

    Sau khi đã xác định được đường xu thế như trên, giả sử với xu thế giá tăng, ta vẽ đường kênh là một đường song song với đường xu thế và đi qua đỉnh giá rõ nhất đầu tiên. Nếu ở lần tăng giá tiếp theo giá tăng đến gần hoặc chạm vào đường kênh rồi lại giảm xuống đến gần đường xu thế thì khả năng có thể tồn tại một kênh dao động của giá. Với xu thế giá giảm việc vẽ và xác định kênh là hoàn toàn tương tự, tất nhiên là theo hướng ngược lại.

    Mỗi lần giá chạm vào hoặc đến gần đường kênh rồi quay trở lại xuống đến đường xu thế là một lần kênh được kiểm tra thành công. Kênh tồn tại càng lâu với càng nhiều lần thử thành công thì vai trò cũng như độ tin cậy của nó càng lớn. Kênh có thể sử dụng cho kiếm lời trong ngắn hạn và thậm chí một số nhà đầu tư táo bạo còn sử dụng đường kênh để tiến hành những giao dịch ngược hướng với xu thế thị trường nhằm tìm kiếm những khoản lợi lớn hơn cho dù giao dịch ngược hướng thị trường có thể là một chiến thuật nguy hiểm và phải trả giá đắt.

    Khi chuyển động của giá trên thị trường phá vỡ đường xu thế thì có thể gây ra sự đảo chiều của xu thế thị trường, nhưng nếu đường kênh bị chuyển động của giá phá vỡ (khi giá vượt ra ngoài đường kênh) thì tác động lại hoàn toàn ngược lại: đây là dấu hiệu cho sự gia tăng sức mạnh của xu thế hiện tại, thậm chí một số nhà đầu tư tin tưởng rằng việc giá chuyển động làm mất đi đường kênh sẽ xác nhận cho một xu thế ổn định trong thời gian dài và là cơ hội cho những nhà đầu tư thực hiện những hợp đồng dài hạn.

    Ngược lại, khi giá không lên được đến đường kênh mà quay ngược trở lại quá sớm thì đây lại là dấu hiệu dự báo sớm sự suy giảm của xu thế hiện tại và là dấu hiệu cho thấy có thể chuyển động của giá sẽ phá vỡ đường xu thế.

    Nói chung việc chuyển động của giá không thể đạt đến sát một trong hai đường biên của kênh có thể là một dấu hiệu sớm cho thấy xu thế giá có thể thay đổi và khả năng chuyển động của giá có khả năng sẽ phá vỡ đường biên còn lại của kênh. Với xu thế giá tăng, có thể có hai trường hợp (trong các hình vẽ ở hai trường hợp này ta giả định ban đầu kênh đang có xu thế hướng lên- xu thế tăng giá, hoàn toàn tương tự nếu muốn xem xét đối với xu thế giá giảm).

    Nếu chuyển động của giá vượt qua đường kênh một khoảng lớn thì đây là dấu hiệu cho thấy xu thế lên giá đang mạnh lên, thường ta sẽ phải vẽ một đường xu thế mới dốc hơn từ điểm đáy cuối cùng song song với đường kênh mới. Thực tế cho thấy đường xu thế mới này hoạt động tốt hơn đường cũ.

    Nếu giá không đạt được đến đường kênh và chuyển động phá vỡ đường xu thế thì điều này chỉ ra rằng xu thế thị trường đổi ch iều thành xu thế giá giảm. Hai đỉnh mới xuất hiện (đỉnh 5 và 7) sẽ là cơ sở để vẽ đường xu thế giá giảm, tương tự ta sẽ vẽ đường kênh song song đường xu thế và đi qua đáy 4. Chú ý là ở đây có sự đổi vai trò đường xu thế ban đầu trở thành đường kênh và ngược lại.

    Ngoài ra kênh và các đường kênh còn mang một ý nghĩa khác: Khi giá chuyển động phá vỡ xu thế hiện tại – xuất hiện ‘breakout’ từ kênh hiện tại, giá thường sẽ chuyển động một khoảng bằng với độ rộng của kênh đó.

    Như thế, để xác định điểm dừng của chuyển động này ta có thể tính tương đối chính xác bằng cách đo độ rộng của kênh vừa bị phá vỡ và dự kiến điểm dừng từ điểm giá vượt ra ngoài kênh (Tuy nhiên cần luôn luôn lưu ý rằng trong hai đường biên của kênh thì đường xu thế luôn có vai trò quan trọng và đáng tin cậy hơn, đường kênh chỉ là một công cụ kĩ thuật xuất phát từ đường xu thế).

     

    Mức hoàn lại – Khung giao dịch – Hỗ trợ và Kháng cự

    Mức hoàn lại.
    Trong bất kì một đồ thị nào ta đều thấy sau một giai đoạn giá chuyển động theo xu thế của thị trường thì giá sẽ hoàn lại một chút trước khi quay trở lại chuyển động theo xu thế cũ. Những chuyển động ngược xu thế này thường có độ lớn ở vào những khoản có thể dự đoán được và được gọi là mức hoàn lại. Mức hoàn lại trung bình thường gặp nhất là 50%. Bên cạnh đó còn có các mức hoàn lại thường thấy khác đó là các mức 1/3 và 2/3. Nói cách khác, nếu chia một xu thế giá thành ba phần thì nói mức hoàn lại thấp nhất là 33% và cao nhất là 66% có nghĩa là ở giai đoạn điều chỉnh của xu thế đó giá sẽ hoàn lại ít nhất 1/3 mức tăng (hay giảm) mà nó đạt được trong xu thế trước đó và mức hoàn lại đó không vượt quá 2/3 mức tăng (hay giảm) trước đó đạt được. Nếu mức hoàn lại cao hơn thì khả năng sẽ xảy ra sự đảo chiều thị trường tức là giá sẽ chuyển động theo xu thế đảo ngược xu thế trước mà không quay lại chuyển động theo xu thế đó.

    Khung Giao Dịch.
    Thị trường có thể ở một trong 3 xu thế là xu thế tăng, xu thế giảm và xu thế dao động ngang. Nhiều người cho rằng thị trường chỉ có thể tăng hoặc giảm, nhưng thực tế có đến 1/3 thời gian giá chuyển động theo một hình mẫu dạng ‘phẳng’ nằm ngang gọi là khung giao dịch. Khung giao dịch là một dải nằm ngang trên đồ thị trong đó bao gồm các dao động của giá trong một giai đoạn dài. Nói chung hầu hết các biến động của thị trường sẽ diễn ra bên trong khung giao dịch. Tuy nhiên khi thị trường có biến động dạng khung giao dịch thì lại rất khó kiếm được lợi nhuận. Khung giao dịch phản ánh thời kỳ mà áp lực cung cầu là tương đối cân bằng và giá duy trì ở mức cân bằng thị trường. Đôi khi người ta còn gọi thời kỳ mà giá biến động theo khung giao dịch là thời kỳ không có xu thế thị trường. Hầu hết các công cụ kinh tế đều được tạo ra để có thể áp dụng vào các thị trường có xu thế tăng hoặc giảm rõ rệt còn khi thị trường ở dang không có xu thế rõ rệt thì các công cụ này nhìn chung hoạt động kém hiệu quả, thậm chí là không thể áp dụng. Đây cũng chính là thời kỳ gây khó chịu nhất cho những người đi theo Phân tích kỹ thuật và gây ra nhiều lỗ nhất. Trong những tình huống ấy nhà đầu tư luôn phải đối mặt với một trong ba quyết định là mua, bán hay đứng ngoài không tham gia vào thị trường và thông thường thì quyết định không tham gia vào thị trường luôn là quyết định sáng suốt nhất.

    Thực tế cũng có một số phương pháp có thể áp dụng để kiếm lời khi thị trường xuất hiện dạng khung giao dịch, chẳng hạn như sử dụng các chỉ số dao động thị trường (Oscillators) mà ta sẽ nghiên cứu ở phần sau. Nhìn chung rất khó có thể dự đoán sự xuất hiện trong tương lai của mô hình khung giao dịch. Mô hình này cũng có thể kéo dài trong nhiều tháng, một năm hay nhiều năm. Cũng giống như kênh, khung giao dịch cũng có các đường biên bên trên và bên dưới, đây chính là các đường kháng cự và hỗ trợ của khung (ta sẽ nghiên cứu về kháng cự và hỗ trợ ở phần sau). Những “sự phá vỡ” (break out) ra ngoài khung có thể là các dấu hiệu quan trọng để tiến hành các giao dịch. Tuy nhiên cũng cần lưu ý bởi giá cũng thường dao động vượt ra ngoài khung nhưng chỉ với một lượng nhỏ, sau đó quay trở lại bên trong khung. Đôi khi nguyên nhân của hiện tượng này là do những lệnh dừng mà nhà đầu tư đã đặt và những lệnh này tác động đến những vùng giá nằm ngoài khung. Khi những lệnh này kết thúc thì giá sẽ trở lại dao động bên trong khung giao dịch nếu không có những lý do liên quan đến những yếu tố tài chính cơ bản hay có sự xuất hiện khối lượng giao dịch lớn duy trì sự vượt ra ấy. Nhìn chung nhà đầu tư không nên đi theo ngay những “breakout” mới xuất hiện mà nên chờ thêm một dao động tiếp theo xác nhận “breakout” này cho dù điều này có thể làm chậm lại một chút nhưng sẽ tránh được rất nhiều dấu hiệu sai và tránh được những khoản lỗ.

    Hỗ trợ và kháng cự
    Việc nghiên cứu về mức hỗ trợ và kháng cự là một trong những vấn đề khá quan trọng đối với Phân tích kỹ thuật. Nó cho phép người nghiên cứu có thêm những cơ sở mới trong việc chọn các loại cổ phiếu để mua hay bán, trong dự đoán các biến động tiềm năng, trong việc chỉ ra những thời điểm mà thị trường có thể gây ra rắc rối cho nhà đầu tư. Trên thực tế, nhiều nhà đầu tư có kinh nghiệm đã xây dựng cho họ một “hệ thống đầu tư” riêng dựa hầu hết vào những nguyên lý về mức kháng cự và hỗ trợ. Việc nghiên cứu về mức kháng cự và hỗ trợ một cách đầy đủ cần rất nhiều thời gian và cần thêm nhiều yếu tố khác, người viết chỉ xin đưa ra một số khía cạnh cơ bản nhất với mục đích đưa ra cơ sở lý thuyết cơ bản nhất về khái niệm quan trọng này của Phân tích kỹ thuật.

    Mức kháng cự và hỗ trợ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc nghiên cứu phân tích các hình mẫu kỹ thuật. Những kiến thức cơ bản về mức kháng cự và hỗ trợ sẽ giúp người nghiên cứu dễ dàng hiểu bản chất và các ứng dụng của các hình mẫu đó.

    Mức hỗ trợ thường được dùng khá thông dụng. Trên thị trường phố Wall, bạn có thể nghe thấy việc một nhóm nhà đầu tư luôn sẵn sàng hỗ trợ thị trường bằng cách mua tất cả các chứng khoán chào bán nếu giá giảm 5 điểm. Vậy mức hỗ trợ là gì? Ta có thể định nghĩa mức hỗ trợ là việc mua thực tế hay khả năng mua với khối lượng đủ để làm ngưng lại xu thế giảm của giá trong một thời kỳ đáng kể (tương đối dài). Mức kháng cự lại ngược lại với mức hỗ trợ: đó là việc bán, trong thực tế hay tiềm năng, một khối lượng đủ để thoả mãn tất cả các mức chào mua, do đó, làm giá ngừng không tăng nữa trong một khoảng thời gian nhất định. Như thế mức kháng cự và hỗ trợ là gần giống theo thứ tự với khối lượng cầu và khối lượng cung. Mức hỗ trợ là mức giá ở đó mức cầu cho một cổ phiếu là đủ để, ít nhất là, làm dừng xu thế giảm giá của thị trường và cũng có thể đổi chiều xu thế đó, tức là làm xu thế giá đi xuống quay ngược đi lên. Từ đó ta có định nghĩa về mức kháng cự, đó là mức giá mà ở đó lượng cung đủ để giá sẽ ngừng không tăng nữa và có thể chuyển động ngược lại đi xuống. Theo lý thuyết thì mỗi mức giá có một lượng cung và cầu nhất định. Nhưng khoản hỗ trợ thể hiện sự tập trung của cầu còn khoảng kháng cự thể hiện sự tập trung của cung. Như vậy với một hình mẫu giá nhất định, chẳng hạn ta xét với hình mẫu dạng hình chữ nhật (mô hình này phản ánh giai đoạn thị trường gồm rất nhiều những dao động nhỏ của giá theo hướng ngang đồ thị chứ không hướng lên hay hướng xuống rõ rệt, hai đường nối các đỉnh và các đáy của thị trường trong giai đoạn này gần như song song, không cần thiết phải song song 100% nhưng độ lệch phải rất nhỏ, hay có thể nói là một dạng của khung giao dịch), đường nối các đỉnh có thể coi là mức kháng cự, còn đường nối các đáy được coi là mức hỗ trợ.

    Nhìn chung trong giai đoạn hai mức này còn phát huy hiệu lực thì giá sẽ không vượt quá mức kháng cự và không xuống dưới mức hỗ trợ. Nhưng với tư cách một nhà đầu tư ta sẽ quan tâm hơn đến việc xác định tại sao và yếu tố nào làm xuất hiện các mức kháng cự và hỗ trợ ở một mức giá nhất định. Các chuyên gia còn tập trung nghiên cứu thời điểm giá lên đạt đến mức kháng cự và khi nào giá xuống đến mức hỗ trợ.

    Cơ sở của những dự đoán này cũng là những dữ liệu cơ bản hình thành nên lý thuyết về hỗ trợ và kháng cự, đó là khi giá trị giao dịch có xu hướng bị tập trung tại một số mức giá có khối lượng các cổ phiếu được giao dịch lớn. Điều đáng chú ý là tại bất kì mức giá nào xuất hiện mức khối lượng giao dịch lớn thường đều trở thành điểm đảo chiều đối với xu thế hiện tại của thị trường và mọi điểm đảo chiều đều có xu hướng lặp đi lặp lại thường xuyên và hoàn toàn mang tính tự nhiên. Có một thực tế quan trọng mà nhiều khi một số người quan sát và phân tích biểu đồ một cách ngẫu nhiên không nhận ra đó là: những mức giá đó đang dần dần chuyển vai trò từ hỗ trợ thành kháng cự và ngược lại từ kháng cự thành hỗ trợ. Nếu như biến động của giá vượt qua một đỉnh giá đã được hình thành trước đó thì đỉnh này sẽ đóng vai trò là khoảng đáy của xu thế giảm giá (điều chỉnh) sẽ xuất hiện sau xu thế tăng hiện tại và một đáy sau khi đã bị giá vượt xuống dưới sẽ trở thành khoảng đỉnh của xu thế tăng sẽ xuất hiện ngay sau đó.

    Quá trình hình thành một xu thế thông thường.
    Ta sẽ xem xét các ví dụ:

    Giả sử một cổ phiếu đang trong xu thế tăng mạnh và tăng từ mức giá 12 lên đến 24, đồng thời trên thị trường cũng đang có một khối lượng cổ phiếu lớn đang được chào bán. Kết quả của việc này là thị trường có thể phản ứng và hình thành một xu thế điều chỉnh trung gian (tạm thời), làm giá giảm xuống còn 18, hoặc cũng có thể phản ứng của thị trường làm xuất hiện hàng loạt những dao động nhỏ quanh mức, chẳng hạn, từ 24 xuống đến 21 tạo thành một dạng hình mẫu mang tính củng cố xu thế hiện tại. Sau thời gian điều chỉnh hoặc củng cố này sẽ xuất hiện một đợt tăng giá mới và đưa giá lên đến 30, tại đó cung lại đầy và dư, làm ngưng lại đợt tăng giá này. Lúc đó lại có thể xuất hiện một trong hai dạng mô hình điều chỉnh hay củng cố. Nếu xảy ra điều chỉnh, câu hỏi đặt ra là xu thế giảm tạm thời này sẽ xuất hiện ở mức nào? Câu trả lời là mức giá 24, đây là đỉnh đầu tiên của xu thế tăng giá chính (cấp 1) trên thị trường – mức giá này thấp hơn mức giá hiện tại và tại đó lại xuất hiện tổng giá trị giao dịch rất lớn. Khi đó nó đóng vai trò và hoạt động như một mức kháng cự, tạo ra sự ngưng tăng hay đảo chiều của đợt tăng giá đầu tiên. Sau khi bị vượt qua thì vai trò của nó lại là mức hỗ trợ, làm ngưng hay có thể đảo chiều, dù rất ít xu thế giảm giá đang diễn ra trên thị trường.

    Một ví dụ tương tự đưa ra với một cổ phiếu đang trong xu thế giá giảm. Giả sử cổ phiếu đang ở một đỉnh lớn của toàn thị trường ở mức giá 70, giá giảm xuống còn 50. ở tại mức 50 xuất hiện một đỉnh điểm diễn ra các giao dịch nhưng chỉ mang tính tạm thời. Thị trường có tổng khối lượng giao dịch lớn, giá tăng lên, có thể lại trượt xuống một chút như một dạng kiểm tra mức giá 50 có thực sự là một điểm dừng quan trọng của thị trường hay không. Sau đó xuất hiện giai đoạn hồi phục đưa giá lên 60. Tại mức 60 sức mua yếu dần, xu thế giá đảo lại và đi xuống, giá sẽ giảm mạnh hơn ở đợt giảm mới này và làm xuất hiện một mức đáy thấp hơn là 42. Đến đây, lặp lại thời kỳ trước, nhu cầu mua lại tăng lên và lại xuất hiện quá trình hồi phục lần hai. Chúng ta có thể tự tin chờ đợt hồi phục từ mức giá 42 này lên sẽ tăng lên đến mức kháng cự (đã được kiểm tra là “mạnh”) đó là mức giá 50. ở đợt giảm lần đầu mức giá này đóng vai trò mức hỗ trợ, bây giờ nó đóng vai trò mức kháng cự, mức đáy lúc trước trở thành mức đỉnh của thị trường.

    Vậy ta đặt ra câu hỏi tại sao có sự chuyển vai trò ở hai ví dụ trên? Ta bắt với ví dụ thứ 2 trước. Giá đầu tiên giảm xuống đến 50 và xuất hiện khối lượng giao dịch tương đối lớn, rồi lại đảo chiều tăng lên 60 nhưng lực tăng yếu dần. Ở mức giá 50, rất nhiều cổ phiếu đã được giao dịch, với mỗi người bán đều có ít nhất một người mua tương ứng. Một số người đã mua nhưng với chủ định nắm giữ trong ngắn hạn và đã bán đi, bây giờ họ không còn quan tâm đến loại cổ phiếu này. Một số khác là những nhà đầu tư ngắn hạn và thậm chí cả một số chuyên gia có thể đã mua ở mức giá 50 bởi đơn giản là họ thấy thị trường đang ở một mức đáy tạm thời và mua với mong muốn kiếm lãi khi giá tăng lên theo dự kiến của họ, hoàn toàn có thể giả sử họ đã thực hiện được mục đích của mình và đã thoát ra khỏi thị trường trước khi giá tụt xuống dưới mức 50. Với đa số những nhà đầu tư còn lại, quyết định mua của họ là do họ thấy mức giá 50 là mức giá thấp đủ thảo mãn họ bởi chỉ vài tháng trước giá cổ phiếu được bán trên mức 70, rõ ràng 50 là một mức giá hời, đồng thời họ cũng cho rằng giá sẽ lại lên và lên nữa trong thời gian dài.

    Nhưng hãy đặt mình vào vị trí của những người vừa mua cổ phiếu đó. Họ nhìn thấy giá tăng hàng ngày, lên 55 rồi lên 58 rồi đến 60, những nhận định của họ lúc trước có vẻ đúng và họ vẫn tiếp tục nắm giữ cổ phiếu. Rồi xu thế tăng này yếu đi, giá lại giảm xuống còn 57, 55 rồi 52 rồi lại về 50. Họ có lo lắng một chút những rồi lại vẫn cho rằng 50 là mức rất rẻ, vẫn hời, đặc biệt khi thị trường dừng lại ở mức giá 50 trong một thời gian ngắn.

