Author: Kỳ Duyên

  • 3 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo

    3 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo

    3 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Nêu một số nhận xét về nhân vật Bá Kiến

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Đôi nét về Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo
    – Trong tác phẩm, bên cạnh nhân vật trung tâm- Chí Phèo được Nam Cao dùng ngòi bút hiện thực khắc họa rõ nét, còn một nhân vật cũng được ông đầu tư tâm sức để khắc họa thành công, đó là nhân vật Bá Kiến- đại diện tiêu biểu cho giai cấp thống trị tham lam, tàn bạo

    II. Thân bài
    1. Nguồn gốc xuất thân
    – Bá Kiến xuất thân trong một gia đình giàu có, mấy đời làm chánh tổng, bá hộ, sống sung túc với nhiều đất đai, của cải.
    – Bằng mưu mô và thủ đoạn, Bá Kiến dần leo lên đỉnh cao danh vọng: tiên chỉ làng Vũ Đại, Bá hộ, Chánh hội đồng kỳ hào, huyện hào, Bắc kỳ nhân dân đại biểu… ⇒ khét tiếng trong hàng huyện
    – Là “con cá lớn” của làng Vũ Đại
    ⇒ Từ nguồn gốc xuất thân đủ nhận thấy sự uy quyền của Bá Kiến trong làng Vũ Đại
    2. Sự xuất hiện của Bá Kiến
    – Xuất hiện trong hoàn cảnh Chí Phèo đến nhà cụ ăn vạ
    + Xuất hiện đầy uy quyền: “Cụ cất tiếng rất sang hỏi: “Cái gì mà đông thế này?”
    + Hành động của mọi người: Chỗ này “lạy cụ”, chỗ kia “lạy cụ”, người ta kính cẩn đứng dãn ra, và Chí Phèo bỗng nằm dài, không nhúc nhích… ⇒ Vai vế, uy quyền Bá kiến đối với dân làng Vũ Đại
    ⇒ Sự bề thế, uy quyền của Bá Kiến
    – Hành động Bá Kiến trước sự việc Chí Phèo đến ăn vạ:
    + Quát mấy bà vợ…
    + Quay lại người làng, dịu giọng hơn
    + Lay gọi Chí Phèo bằng giọng thân mật, xốc Chí Phèo,
    + Mắng con…
    ⇒ Đằng sau đó là sự lọc lõi, nham hiểm và thâm độc, một tên cường hào có nghệ thuật thống trị
    3. Bá Kiến – con người nham hiểm, thủ đoạn trong cách cai trị
    – Bá Kiến có thủ đoạn thống trị người nông dân khôn ngoan:
    + Trị không được thì cụ dùng
    + Lấy đầu bò trị thằng đầu bò
    + Mềm nắn rắn buông
    + Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân
    + Nắm thằng có tóc chứ ai nắm thằng trọc đầu
    + Đặc biệt “ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền ơn
    + Ngấm ngầm cho nhau ăn bùn
    ⇒ Những cách dùng người, trị người của Bá Kiến được đặc tả rõ nét với nghệ thuật độc thoại nội tâm
    4. Bá Kiến- con người được bộc lộ trong nhiều mối quan hệ
    – Trong quan hệ với tầng lớp cùng đinh: tìm cách bóp nặn đám dân hiền lành vào những vụ thuế và thu dụng những tên “bạt mạng” ⇒ đẩy bao người vào cảnh cùng quẫn Với sự nham hiểm thâm độc, chính Chí Phèo cũng trở thành nạn nhân của Bá Kiến
    – Trong quan hệ với tầng lớp thống trị: Bề ngoài bằng mặt, bên trong luôn sắp sẵn ý định “cho nhau ăn bùn”, xâu xé nhau tranh quyền lực
    – Trong quan hệ gia đình: Có bốn vợ, hay ghen bóng gió nhưng bản thân lại qua lại với vợ Binh Chức ⇒ ích kỉ, xấu xa, đồi bại
    5. Cái chết của Bá Kiến
    – Tiếng cười cùng câu nói của Bá Kiến “Ồ tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ” càng làm tăng nỗi đau đớn của Chí Phèo
    – Bá Kiến đã đẩy Chí Phèo vào đường cùng, Chí Phèo đã thét lên: “Không được! Ai cho tao lương thiện?…chỉ còn một cách này là…biết không?”
    ⇒ Bá Kiến chết như một tất yếu

    III. Kết bài
    – Tổng kết lại những nét nghệ thuật tiêu biểu nhất làm nên một Bá Kiến điển hình cho giai cấp thống trị, bọn cường hào, địa chủ gian ác
    – Đây là nhân vật thể hiện tài năng khắc họa sinh động, chân thực và bộc lộ giá trị hiện thực mới mẻ, sâu sắc

    Bài văn mẫu 1

    Trong mỗi truyện ngắn thông thường đều có hai giới tuyến nhân vật rõ ràng. Nếu như Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao là nhân vật chính diện tiêu biểu cho những người nông dân nghèo khổ bị áp bức bất công, bị đẩy đến mức đường cùng thì Bá Kiến- nhân vật phản diện đại diện cho bọn địa chủ phong kiến độc ác, tàn bạo và nham hiểm. Nam Cao khắc họa thành công nhân vật Bá Kiến chỉ với vài nét đặc tả đã cho thấy bộ mặt xấu xa của hắn.
    Nếu ai đã từng đọc tác phẩm “Tắt đèn” của Ngô Tất Tố ắt hẳn không thể quên tên Nghị Quế hách dịch, xảo trá lừa lọc mà nhà văn thể hiện qua chi tiết chị Dậu đem cái Tí và đàn chó bán cho hắn. Khác với Ngô Tất Tố chỉ miêu tả Nghị Quế về dáng điệu, tiếng nói và tài sản thì Nam Cao Khắc họa Bá Kiến hiện lên với tư cách là một nhân vật điển hình hoàn chỉnh khi đi sâu vào suy nghĩ, nội tâm của hắn.
    Bá Kiến là một tên cáo già tiêu biểu cho bọn địa chủ cường hào ở làng xã của đồng bằng Bắc Bộ Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Hắn xuất thân trong một gia đình bốn đời làm lí trưởng nay bản thân hắn là chánh tổng-chức vụ cao nhất của đơn vị hành chính cấp huyện. Nam Cao để cho nhân vật xuất hiện với “tiếng cười giòn giã lắm”- tiếng cười Tào Tháo và tiếng quát “rất sang” cho thấy uy quyền của vị chánh tổng.
    Cụ bá khét tiếng là một người hách dịch, nham hiểm và độc ác dùng nhiều thủ đoạn để buộc người khác phải cắm đất cắm nhà, xúi giục bọn lưu manh đến ức hiếp dân nghèo. Đáng lẽ thân làm quan phụ mẫu người mang sứ mệnh chăm lo cho đời sống nhân dân thì nay lại vơ vét tiền của, chèn ép dân đen.
    Bá Kiến còn là một người biết xử lí khôn khéo được minh chứng qua cách hắn đối xử với Chí Phèo trong cơn say. Khi mọi người trong nhà ngoài ngõ đang xúm nhau lại để chứng kiến sự việc Chí rạch mặt ăn vạ sau cuộc ẩu đả với lí Cường. Việc làm trước tiên của cụ “tiên chỉ làng Vũ Đại” là quát mấy “bà vợ đang xưng xỉa chực tâng công với chồng” rồi đến bọn người làng ông dịu giọng “Cả các ông các bà nữa về đi thôi chứ! Có gì mà xúm lại thế này?” chỉ bằng từng đó lời mà “Không ai nói gì, người ta lảng dần đi”. Những người nông dân hiền lành ấy phần vì nể, vì sợ, vì lo cho sự yên ổn của mình mà không dám lôi thôi, thấy cụ là kính cẩn “lạy cụ”, “bẩm cụ” bấy giờ bốn bà vợ của cụ lớn cũng đã phải vào thì họ cớ sao còn dám ở lại, điều đó cho thấy uy quyền uy thế của Bá Kiến ở làng Vũ Đại. Hắn khéo léo ứng biến khi thấy “Chí Phèo bỗng nằm dài, không nhúc nhích, rên khẽ như gần chết” thì đã hiểu cơ sự bởi kinh nghiệm của bấy nhiêu năm làm quan. Hắn gọi một kẻ lưu manh bằng “anh” với cái giọng nhún nhường và thân mật “Anh Chí ơi! Sao anh lại làm ra thế?” rồi từ từ đỡ Chí vào nhà dùng lời lẽ đường mật để xoa dịu đi cơn bực tức, để con quỷ dữ được yên phận trong anh. Chí đứng lên để hắn rìu vào nhà hắn biết mình đã thắng. Chẳng biết có họ hàng như thế nào với lí Cường theo như lời hắn nói nhưng cũng làm Chí thấy lòng nguôi nguôi kể từ đó mà bị Bá Kiến mua chuộc.
    Một tên quan lại hết sức thâm hiểm biết “mềm nắn rắn buông”, xử nhũn với kẻ thù biến kẻ thù thành tay sai đắc lực để trừ khử đối thủ của mình. Bá Kiến là một kẻ khôn róc ở đời “Thứ nhất sợ kẻ anh hùng, thứ hai sợ kẻ cố cùng liều thân” hắn không dại gì mà đối đầu với kẻ liều lĩnh hành nghề rạch mặt ăn vạ bởi “Trị không lợi thì dùng”, hắn mua chuộc và lợi dụng Chí Phèo để anh ta đi đòi nợ Đội Tảo-một tay vai vế trong làng, kẻ địch đối đầu với hắn. Cụ luôn nghĩ bụng cũng phải có những thằng đầu bò để trị những thằng đầu bò. Tôn chỉ của hắn là “Ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi dắt nó lên để nó đền ơn. Hãy đập bàn đập ghế đòi được năm đồng, nhưng được rồi thì vất trả lại năm hào vì “thương anh túng quá”. Chỉ một vài chi tiết đi sâu vào nội tâm nhân vật Nam Cao đã lột tả được tâm hồn đen tối, đầy thủ đoạn tàn ác, xảo quyệt và thâm độc của hắn.
    Không chỉ vậy trong tác phẩm “Chí Phèo” nhà văn còn bóc trần bộ mặt xấu xa của Bá Kiến qua mối quan hệ đen tối trước đây của hắn với Năm Thọ, Binh Chức. Một kẻ háo sắc, dâm ô có những bốn bà vợ mà còn không buông tha cho người đà bà hai con-vợ anh Chức, không chỉ cướp vợ mà còn cướp luôn cả tiền anh ta đi lính chắt bóp gửi về nuôi vợ con. Một ông chồng hay ghen tuông chính vì ghen với Chí Phèo khi được bà ba hay bắt hắn bóp chân, xoa bụng, đấm lưng mà năm ấy Bá Kiến là kẻ đã đẩy Chí Phèo-một anh canh điền chất phác hiền lành vào ngồi tù để rồi chế độ nhà tù thực dân phong kiến tàn ác đã khiến anh trở thành một kẻ lưu manh, tha hóa mất hết nhân hình lẫn nhân tính với nhân cách méo mó. Con người ấy bị Chí Phèo cầm dao đâm chết là một kết thúc thỏa đáng cho những việc làm độc ác của hắn. Cái chết ấy cảnh báo cho xã hội nếu không thay đổi và tiến bộ thì không biết còn bao nhiêu tên như Năm Thọ, Binh Chức hay Chí Phèo nữa.
    Như vậy nhân vật Bá Kiến mang đầy đủ tội ác xấu xa của bọn địa chủ cường hào dưới chính quyền phong kiến nửa thuộc địa. Nam Cao đã khéo sử dụng một lối văn linh hoạt sinh động, giản dị và trong sáng, gần với khẩu ngữ hàng ngày của quần chúng, đi sâu mà miêu tả nội tâm của nhân vật để cho Bá Kiến hiện lên vừa có nét chung vừa có nét riêng độc đáo không lẫn với tên địa chủ nào.

    Bài văn mẫu 2

    Là một nhà văn trung thành của chủ nghĩa hiện thực, Nam Cao không chỉ cho thấy số phận khốn khổ, bất hạnh của người nông dân trong xã hội thực dân nửa phong kiến mà con vạch trần bộ mặt của giai cấp thống trị. Bá Kiến chính là nhân vật điển hình cho sự độc ác, tàn bạo của bọn thống trị đương thời.
    Nhà Bá Kiến vốn bốn đời làm tổng lí. Hắn leo lên đỉnh cao của danh vọng, giữ những chức vụ quan trọng : Tiên chỉ làng Vũ Đại, chánh hội đồng kì hào, Bắc Kì nhân dân đại biểu. Phe cánh của hắn luôn dày đặc. Hắn là kẻ đối nghịch với quần chúng nhân dân, người dân vừa sợ uy quyền của hắn nhưng đồng thời cũng vừa căm ghét sự độc ác bất nhân của Bá Kiến.
    Trước hết, là một con quỷ dâm ô, hắn ta đã có bốn bà vợ nhưng vẫn sẵn sàng đi cướp vợ của người khác. Khi hắn còn đang đương chức lí trưởng hắn không bỏ qua cơ hội ve vãn vợ Binh Chức. Những người trai trẻ luôn làm lão điên lên, vì bản thân đã già quá, mà các bà vợ thì vẫn cứ trẻ phây phây. Chính điều đó, đã khiến lão đẩy nhiều người lương thiện vào cảnh tha hóa.
    Bá Kiến còn là kẻ độc ác, bất nhân. Chí Phèo vốn là người nông dân lương thiện, làm thuê cho gia đình Bá Kiến. Là một người nông dân khỏe mạnh, chăm làm nhưng khi làm việc ở nhà Bá Kiến, Chí Phèo bị bà ba dụ dỗ và khiến Bá Kiến nổi giận. Ông ta nổi giận vì Chí dám vụng trộm với bà bà, nhưng ông ta còn giận dữ hơn khi cảm thấy mình kém cỏi, già nua hơn so với Chí, Chính điều ấy đã khiến lão ta đưa đến một quyết định vô cùng khủng khiếp: chỉ muốn tất cả những thằng trai trẻ đều đi ở tù ». Hắn đã hủy hoại cuộc đời cả một con người: Tống Chí Phèo vào nhà tù thực dân. Sau bảy tám năm đi ở tù về, Chí Phèo đã thực sự bị tha hóa cả về nhân hình và nhân tính đúng như ý muốn của Bá Kiến.
    Không chỉ vậy hắn còn là kẻ hết sức khôn khéo, nham hiểm. Chí Phèo đi tù trở về thường xuyên đến nhà Bá Kiến ăn vạ. Là là kẻ lọc lõi, nhìn thấy cảnh huyên náo, Chí Phèo nằm dài, không nhúc nhích hắn ta đã hiểu ra ngay cơ sự. Bằng sự giảo hoạt, hắn ta nhanh chóng tìm được cách ứng phó với Chí Phèo và đám đông xung quanh. Trước hết, dùng giọng nạt nộ để bắt các bà vợ vào nhà, sau đó, lão ta giải tán đám đông bằng một giọng dịu dàng, vừa cương quyết: Cả các ông, các bà nữa, về đi thôi chứ ! Có gì mà xúm lại như thế này. Dù người dân vẫn hết sức hào hứng, muốn chứng kiến việc Bá Kiến giải quyết tên Chí Phèo cũng không thể nán lại lâu hơn được nữa khi cụ Bá thét ra lửa đã đuổi khéo, không ai nói gì, người ta lảng dần đi. Như vậy, Bá Kiến đã giải quyết được hai vấn đề, lão thừa hiểu Chí Phèo lợi dụng đám đông để làm toáng lên, khi mọi người đã giải tán hết, hắn không còn ai để hung hăng, để dựa dẫm nữa lão mới quay sang tên Chí Phèo đang nằm dưới đất. Hơn nữa, lão ta cũng biết với một kẻ đầu bò như Chí Phèo nếu làm căng lên sẽ hỏng hết việc, bởi vậy phải sử dụng giọng điệu tha thiết, mềm mỏng với hắn, nếu làm như vậy trước mặt dân làng sẽ mất hết cái uy của ông. Bá Kiến quả là một kẻ khôn ngoan, xảo quyệt lão làng.
    Quay lại với Chí Phèo, hắn dở giọng đường mật, nhẹ nhàng: anh Chí ơi ! Sao anh lại làm ra thế ?. Rồi niềm nở mời Chí Phèo vào nhà uống nước, hỏi han thân mật như Chí là bạn của hắn : Về bao giờ thế ? Sao không vào tôi chơi. Không dừng lại ở đó, để làm cho Chí hoàn toàn bị lừa phỉnh, quên đi mục đích ban đầu hắn ta còn nhận họ hàng với Chí ai chứ anh với nó còn có họ kia đấy, người ngoài biết. Hai tiếng người ngoài, có họ chắc đã khiến Chí Phèo sung sướng, bởi bỗng nhiên lại được trở nên cao quý khi có họ hàng với người làm quan to. Như vậy, từng bước một Bá Kiến đã lừa được Chí Phèo vào bẫy của mình, và cuối cùng hắn ta đã thắng.
    Sự độc ác, nham hiểm của Bá Kiến còn đẩy lên một mức cao hơn với thủ đoạn dùng người hết sức độc ác: trị không lợi thì cụ dùng, lão dùng những người nông dân bị bần cùng hóa thành những công cụ, tay sai đắc lực cho hắn. Sau khi làm nguôi ngoai nỗi căm giận trong lòng Chí bằng những lời lẽ giảo hoạt, Bá Kiến đã biến Chí Phèo thành tay sai đắc dụng của mình. Hắn sử dụng thằng đầu bò là Chí để trị những thằng đầu bò. Với cách dùng người mềm nắn rắn buông, dùng những thằng đầu bò để trị những thằng đầu bò, Bá Kiến đã đẩy biết bao người nông dân lương thiện vào cảnh tù đày, tha hóa. Kết thúc tác phẩm, Bá Kiến bị Chí Phèo đâm chết. Nó là kết cục xứng đáng cho những tội danh, cho sự bất nhân mà hắn đã gây ra với biết bao nhiêu người.
    Nghệ thuật xây dựng nhân vật điển hình cho bọn cường hào ác bác giam hiểm, độc ác, lão không từ bất kì thủ đoạn nào để bóc lột người dân, hắn còn mang trong mình nét riêng không hòa lẫn với những kẻ khác đó là sự gian hùng, nham hiểm, thủ đoạn. Ngôn ngữ nhân vật biến đổi linh hoạt, giúp bộc lộ tính cách nhân vật. Khi miêu tả Bá Kiến, Nam Cao không chỉ đơn thuần miêu tả ngoại hình mà còn khắc họa tâm địa nham hiểm của hắn: cụ cười nhạt nhưng giòn giã lắm, cụ hay quát để thử dây thần kinh người khác,… Qua đó Nam Cao vừa giúp cho người đọc có cái nhìn rõ nét, sắc sảo về nhân vật, vừa cho thấy tài năng miêu tả nhân vật bậc thầy của ông.
    Bằng bút pháp xây dựng nhân vật xuất sắc, Nam Cao đã xây dựng thành công nhân vật Bá Kiến – kẻ đại diện cho giai cấp thống trị đương thời. Hắn ta là kẻ gian ngoan, xảo quyệt, với những thủ đoạn bóc lột vô cùng thâm độc. Khắc họa nhân vật Bá Kiến, Nam Cao cho thấy quá trình đấu tranh không khoan nhưỡng giữa nông dân và bọn cường hào, ác bá. Đồng thời cũng là lời phê phán, tố cáo đanh thép xã hội thực dân nửa phong kiến đương thời của Nam Cao.

    Bài văn mẫu 3

    Nam Cao có phần đã dựa vào những người thật việc thật ở quê hương của mình dể xây dựng truyện ngắn “Chí Phèo”.
    Đại diện cho giai cấp thống trị ở làng Vũ Đại chính là Bá Kiến. Qua nhân vật này, bộ mặt xấu xa tàn bạo của bọn cường hào địa chủ phơi bày khá rõ nét.
    Khồng giống một số nhân vật địa chủ trong những tác phẩm khác của Nam Cao, ở “Chí Phèo”, Bá Kiến hiện lên với tư cách là một nhân vật điển hình hoàn chỉnh.
    Khi xây dựng nhân vật địa chủ Nghị Quế keo kiệt, thô lỗ, Ngô Tất Tố đã mô tả khá tỉ mỉ gia cảnh, rồi kể đến những hành động và ngôn ngữ của hắn (Tắt đèn). Nhưng đối với Bá Kiến, Nam Cao không hề tả diện mạo, chỉ nói đến tiếng quát sang” và “cái cười Tào Tháo” mà y vẫn tự phụ hơn đời. Đơn sơ vài chi tiết, nhưng nhà văn tạo cho Bá Kiến về bề ngoài khá độc đáo, khiến người đọc khó quên. Tuy vậy, nhân vật này trở nên sống động cơ bản còn do tài miêu tả nội tâm sắc sảo, chân thật của tác giả.
    Nhà văn để cho Bá Kiến xuất hiện đầu tiên trước độc giả đúng lúc Chí Phèo sáy rượu, đến cổng nhà hắn để rạch mặt, kêu làng, ăn vạ. Cảnh tượng thật hỗn loạn huyên náo. Vừa thấy Chí Phèo “nằm dài, không nhúc nhích lên khẽ như gần chết” “thoáng nhìn qua” Bá Kiến “đã hiểu cơ sự”, hắn nhanh chóng tìm ra được kế sách thích hợp nhất để ứng phó. Với sự từng trải, hắn biết rõ tác hại của đám đông này. Bố con Bá Kiến thêm mất mặt, nếu để dân chúng chứng kiến hành động thô tục của Chí. Hắn cũng thừa biết tâm kế của thằng “đầu bò”, với nó đám đông kia chính là hậu thuẫn, kích thích để nó hung hăng hơn. Và cũng cần phải có ít nhiều thời gian để Chí Phèo giã rượu, đỡ táo tợn đi đã. Vả lại, trước đông người, Bá Kiến khó có thể hiện thành công mánh khóe mua chuộc, dụ dỗ. Muôn dụ dỗ, ắt phải nhún nhường.Đường đường là một cụ bá hét ra lửa mà để đám dân đen chứng kiến cảnh ngọt nhạt với một thằng cùng đinh, thì còn ra cái thể thống gì? Bởi vậy, việc đầu tiên, Bá Kiến tìm cách giải tán đám đòng ngay đã, hắn “quát mấy bà vợ” và đuổi họ vào nhà. Chắc những người “tuôn đến xem” nghe tiếng quát “rất sang” này đủ hiểu: cụ muốn đuổi khéo mình. Tiếp theo, “quay sang bọn người làng”, Bá Kiến dịu giọng hơn một chút: “cả các ồng, các bà nữa, về đi thôi chứ ! Có gì mà xúm lại thế này?”. Đến đây, tất nhiên “không ai nói gì, người ta lảng dần đi “. Cho dù vừa tò mò, vừa hả hê; nhưng họ vẫn nể, vẫn sợ cụ Bá. Vả lại ngay vợ của cụ cũng phải vào nhà rồi … Đến khi “chỉ còn trơ lại Chí Phèo”, cụ bắt đáu giở giọng đường mật, gọi đầy tớ cũ của mình, nay như đã biến thành con vật gớm ghiếc bằng “anh”, vồn vã mời Chí “vào nhà uống nước”. Chưa đủ, cụ “tiên chỉ làng Vũ Đại” “khét tiếng trong hàng huyện” còn nhận có họ hàng với anh cùng đinh này “rồi giết gà mua rượu cho hắn uống, xong lọi đãi thêm đồng bạc để về uống thuốc”… Chỉ cần Chí ngồi lên, Bá Kiến biết là mình đã thắng. Tuy vậy, cụ vẫn quát mắng lí Cường, sau khi đã “đưa mắt nháy còn một cái”.
    Với cách xử sự như trên, chứng tỏ cụ bá lõi đời đã đi guốc vào bụng dạ Chí Phèo lúc này: ưa phỉnh nịnh, hám cái lợi trước mắt… Rốt cuộc, Bá Kiến “khôn róc đời”, đạt được cả hai mục đích: vừa tạm dập tắt ngọn lửa hờn căm trong con người Chí, vừa chuẩn bị biến Chí thành tay sai lợi hại. Như vậy, qua một tình huống, cái xảo quyệt lọc lõi của tên cường hào này được thể hiện một cách sinh động.
    Già đời đục khoét đè đầu cỡi cổ nông dân, cụ Bá đã đúc rút được nhiều kinh nghiệm phong phú, trong “cái nghề làm việc quan”. Phải biết, “thế nào là mềm nắn rắn buông”.”Hay ngấm ngầm đẩy người ta xuống sông, nhưng rồi lại dắt nó lên để nó đền ơn. Hay đập bàn, dập ghế đòi cho được năm đồng, nhưng được rồi thì lại vứt trả lại năm hào, vì thương anh túng quá! Cụ có không ít thủ đoạn thâm hiểm “trị không được thì cụ dũng”. Cụ nghĩ bụng: cũng phải có những thằng đầu bò chứ? Không có những thằng đầu bồ, thì lấy ai trị những thằng đầu?”. Cái nham hiểm ghê tởm của nhân vật này còn là ở chỗ tìm cách làm cho lũ đàn em, hoặc đám dân làng “sinh chuyện” – tức là đốt phá, chém giết lẫn nhau, để hắn “cố dịp mà ăn!”
    Bá Kiến đã vận dụng triệt để những kinh nghiệm đó để biến Chí Phèo – một thanh niên chất phác, tự trọng và khỏe mạnh thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”, sẵn sàng theo lệnh hắn để đi đâm chém … rồi phải kết liễu cuộc đời mình một cách thảm khốc. Rõ ràng, bi kịch của Chí Phèo đã góp phần quan trọng hoàn thiện chân dung gian hùng của Bá Kiến.
    Bên cạnh việc khắc hoạ sinh động, sâu sắc bản chất lọc lõi xảo quyệt, Nam Cao không quên vạch trần nhân cách bỉ ổi của “tiên chỉ làng Vũ Đại”, trong những mối quan hệ kín đáo. Và Nam Cao tài năng là ỏ chỗ: khi cần đặc tả sự lợi dụng đê tiện và thói dâm ô vô độ của tên cường hào này, ôríg đã bỏ qua nhiều chi tiết rất phong phú, rất cụ thể và sinh động của nguyên mẫu lí Bính ở làng Đại Hoàng. Ngay cái việc gỡ gạc của cụ bá đối với người đàn bà vắng chồng và có tiền, lẫn máu ghen của hắn cũng chỉ được lướt qua. Tác giả đã có mấy dòng tả ý nghĩ của cụ Bá về người vợ trẻ và đẹp… nhưng vẫn đủ sức khắc sâu trong người đọc về một nhân cách bỉ ổi và thảm hại.
    Như vậy, Bá Kiến vừa mang bản chất chung của giai cấp địa chủ cường hào, vừa có những nét riêng biệt sinh động không giống bất kì một tên địa chủ nào khác trong văn học. Điều đó giải thích vì sao hắn luôn được chúng ta nhắc đến khi cần ám chỉ một kẻ có quyền lực, gian hùng và nham hiểm.
    Bằng nhân vật Bá Kiến, Nam Cao đã ghi nhận những thành công mới mẻ trong viộc xây dựng nhân vật. Điều này chứng tỏ sự tiến bộ đáng kể của phương pháp sáng tác hiện thực ở giai đoạn 1930-1945.

