Author: Kiến Thức Trung Học

  • [Soạn văn] Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến)

    [Soạn văn] Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến)

    Soạn văn lớp 11: Khóc Dương Khuê (Nguyễn Khuyến)

    Câu 1: Bài thơ có thể chia thành ba đoạn:

    – Đoạn 1 (hai câu đầu): Nỗi đau đột ngột khi mất bạn.

    – Đoạn 2 (từ câu 3 đến câu 22): Nhớ lại những kỷ niệm giữa hai người và thể hiện tâm trạng thời cuộc của nhà thơ.

    – Đoạn 3 (phần còn lại): Nỗi đau mất bạn và tâm sự cô đơn vì thiếu tri kỷ.

    Câu 2:  Tình bạn thắm thiết, thủy chung giữa hai người được tác giả diễn đạt qua sự vận động của cảm xúc thơ.

    Đầu tiên là nỗi đau khi hay tin bạn qua đời: Câu thơ “Bác Dương thôi đã thôi rồi!” là tiếng kêu thương, đột ngột, thất vọng. Cụm từ thôi đã thôi rồi chỉ gồm các hư từ nhằm nhấn mạnh đến sự mất mát không gì bù đắp nổi. Câu thơ thứ hai dàn trải diễn tả sự mất mát, cả không gian như nhuốm một màu tang tốc.

    Tình bạn thắm thiết ấy được cụ thể hóa qua đoạn thơ thứ hai. Đó là những kỉ niệm về một thời đèn sách, những thú vui nơi dặm khách, nơi gác hẹp, đắm say trong lời ca, tiếng đàn, nhịp phách.

    Tình bạn ấy còn được thể hiện trong đoạn kết, diễn tả nỗi đau của tác giả khi bạn không còn nữa. Nỗi đau thể hiện ở nhiều cung bậc: lúc đột ngột, lúc ngậm ngùi, luyến tiếc, lúc lắng đọng thấm sâu chi phối tuổi già của tác giả. Hai câu kết là nỗi đau không nước mắt, nỗi đau như dồn vào lòng:

    Tuổi già giọt lệ như sương

    Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan.

    Câu 3: Nghệ thuật của tác phẩm

    Bài thơ rất thành công trong nghệ thuật tu từ như nói giảm nói tránh, điệp ngữ, dùng điển cố. Nhưng đặc sắc nhất nhất là nghệ thuật sử dụng các câu hỏi tu từ trong đoạn cuối bài thơ. Hàng loạt các câu thơ như: Làm sao bác vội về ngay; Vội vàng sao đã mải lên tiên, … Để rồi lắng đọng trong những câu thơ hụt hẫng, chơi vơi:

    Rượu ngon không có bạn hiền,

    Không mua không phải không tiền không mua.

    Điệp từ không dùng rất hợp hoàn cảnh và đặc sắc. Không mua không phải không có tiền, mà vì mất bạn. Không có tri kỉ thì độc ẩm chỉ tăng thêm xót xa. Chỉ một cặp lục bát mà chồng xếp 5 chữ không diễn tả thật đúng cái trống vắng khi mất bạn. Để rồi kết đọng trong tiếng khóc đáng thương của người bạn già tri kỉ:

    Tuổi già giọt lệ như sương

    Hơi đâu ép lấy hai hàng chứa chan.

    Câu thơ buông nhẹ mà khơi gợi, xót đau, hờn tủi.

  • [Soạn văn] Thương vợ (Trần Tế Xương)

    [Soạn văn] Thương vợ (Trần Tế Xương)

    Soạn văn lớp 11: Thương vợ (Trần Tế Xương)

    Câu 1: Hình ảnh bà Tú qua bốn câu thơ đầu

    – Hai câu đầu đã giới thiệu được hình ảnh bà Tú gắn với công việc mưu sinh.