    Rồi giá lại giảm tiếp phá vỡ mức giá 50. Lúc đầu có thể họ vẫn hi vọng đây chỉ là mức giảm tạm thời, là một chút biến động của giá và thị trường sẽ hồi phục nhanh chóng. Thế nhưng hi vọng ấy mất đi khi xu thế giảm giá vẫn tiếp tục và không hề tỏ ra là sẽ có điều chỉnh. Những nhầ đầu tư bắt đầu tỏ ra lo lắng, có điều gì đó không ổn đã xảy ra. Cho đến khi giá giảm còn 45, mức giá hời lúc trước không còn là một quả cam ngọt nữa mà là một quả chanh.

    Với ví dụ thứ nhất về xu thế tăng giá của thị trường. Khi giá tăng từ 12 đến 24 các nhà đầu tư đều cho rằng 24 là mức giá tương đối cao so với 12 (mức giá mà họ đã mua vào) do đó họ bán, khi mà sau đó giá giảm xuống một chút đến 20, họ đều tự chúc mừng cho sự sáng suốt của mình. Nhưng rồi xu thế giá lại đảo chiều, giá tăng vọt lên 30, họ sẽ không còn cảm thấy như vậy nữa. Họ ước gì mình vẫn nắm giữ cổ phiếu đó và có thể muốn mua lại cổ phiếu này, tất nhiên là không mua cao hơn 24, rõ ràng nếu giá giảm xuống còn 24 sẽ có rất nhiều nhà đầu tư lại mua vào với hi vọng kiếm lời nhiều hơn.

    Những ví dụ trên đây phản ánh một cách chung nhất tâm lý của những nhà đầu tư trên thị trường và tác động của họ tới việc hình thành cũng như sự chuyển vai trò của mức kháng cự và hỗ trợ. Qua đó ta cũng nhận thấy rằng tại một mức giá kháng cự hay hỗ trợ, nếu giá dao động quanh nó càng lâu thì vai trò và sức mạnh của nó càng lớn và một xu thế giá phải thực sự mạnh mới có thể phá vỡ hay vượt qua được nó. Một mức kháng cự hay hỗ trợ được duy trì càng lâu thì những biến động có khả năng vượt qua nó càng có ý nghĩa và có thể được coi là những dấu hiệu cho những biến động lớn của thị trường.

    Thêm một nhận xét nữa là khối lượng giao dịch cũng có ý nghĩa rất quan trọng trong xác định các mức kháng cự và hỗ trợ. Nếu mức kháng cự hay hỗ trợ hình thành mà không có dấu hiệu gì về sự thay đổi trong khối lượng giao dịch thì mức độ tin cậy cũng như độ bền vững của chúng là không cao. Trái lại nếu một mức hỗ trợ chẳng hạn được hình thành với khối lượng giao dịch rất lớn, điều này có nghĩa là tại đó nhu cầu giao dịch là rất lớn, rõ ràng mức độ phản ánh cũng như ý nghĩa của nó là cao và quan trọng hơn nhiều

    Các hình mẫu kỹ thuật (Chart Patterns)

    Hình mẫu kĩ thuật hay còn gọi là các mô hình giá hoặc hình mẫu giá là các “bức tranh” hay các mô hình biến động nhất định của giá xuất hiện trên biều đồ giá thị trường. Trong Phân tích kỹ thuật, các hình mẫu kỹ thuật có vai trò vô cùng quan trọng bởi mục tiêu sau cùng của các nhà phân tích là tìm ra được sự lặp lại của một dạng biến động nhất định của giá đã xuất hiện trong quá khứ ở hiện tại và tận dụng những kinh nghiệm có được trong quá khứ về mô hình này cũng như những kết quả đã thống kê được để có một phương án tốt nhất cho quyết định đầu tư trong hiện tại.

    Hình mẫu kỹ thuật dù được áp dụng khá rộng rãi với nhièu đối tượng chứ không chỉ riêng chứng khoán chẳng hạn như áp dụng trong các giao dịch ngoại hối, trong phân tích các thị trường Futures của các hàng hoá thông  thường,… và còn áp dụng trong cả dài hạn lẫn ngắn hạn, tuy nhiên ta có thể phân chia một cách tổng thể nhất thành hai loại là mô hình mang tính cung cố hay duy trì xu thế hiện tại của thị trường và mô hình làm đảo chiều xu thế hiện.

    Dưới đây ta cũng chỉ nghiên cứu được những mô hình chủ yếu và quan trọng nhất trong phân tích kỹ thuật còn rất nhiều dạng khác đều là biến thể của các dạng cơ bản này.

    Ascending triangle – Tam giác hướng lên
    Mô hình tam giác hướng lên nhìn chung được coi là một dạng mô hình trung gian mang tính củng cố hay báo hiệu sự tiếp tục xu thế hiện tại của thị trường. Tuy nhiên đôi khi nó cũng mang tính đảo ngược. Thường thì mô hình này cần ít hơn ba tháng để hoàn thiện và khi xuất hiện thường kèm theo sự gia tăng của khối lượng giao dịch. Với mô hình này ta có thể nhận thấy sự hội tụ của hai đường kháng cự và hỗ trợ thể hiện bằng sự thu hẹp khoảng cách giữa các đỉnh và các đáy của thị trường, kéo dài hai đường kháng cự và hỗ trợ chúng sẽ cắt nhau ở đỉnh tam giác ở phía phải đồ thị. Đường kháng cự nằm ngang và đường hỗ trợ hướng lên cho thấy các mức giá cao có xu thế giữ nguyên còn các mức giá thấp nhất lại có xu thế tăng dần lên, điều này cũng có nghĩa là người mua có động cơ mạnh hơn người bán.

    “Breakout” (break-out có nghĩa là điểm xuất hiện sự đảo chiều của xu thế thị trường, ở đây sẽ dùng nguyên văn tiếng Anh) sẽ xuất hiện ở khoảng giữa điểm 2/3 và 3/4 chiều ngang của mô hình (tính từ điểm bắt đầu mô hình đến điểm cắt nhau của hai đường kháng cự và hỗ trợ).”Breakout” phá vỡ đường kháng cự sẽ chứng tỏ mô hình mang tính củng cố còn nếu phá vỡ đường hỗ trợ sẽ chỉ ra rằng mô hình mang tính đảo chiều. Có một cách để ước lượng mức giá mục tiêu thấp nhất mà sự đột phá ra ngoài mô hình này có thể đạt tới là xác định mức giá của điểm giao nhau dự kiến của hai đường kháng cự và hỗ trợ kéo dài. Tiếp đó ta đo chiều cao của mô hình tam giác tức là khoảng cách (đo theo chiều thẳng đứng) giữa điểm cao nhất của đường kháng cự và điểm thấp nhất của đường hỗ trợ, rồi cộng khoảng này vào mức giá của giao điểm vừa đo ở trên nếu là “breakout” hướng lên và sẽ lấy mức giá của giao điểm trừ đi khoảng này nếu là “breakout” hướng xuống.

    Cup and Handle (mô hình cốc và chuôi):
    Mô hình cốc và chuôi xuất hiện khi thị trường đang trong xu thế lên giá và nó củng cố xu thế đó của thị trường. Mô hình này gồm hai phần: phần “cốc” và phần cái “chuôi”, mô hình “cốc” kéo dài trong 1 đến 6 tháng còn mô hình chuôi kéo dài trong 1 đến 4 tuần. Phần cốc hình thành sau một đợt tăng giá của thị trường và có dạng đáy vòng xuống. Khi mô hình “cốc” hoàn thành một mô hình khung giao dịch sẽ tiếp tục hình thành ở phía bên phải và tạo nên cái “chuôi” (như hình vẽ).

    Thường thì tính củng cố của mô hình sẽ được đảm bảo hơn nếu xu thế tăng giá ban đầu kéo dài trong vài tháng tức là đảm bảo nó không quá yếu. Cũng cần lưu ý với dạng của mô hình cốc: đáy của nó càng vòng càng tốt và nếu như nó quá nhọn và gần giống với chữ V thì rất dễ chuyển tính chất thành mô hình đảo chiều. Một mô hình cốc hoàn hảo sẽ có hai thành cốc cao ngang nhau, độ sâu của nó hoàn lại khoảng 1/3 hoặc ít hơn mức tăng giá trước đó, tất nhiên điều này ít khi xảy ra. Với thị trường có độ bất ổn lớn (volatile) thì mức hoàn lại có thể trong khoảng 1/3 đến ẵ, them chí có thể đạt đến 2/3.

    Mô hình “chuôi” làm cho đợt gia tăng giá ở bên phải “cốc” ngừng lại và biến động nhỏ trong một khung giao dịch và có thể kéo lùi giá lại một chút so với thành “cốc”.Toàn bộ chiều cao của khung thường đạt mức 1/3 chiều cao “cốc”. “Breakout” xuất hiện sẽ phá vỡ mức kháng cự và tiếp tục xu thế tăng giá của thị trường.

    Descending Triangles – tam giác hướng xuống

    Mô hình tam giác thường xuất hiện trong thị trường xuống giá và cũng mang tính củng cố (hay duy trì) xu thế hiện tại. Thời gian tồn tại của mô hình này là khoảng 1 đến 3 tháng. Hai đường kháng cự và hỗ trợ có xu hướng hội tụ, đường kháng cự hướng xuống còn đường hỗ trợ nằm ngang.

    Về điểm xuất hiện “breakout”, điểm giá mục tiêu sau “breakout” cũng như mối quan hệ giữa điểm hội tụ hai đường kháng cự, hỗ trợ và độ dài của mô hình ta có thể xem ở phần mô hình tam giác hướng lên.

    Mô hình này phản ánh tâm lý người mua cho rằng cổ phiếu đang vượt quá giá trị thực của nó và mức giá hợp lý phải thấp hơn do đó mà đường kháng cự đi xuống trong khi đường hỗ trợ nằm ngang.Rõ ràng nếu xuất hiện “breakout” thì giá sẽ tiếp tục giảm.Điểm khác biệt với mô hình tam giác hướng lên là ở chỗ khối lượng giao dịch sẽ ít dần đi và càng ít khi tiến gần đến điểm hội tụ.

    Symmetrical triangle – hình mẫu kỹ thuật tam giác cân

    Nói chung một hình mẫu tam giác được xem xét như là một hình mẫu dạng tiếp tục xu thế của thị trường hoặc là một hình mẫu củng cố của xu thế. Tuy nhiên, đôi khi nó đánh dấu một sự đảo ngược của khuynh hướng. Nói chung hình mẫu kỹ thuật “tam giác cân” được xem xét như là những mẫu trung gian chuyển tiếp của xu thế biến động giá chứng khoán. Thông thường nó cần khoảng một tháng để hình thành, ít khi nó cần đến ba tháng để hình thành. Sự hội tụ của hai đường kháng cự và hỗ trợ đã mang lại cho chúng ta hình dáng của hình mẫu kỹ thuật “tam giác cân”. Trên thị trường chứng khoán dạng hình mẫu kỹ thuật này khá dễ dàng để nhận biết nó, ngoài ra hình mẫu kỹ thuật này cũng được các chuyên viên Phân tích dùng như một công cụ đáng tin cậy để giao dịch, nhưng các chuyên viên cũng cảnh báo rằng tín hiệu đáng tin cậy để giao dịch đó là sự xuyên chéo một trong hai đường trendline bởi đường biểu diễn sự biến động giá chứng khoán một cách rõ ràng.

    Flags and Pennants – Mô hình cờ chữ nhật và cờ đuôi nheo

    Hình mẫu kỹ thuật Flags & Pennants là những mô hình continuation – tiếp tục xu thế của thị trường trong ngắn hạn, nó đánh dấu một bước củng cố để tiếp tục lấy lại xu thế của thị trường. Thông thường trước khi xảy ra những hình mẫu kỹ thuật này thì được xác nhận bằng sự tăng hoặc giảm giá mạnh kết hợp với khối lượng giao dịch lớn, nó đánh dấu điểm chính giữa của xu thế biến động giá (thực chất nó là những hình mẫu kỹ thuật mang tính chất củng cố của xu hướng biến động giá chứng khoán). Để được xem xét là một hình mẫu kỹ thuật mang tính continuation – tiếp tục xu thế của thị trường – nó cần được xác nhận bằng một khuynh hướng diễn ra trước đó.

    Rectangle – hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật

    Hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật – Rectangle – là một dạng mô hình tiếp tục xu thế của thị trường, nó trông giống như trong một kênh giao dịch cho đến cuối của xu thế biến động giá chứng khoán. Hình mẫu kỹ thuật này có thể được nhận biết một cách rõ ràng thông qua hai đường nối các đỉnh và các đáy trong xu thế biến động giá chứng khoán. đường nối các đỉnh và các đáy của xu thế biến động giá chứng khoán tạo thành đỉnh và đáy của hình chữ nhật. Những hình chữ nhật đôi khi được xem như những khung giao dịch, những khu vực củng cố hoặc bế tắc trong sự biến động của giá chứng khoán. có nhiều sự tương đồng giữa mô hình “hình chữ nhật” – Rectangle và mô hình “tam giác cân” – Symmetrical triangle, trong khi cả hai đều là những hình mẫu kỹ thuật tiếp tục khuynh hướng của thị trường, chúng đều mang lại những thông tin khá quan trọng đó là dự báo những đỉnh và đáy của xu thế. Không như với hình mẫu kỹ thuật tam giác cân, hình mẫu kỹ thuật hình chữ nhật chỉ hoàn thiện cho tới khi “breakout” xuất hiện. thỉnh thoảng những tín hiệu sớm có thể được nhận biết, nhưng thường thì dấu hiệu “breakout” khó có thể xác định trước một cách sớm và chính xác. Rectangle có thể diễn ra trong một vài tuần hoặc trong vài tháng, thông thường thì hình mẫu này diễn ra trong khoảng ba tuần, trong trường hợp lý tưởng Rectangle có thể diễn ra trong khoảng ba tháng, nói chung những dấu hiệu “breakout” do những Rectangle diễn ra trong thời gian dài thường tin cậy hơn những dấu hiệu “breakout”  được mang lại bởi những Rectangle diễn ra trong khoảng thời gian ngắn hơn.

    Double bottom (Mô hình hai đáy)

    Mô hình hai đáy hình thành khi giá tạo thành hai điểm đáy liên tiếp trên cùng một đồ thị. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá tăng vượt qua điểm bắt đầu hình thành đáy thứ hai (tức là vượt qua đường Neckline sau khi đã chạm đến đáy thứ hai). Mô hình hai đáy là thời kỳ chuyển đổi xu thế giảm giá thành xu thế tăng giá, nó mang tính đảo chiều. Có điều là mô hình này tương đối dễ nhận ra nên cũng rất dễ nhầm do đó nhà đầu tư nên cẩn thận khi quyết định tham gia trong thời kỳ này. Thực tế thống kê cho thấy nếu nhà đầu tư nóng vội tham gia ngay từ đầu thì xác xuất thất bại là 64% còn nếu họ cố gắng đợi đến khi xuất hiện “breakout” (đảo chiều) thật sự thì xác xuất thất bại chỉ còn 3%.

    Để có thể nhận diện chính xác mô hình, nhà đầu tư nên chú ý đến một số vấn đề: đáy thứ hai không nên xuống vượt quá đáy thứ nhất; khoảng thời gian giữa hai đáy cũng là một dấu hiệu quan trọng-thời gian càng dài thì độ chính xác càng cao-ít nhất phải là một tháng và có thể kéo dài nhiều tháng.

    Double top (Mô hình hai đỉnh)

    Mô hình hai đỉnh hình thành khi đường biểu diễn sự biến động của giá chứng khoán hình thành hai đỉnh trên biểu đồ. Mô hình này chỉ hoàn thiện khi giá chứng khoán rơi xuống dưới mức sàn đáy (điểm dưới cùng của đáy) của toàn mô  hình. Mô hình hai dỉnh là mô hình thể hiện sự đảo ngược của xu hướng tăng giá chứng khoán – nó đánh dấu quá trình chuẩn bị cho xu hướng đi xuống của xu hướng tăng giá trong hiện tại (nó báo hiệu cho một thị trường giảm giá). Vì đây là mô hình rất hay thường gặp và rất dễ nhận ra nên khi nhận định về thị trường chúng ta nên xem xét một cách cẩn then. Bolkowski ước tính mức thất bại của mô hình này là 65% nếu nhà đầu tư đợi đến mức đột biến giá (Breakout) mới tiến hành giao dịch thì mức rủi ro giảm xuống còn 17%.

    Falling wedge (Mô hình cái nêm hướng xuống):

    Mô hình Falling wedge là một hình mẫu kỹ thuật dạng bullish (chỉ báo thị trường tăng giá), mô hình bắt đầu thì biên khoảng cách giữa hai đường xu thế rộng sau đó độ rộng giảm dần khi giá chứng khoán giảm. Sự biến động của giá hình thành một hình chóp nón hướng xuống dưới do các đỉnh và đáy dần hội tụ. Hình mẫu kỹ thuật Falling wedge trượt hướng xuống phía dưới và có dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường tăng giá), tuy nhiên dấu hiệu bullish (chỉ báo thị trường tăng giá) này sẽ không thể được nhận ra cho đến khi có “breakout” (đảo chiều xu thế   ) khỏi đường kháng cự. Khi mô hình mang tính continuation (tiếp tục xu thế của thị trường), thì Falling wedge vẫn sẽ hướng xuống dưới và xu hướng này ngược với xu thế của thị trường hiện tại. Khi nó mang tính reversal (đảo ngược với xu thế của thị trường), thì Falling wedge hướng trượt xuống dưới cùng với xu thế của thị trường. Nhưng cho dù Falling wedge thuộc loại nào thì nó vẫn là hình mẫu kỹ thuật báo hiệu sự tăng giá!

    Head and shoulders top (hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai)

    Đỉnh đầu vai là một hình mẫu kỹ thuật hết sức phổ biến đối với những nhà đầu tư vì nó là một hình mẫu kỹ thuật đáng tin cậy nhất trong tất cả những hình mẫu kỹ thuật được trình bày trong đề tài nghiên cứu này, đồng thời nó cũng thường được nhận ra một cách dễ dàng. Những nhà phân tích kỹ thuật ít kinh nghiệm thường mắc lỗi đối với hình mẫu kỹ thuật này vì họ nhận thấy nó xuất hiện khá phổ biến trên biểu đồ. Những nhà phân tích kỹ thuật chuyên nghiệp thường nhận biết hình mẫu kỹ thuật này thông qua những biến cố thực sự. Đỉnh đầu vai là loại hình mẫu kỹ thuật đảo ngược xu thế của thị trường. Nó là dấu hiệu quan trọng đánh dấu sự đảo chiều của xu thế biến động giá chứng khoán từ xu thế tăng giá chuyển thành xu thế giảm giá.
    Hình mẫu kỹ thuật đỉnh đầu vai thực ra là sự mô phỏng theo hình dáng đầu và hai vai của con người, hình mẫu gồm ba đỉnh cao nhọn được tạo bởi ba điểm khôi phục – tăng giá trở lại sau khi giá giảm trong sự biến động của giá chứng khoán. Đỉnh đầu tiên – vai trái – xuấn hiện khi giá chứng khoán tăng đạt tới đỉnh của nó và sau đó giảm xuống. Đỉnh thứ hai – cái đầu- xảy ra khi giá chứng khoán tăng lên đến một đỉnh cao mới cao hơn đỉnh của vai trái rồi sau đó lại giảm xuống. Đỉnh thứ ba – vai phải – xuất hiện khi giá chứng khoán tăng một lần nữa nhưng không cao bằng đỉnh thứ hai, rồi lại giảm xuống sau khi đã đạt được đỉnh của nó. Đỉnh của hai “vai” chắc chắn sẽ thấp hơn đỉnh của “đầu”. Trong mô hình phân tích cổ điển thì hai đỉnh của hai vai phải cân bằng với nhau nhưng điều quan trọng nhất quyết định của mô hình này đó chính là đường nối hai đáy của hai vai gọi là đường “vòng cổ” – neckline – mô hình sẽ bị phá vỡ khi đường vòng cổ bị xuyên chéo bởi giá chứng khoán và giá chứng khoán tiếp tục giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline – các chuyên viên Phân tích kỹ thuật cho rằng mô hình không được khẳng định là đúng cho tới khi giá chứng khoán giảm xuống dưới đường “vòng cổ” – neckline.