  • Nêu một số nhận xét về nhân vật Bá Kiến

    Nêu một số nhận xét về nhân vật Bá Kiến

    Nêu một số nhận xét về nhân vật Bá Kiến

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu So sánh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt

    [toc]

    Đề bài: Suy nghĩ về hình tượng nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.

    Bài văn mẫu

    Hình tượng nhân vật Bá Kiến:

    Chính từ cái nhìn xã hội “trên tinh thần giai cấp” mà trong Chí Phèo, Nam Cao đã khắc họa nổi bật một hiện tượng điển hình về bọn phong kiến thông trị ở nông thôn đương thời: ấy là Bá Kiến.
    Nam Cao tập trung khai thác bản chất gian hùng trong tính cách lão cường hào cáo già bằng những chi tiết nỗi bật, sinh động và khá ấn tượng, từ lối nói ngọt nhạt đến “cái cười Tào Tháo”; từ giọng quát “rất sang” để thử thần kinh đối phương cho đến khi độc thoại, lão đã phơi bày những suy nghĩ, tính toán thâm độc đầy “mưu lương” được đúc kết bởi mấy đời qua cái “nghề tổng lí”. Đó là chính sách “mềm nắn rắn buông”, là “bám thằng có tóc ai bám kẻ trọc đầu”… Lão cường hào cáo già “khôn róc đời” và nhiều ma mảnh ây là đại diện tiêu biểu của bản chất kẻ bóc lột trong xã hội ngày ấy.

  • 2 bài văn mẫu So sánh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt

    2 bài văn mẫu So sánh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt

    2 bài văn mẫu So sánh bát cháo hành trong Chí Phèo và bát cháo cám trong Vợ nhặt

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Cảm nhận về chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo

    [toc]

    Đề bài: So sánh bát cháo hành trong truyện ngắn “Chí Phèo” của Nam Cao và bát cháo cám trong truyện ngắn “Vợ nhặt” của Kim Lân.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Vài nét về tác giả Nam Cao và Kim Lân
    – Vài nét về hai truyện ngắn Chí Phèo và Vợ nhặt
    – Trong mỗi tác phẩm văn học, chi tiết nghệ thuật tuy nhỏ nhưng có những chi tiết lại mang ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm. “Bát cháo hành” trong Chí Phèo và “bát cháo cám” trong Vợ nhặt là hai trong những chi tiết nghệ thuật như thế!

    II. Thân bài
    1. Cảm nhận về chi tiết bát cháo hành
    a. Sự xuất hiện
    – Chi tiết xuất hiện trong phần giữa truyện
    – Sau cuộc gặp gỡ về thể xác giữa Chí Phèo và thị Nở, Chí Phèo bị cảm ⇒ Thị Nở nấu cháo sang mang sang cho Chí Phèo
    b. Bát cháo hành trong sự cảm nhận của Chí Phèo
    – Bát cháo hành khiến Chí Phèo rất “ngạc nhiên” và thấy “mắt như ươn ướt:
    – Cảm nhận: “Cháo mới thơm làm sao!”
    – Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm
    – Hắn nhận ra cháo hành rất ngon
    ⇒ Bát cháo hành giản dị trong cảm nhận của Chí Phèo là thứ rất ngon, đó là chi tiết khiến hắn lần đầu tiên và cũng là duy nhất cảm thấy được quan tâm
    c. Ý nghĩa chi tiết bát cháo hành
    – Về nội dung:
    + Thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí phèo
    + Là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng, khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người
    – Về nghệ thuật:
    + Khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật Chí Phèo
    + Tác giả gửi gắm niềm tin vào sức mạnh cảm hóa con người bằng tình người
    2. Cảm nhận về chi tiết bát cháo cám
    a. Sự xuất hiện
    – Vị trí: Cuối truyện
    – Hoàn cảnh: Trong bữa cơm đầu tiên của Thị khi về nhà chồng
    b. Bát cháo cám trong sự cảm nhận của các nhân vật
    – Bà Cụ Tứ: Điềm nhiên gọi nồi cháo cám “Chè đây.”, “Chè khoán đây, ngon đáo để cơ”, tươi cười đon đả “Cám đấy mày ạ…Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem”…
    – Người con dâu: Ban đầu, hai mắt tối lại rồi điềm nhiên “và vào miệng”
    – Tràng: “mắt hắn chun lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ ở trong cổ”
    ⇒ Nỗi tủi hờn len vào trong tâm trí mọi người
    c. Ý nghĩa chi tiết bát cháo cám
    – Về nội dung:
    + Khắc họa sâu thêm tình cảnh đói kém của con người trong nạn đói năm 45
    + Tính cách các nhân vật được bộc lộ rõ nét
    + Nồi cháo cám là nồi cháo của tình thân, tình người , niềm tin và hy vọng
    – Về nghệ thuật: Thể hiện tài năng của tác giả trong việc lụa chọn chi tiết
    3. So sánh sự tương đồng và khác biệt
    a. Giống nhau
    – Cả 2 hình ảnh đều là biểu tượng của tình người ấm áp.
    – Đều thể hiện bi kịch của nhân vật và hiện thực xã hội
    + Bát cháo hành: bi kịch bị tha hoá + bị cự tuyệt quyền làm người
    + Bát cháo cám: thể hiện rõ hiện thực tàn khốc của nạn đói
    – Đêù thể hiện cái nhìn hiện thực và nhân đạo của 2 nhà văn.
    b. Khác nhau
    + Bát cháo hành: cái nhìn bế tắc của Nam Cao đối với số phận người nông dân ⇒ cảm quan hiện thực của 1 nhà văn trước cách mạng.
    + Bát cháo cám: niềm tin vào khả năng cách mạng của người dân của Kim ⇒ cảm quan nhà văn sau cách mạng
    c. Nguyên nhân sự giống và khác nhau đó
    – Giống: Đề tài khai thác giống nhau (đề tài người nông dân, nông thôn)
    – Khác: Cái nhìn hiện thực của mỗi nhà văn

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vai trò của hai chi tiết bát cháo hành trong việc việc thể hiện chủ để, tư tưởng truyện
    – Liên hệ cảm nhận của bản thân về chi tiết đặc sắc này

    Bài văn mẫu 1

    Bên cạnh dòng văn học lãng mạn, văn học hiện thực Việt Nam cũng đạt được những thành tựu rực rỡ, với những tác phẩm nổi tiếng. Trong số những ngôi sao của làng văn học hiện thực ta không thể không nhắc đến Nam Cao và Kim Lân. Nam Cao là cây bút hiện thực xuất sắc với tác phẩm nổi tiếng Chí Phèo – là kết tinh nghệ thuật trong đời văn ông. Còn Kim Lân có sở trường viết truyện ngắn về nông thôn và người nông dân với tác phẩm để đời Vợ nhặt. Ở cả hai tác phẩm này đều có những chi tiết nghệ thuật đặc sắc Bát cháo hành (Chí Phèo), bát cháo cám (Vợ nhặt) góp phần thể hiện tư tưởng cũng như tài năng nghệ thuật của hai tác giả.
    Chi tiết bát cháo hành xuất hiện ở phần giữa của tác phẩm Chí Phèo. Chí Phèo sau khi đi uống rượu nhà Tư Lãng, trở về căn lều của mình, trên đường trở về hắn thấy khó chịu nền không về nhà ngay mà rẽ xuống sông tắm, ở đây hắn đã gặp thị Nở đang nằm ngủ cạnh bụi chuối. Dưới ánh trăng mờ ảo, khung cảnh hữu tình đã nảy nở tình yêu giữa thị Nở và Chí Phèo. Đến nửa đêm, Chí Phèo bị cảm, nôn thốc, nôn tháo, thị Nở là người đã dìu Chí vào lều, đắp cho manh chiếu và trở về nhà. Nhưng khi về đến nhà thị vẫn chưa yên tâm, bởi: Thổ trận ấy thật là phải biết. Cứ gọi là hôm nay nhọc đừ , thương cho Chí chỉ có một thân một mình thị Nở quyết định sẽ nấu cháo mang cho Chí Phèo giải cảm. Bát cháo hành là chi tiết nghệ thuật giàu ý nghĩa, giàu giá trị biểu đạt.
    Bát cháo là sự quan tâm, chăm sóc ân cần không vụ lợi toan tính của thị Nở dành cho Chí Phèo. Sau cái đêm ăn nằm với nhau thị cảm thấy mình có trách nhiệm phải quan tâm, giúp đỡ Chí Phèo. Nhưng sâu xa hơn, nó còn xuất phát từ tình yêu thương Thị dành cho Chí: Cái thằng liều lĩnh ấy kể ra cũng đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình. Đây mới là nguyên nhân gốc rễ dẫn đến hành động thị dành cho Chí. Không chỉ vậy, bát cháo hành đã khơi nguồn, nảy nở tình yêu đẹp đẽ giữa hai con người bất hạnh. Xét ở một khía cạnh nào đó, thị Nở cũng là kẻ bị gạt ra ngoài rìa của xã hội, không tìm được hạnh phúc, bởi vậy, nhờ có bát cháo hành mà thị đã thực sự được làm thiên chức của một người phụ nữ, được quan tâm chăm sóc cho người mình thương.
    Không chỉ vậy, bát cháo tuy bé nhỏ về vật chất nhưng lại là niềm an ủi to lớn về tinh thần với Chí Phèo. Đây là tình người hiếm hoi mà Chí Phèo được nhận trong khi tất cả mọi người đều xa lánh, hắt hủi Chí. Đây cũng hương vị tình yêu, hạnh phúc muộn màng mà Chí được được duy nhất đón nhận một lần. Lần đầu tiên chí được chăm sóc bởi tay một người đàn bà. Bát cháo không chỉ giúp Chí giải cảm, vượt qua cái mệt mỏi về thể xác mà còn giúp chí thanh lọc, giải độc về tâm hồn. Chí thấy vừa xúc động, vừa vui, vừa buồn vừa như là ăn năn. Nó giúp Chí suy nghĩ về tình trạng thê thảm của bản thân hiện tại khi bị tất cả mọi người ruồng rẫy, gạt ra bên ngoài cuộc sống, Xưa nay hắn chỉ sống bằng cướp giật, dọa nạt. Nếu không còn đủ sức mà cướp giật, dọa nạt nữa thì sao […] Nhưng hắn mơ hồ thấy rằng sẽ có lúc mà người ta không thể liều được nữa. Thế mới nguy. Và trong Chí bùng lên khát khao được trở thành người lương thiện, muốn làm hòa với mọi người và thị Nở chính là người sẽ mở đường cho hắn. Như vậy, với Chí Phèo bát cháo hành đã đánh thức phần người, phần nhân tính mà bấy lâu nay bị phần con che lấp mất.
    Chi tiết bát cháo hành cũng có giá trị lớn về mặt nghệ thuật. Với chi tiết này đã giúp bộc lộ tính cách nhân vật : Thị Nở yêu thương, quan tâm người khác vô điều kiện, Chí Phèo phục hồi phần nhân tính bị khuất lấp. Không chỉ vậy chi tiết này còn góp phần thúc đẩy truyện phát triển, tạo nên trình tự truyện hợp lí, tự nhiên. Qua đó thể hiện tư tưởng nhân đạo sâu sắc của Nam Cao : tin vào sức mạnh của sự cảm hóa.
    Cũng như chi tiết bát cháo hành, chi tiết nồi cháo cám trong Vợ nhặt của nhà văn Kim Lân cũng chứa đựng nhiều giá trị sâu sắc. Chi tiết này xuất hiện vào cuối tác phẩm, trong bữa cơm đầu tiên khi cô vợ nhặt bước chân vào nhà anh cu Tràng. Miếng cháo cám đắng ngắt, nhưng họ vẫn lặng lẽ ăn và không ai nói với nhau câu nào nữa.
    Trong nạn đói năm 1945, hàng nghìn người chết đói, thì nồi cháo cám đó có đắng chát cũng là phương tiện giúp gia đình Tràng xua tan cơn đói, đây cũng có thể coi là bữa tiệc trong ngày đón nàng dâu mới về. Điều đó đã cho thấy sự nghèo đói và cuộc sống cực khổ của nhân dân ta vào thời điểm năm 1945. Ý nghĩa hơn cả, chi tiết nồi cháo cám còn giúp bộc lộ tính cách nhân vật. Nồi cháo cám được bà cụ Tứ niềm nở bê ra, đã cho thấy đó là một người phụ nữ đảm đang, yêu thương con hết mực. Trong cuộc sống khổ cực như vậy, nhưng bà vẫn tìm mọi cách để đem đến niềm vui nhỏ bé cho đôi vợ chồng trẻ. Đối với người vợ nhặt, tính chao chát, chỏng lỏn đã biến đi đâu mất, thay vào đó là người phụ nữ điềm nhiên, bình tĩnh : người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối lại. Thị điềm nhiên và vào miệng. Người con dâu ấy đã có sự thay đổi về tình nết, chấp nhận hoàn cảnh và trong cô cũng sẵn sàng để cùng gia đình nhỏ bé mới này vượt qua mọi khó khăn. Không chỉ vậy, nồi cháo cám còn là biểu tượng của tình người của niềm tin và hi vọng. Trong hoàn cảnh đói kém, họ vẫn không ngần ngại cưu mang thêm một người, sống trong sự đùm bọc, giúp đỡ lẫn nhau. Quanh nồi cháo cám, bà cụ tứ nói những chuyện vui, tương lai tốt đẹp để khơi dậy vào cuộc sống mới đẹp đẽ hơn cho đôi vợ chồng trẻ.
    Đây là hai chi tiết nghệ thuật đặc sắc, nó là biểu tượng của tình người ấm áp, của tình yêu thương chân thành con người dành cho nhau trong hoàn cảnh khó khăn, hoạn nạn. Với mỗi chi tiết còn góp phần bộc lộ, sự thay đổi tính cách của nhân vật. Không chỉ vậy nó còn thể hiện bi kịch của con người trong xã hội cũ : Chí Phèo bị cự tuyệt quyền làm người, bị xã hội đẩy ra bên lề. Còn cô vợ nhặt, số phận con người cũng trở nên rẻ mạt hơn. Qua các chi tiết này, cả hai tác giả đều thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc, niềm tin vào sức mạnh của tình yêu thương có thể thay đổi, cảm hóa con người.
    Bên cạnh những điểm giống nhau, các chi tiết nghệ thuật này cũng có những điểm khác biệt. Bát chào hành là tình yêu thương chân thành, không toan tính thị Nở dành cho Chí Phèo khi tất cả xã hội đã cự tuyệt Chí, coi Chí như con quỷ và đẩy Chí Phèo vào bước đường cùng. Qua đó, giúp người đọc hình dung được bộ mặt bất nhân, tàn bạo của xã hội thực dân nửa phong kiến. Còn chi tiết bát cháo cám là biểu tượng không chỉ của tình yêu thương mà còn là niềm tin vào tương lai, hi vọng vào tương lai tốt đẹp, khi trong bữa cơm ấy hò bàn về truyện Việt Minh. Đó là cái nhìn đầy lạc quan, tin tưởng của Kim Lân vào cuộc sông. Có sự khác biệt như vậy là do phong cách sáng tác của hai tác giả là khác nhau. Không chỉ vậy, yếu tố thời đại chi phối đến nhãn quan của mỗi nhà văn : Nam Cao bi quan, bế tắc, Kim Lân lạc quan, tin tưởng.
    Qua những chi tiết nghệ thuật đặc sắc của hai nhà văn người đọc đã thấy được tấm lòng nhân đạo bao la của họ vào con người, luôn mang niềm tin tưởng vào sự cảm hóa qua tình yêu thương. Không chỉ vậy, với các chi tiết nghệ thuật này còn cho thấy tài năng nghệ thuật bậc thầy của họ.

    Bài văn mẫu 2

    Mỗi một tác phẩm văn học là một đứa con tinh thần của nhà văn chân chính. Trong tác phẩm ấy mỗi hình tượng và chi tiết nghệ thuật đều mang giá trị tư tưởng, tình cảm và dụng ý của tác giả. Nam Cao và Kim Lân là hai nhà văn xuất sắc trên thể loại truyện ngắn viết về người nông dân Việt Nam với tình cảm chân thành và lòng thương yêu vô bờ. Nếu Nam Cao thành công với kiệt tác “Chí Phèo” trong đó có chi tiết bát cháo hành tình người có nhiều ý nghĩa thì Kim Lân với tác phẩm “Vợ nhặt” có bát cháo cám tình thương để lại ấn tượng sâu sắc và nhiều suy ngẫm cho bạn đọc. Dù chỉ là hai chi tiết nghệ thuật xuất hiện ở gần cuối mỗi tác phẩm nhưng có giá trị to lớn, thể hiện quan điểm tư tưởng của nhà văn.
    Trước tiên là bát cháo hành thị Nở dành cho Chí. Đây là bát cháo của tình người. Thị và Chí là hai con người cùng cực, thuộc tầng lớp dưới đáy cùng của xã hội. Một kẻ lưu manh trượt dài trên cái dốc tha hóa mất hết nhân hình lẫn nhân tính, một kẻ thuộc dòng giống con nhà mả hủi, xấu ma chê quỷ hờn lại còn nghèo và ngẩn ngơ. Họ bị xã hội ruồng bỏ, bị mọi người xa lánh, họ sống trong cô đơn cô độc giữa cuộc đời. Nhưng trong đêm tình ái ấy hai tâm hồn đồng điệu tìm về với nhau để làm thành “đôi lứa xứng đôi”. Tưởng rằng cuộc đời Chí chìm đắm trong bóng tối, u mê với men say và sống mãi bằng một nghề rạch mặt ăn vạ, cướp của giết người. Sự xuất hiện của thị cùng với bát cháo hành tình người ấy đã khiến hắn thức tỉnh, hồi sinh và khao khát muốn làm người lương thiện, muốn sống cuộc sống để yêu thương và được yêu thương. Bát cháo hành dù chỉ một lần được ăn nhưng nó đã cảm hóa được con quỷ dữ trong Chí. Tình thương, sự cảm thông ấy của thị đến một cách tự nhiên và bình dị nhất khiến Chí ngạc nhiên và xúc động giọt nước mắt con người đã chảy ra bởi đây là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho. “Xưa nay nào hắn thấy ai tự nhiên cho hắn cái gì. Hắn vẫn phải dọa nạt hay cướp giật. Hẳn là phải làm cho người ta sợ.” Ấy thế mà giờ đây hắn hiền như cục đất, mắt hắn hình như ươn ướt. Hắn cảm động bởi sự chân thành của thị, bát cháo hành là hiện thân cho tình người ấm áp, là thuốc giải độc cho cơn sốt bất thường và chữa lành vết thương tâm hồn quặt què bấy lâu nay trong Chí. Chi tiết bát cháo hành trong tác phẩm “Chí Phèo” đẩy mấu chốt của câu chuyện phát triển lên một bước, là điều kiện để Nam Cao khắc họa tâm lí nhân vật, bộc lộ phần người bị vùi lấp trong Chí trỗi dậy, khám phá vẻ đẹp tâm hồn và nhân cách đáng trân trọng của người đàn bà xấu xí là thị Nở. Qua đó nhà văn thể hiện tư tưởng nhân văn của mình luôn tin vào sự tốt đẹp trong con người lương thiện và khẳng định chỉ có tình người mới cảm hóa được tội ác.
    Chi tiết bát cháo cám trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân cũng mang một nét đẹp và giá trị nghệ thuật riêng. Trong nạn đói Ất Dậu năm ấy khiến cho bao nhiêu người dân Việt Nam phải thiệt mạng vì giặc đói hoành hành. Hai mẹ con bà cụ Tứ và thị là những nạn nhân tiêu biểu nhưng cơ duyên và tình thương đã đưa họ về cùng một nhà. Hôm ấy trong bữa cơm đầu tiên đón dâu mới đáng lẽ người ta phải đãi nhau rượu thịt để chúc mừng hạnh phúc thì bà cụ Tứ lại đãi nàng dâu bát cháo cám. Nghe có vẻ nghịch lí nhưng trong hoàn cảnh đó là một “món sang” bởi “xóm ta khối nhà còn chả có cám mà ăn đấy”. Bát cháo cám đắng chát nghẹn bứ ở cổ nhưng lại có ý nghĩa nhân sinh. Bởi đây là bát cháo của tình thương yêu những người trong gia đình dành cho nhau, bát cháo của những ngày đói khát khó khăn nhưng lại lóe lên hy vọng về một tương lai ngày mai. Bát cháo làm thay đổi tâm lí nhân vật khiến cho bà cụ Tứ_một bà mẹ yêu thương con dù nghèo đói nhưng vẫn cố gắng cưu mang thị, dù đã gần đất xa trời nhưng bà vẫn giàu niềm tin, hy vọng động viên đôi vợ chồng trẻ cố gắng làm ăn “không ai giàu ba họ không ai khó ba đời”, bát cháo khiến cô con dâu hiểu cho hoàn cảnh của gia đình mà thay đổi tính nết không còn “chỏn lỏn”, chua chát như trước. Bát cháo cám là hạnh phúc gia đình trong những ngày đói khát cùng cực.
    Như vậy, hình ảnh hai bát cháo có nhiều nét tương đồng sâu sắc. Đó đều là bát cháo bình dị của nông thôn nghèo khó chẳng có thịt đậm hương thơm ngon ngọt mà chỉ là những thứ đơn giản nhất của người nhà nông thậm chí là còn không được nấu bằng gạo mà bằng cám. Tuy nhiên đó là bát cháo hiện thân của tình người đầy bao dung, ấm áp, bát cháo cho con người ta thêm hy vọng để sống có ích có ý nghĩa hơn. Bát cháo hành của thị cho Chí sự hồi sinh và hạnh phúc làm người, bát cháo cám của bà cụ Tứ cho đôi vợ chồng lời động viên chân thành và niềm tin để vượt qua những tháng ngày đói khát cùng cực.
    Hình ảnh hai bát cháo mang giá trị hiện thực nghiệt ngã. Chí bị xã hội ruồng bỏ, “Tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi khi hắn qua” chỉ có thị là thấy hắn hiền như đất, chỉ có thị là cảm thông và thấu hiểu cho hoàn cảnh của hắn để rồi chỉ một bát cháo và sự chân thành cảm hóa được Chí. Bát cháo cám là hiện hữu của cái nghèo, đói đến đáng sợ. Hiện thực qua hai bát cháo tố cáo xã hội đã đẩy người nông dân như Chí đến mức đường cùng của của thú dữ, đẩy những người nghèo khổ như gia đình Tràng rơi vào hoàn cảnh éo le bên bờ vực giữa sự sống và cái chết mong manh.
    Từ giá trị hiện thực ấy mà làm nổi bật lên giá trị nhân đạo, tư tưởng, tình cảm của tác giả được thể hiện và gửi gắm thông điệp đến bạn đọc. Bát cháo hành minh chứng cho sức mạnh của tình người, Nam Cao luôn tin vào giá trị tốt đẹp của con người không bao giờ bị mất đi mà chỉ cần có cơ hội lại trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt. Bát cháo cám cho ta hy vọng dù đứng bên ranh giới sống chết nhưng con người ta vẫn luôn có niềm tin, động viên lẫn nhau cùng vượt qua khó khăn làm nên điều khác biệt khi cùng viết về người nông dân Kim Lân đã từng nói: “Khi viết về nạn đói người ta thường viết về sự khốn cùng và bi thảm. Khi viết về con người năm đói người ta hay nghĩ đến những con người chỉ nghĩ đến cái chết. Tôi muốn viết một truyện ngắn với ý khác. Trong hoàn cảnh khốn cùng, dù cận kề bên cái chết nhưng những con người ấy không nghĩ đến cái chết mà vẫn hướng tới sự sống, vẫn hi vọng, tin tưởng ở tương lai. Họ vẫn muốn sống, sống cho ra con người.” Dù chỉ xuất hiện ở cuối tác phẩm nhưng chi tiết hai bát cháo rất có ý nghĩa, để lại sự suy tư và ám ảnh cho độc giả.
    Mỗi một nhà văn ở một giai đoạn khác nhau nên có cái nhìn và quan điểm khác nhau khi đối diện với hiện thực. Nam Cao viết “Chí Phèo” trước cách mạng tháng Tám nên cái nhìn của ông đối với người nông dân ở giai đoạn này là bế tắc, tuyệt vọng nên kết thúc truyện là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người, Chí đã cầm dao đâm chết Bá Kiến và tự sát, thị nhìn xuống cái bụng của mình và hình ảnh cái lò gạch cũ lại thoáng hiện lên. Kim Lân thì lại khác tác phẩm “Vợ nhặt” được viết ngay sau cách mạng tháng Tám thành công nên người nông dân trong truyện luôn có niềm tin vào cuộc sống mới, đặc biệt là kết thúc nhà văn để hình ảnh lá cờ đỏ sao vàng bay phấp phới xuất hiện. Quan điểm tưởng khác nhau nên mới tạo ra sự khác biệt. Cùng viết về một đề tài là người nông dân nhưng trong mỗi tác phẩm người nông dân lại hiện lên khác nhau trong suy nghĩ cho thấy nét độc đáo riêng, thể hiện phong cách văn chương của mỗi nhà văn.
    Như vậy chi tiết bát cháo hành trong “Chí Phèo” của Nam Cao và bát cháo cám trong “Vợ nhặt” của Kim Lân có nhiều giá trị về cả nội dung và nghệ thuật làm nên sự thành công của tác phẩm có đóng góp cho nền văn học dân tộc. Hai bát cháo mang giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc để lại ấn tượng độc đáo trong trong lòng độc giả. Gập lại trang sách nhưng ắt hẳn chúng ta không thể quên bát cháo hành tình người và bát cháo cám tình thương đầy suy ngẫm, trăn trở cho giá trị sống, giá trị làm người khi có mặt ở trên đời.