    Quanh năm buôn bán ở mom sông

    Nuôi đủ năm con với một chồng

    + Công việc là buôn bán. Thời gian làm việc là “quanh năm”, là ngày này qua ngày khác, năm này qua năm khác. Mom sông là vùng đất nhô ra sông, nơi đầu sóng ngọn gió.

    –> Đây là hình ảnh gợi lên hoàn cảnh kiếm sống lam lũ, vất vả với một không gian sinh tồn bấp bênh, khó khăn.

    – Trên cái nền không gian và thời gian ấy, cuộc mưu sinh đầy khó khăn của bà Tú hiện lên rất rõ:

    Lặn lội thân cò khi quãng vắng

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông

    Hình ảnh thân cò là hình ảnh ẩn dụ, tượng trưng cho phụ nữ trong xã hội xưa. Có điều, Tú Xương vừa tiếp thu ca dao nhưng vừa có những sáng tạo độc đáo. Dùng từ thân cò làm ý thơ mang tính khái quát cao hơn, nó giúp gợi lên cả một số kiếp, nỗi đau thân phận. Có lẽ vì thế mà tình thương của Tú Xương dành cho bà Tú trở nên sâu sắc hơn. Bên cạnh đó, từ láy lặn lội, eo sèo được đảo lên trước làm nổi bật hình ảnh lam lũ, vất vả của bà Tú.

    Câu 2: Đức tính cao đẹp của bà Tú

    Vẻ đạp của bà Tú trước hết được cảm nhận ở sự đảm đang, tháo vát, chu toàn với chồng con:

    Nuôi đủ năm con với một chồng

    Từ đủ trong nuôi đủ vừa nói số lượng, vừa nói chất lượng. Oái oăm hơn, câu thơ chia làm hai vế thì vế bên này (một chồng) lại cân xứng với cả gánh nặng bên kia (năm con). Câu thơ cho thấy Tú Xương ý thức rõ lắm nỗi lo của vợ và sự khiếm khuyết của mình nữa.

    Ở bà Tú sự đảm đang tháo vát đi liền với đức hi sinh, thể hiện ở việc bất chấp gian khó, chạy vạy buôn bán để nuôi chồng con. Song dường như những lời thơ miêu tả còn chưa đủ, Tú Xương còn bình luận tiếp:

    Năm nắng mười mưa dám quản công

    Thành ngữ “năm nắng mười mưa” vốn đã có hàm nghĩa chỉ sự gian lao, vất vả nay được dùng trong trường hợp của bà Tú nó còn nổi bật được đức chịu thương, chịu khó hết lòng vì chồng con của bà Tú. Nhưng với bà Tú đó lại là niềm hạnh phúc của một người vợ vì gia đình. Tú Xương đã thay vợ mình nói lên điều này.

    Câu 3: Lời “chửi” trong hai câu thơ cuối là lời Tú Xương tự rủa mát mình:

    Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

    Có chồng hờ hững cùng như không.

    Hai câu cuối chỉ ra hai nguyên nhân gây nên nỗi khổ của vợ: ấy là mình và thói đời. Sự hờ hững của ông cũng là một biểu hiện của thói đời ấy. Đó cũng là biểu hiện của việc vận dụng khẩu ngữ, lời ăn, tiếng nói của dân gian để khắc họa hình ảnh bà Tú – một người phụ nữ của gia đình, của xã hội. Lời chửi ẩn sâu trong tâm khảm sự thương yêu và có cả ngậm ngùi, chua xót đến đắng lòng.

    Trong xã hội trọng nam khinh nữ, việc một nhà nho như Tú Xương không những nhận ra sự vô dụng của mình mà còn trách mình một cách thẳng thắn, đó chính là một biểu hiện trong nhân cách nhà thơ qua tiếng chửi trong bài thơ.