    Rounding bottom (hình mẫu kỹ thuật đáy vòng cung)

    Rounding bottom là một hình mẫu kỹ thuật đảo ngược xu hướng biến động thị trường – reversal – dài hạn, nó thường được dùng để phân tích với biểu đồ hàng tuần. Nó đại diện cho một thời kỳ củng cố dài hạn trong xu thế biến động của giá chứng khoán, nó là mô hình chuyển tiếp từ một khuynh hướng giảm giá liên tục – Bearish – sang một khuynh hướng tăng giá mạnh – bullish. Sự xác nhận của khuynh hướng tăng giá mới – bullish – khi khuynh hướng biến động giá chứng khoán vượt qua đường miệng của vòng cung, nó đánh dấu một khuynh hướng mới trong quá trình biến động của giá chứng khoán, như một mức hỗ trợ của sự đột biến giá chứng khoán, đường này cũng được coi là mức kháng cự của xu thế mới. Tuy nhiên, Rounding bottom đại diện cho sự đảo chiều của sự biến động giá chứng khoán trong dài hạn và mức hỗ trợ mới cũng trở thành không mấy quan trọng nữa.

    Triple bottom (hình mẫu kỹ thuật ba đáy)

    Mô hình ba đáy được hình thành bởi ba đáy phụ riêng biệt với mức xấp xỉ bằng nhau. Mô hình ba đáy được xem như là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai ngược, mô hình ba đáy là hình mẫu dạng đảo ngược xu thế biến động của thị trường. Thứ duy nhất để phân biệt giữa mô hình ba đáy và mô hình đỉnh đầu vai ngược đó chính là đỉnh – “đầu” – nằm giữa hai “vai”. Mô hình ba đáy biểu diễn xu thế giảm xút trong quá trình nó trở thành một xu thế tăng giá. như vậy nó chỉ còn hợp lệ khi nó vẫn trong quá trình giảm xút so với hai đỉnh ở giữa hay là nó chưa đi xuyên chéo qua đường vòng cổ – neckline – vượt qua mức kháng cự của mô hình. Bởi vì hình mẫu kỹ thuật này rất dễ nhầm lẫn với nhiều hình mẫu kỹ thuật khác cho nên cach chuyên viên phân tích khuyên rằng để ứng dụng mô hình này một cách có hiệu quả cao nhất trong quá trình đầu tư, chúng ta nên chờ đợi một dấu hiệu “breakout” một cách rõ ràng thông qua sự xuyên chéo của đường biểu diễn giá chứng khoán với đường kháng cự của mô hình – neckline – trước khi nhận định đây có phải thực sự là hình mẫu kỹ thuật dạng “ba đáy” hay không

    Triple top (hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh)

    Mô hình ba đỉnh được xem là mô hình cải tiến của mô hình đỉnh đầu vai. Tương tự như mô hình “ba đáy” thứ duy nhất để phân biệt một cách rõ ràng giữa mô hình này với mô hình đỉnh đầu vai đó chính là đỉnh “đầu” nằm giữa hai “vai”, trong mô hình “ba đỉnh” thì ba đỉnh xấp xỉ cao bằng nhau, nhưng trong mô hình “đỉnh đầu vai” thì hoàn toàn khác, đỉnh đầu cao hơn hẳn so với hai vai hai bên. Như hình minh hoạ ở bên dưới thì mô hình “ba đỉnh” được hình thành từ ba đỉnh sắc nhọn, cả ba đỉnh có độ cao gần bằng nhau. Một đỉnh trong bộ ba xuất hiệ khi giá chứng khoán đang ở trong giai đoạn tăng giá, sự tăng giá lên tới mức kháng cự của mô hình sau đó giá chứng khoán giảm xuống mức hỗ trợ của mô hình, sau đó xuất hiện sự tăng giá trở lại nhưng chỉ đạt đến mức kháng cự ngang bằng với mức kháng cự của mô hình và lại giảm xuống, sự tăng giá trở lại mức kháng cự thứ ba trước khi giá chứng khoán bị giảm một cách nhanh chóng xuống dưới mức hỗ trợ của mô hình. Hình mẫu kỹ thuật ba đỉnh là một hình mẫu dạng đảo chiều của thị trường nó đánh dấu một thời kỳ chuyển tiếp giữa một xu thế tăng giá và một xu thế giảm giá. Điều kiện đầu tiên của mô hình đó là phải được bắt đầu băng một xu thế tăng giá. Các chuyên viên phân tích khuyên rằng nhà đầu tư nên đợi sự xuất hiện của sự xuyên chéo giữa đường biểu diễn giá chứng khoán với đường hỗ trợ của mô hình – neckline – một cách rõ ràng. nếu giá chứng khoán không giảm mạnh sau sự xuất hiện đỉnh thứ ba thì đó không phải là mô hình “ba đỉnh”. Đôi khi trong thực tế mô hình “ba đỉnh” không thực sự xảy ra một cách hoàn hảo ví dụ như ít khi ba đỉnh có độ cao xấp xỉ bằng nhau, mà sự bằng nhau chỉ mang tính chất có sự sai lệch có thể chấp nhận được.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đồ Án Thực trạng đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kỹ thuật ở Việt Nam trong thời gian qua và một số giải pháp trong thời gian tới nhằm thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ph%C3%A2n-t%C3%ADch-k%E1%BB%B9-thu%E1%BA%ADt-b%E1%BA%B1ng-bi%E1%BB%83u-%C4%91%E1%BB%93-ch%E1%BB%A9ng-kho%C3%A1n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

    1         Các trường giá

    Phân tích kỹ thuật được dựa trên hầu như toàn bộ việc phân tích giá và khối lượng. Các trường định nghĩa giá và khối lượng của chứng khoán được giải thích dưới đây:

    Open: Đây là mức giá của lần giao dịch đầu tiên trong một thời kỳ (ví dụ: lần giao dịch đầu tiên trong ngày). Khi phân tích các dữ liệu hàng ngày giá Open đặc biệt quan trọng vì nó là mức giá nhất trí sau khi tất cả các bên quan tâm có thể “gác nó đến hôm sau”.

    High: Đây là mức giá cao nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một thời kỳ. Đó là thời điểm mà tại đó có nhiều người bán hơn người mua (tức là: luôn có người bán sẵn sàng bán ở mức giá cao hơn, nhưng mức giá High miêu tả mức giá cao nhất mà người mua sẵn sàng trả tiền).

    Low: Đây là mức giá thấp nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một giai đoạn. Đó là thời điểm mà tại đó có nhiều người mua hơn người bán (tức là: luôn có người mua sẵn sàng mua ở mức giá thấp hơn, nhưng mức giá Low miêu tả mức giá thấp nhất mà người bán sẵn sàng chấp nhận bán).

    Close: Đây là mức giá cuối cùng mà chứng khoán được giao dịch trong một thời kỳ. Do tính lợi ích của nó, mức giá Close là một trường được thường xuyên sử dụng nhất để phân tích. Các kỹ thuật viên cho rằng mối quan hệ giữa mức giá Open (Mức giá đầu tiên) và mức giá Close (Mức giá cuối cùng) rất có ý nghĩa. Mối quan hệ đó được nhấn mạnh trong biểu đồ giá đỡ nến (candlestick chart).

    Volume: Đây là số lượng cổ phiếu (hoặc hợp đồng)được giao dịch trong một thời kỳ. Mối

    quan hệ giữa giá và khối lượng (ví dụ: tăng giá đi cùng với tăng khối lượng) rất quan trọng. Open Interest: Đây là tổng số các hợp đồng future hoặc option còn tồn tại (ví dụ: những hợp đồng chưa được sử dụng, bị chấm dứt hoặc hết hiệu lực). Open Interest thường được sử dụng như là một chỉ số.

     

    4

    Bid: Đây là mức giá mà một người buôn bán chứng khoán sẵn sàng trả để mua chứng khoán

    (tức là: số tiền bạn sẽ nhận khi bạn bán).

    Ask: Đây là mức giá mà một người buôn bán chứng khoán sẵn sàng chấp nhận để bán chứng

    khoán (tức là: số tiền bạn sẽ trả để mua chứng khoán).

    Những trường đơn gian này được sử dụng để tạo ra hàng trăm công cụ kỹ thuật để nghiên cứu mối quan hệ giá, xu hướng giá, mẫu hình giá…

    Không phải tất cả các trường giá này có thể dùng được cho tất cả các kiểu chứng khoán và nhiều nhà cung cấp lời chỉ dẫn chỉ công bố một bộ phận các trường giá. Bảng 1 cho thấy các trường tiêu biểu được sử dụng cho một vài kiểu chứng khoán.

      Table 1        
               
        Futures Mutual Funds Stocks Options
               
      Open Yes No Often Yes
               
      High Yes Closed end Yes Yes
               
      Low Yes Closed end Yes Yes
               
      Close Yes Yes (*NAV) Yes Yes
               
      Volume Yes Closed end Yes Yes
               
      Open Interest Yes N/A N/A Often
               
      Bid Intraday Closed end Intraday Intraday
               
      Ask Intraday Closed end Intraday Intraday
               
    * Net Asset Value        

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    5

    2         Biểu đồ

    Cơ sở của phân tích kỹ thuật là biểu đồ. Trong trường hợp này, một bức tranh đích thực đáng giá hàng nghìn từ.

    2.1      Biểu đồ đường

    Biểu đồ đường là kiểu biểu đồ đơn giản nhất. Như ta thấy trong biểu đồ của General Motors ở hình 2, đường thẳng đơn mô tả giá kết thức mỗi ngày của chứng khoán. Trục ngang thể hiện ngày tháng, trục đứng thể hiện giá.

    Hình 2

    Sức mạnh của biểu đồ đường xuất phát từ sự đơn giản của nó. Nó cung sự quan sát giá chứng khoán rõ ràng, dễ hiểu. Biểu đồ đường thường hiển thị mức giá Close của chứng khoán.

    2.2      Biểu đồ thanh

    Biểu đồ thanh hiển thị giá Open, High, Low và Close của chứng khoán. Biểu đồ thanh là kiểu biểu đồ chứng khoán phổ biến nhất.

    Trong biểu đồ thanh ở hình 3, phần trên cùng của mỗi thanh đứng mô tả mức giá cao nhất mà chứng khoán được giao dịch trong một giai đoạn và phần dưới cùng của mỗi thanh mô tả mức giá thấp nhất mà chứng khoán được giao dịch. Cái tick được hiện thị ở bên phải của thanh để

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    6

    chỉ rõ mức giá cuối cùng mà chứng khoán được giao dịch. Nếu mức giá Open sẵn có để dùng, thì chúng được biểu thị bằng cái tick ở bên trái của thanh.

    Hình 3

    2.3      Biểu đồ thanh khối lượng

    Khối lượng thường được hiện thị bằng đồ thị thanh ở dưới đáy của biểu đồ (xem hình 4). Hầu hết các nhà phân tích chỉ giám sát mức độ liên quan của khối lượng, quy mô khối lượng thường không được hiển thị ra.

    Hình 4

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    7

    Hình 4 hiện thị khối lượng với gốc là 0. Điều này có nghĩa là phía dưới cùng của mỗi thanh khối lượng là giá trị 0. Tuy nhiên, hầu hết các nhà phân tích thích xem xét khối lượng tương đối hơn khối lượng với gốc bằng 0. Điều này được thực hiện bằng cách trừ đi khối lượng thấp nhất xuất hiện trong một thời kỳ. Các thanh khối lượng đã được điều chỉnh quan hệ làm cho việc quan sát xu hướng khối lượng dễ dàng hơn bằng cách bỏ qua khối lượng hàng ngày nhỏ nhất.

    Hình 5

    Hình 5 hiện thị thông tin khối lượng tương tự như hình trước, nhưng khối lượng này là tương đối.

    2.4      Các kiểu biểu đồ khác

    Giá chứng khoán có thể được hiển thị bằng cách sử dụng các loại biểu đồ khác, ví dụ candlestick, Equivolume, point & figure…Các loại biểu đồ này sẽ được giải thích ở phần II.

    3         Mức giá support và resistance

    Giá cả chứng khoán là kết quả của cuộc chiến đối đầu giữa người đầu cơ giá lên (người mua) và người đầu cơ giá xuống (người bán). Những người đầu cơ giá lên đẩy giá lên cao hơn, còn

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    8

    những người đầu cơ giá xuống đẩy giá xuống thấp hơn. Hành vi trực tiếp của giá cho thấy kẻ thắng trong cuộc chiến.

    Tương tự như vậy, xem xét sự biến động giá của Phillip Morris trong hình 6, trong suốt thời kỳ dưới đây, chú ý mỗi lần giá rớt xuống mức $45.50 như thế nào, những người đầu cơ giá lên (tức là người mua) chiếm quyền điều khiển và giữ cho giá không bị rớt thêm nữa. Điều đó có nghĩa là ở mức giá $45.50, những người mua cảm thấy đầu tư vào Phillip Morris là đáng giá (và những người bán không bán với giá thấp hơn $45.50). Kiểu hành vi của giá này liên quan tới mức giá support vì những người mua hỗ trợ cho mức giá $45.50

    Hình 6

    Liên quan tới mức giá support, mức độ resistance là một điểm mà ở đó những người bán chiếm quyền điều khiển giá và ngăn cho chúng không tăng lên cao hơn. Xem hình 7, chú ý mỗi lần giá tiến gần mức $51.50 như thế nào, người bán đông hơn người mua và ngăn cho giá tăng lên.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    9

    Hình 7

    Mức giá mà giao dịch được diễn ra là mức giá mà người đầu cơ giá lên và người đầu cơ giá xuống đồng ý thực hiện giao dịch. Nó thể hiện sự nhất trí của sự trông đợi. Người đầu cơ giá lên nghĩ rằng giá sẽ tăng cao hơn và người đầu cơ giá xuống nghĩ rằng giá sẽ xuống thấp hơn. Mức giá support cho thấy mức giá mà đa số các nhà đầu tư tin rằng giá sẽ tăng cao hơn, còn mức giá resistance cho thấy đa số các nhà đầu tư cảm thấy giá sẽ xuống thấp hơn. Nhưng sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi theo gian. Trong một thời gian dài các nhà đầu tư không trông đợi Dow Industrial tăng trên 1000 (như ta thấy trong hình 8 mức độ chống cự rất mạnh mẽ ở mức 1000). Nhưng chỉ vài năm sau, nhà đầu tư sẵn sàng giao dịch ở mức gần 2500

    Hình 8

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    10

    Khi sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi, nó thường diễn ra rất đột ngột. Chú ý mức giá tăng vượt mức chống cự của Hasbro Inc. trong hình 9, nó diễn ra rất dứt khoát. Cũng nên chú ý, cú vượt mức giá resistance đi kèm với mức tăng khối lượng đáng kể.

    Hình 9

    Một khi các nhà đầu tư chấp nhận Hasbro có thể được giao dịch ở mức trên $20 thì sẽ có nhiều nhà đầu tư hơn sẵn sàng mua với mức cao hơn (do cả giá và khối lượng đều tăng). Cũng như thế, những người trước đây đã bán khi giá đạt đến mức $20.00 cũng bắt đầu trông đợi giá sẽ tăng cao hơn và không còn sẵn sàng bán.

    Sự tăng lên của mức giá support và mức giá resistance có thể là sự kiện đáng chú ý và xảy ra thường xuyên nhất trên biểu đồ giá. Sự vượt qua mức giá support/resistance có thể được thúc đẩy bởi những thay đổi cơ bản mà nó ở mức trên hay dưới sự trông đợi của nhà đầu tư (ví dụ sự thay đổi lợi tức, quản lý, sự cạnh tranh…) hay do sự dự đoán của bản thân (nhà đầu tư mua vì thấy giá tăng). Nguyên nhân này không quan trọng bằng ảnh hưởng của sự trông đợi mới dẫn đến một mức giá mới.

    Hình 10 cho thấy cú vượt lên có nguyên nhân tư những nhân tố cơ bản. Cú vượt lên xảy ra khi Snapple đưa ra bản báo cáo lợi tức cao hơn mức được trông đợi. Làm sao mà chúng ta biết được nó cao hơn mức được trông đợi? Bằng sự thay đổi của giá sau bản báo cáo.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    11

    Hình 10

    Những mức giá support/resistance khác mang tính cảm xúc nhiều hơn. Ví dụ, DJIA có một khoảng thời gian dài mà nó thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư khi nó tiến gần đến 3000 (xem hình 11)

    Hình 11

    3.1      Cung và cầu

    Không có gì bí hiểm về mức giá support và resistance – nó là cung và cầu. Hãy nhớ “Echo 101″, đường cung/cầu cho thấy mức cung và cầu ở mức giá xác định.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    12

    Đường cung cho thấy khối lượng (tức là số lượng cổ phiếu) mà người bán sẵn sàng cung ứng

    • mức giá xác định. Khi giá tăng, khối lượng người bán cung ứng cũng tăng vì nhiều nhà đầu tư hơn sẵn sàng bán ở mức giá cao hơn.

    Đường cầu cho thấy số lượng cổ phiếu mà người mua sẵn sàng mua ở mức giá xác định. Khi giá tăng, khối lượng người mua muốn mua giảm xuống do có ít nhà đầu hơn sẵn sàng mua ở mức giá cao hơn.

    • mức giá xác đinh, biểu đồ cung/cầu (xem hình 12) cho thấy có bao nhiêu người bán và người mua. Ví dụ, biểu đồ dưới đây cho thấy,ở mức giá 42-1/2 có 10 người mua và 25 người bán.

    Hình 12

    Support xảy ra ở mức giá mà đường cung cắt trục đứng của biểu đồ (ví dụ ở biểu đồ trên là 27-1/2). Giá không thể xuống thấp hơn mức này vì không có người bán sẵn sàng bán ở mức giá này. Resistance xảy ra ở mức giá mà đường cầu cắt trục đứng của biểu đồ (ví dụ ở biểu đồ trên là 47-1/2). Giá không thể tăng lên trên mức này vì không có người mua sẵn sàng mua ở mức giá này.

    Trong thị trường tự do, những đường này liên tục thay đổi. Vì sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi, vì vậy mức giá người mua và người bán cảm thấy có thể chấp nhận được. Cú vượt lên trên mức giá resistance là bằng chứng của sự dịch lên trên của đường cầu vì có nhiều người mua

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    13

    hơn sẵn sàng trả ở mức giá cao hơn. Tương tự như vậy, sự thất bại của mức giá support cho thấy đường cung dịch chuyển xuống dưới.

    Nền tảng của hầu hết các công cụ phân tích kỹ thuật bắt nguồn từ lý thuyết cung cầu. Biểu đồ giá chứng khoán cho chúng ta một cái nhìn tuyệt vời về sự hoạt động của những lực lượng này.

    3.2      Sự hối hận của những người giao dịch

    Theo quá trình thâm nhập của mức giá support/resistance, những người giao dịch thường nghi ngờ mức giá mới. Ví dụ, sau cú vượt lên trên mức giá resistance, những người mua và người bán có thể cùng nghi ngờ tính hợp lý của mức giá mới và có thể quyết định bán. Điều này tạo ra hiện tượng mà tôi xem đó là “sự hối hận của những người giao dịch”, tại đó mức giá quay trở về mức giá support/resistance sau cú vượt của mức giá.

    Hãy xem cú vượt của Phillip Morris ở hình 13, chú ý sau cú vượt của giá là sự quay trở lại mức giá resistance.

    Hình 13

    Hành vi của giá theo sau giai đoạn hối hận này là cốt yếu. Một trong hai thứ có thể xảy ra. Hoặc là mức giá mới không được chấp nhận, trong trường hợp đó mức giá sẽ quay trở về mức giá trước, hoặc các nhà đầu tư chấp nhận mức giá mới, trong trường hợp đó mức giá sẽ tiếp

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    14

    tục di chuyển theo hướng vượt qua. Nếu, theo sự hối hận của người giao dịch, mức giá mới không được chấp nhận, một “chiếc bẫy đầu cơ giá tăng” (bull trap) (hoặc là “cú vượt lỗi”) được tạo ra. Như ta thấy trong hình 14, giá vượt qua mức giá resistance $67.50 (câu mồi một nhóm những người đầu cơ giá tăng trông đợi giá tăng cao hơn) và giá sẽ rớt xuống dưới mức resistance bỏ mặc những người đầu cơ giá tăng với cổ phân giá cao.