  • 2 bài văn mẫu Cảm nhận về chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo

    2 bài văn mẫu Cảm nhận về chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo

    2 bài văn mẫu Cảm nhận về chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về chi tiết bát cháo hành trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Vài nét về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo: Nam Cao là tác giả của nhiều truyện ngắn hiện thực xuất sắc. Trong số những tác phẩm tiêu biểu của ông, không thể bỏ qua Chí Phèo, một truyện ngắn chứa đựng chiều sâu tư tưởng của nhà văn Nam Cao
    – Trong mỗi tác phẩm văn học, chi tiết nghệ thuật tuy nhỏ nhưng có những chi tiết lại mang ý nghĩa vô cùng to lớn trong việc thể hiện tư tưởng, chủ đề tác phẩm. “Bát cháo hành” trong Chí Phèo là một trong những chi tiết nghẹ thuật như thế!

    II. Thân bài
    1. Sự xuất hiện
    – Chi tiết xuất hiện trong phần giữa truyện
    – Sau cuộc gặp gỡ về thể xác giữa Chí Phèo và thị Nở ở vườn chuối, sáng hôm sau, Chí Phèo bị cảm. Chính Thị Nở là người đã chủ động về nhà nấu cháo sang mang sang cho Chí Phèo
    2. Bát cháo hành trong sự cảm nhận của Chí Phèo
    – Nồi cháo còn nóng nguyên….vừa sang thị đã đi tìm gạo, hành thì may nhà lại còn
    – Bát cháo hành khiến Chí Phèo rất “ngạc nhiên” và thấy “mắt như ươn ướt”, bởi vì đây là lần đầu tiên hắn được một người đàn bà cho
    – Bát cháo hành khiến Chí Phèo “bâng khuâng”
    – Cảm nhận: “Cháo mới thơm làm sao!”- bát cháo là sự quan tâm của Thị Nở dành cho hắn
    – Chỉ khói xông vào mũi cũng đủ làm người nhẹ nhõm
    – Hắn nhận ra cháo hành rất ngon
    ⇒ Bát cháo hành giản dị trong cảm nhận của Chí Phèo là thứ rất ngon, đó là chi tiết khiến hắn lần đầu tiên và cũng là duy nhất cảm thấy được quan tâm, nó đánh thức nhân tính bấy lâu nay bị vùi lấp trong Chí Phèo
    3. Ý nghĩa chi tiết bát cháo hành
    – Về nội dung:
    + Thể hiện tình yêu thương của Thị Nở dành cho Chí phèo
    + Là hương vị của hạnh phúc, tình yêu muộn màng mà Chí Phèo được hưởng
    + Khơi dậy niềm khao khát được làm hoà với mọi người, hi vọng vào một cơ hội được trở về với cuộc sống lương thiện
    – Về nghệ thuật:
    + Khắc họa sâu sắc nét tính cách, tâm lí và bi kịch của nhân vật Chí Phèo
    + Đây là chi tiết thúc đẩy cốt truyện phát triển
    + Là chi tiết tác giả gửi gắm niềm tin vào sức mạnh cảm hóa con người bằng tình người

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vai trò của chi tiết bát cháo hành trong việc đánh thức sự lương thiện trong tâm hồn Chí nói riêng và trong việc thể hiện chủ để, tư tưởng truyện nói chung
    – Liên hệ cảm nhận của bản thân về chi tiết đặc sắc này

    Bài văn mẫu 1

    Nam Cao nhà văn hiện thực xuất sắc của văn học Việt Nam hiện đại. Nhắc đến Nam Cao là nhắc đến kiệt tác Chí Phèo với sự thành công xuất sắc về mặt nội dung. Nhưng bên cạnh đó, để tạo nên thành công cho tác phẩm, cũng không thể không nhắc đến những đóng góp về phương diện nghệ thuật. Trong đó các chi tiết nghê thuật có vai trò đặc biệt quan trọng, nhất là chi tiết bát cháo hành Thị Nở mang cho Chí Phèo.
    Chí Phèo vốn là một đứa trẻ mồ côi, lớn lên là một anh nông dân lương thiện, có những ước mơ, khát vọng đẹp đẽ. Nhưng vì sự ghen tuông của Bá Kiến khi bắt gặp Chí bóp chân cho bà ba nên Chí đã bị Bá Kiến đẩy vào nhà tù thực dân bảy, tám năm. Nhà tù thực dân đã nhào nặn ra một Chí Phèo với ngoại hình gớm giếc: cái đầu cạo trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, trên người đầy những hình xăm trổ và lấy nghề rạch mặt ăn vạ để sống. Trên mặt hắn là những vết sẹo dài, lằn sâu không gì có thể xóa bỏ được. Chí đã bị xã hội thực dân nửa phong kiến làm cho tha hóa về nhân hình và nhân tính.
    Trong một lần Chí Phèo đi uống rượu từ nhà Tư Lãng trở về, hắn không về thẳng nhà như mọi lần mà ra bờ sông tắm. Cũng chính lúc ấy, Chí nhìn thấy Thị Nở đang nằm ở gốc chuối. Bất chấp những lời kêu la của Thị Nở, trong khung cảnh của đêm trăng sáng giữa Chí Phèo và Thị Nở đã nảy sinh mối tình đẹp đẽ, nhưng chỉ vẻn vẹn trong năm ngày. Nửa đêm hôm ấy, Chí Phèo bị cảm nặng, Thị Nở dìu Chí vào lều và sáng hôm sau mang cho Chí một bát cháo lớn với ý nghĩ: Thổ trận ấy thật là phải biết. Cứ gọi là hôm nay nhọc đừ. Phải cho hắn ăn tí gì mới được. Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành, ra được mồ hôi thì là nhẹ nhõm người ngay đó mà … . Trong ý nghĩ ấy không chỉ là trách nhiệm mà còn là tình thương, sự quan tâm, lo lắng rất đỗi chân thành giữa con người với con người. Chi tiết bát cháo hành chứa đựng nhiều ý nghĩa, thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác giả.
    Đối với Thị Nở, bát cháo hành thể hiện ý thức trách nhiệm của Thị Nở với Chí Phèo: mình bỏ hắn lúc này thì cũng bạc. Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau . Nhưng không chỉ vậy, bát cháo còn là tình yêu thương chân thành, thật lòng của Thị Nở dành cho Chí Phèo: Cái thằng liều lĩnh ấy kể ra cũng đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình. Như vậy vừa xuất phát từ trách nhiệm, nghĩa vụ, vừa xuất phát từ tình yêu thương, Thị Nở đã đem bát cháo đến cho Chí Phèo.
    Đối với Chí Phèo, trước hết nó là bát cháo giúp hắn giải cảm, giúp hắn vượt qua trận ốm. Nhưng nếu bát cháo hành chỉ có ý nghĩa như vậy thôi thì nó đã không xứng danh là một chi tiết nghệ thuật đặc sắc. Bát cháo hành đã giúp Chí thức tỉnh, đi từ cõi quên trở về cõi nhớ, giúp Chí giải độc tâm hồn, dần lấy lại phần nhân tính trong mình. Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt, đó là sự xúc động tột cùng của Chí khi lần đầu tiên trong đời nhận được sự quan tâm, săn sóc từ một người khác, mà đây lại là một người đàn bà. Từ trước đến nay hắn chưa bao giờ tự nhiên có cái gì, mọi thứ đều do dọa nạt, cướp giật mà có. Từ đó cũng cho thấy sự thê thảm, bị gạt ra khỏi lề xã hội của Chí trong hoàn cảnh hiện tại. Không chỉ vậy, bát cháo hành còn gợi dậy trong Chí tình yêu, khát khao được làm hòa với mọi người, được trở về làm người lương thiện: Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao ! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Như vậy, chỉ với một bát cháo hành nhưng đã góp phần thức tỉnh phần nhân tính bị vùi lấp bấy lâu nay của Chí Phèo. Đồng thời bát cháo hành cũng là hương vị hạnh phúc, tình yêu thương hiếm hoi, muộn màng mà Chí được nhận. Cùng với bát cháo hành, tình yêu thương đã giúp thức tỉnh bản chất lương thiện trong Chí Phèo.
    Bát cháo hành là chi tiết nghệ thuật đặc sắc, góp phần thúc đẩy mạch truyện tiếp tục phát triển. Qua đó còn khắc họa nét tính cách, tâm lí và bi kịch của cuộc đời Chí Phèo. Đồng thời chi tiết này cũng thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của Nam Cao: ông luôn có niềm tin vào phần con người, phần nhân tính của mỗi con người, chỉ cần trong những điều kiện và hoàn cảnh thích hợp nhất định con người tha hóa cũng sẽ được cảm hóa.

    Bài văn mẫu 2

    Nam Cao là nhà văn hiện thực tiêu biểu của nền văn học Việt Nam trong giai đoạn 1930-1945. Ông thành công với tác phẩm “Chí Phèo” tái hiện lại hoàn cảnh của người nông dân trước cách mạng tháng Tám bị chèn ép đến mất hết nhân hình lẫn nhân tính. Tuy nhiên ông cũng là nhà văn giàu lòng nhân đạo đã dành cho nhân vật của mình tình thương con người được thể hiện qua chi tiết bát cháo hành mà thị Nở nấu cho Chí Phèo. Bát cháo ấy là hiện thân của tình người thức tỉnh lương tri Chí, cho hắn niềm tin và hy vọng. Đây là chi tiết nghệ thuật mang giá trị nhân văn nhân đạo sâu sắc, để lại cho độc giả nhiều suy tư, trăn trở.
    Mỗi một hình tượng nhân vật, một chi tiết nghệ thuật đều là tâm tư, tình cảm và dụng ý của tác giả gửi gắm. Không phải ngẫu nhiên mà Nam Cao để cho thị Nở xuất hiện với bát cháo hành bình dị mà lại có giá trị to lớn về cả nội dung và nghệ thuật đối với tác phẩm làm nên thành công và nét độc đáo riêng của nhà văn.
    Sau lần gặp nhau vô tình như duyên trời se đã cho hai tâm hồn đồng điệu tìm về với nhau. Trận nôn mửa và cơn sốt bất thường đêm hôm ấy ập đến với Chí khiến cho thị Nở có lòng thương với hắn. Thị nghĩ “Cái thằng liều lĩnh ấy kể ra thì đáng thương, còn gì đáng thương bằng đau ốm mà nằm còng queo một mình”, thị không thể quên chuyện đêm qua và cũng không nỡ bỏ hắn bởi: “bỏ hắn lúc này thì cũng bạc. Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau! Ăn nằm với nhau như vợ chồng”. Chính lòng thương và tình cảm chân thành thôi thúc thị nấu nồi cháo hành cho Chí để rồi cho hắn được hồi sinh.
    Bát cháo hành của thị Nở dành cho Chí là biểu hiện của tình người. Bấy lâu nay Chí bị mọi người xa lánh, bị coi là con quỷ dữ của làng Vũ Đại nên ai cũng sợ, cũng tránh mặt mỗi khi hắn đi qua, không một ai quan tâm đến sự tồn tại và có mặt của Chí. Chính vì vậy hành động ân cần, chân thành của thị qua bát cháo hành khiến cho hắn ngạc nhiên và cảm động bởi đây là lần đầu tiên hắn được người khác cho, được săn sóc bởi tay một người đàn bà khiến hắn xúc động “mắt hắn hình như ươn ướt”. Giọt nước mắt của phần người trong Chí đã tan chảy, trái tim tưởng chừng như sắt đá đã bắt đầu sống dậy để cảm nhận hương vị cháo hành, hương vị cuộc sống, tình yêu bình dị mà lần đầu tiên hắn được hưởng. Nhờ có bát cháo hành mà thị Nở và Chí Phèo “Chúng sẽ làm thành một cặp rất xứng đôi”, chúng được sống đúng nghĩa làm người, sống đúng bản năng và phẩm chất của mình bấy lâu bị khuất lấp, bị lãng quên nay trỗi dậy mãnh liệt.
    Bát cháo hành và tình cảm chân thành của thị cho Chí niềm tin, hy vọng, khao khát muốn trở lại làm người lương thiện và sống một cuộc đời tử tế. “Bát cháo của thị làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được, sao lại chỉ gây thù?” thị Nở đã mở đường cho hắn để hoàn lương, thị chính là nhịp cầu kết nối hắn với thế giới bên ngoài. Chí đã hồi sinh với khao khát trở lại với cuộc đời bình dị làm một người bình thường như bao người: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao”.
    Tuy nhiên bát cháo hành cũng là sự tuyệt vọng của Chí khi hắn bi thị Nở từ chối, bị cự tuyệt quyền làm người. Trong giây phút đau đớn nhất hương cháo hành “thoang thoảng”, thoáng chốc hiện ra khiến cho Chí Phèo chìm sâu hơn vào nỗi tuyệt vọng. Hắn đã ở bên kia cái dốc cuộc đời nhưng đây mới là lần đầu tiên được ăn cháo hành, dù cho là bởi đôi bàn tay của người đàn bà xấu xí ma chê quỷ hờn nhưng dẫu sao vẫn có còn hơn không, dù muộn nhưng vẫn có ý nghĩa đối với cuộc đời hắn. Tưởng rằng được hồi sinh chìm trong hương cháo hành của riêng mình nhưng định kiến xã hội đã tước đoạt đi quyền làm người ấy. Hắn phải gào lên “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này?” tiếng kêu ấy thống thiết và đau đớn đến vô cùng không còn cách nào khác để giải thoát ngoài cái chết. Không có gì bình thường, bình dị như hơi cháo hành đến vậy, bát cháo hành qua cái nhìn và tấm lòng nhân đạo của Nam Cao trở thành một nhát dao cứa rớm máu tâm hồn đã bị tổn thương chai sần nơi Chí để giờ đây hắn chìm đắm trong tuyệt vọng và cái chết. Viết được như vậy chỉ có ngòi bút tài hoa của thiên tài mới làm được điều đó.
    Qua chi tiết bát cháo hành cho thấy vẻ đẹp nhân cách, vẻ đẹp tâm hồn của người đàn bà dòng giống con nhà mả hủi, xấu ma chê quỷ hờn đã vậy lại còn nghèo và dở hơi. Cái xấu của ngoại hình đã hội tụ hết ở thị Nở. Xấu đau xấu đớn xấu xúc phạm người nhìn bởi “Cái mặt của thị đích thực là một sự mỉa mai của hóa công” ấy vậy mà con người ấy lại có tấm lòng nhân hậu, có lòng bao dung, sự cảm thông chia sẻ đối với Chí. Chính những phẩm chất tiềm ẩn ấy đã đưa Chí ra khỏi những tháng ngày tăm tối của quỷ dữ.
    Chi tiết bát cháo hành thể hiện cái nhìn nhân đạo nhân văn của Nam Cao. Ông luôn tin vào sự tốt đẹp trong con người lương thiện và khẳng định chỉ có tình người mới cảm hóa được tội ác. Bản chất lương thiện và khát khao hạnh phúc là bản tính tự nhiên tốt đẹp trong con người không bao giờ bị mất đi dù cho bị quỷ dữ tha mất linh hồn nhưng chỉ cần được thắp sáng bởi ngọn lửa tình người nó lại trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt.
    Chi tiết bát cháo hành của thị Nở khiến cho ta liên tưởng nhớ đến bát cháo cám của bà cụ Tứ trong tác phẩm “Vợ nhặt” của Kim Lân đó đều là bát cháo bình dị thôn quê, bát cháo của tình người, tình thương ấm áp chỉ có con người mới có được và dành cho nhau. Bát cháo hành tuy chỉ xuất hiện với tư cách là một chi tiết nhỏ thể hiện nội dung tác phẩm nhưng có giá trị lớn, đánh dấu mở đầu cho sự thay đổi tâm lí nhân vật Chí Phèo, là cột mốc bước ngoặt thay đổi cho cuộc đời Chí được sống là chính mình.
    Như vậy với tài năng của nhà văn Nam Cao chi tiết bát cháo hành trong tác phẩm “Chí Phèo” có giá trị hiện thực và giá trị nhân đạo sâu sắc. Một mặt tố cáo xã hội tàn nhẫn đẩy người nông dân đến bước đường cùng, một mặt ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của họ. Gập trang sách lại nhưng hình ảnh bát cháo hành với dư vị tình người để lại ám ảnh suy tư và bài học cho độc giả. Trong cuộc sống hãy biết yêu thương, sẻ chia và đùm bọc lẫn nhau và chỉ có tình thương chân thành mới có sức mạnh cảm hóa.

  • 2 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo

    2 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo

    2 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích quá trình bị tha hóa của nhân vật Chí Phèo

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nhân vật Thị Nở trong tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Vài nét về tác giả Nam Cao và truyện ngắn Chí Phèo
    – Khẳng định trong truyện ngắn có một tình yêu nảy sinh giữa Chí Phèo và người đàn bà xấu “ma chê quỷ hờn”, nhưng không thể phủ nhận đó là nhân vật có vị tri quan trọng, it nhất, cũng coi Chí như một “con người” – Thị Nở

    II. Thân bài
    1. Ngoại hình
    – Miêu tả khách quan, trần trụi: một người “ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hớn”
    + Ngẩn ngơ: hành độngt hep bản năng
    + Xấu ma chê quỷ hờn: từng đường nét trên khuôn mặt không giống với những gì nên có trên khuôn mặt con người
    + Đã vậy, Thị còn nghèo và nhà có mả hủi:
    ⇒ Thị khó có được hạnh phúc bởi một con người mang trên mình toàn những điều bất lợi
    2. Là con người với phẩm chất tốt đẹp, giàu tình người
    – Nam Cao xây dựng hình tượng nhân vật Thị Nở xấu ma chê quỷ hờn không phải để miệt thị mà nhằm làm nổi bật nội tâm đầy tình thương của Thị Nở
    + Sau cuộc gặp gỡ vào đêm định mệnh, Thị Nở dành sự quan tâm cho Chí Phèo:
    + Thị Nở quan tâm đến Chí Phèo, nấu cháo hành cho Chí ăn khi hắn bị ốm. Bưng bát cháo hành thị Nở đưa cho “hắn thấy mắt mình hình như ươn ướt. Bởi vì lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho”
    + Chính thị Nở đã suy nghĩ về Chí Phèo: “Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người” ⇒ một cái nhìn khác với những cái nhìn của người làng Vũ Đại
    +Tình cảm và sự quan tâm của Thị Nở với Chí Phèo đã như một liều thuốc chữa lành bao nhiêu “vết thương, vết rạch” để Chí Phèo quay trở lại thành một ngườ với sự lương thiện trong căn tính
    ⇒ Chính tình thương và sự quan tâm khiến Thị trở nên có duyên trong mắt Chí
    3. Thị Nở còn là người có khát khao hạnh phúc gia đình
    – Thị Nở thích cuộc sống gia đình có vợ có chồng
    – Suy nghĩ rất nghiêm túc về mối quan hệ với Chí
    – Đối với Chí, cảm giác “ngượng ngượng mà thinh thích”
    – Bởi khát khao và suy nghĩ nghiêm túc về hạnh phúc gia đình nên Thị đã trở về xin phép bà cô và thái độ tức giận khi bà cô từ chối
    4. Là nhân vật góp phần làm nổi bật chủ đề tác phẩm: bi kịch cuộc đời Chí Phèo
    – Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao muốn làm trọn vẹn thêm vấn đề trung tâm của tác phẩm: sự bi thảm trong bi kịch cuộc đời Chí Phèo
    + Ban đầu, Thị Nở và Chí Phèo đến với nhau chỉ bởi sự chung đụng về mặt thể xác
    +Sau đó, chính tình thương của Thị Nở đã làm thức dậy sự lương thiện vốn có trong Chí
    + Khi Thị Nở từ chối Chí, Chí Phèo từ chỗ khát khao và hạnh phúc đến tột cùng bị đẩy xuống tận cùng của nỗi tuyệt vọng ⇒ đẩy Chí đến những hành động sau này: uống rượu, xách dao đi giết Bá Kiến và tự sát
    ⇒ Thị Nở là nhân vật thúc đẩy sự phát triển của câu chuyện, đồng thời cho người ta cảm nhận sâu sắc hơn bi kịch của nhân vật chính: Chí Phèo

    III. Kêt bài
    – Khẳng định những nét nghệ thuật làm nên hình tượng nhân vật Thị Nở
    – Xây dựng nhân vật Thị Nở, Nam Cao trao tấm lòng trân trọng vào con người, đồng thời cũng phơi bày thực tế tàn bạo, khắc nghiệt của xã hội đẩy người nông dân vào bi kịch

    Bài văn mẫu 1

    Chí Phèo là một trong những truyện ngắn xuất sắc nhất của Nam Cao khi viết về đề tài người nông dân. Bên cạnh nhân vật chính Chí Phèo để lại những dấu ấn khó phai trong lòng người đọc, thì ta cũng không thể quên được một Thị Nở xấu ma chê quỷ hờn, nhưng lại có tâm lòng thương người sâu sắc. Nhân vật là một nét mới, làm sâu sắc thêm chủ đề, tư tưởng của tác phẩm.
    Thị Nở được miêu tả bằng biện pháp cực tả, được Nam Cao nhận xét là xấu ma chê quỷ hờn: Cái mũi thì vừa ngắn, vừa to, vừa đỏ, vừa sần sùi như vỏ cam sành, bành bạnh muốn chen lẫn nhau với những cái môi cũng cố to cho không thua cái mũi: có lẽ vì cố quá cho nên chúng nứt nở như rạn ra. Ðã thế thị lại ăn trầu thuốc, hai môi dày được bồi cho dày thêm một lần, cũng may quết trầu sánh lại, che được cái màu thịt trâu xám ngoách. Ðã thế những cái răng rất to lại chìa ra: ý hẳn chúng nghĩ sự cân đối chữa được một vài phần cho sự xấu. Cái xấu của Thị Nở đã đạt điển hình, có thể coi như một mẫu mực về cái xấu, trong cuộc sống này có lẽ ít ai lại có thể xấu đến như vậy. Chính bởi vẻ ngoài quá xấu xí, tính tình lại dởi hơi, sống trong gia đình là mả hủi nên Thị Nở không có cơ hội để tìm kiến hạnh phúc cho riêng mình. Bản thân Thị Nở cũng là một số phận bất hạnh. Vẻ đẹp của Thị Nở có thể không được phô bày ra bên ngoài, dễ dàng, rõ thấy mà nó là vẻ đẹp ẩn chìm, khuất lấp bên trong, đó là vẻ đẹp của nhân cách, của lòng yêu thương con người.
    Thị Nở và Chí Phèo gặp nhau ở bờ sông, khi thị Nở nằm cạnh gốc chuối ngủ, còn Chí uống rượu say ở nhà Tự Lãng trở về ra bờ sông tắm. Sự gặp gỡ của họ thật tình cờ. Nhưng sự gặp gỡ đó mở ra cơ hội hạnh phúc cho cả hai người, đặc biệt là với Thị Nở. Sau đêm đó, Thị Nở dìu Chí Phèo về lều do hắn bị cảm, trước khi về Thị Nở không quên đắp manh chiếu cho Chí khỏi lạnh. Cử chỉ nhỏ bé nhưng cho thấy tình yêu thương, sự quan tâm của Thị với Chí. Thị trở về nhà vẫn luôn quan tâm lo lắng và có trách nhiệm với Chí : “Mình mà bỏ hắn lúc này thì cũng bạc. Dẫu sao cũng đã ăn nằm với nhau! Ăn nằm với nhau như vợ chồng…. Đêm qua thổ trận ấy thật là phải biết. Cứ gọi hôm nay nhọc đừ. Phải cho hắn ăn tí gì mới được. Đang ốm thế thì chỉ ăn cháo hành. Ra được mồ hôi thì là nhẹ nhõm người ngay đó mà…”. Ý thức được trách nhiệm của bản thân với Chí, sáng hôm sau Thị Nở nấu cháo và mang sang tận nợi, cử chỉ của Thị nở thấm đẫm tình yêu thương, Thị giục Chí ăn nhanh, trong giọng nói không chỉ là sự quan tâm, lo lắng mà còn đầy tình tứ. Nụ cười của Thị với những người xung quanh thật xấu xí và vô duyên, nhưng với Chí thì Trông thị thế mà có duyên. Tình yêu làm cho có duyên. Dưới con mắt tình nhân mọi thứ đều trở nên đẹp đẽ hơn, và cũng nhờ sự quan tâm của Thị Nở trong Chí dần dần phần người, phần nhân tính đã trở lại.
    Với nhân vật Thị Nở ta không thể quên chi tiết bao cháo hành. Đó không chỉ đơn thuần là bát cháo giúp Chí giải cảm mà đó còn là bát cháo của tình thương, trách nhiệm và bát cháo của sự hồi sinh nhân tính. Bát cháo đã làm Chí vô cùng ngạc nhiên, hết ngạc nhiên hắn thấy mắt mình ươn ướt, vì đây là lần đầu tiên hắn nhận được sự quan tâm từ một người đàn bà, và đây cũng là lần đâu hắn biết cháo hành ngon đến vậy. Bởi có ai nấu cho mà ăn đâu ? Mà còn ai nấu cho mà ăn nữa ! Đời hắn chưa bao giờ được săn sóc bởi một bàn tay « đàn bà ».
    Không chỉ vậy, Thị Nở còn là người biết khao khát hạnh phúc. Sau đêm ăn nằm với Chí Phèo, Thị Nở về nhà và lăn lộn không ngủ được, nghĩ đến những chuyện đã qua, nghĩ đến hai chữ “vợ chồng” và thức dậy cho mình bản năng, khát vọng hạnh phúc đã ấp ủ từ lâu. Trước lời đề nghị về sống chung với Chí, Thị Nở đã sẵn sàng vượt qua định kiến, sang ở với Chí năm ngày. Đó là những ngày tháng đẹp đẽ và hạnh phúc nhất của Thị. Sau năm ngày chẵn, Thị chợt nhớ ra mình còn có bà cô và Thị trở về nhà hỏi ý kiến của bà cô để hợp thức hóa quan hệ với Chí Phèo, để cũng được hưởng hạnh phúc bình dị như biết bao người phụ nữ khác. Nhưng trước lời đay nghiến, chỉ trích của bà cô: Đã nhịn được đến bằng này tuổi thì nhịn hắn : ai lại đi lấy thằng Chí Phèo. Mọi cơ hội hạnh phúc bị dập tắt, tính Thị lại dở hơi nên đem bao nhiêu bực dọc sang đổ lên đầu Chí Phèo và quay trở về không mảy may nghĩ ngợi. Thị là người đã khơi dậy niềm tin vào tương lai, hi vọng cho Chí, nhưng cũng chính lá người đã dập tắt, đã ngăn con đường trở về làm người lương thiện của Chí Phèo. Chi tiết cuối tác phẩm, khi Chí Phèo giết Bá Kiến và tự sát, sau đó Thị Nở nhìn nhanh xuống bụng mình và thoáng thấy cái lò gạch cũ, như một dự báo về một Chí Phèo con ra đời. Cái kết đầy ám ánh, nó cũng như ngầm dự báo về tương lai mờ mịt của Thị Nở.
    Nhân vật Thị Nở chỉ là nhân vật phụ trong tác phẩm, nhưng với nhân vật này Nam Cao cũng bộc lộ niềm thương yêu và cảm thông sâu sắc đến số phận bất hạnh của họ. Nhân vật có ý nghĩa quan trọng đối với việc thể hiện chủ đề tác phẩm và góp phần thúc đẩy câu truyện phát triển.
    Bằng những chi tiết nghệ thuật đắc sắc, Nam Cao đã khắc họa thành công nhân vật Thị Nở, cho thấy số phận bất hạnh của người nông dân trước cách mạng. Đồng thời cũng cho thấy vẻ đẹp nhân cách sáng ngời đằng sau lớp vỏ xù xì, xấu xí. Nhân vật đã góp phần hoàn chỉnh chủ đề và thúc đẩy truyện phát triển hợp lí.