    Hình 14

    Tương tự, cảm xúc tạo ra cái bẫy đầu cơ giá hạ (bear trap). Giá rớt xuống mức giá support đủ lâu để những người đầu cơ giá hạ bán (hoặc bán khống) sau đó đột ngột tăng lên trên mức giá support bỏ rơi những người đầu cơ giá hạ.

    Hình 15

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    15

    Một điều khác có thể xảy ra sau sự hối hận của người giao dịch là sự trông đợi của các nhà đầu tư có thể thay đổi do mức giá mới được chấp nhận. Trong trường hợp đó giá sẽ tiếp tục di chuyển theo hướng vượt qua (tức là tăng lên nếu mức giá resistance bị vượt qua, giảm xuống nếu mức giá support bị vượt qua)

    Hình 16

    Một cách tốt để xác định mức độ trông đợi sau cú vượt là xem xét khối lượng với mức giá mới. Nếu mức giá mới chọc thủng mức giá support/resistance với việc tăng khối lượng lớn, và giai đoạn hối hận của người giao dịch có liên quan đến khối lượng thấp, nó ngụ ý rằng sự trông đợi mới sẽ thống trị (thiểu số các nhà đầu tư hối hận). Ngược lại, sự vượt qua với khối lượng trung bình và giai đoạn hối hận với mức tăng khối lượng cao, nó ngụ ý rằng rất ít sự trông đợi của nhà đầu tư thay đổi và trở về sự trông đợi bình thường (tức là giá bình thường)

    3.3      Resistance trở thành support

    Khi mức giá resistance bị vượt qua thành công thì nó trở thành mức giá resistance. Tương tự, khi mức giá support bị vượt qua thành công thì nó trở thành mức giá resistance.

    Hình 17 là một ví dụ về mức giá resistance trở thành mức giá support. Khi giá vượt qua mức giá resistance với $45.00, mức $45.00 trở thành mức giá support.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    16

    Đó là bởi vì một “thế hệ” mới các nhà đầu cơ giá tăng mà không mua khi mức giá thấp hơn $45 (họ không trông đợi tăng giá cổ phần) bây giờ nóng lòng mua với bất kỳ mức giá nào gần mức $45

    Hình 17

    Tương tự khi mức giá xuống thấp hơn mức support, thì nó trở thành mức giá resistance. Khi giá tiến gần tới mức giá support trước đây, các nhà đầu tư cố gắng giới hạn sự thua lỗ của họ bằng cách bán. (Xem hình 18)

    Hình 18

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    17

    Tóm lại

    Tôi tiếp tục bàn luận về hành vi của giá, sự trông đợi của nhà đầu tư, và mức giá support/resistance một cách ngắn gọn nhất có thể. Tuy nhiên từ kinh nghiệm làm việc của tôi với các nhà đầu tư, tôi bị thuyết rằng hầu hết các nhà đầu tư có thể cải thiện kết qủa của họ một cách rõ rệt nếu họ chú ý nhiều hơn tới những ảnh hưởng bên dưới đối với giá chứng khoán: sự trông đợi của nhà đầu tư, cung/cầu.

    Dưới đây là phần tóm lại lý thuyết về mức giá support/resistance:

    • Giá chứng khoán thể hiện giá trị thị trường công bằng vì được chấp nhận bởi người mua (người đầu cơ giá lên) và người bán (người đầu cơ giá hạ)
    • Sự thay đổi giá là kết quả của sự thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư đối với giá chứng khoán tương lai
    • Mức giá support xuất hiện khi có sự nhất trí rằng mức giá không thể xuống thấp hơn. Đó là thời điểm mà người mua nhiều hơn người bán
    • Mức giá resistance xuất hiện khi có sự nhất trí rằng mức giá không thể lên cao hơn. Đó là thời điểm mà nguời bán nhiều hơn người mua
    • Sự vượt qua mức giá support hay resistance cho thấy sự thay đổi sự trông đợi của nhà đầu tư và sự dịch chuyển của đường cung/cầu
    • Khối lượng rất hữu dụng để xác định sự thay đổi của sự trông đợi mạnh đến mức nào
    • Sự hối hận của người giao dịch thường diễn ra sau sự vượt qua mức giá support hay resistance vì giá quay trở lại mức bị vượt qua

    4         Xu hướng

    Trong phần trước, chúng ta đã thấy mức giá support và resistence bị vượt qua như thế nào bởi sự thay đổi trong sự trông đợi của nhà đầu tư (mà nó đưa đến kết quả là sự dịch chuyển đường cung/cầu). Kiểu thay đổi này thường bất ngờ và “dựa trên tin tức”.

    Trong phần này, chúng ta sẽ xem lại “xu hướng”. Một xu hướng mô tả một sự thay đổi chắc chắn về mặt giá (tức là: một sự thay đổi trong sự trông đợi của nhà đầu tư). Xu hướng khác

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    18

    với mức giá support/resistance ở chỗ xu hướng mô tả sự thay đổi trong khi mức giá support/resistance mô tả hàng rào của sự thay đổi.

    Như trong hình 19, mức giá thấp vạch rõ xu hướng tăng. Xu hướng tăng có thể được xem là sự tăng lên của mức giá support – những người đầu cơ giá lên đang nắm quyền điều khiển và đẩy giá lên cao hơn.

    Hình 19

    Hình 20 cho thấy xu hướng giảm. Mức giá cao vạch rõ xu hướng giảm. Xu hướng giảm có thể được xem như sự giảm của mức giá resistance – những người đầu cơ giá giảm nắm quyền điều khiển và đẩy giá xuống thấp hơn.

    Hình 20

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    19

    Giống như giá cả khi vượt qua mức giá support và resistance khi sự trông đợi thay đổi, giá có thể vượt qua đường xu hướng tăng và giảm. Hình 21 chỉ rõ sự vượt qua đường xu hướng giảm của Merck vì những nhà đầu tư không còn trông đợi mức giá thấp. Chú ý trong hình 21 khối lượng đã tăng như thế nào khi đường xu hướng bị vượt qua. Đây là sự chứng thực quan trọng rằng xu hướng trước đây đã bị thay đổi.

    Hình 21

    Với mức giá support và resistance, việc xuất hiện sự hối hận của những người buôn khi có sự vượt qua đường xu hướng là phổ biến. Điều này được thể hiện trong hình 22

    Hình 22

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    20

    Một lần nữa, khối lượng là chìa khóa xác định rõ ý nghĩa của sự vượt qua đường xu hướng. Trong ví dụ trên, khối lượng tăng khi xu hướng bị vượt qua và yếu ớt như những người đầu cơ giá lên trở lại theo đường xu hướng.

    5         Số trung bình động

    Số trung bình động là một trong những công cụ phân tích kỹ thuật lâu đời và phổ biến nhất. Chương này mô tả cách tính toán và ý nghĩa của số trung bình động. Chi tiết về số trung bình động được cung cấp trong phần II. Số trung bình động là mức giá trung bình của chứng khoán trong thời gian xác định. Khi tính toán số trung bình động, bạn chỉ rõ khoảng thời gian để tính toán số trung bình động (ví dụ: 25 ngày).

    Một số trung bình động đơn giản được tính bằng cách cộng giá chứng khoán của “n” thời kỳ và chia cho “n”. Ví dụ, cộng giá chứng khoán lúc đóng cửa trong 25 ngày gần nhất và sau đó chia cho 25. Kết quả là giá trung bình của chứng khoán của 25 ngày. Việc tính toán được thực hiện cho mỗi giai đoạn trong biểu đồ.

    Chú ý số trung bình động không thể tính được cho đến khi bạn có đủ dữ liệu của “n” thời kỳ. Ví dụ, bạn không thể có giá trung bình của 25 ngày cho đến khi ngày thứ 25 có trên biểu đồ. Hình 23 cho thấy giá lúc đóng cửa trung bình của Caterpillar

    Hình 23

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    21

    Vì số trung bình động trong biểu đồ trên là mức giá trung bình của chứng khoán trong 25 ngày cuối, nó mô tả sự trông đợi của các nhà đầu tư trong 25 ngày cuối. Nếu giá chứng khoán ở trên số trung bình động của nó, điều đó có nghĩa là sự trông đợi hiện tại của các nhà đầu tư (tức là mức giá hiện tại) đang cao hơn mức trông đợi trung bình của họ trong 25 ngày cuối, và các nhà đầu tư đó đang làm tăng giá chứng khoán. Ngược lại, nếu mức giá ngày hôm nay ở dưới mức số trung bình động của nó, nó cho thấy sự trông đợi hiện tại của các nhà đầu tư thấp hơn mức trông đợi trung bình trong 25 ngày cuối. Ý nghĩa cổ điển của số trung bình động là quan sát sự thay đổi của giá. Các nhà đầu tư thường mua khi giá chứng khoán của nó cao hơn số trung bình động của nó và bán khi giá rơi xuống dưới số trung bình động của nó.

    5.1      Các thời kỳ trong số trung bình động

    Những mũi tên “Buy” được vẽ trên biểu đồ ở hình 24 khi giá của Aflac tăng trên số trung bình động của 200 ngày, những mũi tên “Sell” được vẽ khi giá của Aflac giảm xuống dưới số trung bình động 200 ngày.

    Hình 24

    Xu hướng dài hạn thường sử dụng số trung bình động 200 ngày. Bạn có thể sử dụng phần mềm máy tính để tự động quyết định khoảng thời gian tối ưu. Bỏ qua các khoản tiền hoa hồng, sử dụng số trung bình động của các khoảng thời gian ngắn hơn thường có lợi nhuận cao hơn.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    22

    5.2      Điểm nổi bật

    Điểm nổi bật của kiểu hệ thống số trung bình động này (tức là việc mua và bán khi giá vượt qua số trung bình động của nó) là bạn luôn ở phía “đúng” của thị trường – giá không thể tăng quá nhiều mà không có sự tăng giá vượt mức giá trung bình của nó. Nhược điểm là bạn sẽ luôn mua hoặc bán trễ. Nếu xu hướng không duy trì ở thời kỳ quan trọng, đặc biệt gấp 2 lần độ lớn của số trung bình động, bạn sẽ mất tiền. Điều này được mô tả trong hình 25.

    Hình 25

    5.3      Sự hối hận của những người giao dịch

    Số trung bình động thường cho thấy sự hối hận của người giao dịch. Như ta thấy trong hình 26, việc giá chứng khoán vượt qua số trung bình động dài hạn của nó và sau đó trở lại mức giá trung bình trước khi tiếp tục theo con đường của nó.

    Hình 26

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    23

    Bạn có thể sử dụng số trung bình động để làm “mượt” dữ liệu. Biểu đồ trong hình 27 cho thấy lịch sử 13 năm của các cổ phiếu đạt được đỉnh cao mới (biểu đồ trên) và số trung bình động 10 tuần (biểu đồ dưới). Chú ý số trung bình động làm cho việc xem xu hướng đúng dễ dàng hơn như thế nào.

    Hình 27

    6         Chỉ số

    Chỉ số là kết quả tính toán toán học mà có thể được áp dụng lên giá chứng khoán và/hoặc khối lượng. Kết quả là giá trị được sử dụng để dự đoán sự thay đổi giá trong tương lai. Số trung bình động phù hợp với định nghĩa của chỉ số. Nó là kết quả tính toán có thể được thực hiện trên giá cổ phiếu để tính toán giá trị mà có thể được sử dụng để dự đoán sự thay đổi giá trong tương lai. Chương tiếp theo bao gồm nhiều ví dụ về chỉ số. Tôi sẽ tóm tắt ngắn gọn một chỉ số đơn giản, MACD (Moving Average Convergence Divergence).

    MACD

    MACD được tính toán bằng cách lấy số trung bình động 12 ngày của giá chứng khoán trừ số trung bình động 26 ngày của giá chứng khoán. Kết quả là chỉ số dao động quanh 0.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    24

    Khi MACD lớn hơn 0 điều đó có nghĩa là số trung bình động 12 ngày của giá chứng khoán lớn hơn số trung bình động 26 ngày của giá chứng khoán. Điều này cho thấy rằng sự trông đợi hiện tại (tức là số trung bình động 12 ngày) tác động làm tăng giá cổ phẩn nhiều hơn sự trông đợi trước đây (tức là số trung bình động 26 ngày). Nó ngụ ý sự dịch chuyển lên trên của đường cung/cầu. Khi MACD nhỏ hơn 0 nó có nghĩa là số trung bình động 12 ngày nhỏ hơn số trung bình động 26 ngày, và hàm ý sự dịch chuyển xuống dưới của đường cung/cầu. Hình 28 cho thấy giá chứng khoán của Autozone và chỉ số MACD của nó. Tôi đã gán nhãn vào biểu đồ “Bullish” khi MACD lớn hơn 0 và “Bearish” khi MACD nhỏ hơn 0. Tôi cũng đưa ra số trung bình động 12 ngày và 26 ngày trên biểu đồ giá.

    Hình 28

    Số trung bình động 9 ngày của MACD (không phải của giá chứng khoán) thường được vẽ lên trên đỉnh của MACD. Đường này được xem như là đường “dấu hiệu”. Đường dấu hiệu dự báo sự hội tụ của 2 số trung bình động (tức là sự di chuyển của MACD về phía đương 0). Biểu đồ trong hinh 29 cho thấy MACD (đường nét liền) và đường dấu hiệu (đường nét đứt). Mũi tên “Mua” được vẽ khi MACD tăng lên trên đường dấu hiệu của nó, mũi tên “Bán” được vẽ khi MACD giảm xuống dưới đường dấu hiệu của nó.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    25

    Hình 29

    Hãy xem xét … đằng sau kỹ thuật này. MACD khác với 2 số trung bình động của giá. Khi số trung bình động ngắn hạn tăng vượt lên số trung bình động dài hạn (tức là MACD tăng lên trên 0), nó có nghĩa là sự trông đợi của các nhà đầu tư đang làm tăng giá cổ phần (tức là có sự dịch chuyển lên trên của đường cung cầu). Bằng cách đặt lên trên số trung bình động 9 ngày của MACD, chúng ta có thể thấy sự thay đổi của sự trông đợi (tức là việc dịch chuyển đường cung/cầu).

    6.1      Chỉ số dẫn đầu với chỉ số theo sau

    Số trung bình động và MACD là những ví dụ của xu hướng đi theo sau: chỉ số “theo sau” (xem hình 30). Những chỉ số này rất tuyệt vời khi giá thay đổi tương dối với xu hướng dài hạn. Chúng không cảnh báo cho bạn những thay đổi sắp tới, chúng đơn giản chỉ nói cho bạn biết giá đang làm gì (tức là lên hoặc xuống) vì thế bạn có thể đầu tư một cách phù hợp. Xu hướng mà đi theo sau chỉ số làm cho bạn mua và bán muộn và đổi lại chúng làm giảm những rủi ro của bạn và giữ bạn ở bên đúng của thị trường.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    26

    Hình 30

    Như ta thấy trong hình 31, xu hướng đi theo sau chỉ số không hoạt động tốt trong một bên thị trường.

    Hình 31

    Loại chỉ số khác là chỉ số “dẫn đầu”. Những chỉ số này giúp bạn thu lợi bằng cách dự đoán giá sẽ làm gì tiếp theo. Chỉ số dẫn đầu cung cấp phần thưởng lớn cho chi phí của nguy cơ gia tăng. Chúng hoạt động tốt ở một bên thị trường “giao dịch”.

    Chỉ số “dẫn đầu” thường hoạt động bằng cách đo mức độ “mua quá nhiều” hoặc “bán quá nhiều” của chứng khoán. Điều này được thực hiện cùng với sự thừa nhận rằng chứng khoán mà được bán quá nhiều thì nảy bật trở lại (xem hình 32)

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    27

    Hình 32

    Loại chỉ số bạn dùng, “dẫn đầu” hoặc “theo sau”, phụ thuộc vào sở thích cá nhân. Theo kinh nghiệm của tôi, hầu hết các nhà đầu tư (trong đó có cả tôi) thành công với xu hướng theo sau hơn là dự đoán chúng. Do đó tôi thích sử dụng chỉ số theo sau hơn. Tuy nhiên tôi cũng đã gặp rất nhiều nhà đầu tư thành công thích sử dụng chỉ số dẫn đầu.

    6.2      Giá xu hướng với giá giao dịch

    Có một vài hệ thống giao dịch và chỉ số được phát triển để xác đinh giá là xu hướng hay giao dịch. Điều này có nghĩa là bạn nên sử dụng chỉ số theo sau trong thị trường xu hướng và chỉ số dẫn đầu trong thị trường giao dịch. Trong khi tương đối dễ để xác định liệu giá đang là trending hay trading, rất khó để xác định giá là trending hay trading trong tương lai.

    Hình 33

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    28

    6.3      Sự phân kỳ

    Sự phân kỳ xảy ra khi xu hướng của giá chứng khoán không khớp với xu hướng của chỉ số.

    Rất nhiều ví dụ trong các chương sau chứng minh cho sự phân kỳ.

    Biểu dồ 34 cho thấy sự phân kỳ giữa Whirlpool và CCI (Commodity Channel Index) 14 ngày của nó. Giá của Whirlpool đạt được đỉnh cao mới trong khi CCI rớt xuống để đạt đỉnh cao mới. Khi sự phân kỳ xảy ra giá thường thay đổi hướng để thừa nhận xu hướng của chỉ số như trong hình 34. Điều này xảy ra bởi vì chỉ số đo xu hướng giá tốt bản thân giá.

    Hình 34

    7         Khái niệm về phân tích kỹ thuật và cách khai thác biểu đồ candlestick.

    Trong những trường phái dùng cách phân tích để biết cổ phần lên hay xuống đang thịnh hành hiện nay thì trường phái phân tích kỹ thuật đang áp đảo những trường phái khác.

    Nhờ công nghiệp thông tin và Internet, cách phân tích kỹ thuật «đăng quang» cho phép những người sử dụng rành rẽ phương pháp này mua bán mau lẹ với một số vốn tương đối nhỏ trong một thời gian ngắn.

    Muốn trở thành tín đồ của trường phái phân tích kỹ thuật thì phải chấp nhận «giáo điều» không thể chứng minh như sau:

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    29

    • Giá cả cổ phần là kết quả của tất cả những yếu tố kinh tế như xu hướng thị trường, tâm lý khách hàng, môi trường chính trị, tin tức lẫn tin đồn, khả năng phát triển, lời lỗ của công ty….

    Vì vậy các cao thủ trong trường phái phân tích kỹ thuật chỉ chú trọng về biểu đồ, đến sự giao động giá cả và số lượng cổ phiếu được mua bán mà phán đoán sự lên xuống của nó, ít khi nào họ tốn thời gian để chú tâm vào công ty cổ phần này hoạt động về lãnh vực gì và cũng không cần biết bản báo cáo tài chính nó ra sao.

    Người càng muốn mua bán ngắn hạn chừng nào thì bản biểu đồ của họ phải càng có nhiều thông tin về giá cả chừng đó.

    Sau đây là loại biểu đồ đơn giản nhất. Nó chỉ niêm yết giá cả cổ phần và số lượng mua bán mà bạn đọc ở báo chí ghi lại giá cuối ngày.

    Đây là biểu đồ giá cả một năm của công ty chứng khoán hàng đầu của Âu Châu, Euronext lên sàn tại thị trường Paris. Chỉ cần 2-3 giây thôi là bạn có thể nhận thấy là xu hướng giá cả công ty này đang lên so với đường vẽ MM50 (đường trung bình) màu xanh.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    30

    Muốn có một nhận định chính xác hơn, bạn phải xem một loại biểu đồ khác như biểu đồ bar-chart. Trong biểu đồ này ghi lại 3 tháng giao dịch cuối cùng của Euronext. Biểu đồ này còn cho bạn biết thêm những giao động giá cả khác. Xu hướng ngắn hạn của nó vẫn đang lên. Thay vì một sợi dây giá cả liên tục, thì người ta phân chia ra làm những hình tượng thẳng đứng để cung cấp cho bạn nhiều tin tức hơn.

    Mỗi đường thẳng đứng trượng trưng cho một giai đoạn thời gian, gạch ngang bên trái trượng tưng cho lúc đầu tiên, bên phải cho lúc cuối cùng. Trong đó :

    • Opening price » : Giá mở màn của giai đoạn, giây phút đầu tiên, gạch ở bên trái.
    • Closing Price »: Giá lúc giai đoạn kết thúc, giây phút cuối cùng, gạch ở bên phải. “High” for the period : Giá cao nhất trong giai đoạn này.

    Low” for the period: Giá thấp nhất trong giai đoạn.

    Nhờ bản đồ bar-chart này thì bạn có thể có một khái niệm rõ ràng hơn về giá cả. Nhưng mà nó không cho bạn nhiều tin tức rõ ràng như là biểu đồ candlestick japanese (chandelier japonais).

    Tương truyền rằng biểu đồ candlestick được một thương gia Nhật tên Homma phát minh và sử dụng từ thế kỷ 18, ông sử dụng để phục vụ cho việc kinh doanh lúa gạo.

    Ưu điểm của biểu đồ này là nó là rõ ràng, hình tượng hơn bar-chart, cho phép những tay day trader hay swing trader xâm nhập và nhảy ra ngoài thị trường hết sức mau chóng.

    7.1      Hầu hết mọi day trader đều dùng biểu đồ candlestick.

    Ngày 19/03/2004, ở Paris trước 300 khán giả, Phillippe Erb đã dùng kinh nghiệm đọc biểu đồ candlestick và thắng dễ dàng đối phương, robot Trade System, một chương trình điện toán được chế tạo để mua bán chứng khoán. Ông đã trả thù được máy tính Big Blue cho Kasparov, kỳ tài về cờ Vua.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    31

    Trong biểu đồ này ghi lại giá cả 3 ngày của Euronext***

    Đây là cấu trúc của một candlestick, bạn có thể so sánh vì nó cũng như bar-chart nhưng nó dễ hình tượng hơn.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    32

    Thương gia Homma gọi hình chữ nhật là thân (body) và đường thẳng ở đầu trên hay đầu dưới của thân là bóng (shadow).

    Trong một giai đoạn thời gian mua bán, giá cả bắt đầu từ một chiều ngang thân này và kết thúc chiều ngang thân kia, nếu giá cả có giao động quá mức mở đầu và mức kết thúc thì nó trở thành bóng. Khi giá cổ phần lên thì người ta dùng hình trắng hoặc xanh lá cây, giá bắt đầu từ chiều ngang dưới thân và giá kết thúc ở chiều ngang đầu thân,

    Trái lại khi cổ phần xuống thì người ta dùng màu đỏ hay màu đen, giá bắt đầu ở đầu chiều ngang trên thân và giá kết thúc chiều ngang ở dưới.

    7.2      Cách khai thác candlestick.

    Biểu đồ candlestick đã lưu truyền và càng ngày càng thịnh hành trong giới đầu cơ vì nó đã hình tượng hóa một sự thật kinh tế rất đơn giản:

    Giá cả cổ phần lên xuống do sự thương lượng giữa những người muốn bán và người những muốn mua. Khi số lượng cần mua nhiều hơn số lượng cung cấp thì giá cổ phiếu sẽ lên. Khi cung nhiều hơn cầu thì giá sẽ xuống.

    Tùy theo hình tượng màu trắng hay đen, bóng và thân dài ngắn ra sao mà người ta đặt tên cho từng candlestick Ưu điểm tuyệt đối của candlestick là chỉ nhìn sơ sơ qua những hình tượng là bạn có khái niệm rõ ràng về sự mạnh yếu giữa hai phe mua và bán, do đó bạn có thể đoán trước sự lên xuống cổ phần chính xác hơn nhiều loại biểu đồ khác, ít nhất là 5- 10 phút tiếp theo. Đối với những người day trader, chỉ cần đoán trước khoảng chừng thời gian đó thôi thì cũng đủ nhởn nhơ lăn lộn trong thị trường chứng khoán.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    33

    Sau đây tôi xin dẫn chứng một vài hình tượng:

    Hình tượng marubuzo

    Hình tượng marubozu, thân không có bóng, (body without shadow) màu trắng là bên bán bị phe kia mua mạnh hơn nuốt trửng, có bao nhiêu cổ phần tung ra thị trường được mua bấy nhiêu đẩy mức giá cổ phần đang lên rất nhanh.

    Ngược lại nếu hình marubozu đen thì số lượng cổ phần bán ra quá nhiều, người mua ra giá bao nhiêu cũng được, cổ phần này đang sụt giá trầm trọng.

    Hình tượng doji (ngôi sao) hay spinning stop (bông vụ).

    Thân nhỏ mà bóng dài cho ta biết là cuộc thương lượng của hai phe mua bán chưa phân thắng bại, giá cả đang còn lưng khừng. Khi bạn định mua hay bán một cổ phần mà gặp hình tượng này thì ban nên chuẩn bị nhập lệnh, chỉ cần có một trong 4 hình tượng sau đây xác nhận sự thay đổi xu hướng là bấm chuột cho mệnh lệnh ra thị trường.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    34

    Hình hammer (búa tạ), inverted hammer (búa tạ ngược), hangging man (tội nhân treo cổ) và shooting star (sao băng).

    Là bốn hình tượng có đặc điểm chung là thân ngắn mà một bóng dài, ít nhất phải bằng hai lần thân, một bên không có hoặc có bóng rất nhỏ. Đây là những hình tượng cho ta biết cổ phần đang đổi ngược xu hướng (reversal), cần phải mua hay bán ngay trước khi trễ.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán

     

    35

    Sau đây là 2 biểu đồ chứng minh.

    Phân tích kỹ thuật bằng biểu đồ chứng khoán


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Kỹ thuật nuôi ong mật


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/K%E1%BB%B8-THU%E1%BA%ACT-NU%C3%94I-CHIM-B%E1%BB%92-C%C3%82U.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    KỸ THUẬT NUÔI CHIM BỒ CÂU

    Có thể nuôi chim bồ câu với quy mô lớn. Chim bồ câu siêu thịt, có thể nặng từ 1,2 kg trở lên, dễ nuôi, nhanh lớn, ít bệnh, sinh sản tốt.

    Chim bồ câu là vật nuôi có giá trị dinh dưỡng khá cao, rất bổ dưỡng cho người già, người mới ốm đậy, trẻ em suy dinh dưỡng.

    Phân chim bồ câu ủ để bón hoa, kiểng, cây ăn trái.

    Chim bồ câu còn là loại chim cảnh đẹp.

    Con giống

    Giống của Hà Lan, Anh, Pháp, Nhật.

    Chim bồ câu được chọn làm giống phải đảm bảo các yêu cầu: khỏe mạnh, lông mượt, không có bệnh tật, dị tật, lanh lợi.

    Dòng chim bồ câu Pháp: Titan & Mimas:

    * Dòng “siêu lợi” Mimas có bộ lông đồng nhất màu trắng, khả năng sản xuất: 16-17 chim non/cặp/năm, khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 590g.

    *Dòng “siêu nặng” Titan có bộ lông phong phú đa dạng hơn: trắng, đốm, xám, nâu, khả năng sản xuất: 12-13 chim non/cặp/năm, khối lượng chim non lúc 28 ngày tuổi đạt 700 g.

    Phân biệt trống mái: Con trống to hơn, đầu thô, có phản xạ gù mái (lúc thành thục), khoảng cách giữa 2 xương chậu hẹp; con mái thường có khối lượng nhỏ hơn, đầu nhỏ và thanh, khoảng cách giữa 2 xương chậu rộng. Tuy nhiên, lúc bé rất khó phân biệt. Nên mua loại chim từ 4-5 tháng tuổi.

    Một cặp bồ câu có thể sinh sản trong 5 năm, nhưng sau 3 năm đẻ, khả năng sinh sản giảm, nên thay chim bố mẹ mới.

    Sinh sản

    Nếu nuôi tốt 1 con bồ câu mái sau 4 -5 tháng tuổi bắt đầu đẻ lứa đầu, mỗi lứa đẻ 2 trứng. Sau khi ấp 16 – 18 ngày sẽ nở. Chim con sẽ được giao cho chim trống nuôi dưỡng. 24 ngày tuổi có thể xuất chuồng bán. Chim mái nghỉ dưỡng sau 7- 10 ngày thì đẻ lứa tiếp theo. Cứ như thế 1 cặp bồ câu bố mẹ sau 1 năm cho ra đời 17 cặp con cháu.

    Nuôi chim trong chuồng tỷ lệ đẻ và ấp đạt được từ 90% – 100%, nhưng khâu chăm sóc nhiều bơn, tốn công hơn.

    Còn khi nuôi thả thì tỉ lệ đạt khoảng 80%, nhưng có ưu điểm là chim khoẻ không bệnh dịch.

    Chim bồ câu thường đẻ trong khoảng thời gian từ 3 đến 5 giờ chiều do vậy cần hạn chế vào chuồng chim và xua đuổi chuột, mèo, rắn…bởi vì chúng làm cho chim hoảng loạn, không hoặc ngưng đẻ ngay lập tức.

    Kỹ thuật dồn trứng, dồn con: Kiểm tra nghiêm ngặt, tuyển lựa trứng, ghi chép số chuồng, ngày đẻ. Trứng đẻ 5 ngày phải soi, nếu trứng không có trống loại bỏ ngay, trứng còn lại chuyển qua cặp đẻ cùng ngày để ấp. Khi 3 cặp chim nở, sẽ tách một cặp con dồn cho hai cặp nuôi. Cặp còn lại 7 ngày sau đẻ tiếp.

    Chuồng trại

    Với chuồng trại 200m2 có thể nuôi 70 con bồ câu bố mẹ, trong có 50m2 làm ổ cho bồ câu đẻ, ấp; ngoài ra có khu vực bồ câu thịt, khu an dưỡng chờ đẻ tiếp. Cần vệ sinh chuồng trại sạch sẽ. Nên tạo cho chim có được môi trường tự nhiên, chuồng trại đẹp thoáng mát, có đủ ánh sáng mặt trời, có mái cao ráo, yên tĩnh nhẹ nhàng, tránh gió lùa, mưa, ồn ào quá mức, tránh mèo, chuột, rắn, có độ cao vừa phải… có chỗ cho chim tắm, mỗi tuần pha một lần nước muối nhạt để chống rệp cho chim.

    Chuồng trại, lồng làm bằng tre, gỗ, hay lưới kẽm (dây thép) 2mm, ghép từng ô, có thể làm nhiều tầng.

    Mật độ nuôi: Nếu nuôi nhốt theo kiểu ô chuồng thì mỗi ô chuồng là một đôi chim sinh sản. Nếu nuôi thả trong chuồng thì mật độ là 6-8 con/m2 chuồng. Khi được 28 ngày tuổi, chim non tách mẹ (giai đoạn về sau này được gọi là chim dò). Nuôi chim dò với mật độ gấp đôi nuôi chim sinh sản (10-14 con/m2).

    Chuồng nuôi chim sinh sản từ 6 tháng tuổi trở đi: Dành cho một cặp trống mái sinh sản: Cao: 40cm x sâu: 60cm x rộng: 50cm. Trên đó đặt ổ đẻ, máng ăn, máng uống, máng đựng thức ăn bổ sung.

    Chuồng nuôi chim hậu bị sinh sản từ 2-6 tháng tuổi: dài: 6m x rộng: 3,5m x cao: 5,5m (cả mái).

    Chuồng nuôi dưỡng chim thịt (nuôi vỗ béo chim thương phẩm từ 21-30 ngày tuổi): Cao: 40cm x sâu: 60cm x rộng: 50cm. Mật độ 45-50 con/m2, không có ổ đẻ, không có máng ăn (phải nhồi trực tiếp cho chim ăn), ánh sáng tối thiểu.

    ổ đẻ: Đường kính: 20-25cm x cao: 7-8cm: Trong giai đoạn nuôi con, chim bồ câu đã đẻ lại, nên mỗi đôi chim cần hai ổ, một ổ đẻ và ấp trứng đặt ở trên, một ổ để nuôi con đặt ở dưới. ổ có thể làm bằng gỗ, nhựa, khô ráo, sạch sẽ, vệ sinh thay rửa thường xuyên.

    Máng ăn cho một đôi chim bố mẹ: dài: 15cm x rộng: 5cm x sâu: 5-10cm. Nên đặt ở những vị trí tránh chim ỉa vào, tránh các nguồn gây ẩm ướt và hạn chế thức ăn rơi vãi. Có thể dùng máng bằng tre hoặc bằng tôn. Kích thước máng ăn:

    Máng uống cho một đôi chim bố mẹ: Đường kính: 5-6cm x cao: 8-10cm. Máng uống phải đảm bảo tiện lợi và vệ sinh. Có thể dùng đồ hộp (lon nước giải khát, lon bia…), cốc nhựa…

    Máng đựng thức ăn bổ sung: nuôi nhốt nên cần chất khoáng, sỏi, muối ăn. Kích thước của máng đựng thức ăn bổ sung như máng uống, nên dùng gỗ hoặc nhựa, không nên làm bằng kim loại.

    Thức ăn:

    Chế độ ăn uống của chim đều 2-3 cữ/ngày. Bình quân lượng thức ăn cho 1 con chỉ từ 0,1-0,15g.

    Cần cho chim ăn đầy đủ, nhất là cám tổng hợp. Có thể cho ăn bắp, đậu xanh hột, lúa trộn với một ít thức ăn công nghiệp của gà, vịt (thịt, đẻ).

    Pha chế thức ăn cho chim theo tỷ lệ: 40% đậu xanh, 30% bắp hạt sống, 20% gạo lức và 10% lúa trộn đều với nhau. Có thể trộn gạo, lúa và pha thêm cám gà để giảm lượng đậu xanh, giảm chi phí thức ăn.

    Ngoài ra, nên tăng cường thêm một số chất khoáng, vôi vào khẩu phần ăn của chim để đảm bảo cho chim sinh sản và giúp chim luôn giữ được nhiệt để tiêu thụ thức ăn tốt.

    Chuồng phải có máng nước đổ đầy uống cả ngày. Nước phải sạch sẽ, không màu, không mùi và phải thay hằng ngày. Có thể bổ sung vào trong nước Vitamin và kháng sinh để phòng bệnh khi cần thiết, trung bình mỗi chim bồ câu cần 50-90ml/ngày.

    Một số kinh nghiệm:

    1. Tập cho chim làm quen với mèo và rắn: mỗi lần cho chim ăn mang kèm theo con mèo bên cạnh, tập cho an chung, gần nhau, mèo không vồ chim, chim không sợ mèo. Với rắn: dùng con rắn nhựa cho làm quen với chim, rồi cho rắn vào chuồng chim. Chin sẽ dạn dĩ dần với động vật lạ.
    2. Giữ chim ở lại chuồng tránh tình trạng chim bay bỏ chủ mà đi chủ khác: Tập cho chim quen hơi chủ bằng cách nuôi chim càng non càng tốt. Thường xuyên thăm nom các ổ chim mới nở, làm chim trở nên “dạn” gần gũi với chủ hơn.
    3. Cho ăn đúng giờ tạo thói quen, dù có đi ăn xa khi đến giờ ăn chim rủ nhau về nhà để ăn thức ăn quen thuộc của chủ.

    Chế độ chiếu sáng

    Chim bồ câu rất nhạy cảm với ánh sáng. Sự đẻ trứng chỉ phụ thuộc vào một phần ánh sáng nhưng sự ấp trứng lại phụ thuộc chặt chẽ vào yếu tố ánh sáng. Bản năng ấp trứng của bồ câu phụ thuộc vào thời gian chiếu sáng ban ngày tối thiểu là 13 giờ. Do đó chuồng trại thiết kế thoáng đảm bảo cung cấp đủ ánh sáng cho chim. Tuy nhiên, ở miền Bắc, ban ngày mùa đông ánh sáng ngắn, có thể lắp bóng đèn 40W chiếu sáng thêm vào ban đêm (nếu nuôi theo quy mô lớn) với cường độ 4-5W/m2 nền chuồng với thời gian 3-4h ngày.

    TLTK: Nuôi chim bồ câu Pháp, NXB Nông nghiệp, 2001

    Quy trình Kỹ thuật nuôi chim bồ câu pháp
    ?1. Nhu cầu dinh dưỡng

     

    ?? Nhu cầu về dinh dưỡng của chim bồ câu tuỳ theo giai đoạn phát triển của chim. Sau đây là nhu cầu cần thiết cho chim sinh sản:

    Năng lượng (kcal/ME):  2900-3000

    Protein thô (%): 13,4-14,4%

    Ca (%):  2-3%

    P (%):  0,6-0,8%

    NaCl (%):  0,3-0,35

    Methionin (%):  0,3

    Lizin (%):  0,3-0,7

    ?? Chim bồ câu nuôi nhốt rất cần chất khoáng, do đó phải thường xuyên bổ sung vào các máng ăn riêng cho chim ăn tự do.

    ? 2. Các loại thức ăn thường sử dụng nuôi? chim

    Thông thường chim ăn trực tiếp các loại hạt thực vật: đỗ, ngô, thóc, gạo… và một lượng cần thiết thức ăn đã gia công chứa nhiều chất khoáng và vitamin.

    + Đỗ bao gồm: đỗ xanh, đỗ đen, đỗ tương,…Riêng đỗ tương hàm lượng chất béo nhiều nên cho ăn ít hơn và phải được rang trước khi cho chim ăn.

    + Thức ăn cơ sở: thóc, ngô, gạo, cao lương,..trong đó ngô là thành phần chính của khẩu phần. Yêu cầu của thức ăn phải đảm bảo sạch, chất lượng tốt, không mốc, mọt.

    Chim bồ câu cần một lượng nhất định các hạt sỏi,? giúp cho chim trong quá trình tiêu hoá của dạ dày (mề). Kích cỡ của các hạt: dài 0,5-0,8mm, đường kính 0,3-0,4mm. Vì vậy nên đưa sỏi vào máng dành riêng đựng thức ăn bổ sung cho chim ăn (trộn cùng với muối ăn và khoáng Premix).

    3. Cách phối trộn thức ăn

    Thức ăn bổ sung (chứa vào máng ăn riêng): Khoáng Premix: 85%; NaCl: 5%; Sỏi: 10%

    Bổ sung liên tục trong máng cho chim ăn tự do. Tuy nhiên hỗn hợp được trộn nên dùng với một lượng vừa phải. Không nên để thức ăn bổ sung quá nhiều trong một thời gian dài gây biến chất các thành phần có trong hỗn hợp.

    Khi phối trộn thức ăn, càng nhiều thành phần càng tốt, đảm bảo đủ chất lượng và bổ sung hỗ trợ cho nhau đạt hiệu quả cao nhất. Tuy nhiên nguyên? liệu khác nhau cách phối hợp cũng khác nhau, thông thường lượng hạt đậu đỗ từ 25-30%; ngô và thóc gạ 75-75%.?

    Sau đây là 2? khẩu phần đang được ứng dụng nuôi chim bồ câu Pháp:

    Khẩu phần 1: (Sử dụng nguyên liệu thông thường)

    Nguyên liệu & GTDD Chim sinh sản Chim dò
    Ngô (%) 50 50
    Đỗ xanh (%) 30 25
    Gạo xay (%) 20 25
    Năng lượng ME (kcal/kg) 3165,5 3185,5
    Protein (%) 13,08 12,32
    ME/P 242,08 258,5
    Ca (%) 0,129 0,12
    P(%) 0,429 0,23

     Khẩu phần 2: (Sử dụng kết hợp cám gà công nghiệp)

    Nguyên liệu & GTDD Chim sinh sản Chim dò
    Cám viên Proconco C24 (%) 50 33
    Ngô hạt đỏ (%) 50 67
    Năng lượng ME (kcal/kg) 3000 3089
    Protein (%) 13,5 11,99
    Xơ thô (%) 4,05 3,49
    Ca (%) 2,045 1,84
    Phot pho tiêu hóa (%) 0,40 0,25
    Lizin (%) 0,75 0,52
    Methionin (%) 0,35 0,29

     4. Cách cho ăn

    – Thời gian:

    2 lần trong ngày buổi sáng lúc 8-9h, buổi chiều lúc 14-15 h, nên cho ăn vào một thời gian cố định trong ngày.

    – Định lượng:

    Tuỳ theo từng loại chim mà chúng ta cho ăn với số lượng thức ăn khác nhau, thông thường lượng thức ăn= 1/10 trọng lượng cơ thể:

    – Chim dò (2-5 tháng tuổi): 40-50g thức ăn/con/ngày:

    – Chim sinh sản: (6 tháng tuổi trở đi)?