    Bài văn mẫu 2

    “Chí Phèo” là một kiệt tác của nhà văn Nam Cao phản ánh nỗi thống khổ của người nông dân dưới chế độ thực dân nửa phong kiến. Tác phẩm thành công với việc khắc họa hình tượng nhân vật Chí Phèo nhưng bên cạnh đó nhân vật phụ thị Nở cũng có vai trò quan trọng trong truyện. Bởi thị tuy xấu xí về ngoại hình nhưng đẹp về nhân cách, là người thức tỉnh lương tri bị ngủ quên trong Chí, thị Nở trở thành kiểu nhân vật có một không hai trong lịch sử văn học.
    Nhân vật thị Nở xuất hiện trong hoàn cảnh một đêm trăng thanh ả đi gánh nước rồi ngủ quên bên bụi chuối cạnh nhà Chí. Anh Chí vừa uống rượu say bên nhà tự Lãng vô tình gặp “một người đàn bà ngồi tênh hênh” với bản năng của người đàn ông cùng bát cháo hành tình yêu của thị Nở là cầu nối vô hình để Chí hoàn lương.
    Thị Nở xuất thân là con nhà nghèo không còn ai thân thích ngoài bà cô già cũng không chồng như thị. Hai cô cháu sống trong một cái nhà tre, thị sống bằng nghề lặt vặt ở làng, chủ yếu là gánh nước thuê kiếm ăn. Đã nghèo lại còn xấu và ngẩn ngơ. Có lẽ thị là nhân vật nữ xấu nhất trong lịch sử văn học Việt Nam mà nhà văn miêu tả. “Người ta không ai sợ kẻ khác phạm đến cái xấu, cái nghèo cái ngẩn ngơ của mình, mà thị lại chỉ có ba cái ấy” nghèo, xấu, ngẩn ngơ tạo thành ba đỉnh tam giác không nhân vật nào có được như thị. Ngòi bút của ông thật tài tình khi miêu tả gương mặt: “Một người ngẩn ngơ như những người đần trong cổ tích và xấu ma chê quỷ hờn” chỉ bốn từ “Ma chê quỷ hờn” ta có thể hình dung ra cái mặt của thị là một sự mỉa mai của hóa công khiến cho người ta sợ hãi và lảng tránh bởi dòng giống con nhà mả hủi. Không phải Nam Cao bôi nhọ vẻ đẹp của người phụ nữ Việt, phải chăng đây cũng là một dụng ý nghệ thuật tác giả để thị như vậy mới “sánh” được với Chí Phèo-một thằng lưu manh chuyên hành nghề rạch mặt ăn vạ.
    Khác với cách miêu tả nhân vật truyền thống là ngoại hình bên ngoài phải ăn nhập với nhân phẩm bên trong nhưng thị đi ngược lại hoàn toàn với điều đó. Thị Nở-người đàn bà xấu về ngoại hình nhưng lại có nhân cách tốt đẹp, đáng trân trọng. Thị đã dành tình yêu thương chân thành, mộc mạc cho Chí khi đã ngủ cùng hắn trong đêm trăng thanh dưới bụi chuối hai linh hồn cô độc đã tìm về để sưởi ấm cho nhau. Thị đã dìu Chí vào trong túp lều xộc xệch sau trận nôn mửa lúc nửa đêm, tình yêu bắt đầu chớm nở từ bát cháo hành. Chí ngạc nhiên và cảm động vô cùng bởi đây là lần đầu tiên hắn được săn sóc bởi tay một người đàn bà. Chính thị đã khiến Chí tỉnh lại sau bao cơn say triền miên vô tận. Ăn bát cháo bát cháo hành từ tay thị Nở hắn bỗng nhận ra rằng: “cháo hành rất ngon, bát cháo hành của thị Nở làm hắn suy nghĩ nhiều. Hắn có thể tìm bạn được sao lại chỉ gây thù?” bát cháo ấy là hương vị của hạnh phúc của tình thương chân chất những con người nghèo khổ dành cho nhau. Trong mắt của kẻ say tình lúc này thị Nở bỗng trở nên có duyên, tình yêu làm cho có duyên. Phải chăng ấy là cái duyên ngầm bấy lâu đã bị xã hội vùi dập nay mới có cơ hội thể hiện ra bên ngoài. Nam Cao thật tài tình khi phát hiện ra điều đó qua cái nhìn của một con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
    Thị còn là người cho Chí hy vọng được hoàn lương, mong muốn làm người lương thiện, khao khát trở lại với cuộc đời bình thường: “Trời ơi! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao…thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không được” thị chính là cầu nối giữa hắn với mọi người, thị là người cứu rỗi linh hồn tội lỗi đưa nó trở về với bản chất lương thiện. Lúc này Chí mong muốn có được hạnh phúc gia đình bình dị như mơ ước khi còn là một anh canh điền hiền lành“Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ ở nhà dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Thị Nở đã đánh thức lương tri làm người bị ngủ quên, bị khuất lấp trong con người Chí để giờ đây trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt.
    Nhưng thị lại không phải người tỉnh táo bình thường mà lại là đứa ngẩn ngơ, kẻ dở hơi nên hạnh phúc ngắn ngủi trôi qua, tình yêu bị tắt ngấm khi cô ả dở chứng về hỏi ý kiến bà cô. Bà cô già-đại diện cho định kiến xã hội phản đối kịch liệt chuyện tình đôi lứa Chí Phèo và Thị Nở đồng nghĩa với việc “Con đường làm người của Chí vừa được hé mở ra thì đã bị đóng sầm lại”. Chí bị cự tuyệt quyền làm người, bị xã hội bất công bất lương đẩy đến mức đường cùng phải tự sát sau khi giết Bá Kiến.
    Tuy nhân vật thị Nở chỉ xuất hiện ở đoạn cuối tác phẩm nhưng đã cho Chí những phút giây hạnh phúc, những ngày được sống đúng với bản chất lương thiện. Thị Nở là hiện thân của tình người. Và chỉ có tình người, tình yêu mới có thể cảm hóa được con quỷ dữ trong người Chí Phèo. Tình người là một sức mạnh nhưng tình người cũng thật mong manh dễ vỡ khi con người ta không biết nâng niu, trân trọng và gìn giữ.
    Qua nhân vật thị Nở nhà văn để lại cho độc giả giá trị nhân đạo sâu sắc chỉ có tình cảm chân thành xuất phát từ trái tim mới có sức mạnh kì diệu cảm hóa được con người tội lỗi. Qua đây ta cũng có được bài học nhận thức đúng đắn đừng “Nhìn mặt mà bắt hình dong” ngoại hình bên ngoài tuy xấu xí nhưng chỉ cần bên trong con người có tình thương yêu, nhân hậu và biết quan tâm đến người khác thì họ cũng rất đẹp, rất đáng được trân trọng và được yêu thương. Ở ngoài kia có biết bao người nhan sắc xinh đẹp nhưng chưa chắc họ đã có được tấm lòng tràn ngập tình thương như thị Nở.
    Thị Nở tuy chỉ là nhân vật phụ xuất hiện trong chốc lát nhưng thị là ngọn lửa sưởi ấm và thắp lên ánh sáng lương tri làm người trong Chí, nhân vật mang lại giá trị nhân văn cho tác phẩm “Chí Phèo”. Dù thị xấu xí, nghèo khổ nhưng tràn ngập tình thương đó là phẩm chất cao đẹp của người phụ nữ Việt. Gập lại trang sách bấy lâu nhưng hình tượng nhân vật thị Nở cùng mối tình bất hạnh với Chí Phèo vẫn ám ảnh trong suy nghĩ và tâm hồn của độc giả.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích quá trình bị tha hóa của nhân vật Chí Phèo

    3 bài văn mẫu Phân tích quá trình bị tha hóa của nhân vật Chí Phèo

    3 bài văn mẫu Phân tích quá trình bị tha hóa của nhân vật Chí Phèo

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo

    [toc]

    Đề bài: Phân tích quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Đôi nét về tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo
    – Trong tác phẩm, quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo được ngòi bút Nam Cao tập trung khắc họa một cách chân thực và rõ nét

    II. Thân bài
    1. Sơ lược về nhân vật Chí Phèo trước khi bị tha hóa
    – Hoàn cảnh xuất thân: không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dúi cũng không có
    – Tuy vậy, Chí vẫn giữ những phẩm chất tốt đẹp:
    + Là một con người lương thiện: đi ở hết nhà này đến nhà khác, cày thuê cuốc mướn để kiếm sống ⇒ làm ăn chân chính
    + Từng mơ ước giản dị về cuộc sống gia đình: có một ngôi nhà nho nhỏ, chồn cày thuê cuốc mướn… ⇒ Chí Phèo là một người lương thiện.
    + Có lòng tự trọng: Bà ba Bá Kiến gọi lên đấm lưng, bóp chân, Chí cảm thấy nhục ⇒ Là người có ý thức về nhân phẩm.
    2. Quá trình bị tha hóa
    – Sự kiện Chí Phèo bị bắt vào tù:
    + Vì Bá Kiến ghen với vợ hắn.
    + Chế độ nhà tù thực dân đã biến Chí trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”
    – Hậu quả của những ngày ở tù:
    + Hình dạng: “Cái đầu trọc lốc, hàm răng cạo trắng hớn, cái mặt thì câng câng đầy những vết sứt sẹo, hai con mắt gườm gườm”
    ⇒ Sự tha hóa về nhân hình
    + Nhân tính: du côn, du đãng, triền miên trong cơn say, đập đầu, chửi bới, phá phách và làm công cụ cho Bá Kiến
    ⇒ Sự tha hóa về nhân tính
    – Quá trình tha hóa của Chi Phèo: Đến nhà Bá Kiến trả thù ⇒ Chí mắc mưu, trở thành tay sai cho Bá Kiến
    ⇒ Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính, là điển hình cho hình ảnh người nông dân bị đè nén đến cùng cực
    3. Quá trình thức tỉnh
    a. Sự thức tỉnh sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở
    – Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở, lần đầu tiên Chí Phèo thực sự “tỉnh”
    + Bâng Khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài
    + Tỉnh để cảm thấy miệng đắng và “lòng mơ hồ buồn”
    + Cảm thấy “sợ rượu” ⇒ dấu hiệu của sự thức tỉnh rõ ràng nhất
    + Cảm nhận những thanh âm của cuộc sống: âm thanh của tiếng chim hót, tiếng người cười nói…
    + Hắn đủ tình để nhận thức hoàn cảnh của mình, để thấy mình cô độc
    ⇒ Cuộc gặp với Thị đã làm Chí Phèo thực sự tỉnh táo sau những cơn say triền miên
    – Niềm hi vọng của thời trẻ quay trở lại: mong muốn một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải; nuôi lợn, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng
    – Tình yêu với Thị Nở khiến hắn đủ hi vọng và mong ước có một gia đình: “Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”
    ⇒ Gặp Thị Nở, Chí Phèo đã trải qua những cảm xúc chưa hề có trong đời, đã thực sự “tỉnh” để yêu, để hi vọng, để mong ước
    b. Từ bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người đến sự thức tỉnh nhận rõ kẻ thù
    – Tình yêu bị ngăn cấm bởi bà cô thị Nở, nởi vậy, khi Thị Nở từ chối, Chí Phèo thất vọng và đau đớn: Hắn tìm đến rượu rồi “ôm mặt khóc rưng rức”
    ⇒ Mong muốn trở về làm người lương thiện không còn nữa, Chí đau đớn, tuyệt vọng
    – Hắn quyết định đến nhà thị Nở “để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó”.
    – Nhưng “hắn không rẽ vào nhà thị Nở mà thẳng đường đến nhà Bá Kiến và nói thẳng với Bá Kiến: Chí Phèo xác định đúng kẻ thù của mình
    – Câu hỏi: “Ai cho tao lương thiện”: thể hiện sự thức tỉnh rõ ràng nhất nhưng cũng là đau đớn nhất, Chí Phèo nhận ra rằng mình mong muốn trở về thành người lương thiện nhưng không thể nào được nữa
    ⇒ Hành động tự kết liễu thể hiện sự thức tỉnh rõ ràng nhất và cũng đau đớn nhất

    III. Kết bài
    – Khái quát những nét đặc sắc nghệ thuật góp phần thể hiện quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo: nghệ thuật khắc họa tâm lí, bút pháp hiện thực…
    – Liên hệ trình bày cảm nhận bản thân

    Bài văn mẫu 1

    Nam Cao là một trong những cây bút xuất sắc nhất của trào lưu văn học hiện thực Việt Nam. Những tác phẩm của ông không chỉ chứa đựng làm lượng hiện thực lớn mà còn sâu sắc về nhân đạo. Trong đời văn, ông để lại nhiều tác phẩm, nổi bật nhất là tác phẩm Chí Phèo viết về đề tài người nông dân. Tác phẩm vừa cho thấy sự tha hóa vừa cho thấy sự thức tỉnh của họ. Cho nên tác phẩm chứa được giá trị nhân văn, nhân đạo to lớn.
    Trước hết về quá trình tha hóa của Chí Phèo được Nam Cao mô tả hết sức logic và chi tiết : Chí Phèo từ người nông dân lương thiện, trở thành kẻ lưu manh và cuối cùng là con quỷ dữ của làng Vũ Đại.
    Chí Phèo vốn là một đứa con hoang, bị mẹ bỏ rơi ở lò gạch cũ ngay từ khi mới sinh ra. Hắn lớn lên bơ vơ, đi ở hết nhà này đến nhà khác. Trưởng thành là một thanh niên cường tráng, Chí làm canh điền cho Bá Kiến – một cường hào trong vùng, nổi tiếng độc ác, nham hiểm. Bấy giờ Chí là một người lương thiện, hiền như đất và là người giàu lòng tự trọng. Bà ba bắt bóp chân hắn chỉ thấy nhục mà không hề thích thú. Bấy giờ mơ ước của Chí thật giản dị, nhỏ bé : chồng cày thuê cuốc mướn, vợ dệt vải. Tuy nhiên, trong một lần Ba Kiến nổi cơn ghen vu vớ đã khiến Chí bị bắt vào tù. Nhà tù thực dân đã biến một người lương thiện trở thành một kẻ khác hắn, Chí rơi vào quá trình tha hóa, khi phần người bị nhà tù thực dân giết chết, tạo tác nên một tên lưu manh với hình hài gớm giếc. Bảy, tám năm ở tù đã khiến Chí biến đổi về nhân hình: cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, hắn mặc chiếc quần nái đen, phanh trước ngực là những hình xăm trổ. Ai nhìn thấy hắn cũng xa lánh, những lời hắn chửi mọi người vẫn luôn tự nhủ chắc nó chừa mình ra. Hắn làm tan nát biết bao gia đình, hắn sẵn sàng chửi bớt, đốt quán, rạch mặt ăn vạ,.. Tất cả mọi người đều xa lánh hắn.
    Không chỉ dừng lại là một kẻ lưu manh, dưới bàn tay quỷ quyệt của Bá Kiến, Chí Phèo còn trở thành con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Bá Kiến đã từng bước một biến Chí Phèo thành công cụ giúp hắn gây thêm tội ác, chỉ cần Chí Phèo có hơi men trong người thì bất cứ việc gì hắn cũng có thể làm. Hắn tác quái cho bao nhiêu dân làng, phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổi bao nhiêu hạnh phúc… . Chí Phèo trượt dài trong vũng bùn tha hóa, tự tay Chí Phèo đã hủy hoại cả nhân hình và nhân tính của chính mình. Với quá trình tha hóa của Chí Phèo Nam Cao đã vạch trần bộ mặt độc ác, nham hiểm, nhẫn tâm của bọn địa chủ cường hào ở nông thôn, của nhà thù thực dân đã hủy hoại cuộc đời của một con người, đã đẩy Chí vào con đường lưu manh, tha hóa.
    Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó, thì tác phẩm của Nam Cao lại không thành công và có giá trị sâu sắc đến vậy. Nam Cao đã tiếp tục dùng con mắt tin yêu của mình để nhận thấy bản chất lương thiện ẩn sâu bên trong lốt quỷ dữ kia. Sau đêm gặp gỡ với thị Nở, sáng tỉnh dậy lần đầu tiên sau khi ra tù Chí mới lắng lòng cảm nhận âm thanh của cuộc sống : tiếng chim hoát, tiếng người đi chợ,… những âm thanh vui vẻ đó đã đánh thức, kéo hắn ra khỏi chuỗi ngày dài trong u mê, tăm tối. Nhắc Chí nhớ về ngày trước và giúp Chí nhận ra sự thể thảm của bản thân trong hiện tại và tương lại là sự đói rét và cô độc. Sự nhận thức ấy chính là mốc đánh dấu sự thức tỉnh ý thức, nhân tính trong con người Chí.
    Để phần người ấy có thể thực sự trỗi dậy, sống lại còn phải cần đến một chất xúc tác quan trọng hơn nữa, đó chính là tình yêu thương thị Nở dành cho Chí Phèo. Chỉ là một bát cháo giản dị, nhưng Chí Phèo đi từ ngạ nhiên, đấy xúc động, đến hạnh phúc, bởi đời Chí Phèo chưa được ai cho cái gì bao giờ, và hắn cũng chưa từng được chăm sóc bởi bàn tay của một người đàn bà. Bát cháo hành đã đánh thức trong Chí khát khao lành mạnh, chân chính: Trời ơi ! Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao và Chí gửi gắm mọi niềm tin vào thị Nở, đó sẽ là người mở đường cho Chí quay về hòa nhập với cộng đồng. Quả thật bằng sự yêu thương chân thành, mà thật giản dị cũng có thể cảm hóa một con người tưởng như đã ở đáy của sự tha hóa. Đó là niềm tin của Nam Cao vào sức mạnh cảm hóa của con người bằng tình yêu thương và sự chân thành.
    Nhưng sự xuất hiện của thị Nở chỉ như cầu vồng sau mưa, niềm tin tưởng của Chí không được bao lâu thì bị dập tắt hoàn toàn, khi Chí bị thị Nở cự tuyệt. Chí Phèo bấy giờ mới cay đắng nhận ra khoong thể làm mất đi những vết sẹo trên mặt và cũng không thể làm người lương thiện được nữa. Chí Phèo ý thức sâu sắc bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của mình. Không còn con đường nào khác, hắn giết Bá Kiến và tự kết liễu chính mình. Cái chết ấy là sự hủy diệt con quỷ ở nhân hình và để giữ lại phần nhân tính trong sâu thẳm Chí Phèo. Đồng thời cái chết của Chí Phèo cũng cho thấy khao khát mãnh liệt của người nông dân bị tha hóa muốn trở về làm người lương thiện.
    Quá trình tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo cho thấy giá trị hiện thực nhân đạo sâu sắc của tác phẩm. Vừa là tiếng nói tố cáo đanh thép xã hội vô nhân đạo, vừa là sự cảm thương cho số phận của những người nông dân lương thiện khi bị đẩy vào bước đường cùng. Đồng thời, thể hiện quá trình tha hóa của nhân vật cũng cho thấy nội lực sáng tạo nghệ thuật già dặn, cây bút sắc sảo, tạo nên một hình tượng nhân vật đa dang, nhiều chiều, để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn đọc.

    Bài văn mẫu 2

    Viết về đề tài người nông dân đã có rất nhiều cây đại thụ thành công trên nhiều khía cạnh, đó là một thử thách lớn cho các nhà văn đến sau như Nam Cao nhưng với ý thức “Văn chương không cần đến sự khéo tay, làm theo một cái khuôn mẫu. Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu, biết tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo ra cái gì chưa có” mà tác phẩm “Chí Phèo” của ông vượt lên thử thách sống mãi với thời gian. Điều làm nên giá trị nổi bật nhất của tác phẩm là ở chỗ: “Khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân mà trái lại đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để khẳng định nhân phẩm của họ, ngay cả khi họ bọ xã hội cướp đi cả nhân hình, nhân tính”. Quá trình Chí Phèo bị tha hóa và thức tỉnh là một nét tiêu biểu minh chứng cho điều đó và có giá trị nhân văn sâu sắc. Một mặt vừa đanh thép tố cáo xã hội phong kiến trước năm 1945, một mặt khẳng định bản chất tốt đẹp của con người chỉ bị khuất lấp chứ không bao giờ bị bất đi.
    Chí bản chất vốn là một con người hiền lành, lương thiện ngay từ khi sinh ra đã “trần truồng và xám ngắt trong một cái váy đụp để bên cái lò gạch bỏ không” được một anh đi thả ống lươn nhặt được đem về cho người đàn bà góa mù. Người đàn bà này lại bán hắn cho bác phó cối, bác ta mất Chí bơ vơ sống như cây như cỏ đi ở hết nhà này nhà nọ. Đến năm hai mươi tuổi hắn làm canh điền cho Bá Kiến, trong nhà có bà ba vợ ông lí thường hay dở trò với hắn. Ông chồng thì vốn hay ghen nhưng lại sợ vợ nên tìm cách đẩy Chí vào tù ở những năm tháng hoài bão, khát vọng của chàng trai trẻ. Chính chế độ hà khắc của nhà tù thực dân phong kiến đã biến một anh canh điền trở thành một thằng lưu manh để cho thế lực hắc ám như Bá Kiến hoàn thành nốt công đoạn biến hắn thành một con quỉ.
    Quá trình tha hóa của Chí được bắt đầu sau bảy, tám năm đi ở tù nay hắn trở về làng Vũ Đại chẳng khác gì con quỉ dữ với ngoại hình “Trông đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trông gớm chết”. Diện mạo bên ngoài của Chí được tác giả đặc tả qua mấy câu văn con người hắn hiện lên thật đáng sợ và quá khác biệt với trước đây. Chí không còn là anh canh điền hiền lành mà là một thằng đầu bò chính cống với hành động hung hãn, lời nói thô tục vừa về đến làng hôm trước hôm sau đã thấy ngồi uống rượu với thịt chó từ trưa đến xế chiều. Hắn say khướt rồi xách vỏ chai đến nhà Bá Kiến rạch mặt ăn vạ. Nhưng hắn bị Bá Kiến_kẻ xảo trá, quỷ quyệt thu phục chỉ bằng vài lời nói dối ngọt ngào, vài lời nịnh bợ để hắn nguôi ngoai cơn giận ra về. Để rồi lần thứ hai đến Chí không gây gổ, ăn vạ mà điệu bộ hiền lành như đất gãi đầu, gãi tai đòi Cụ Bá cho đi ở tù nhưng thực chất là đòi miếng ăn chỗ ở-nhu cầu chính đáng của con người. Mục đích và yêu cầu ấy thật đáng trân trọng nhưng một lần nữa lại bị Bá Kiến lợi dụng biến Chí thành tay sai đắc lực là tên chuyên đi đòi nợ cho hắn. Kể từ đó cuộc đời của Chí triền miên trong cơn say “Những cơn say của hắn tràn cơn say này sang cơn say khác, thành một cơn dài, mênh mông, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy vẫn còn say,…” mà trong lúc say thì hắn có thể làm bất cứ cái gì mà người khác sai bảo. Chính điều đó đã biến hắn trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại” “Phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện” hắn đã khiến cho “tất cả dân làng đều sợ hắn và tránh mặt hắn mỗi khi hắn đi qua”. Chị Dậu dù phải bán con bán chó bán sữa nhưng quyết không bán lương tâm, nhân phẩm đạo đức còn Chí bán cả linh hồn cho quỷ dữ. Vạch ra một cách logic quá trình lưu manh tha hóa của Chí Phèo- hiện tượng độc đáo cho dòng văn học hiện thực tố cáo xã hội phong kiến nửa thuộc địa tàn nhẫn bất công, chà đạp lên tinh thần và thể xác của lao động nghèo khổ, đẩy họ đến bước đường cùng.
    Tưởng rằng những tháng ngày sau đó của Chí vẫn chìm đắm trong men say, sống mãi với kiếp thú vật nhưng Nam Cao là một nhà văn giàu tình thương, có tấm lòng nhân đạo lớn ông không nỡ cho nhân vật của mình say mãi mà không có phút giây tỉnh để làm người. Chính vì vậy nên ông đã để thị Nở-người con gái quá lứa lỡ thì, xấu ma chê quỷ hờn đến đưa Chí ra khỏi cơn say, đánh thức lương tri làm người bị khuất lấp đã lâu trong con người hắn. Đêm hôm ấy khi uống rượu dưới nhà tự Lãng say mèm trên con đường về nhà hắn gặp thị “Một người đàn bà ngồi tênh hênh”. Với bản năng của một người đàn ông và trận ốm lúc nửa đêm cùng bát cháo hành và tấm lòng của thị đã thức tỉnh phần người bấy lâu bị vùi lấp ở Chí.
    Từ khi đi ở tù về đây là lần đầu tiên Chí hết say và tỉnh táo để nghĩ về quá khứ, tương lai và cảm nhận âm thanh của cuộc sống. “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”. Những âm thanh quen thuộc ấy ngày nào chả có cớ sao hôm nay hắn mới để ý bởi đây là lần đầu tiên hắn tỉnh, lần đầu tiên hắn biết sợ rượu như người ốm sợ cơm. Chí khi ấy nhận thức được bản thân mình đã ở cái dốc bên kia của cuộc đời, hắn đã già mà vẫn còn cô độc và cơ thể như đã bị hư hỏng nhiều, tương lai cuộc sống mờ mịt bởi hắn đã chịu quá nhiều bất hạnh. “Chí Phèo như đã trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Nam Cao đã đi sâu vào nội tâm của nhân vật không ngờ con quỷ dữ ấy cũng có ngày biết nghĩ biết sợ trước cho tương lai của mình. Chí đang dần hồi sinh kiếp người hắn nghĩ lại ngày xưa cũng đã từng có một thời mơ ước cuộc sống của người nông dân “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Chí đã từng mơ về một hạnh phúc gia đình bình dị như thế nhưng đã bị bọn địa chủ cường hào chà đạp, vùi dập để cho giờ ngẫm lại thấy nuối tiếc vô cùng.
    Thị Nở xuất hiện với tấm lòng nhân ái cùng bát cháo hành đã khiến cho Chí từ ngạc nhiên, xúc động đến khao khát hoàn lương. Nếu như cuộc tiếp xúc đầu tiên với một cô gái để lại cho Chí ít nhiều rung cảm thì bát cháo hành tình yêu và sự săn sóc của thị khiến đã trở thành liều thuốc giải độc và chữa lành cơn sốt bất thường trong người Chí, chữa lành cả tâm hồn đã bị bóp méo để rồi giờ đây Chí khao khát được làm người lương thiện “Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Hắn thấy mắt hình như ươn ướt, đó là một điều đơn giản và dễ hiểu bởi đây là lần đầu tiên hắn được săn sóc bởi một tay “đàn bà”. Hắn ân hận thấy lòng thành trẻ con muốn làm nũng với thị như với mẹ. Sao hắn hiền đến thế khác hẳn với một thằng Chí mà bao người vẫn sợ thường ngày. Bản chất con người lương thiện đã trỗi dậy lấn át đi con quỷ dữ. Để từ đó hắn khao khát có một hạnh phúc gia đình “Giá như thế này mãi thì thích nhỉ” đây là một câu tỏ tình xuất phát từ một trái tim chân thành, thuần phác, giản dị không hoa mĩ cầu kì trong ngôn từ. Chí đang ngẩn người nghĩ và mơ về tương lai của hạnh phúc có thị. Chí sẽ chấm dứt cuộc sống cô độc và tàn nhẫn bắt đầu lại đời người khi còn chưa muộn. Nam Cao quả là nhà nhân đạo chủ nghĩa của dòng văn học hiện thực dù cho khoảng thời hạnh phúc ấy ngắn ngủi trong năm ngày đếm trên đầu ngón tay nhưng đã cho thấy giá trị đạo đức tốt đẹp của con người chưa bao giờ bị mất đi có chăng chỉ là bị khuất lấp, vùi dập và chỉ cần có cơ hội nó sẽ trỗi dậy để sống lại làm một người lương thiện tử tế.
    Đặc biệt là đỉnh cao của sự thức tỉnh nằm ở cuối tác phẩm với hành động cầm dao đâm chết Bá Kiến và tự sát khi Chí bị thị Nở từ chối, bị xã hội cự tuyệt quyền làm người. Chí lựa chọn cái chết cho mình và kẻ thù là khi hắn thức tỉnh, ý thức nhân phẩm đã trở về hắn không chấp nhận được kiếp sống quỷ dữ, thú hoang nên phải kết liễu nó để làm lại cuộc đời. Nút thắt của câu chuyện đã được tháo gỡ bởi án mạng hai xác chết để lại ám ảnh cho độc giả. Như vậy Chí thức tỉnh không chỉ ở những ngày hạnh phúc mà còn là khoảnh khắc đau đớn, tuyệt vọng và căm uất vô cùng.
    Viết về quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của Chí Phèo ngòi bút của Nam Cao như vừa khơi sâu vào hiện thực vừa mang nét trữ tình đặc sắc. Nhà văn đã khắc họa ngoại hình và lột tả thế giới nội tâm nhân vật thật tài tình, ngôn ngữ gần gũi với lời ăn tiếng nói hằng ngày của nhân dân để lại ấn tượng trong lòng độc giả về một tên Chí Phèo lưu manh nhưng vẫn khao khát làm người lương thiện.
    Quá trình bị tha hóa và thức tỉnh của nhân vật Chí Phèo có giá trị nhân đạo sâu sắc Nam Cao đã khẳng định bản chất lương thiện và khao khát hạnh phúc là bản tính tự nhiên tốt đẹp tồn tại mạnh mẽ trong tâm hồn con người không bao giờ bị hủy diệt ngay cả khi con người ta bị tha hóa bị đẩy vào mức đường cùng nhưng chỉ cần có cơ hội là trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt. Qua đó cũng cho ta bài học nhận thức sống trên đời cần có sự quan tâm chia sẻ và dành cho nhau tình yêu thương bởi tình yêu thương làm cho người gần người hơn và có thể cảm hóa những trái tim, tâm hồn đang lầm đường lạc lối trở về con đường chính đạo.

    Bài văn mẫu 3

    Năm 1941, Nhà xuất bản Đời mới cho ra đời truyện ngắn “Đôi lứa xứng đôi”. Năm 1946, truyện được tái bản, Nam Cao đổi tên truyện thành “Chí Phèo”. Đó là một truyện ngắn độc đáo viết về đề tài nông dân trước cách mạng. Nam Cao không nói vể tô tức, sưu thuế, mà đi vào hiện tượng lưu manh hoá ở nông thôn. Qua cuộc đời của nhân vật Chí Phèo, tác giả đã sáng tạo nên một bức tranh xã hội chân thực về đời sống khổ cực và thê thảm của người dân cày và nông thôn Việt Nam dưới thời Pháp thuộc.
    Với cảm quan hiện thực sắc sảo, với trái tim nhân hậu thiết tha, với hiểu biết sâu sắc về nông thôn, Nam Cao đã thể hiện một cách xúc động con đường bị tha hoá của nhân vật Chí Phèo, tạo nên giá trị tố cáo xã hội của tác phẩm đầy ám ảnh.
    Làng Vũ Đại, cái đất “quần ngư tranh thực” đã nở ra một Chí Phèo. Hắn sinh ra đã khổ rồi. Không cha mẹ, không một tấc đất cắm dùi, tứ cố vô thân. Tuổi thơ hắn vồ cùng đau khổ, đầy bất hạnh. Năm 20 tuổi, Chí Phèo làm canh điền cho bá Kiến. Vợ ba bá Kiến đã bắt hắn “bóp chân, hay xoa bụng, đấm lưng gì đấy…” mà Chí Phèo bị giải huyện, phải đi tù bảy, tám năm trời.
    Nhà tù thực dân đã biến anh canh điền hiền lành, cục mịch thành một tên lưu manh ngổ ngáo. Mặt hắn thay đổi đáng sợ “trông đặc như thẳng sắng đá”. Cái đầu trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, Cjậ mặt thì đen mà rất cơng comg, hai mắt gườm gườm, ngực và cánh tay chạm trổ rồng phượng, với ông tướng cầm chuỳ, trông gớm chết! Sự thay đổi của Chí “khắc hẳn”, đến nỗi cả dân làng Vũ Đại, mới đầu “chẳng ai biết hắn là ai”. Năm đó Chí Phèo 27 hay 28 tuổi gì đó.
    Về làng hôm trước thì hôm sau Chí Phèo ngồi ở chợ uống rượu với thịt chó suốt từ trưa đến xế chiều. Say khướt, hắn cầm một cại vỏ chai đến thẳng nhà bá Kiến “gọi tên tục ra mà chửi”, “chửi sướng miệng!’, “chửi ngoa ngoắt” làm sao! Cả làng Vũ Đại xưa nay đã có ai dám chửi bá Kiến như Chí Phèo? Lí Cường và Chí Phèo đã đấm, đã đá nhau “bình bịch”. Chí đập vỏ chai vào cột cổng, rạch mặt kêu làng. Hắn lăn lộn dưới đất “máu ra loe loét”. Cả làng Vũ Đại kéo đến xem. Như bị người ta cắt họng, hắn vừa chửi vừa kêu làng: “ôi làng nước ơi,bố con thằng bá Kiến nó đâm chết tôi!” . Bá Kiến một tên cường hào “khôn róc đời”, biết “mêm nắn rắn buông” đã xử nhũn với Chí. Cụ bá “thân mật” mời Chí vào nhà chơi. Cụ cho Chí biết là hắn “có họ” với lí Cường. Cụ giết gà, thết rượu, đãi thêm một đồng bạc để Chí uống thuốc. Hành động của Chí vừa mang tính chất rửa hận, trả thù, vừa mang tính chất côn đồ, nên hắn thấy hắn “cũng oai”, dám “độc lực chọi nhau” với cha con bá Kiến, bốn đòi làm tổng lí “khét tiếng” trong làng huyện. Hình ảnh Chí Phèo từ nhà bá Kiến ra về “loạng choạng vừa đi vừa cười”, hắn nghĩ đến bài thuốc dấu với vài nắm lá, là cái mặt hắn lại đâu vào đấy ngay, còn đồng bạc để uống rượu – cho ta thấy tính chất lưu manh của một anh nông dân ngu dốt đã bị tha hoá.
    Bốn ngày sau tiêu hết đồng bạc, Chí Phèo gây ra bao chuyện “động trời” ghê gớm. Hắn đốt quán mụ bán rượu… Hắn bốc của cô hàng xén một dúm muối trắng. Hắn vạn ba bốn quả chuối xanh của nhà nào đó. Hắn ngồi uống rượu với chuối xanh chấm muối và thấy rằng cũng ngon. Hành động ăn cướp ấy, cách ngồi uống rượu ấy ở cái miếu con tại bờ sông cho thấy Chí Phèo đã là một tên lưu manh rồi. Hắn đang đi tiếp con đường của Năm Thọ, của Binh Chức. Lần thứ hai, sáu ngày sau đi tù về, Chí Phèo lại đến nhà bá Kiến, với con dao nhọn và sắc bỏ trong túi áo, với “cái mắt thì ngầu lên, hai chân thì lảo đảo, cái môi bầm lại mà run bần bật”. Chí Phèo gặp cụ bá để “xin đi ở tù”, vì “từ ngày cụ bắt đi ở tù, con lại sinh ra thích ở tù”. Hắn nói là phải đâm chết dãm ba thằng, để cụ Bá bắt hắn giải huyện! Chí cho biết “đi tù sướng quá” vì đi tù “còn có cơm để mà ăn..”. Nhà văn Nam Cao đã phản ánh cay đắng tột cùng của một bộ phận nông dân trong xã hội cũ đã bị chính quyền thực dân phong kiến đẩy họ và con đường lưu manh hoá. Muốn sống chỉ có một con đường: lưu manh, ăn cướp! Với một tiếng cười “khanh khách” – cái cười Tào Tháo, với cái “vỗ vai” và một câu nói khích, bá Kiến đã sai được Chí Phèo cầm dao đến nhà đội Tảo “một tay vai vế trong làng” để đòi nợ 50 đồng bạc cho cụ.
    Chẳng phải giao tranh đổ máu, chỉ bằng mấy tiếng chửi phủ đầu, Chí đã đòi được món nợ mà đội Tảo toan “vỗ tuột”. Chí Phèo “vênh vênh”, tự thấy “oai thêm bậc nữa”, hắn tự đắc: “Anh hùng làng này cóc thằng nào bằng ta!”. Năm đồng bạc thưởng, năm sào vườn ở bãi sông mới cắm thuế của một ngưòi làng, cụ bá đã ban cho Chí Phèo. Và hắn đã trỏ thành “anh đầy tớ chân tay mới” của bá Kiến. Vốn vô học, đầu bò, lưu manh, Chí Phèo đã bị bá Kiến dụ dỗ mơn trớn, mua chuộc bằng vật chất, hắn bị tha hoá, trượt dài trên con đường tội ác và tội lỗi.
    Từ đó trở đi, bàn tay Chí Phèo vấy đầy máu. Người ta đầu độc hắn bằng rượu. Hắn trở thành kẻ đâm thuê chém mướn, phá bao nhiêu cơ nghiệp, làm chảy máu và nước mắt của bao nhiêu người lương thiện – Cuộc đời hắn giờ đây là những cơn say dài mênh mông, vô tận “hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say, thức dậy hãy còn say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới, doạ nạt trong lúc say..”. Cái mặt của Chí Phèo thật đáng sợ, như mặt của một con vật lạ, vằn dọc vằn ngang biết bao nhiêu là sẹo, “vàng vàng… xạm màu gio”. Cái thẻ biên tên hắn, hắn cũng không có. Hắn thuộc hạng lưu tán, người ta khai hắn “lâu nám không về làng”. Hắn không nhớ tuổi hắn, và “hắn không cỏn ngày tháng nữa”. Chí Phèo trở thành một kẻ điên khùng, gần như mất trí. Hắn vừa đi vừa chửi, cứ rượu xong là hắn chửi. Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại, chửi những ai không chửi nhau với hắn. Hắn chửi “đứa chết mẹ nào thân hắn” cho hắn khổ! Con đường tha hoá của Chí Phèo chỉ trong vòng hơn mười năm trời và hắn đã trờ thành một con quỷ dữ, rất ghê tởm. Tất cả dân làng “đểu sợ hắn” và “tránh mặt hắn” mỗi lần hắn qua! Cái chế độ thực dân phong kiến, mà kẻ chủ mưu là tên cường hào xảo quyệt bá Kiến đã cướp đi cả hình người, cả lình hồn người của Chí!
    Chí Phèo đã đi tiếp con đường của những quỷ dữ.
    Năm đó, Chí Phèo 38 hay 39, 40 hay ngoài 40? Mọi chuyện khủng khiếp cuộc đời của Chí diễn ra trong vòng sáu ngày đêm. Bắt đầu từ một đêm trăng rằm “ánh trăng chảy trên đường trắng tinh”. Chí Phèo bất ngờ đến nhà Tự Lãng, một anh goá vợ làm nghề hoạn lợn kiêm thầy cúng. Hai đứa ngồi uống rượu dưới ánh trăng, hết ba chai, như “một đôi tri kỉ cuồng”… Chính đêm trăng đó, Chí Phèo đã ôm lấy thị Nở mà làm tình, khi thị đang “há hốc” mồm ngủ dưới trăng. Chính đêm ấy, Chí Phèo bị cảm rất nặng. Mắt hoa lên. Chân tay thì lẩy bẩy. Mửa thốc, mửa tháo, mửa ồng ộc… Bát cháo hành và bàn tay săn sóc của thị Nở đã làm cho hắn cảm động, hắn bâng khuâng buồn, gần như là ăn năn. Bản tính của hắn, ngày thường bị lấp đi, nay được đánh thức dậy. Lâu nay, hắn doạ nạt, cướp giật mới có ăn. Lần đầu tiên, Chí được một người đàn bà săn sóc. Chí “thèm lương thiện”, hắn muốn “làm hoà” với mọi người. Hắn cũng muốn với thị Nở “làm thành một cặp rất xứng đôi”. Trận ốm cũng đã làm cho Chí thay đổi cả về sinh lí lẫn tâm lí nữa? Lần đầu tiên hắn nhớ lại mơ ước bình dị, lương thiện thời trai trẻ muốn “có một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải..”.
    Sau năm ngày đêm Chí Phèo với thị Nở sống với nhau như vợ chổng, thị Nở “đừng yêu” để thị hỏi bà cô thị đã. Bà cô thị xỉa xói thị, không cho thị lấy một kẻ chỉ có một nghề rạch mặt ăn vạ! thị Nở đã trút mọi bực dọc lên mặt nhân ngãi. Chí Phèo bị đẩy vào hố thẳm của bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Hắn tức quá, muốn đâm chết “cái con khọm già”. Hắn uống đến say mểm “rồi hắn đi!”. Với một con dao ở thắt lưng, Chí Phèo đến thẳng nhà bá Kiến chứ không đến nhà thị Nở! Lần thứ ba, Chí Phèo đến gặp bá Kiến, không phải để xìn tiền mà đòi lương thiện, hắn “không thê là người lương thiện nữa”, “làm thế nào chó mất được những vết mảnh chai trên mặt này?”. Đó I là những tiếng kêu đau đớn, uất hận, hãi hùng! Muốn được làm người lương thiện mà không ai cho, mà không thể được, cái bi kịch‘ấy của Chí Phèo thật khủng khiếp, đáng sợ! Kẻ bất lương muốn hoàn lương đã khó. Quỷ dữ làm sao có thể thành người lương thiện được? Chí Phèo chỉ còn một cách là đâm chết bá Kiến, kẻ làm hại đời anh, rổi tự sát! Cái chết cửa Chí Phèo là cái chết đầy bi kịch, cái chết khủng khiếp, đáng thương của một nông dân nghèo khổ, ngu dốt, bị XÔ đẩy, bị mua chuộc và bị đầu độc vào con đường tha hoá, lưu manh, tội lỗi không có lối thoát.
    Nam Cao đã xây dựng nhân vật Chí Phèo thành nhân vật điển hình vể sự thống khổ, lưu manh hoá, chết trong bi kịch thảm thương hãi hùng cửa một bộ phận nông dân trong xã hội thực dân phong kiến. Năm Thọ đi biệt tăm, Binh Chức đã chết, Chí Phèo đã tự sát, nhưng cái lò gạch cữ vẫn còn, thị Nở đã thấy thoáng hiện ra… một Chí Phèo con sẽ ra đời. Cái xã hội ấy có bao giờ hết được những kẻ như Chí Phèo?
    Qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã tố cáo và lên án cái xã hội thực dân phong kiến đã xô đẩy những người nông dân lương thiện vào con đường lưu manh, tội lỗi, đã cướp đi của họ cả hình người lẫn tính người. Truyện đã dựng nên một bức tranh hiện thực đen tối đầy máu, nước mắt và tội ác. Truyện “Chí Phèo” thấm đượm một tinh thần nhân đạo sâu sắc. Nó như một tiếng kêu thương: hãy xoá bỏ tận gốc mọi cái ác để cứu lấy con người, để người nghèo được làm người lương thiện, được sống trong lương thiện.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo

    3 bài văn mẫu Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo

    3 bài văn mẫu Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo: Đại diện cho khuynh hướng hiện thực. Chí Phèo là một đại điện tiêu biểu cho khuynh hướng này
    – Bằng ngòi bút hiện thực, Nam Cao đã khắc họa thành công bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo

    II. Thân bài
    1. Thế nào là bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người?
    – Bi kịch: Sự mâu thuẫn, đối lập giữa hiện thực đời sống với khát vọng con người
    – Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người: Sự mâu thuẫn giữa khát vọng quay trở lại làm một con người, khát khao được đối xử như một con người nhưng không được của Chí Phèo
    2. Bi kịch được thể hiện ngay trong tiếng chửi của Chí đầu truyện
    – “Hắn vừa đi vừa chửi..”.: sự xuất hiện tự nhiên
    – Qua tiếng chửi, chân dung nhân vật hiện lên:
    + Kẻ lưu manh cứ rượu vào là chửi
    + Đằng sau đó thấy Chí Phèo la nạn nhân ra sức cựa quậy, mong muốn được coi là người bình thường
    ⇒ Chí Phèo mong muốn được giao cảm với cuộc đời, nhưng không ai đáp lại, không ai coi hắn như một con người
    3. Bi kịch bị khước từ “quyền làm người” ngay từ khi sinh ra
    – Ngay từ khi sinh ra, Chí Phèo đã không được đối xử như một con người :
    + không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dúi cũng không có
    + Bị bỏ rơi tại lò gạch cũ giữa cánh đồng mùa đông
    + Tuổi thơ sống trong bất hạnh
    + Đã từng ước mơ lương thiện nhưng xã hội bóp chết ước mơ lương thiện ấy
    ⇒ Chí Phèo đáng thương đã không được đối xử như một đứa trẻ bình thường ngay từ khi mới sinh ra đã bị chối bỏ
    4. Bi kịch tha hóa là cơ sở dẫn đến bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người
    – Sự kiện Chí Phèo bị bắt vào tù:
    + Vì Bá Kiến ghen với vợ hắn.
    + Chế độ nhà tù thực dân đã biến Chí trở thành “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”
    – Hậu quả của những ngày ở tù:
    + Hình dạng: “Cái đầu trọc lốc, hàm răng cạo trắng hớn, cái mặt thì câng câng đầy những vết sứt sẹo, hai con mắt gườm gườm” ⇒ Chí Phèo đánh mất nhân hình.
    + Nhân tính: du côn, du đãng, triền miên trong cơn say, đập đầu, chửi bới, phá phách và làm công cụ cho Bá Kiến ⇒ Chí Phèo đã đánh mất nhân tính.
    – Quá trình tha hóa của Chi Phèo: Đến nhà Bá Kiến trả thù ⇒ Chí mắc mưu, trở thành tay sai cho Ba Kiến
    ⇒ Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính, là điển hình cho hình ảnh người nông dân bị đè nén đến cùng cực
    5. Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người
    – Nguyên nhân: do bà cô Thị Nở không cho Thị lấy Chí Phèo → định kiến của xã hội .
    – Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo:
    + Lúc đầu: Chí ngạc nhiên trước thái độ của Thị Nở
    + Sau Chí hiểu ra mọi việc: Tuyệt vọng, Chí uống rượu rồi xách dao đên nhà Bá Kiến đâm chết Bá Kiến và tự sát.
    – Ý nghĩa hành động đâm chết Bá Kiến và tự sát của Chí:
    + Đâm chết Bá Kiến là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân thức tỉnh về quyền sống.
    + Cái chết của Chí Phèo là cái chết của con người trong bi kịch đau đớn trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống làm người
    ⇒ Chí Phèo là tiêu biểu cho số phận người nông dân trong xã hội cũ bị chèn ép, đẩy vào bươc đường cùng

    III. Kết bài
    – Khái quát lại những nét đặc sắc nghệ thuật góp phầ thể hiện thành công bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo
    – Khẳng định đây là bi kịch chung cho những người nông dân trong xã hội cũ