    + Khi nuôi con: 125-130g thức ăn/đôi/ngày

    + Không nuôi con: 90-100g thức ăn/đôi/ngày

    – Lượng thức ăn/đôi sinh sản/năm: 45-50kg

    1. Chim sinh sản (6 tháng tuổi trở đi)

    Sau khi được nuôi tập trung ở giai đoạn chim dò đến 5 tháng tuổi và đã ghép đôi tự nhiên, mỗi đôi đó được chuyển sang 1 ô chuồng riêng đã được chuẩn bị sãn sàng về máng ăn, máng uống, ổ đẻ, máng đựng thức ăn bổ sung như đã hướng dẫn ở trên. Giai đoạn này có chế độ chăm sóc, nuôi dưỡng riêng.

    a. Thời kỳ đẻ và ấp trứng

    Khi ghép đôi xong, quen với chuồng và ổ, chim sẽ đẻ. Trước khi chim đẻ, chuẩn bị ổ (chỉ dùng 1 ổ). Dùng rơm khô, sạch sẽ và dài để lót ổ. ở những lứa đầu tiên chim thường có hiện tượng làm vãi rơm gây vỡ trứng, do đó nên bện 1 vòng rơm lót vừa khít đường kính của ổ.

    – Nơi ấp trứng? phải yên tĩnh, đặc biệt với chim ấp lần đầu nên giảm bớt tầm nhìn, âm thanh, ánh sáng để chim chuyên tâm ấp trứng.

    – Theo dõi ngày chim đẻ bằng sổ sách ghi chép cụ thể hoặc? nếu máng ăn được làm bằng tôn thì dùng bút dạ ghi trực tiếp lên máng. Nhờ vậy chúng ta có thể ghép ấp những quả trứng có cùng ngày đẻ hoặc chênh lệch nhau 2-3 ngày (số lượng trứng ghép ấp tối đa: 3 quả/ổ)

    – Khi chim ấp nên định kỳ kiểm tra: xem trứng có thụ tinh không (soi trứng khi ấp được 7 ngày) trứng không được thụ tinh thì loại? ngay. Có thể dựa vào kinh nghiệm để nhận biết được trứng có phôi hay không thông qua màu sắc của vỏ trứng.

    Khi chim ấp được 18 -20 ngày sẽ nở, nếu quả trứng nào mổ vỏ lâu? mà chim không đạp vỏ trứng chui ra thì người nuôi cần trợ giúp bằng cách bóc vỏ trứng để chim non không chết ngạt trong trứng.

    Những đôi chỉ nở 1 con thì chúng ta cũng có thể ghép nuôi con vào những ổ 1 con khác với ngày nở chênh lệch nhau 2-3 ngày (có cùng ngày nở là tốt nhất), số lượng con ghép tối đa: 3 con/ổ

    b. Thời kỳ nuôi con

    Trong thời kỳ nuôi con (từ khi nở đến 28 ngày tuổi), cần thay lót ổ thường xuyên (2-3 ngày/lần), để tránh sự tích tụ phân trong ổ vì đó là nơi lý tưởng cho ký sinh trùng, vi khuẩn và virus.?

    Khi chim non được 7-10 ngày mới tiến hành cho ổ đẻ thứ hai vào. Sau khi tách mẹ, ổ đẻ tương ứng được bỏ ra rửa sạch, phơi khô để bố trí lứa đẻ tiếp theo.

    2. Chim dò (2-5 tháng tuổi) nuôi hậu bị sinh sản

    Sau khi được 28-30 ngày tuổi chúng ta tiến hành tách chim non khỏi mẹ.

    Chim dò được nuôi thả ở chuồng quần thể với lứa tuổi tương đương nhau. Sau khi rời ổ, chim non chuyển sang một giai đoạn mới phải tự đi lại, tự ăn. Giai đoạn này chim còn yếu, khả năng đề kháng và khả năng tiêu hoá kém dễ sinh bệnh. Do đó cần chú ý công tác chăm sóc nuôi dưỡng. Giai đoạn này nên bổ sung Vitamin A, B, D, các chất kháng sinh…vào nước uống để chống mềm xương, trợ giúp tiêu hoá và chống các bệnh khác. Trong giai đoạn đầu có một số con chưa quen cuộc sống tự lập không biết ăn, uống do đó người nuôi phải kiên nhẫn tập cho chim non.

    3. Nuôi vỗ béo chim lấy thịt

    Tiến hành tách mẹ lúc 20-21 ngày tuổi (khối lượng cơ thể đạt 350-400g/con) dùng nhồi vỗ bé

    – Địa điểm: Nhà xây, lán trại, khu nuôi riêng, dùng lồng như chuồng cá thể đã trình bày ở trên cần đảm bả sạch sẽ, thoáng mát, tuyệt đối yên tĩnh, chỉ có ánh sáng khi cho chim ăn, uống.

    – Mật độ: 45-50 com/m2 lồng, không để không gian cho chim hoạt động nhiều, đảm bảo ngoài giờ ăn,uống thì thời gian ngủ là chính.

    – Thức ăn dùng để nhồi: Ngô: 80%, đậu xanh 20%

    – Cách nhồi: Thức ăn được nghiền nhỏ,? viên thành viên nhỏ ngâm cho mềm rồi sấy khô đảm bảo tỷ lệ? thức ăn/nước: 1:1

    + Định lượng: 50-80 g/con

    + Thời gian: 2-3 lần/ngày

    + Phương pháp:

    * Nhân công: Dùng tay nhét thức ăn vào miệng chim

    * Dùng máy nhồi như vịt

    – Khoáng vẫn được bổ sung tự do, các loại vitamin, thuốc bổ khác? được bổ sung trong nước uống.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Kỹ thuật nuôi ong mật

    Kỹ thuật nuôi ong mật

    Kỹ thuật nuôi ong mật

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan:Đề cương nghiên cứu khoa học Đánh giá nhận thức của sinh viên trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật thành phố Hồ Chí Minh về vấn đề sống thử


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Kỹ thuật nuôi ong mật

    Kỹ thuật nuôi ong mật

    Sinh học ong mật

    Đời sống của đàn ong: Ong mật sống thành đàn, trong đàn gồm có Ong chúa, Ong đực và Ong thợ.

    Các thành viên của đàn ong:

    Ong chúa: Bình thường mỗi đàn ong chỉ có một con ong chúa. Ong chúa của giống ong nội đẻ trung bình 400 – 600 trứng/ngày đêm. Ong chúa có hình dạng lớn nhất trong đàn: dáng cân đối, bụng thon dài, chúa mới đẻ có lớp lông tơ nhiều, mịn, bò nhanh nhẹn. Ong chúa là cá thể duy nhất có khả năng sinh sản để duy trì bầy đàn và điều tiết của hoạt động của đàn ong.

    Ong đực: Có màu đen và làm nhiệm vụ duy nhất là giao phối với ong chúa. Ong đực có thể sống trong 50 – 60 ngày. Sau khi giao phối, ong đực bị chết hoặc khi thiếu ăn chúng sẽ bị ong thợ đuổi ra ngoài và bị chết đói.

    Ong thợ: Có số lượng đông nhất trong đàn và có bộ phận sinh sản phát triển không đầy đủ. Ong thợ có cấu tạo cơ thể thích hợp với việc nuôi ấu trùng, thu mật và phấn hoa… Tuổi thọ của ong thợ chỉ kéo dài từ 5 – 8 tuần. Khi phải nuôi nhiều ấu trùng, lấy mật nhiều thì tuổi thọ giảm và ngược lại. Một số ong thợ làm nhiệm vụ trinh sát, bay đi tìm nguồn mật, phấn hoa và thông báo cho các ong thu hoạch biết đến hút mật chuyển cho ong tiếp nhận. Ong tiếp nhận tiết thêm men vào mật, quạt gió và chuyển dần mật từ các lỗ tổ ở phía dưới lên trên của bánh tổ.

    Các giai đoạn phát triển của ong A.cerana:

    Loại Giai đoạn
       
    Ong   Ấu trùng   Tổng cộng
      Trứng (ngày) Nhộng (ngày)
        (ngày)     (ngày)  
                 
    Ong chúa 3 5   7 – 8   15 – 16
    Ong thợ 3 5   11   19
    Ong đực 3 6   14   23
                 

    Chọn điểm đặt ong

    a. Chọn điểm nuôi ong:

    -Gần nguồn mật phấn hoa

    -Nơi không phun thuốc sâu hóa chất.

    -Không có dịch bệnh, ít hoặc không có ong rừng, chim thú hại.

    -Địa hình thoáng mát, yên tĩnh, không gần đường giao thông, nhà máy đường, nhà máy hóa chất, nhà máy chế biến hoa qủa và không có hồ lớn bao quanh…

    b. Cách đặt thùng đàn ong:

    Thùng ong nên kê cao 25 – 30cm so với mặt đất, thùng nọ cách thùng kia ít nhất là 1m, cửa ra vào đặt các hướng khác nhau, chọn nơi khô ráo, thoáng mát như dưới hiên nhà, cạnh các gốc cây… Khống nên đặt trên sân gạch, nền xi măng, nơi qúa ẩm ướt hoặc gần chuồng gia súc.

    Chia đàn tự nhiên: Một bộ phận ong thợ cùng với ong chúa tách ra, bay đi để thành lập một số ong mới. Chia đàn ong tự nhiên thường làm giảm năng suất mật.

    c. Khi nào đàn ong chia đàn tự nhiên:

    Điều kiện bên ngoài:

    -Nguồn thức ăn (mật, phấn) nhiều.

    -Khí hậu thời tiết tốt (không nắng, nóng, lạnh qúa)

    Điều kiện bên trong đàn ong:Mật độ ong đông, ong chúa đẻ mạnh, cầu con nhiều, thức ăn dự trữ thừa và ong sống trong thùng qúa chật trội.

    d. Hiện tượng của đàn ong trước khi chia đàn tự nhiên:

    Trước khi chia đàn vài tuần, ong xây nhiều lỗ tổ ong đực và xây từ 3 – 10 mũ chúa ở hai góc và phía dưới bánh tổ.

    Bình thường khi mũ chúa già thì ong chia đàn nhưng có khi mới có nền chúa hoặc ong chúa mới đẻ vào đã chia đàn.

    Ong chia đàn từ 8 – 11 giờ sáng và 14 – 16 giờ chiều vào những ngày đẹp trời. Khi chia đàn, ong chúa cũ cùng với qúa nửa số ong thợ và một số ong đực ăn no mật rồi bay ra khỏi tổ, sau đó tụ lại ở hiên nhà, cành cây gần đó và quên tổ cũ, khi bắt đàn ong trở lại, nên cho ong vào thùng khác và đặt bất cứ nơi nào.

    Khi chia đàn tự nhiên, ong không ồn ào và náo động như khi bốc bay.

    e. Thời gian chia đàn tự nhiên:

    -Ở miền Bắc: ong thường chia đàn vào tháng 3 – 4, một số ít chia vào tháng 10 – 11.

    -Ở miền Nam: ong thường chia đàn vào tháng 10 – 11 và tháng 2 – 4(đầu và giữa vụ mật).

    f. Xử lý ong chia đàn tự nhiên:

    Trong trường hợp đàn ong ít quân: khắc phục việc chia đàn bằng cách thay ong chúa cũ bằng ong chúa mới vào lúc nguồn hoa phong phú, cho thêm tầng chân, quay mật hoặc chuyển cầu mật cho đàn khác, nới rộng khoảng cách cầu và bỏ vật chống rét ra ngoài, vặt các mũ chúa và cắt bỏ lỗ tổ ong đực.

    Trong trường hợp đàn ong mạnh thì chủ động chia đàn: cần cho ăn đủ, chọn những mũ chúa thẳng dài ở vị trí trống như ở 2 góc và dưới bánh tổ để sử dụng sau khi ong chia đàn mới.

    Đàn ong chia đàn tự nhiên thường ăn no mật và phần đông ong thợ trẻ đang độ tuổi tiết sáp, xây tầng nhanh, nên ngay sau khi ổn định có thể cho đàn ong đó xây tầng chân. Đàn ong gốc chỉ giữ lại 1 mũ ong chúa tốt nhất để thay chúa còn lại cắt bỏ tất cả các mũ chúa đi.

    Ong bốc bay

    a. Nguyên nhân và biểu hiện ong bốc bay:

    Nguyên nhân bên ngoài: ong rừng, kiến hoặc hại khác quấy phá, trời nắng, nóng, khô hanh ; thùng ong bị đồ, bị chấn động mạnh sau khi di truyền…

    Nguyên nhân bên trong: do đàn ong thiếu thức ăn, ong chúa ngừng đẻ không có cầu con. Đặc biệt khi đàn ong bị bệnh và bị sâu phá bánh tổ. Hoặc do chuyển nơi ở theo mùa vì ong còn mang tính dã sinh.

    Trước khi bốc bay ong chúa giảm đẻ sau đó ngừng hẳn, đàn ong đi làm uể oải. Khi sắp bốc bay cả đàn đàn ong ồn ào, náo động, chúng ăn no mật và ùn ùn kéo ra khỏi tổ.

    b. Thời vụ và thời gian ong bốc bay:

    -Ở miền Bắc, ong thường bốc bay vào tháng 7 – 9 do thiếu ăn và nắng nóng, ong di chuyển chỗ ở từ vùng thấp lên vùng cao mát mẻ hơn. Tháng 10 – 11 ong lại bốc bay di cư về vùng thấp và tháng 1 – 2 bốc bay do đói rét.

    -Ở miền Nam, ong bốc bay sau vụ mật vào tháng 7 – 9.

    1. Biện pháp hạn chế ong bốc bay:

    -Tạo đàn ong có chúa trẻ dưới 8 tháng tuổi, đẻ tốt.

    -Thức ăn đủ (cả mật vít nắp và 1 – 2 cầu phấn).

    -Duy trì đàn ong lúc nào cũng có cầu con, nhất là cầu ấu trùng.

    -Phòng bệnh tốt, trị bệnh kịp thời và triệt để.

    -Chống nóng, nắng, hanh khô.

    Phương pháp nhập đàn ong, cầu ong

    Nhập ong thợ từ đàn này sang đàn khác nhằm:

    -Điều chỉnh thế ong cho đồng đều.

    -Xử lý các trường hợp: bốc bay, mất chúa, tăng lực lượng xây bánh tổ.

    -Thao tác cần nhẹ nhàng để tránh ong đánh nhau gây tình trạng mất ổn định trong đàn ong và những đàn xung quanh.

    a. Các nguyên tắc nhập đàn ong, cầu ong:

    -Nhập vào buổi tối.

    -Nhập đàn ong không có chúa vào đàn ong có chúa.

    -Nhập đàn ong yếu vào đàn ong mạnh.

    b. Các cách nhập ong:

    Nhập gián tiếp (ngoài ván ngăn)

    -Khử hoặc tách chúa ở đàn bị nhập trước 6 giờ.

    -Đến tối nhấc các cầu định nhập đặt ngoài ván ngăn của đàn ong được

    nhập.

    -Sáng hôm sau nhấc ván ngăn ra ngoài và ổn định cầu mới nhập vào.

    Nhập trực tiếp (trong ván ngăn): Buổi chiều, tách ván ngăn ra xa, đến tối đặt nhẹ cầu nhập vào hoặc thổi nhẹ cho ong già bay khỏi tổ, còn lại toàn ong non.

    Phương pháp chia đàn ong:

    Chia đàn nhân tạo nhằm giảm sự chia đàn tự nhiên và tăng số đàn. Có mấy phương pháp chia như sau:

    a. Chia đàn song song

    Sau khi chuẩn bị được ong chúa, mũ chúa, dùng một thùng mới có mầu sơn giống với mầu thùng cũ của đàn ong định chia.

    Chia đều số cầu, quân nhộng, ấu trùng và thức ăn ra làm đôi, đặt 2 đàn liền

    nhau.

    Để 2 đàn cách đều vị trí đàn cũ 20 – 30cm. Nếu đàn ong vào nhiều hơn thì nhích xa vị trí cũ, đàn nào vào ít thì nhích gần lại. Dần dần tách 2 đàn ra xa nhau, quay cửa tổ ra 2 hướng.

    Cách chia này có ưu điểm là: 2 đàn được chia đều, phát triển nhanh, không phải mang ong đi, tiện kiểm tra, chăm sóc.

    b. Chia dời chỗ:

    Mang thùng mới đến gần đàn cơ bản, tách ra 2 – 3 cầu, chèn lại, rồi chuyển đi cách đó 1km, thường mang ong chúa đã đẻ đi. Nên tiến hành trước vụ mật 40 ngày.

    c. Tách cầu ghép thành đàn mới:

    Khi sắp tới vụ mật, có một số đàn ong mạnh muốn chia đàn tự nhiên, nếu không chia ong sẽ tự chia đàn hoặc đi làm kém. Cần lấy từ các đàn mạnh, mỗi đàn một cầu nhộng và quân để tách ra hình thành đàn mới. Vừa chống chia đàn, vừa tăng sản lượng mật, tăng được số lượng đàn. Ngày đầu chỉ nên lấy 1 cầu, ngày sau lấy 1 cầu của đàn khác và hôm sau lấy thêm 1 cầu của đàn thứ 3. Nếu ong chúa đẻ, đàn ghép sẽ phát triển nhanh.

    Phương pháp chống nóng, chống rét cho ong:

    Ta đã biết rằng: yêu cầu nhiệt độ trong đàn ong từ 33 – 350C, độ ẩm từ 60 – 80%. Cao hơn hoặc thấp hơn ong thợ sẽ làm những công việc sau:

    -Quạt gió cho mát (nếu nóng qúa)

    -Tụ lại rung cánh tạo nhiệt (rét qúa)

    -Đi lấy nước về tổ (hanh, thiếu ẩm độ)

    Chống nóng cho ong:

    -Không để đàn ong ở ngoài nắng, không đặt cửa về hướng tây, không để đàn ong chật chội.

    -Để máng có nước trong thùng ong vào những ngày nóng bức.

    Chống rét, khô hanh cho ong:

    -Điều chỉnh đàn ong trước mùa rét để có thế đàn đông đều, nên kết thúc nhân giống trước 30/11 để có thời gian nâng thế đàn tốt qua mùa đông.

    -Cho ăn đầy đủ đến khi có mật vít nắp, nếu thiếu phấn kéo dài phải cho ăn bổ sung.

    -Dùng rơm, lá chuối khô… làm vật chống rét để ở ngoài ván ngăn hoặc bên trên xà cầu.

    -Bịt kín các khe hở của thùng ong, không để cửa tổ quay về hướng bắc. Nếu khô hanh qúa cho uống nước pha ít muối với tỷ lệ 9/1000. Phương pháp tạo chúa

    Nuôi ong cần nhiều chúa mới đẻ thay thế chúa già, chúa xấu hoặc để chia đàn. Việc chủ động tạo chúa là biện pháp kỹ thuật quan trọng để tạo ra đàn ong mạnh, cho năng suất cao.

    Chọn đàn làm giống và đàn nuôi dưỡng:

    Chất lượng ong chúa phụ thuộc vào nguồn gốc bố mẹ và yếu tố nuôi dưỡng (đàn nuôi dưỡng, thức ăn). Vì vậy việc tạo chúa phải chọn được các đàn giống tốt và đàn nuôi dưỡng tốt, trong đàn ong chia ra đàn mẹ và đàn bố.

    -Đàn mẹ: Là đàn cung cấp ấu trùng để tạo chúa, đàn mẹ phải đáp ứng được những nhu cầu sau:

    +Tụ đàn đông (nhiều cầu)

    +Năng suất mật cao.

    +Không bị bệnh.

    +Đàn ong hiền lành, không bay bốc, không hoặc ít chia đàn.

    • những trại ong lớn thương chọn từ 2 – 3 đàn mẹ để tránh cận huyết. Trước khi lấy ấu trùng 1 – 2 ngày nên cho đàn mẹ ăn để ong tiết nhiều sữa nuôi ấu trùng.

    -Đàn bố: Là đàn ong tạo ra ong đực sẽ giao phối với ong chúa tơ. Để ong đực ở độ tuổi giao phối thích hợp, cần tạo ong đực trước khi tạo chúa khoảng 20 –

    • ngày. Cho đàn bố ăn bổ sung, viện thêm cầu nhộng, cắt góc bánh tổ, đàn ong sẽ xây các lỗ đực và ong chúa sẽ đẻ trứng vào đó.