    Bài văn mẫu 1

    Còn điều gì đau đớn và xót xa hơn khi ta vẫn hiện hữu trong cộng đồng, nhưng lại bị chính cộng đồng đó ruồng rẫy, bỏ mặc, đó là bi kịch đau xót nhất của con người – bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người. Bằng ngòi bút sắc sảo của một nhà văn hiểu đời và hiểu người, Nam Cao đã tái hiện chân thực, đầy xúc động bi kịch bị cự tuyện quyền làm người của nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên.
    Mở đầu ta không thấy chân dung bất cứ ai, chỉ có tiếng chửi là văng vẳng vang lên ngay từ đầu tác phẩm. Vì sao mà người đó phải chửi ? Vì sao tiếng chửi lại cay nghiệt, phẫn uất đến vậy ? Đó chính là tiếng chửi của Chí Phèo sau khi đi uống rượu say về, hắn chửi trời, chửi đời, rồi chửi làng Vũ Đại, chửi những đứa không chửi nhau với hắn, ngay cả người đẻ ra hắn hắn cũng không hần ngại chửi. Nhưng chỉ có một mình Chí độc thoại, không có bất cứ ai đáp lại vì nghĩ Chắc nó trừ mình ra. Thành thử ra chỉ có tiếng chó sủa hòa với tiếng một kẻ say đang chửi. Bi kịch của Chí ngay từ đầu đã được tác giả khơi mở. Để rồi sau đó ngược về quá khứ, thấy được những bi kịch nối dài cuộc đời Chí Phèo, mà bi kịch sau bao giờ cũng đau đớn, khổ sở hơn bi kịch trước.
    Chí Phèo ra đời ở một cái lò gạch cũ cũ hoang, được một anh thả uống lươn mang về nuôi. Ngay từ khi sinh ra Chí đã bị người mẹ đẻ của mình cự tuyệt quyền sống, quyền được làm người. Dù được cứu nhưng Chí cũng phải sống lang thang hết nhà này đến nhà khác. Cuộc đời Chí không nhà không cửa, không cha không mẹ, không họ hàng thân thích, không tấc đất cắm dùi… (Nguyễn Hoàng Khung ). Từ khi sinh ra cuộc đời Chí đã là một bi kịch.
    Khi lớn lên, là một anh nông dân khỏe mạnh, Chí đi làm thuê cho gia đình Bá Kiến, Chí hiền như đất, nhưng lại liên tục bị bà ba gọi lên bóp chân, trong lòng Chí chỉ thấy nhục, người ta không thích những thứ người ta khinh. Nhưng Chí lại bị con quỷ dâm đãng Bá Kiến bắt gặp, hắn ta đã tống Chí vào nhà tù thực dân cho thỏa nỗi ghen tuông. Bi kịch thứ hai đổ ấp xuống đầu Chí. Nhà tù thực dân với những ngón đòn độc ác, dã man đã biến Chí thành người khác hẳn, từ một người lương thiện Chí biến thành kẻ lưu manh: cái răng cạo trắng hớn, cái mắt gờm gờm,… khiến ai cũng phải sợ hãi. Hắn uống rượu say, đến nhà Bá Kiến rạch mặt ăn vạ và cuối cùng trở thành tay sai cho Bá Kiến. Hắn làm mọi việc mà Bá Kiến sai khiến, hắn đã phá vỡ hạnh phúc biết bao gia đình làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện. Chí Phèo chìm sâu vào hơi men, nhân tính và nhân hình ngày càng bị dìm xuống đáy. Chẳng ai còn nhận ra anh Chí Phèo hiền lành như đất của ngày xưa. Cuộc đời Chí trải qua hết cơn say này đến cơn say khác : Từ đấy, hắn bao giờ cũng say. Những cơn say của hắn tràn cơn này qua cơn khác […] thức dậy hãy còn say, đập đầu, rạch mặt, chửi bới, dọa nạt […] Chưa bao giờ hắn tỉnh […] Có lẽ hắn cũng không biết rằng hắn là con quỷ dữ của làng Vũ Đại đã tác quái cho bao nhiêu dân làng. Đời Chí Phèo trượt dài trên vũng lầy ấy. Giá thử Chí Phèo vẫn tiếp tục say, vẫn tiếp tục rạch mặt ăn vạ thì có lẽ Chí cũng tự quên đi bi kịch của chính mình. Nhưng không, Chí Phèo đã gặp ánh sáng của đời mình – Thị Nở, người đã khiến Chí nhận ra bi kịch của chính mình mà bấy lâu nay hắn cố tình không nhận ra hoặc hơi men đã khiến hắn quên mất.
    Trước khi gặp Thị Nở, Chí Phèo không ý thức được bi kịch của đời mình. Nhưng khi gặp thị Nở, nhận được sự quan tâm, chăm sóc đầy ân tình mà rất đỗi giản dị, đã làm thức dậy bản chất lương thiện trong Chí Phèo. Buổi sáng sau hôm gặp Thị Nở, lần đầu tiên trong suốt bao năm Chí nghe thấy những âm thanh quen thuộc của sự sống: tiếng chim hót, tiếng người ta đi chợ,… âm thanh thân thương và ấm áp quá. Âm thanh ấy gợi về trong Chí những ngày xưa bình dị, khi Chí còn là một người bình thường, với những mong ước giản đơn. Chí giật mình trở về hiện tại nhận thấy hiện tại và tương lai cô độc, đói rét. Chí rùng mình sợ hãi. Đặc biệt khi thị Nở mang bát cháo hành sang cho chỉ, bằng những cử chỉ ân cần mà hết sức tự nhiên, Chí Phèo thực sự xúc động, hắn thấy mắt mình ươn ướt. Tình yêu thương ấy đã giúp phục sinh con người vốn tưởng đã trở thành con quỷ, đã trở nên tha hóa nay phần nhân tính đã trở về. Trong Chí cũng thức dậy khao khát được làm hòa với mọi người, được làm người lương thiện. Bằng ngòi bút phân tích tâm lí đặc sắc, độc đáo Nam Cao đã nhận ra phần bản chất đẹp đẽ nhất của người nông dân sẽ không bị hủy diệt dù họ có bị vùi dập, tàn phá về thể xác.
    Nhưng còn gì đau đớn hơn, khi Chí đã sẵn sàng quay trở lại ngưỡng cửa của một con người bình thường, làm người lương thiện thì định kiến tàn nhẫn đã đóng sầm cánh cửa hi vọng của Chí. Chí bị cự tuyệt quyền làm người một cách đau đớn, phũ phàng. Lời bà cô chính là điển hình cho cực định kiến, đẩy Chí vào con đường tuyệt vọng : đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà phải lấy một thằng không cha, không mẹ chi biết rạch mặt ăn vạ. Hạnh phúc mong manh vừa hé mở thì đã bị xã hội độc đoán bóp nghẹt. Bi kịch lần này đau đớn hơn, khổ sở hơn bởi Chí đã ý thức được bi kịch của chính mình, Chí tỉnh táo để nhận ra rằng ngay cả khi bản thân sẵn sàng thay đổi để hòa nhập với cộng đồng thì họ vẫn chặn đứng Chí. Bởi vậy, Chí chỉ còn một cách duy nhất đó là giết tên đã gây nên bi kịch cho mình và tự giết chính mình. Chí chết đi, để giết chết nhân hình tha hóa, để giữ lại phần nhân tính đã thức tỉnh.
    Bi kịch cuộc đời Chí là do nhà tù thực dân, là do xã hội với những định kiến lỗi thời và cũng là do chính bản thân Chí. Với bi kịch bị cự tuyệt làm người một lần nữa Nam Cao khắc sâu hơn nỗi đau của người nông dân khi bị đẩy đến bước đường cùng. Đồng thời cũng cho thấy niềm tin của tác giả vào sự cảm hóa và bản chất người trong mỗi chúng ta. Qua đây cũng cho thấy tài năng nghệ thuật bậc thầy của Nam Cao.

    Bài văn mẫu 2

    Nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn cùng tên của Nam Cao là kiệt tác của dòng văn học hiện thực Việt Nam. Chí Phèo đại diện cho những người nông dân cùng cực bị đẩy đến đáy cùng của xã hội. Những tưởng cuộc đời Chí sẽ chìm trong đêm tối nhưng sau khi gặp thị Nở Chí đã hồi sinh kiếp sống làm người. tuy nhiên éo le thay bởi định kiến của bà cô thị cũng là của toàn xã hội đã gây bi kịch bị cự tuyệt làm người cho Chí thật đau đớn, xót xa để lại cho độc giả nhiều ám ảnh bởi tiếng kêu “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này?”
    Nam Cao thật tài tình khi đã khắc họa được tâm phức tạp của nhân vật khi bị thị Nở từ chối với những diễn biến tinh vi nhất bằng độc thoại bên trong, hành động bên ngoài và lời kể lời bình của tác giả…, đây là đoạn văn của đỉnh cao cho sự cởi nút thắt câu chuyện cũng là nút thắt trong cuộc đời nhân vật để cho hắn một lối thoát tất yếu cho bi kịch bị cự tuyệt làm người.
    Năm ngày bên thị thật bình yên hạnh phúc tưởng rằng cuộc đời Chí được hoàn lương từ giây phút ấy nhưng thị lại là một người đàn bà dở hơi, ngẩn ngơ đem câu chuyện tình của mình xin ý kiến bà cô_một người mang trong mình những định kiến xã hội không tốt về Chí. Bà cô già vẫn chưa có chồng thấy thị hỏi thì bật cười tưởng đùa nhưng khi biết tất cả sự thật lại hoảng hốt và cảm thấy nhục cho ông cha nhà bà, bà chua xót, uất ức cho bản thân đã dùng những lời lẽ cay độc xỉa xói vào mặt thị. “Bà gào lên như con mẹ dại”, “Có lấy thì lấy ai chứ, đàn ông chết hết cả rồi hay sao, mà lại đâm đầu lấy một thằng không cha không mẹ. Ai lại lấy một thằng chỉ có một nghề là đi rạch mặt ăn vạ”. Thị nổi giận đùng đùng sang nhà nhân ngãi chút tất thảy những lời lẽ cay độc ấy vào mặt hắn rồi “ngoay ngoáy cái mông đít đi ra về”. Vậy là con đường hoàn lương của Chí vừa được hé mở đã nhanh chóng đóng sầm lại bởi định kiến xã hội tàn bạo không cho Chí cơ hội để trở lại làm người lương thiện, chân chính.
    Chí đau đớn và thất vọng khi bị thị Nở chối từ. Hắn cứ ngồi ngẩn người, ngẩn mặt không nói gì. Điều đó cho thấy Chí đã hiểu về thói đời và cảnh ngộ của mình. Hắn ngửi thấy mùi cháo hành đây là một chi tiết độc đáo được lặp lại bởi đó là dư vị tình thương ít ỏi mà Chí đang rất cần. Tại sao nó lại chỉ xuất hiện “Thoáng một cái” trong lúc này như để trêu ngươi, chọc tức Chí. Hắn muốn níu giữ hương vị ấy, níu giữ tình người còn sót lại dù chỉ chút ít nên khi thị quay đi thì “Hắn sửng sốt đứng lên gọi lại… hắn đuổi theo thị nắm lấy tay” nhưng lại bị “Thị gạt ra, lại giúi thêm cho một cái. Hắn lăn khèo xuống sân” nỗ lực níu giữ đến cuối cùng cho con đường hoàn lương bởi chỉ có thị mới có thể mở đường cho hắn, thị là cầu nối cho hắn đặt chân lên nhịp cầu hi vọng nhưng một lần nữa hắn lại bị hắn hủi, ruồng bỏ phũ phàng, người đàn bà cho hắn tình thương và hạnh phúc, đặt trọn niềm tin và hi vọng nay cũng “dướn cái môi vĩ đại mà ném vào mặt hắn bao lời chửi mắng”. Như thế Chí Phèo thật sự rơi vào bi kịch tinh thần đau đớn, hắn đã bị xã hội cự tuyệt quyền làm người.
    Từ tận cùng của nỗi đau là sự phẫn uất và tuyệt vọng. Điều đó được thể hiện rõ trong suy nghĩ và hành động cuối cùng của nhân vật. Cũng như bao lần trước “đã lăn ra thì hắn phải kêu” phải uốn, phải đập đầu rạch mặt ăn vạ nhưng “tức quá, càng uống lại càng tỉnh ra. Tỉnh ra, chao ôi, buồn!” hắn không ngửi thấy mùi rượu sặc sụa nhưng lại “thoang thoảng thấy hơi cháo hành”. Hơi cháo hành tình người lần thứ ba được nhắc đến làm cho lương tri Chí trỗi dậy mạnh mẽ để rồi “hắn ôm mặt khóc rưng rức”. Đã bao lâu rồi hắn mới có được cử chỉ và giọt nước mắt của con người. Từ hi vọng đến tuyệt vọng, khởi đàu là giọt nước mắt cảm động hạnh phúc khi bưng bát cháo hành trên tay và kết thúc cũng là giọt nước mắt đau khổ khi bị thị Nở bỏ rơi. Cuộc đời thật nhẫn tâm khi cho người ta hy vọng rồi lại ném vào trong tuyệt vọng, cuộc đời cũng thật tàn ác khi mở đường cho Chí hoàn lương làm người tử tế rồi lại biến Chí trở thành con quỷ tàn ác nhất ngay cả với chính mình.
    Nỗi tuyệt vọng dâng đến đỉnh điểm tột cùng của căm uất với hành động kết thúc “Hắn ra đi với một con dao ở thắt lưng”. Cũng như mọi lần hắn vừa đi vừa chửi và dọa giết “nó”. Nó trong suy nghĩ ban đầu của Chí chính là thị “Hắn phải tự đến nhà con đĩ Nở kia. Để đam chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó” nhưng không biết vì điều gì mà hắn lại xông xông vào nhà cụ Bá. Dường như lúc này Chí không còn là một tên say rượu mà hắn đang rất tỉnh táo, chỉ có khi tỉnh táo thật sự mới có thể cảm nhận được nỗi đau đến vô cùng và hiểu rõ tội ác của kẻ thù đã hủy hoại đời hắn. Chí Phèo đã “trợn mắt chỉ tay” vào mặt Bá Kiến vênh vênh cái mặt kiêu ngạo mà khẳng định: “Tao đã bảo là tao không đòi tiền” mà dõng dạc đòi làm người lương thiện, đòilại bộ mặt người đã bị vằm nát của mình. Tiếng kêu thống thiết trước khi giết Bá Kiến và tự kết liễu đời mình đòi quyền làm người, đòi được sống trở lại ngay cả khi đang khi đang thở ở đoạn cuối tác phẩm: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này? Tao không thể làm người lương thiện nữa. Biết không! Chỉ còn một cách…biết không! Chỉ còn một cách là…cái này biết không!” Lời nói của Chí đanh thép đầy căm uất và phẫn nộ, tiếng thét lên từ bi kịch của nỗi đau và hình ảnh hắn giẫy đành đạch giữa bao nhiêu là máu tươi để lại ám ảnh cho người đọc bởi điều đó thể hiện cho một chân lí giọt nước đã tràn ly, tức nước thì vỡ bờ đó là điều tất yếu.
    Cái chết của Chí Phèo là hành động minh chứng cho sự khủng hoảng và bế tắc, tuyệt vọng không lối thoát, nó là kết quả cho sự hồi sinh và thức tỉnh của Chí, đó cũng là con đường duy nhất để Chí được làm người lương thiện bởi chỉ có kết thúc được những tháng ngày của quỷ dữ mới có thể bắt đầu để sống đúng nghĩa cuộc đời mình. Chí chết về ý thức nhân phẩm đã trở về, Chí không thể chấp nhận kiếp sống của thú hoang đành đóng cánh cửa cuộc đời này lại để mở ra cuộc sống mới ở kiếp làm người sau. Hoàn cảnh của Chí Phèo phản ánh một hiện thực mâu thuẫn, xung đột gay gắt của người nông dân với bọn địa chủ cường hào ở nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng Tám. Cái chết của Chí cảnh cáo cho xã hội phong kiến nửa thuộc địa nếu không thay đổi sẽ không biết còn có bao nhiêu người như Năm Thọ, Binh Chức, Chí Phèo rồi còn những Chí Phèo con_bản sao của Chí Phèo bố chưa ra đời. Nam Cao cũng chỉ ra một chân lí khách quan trong xã hội mà Karl Marx từng nói: “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”.
    Nam Cao với tấm lòng của nhà nhân đạo chủ nghĩa đã lựa cho Chí Phèo một lối thoát cho con đường hoàn lương hợp lí nhất. Chí Phèo không những được kể lại bằng ngôn ngữ của tác giả mà còn cả ngôn ngữ của các nhân vật khác như thị Nở, bà cô thị hay dân làng Vũ Đại. Nghệ thuật khắc họa tâm lí nhân vật được nhà văn tái bút thành công. Qua bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Nam Cao muốn đặt câu hỏi lớn về quyền sống và quyền làm người: làm thế nào để con người sống đúng nghĩa làm người trong một xã hội phi nhân tính chỉ toàn sự chà đạp, lừa dối và bất công như thế? Câu hỏi ấy vẫn còn là những suy tư trăn trở trong lòng độc giả mà bấy lâu nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng. Liệu rằng có một kết thúc khác cho truyện ngắn “Chí Phèo” được không?
    Như vậy bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo được Nam Cao thể hiện rất sinh động, cuốn hút để lại người đời nhiều suy ngẫm. Cái chết của Chí và tiếng thét đòi làm người lương thiện sẽ ám ảnh mãi trong lòng độc giả bởi Chí Phèo là đại diện tiêu biểu cho tầng lớp nông dân với mâu thuẫn giai cấp trong lòng xã hội cũ, nhà văn đã phẩn ánh sự cùng cực không lối thoát của họ băng ngòi bút hiện thực sắc sảo và sự cảm thông xót thương chân thành.

    Bài văn mẫu 3

    Khi Chí Phèo: “Ngật ngưởng bước ra từ những trang sách của Nam Cao, thì người ta liền nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ những gì gọi là khốn khổ, tủi nhục nhất của người dân cày ở một nước thuộc địa, bị cào xẻ, bị hủy hoại từ nhân tính đến nhân hình. Chị Dậu bán con, bán chó, bán sữa nhưng chị vẫn còn được là con người. Chí Phèo phải bán cả diện mạo và hồn của mình để trở thành con quỷ dữ”. (Nguyễn Đàng Mạnh). Trong muôn vàn nỗi khốn khổ tủi nhục mà Chí đã nếm trải, không thể không chú ý đến cái bỉ kịch bị cự tuyệt quyền làm người của y.
    Đó cũng là chủ đề xuyên suốt tạo nên giá trị nhân đạo, giá trị hiện thực của tác phẩm Chí Phèo.
    “Bi kích là tình cảm éo le đầy đau thương, bế tắc chưa có lối thoát mà còn người phải chịu đựng”. Hiểu theo nghĩa ấy, số phận Chí Phèo là một chuỗi dài bi kịch mà bi kịch sau bao giờ cũng đau đớn hơn bi kịch trước. Nhiều ngươi khẳng định, Chí xuất hiện sau tiếng chửi, điều ấy đúng! Nhưng có lẽ chưa đủ. Nam Cao thường giới thiệu với ngươi đọc ở giai đoạn quan trọng nhất của số phận nhân vật. Đọc những dòng dầu tiên của tác phẩm, độc giả thấy xuất hiện một nhân vật chưa nêu tên, dường như chỉ có một hành động, một cuộc độc thoại. Nhờ biện pháp nghệ thuật tăng cấp nhơ những câu văn ngắn, nhịp văn vấp tưởng chừng như các câu văn bị xó rách, bị cắt vụn mà ngươi đọc có cảm giác được chứng kiến tận mắt sự quằn quại của Chí trong cơn đau bị cự tuyệt quyền làm ngươi. Chí chửi trời (đấng tối cao của muôn loài), Chí chửi làng “cái cộng đồng gần gũi, thiêng liếng của con người”… Nhưng không ai lên tiếng cả.Người ta không lên tiếng vì người ta không công nhận Chí là người. Cả làng Vũ Đại không ai hiểu Chí, giá có một ngươi để chửi nhau, có lẽ Chí còn đỡ khổ. Bởi vì người ta sống – dù là để chửi nhau cũng không thể chửi một mình.Chí chỉ còn biết chửi người đẻ ra y. Chửi người đẻ ra mình thì cũng là chửi chính bản thân mình. Tiếng chửi của Chí thể hiện sự vật vã, dẫu là vô ý thức, để tìm căn nguyên của đau khổ. Nhưng khốn khổ thay. Chí càng bế tắc. Giá như ngày ấy ở làng Vũ Đại có một người lên tiếng cũng như sau đó, thị Nở “Không chỉ biết cho mà còn biết giữ”… giá như… giá như… chỉ cần một lần giá như xảy ra, chỉ cần một trong hàng nghìn người làng Vũ Đại coi Chí là người thì tấn bi kịch của đời Chí sẽ không có cơ hội xảy ra. Nhưng chuyện gì đã xảy ra thì nó đã xảy ra. Nam Cao ngược dòng thời gian trở lại với quá khứ để dẫn dắt người đọc, giúp họ thấu hiểu quá trình bị cự tuyệt quyền làm người từ thấp đến cao của Chí, đồng thời ông cũng chỉ rõ căn nguyên dẫn Chí đến tình trạng ấy.
    Chí là “một đứa con hoang”, “một anh đi thả ống lươn một buổi sáng đã thấy hắn trần truồng và xám ngắt trong cái váy đụp để bên một lò gạch bỏ không; anh ta rước lấy và mang cho một người đàn bà góa bụa”. Năm từ “một” tồn tại trong câu văn dài, dường như đã báo trước cuộc đời cô độc triền miên của Chí. Ngay từ khi cất tiếng khóc chào đời. Chí đã bị người mẹ, người đời cự tuyệt quyền làm người. Chí trở thành kẻ không cha, không mẹ, cũng may cho đời Chí, có lẽ vì lớn lên cùng những người lao động. Chí trở thành anh canh điền khỏe mạnh, biết tự trọng, “biết không thích những cái gì mà người ta khinh”. Anh khát khao có “một gai đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải”. Nhưng đời đã không dành cho Chí cái àm anh có thể với trong tầm tay.
    Một cơn ghen vu vơ của Bá Kiến đã đẩy Chí vào tù. Cái thế lực phong kiến cấu kết với nhà tù thực dân tước bỏ quyền tự do của Chí gần bảy – tám năm. Đấy là lần thức ai Chí bị cự tuyệt quyền làm người. Nhà tù đã biến Chí thành con người khác. “Hắn về lần này trông khác hẳn”. Quyền làm người của Chí đã bị cự tuyệt bởi nhà tù đã cướp đi của y một phần nhân hình. Ở tù ra trông hắn như một thằng “săng đá” (lính tẩy), đầu trọc lốc răng cạo trắng hớn, mặt đen lại rất “cơng cơng” — “câng câng” thì còn ra cái mặt người. “Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng, cái ngực phanh ra đầy những nét chạm trổ phượng với một ông tướng cầm trùy trông gớm chết”. Đó là hình dạng của kẻ côn đồ, hung hãn chỉ biết gây gổ, đâm chém, về làng hôm trước, hôm sau. Chí đã uống rượu say nhè, điên cuồng lao vào trả thù Bá Kiến bằng cách ăn vạ, chửi đổng. Nếu như trả thù là cái quyền thông thường (oán thì trả oán, ân thì trả ân) thì Bá Kiến lại cũng đã khéo léo tước luôn quyền ấy cửa Chí. Không trả được thù, Chí lại từng bước trở thành tay sai cho kẻ thù, trở thành công cụ mù quáng của Bá Kiến. Hắn chỉ còn biết rạch mặt, ăn vạ để đòi tiền, để đâm chém những ai không cùng phe cánh với chính kẻ thù. Từ đó, hắn chìm trong cơn say, hắn ăn trong lúc say, ngủ trong lúc say và đánh nhau trong cơn say, “Hắn đã phá tan bao nhiêu gia đình, đạp vỡ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện”. Cứ như thế đời hắn trượt dài. Nhìn vào mặt hắn, người ta không biết hắn bao nhiêu tuổi. Đời hắn đã xem như đời bỏ đi, nhân hình bị hủy hoại, nhân tính bị xói mòn. Cả làng Vũ Đại đều tránh mặt, mỗi lần hắn qua. Ngay bản thân hắn cũng đã quên sự có mặt của hắn ở trên đời. Có thể nói trước khi gặp thị Nở, Chí đã bị cự tuyệt quyền làm người đến cao độ. Nhưng có lẽ hắn không nhận ra điều ấy hoặc nhận ra một cách vô thức, không tìm thấy lối thoát. CHí đành phải dấn thân vào cuộc đời say rượu, chửi đổng, ăn vạ, đâm thuê, chém mướn.
    Người ta sẽ đỡ khổ, nếu khống biết mình sống trong cái khổ. Người ta sẽ đỡ đau đớn khi bị tước quyến làm người mà không hể hay biết. Trước khi gặp thị Nở, Chí Phèo chưa nhận thức được tấn bi kịch của đời mình. Chí đâu có biết cái cách người ta sản sinh ra hắn là tước đoạt dần quyền làm người của hắn. Đúng lúc Chí dấn thân đến chỗ tột cùng của sự tha hóa, đúng lúc người ta tưởng Chí sẽ triền miên trong cuộc đời một con quỷ dữ thì Nam Cao đã phát hiện trong chiều sâu tâm linh nhân vật một đốm lửa nhỏ nhoi bừng sáng. Chí ao ước trở thành làm người lương thiện. Vai trò, vị trí của thị Nở trong tác phẩm là rất quan trọng. Con người “dở hơi, xấu ma chê quỷ hờn”, lại là nguồn sáng duy nhất ở làng Vũ Đại có thể chiếu sáng cõi đời tăm tối của Chí. Cơ thể đàn bà của thị không khơi gợi bản năng thú vật ở y. Tình thương của thị đã khơi dậy cái tính người mà lâu nay Chí đã đánh mất. Sau cuộc tình ngắn ngủi với thị Nở. Chí nghe được âm thanh của cuộc sống mà lâu nay hắn không để ý. Sau bao nhiêu năm, bây giờ hắn mới nghe thấy tiếng chim hót, ngoài kia vui vẻ quá, tiếng cười nói của người đi chợ, tiếng thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá. Những âm thanh đấy gợi nhớ trong Chí những ước mơ rất người đã có từ thuở xa xưa. Lần đầu tiên Chí cảm thấy buồn, rồi hắn “sợ tuổi già, đói rét, ốm đâu và cô độc – cô độc còn sợ hơn đói rét và ốm đau”. Bát cháo hành của thị Nở đã đánh thức trong Chí những tình cảm lành mạnh. Ăn cháo mà hắn thấy mắt ươn ướt. Chỉ cần một sự thương yêu – dù là tình yêu của kẻ dở hơi, của một người con giá quá lứa lỡ thì, có dòng giống mả hủi, cũng đủ làm sống lại bản tính người đã chết. Sức cảm hóa của tình thương thật vô biên. Nam Cao đã thực sự hóa thân vào nhân vật để cảm thông, để chia sẻ những giây phúc hạnh phúc rất người của Chí. Thế là sau hơn hai mươi năm bị cự tuyệt quyền làm người. Chí Phèo đã tự tìm cho mình con đường trở lại làm người. Chí đã tạo ra chiếc cầu nối để làm hòa với thế giới người. Chiếc cầu nối ấy chính là thị Nở. Thị có thể sống chung với hắn thì làng Vũ Đại cũng có thể chấp nhận hắn. Nhưng bi kịch và đau đớn thay cho Chí. Thị Nở không thể gắn bó với Chí. Vì theo bà cô Thị, “đàn ông đã chết hết cả rồi hay sao mà phải lấy một thằng không cha, không mẹ chi biết rạch mặt ăn vạ”.
    Thế là một chút hạnh phúc nhỏ nhoi Chí đã có ở trong tay một lần nữa lại bị ý thức xã hội tước đoạt. Thị Nở là chiếc cầu vồng sau cơn mưa, Chí đau đớn nghĩ ra rằng chẳng có chiếc cầu nào đưa Chí trở về với cuộc sống con người nữa. Xã hội với quan niệm tàn nhẫn đã cự tuyệt đến cao độ quyền được sống, được làm người của Chí. Không ai cho Chí làm người lương thiện, kể cả khi Chí đòi làm người lương thiện. Chí không thể xóa được những vết sẹo đã vạch lên trên mặt mình, Chí đau xót cảm thấy: “Không được nữa rồi chỉ còn cách này”. Chỉ còn cách chết trong, hơn sống đục. Chí đã nói những câu cuối cùng “đòi lương thiện” với Bá Kiến và cũng là tự nói với bản thân mình. Hành động giết Bá Kiến và tự sắt của Chí cho người đọc thấy cuối cùng rồi Chí cũng trả được mối thù. Nhưng cái giá phải trá của Chí là quá đắt. Cái chết của Chí là lời tố cáo mạnh mẽ đối với xã hội vô nhân, là lời kêu cứu khẩn thiết về quyền làm con người.
    Chí chết, mồm ngáp ngáp trong vũng máu, nhưng Chí không tuyệt tự. Sức sống, sức mở và giá trị điển hình của nhân vật này là vô biên. Chí không chỉ đại diện cho nỗi khổ của người nông dân thời kì nước ta còn sống trong vòng nô lệ. Chí còn đại diện cho cái phần khùng điên khuất tối mà sinh ra trên cõi đời đày, ai cũng có thể, nếu không biết tự kiềm chế và nếu bị các thế lực hắc ám “nuôi dưỡng”.
    Bi kịch cự tuyệt quyền làm người của Chí Phèo do nhiều căn nguyên. Có căn nguyên từ xã hội cũng có căn nguyên từ bản thân Chí. Khi quyền con người còn bị xúc phạm thì bi kịch của đời Chí Phèo còn được nhắc đến như một nỗi đau cùa toàn nhân loại.