    Tiêu chuẩn đàn bố giống như đàn mẹ; để tránh cận huyết mỗi trại nên chọn từ 3 – 5 đàn bố, đồng thời tiến hành diệt ong đực ở đàn mẹ và các đàn khác.

    Đàn nuôi dưỡng: Là đàn nuôi ấu trùng ong chúa cho đến khi nở thành chúa tơ. Đàn phải thiếu nguồn mật tự nhiên, cần cho đàn nuôi dưỡng ăn trước khi tạo thành chúa 4 – 5 ngày. Cần rũ bớt cầu trong đàn nuôi dưỡng để ong bám trên cầu thật đông tiếp thu chúa nhiều hơn.

    Phương pháp di trùng:

    Dùng kim di trùng băng nhôm hoặc lông ngỗng vót nhỏ đưa vào phía lưng của ấu trùng, cố gắng lấy cả sữa chúa để ấu trùng không bị tổn thương; đặt nhẹ kim di trùng vào giọt mật, ấu trùng sẽ nổi lên, nhẹ nhàng rút kim ra và tiếp tục múc ấu trùng khác.

    Nên chọn ấu trùng 1 ngày tuổi để tạo ong chúa là tốt nhất (vì tuổi ấu trùng càng cao thì chất lượng ong chúa càng giảm) nếu cầu mới xây nên cẩn thận khi di trùng vì đầu kim di trùng dễ đâm thủng đáy của lỗ tổ. Nếu bánh tổ qúa cũ, lỗ tổ sẽ hẹp rất khó múc ấu trùng.

    Khi di trùng cần tiến hành nhanh và ở nơi kín gió, vào lúc thời tiết ấm áp, tránh ánh nắng chiếu vào sẽ làm khô ấu trùng khi thao tác.

    Di trùng xong, xoay các chén sáp xuống phía dưới và đặt vào giữa đàn nuôi dưỡng đã chuẩn bị sẵn.

    Trước khi di trùng 24 – 48 giờ, bắt ong chúa ra khỏi đàn nuôi dưỡng, rũ bớt cầu cho ong bám vào các cầu còn lại ; đồng thời trước khi di trùng 2 – 3 giờ, dãn 2 cầu giữa đàn ra khoảng 3cm tạo thành khe để ong non tập trung đến khu vực đó nhiều, chúng sẽ nhanh chóng tiếp nhận và nuôi dưỡng ấu trùng.

    Trong tạo chúa, một số người áp dụng phương pháp di đơn nhưng phần lớn là áp dụng phương pháp di kép. Di đơn là phương pháp di ấu trùng vào mũ chúa một lần để ong nuôi dưỡng ấu trùng đó thành ong chúa. Di kép là di ấu trùng 2 lần vào chén sáp (tức là sau khi di trùng lần thứ nhất 24 giờ, người ta gắp bỏ ấu trùng cũ đi và tiến hành di ấu trùng khác vào) làm như thế, ấu trùng di lần 2 sẽ được ăn sữa chúa ngay nên phát triển tốt.

    Chăm sóc đàn nuôi dưỡng:

    Như trên đã nói, đàn nuôi dưỡng có ảnh hưởng lớn đến số lượng và chất lượng chúa, nên phải chọn những đàn mạnh từ 5 – 6 cầu, sau đó rút bớt 1 – 2 cầu để ong phủ kín trên các cầu còn lại. Cần tạo một khoảng trống rộng từ 2 – 3cm ở giữa đàn ong để tạo ong non tập trung tại đấy trước khi đặt cầu chúa vào 2 – 3 giờ. Nên cho đàn ong nuôi dưỡng ăn thêm trước khi di trùng và cho ăn đến khi vít nắp các lỗ mật.

    Nếu tạo chúa vào lúc đủ phấn, mật thì không cần cho ăn, nếu thiếu thức ăn thì phải cho ăn thêm trước khi tạo chúa từ 2 – 3 ngày và cho ăn đến khi ong vít nắp mũ chúa, nếu thiếu phấn phải cho ăn thêm phấn hoa.

    Sau khi di trùng 1 ngày, kiểm tra thấy mũ chúa đạt từ 15 – 20 cái là được nếu ít qúa phải di thêm, nếu nhiều qúa thì loạt bớt, kiểm tra để vặt hết các mũ ong chúa cấp tạo ở trên bánh tổ.

    Sau 5 ngày, kiểm tra lần 2 để tiếp tục vặt bỏ các mũ chúa cấp tạo, nếu không chúa cấp tạo nở ra trước sẽ cắn hết các mũ chúa di trùng. Khi kiểm tra các

    cầu chúa cần nhẹ nhàng, tránh rung, lắc, nhất là khi mũ chúa mới vít nắp 1 – 2 ngày vì sẽ làm cho nhộng bị chết hoặc khi nở ra chúa sẽ bị xoăn cánh.

    Bảo quản và giới thiệu mũ chúa:

    Thông thường sau khi di trùng 11 – 12 ngày chúa tơ sẽ nở, do đó sau 9 – 10 ngày, các mũ chúa già có thể lấy đi để giới thiệu vào các đàn giao phối hoặc các đàn mất chúa. Trường hợp chưa sử dụng hết mũ chúa, phải cho mũ chúa vào lồng lò xo cách ly để tránh con chúa đầu tiên nở ra cắn phá các mũ chúa khác và được đặt trong đàn để ong ủ ấm. Một vài ngày sau chúa tơ ra đời, có thể bán hoặc giới thiệu cho các đàn ong bị mất chúa. Chúa tơ có thể sống ở trong lồng dự trữ từ 7 – 15 ngày.

    Hiện nay, với ong nội người ta thường giới thiệu trực tiếp các mũ chúa vào đàn ong sản xuất chứ ít khi sử dụng các đàn giao phối vì số lượng ít.

    Kỹ thuật tạo chúa đơn giản: Những nơi nuôi ít ong không có dụng cụ tạo chúa, có thể áp dụng phương pháp đơn giản mà vẫn tạo được chúa có chất lượng tốt.

    Sử dụng mũ chúa chia đàn tự nhiên:

    Vào mùa chia đàn tự nhiên: nhiều đàn ong mạnh có thể xây từ 5 – 10 mũ chúa cần chọn mũ chúa dài, thẳng đẹp từ đàn đủ tiêu chuẩn để làm giống. Dùng dao sắc cắt trên góc mũ chúa 1,5cm rồi gắn vào đàn cần thay chúa. Không dùng mũ chúa của các đàn yếu, bị bệnh.

    Kích thích ong xây mũ chúa chia đàn tự nhiên: Chọn đàn ong mạnh (đủ tiêu chuẩn) cho ăn 2 – 3 tối, viện thêm cầu nhộng già, rút bớt cầu cũ để ong tập trung hơn.

    Khi kiểm tra các cầu chúa cần làm nhẹ nhàng, tránh lắc, rũ mạnh nhất là khi các mũ chúa vít nắp 1 – 2 ngày nếu không sẽ làm cho nhộng bị chết hoặc khi nở ra chúa bị xoăn cánh.

    Tạo chúa theo phương pháp cấp tạo:

    Cách làm: chọn đàn ong mạnh, có năng suất cao nhất trại để làm đàn giống và cho đàn ăn thêm sirô đường, rút bớt cầu ong để bám dày hơn trên các cầu ong còn lại. Đặt cầu có trứng mới đẻ vào giữa tổ. Hai ngày sau, kiểm tra để loại bỏ tất cả các mũ chúa trên bề mặt của bánh tổ và các cầu khác, chỉ để các mũ chúa ở phía dưới của bánh tổ, sau khoảng 8 – 9 ngày thì tách các mũ chúa để sử dụng.

    Cũng có thể cắt bớt phần dưới của một bánh tổ theo đường kính dích dắc để ong xây nhiều mũ chúa ở chỗ bánh tổ có ấu trùng nhỏ. Nhưng cần lưu ý chọn các bánh tổ còn mới để ong dễ tiếp thu hơn.

    Ngày nay, để có nhiều ong chúa chất lượng cao phục vụ cho sản xuất vào mùa nhân đàn, người ta tiến hành tổ chức sản xuất chúa theo phương pháp công nghiệp. Đây là một công nghệ mới trong sản xuất ong chúa, có nhiều ưu thế để nâng cao chất lượng ong chúa và đem lại hiệu qủa kinh tế cao.

    BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ MỘT SỐ BỆNH CHO ONG Một số bệnh ong thường gặp:

    Cũng như các ngành chăn nuôi khác, bệnh ong cũng gây nên những tổn thất đáng kể cho người nuôi ong. Bệnh nhẹ thì ảnh hưởng đến thế đàn, giảm năng suất, bệnh nặng thì đe dọa đến sự tồn vong của đàn ong.

    Hiện nay trên đàn ong nội thường xuất hiện 3 bệnh chủ yếu sau:

    -Bệnh thối ấu trùng Châu Âu (bệnh thối ấu trùng tuổi nhỏ)

    -Bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu, bệnh ấu trùng túi)

    -Bệnh ỉa chảy lây lan.

    Các biện pháp phòng bệnh

    Đàn ong sống trong một quần thể bầy đàn nên khả năng nhiễm và lây lan bệnh rất cao. Khi bệnh phát ra, nó không chỉ tiêu diệt từng cá thể con ong mà

    thường tiêu diệt cả đàn ong, thậm chí còn tiêu diệt cả một trại ong trong một thời gian ngắn.

    Cũng như con người và các loại vật khác, con ong cũng chịu sự tàn phá của các loài vi khuẩn, vi rút và các loại ký sinh trùng… do đó việc phòng bệnh cho ong là hết sức cần thiết, nên lưu ý một số điểm chính sau:

    Chọn điểm đặt: chọn nơi thoáng mát về mùa hè, ấm áp về mùa đông.

    -Thùng ong phải kín đáo, không bị dột nát.

    -Thường xuyên làm vệ sinh đàn ong.

    -Đặt ong gần nguồn nước sạch…

    Việc phát hiện bệnh sớm và có biện pháp tròng trừ kịp thời là yếu tố quyết định nuôi ong đạt hiêụ qủa kinh tế cao.

    Phương pháp chẩn đoán bệnh

    Muốn điều trị bệnh có hiệu qủa thì việc đầu tiên là phải chẩn đoán đúng bệnh. Việc kết luận bệnh nên dựa trên kết qủa chẩn đoán tổng hợp của các phương pháp chủ yếu sau:

    -Chẩn đoán bệnh bằng phương pháp cảm quan:

    Mỗi bệnh biểu hiện một số nét đặc trưng khác nhau và bằng phương pháp cảm quan ta có thể nhận biết bệnh một cách tương đối chính xác.

    +Với bệnh thối ấu trùng Châu Âu: nhìn trong lỗ tổ thấy các ấu trùng bị chết, ấu trùng chuyển từ màu trắng sang màu trắng đục. Khi nhấc cầu ong lên thấy ong xào xạc và chạy tụt xuống phía dưới của đáy tổ ; ong thợ có màu đen bóng do ấu trùng bị chết nên không có lớp ong non kế tiếp, trên mặt lỗ tổ có lỗ thủng nhỏ và lõm xuống.

    +Với bệnh ấu trùng túi (bệnh nhọn đầu): thấy lỗ tổ vít nắp hơi lõm xuống, một số cắn nham nhở, có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên miệng lỗ tổ.

    +Với bệnh ỉa chảy lây lan: nhìn thấy phân màu nâu sẫm trên lá cây hay quần áo phơi xung quanh các điểm đặt ong: ong non yếu ớt, bụng của ong trưởng thành trướng lên, ong sã cánh bò ra trước cửa sổ.

    -Chẩn đoán thông qua việc nhận biết mùi đặc trưng của bệnh:

    Mỗi bệnh có một mùi đặc trưng, thông qua đó người nuôi ong có thể nhận biết được bệnh đang xảy ra trên đàn ong là bệnh gì? Ví dụ:

    +Bệnh thối ấu trùng Châu Mỹ: có mùi khét đặc trưng của keo da trâu. +Bệnh thối ấu trùng Châu Âu: có mùi chua. +Bệnh thối ấu trùng túi: không có mùi… -Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm:

    Muốn chẩn đoán được bệnh chính xác, tốt nhất nên gửi bệnh phẩm về các có quan khoa học, các phòng phân tích để kiểm tra.

    Trong qúa trình chẩn đoán, phải được tiến hành đồng bộ để có kết luận đúng: đâu là bệnh chính, đâu là bệnh kế phát để có biện pháp điều trị có hiệu quả.

    Nguyên tắc điều trị bệnh ong

    Khi điều trị cần tuân thủ các nguyên tắc sau:

    -Điều trị đúng thuốc, đúng bệnh:

    Các bệnh do các vi khuẩn gây nên gồm các vi khuẩn Gram dương hoặc vi khuẩn Gram âm, mỗi một loại vi khuẩn có thuốc đặc trị khác nhau, nếu điều trị không đúng thuốc sẽ không khỏi bệnh mà còn làm hại đến sức khỏe của đàn ong. Cụ thể như bệnh thối ấu trùng Châu Âu, mầm bệnh là vi khuẩn Gram âm nên khi điều trị phải dùng thuốc đặc trị như Kanamycin, Stretomycin hoặc ertromycin chứ không được dùng thuốc Penicillin hoặc những thuốc đặc trị cho loại vi khuẩn Gram dương khác.

    -Điều trị đủ liều:

    Khi điều trị phải chú ý dùng liều cao ngay từ đầu, đồng thời dùng đủ liệu trình theo chỉ dẫn để đạt hiệu qủa cao nhất và tránh được sự quen thuốc. Hiện nay người nuôi ong điều trị bệnh thối ấu trùng không phải bằng cách pha vào sirô đường cho ăn mà họ dùng cách hòa tan thuốc và phun trực tiếp vào lỗ tổ. Nhưng nên chú ý rằng phương pháp này chỉ có hiệu qủa khi thuốc được phun với liều lượng gấp 2 lần so với liều cho ăn.

    -Điều trị đúng phương pháp:

    Tùy từng bệnh mà có phương pháp điều trị thích hợp để nâng cao hiệu qủa. Ví dụ như bệnh thối ấu trùng Châu Âu, trước đây điều trị bằng phương pháp cho ăn nước sirô đường hòa với thuốc kháng sinh, nhưng ngày nay bằng phương pháp phun trực tiếp vào bánh tổ. Điều trị bằng phương pháp này vừa giải quyết được bệnh nhanh vừa giảm ảnh hưởng của thuốc kháng sinh đến chất lượng mật ong. Song cách pha thuốc cũng phải được chú ý: có loại thuốc chỉ được pha bằng nước nguội, nếu pha bằng nước nóng thuốc sẽ bị phân hủy, thuốc không còn tác dụng điều trị.

    Một số bệnh ong nội và phương pháp phòng trị

    *Bệnh của ong trưởng thành: Do một loại bảo tử trùng gây nên (Nosema apis). Bệnh này hay xảy ra vào thời kỳ rét đậm, mưa nhiều, độ ẩm cao.

    Triệu chứng:

    -Ong trưởng thành ỉa lung tung vào các cửa sổ, vách thùng.

    -Đàn ong chết nhiều, thưa quân, mật ít.

    -Có một số ong bụng trướng lên, sã cánh bò trước cửa tổ.

    Phương pháp điều trị:

    -Luôn giữ cho đàn ong mạnh, đủ thức ăn.

    -Khi phát hiện thấy đàn ong bị bệnh thì thay thùng, loại bớt cầu xấu cũ.

    -Cho ong ăn thuốc Fumagillin với liều lượng 100 mg/40 cầu/1 tối, pha với 3 lít nước đường, cho ăn trong 10 ngày.

    -Nếu không có thuốc Fumagillin có thể cho ăn sirô pha nước gừng tươi (9 – 10g gừng tươi/1 lít sirô cho 10 cầu/1tối).

    *Bệnh của ấu trùng ong: Thường có 2 bệnh gây nên hiện tượng thối ấu trùng, đó là bệnh ấu trùng Châu Âu và bệnh thối ấu trùng túi. Cần phải phân biệt rõ 2 bệnh này thì mới có biện pháp điều trị hiệu qủa.

    Bệnh thối ấu trùng Châu Âu: Bệnh do vi khuẩn Melissococus pluton gây nên. ấu trùng mắc bệnh ở tuổi 3 – 5, khi chết có mùi chua.

    Ấu trùng bị bệnh chuyển từ màu trắng ngà sang trắng đục, sau thối nhũn xẹp xuống, quan sát lỗ tổ thấy vít nắp lỗ chỗ.

    Bệnh lây lan do khi kiểm tra đàn ong, dùng dụng cụ, ong ăn cướp mật, do di chuyển và mua bán đàn ong.

    Điều trị:

    -Bằng phương pháp cho ăn:

    +Streptomycin 1 lọ/10 cầu ; Kanamycin 0,5g/đàn, cho ăn liền 3 tối. Sau 1tuần không khỏi cho ăn tiếp 3 tối nữa.

    +Lưu ý: Trước khi cho ăn nên loại bớt cầu bị bệnh nặng để nuôi ong bám đông trên cầu còn lại.

    -Bằng phương pháp phun thuốc trực tiếp:

    +Sử dụng 2 loại thuốc trên nhưng liều lượng gấp đôi, pha với nước sôi để nguội hoặc với nước đường loãng.

    +Dùng bình phun có hạt loại nhỏ phun lên 2 mặt cầu ong. Cách 1 ngày phun 1 lần, phun làm 3 lần.

    -Bệnh ấu trùng túi Sacbrood (do virut gây nên).

    Triệu chứng: Phần lớn ấu trùng chết ở giai đoạn cuối vít nắp hoặc thời kỳ tiền nhộng (ấu trùng tuổi lớn) có nhiều ấu trùng nhọn đầu nhô lên miệng lỗ tổ. Phía đuôi ấu trùng hình thành túi nước có màu trong suốt hoặc vàng nhạt, ấu trùng chết không có mùi.

    Điều trị:

    -Thay chúa của đàn bị bệnh bằng chúa tơ hoặc mũ chúa được tạo ra từ những đàn không bị bệnh hoặc nhốt chúa đẻ 7 – 8 ngày, đồng thời loại bớt cầu bệnh.

    -Cho ăn nước đường 3 – 4 tối hoặc di chuyển ong đến vùng có nhiều mật, phấn dồi dào để kích thích ong đi làm vệ sinh và dọn sạch các ấu trùng bệnh.

    Tuy nhiên, cần phải hạn chế việc lạm dụng thuốc kháng sinh trong điều trị bệnh ong vì gây nên hiện tượng tồn dư chất kháng sinh trong mật ong. Muốn khắc phục được tình trạng trên, nên đầu tư vào công tác giống để nhanh chóng tạo ra giống ong có sức đề kháng bệnh cao, hoặc tổ chức các đàn ong khỏe trước mùa khai thác… Trong trường hợp đàn ong bị bệnh, nên tiến hành điều trị triệt để và phải chấm dứt việc dùng thuốc kháng sinh trước mùa khai thác mật từ 30 – 40 ngày.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    Tải Xuống Tại Đây
  • Khóa Học Tiếng Nhật Tại Hải Phòng

    Khóa Học Tiếng Nhật Tại Hải Phòng

    Học Tiếng Nhật Tại Hải Phòng

    Theo xu hướng hội nhập và phát triển, việc học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Nhật nói riêng được rất nhiều người coi trọng. Hỗ Trợ Ôn Tập hàng ngày nhận được rất nhiều câu hỏi từ các bạn về các khóa học tiếng Nhật tại Hải Phòng. Điều này đủ để thấy nhu cầu học Tiếng Nhật ngày càng tăng, tuy nhiên để có thể thành thạo tiếng Nhật, các bạn cần phải học những từ những kiến thức Tiếng Nhật căn bản.

    Nhận thấy nhu cầu đó, Hỗ Trợ Ôn Tập kết hợp cùng đối tác của mình liên tục Khai Giảng những khóa học tiếng Nhật tại Hải Phòng.

    [toc]

    Đợi chút, Hỗ Trợ Ôn Tập cập nhật thêm về cơ sở vật chất của lớp học Tiếng Nhật này cho các bạn xem đã nhé. Hỗ Trợ Ôn Tập giới thiệu thì phải học giá tốt, phòng học tiếng Nhật cũng phải tốt hàng đầu Hải Phòng

    (Updating)

    1. Đối tượng khóa học Tiếng Nhật

    • Khóa học tiếng Nhật dành cho những học viên có nhu cầu sử dụng tiếng Nhật trong công việc, học tập,…. Học viên khi tham gia khóa học sẽ được trang bị những kiến thức nền tảng, căn bản và chuyên sâu về tiếng Nhật.

    2. Giới thiệu về khóa học tiếng Nhật

    • Khóa học tiếng Nhật này giúp bạn có thể giao tiếp Tiếng Nhật với người bản xứ trong trong thời gian ngắn nhất với chất lượng tốt nhất tại Hải Phòng.
    • Khóa học tiếng Nhật này cam kết giúp bạn có thể nghe hiểu và phản xạ nhanh nhất với người Nhật bản xứ.
    • Phương pháp học Tiếng Nhật hiện đại. Bài Giảng được ghi âm và hỗ trợ Ghi chép nếu bạn bận nghỉ học nhằm đảm bảo tiến độ và chất lượng khóa học tiếng Nhật đầu ra.
    • Lấy sự chủ động của học viên làm trung tâm, giúp học viên có thể tự tra cứu, biên tập ra những bộ dấu hiệu nhận dạng từ dễ nhớ.
    • Lớp học chỉ từ 10-12 người. Không nhận quá người vào lớp!

    3. Cam kết đầu ra

    Khi học xong khóa học tiếng Nhật, học viên có thể:

    • Tự tin Giao tiếp với người Nhật Bản
    • Giải quyết được nhu cầu Sử dụng tiếng Nhật nhanh nhất; Có thể đi du lịch, tiếp đối tác Nhật Bản, buôn hàng Nhật Bản….

    4. Giáo viên giảng dạy

    Giảng viên: Ms Phương

    Giảng viên từng sinh sống và làm việc 3 năm tại Nhật Bản, người am hiểu văn hóa Nhật; Kinh nghiệm giảng dạy 4 năm các trường và các trung tâm tiếng nhật tại Hải Phòng.

    Giảng viên: Ms Vân Anh

    Đây là một Giảng Viên bộ môn tiếng Nhật của trường Đại Hoc Hải Phòng, đã đạt chứng chỉ N1 Tiếng Nhật. Một người trẻ năng động, nhiệt tình với công việc giảng dạy tiếng Nhật, lấy chất lượng làm gốc luôn mong muốn học viên học được kết quả tốt nhất.

    5. Học phí khóa học tiếng Nhật tại Hải Phòng

    Hiện tại, học phí khóa học tiếng Nhật rất phải chăng và luôn kèm nhiều khuyến mãi hấp dẫn. Đừng bỏ lỡ nhé!

    Khóa học Mô tả Thời gian Học phí
    Tiếng Nhật sơ cấp A1 Dành cho người mới bắt đầu 33 buổi 1.200.000đ
    Tiếng Nhật sơ cấp A2 Dành cho học viên đã có kiến thức cơ bản, đạt mức A1 33 buổi 1.500.000đ
    Tiếng Nhật trung cấp A3 Dành cho học viên đã có khả năng giao tiếp cơ bản và muốn nâng cao trình độ 33 buổi 1.800.000đ
    Tiếng Nhật cấp tốc N5 Dành cho người mới bắt đầu đạt đến trình độ N5 JLPT của tiếng Nhật 80 buổi

    (2h/buổi)

    4.500.000đ
    Các khóa nâng cao (B1,B2,B3) hoặc ôn thi N5,N4,N3… Dành cho học viên muốn học nâng cao khả năng ngôn ngữ, để đạt tới trình độ trung cấp và cao cấp Liên hệ Liên hệ

    6. Các ưu đãi khi đăng ký tại Tiếng Nhật

    Vui lòng liên hệ Mr.Tùng 0936.532.535 để đăng ký học và nhận ưu đãi!
    + Các học viên có thể đăng ký học thử 2 – 3 buổi đầu tiên sau đó nộp học phí sau.

    Lịch khai giảng và thời gian học:
    – Khai giảng khóa tiếng Nhật liên hệ (0936.532.535) để nhận thông tin khai giảng!
    – Mỗi lớp tối đa từ 10 – 12 người!
    – Thời gian học : Sáng, chiều, tối (Thời gian cụ thể sẽ tùy vào từng khóa khai giảng)

    Khóa Học Tiếng Nhật Tại Hải Phòng

  • Khóa Học Tiếng Hàn Tại Hải Phòng

    Khóa Học Tiếng Hàn Tại Hải Phòng

    Học Tiếng Hàn Tại Hải Phòng

    Theo xu hướng hội nhập và phát triển, việc học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Hàn nói riêng được rất nhiều người coi trọng. Hỗ Trợ Ôn Tập hàng ngày nhận được rất nhiều câu hỏi từ các bạn về các khóa học tiếng Hàn tại Hải Phòng. Điều này đủ để thấy nhu cầu học Tiếng Hàn ngày càng tăng, tuy nhiên để có thể thành thạo tiếng Hàn, các bạn cần phải học những từ những kiến thức Tiếng Hàn căn bản.

    Nhận thấy nhu cầu đó, Hỗ Trợ Ôn Tập kết hợp cùng đối tác của mình liên tục Khai Giảng những khóa học tiếng Hàn tại Hải Phòng.

    [toc]

    Đợi chút, Hỗ Trợ Ôn Tập cập nhật thêm về cơ sở vật chất của lớp học Tiếng Hàn này cho các bạn xem đã nhé. Hỗ Trợ Ôn Tập giới thiệu thì phải học giá tốt, phòng học tiếng Hàn cũng phải tốt hàng đầu Hải Phòng

    Khóa Học Tiếng Hàn Tại Hải PhòngKhóa Học Tiếng Hàn Tại Hải PhòngKhóa Học Tiếng Hàn Tại Hải Phòng

    1. Đối tượng khóa học Tiếng Hàn

    • Khóa học tiếng Hàn dành cho những học viên có nhu cầu sử dụng tiếng Hàn trong công việc, học tập,…. Học viên khi tham gia khóa học sẽ được trang bị những kiến thức nền tảng, căn bản và chuyên sâu về tiếng Hàn.

    2. Giới thiệu về khóa học tiếng Hàn

    • Khóa học tiếng Hàn này giúp bạn có thể giao tiếp Tiếng Hàn với người bản xứ trong trong thời gian ngắn nhất với chất lượng tốt nhất tại Hải Phòng.
    • Khóa học tiếng Hàn này cam kết giúp bạn có thể nghe hiểu và phản xạ nhanh nhất với người Hàn bản xứ.
    • Phương pháp học Tiếng Hàn hiện đại. Bài Giảng được ghi âm và hỗ trợ Ghi chép nếu bạn bận nghỉ học nhằm đảm bảo tiến độ và chất lượng khóa học tiếng Hàn đầu ra.
    • Lấy sự chủ động của học viên làm trung tâm, giúp học viên có thể tự tra cứu, biên tập ra những bộ dấu hiệu nhận dạng từ dễ nhớ.
    • Lớp học chỉ từ 10-12 người. Không nhận quá người vào lớp!

    3. Cam kết đầu ra

    Khi học xong khóa học tiếng Hàn, học viên có thể:

    • Tự tin Giao tiếp với người Hàn Quốc
    • Giải quyết được nhu cầu Sử dụng tiếng Hàn nhanh nhất; Có thể đi du lịch, tiếp đối tác Hàn Quốc, buôn hàng Hàn quốc….

    4. Giáo viên giảng dạy

    Giảng viên: Cô Nguyễn Yến Vân
    Một người trẻ năng động, nhiệt tình với công việc giảng dạy tiếng Hàn, lấy chất lượng làm gốc luôn mong muốn học viên học được kết quả tốt nhất.
    Cô Vân từng sinh sống và làm việc tại Hàn quốc, người am hiểu văn hóa Hàn.

    Ngoài ra, GIÁO VIÊN BẢN NGỮ sẽ đứng lớp 30% số buổi học. Điều này sẽ giúp cho học viên có cơ hội giao tiếp, thực hành tốt nhất.

    5. Học phí khóa học tiếng Hàn tại Hải Phòng

    Hiện tại, học phí khóa học tiếng Hàn rất phải chăng và luôn kèm nhiều khuyến mãi hấp dẫn. Đừng bỏ lỡ nhé!

    Khóa học Mô tả Thời gian Học phí
    Tiếng Hàn nhập môn và sơ cấp A1 -Kiến thức cơ bản: Bảng chữ cái, chính tả, ngữ pháp

    -Kĩ năng tiếp cận để học tiếng Hàn: nghe, nói, đọc, viết, sử dụng tài liệu

    -Văn hóa giao tiếp Hàn Quốc, cách học tập

    -Một số chủ để hội thoại cơ bản

    25 buổi 1.500.000đ
    Tiếng Hàn sơ cấp A1 Dành cho người đã có về căn bản nắm được cách phát âm, bảng chữ cái tiếng Hàn. 25 buổi 1.700.000đ
    Tiếng Hàn sơ cấp A2 Dành cho học viên đã có kiến thức cơ bản, đạt mức A1 36 buổi 2.100.000đ
    Tiếng Hàn cấp tốc Dành cho người mới bắt đầu đạt đến trình độ topik 2 sơ cấp  70 buổi

    (2h/buổi)

    5.000.000 đ
    Tiếng Hàn trung cấp B1 Dành cho học viên đã có khả năng giao tiếp cơ bản và muốn nâng cao trình độ 36 buổi 2.500.000đ
    Các khóa nâng cao (B2,C1,C2) hoặc ôn thi TOPIK I, II Dành cho học viên muốn học nâng cao khả năng ngôn ngữ, để đạt tới trình độ trung cấp và cao cấp Liên hệ Liên hệ

    6. Các ưu đãi khi đăng ký tại Tiếng Hàn

    Vui lòng liên hệ Mr.Tùng 0936.532.535 để đăng ký học và nhận ưu đãi!
    + Các học viên có thể đăng ký học thử 2 – 3 buổi đầu tiên sau đó nộp học phí sau.

    Lịch khai giảng và thời gian học:
    – Khai giảng khóa tiếng Hàn liên hệ (0936.532.535) để nhận thông tin khai giảng!
    – Mỗi lớp tối đa từ 10 – 12 người!
    – Thời gian học : Sáng, chiều, tối (Thời gian cụ thể sẽ tùy vào từng khóa khai giảng)

    Học Tiếng Hàn Tại Hải Phòng

  • Khóa Học Ngoại Ngữ Tại Hải Phòng – Tiếng Hàn, Nhật, Anh, Trung, Đức

    Khóa Học Ngoại Ngữ Tại Hải Phòng – Tiếng Hàn, Nhật, Anh, Trung, Đức

    Học Ngoại Ngữ Tại Hải Phòng

    Theo xu hướng hội nhập và phát triển, việc học ngoại ngữ nói chung và học ngoại ngữ nói riêng được rất nhiều người coi trọng. Hỗ Trợ Ôn Tập hàng ngày nhận được rất nhiều câu hỏi từ các bạn về các khóa học ngoại ngữ tại Hải Phòng. Điều này đủ để thấy nhu cầu học Ngoại Ngữ ngày càng tăng, tuy nhiên để có thể thành thạo Ngoại Ngữ, các bạn cần phải học những từ những kiến thức Ngoại Ngữ căn bản.

    Nhận thấy nhu cầu đó, Hỗ Trợ Ôn Tập kết hợp cùng đối tác của mình liên tục Khai Giảng những khóa học Ngoại Ngữ tại Hải Phòng.

    [toc]

    Đợi chút, Hỗ Trợ Ôn Tập cập nhật thêm về cơ sở vật chất của lớp học Ngoại ngữ này cho các bạn xem đã nhé. Hỗ Trợ Ôn Tập giới thiệu thì phải học giá tốt, phòng học Ngoại Ngữ cũng phải tốt hàng đầu Hải Phòng

    1. Đối tượng tham gia Khóa học

    • Khóa học Tiếng Hàn – Trung – Nhật – Đức – Anh dành cho những học viên đang có nhu cầu giao tiếp công việc với đối tác nước ngoài, chuẩn bị du học, học tập chuyên ngành liên quan tới ngoại ngữ. Học viên khi tham gia khóa học sẽ được trang bị những kiến thức nền tảng và kiến thức chuyên sâu về Ngoại Ngữ.

    2. Giới thiệu về khóa học Ngoại Ngữ

    Hiện tại, Hỗ Trợ Ôn Tập đang phân phối, giới thiệu một số khóa học sau đây. Các bạn click vào từng khóa học để tìm hiểu thêm thông tin nhé!

    • Khóa học Tiếng Anh Tại Hải Phòng
    • Khóa học Tiếng Hàn Tại Hải Phòng
    • Khóa học Tiếng Trung Tại Hải Phòng
    • Khóa học Tiếng Đức Tại Hải Phòng
    • Khóa học Tiếng Nhật Tại Hải Phòng

    3. Cam kết đầu ra

    Khi học xong khóa học Ngoại Ngữ, học viên có thể:

    • Tự tin Chinh Phục bất kì dạng bài Ngoại Ngữ nào, Đánh bật cảm giác “ngại” + “sợ” khi nhìn thấy Ngoại Ngữ
    • Đạt được chuẩn đầu ra như cam kết trong từng khóa học.

    4. Giáo viên giảng dạy

    Giảng viên các khóa học Ngoại Ngữ tại Hải Phòng là những giảng viên có nhiều năm kinh nghiệm trong giảng dạy hoặc có nhiều năm sinh sống tại bản xứ. Ngoài ra, GIÁO VIÊN BẢN NGỮ sẽ đứng lớp từ 5-30% số buổi học. Điều này sẽ giúp cho học viên có cơ hội giao tiếp, thực hành tốt nhất.

    Các bạn có thể xem chi tiết hơn trong từng khóa học.

    5. Các ưu đãi khi đăng ký tại Hỗ Trợ Ôn Tập

    Vui lòng liên hệ Mr.Tùng 0936.532.535 để đăng ký học và nhận ưu đãi!
    + Các học viên có thể đăng ký học thử 2 – 3 buổi đầu tiên sau đó nộp học phí sau.

    Lịch khai giảng và thời gian học:
    – Khai giảng các khóa học ngoại ngữ:  liên hệ (0936.532.535) để nhận thông tin khai giảng!
    – Mỗi lớp tối đa từ 10 – 12 người!
    – Thời gian học : Sáng, chiều, tối (Thời gian cụ thể sẽ tùy vào từng khóa khai giảng)

    hoc ngoai ngu tai hai phong

  • Khóa Học Tiếng Trung Tại Hải Phòng

    Khóa Học Tiếng Trung Tại Hải Phòng

    Học Tiếng Trung Tại Hải Phòng

    Theo xu hướng hội nhập và phát triển, việc học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Trung nói riêng được rất nhiều người coi trọng. Hỗ Trợ Ôn Tập hàng ngày nhận được rất nhiều câu hỏi từ các bạn về các khóa học tiếng Trung tại Hải Phòng. Điều này đủ để thấy nhu cầu học Tiếng Trung ngày càng tăng, tuy nhiên để có thể thành thạo tiếng Trung, các bạn cần phải học những từ những kiến thức Tiếng Trung căn bản.

    Nhận thấy nhu cầu đó, Hỗ Trợ Ôn Tập kết hợp cùng đối tác của mình liên tục Khai Giảng những khóa học tiếng Trung tại Hải Phòng.

    [toc]

    Đợi chút, Hỗ Trợ Ôn Tập cập nhật thêm về cơ sở vật chất của lớp học Tiếng Trung này cho các bạn xem đã nhé. Hỗ Trợ Ôn Tập giới thiệu thì phải học giá tốt, phòng học tiếng Trung cũng phải tốt hàng đầu Hải Phòng

    hoc tieng trung tai hai phonghoc tieng trung tai hai phong1. Đối tượng khóa học Tiếng Trung

    • Khóa học tiếng Trung dành cho những học viên có nhu cầu sử dụng tiếng Trung trong công việc, học tập,…. Học viên khi tham gia khóa học sẽ được trang bị những kiến thức nền tảng, căn bản và chuyên sâu về tiếng Trung.

    2. Giới thiệu về khóa học tiếng Trung

    • Khóa học tiếng Trung này giúp bạn có thể giao tiếp Tiếng Trung  với người bản xứ trong trong thời gian ngắn nhất với chất lượng tốt nhất tại Hải Phòng.
    • Khóa học tiếng Trung này cam kết giúp bạn có thể nghe hiểu và phản xạ nhanh nhất với người Trung bản xứ.
    • Phương pháp học Tiếng Trung hiện đại. Bài Giảng được ghi âm và hỗ trợ Ghi chép nếu bạn bận nghỉ học nhằm đảm bảo tiến độ và chất lượng khóa học tiếng Trung đầu ra.
    • Lấy sự chủ động của học viên làm trung tâm, giúp học viên có thể tự tra cứu, biên tập ra những bộ dấu hiệu nhận dạng từ dễ nhớ.
    • Lớp học chỉ từ 10-12 người. Không nhận quá người vào lớp!

    3. Cam kết đầu ra

    Khi học xong khóa học tiếng Trung, học viên có thể:

    • Tự tin Giao tiếp với người Trung Quốc
    • Giải quyết được nhu cầu Sử dụng tiếng Trung nhanh nhất; Có thể đi du lịch, tiếp đối tác Trung Quốc, buôn hàng Trung quốc….

    4. Giáo viên giảng dạy

    – Cô Bùi Thu Hà. Giáo viên tiếng Trung đã có rất nhiều năm giảng dạy, kinh nghiệm cao, Cô sở hữu kênh Youtube “Trung tâm ngoại ngữ TOMATO Hải Phòng” về tiếng Trung nổi tiếng tại Việt Nam có rất nhiều Fan hâm mộ !

    – Cô Nguyễn Thanh Hương, Thạc sĩ ngành Ngôn ngữ tiếng Trung, đã có nhiều năm học tập và sinh sống tại Trung Quốc.

    – Cô Trịnh Thị Kim Tuấn, Cô Kim Tuấn có nhiều năm kinh nghiệm giảng dạy tiếng Trung, tận tâm và nhiệt tình từng học viên, cô từng sinh sống và làm việc tại đất nước Trung Quốc.

    Ngoài ra, GIÁO VIÊN BẢN NGỮ sẽ đứng lớp 30% số buổi học. Điều này sẽ giúp cho học viên có cơ hội giao tiếp, thực hành tốt nhất.

    5. Học phí khóa học tiếng Trung tại Hải Phòng

    Hiện tại, học phí khóa học tiếng Trung rất phải chăng và luôn kèm nhiều khuyến mãi hấp dẫn. Đừng bỏ lỡ nhé!

    Khóa học Mô tả Thời gian Học phí
    Tiếng Trung sơ cấp A1 Dành cho người mới bắt đầu 15 bài 33 buổi 1.600.000đ
    Tiếng Trung sơ cấp A2 Dành cho học viên đã có kiến thức cơ bản, đạt mức A1 15 bài 37 buổi 1.900.000đ
    Tiếng Trung trung cấp B1 Dành cho học viên đã có khả năng giao tiếp cơ bản và muốn nâng cao trình độ 10 bài 30 buổi 2.300.000đ
    Tiếng Trung cấp tốc Dành cho người mới bắt đầu đạt đến trình độ trung cấp B1 82 buổi 5.000.000đ
    Các khóa nâng cao (B2,C1,C2) hoặc luyện thi HSK Dành cho học viên muốn học nâng cao khả năng ngôn ngữ, để đạt tới trình độ trung cấp và cao cấp Liên Hệ Liên Hệ

    6. Các ưu đãi khi đăng ký tại Tiếng Trung

    Vui lòng liên hệ Mr.Tùng 0936.532.535 để đăng ký học và nhận ưu đãi!
    + Các học viên có thể đăng ký học thử 2 – 3 buổi đầu tiên sau đó nộp học phí sau.

    Lịch khai giảng và thời gian học:
    – Khai giảng khóa tiếng Trung liên hệ (0936.532.535) để nhận thông tin khai giảng!
    – Mỗi lớp tối đa từ 10 – 12 người!
    – Thời gian học : Sáng, chiều, tối (Thời gian cụ thể sẽ tùy vào từng khóa khai giảng)

    khoa hoc tieng trung tai hai phong Khóa Học Tiếng Trung Cơ Bản Tại Hải Phòng