  • 2 bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    2 bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    2 bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối

    [toc]

    Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu tác giả Nam Cao và tác phẩm Chí Phèo: Một tác giả lúc nào cũng trăn trở về cách sống và cách viết, luôn nhìn đời bằng con mắt của tình thương. Chí Phèo là một tác phẩm Nam Cao đã dùng tình thương để nhìn và để viết nên như vậy
    – Với cái nhìn đầy tình thương, Nam Cao đã để cho sự lương thiện một lẫn nữa quay trở về với Chí sau khi gặp được Thị Nở

    II. Thân bài
    1. Khái quát về hoàn cảnh Chí Phèo trước khi gặp Thị Nở
    – Chí Phèo đã từng là một người nông dân lương thiện
    – Sau khi bị Bá Kiến hãm hại, Chí Phèo bị bắt vào tù
    – Nhà tù Thực dân đã biến Chí từ một người nông dân 20 tuổi lương thiện trở thành một người thay đổi cả nhân hình lẫn nhân tính:
    – Làm tay sai cho Bá Kiến
    ⇒ Trước khi gặp Thị Nở, Chí Phèo bị coi là “con quỷ dữ của làng Vũ Đại”
    2. Cuộc gặp gỡ giữa Chí Phèo và Thị Nở
    – Hoàn cảnh gặp gỡ:
    + Không ai đáp lại lời chửi của Chí Phèo nên “hắn” rẽ vào nhà Tự Lãng uống rượu
    + Khi đã hả hê, Chí Phèo lảo đảo ra về
    + Hắn gặp một người đàn bà ngủ quên ở bờ sông gần nhà (Thị Nở)
    + Trong cơn say, Chí Phèo ăn nằm với Thị Nở và ngủ say dưới trăng
    ⇒ Cuộc gặp gỡ định mệnh này đã đem đến những biến chuyển tâm lí rõ nét trong Chí Phèo
    3. Diễn biến tâm trạng nhân vật Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở
    a. Thức tỉnh
    – Sau cuộc gặp gỡ với Thị Nở, lần đầu tiên Chí Phèo thực sự “tỉnh”
    + Chợt nhận ra ở trong cái lều ẩm thấp của Chí sẽ thấy “chiều lúc xế trưa và gặp đêm khi bên ngoài vẫn sáng”
    + Bâng Khuâng như tỉnh dậy sau một cơn say rất dài
    + Tỉnh để cảm thấy miệng đắng và “lòng mơ hồ buồn”
    + Cảm thấy “sợ rượu” ⇒ dấu hiệu của sự thức tỉnh rõ ràng nhất
    + Cảm nhận những thanh âm của cuộc sống: âm thanh của tiếng chim hót, tiếng người cười nói…
    + Hắn đủ tình để nhận thức hoàn cảnh của mình, để thấy mình cô độc
    ⇒ Cuộc gặp với Thị đã làm Chí Phèo thực sự tỉnh táo sau những cơn say triền miên
    b. Niềm vui, hi vọng, ước mơ quay trở về
    – Niềm hi vọng của thời trẻ quay trở lại: mong muốn một gia đình nho nhỏ, chồng cuốc mướn, cày thuê, vợ dệt vải; nuôi lợn, khá giả thì mua dăm ba sào ruộng
    – Khi thấy bát cháo hành của Thị Nở, Chí Phèo ngạc nhiên và thấy “mắt mình như ươn ướt” ⇒ xúc động vì lần đầu tiên có người chăm sóc
    – Thấy Thị Nở có duyên, cảm thấy vừa vui vừa buồn
    – Hắn muốn làm nũng với Thị, thấy lòng thành trẻ con
    – Chí Phèo thèm lương thiện: Tình yêu của Thị Nở làm hắn nghĩ bản thân có cầu nối để trở về
    – Tình yêu với Thị Nở khiến hắn đủ hi vọng và mong ước có một gia đình: “Hay là mình sang ở với tớ một nhà cho vui”
    ⇒ Gặp Thị Nở, Chí Phèo đã trải qua những cảm xúc chưa hề có trong đời, mang đến niềm vui, niềm hi vọng và mong ước trở về làm người lương thiện trỗi dậy
    c. Thất vọng, đau đớn
    – Tình yêu bị ngăn cấm bởi bà cô thị Nở, nởi vậy, khi Thị Nở từ chối, Chí Phèo thất vọng và đau đớn:
    + “Ngẩn người”, “ngẩn mặt”: Thái độ biểu thị sự hiểu ra, nhận thức được tình cảnh của mình ⇒ đáng thương
    + Thoáng thấy hương cháo hành: hồi tưởng về tình yêu đã trải qua
    + Hành động: Nắm lấy tay Thị ⇒ mong muốn nú kéo hạnh phúc
    + Hắn tìm đến rượu rồi “ôm mặt khóc rưng rức”
    ⇒ Mong muốn trở về làm người lương thiện không còn nữa, Chí đau đớn, tuyệt vọng
    d. Phẫn uất
    – Mong muốn quay trở lại làm người lương thiện không thể thực hiện được, niềm phẫn uất trong Chí đẩy lên cao
    – Hắn quyết định đến nhà thị Nở “để đâm chết cả nhà nó, đâm chết cái con khọm già nhà nó”.
    – Nhưng “hắn không rẽ vào nhà thị Nở mà thẳng đường đến nhà Bá Kiến và nói thẳng với Bá Kiến: niềm phẫn uất đã khiến Chí Phèo xác định đúng kẻ thù của mình
    ⇒ Hành động tự kết liễu thể hiện sự phẫn uất và tuyệt vọng đến tột cùng

    III. Kết bài
    – Khái quát lại diễn biến tâm trạng của Chí Phèo sau khi gặp Thị Nở
    – Liên hệ trình bày suy nghĩ bản thân

    Bài văn mẫu 1

    Tình yêu là là ngọn nguồn của mọi hạnh phúc cũng như khổ đau. Tình yêu còn giúp con người trở nên mạnh mẽ, lạc quan, giúp ta hướng thiện. Truyện ngắn Chí Phèo của nhà văn Nam Cao tuy chuyện tình yêu giữa Chí Phèo và thị Nở chỉ là một lát cắt nhỏ nhưng lại có ý nghĩa hết sức quan trọng. Nó là một khởi đầu mới cho Chí, đem Chí trở về cuộc sống của một con người lương thiện mà lâu nay Chí đánh mất.
    Chí Phèo là một đứa trẻ mồ côi, nghèo khổ và bất hạnh. Từ khi lọt lòng đã bị mẹ bỏ rơi, Chí Phèo lớn lên trong sự yêu thương, đùm bọc của người làng Vũ Đại. Lớn lên Chí là một thanh niên khỏe mạnh, làm thuê ở nhà Bá Kiến. Vì bà ba dâm đãng hãm hại, Chí bị Bá Kiến đẩy vào nhà tù thực dân và bị đánh mất nhân hình và nhân tính của mình, ra tù lại trở thành tay sai cho Bá Kiến, là con quỷ dữ của làng Vũ Đại. Nhưng khi thị Nở xuất hiện, cuộc đời Chí được lật sang một trang mới, đẹp đẽ, hạnh phúc, mà cũng đầy khổ đau, bất hạnh.
    Thị Nở sống cùng bà cô. Thị là một người phụ nữ quá lứa, sinh ra trong mả hủi, tính dở hơi. Không chỉ vậy thị xấu ma chê quỷ hờn, nên đã nhiều tuổi mà chẳng có được hạnh phúc cho riêng mình.
    Vẫn như mọi lần, Chí uống rượu say, trên đường trở về nhà, Chí thấy trong người khó chịu nên đã ra sông tắm. Còn thị Nở đi gánh nước, mệt nên nằm ngủ ngay cạnh bờ sông. Bởi vậy, đã tạo nên cuộc gặp gỡ tiền định này. Cuộc gặp gỡ đã thay đổi con người, suy nghĩ của Chí Phèo.
    Cuộc sống của Chí Phèo đã thực sự thay đổi, sau bao nhiêu ngày chỉ biết đến say sưa, chỉ biết đến rạch mặt ăn vạ thì sau đêm gặp gỡ với Thị Nở đây là lần đầu tiên Chí tỉnh. Lần đầu tiên Chí nhận thức thế giới xung quanh, nhận ra sự tồn tại của mình và tương lai tăm tối của bản thân. Khi Chí Phèo mở mắt ra hì trời đã sáng lâu. Mặt trời chắc đã cao và nắng bên ngoài chắc là rực rỡ. Cứ nghe tiếng chim kêu ríu rít bên ngoài đủ biết. Nhưng trong cái lều ẩm thấp vẫn chỉ hơi lờ mờ […] chưa bao giờ Chí Phèo nhận thấy thế bởi chưa bao giờ hết say. Sự thức tỉnh của Chí Phèo bắt nguồn trước hết phải là từ sự tỉnh rượu, từ tỉnh rượu hắn mới tỉnh ngộ, mới nhận ra nhiều điều. Chí nhận thấy những âm thanh vui vẻ, ríu rít xung quanh mình là tiếng chim, tiếng của những người đi chợ. Âm thanh quen thuộc quá, mà bấy lâu nay trong cơn say triền miên Chí không hề nhận thấy. Hắn nhớ về ngày trước, nhớ về anh nông dân lương thiện, với những mơ ước thật giản dị về một gia đình ấm cúng và cuộc sống lao động cần mẫn. Nhưng chính hắn cũng phải tự giật mình về hoàn cảnh hiện tại của bản thân: Tỉnh dậy, hắn thấy hắn già mà vẫn cô độc. Buồn thay cho đời ! Có lí nào như thế được ? Hắn đã già rồi hay sao […] Chí Phèo hình như đã trông thấy tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này con đáng sợ hơn là đói rét và ốm đau. Ngòi bút của Nam Cao đã lách sâu vào tâm hồn của Chí để nhận ra những thay đổi dù là nhỏ bé nhất.
    Không chỉ vậy, Chí Phèo còn xúc động sâu sắc trước sự quan tâm, chăm sóc của Thị Nở dành cho mình. Thấy bát cháo hành Thị Nở đưa cho mình Thằng này rất ngạc nhiên. Hết ngạc nhiên thì hắn thấy mắt hình như ươn ướt. Chí Phèo xúc động đến tột cùng khi nhận được sự quan tâm chăm sóc từ một người khác. Đây cũng là lần đầu tiên ta thấy người vẫn bị coi là con quỷ dữ của làng Vũ Đại khóc. Đó là giọt nước mắt của niềm vui, của hạnh phúc khi được nhận hơi ấm tình người, bởi lần này là lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho , những thứ xưa nay hắn có được chỉ là do cướp giật, hắn chưa được ai quan tâm, chăm sóc bao giờ. Chí nhớ về bà ba và nỗi nhục khi phải bóp chân cho bà ba. Chính bởi vậy, bát cháo hành của Thị Nở làm hắn phải bâng khuâng, phải suy nghĩ nhiều. Ta có thể thấy rằng, phần nhân tính bị chìm khuất bao lâu nay của Chí nay đã dần dần xuất hiện trở lại do nhận được tình yêu thương của Thị Nở. Với việc phân tích diễn biến tâm lí hết sức sâu sắc và hợp lí, Nam Cao đã ngầm khẳng định bản chất lương thiện của người nông chỉ bị vùi lấp bởi những độc ác, xấu xa của cuộc sống, nó sẽ ngay lập tức được khơi dậy khi có điều kiện phù hợp.
    Cuộc gặp gỡ với Thị Nở còn khơi dậy niềm hi vọng trong Chí Phèo. Niềm hi vọng được làm người lương thiện : Hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao ! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được…. . Khát vọng làm người lương thiện của Chí thật chính đáng, hợp lí khi mà nhân tính của Chí đã quay trở lại. Bởi vậy, Chí đã đề nghị với Thị Nở sang đây ở với tớ một nhà cho vui. Năm ngày đó Chí sống trong sung sướng, hạnh phúc, đến ngày thứ sáu Thị Nở về xin phép bà cô và đó cũng là lúc khởi phát bi kịch. Sau những lời bà cô dè bủi và nhất quyết không cho lấy Chí, Thị Nở sang nhà Chí Phèo nói hết những lời bà cô nói và quay về nhà, trước sự tuyệt vọng tột cùng của Chí. Chí Phèo lấy rượu uống, càng uống lại càng tỉnh, càng đau đớn, hắn ôm mặt khóc rưng rức. Đỉnh điểm của sự phẫn uất và tuyệt vọng Chí vác dao với ý định giết cả nhà Thị Nở, nhưng lại quen chân sang nhà Bá Kiến. Chí Phèo giết chết Bá Kiến và tự kết liễu mình. Chí Phèo rơi vào bi kịch đau đớn, muốn làm người lương thiện nhưng bị cự tuyệt. Cái chết của Chí Phèo là lời tố cáo đanh thép với xã hội thực nửa phong kiến đương thời.
    Cuộc gặp gỡ với Thị Nở có ý nghĩa quan trọng với nhân vật Chí Phèo. Về nội dung, Thị Nở xuất hiện góp phần làm nổi bật nhân vật trung tâm và làm nổi bật chủ đề tác phẩm: Thị Nở đã giúp Chí Phèo hồi sinh, qua đó thể hiện giá trị nhân đạo của Nam Cao; nhưng chính Thị cũng đẩy Chí vào bi kịch, qua đó tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến. Về nghệ thuật, Thị Nở giúp thúc đẩy câu chuyện phát triển, đồng thời tình huống gặp gỡ này cũng giúp bộc lộ phẩm chất, tính cách, tâm hồn của nhân vật trung tâm.
    Bằng ngòi bút phân tích, miêu tả tâm lí nhân vật sắc sảo, Nam Cao đã cho thấy sự biến đổi trong nhận thức của Chí Phèo, đó là sự phục sinh của nhân tính. Nhưng đồng thời cũng cho thấy bi kịch đau đớn của Chí khi bị cự tuyệt làm người, cự tuyệt về cuộc sống lương thiện.

    Bài văn mẫu 2

    Nam Cao là nhà văn chủ nghĩa hiện thực của văn học Việt Nam giai đoạn từ năm 1930 đến năm 1945. Tác phẩm kiệt tác để lại tên tuổi của ông là “Chí Phèo” phản ánh nỗi thống khổ, cơ cực của người nông dân trong xã hội cũ. Nhân vật cùng tên truyện để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả đặc biệt là diễn biến tâm trạng của Chí sau khi gặp thị Nở- quãng thời gian hồi sinh ngắn ngủi nhưng giàu giá trị nhân đạo mà nhà văn dành cho nhân vật của mình.
    Chí Phèo bản chất vốn là một người hiền lành, chất phác nhưng vô tình bị xã hội đẩy đến mức đường cùng, đại diện cho cường quyền ấy là Bá Kiến vì ghen với Chí được bà Ba “quý mến” mà tìm mọi cách cho hắn đi ở tù. Bảy tám năm đi biệt khi quay trở về làng Vũ Đại Chí là một kẻ mất nhân hình lẫn nhân tính để cho thế lực hắc ám như cụ Bá hoàn thành nốt công đoạn biến thành con quỷ dữ mà mọi người đều ghê sợ và xa lánh, Chí trở thành tay sai đắc lực cho Bá Kiến kể từ đó hắn chỉ chuyên hành nghề rạch mặt ăn vạ, cướp của giết người. Cuộc đời hắn chìm trong men say hết ngày này qua ngày khác chưa bao giờ hắn tỉnh để biết mình còn tồn tại có mặt ở trên đời.
    Nam Cao không nhẫn tâm để nhân vật của mình sống mãi là kiếp thú vật nên đã cho thị Nở xuất hiện cùng bát cháo hành tình người và tình cảm chân thành đánh thức lương tri Chí sau những ngày bị vùi lấp. Đoạn văn miêu tả tâm trạng Chí Phèo sau khi gặp thị Nở chứng tỏ tài năng khám phá và phân tích tâm lí nhân vật của Nam Cao.
    Hôm ấy, sau trận nôn mửa lúc nửa đêm khi đã ngủ cùng thị Chí Phèo tỉnh dậy sau một cơn say rất dài “hắn thấy miệng đắng, lòng buồn mơ hồ”. Lần đầu tiên kể từ ngày trở về hắn nghĩ đến rượu mới cảm thấy rùng mình “hắn sợ rượu cũng như những người ốm sợ cơm”. Hắn cảm nhận được âm thanh của cuộc sống “Tiếng chim hót ngoài kia vui vẻ quá! Có tiếng cười nói của những người đi chợ. Anh thuyền chài gõ mái chèo đuổi cá”… Những âm thanh ấy ngày nào cũng có nhưng đây là lần đầu tiên Chí tỉnh để nghe thấy và cảm nhận tiếng gọi tha thiết của sự sống.
    Chí nhận thức được bản thân mình về quá khứ, hiện tại và tương lai. Tiếng bàn tán của người bán hàng gợi nhớ về quá khứ tươi đẹp của Chí từng ước mơ về một gia đình nho nhỏ “Chồng cuốc mướn, cày thuê vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Đó là ước mơ, là khao khát của anh canh điền hiền lành chất phác. Nhưng éo le thay điều đó không thành hiện thực để rồi giờ đây trong hiện tại “hắn thấy hắn già mà vẫn còn cô độc”, “hắn đã tới cái dốc bên kia của đời”, cơ thể đã hư hỏng ít nhiều. Chí phèo cũng đã nghĩ về tương lai và “trông thấy trước tuổi già của hắn, đói rét và ốm đau, và cô độc, cái này còn đáng sợ hơn đói rét và ốm đau”. Sau những ngày sống như vô thức qua một trận ốm Chí đã tỉnh dậy và suy nghĩ về cuộc đời mình. Như vậy với khả năng nhận nhức về ngoại cảnh và nhận thức về chính mình Chí đã tỉnh dậy và hồi sinh trở về với kiếp người.
    Thị Nở xuất hiện với bát cháo hành và tình thương yêu dành cho Chí khiến hắn vô cùng ngạc nhiên, xúc động và trỗi dậy mong muốn được làm người lương thiện. Đây là đoạn văn mang nhiều giá trị nhân đạo nhất mà nhà văn dành cho nhân vật của mình. Trưa hôm ấy Chí được săn sóc bởi đôi bàn tay của thị. “Hắn thấy mắt hình như ươn ướt. Bởi vì lần thứ nhất hắn được một người đàn bà cho.” Bởi xưa nay hắn toàn phải cướp giật hoặc dọa nạt chứ nào ai cho không hắn cái gì ấy vậy mà thị lại giàu tình thương, sự cảm thông chia sẻ và quan tâm để làm điều đó cho hắn. Hắn cảm động vô cùng. Giọt nước mắt hạnh phúc được trở lại làm người đã chảy ra, hắn đã thực sự cảm nhận được mùi vị của tình người. Thị chính là hiện thân của tình người với bát cháo hành là liều thuốc giải độc cho cơn sốt bất thường và chữa lành vết thương tâm hồn bị sứt mẻ, bị bóp méo bấy lâu của Chí. Hắn đối với thị hiền lành biết bao “Ôi sao mà hắn hiền, ai dám bảo đó là cái thằng Chí Phèo vẫn đập đầu, rạch mặt mà đâm chém người?” Giờ đây hắn khao khát được làm người lương thiện: “Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được.” Nhà văn đã cho ta thấy khao khát hoàn lương một cách khẩn thiết và rõ rệt trong con người Chí, hắn đã đặt tất cả hy vọng và niềm tin vào thị Nở.Thị chính là cầu nối để Chí hòa nhập với mọi người và trở về với xã hội của những tấm lòng lương thiện. Chí muốn quay lại làm một người bình thường sống cuộc sống bình dị như trước đây chấm dứt những tháng ngày đen tối và tội lỗi.
    Cũng như bao người khác khi nhận thức được giá trị của bản thân Chí khao khát có một hạnh phúc gia đình “Giá cứ thế này mãi thì thích nhỉ?” đây là một lời gợi ý cho một cuộc sống mới cũng là một lời tỏ tình rất bình dị với sự bẽn lẽn của một anh canh điền hiền lành chất phác. Trong con mắt của kẻ say tình những điều xấu xí nhất của người đàn bà xấu xí như thị đối với Chí lại trở nên đáng yêu và có duyên “Xấu mà e lệ thì cũng đáng yêu”. Nam Cao để cho con mắt của một kẻ lưu manh tha thóa biến thành con quỷ dữ nay trở lại làm người lại nhìn thấy vẻ đẹp tiềm ẩn trong thị bị xã hội vùi lấp không nhìn thấy. Người đàn bà ấy tuy vẻ bên ngoài “Xấu ma chê quỷ hờn” bởi dòng giống con nhà mả hủi lại có tấm lòng nhân hậu và tình thương ngập tràn dành cho Chí. Năm ngày bên nhau của đôi lứa ngắn ngủi trôi qua trong những phút giây hạnh phúc, Chí trong khoảng thời gian ấy được sống là chính mình. “Hắn không còn kinh rượu nhưng cố uống thật ít. Để cho khỏi tốn tiền, nhưng nhất là để tỉnh táo để yêu nhau.” Chí đã ý thức được rằng mình có gia đình và cần phải chăm lo cho điều ấy. Đáng tiếc thay thị lại là một người dở hơi đem câu chuyện tình về hỏi ý kiến của bà cô già gây ra bi kịch bị cự tuyệt làm người cho Chí bởi định kiến xã hội.
    Như vậy tâm trạng nhân vật chí Phèo sau ki gặp thị Nở đã được nhà văn miêu tả chi tiết tỉ mỉ đi sâu vào ngóc ngách trong tâm hồn để khám phá ra những điều mới mẻ trong nhân vật. Nhưng giá trị nổi bật nhất của Nam Cao làm nên thành công của tác phẩm là ở chỗ: “Khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ người nông dân mà trái lại đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện và khẳng định nhân phẩm của họ, ngay trong khi họ đã bị xã hội cướp đi cả nhân hình, nhân tính”.
    Nam Cao đã khéo lột tả nội tâm nhân vật Chí Phèo trong những ngày hồi sinh khi gặp thị Nở với cách sử dụng ngôn ngữ sinh động, giản dị nồng ấm hơi thở đời sống thường ngày của người nông dân để lại giá trị nhân đạo cao đẹp sống mãi với thời gian. Bản chất lương thiện và khát khao hạnh phúc là bản tính tự nhiên tốt đẹp của con người không bao giờ bị mất đi dù cho bị quỷ dữ tha mất linh hồn nhưng chỉ cần được thắp sáng bởi ngọn lửa tình người nó lại trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt. Qua đó cũng cho ta bài học nhận thức rằng chỉ có tình thương mới cảm hóa được trái tim sắt đá, cô độc và mỗi chúng ta sống trong cộng đồng người hãy biết yêu thương, chia sẻ cảm thông cho nhau bởi “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương”.

  • Phân tích Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối

    Phân tích Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối

    Phân tích Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm Chí Phèo

    [toc]

    Đề bài: Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối chung sống.

    Bài văn mẫu

    Tâm trạng của Chí Phèo khi bị Thị Nở từ chối chung sống Thị Nở là một người ngớ ngẩn, chính cái ngớ ngẩn ấy đã đập tan mọi hi vọng cứu vãn cuộc đời Chí Phèo. Sau khi bị Thị Nở từ chôì chung sống và cũng không còn cách nào níu giữ được Thị. Chí Phèo rơi vào tình thế bế tắc, tuyệt vọng, mọi hi vọng cho một tương lai “làm người” bỗng chốc hóa thành mây khói. Trong cơn tuyệt vọng ấy, Chí Phèo như tỉnh hẳn và chua xót nhận ra bi kịch tinh thần của cuộc đời minh ngươi vốn sinh ra la người nhưng lại khống được làm “ngươi”.Hắn vật vã, đau đớn. Càng tuyệt vọng, hắn càng uống rượu; nhưng càng uống rượu ,hắn càng tỉnh ra. Trong tận sâu thẳm tâm hồn, hắn ý thức được nỗi đau thân phận của mình. Vì thế, hắn ôm mặt khóc rưng rức vá luôn thấy thoang thoáng mùi cháo hành. Chi tiết này được nhắc đi nhắc lại nhiều nhằm tô đậm niềm khao khát tình yêu thương, khát khao cuộc đời lương thiện và cũng nhấn mạnh bi kịch tinh thần không có cách gì có thể cứu vãn.

    Trong tột cùng bế tắc, Chí Phèo càng thấm thìa hơn tội ác của kẻ đả cướp đi dung mạo va linh hồn người của mình, biến mình thành một con “quỷ” của làng Vũ Đại. Chí Phèo xách dao ra đi, thay vì đến nhà bà cô Thị Nở như dự định, tâm trí lại điều khiển hắn đến nhà Bá Kiến – người đã gây ra bất hạnh cho cuộc đời hắn. Khác với lần trước, lần này, hắn đòi Bá Kiến trả cho hắn cái thứ quý giá mà hắn đã mất từ lâu – đó là làm người lương thiện.
    Nhưng làm sao để trở về làm ngươi lương thiện như trước đây, cuối cùng, hắn đã chọn cách giải quyết duy nhất có thể: đó là giết chết kẻ đã gảy ra đau khổ cho đời mình, đồng thời tự kết liễu cuộc sống của mình. Chi Phèo đâm chết Bá Kiến không phải vì say rượu mà vì hắn hiểu rõ nguồn gốc bi kịch của đời mình.

  • 2 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm Chí Phèo

    2 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm Chí Phèo

    2 bài văn mẫu Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm Chí Phèo

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích nhân vật Chí Phèo trong truyện ngắn Chí Phèo

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về nhân vật Chí Phèo trong tác phẩm cùng tên của Nam Cao

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu hình tượng những con người khổ đau, cô độc trong văn học: Xuất hiện không ít trong lịch sử văn chương Việt Nam: Chị Dậu, lão Hạc, …
    – Nhưng có thể, Chí Phèo trong một tác phẩm cùng tên của nhà văn Nam Cao, ta ngỡ ngàng nhận ra rằng đây mới là hiện thân đầy đủ nhất cho nỗi cùng cực, bất hạnh của kiếp người

    II. Thân bài
    1. Chí Phèo bản chất là một người nông dân lương thiện
    – Chí Phèo vốn là một người nông dân với nhiều phẩm chất tốt đẹp:
    + Là một con người lương thiện: đi ở hết nhà này đến nhà khác, cày thuê cuốc mướn để kiếm sống ⇒ làm ăn chân chính
    + Từng mơ ước giản dị về cuộc sống gia đình: có một ngôi nhà nho nhỏ, chồn cày thuê cuốc mướn… ⇒ Chí Phèo là một người lương thiện.
    + Có lòng tự trọng: Bà ba Bá Kiến gọi lên đấm lưng, bóp chân, Chí cảm thấy nhục ⇒ Là người có ý thức về nhân phẩm.
    ⇒ Chí Phèo có đủ điều kiện để sống cuộc sống yên bình như bao người khác, quãng đời lương thiện của Chí kéo dài trong khoảng 20 năm đầu
    – Sau này, khi gặp Thị Nở, sự lương thiện lại một lần nữa quay lại trong Chí:
    + Nhận biết được âm thanh cuộc sống: Tiếng chim hót, tiếng cười nói của người đi chợ
    + Mong muốn được làm hòa với xã hội, mong muốn có một mai ấm gia đình với Thị Nở ⇒ ước muốn giản dị năm xưa quay trở lại với Chí Phèo
    ⇒ Bản chất con người Chi luôn là một người lương thiện
    2. Chí Phèo là một người cô độc
    – Cô độc ngay từ khi sinh ra: không cha, không mẹ, không nhà, không cửa, không một tấc đất cắm dúi cũng không có
    – Chí Phèo xuất hiện ngay đầu tác phẩm vơi hành động đã khiến người ta kho chịu: “Hắn vừa đi vừa chửi…” nhưng đằng sau tiếng chửi đó, Chi Phèo hiện lên là người cô độc
    – Qua tiếng chửi, chân dung nhân vật hiện lên:
    + Kẻ lưu manh cứ rượu vào là chửi
    + Đằng sau đó thấy Chí Phèo la nạn nhân ra sức cựa quậy, mong muốn được coi là người bình thường
    – Khi thức tỉnh sau khi bị ốm, Chi Phèo cảm nhận và hình dung ra tuổi già của mình với ốm đau và cô độc và nhấn mạnh cô độc là điều đáng sợ hơn cả ⇒ Bản thân Chí Phèo luôn là người cô độc nên mới ợ cô độc đến thế
    3. Chí Phèo là một người nông dân phải chịu số phận với nhiều bi kịch
    • Bi kịch bị tha hóa: Sau khi bị Bá Kiến đẩy vào tù, sau khi ra tù:
    – Hình dạng: “Cái đầu trọc lốc, hàm răng cạo trắng hớn, cái mặt thì câng câng đầy những vết sứt sẹo, hai con mắt gườm gườm” ⇒ Chí Phèo đánh mất nhân hình.
    – Nhân tính: du côn, du đãng, triền miên trong cơn say, đập đầu, chửi bới, phá phách và làm công cụ cho Bá Kiến ⇒ Chí Phèo đã đánh mất nhân tính.
    – Quá trình tha hóa của Chi Phèo: Đến nhà Bá Kiến trả thù ⇒ Chí mắc mưu, trở thành tay sai cho Ba Kiến
    ⇒ Chí đã bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính, là điển hình cho hình ảnh người nông dân bị đè nén đến cùng cực
    • Bi kịch bị cự tuyệt quyền làm người
    – Nguyên nhân: do bà cô Thị Nở không cho Thị lấy Chí Phèo → định kiến của xã hội .
    – Diễn biến tâm trạng của Chí Phèo:
    + Lúc đầu: Chí ngạc nhiên trước thái độ của Thị Nở
    + Sau Chí hiểu ra mọi việc: Tuyệt vọng, Chí uống rượu rồi xách dao đên nhà Bá Kiến đâm chết Bá Kiến và tự sát.
    – Ý nghĩa hành động đâm chết Bá Kiến và tự sát của Chí:
    + Đâm chết Bá Kiến là hành động lấy máu rửa thù của người nông dân thức tỉnh về quyền sống.
    + Cái chết của Chí Phèo là cái chết của con người trong bi kịch đau đớn trên ngưỡng cửa trở về cuộc sống làm người
    ⇒ Chí Phèo là tiêu biểu cho số phận người nông dân trong xã hội cũ bị chèn ép, đẩy vào bươc đường cùng

    III. Kết bài
    – Khái quát những nét tiêu biểu về nghệ thuật xây dựng nhân vật Chí Phèo
    – Khẳng định dù thời gian có trôi qua, hình tượng nhân vật Chí Phèo và tác phẩm cùng tên sẽ vẫn luôn sống mãi trong lòng độc giả: “Nhà văn chết, nhân vật từ trang sách, vẫn ngày ngày vật lộn giữa trần ai” (Nguyễn Đức Mậu)

    Bài văn mẫu 1

    Trước cách mạng tháng tám, số phận của người nông dân luôn là đề tài đặc biệt được các nhà văn quan tâm khai thác. Nếu như Ngô Tất Tố phát hiện ra cái đẹp, sức sống tiềm tàng của người nông dân, Vũ Trọng Phụng chỉ nhìn thấy cái xấu xa của họ thì đến Nam Cao là một người đến sau nhưng ông đã khai thác được mặt khác của người nông dân đó là bản chất lương thiện và bi kịch bị tha hóa. Nhân vật Chí Phèo chính là bản vẽ tổng quát nhất của Nam Cao khi viết về người nông dân. Đây đồng thời cũng là nhân vật để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng biết bao thế hệ bạn đọc.
    Mở đầu tác phẩm, Nam Cao đã gây ấn tượng mạnh với người đọc bằng tiếng chửi của Chí Phèo, hắn chửi trời, chửi đời, chửa dân làng Vũ Đại, nhưng chẳng ai đáp lại, hắn lại chửi đến “đứa chết mẹ nào đẻ ra thân hắn, đẻ ra cái thằng Chí Phèo” . Tại sao tiếng chửi lại đau đớn, uất ức đến vậy? Ngược về quá khứ, Nam Cao đã cho thấy số phận bất hạnh của Chí Phèo, đẻ ra là một đứa trẻ mồ côi, bị mẹ bỏ mặc ở lò gạch cũ, Chí may mắn được ông thả ống lươn nhìn thấy và nhặt về. Chí bị trao tay qua nhiều người, ban đầu là bà góa mù, rồi đến bác phó cối, khi bác phó cối mất, Chí lớn lên trong sự đùm bọc của xóm làng. Từ nhỏ Chí đã sống trong sự thiếu thốn tình yêu thương, nhưng bản thân Chí vẫn là con người lương thiện. Chí làm việc cho Bá Kiến để nuôi sống mình, Chí yêu lao động và có những mơ ước thuần phác, hồn hậu: lấy vợ, sinh con, chồng làm thuê cuộc mướn, vợ dệt vải, để được chút vốn liếng sẽ mua ruộng để làm. Không chỉ vậy, Chí còn là người có lòng tự trọng, bóp chân cho bà ba hắn chỉ thấy nhục hơn là thấy thích. Ai có thể ngờ rằng một con người lương thiện đến vậy có thể tha hóa, trở thành quỷ dữ của làng Vũ Đại.
    Sự tha hóa của Chí Phèo nguyên nhân trực tiếp là Bá Kiến, sự ghen tuông khiến Bá Kiến đẩy Chí Phèo vào nhà tù thực dân. Nhà tù thực dân với sự tàn bạo, tra tấn dã man cả về thể xác và tinh thần đã biến Chí Phèo trở thành kẻ mất cả nhân hình và nhân tính. Ngày ở tù về Chí trông như thằng “săng đá” răng cạo trắng, đôi mắt gườm gườm, xăm trổ toàn thân, … khiến cho ai cũng phải khiếp sợ. Người đọc vừa ngỡ ngàng, vừa đau đớn, anh Chí của ngày xưa đâu? Nhà tù thực dân có sức phá hủy nhân hình, nhân tính của con người ghê gớm đến vậy sao? Bi kịch chồng lẫn bi kịch, Chí trở về con bị chính kẻ thù của mình là Bá Kiến dụ dỗ, dùng những lời ngon ngọt làm lu mờ nhận thức của Chí. Trong cơn say triền miền, Chí chính thức trở thành tay sai cho Bá Kiến, đòi nợ, chém giết thuê. Bất cứ việc gì Bá Kiến sai Chí đều thực hiện. Có lẽ cuộc đời của Chí sẽ chấm dứt từ đây, từ giờ cho đến lúc chết Chí Phèo chỉ còn là tay sai của Ba Kiến, của xã hội thực dân.
    Nam Cao khác so với những nhà văn trước đó là ở chỗ ông đã chỉ ra con đường người nông dân bị lưu manh hóa. Các tác phẩm trước mới chỉ miêu tả đời sống bí bách, túng quẫn bị đẩy đến bước đường cùng của người nông dân (Tắt đèn – Ngô Tất Tố; Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan). Còn Nam Cao đã tiến một bước xa hơn: ông khẳng định bản chất lương thiện, giàu lòng tự trọng vốn có của họ, đồng thời nêu lên nguyên nhân, con đường tha hóa chính là do nhà tù thực dân, bọn cường hào ác bá đã nhào nặn những người nông dân lương thiện trở thành những con quỷ dữ, bị cả xã hội xua đuổi.
    Nhưng cái hay trong tác phẩm Nam Cao chính là liên tục tạo ra những khúc rẽ, những biến cố giúp thúc đẩy câu chuyện phát triển. Cuộc đời Chí tưởng rằng sẽ chìm trong bế tắc, sẽ mãi mãi không nhận ra kẻ thù của mình cho đến ngày Chí gặp thị Nở. Thị Nở xuất hiện như một luồng gió mới đến với cuộc đời chí Phèo. Sáng hôm sau, Chí nằm một mình trong lều, trận cảm đã làm hắn yếu đi nhiều, đây cũng là cơ hội để hắn cảm nhận cuộc sống xung quanh. Hắn nghe những âm thanh quen thuộc của cuộc sống, tiếng chim hót, tiếng người ta đi chợ và hắn chợt thấy nhớ về ngày xưa, về những mơ ước rất đỗi dung dị của mình. Nhìn lại thực tại hắn chẳng có gì ngoài những vết sẹo chằng chịt trên mặt, nhận ra mình đã sang cái dốc bên kia của cuộc đời. Trong dòng suy nghĩ miên man, Thị Nở xuất hiện với bát cháo hành trên tay. Lần đầu tiên trong cuộc đời chỉ có chém giết và ăn vạ chị được người ta cho bát cháo hành, chí đường người ta yêu thương, quan tâm, chăm sóc. Đây cũng là lần đầu Chí thấy cháo hành ngon đến vậy “những người suốt đời không ăn cháo hành không biết rằng cháo hành rất ngon. Nhưng tại sao mãi đến tận bây giờ hắn mới nếm mùi vị cháo hành?”. Câu hỏi ấy vang lên làm ta không khỏi nhức nhối, thương cảm cho số phận của Chí. Hắn cầm bát cháo Thị Nở cho bằng đôi mắt thật hiền, cảm động, đôi mắt hắn ươn ướt vì sự biết ơn. Cùng với năm ngày chung sống cùng thị Nở trong hắn lại trỗi dậy khao khát về một cuộc sống khác, hắn khao khát được làm hòa với mọi người biết bao. Mong mỏi được làm người lương thiện, nhân tính trong Chí đã trở về: “Trời ơi hắn thèm lương thiện, hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao, thị Nở sẽ mở đường cho hắn”. Năm ngày đó như ánh nắng rực rỡ làm bừng sáng quãng đời đen tối của Chí Phèo. Chưa bao giờ người ta thấy một thằng chuyên rạch mặt ăn vạ lại hiền lành đến vậy, hắn cố uống rượu cho thật ít, để tỉnh tạo tận hưởng hạnh phúc, để được say trong men tình. Lần đầu tiên sau khi ở tù về Chí Phèo mới có lại múc đích và lí tưởng sống. Đó là những mong ước giản dị mà bất cứ ai cũng nâng niu, trân trọng.
    Nhưng cuộc đời Chí Phèo vẫn chưa thoát khỏi những bi kịch. Thị Nở từ người cứu vớt lại trở thành người chối tự quyền làm người và hạnh phúc của Chí Phèo, chỉ vì bà cô không cho phép lấy một kẻ chỉ có chuyên đi rạch mặt ăn vạ. Bà cô chính là đại diện cho những hủ tục của xã hội đương thời, đẩy Chí đến bi kịch của sự tuyệt vọng. Chí Phèo uống, nhưng càng uống lại càng tỉnh, càng nhận ra số phận nghiệt ngã của bản thân. Chí xách dao định tìm đến nhà Thị Nở để giết cả nhà “nó”, nhưng bước chân lại hướng về nhà Bá Kiến. Chí Phèo dõng dạc đòi lương thiện, nhưng bản thân hiểu rõ: “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những vết mảnh chai trên mặt này? Tao không thể làm người lương thiện nữa?” Và hắn rút dao giết chết Bá Kiến rồi tự kết liễu đời mình. Cái chết của cả hai quá đỗi bất ngờ. Chí giết kẻ thù của mình, kẻ cướp đi người nông dân lương thiện, và tự giết chết thân xác của một thằng tha hóa, giữ lại cho mình phẩm chất lương thiện. Cái chết của Chí Phèo là hệ quả tất yếu nhưng cũng không khỏi làm cho ta thương xót, đồng cảm.
    Qua nhân vật Chí Phèo, Nam Cao đã để lại những ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc về một người nông dân chất phác, lương thiện nhưng bị đẩy đến bước đường tha hóa phải tìm đến cái chết để khôi phục danh dự. Đồng thời với nhân vật Chí Phèo tác giả cũng lên án, tố cáo xã hội thực dân nửa phong kiến độc ác, bất nhân đẩy con đường đến bước đường cùng. Không chỉ vậy, ông còn thể hiện cái nhìn tin yêu vào bản chất lương thiện của những người nông dân.

    Bài văn mẫu 2

    Nam Cao là cây bút xuất sắc viết về đề tài người nông dân trong đó “Chí Phèo” xứng đáng là một kiệt tác. Nhân vật chính cùng tên với tác phẩm là một kẻ lưu manh tha hóa nhưng sâu thẳm trong bản chất lại là người lương thiện. Chí Phèo là hình tượng nhân vật độc đáo có một không hai trong lịch sử văn học Việt Nam hiện lên với ngoại hình, tính cách và tâm lí để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng độc giả.
    Viết về người nông dân Nam Cao thường chú ý tới những con người thấp cổ bé họng, những số phận bi thảm họ càng nhẫn nhục thì càng bị chà đạp tàn nhẫn, bị cướp đi cả nhân hình lẫn nhân tính, bị đày đọa vào cảnh nghèo đói cùng đường và Chí Phèo chính là một trong những nhân vật tiêu biểu đại diện cho số phận người nông dân Việt Nam lúc bấy giờ.
    Chí Phèo được tác giả Nam Cao khắc họa với ấn tượng đầu tiên mở đầu cho tác phẩm là tiếng chửi hé mở cho người đọc thấy sự bất hạnh của nhân vật. “Hắn vừa đi vừa chửi. Bao giờ cũng thế, cứ rượu xong là hắn chửi” Chí Phèo chửi ai? Hắn chửi trời, chửi đời, chửi cả làng Vũ Đại nhưng trời có hề gì, đời chẳng là ai, cả làng Vũ Đại ai cũng nghĩ “Chắc nó trừ mình ra”, rồi hắn chửi cha mẹ đứa nào không chửi nhau với hắn, chửi chết mẹ đứa nào đẻ ra hắn nhưng cũng không ai đáp lời ngoài mấy con chó. Đối tượng chửi của Chí Phèo cứ thế thu hẹp phạm vi dần. Tiếng chửi ấy cho thấy sự bế tắc và tuyệt vọng nơi Chí. Lúc say cũng là lúc tỉnh táo nhất, không phải hắn hửi trong men rượu mà chửi rất tỉnh. Bởi Chí có tỉnh mới chọn đối tượng chửi logic và thấm thía nỗi thống khổ của bản thân mình. Chí bị cô lập, bị mọi người khinh rẻ, né tránh nếu có ai chửi nhau cùng hắn thì đó còn được gọi là giao tiếp dù cho chẳng hay ho gì nhưng có còn hơn không. Tuy nhiên hiện thực nghiệt ngã và đi ngược lại với mong muốn của hắn cả dân làng Vũ Đại đã dứt khoát không coi Chí là người, tuyệt nhiên không một ai thu nhận hắn vào xã hội chung mà coi hắn là con quỷ dữ.
    Chí Phèo là thằng lưu manh tha hóa bị mất hết nhân hình và nhân tính. Về ngoại hình Nam Cao khắc họa hắn “Trông đặc như thằng sắng cá! Cái đầu thì trọc lốc, cái răng cạo trắng hớn, cái mặt thì đen mà rất cơng cơng, hai mắt gườm gườm trong gớm chết. Hắn mặc quần nái đen với cái áo tây vàng. Cái ngực phanh đầy những nét chạm trổ rồng, phượng với một ông tướng cầm chùy, cả hai cánh tay cũng thế. Trông gớm chết”. Dưới ngòi bút của Nam Cao Chí Phèo hiện lên với vẻ bề ngoài đúng chất thằng đầu bò, lưu manh, côn đồ khiến cho mọi người đều xa lánh hắn. Chí không còn là anh canh điền hiền lành giờ đây nhân tính của hắn cũng đã bị biến dạng méo mó. Vừa về làng hôm trước hôm sau đã thấy ngồi ngoài chợ uống rượu với thịt chó từ trưa đến xế chiều, say xỉn rồi xách vỏ chai đến nhà Bá Kiến rạch mặt ăn vạ để đòi lại danh dự và nhân phẩm đã bị cụ Bá tước đoạt.
    Năm ấy nếu không phải Bá Kiến là kẻ đã đẩy Chí vào tù vì sự ghen tuông vô cớ với Chí Phèo về bà ba thì có lẽ bây giờ hắn không thành ra như vậy. Lần thứ hai hắn đến nhà cụ bá với vẻ mặt hiền lành gãi đầu gãi tai đòi đi ở tù, xin cụ cho vào tù sống nhưng thực chất là đòi miếng cơm tấc đất để mưu sinh. Đây là một nhu cầu chính đáng nhưng một lần nữa Bá Kiến lợi dụng nó để biến Chí thành tay sai, tên đòi nợ thuê cho hắn. Như vậy chế độ hà khắc của nhà tù phong kiến thực dân đã biến Chí Phèo từ một người hiền lành thành kẻ lưu manh, nay trở về để cho thế lực hắc ám như Bá Kiến hoàn thành nốt công đoạn cuối cùng biến Chí thành con quỷ dữ sống với kiếp thú vật độc ác.
    Chí kể từ đó trượt dài trên cái dốc tha hóa, chìm đắm trong men say triền miên “Chưa bao giờ hắn tỉnh và có lẽ hắn chưa bao giờ tỉnh táo để nhớ rằng hắn có mặt ở đời”. Hắn là con quỷ dữ ở làng Vũ Đại “phá bao nhiêu cơ nghiệp, đập nát bao nhiêu cảnh yên vui, đạp đổ bao nhiêu hạnh phúc, làm chảy máu và nước mắt bao nhiêu người lương thiện” Chí Phèo đích thị đã không còn là người nữa hắn có thể làm bất cứ thứ gì mà người ta sai bảo trong lúc hắn say. Hắn mưu sinh chỉ bằng một nghề cướp của giết người, rạch mặt ăn vạ cuộc đời của một con người nhưng lại đội lốt quỷ ác.
    Chí Phèo sau bảy tám năm đi biệt bỗng hắn trở về làng sống trong những ngày tháng đen tối, sống không bằng đã chết, thân hình bị biến dạng, nhân tính bị bóp méo, linh hồn bị quỷ dữ cướp mất. Chí bị đẩy đến tận đáy cùng của xã hội, rơi vào tình cảnh bi thảm. Chắc hẳn Nam Cao cũng rất đau lòng khi buộc phải để cho nhân vật của mình chịu đựng biết bao bất hạnh, đắng cay nghiệt ngã nhưng tránh sao được hiện thực khắc nghiệt. Hoàn cảnh Chí Phèo là đại diện tiêu biểu cho số phận của người nông dân Việt Nam trước cách mạng tháng Tám.
    Bản chất của người nông dân là hiền lành, lương thiện và cam chịu nhưng khi bị chèn ép đến đường cùng họ buộc phải vùng dậy đấu tranh đòi quyền sống. Chí Phèo cũng vậy bản chất thật sự con người hắn là lương thiện. Điều đó được thể hiện trước đây hắn là anh canh điền chất phác, vốn hiền lành và có lòng tự trọng. Khi hắn bị bà ba_vợ thứ ba của Bá Kiến bắt hắn bóp chân mà lại kêu bóp lên trên, trên nữa “hắn thấy nhục hơn là thích”, “hắn chỉ thấy nhục chứ yêu đương gì”. Chí có nhân cách của người bình thường khi phải làm một việc không chính đáng hắn cũng biết lo sợ, biết run, biết là mình bị xúc phạm đến lòng tự trọng. Ngày xưa ấy hắn cũng đã từng có một thời mơ ước cuộc sống bình dị về một gia đình nho nhỏ “Chồng cuốc mướn cày thuê, vợ dệt vải, chúng lại bỏ một con lợn nuôi để làm vốn liếng. Khá giả thì mua dăm ba sào ruộng làm”. Anh Chí ngày ấy hiền như cục đất, bản tính đáng được yêu thương và trân trọng nhưng hiện thực đã đẩy anh đến đường cùng.
    Con người lương thiện trong Chí thực sự trỗi dậy mạnh mẽ khi gặp thị Nở cảm nhận được tình người trong bát cháo hành và tình cảm chân thành của thị hắn muốn hoàn lương, muốn sống đúng nghĩa là con người. Hắn đã ngạc nhiên và cảm động biết bao trước hành động ân cần, săn sóc của thị. Lần đầu tiên giọt nước mắt tình người chảy ra, trái tim sắt đá bao năm nay được yêu thương trở lại. “Hắn thèm lương thiện hắn muốn làm hòa với mọi người biết bao! Thị Nở sẽ mở đường cho hắn. Thị có thể sống yên ổn với hắn thì sao người khác lại không thể được”. Hắn khao khát được hòa nhập với mọi người, hắn đặt niềm tin vào thị, hắn tin thị có thể giúp mình. Nhưng bi kịch một lần nữa lại ập đến Chí Phèo sau năm ngày sống hạnh phúc với thị tưởng chừng sóng gió đã ngưng vậy mà Chí lại bị cự tuyệt quyền làm người bởi định kiến của bà cô thị Nở cũng như của toàn xã hội. Chí Phèo không còn lựa chọn nào khác ngoài cái chết ám ánh với tiếng kêu đòi làm người lương thiện thống thiết trong khổ đau “Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này?” Chí đã thực sự thức tỉnh và hồi sinh để nhận thức giá trị bản thân. Bản chất lương thiện trong người Chí không bị mất đi mà chỉ bị khuất lấp chỉ cần có cơ hội là trỗi dậy đòi quyền sống mãnh liệt. Chi tiết ấy cho thấy nét độc đáo riêng biệt: “Khi miêu tả người nông dân bị lưu manh hóa, Nam Cao không hề bôi nhọ nông dân mà trái lại đã đi sâu vào nội tâm nhân vật để phát hiện ra và khẳng định nhân phẩm của họ, ngay khi trong họ bị xã hội cướp đi cả nhân hình, nhân tính”.
    Chí Phèo là nhân vật đại diện cho người nông dân Việt Nam sống trong chế độ phong kiến nửa thuộc địa tàn ác. Nhân vật Chí Phèo được khắc họa rất sinh động với lối trần thuật linh hoạt giọng điệu của tác giả và các nhân vật khác được đan xen, phối hợp với nhau, nghệ thuật điển hình hóa nhân vật được sử dụng thành công làm nên một nhân vật Chí Phèo có một không hai trong lịch sử văn học, khái quát được cả một hiện tượng trở thành quy luật xã hội: “Ở đâu có áp bức, ở đó có đấu tranh”
    Như vậy bằng tài năng của nhà văn chân chính, Nam Cao đã để lại cho nền văn học dân tộc một kiệt tác nghệ thuật và một hình tượng nhân vật độc đáo. Trang văn đã khép lại nhưng tiếng kêu thống thiết của Chí vẫn khiến cho độc giả phải suy tư, trăn trở về bản chất tốt đẹp trong con người.