    Câu 4: Nỗi lòng của nhà thơ

    Nỗi lòng thương vợ của Tú Xương được thể hiện thành công qua bài thơ. Tựa đề Thương vợ chưa thể hiện được đầy đủ tình thương của nhà thơ đối với vợ cũng như chưa toát lên được nhân cách của nhà thơ. Tú Xương không chỉ thương vợ mà còn biết ơn vợ, không chỉ lên án thói đời mà còn tự trách mình. Điều đó chứng tỏ tấm lòng của nhà thơ đối với bà Tú.

    Phân Luyện tập

    Phân tích sự vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian trong bài thơ “Thương vợ” của Tú Xương.

    “Thương vợ” là một trong những bài thơ mà Tú Xương vận dụng một cách rất sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ văn học dân gian.

    – Về hình ảnh: Trong ca dao, hình ảnh con cò có khá nhiều ý nghĩa: có khi nói về thân phận người phụ nữ lam lũ, vất vả, chịu thương chịu khó; có khi lại tượng trưng cho thân phận người lao động với nhiều bất trắc thua thiệt. Như thế, con cò trong ca dao vốn đã gợi nhiều cay đắng, xót xa. Song dường như ứng vào nhân vậ cụ thể là bà Tú thì nó lại càng gợi sự xót xa, tội nghiệp nhiều hơn. Hơn thế nữa so với từ “con cò” trong ca dao thì từ “thân cò” của Tú Xương mang tính khái quát cao hơn, do vậy mà tình yêu thương của Tú Xương cũng thấm thía và sâu sắc hơn.

    – Về từ ngữ: thành ngữ “năm nắng mười mưa” được vận dụng một cách rất sáng tạo. Cụm từ “nắng mưa” chỉ sự vất vả. Các từ năm, mười là số lượng phiếm chỉ, để nói số nhiều, được tách ra rồi kết hợp với “nắng, mưa” tạo nên một thành ngữ chéo. Hiệu quả của nó vừa nói lên sự vất vả, gian lao, vừa thể hiện đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng con của bà Tú.

  • [Soạn văn] Câu cá mùa thu (Thu Điếu – Nguyễn Khuyến)

    [Soạn văn] Câu cá mùa thu (Thu Điếu – Nguyễn Khuyến)

    Soạn văn lớp 11: Câu cá mùa thu (Thu Điếu – Nguyễn Khuyến)

    Câu 1: Điểm nhìn của tác giả

    Cảnh vật được đón nhận từ gần đến cao xa rồi từ cao xa trở lại gần: điểm nhìn cảnh thu là chiếc thuyền câu nhìn mặt ao, nhìn lên bầu trời, nhìn tới ngõ trúc rồi lại trở về với ao thu, với thuyền câu.

    Từ điểm nhìn ấy, từ một khung ao hẹp, không gian mùa thu, cảnh sắc mùa thu mở ra nhiều hướng thật sinh động.

    Câu 2: Nét riêng của cảnh sắc mùa thu

    – Sự dịu nhẹ thanh sơ của cảnh vật:

    • Màu sắc: nước trong veo, sóng biếc, trời xanh ngắt.
    • Đường nét chuyển động nhẹ nhàng: sóng hơi gợn tí, lá vàng khẽ đưa vèo, tầng mây lơ lửng …

    – Hình ảnh bình dị, thân thuộc: ao thơ, thuyền câu, ngõ trúc …

    Đó là cảnh mùa thu của làng quê bắc bộ. Bài thơ không chỉ thể hiện cái hồn của cảnh thu mà còn là cái hồn của cuộc sống ở nông thôn xưa, dân dã nhưng vẫn đầy sức sống. “Cái thú vị của bài Thu điếu ở các điệu xanh, xanh ao, xanh bờ, xanh sóng, xanh trúc, xanh trời, xanh bèo”… đúng là thanh sơ.

    Câu 3: Không gian trong Thu điếu: tĩnh lặng, phảng phất buồn

    – Miêu tả trực tiếp:

    + Nước “trong veo“, sóng “gợn tí“, mây “lơ lửng“, lá “khẽ đưa vèo” các hình ảnh được miêu tả trong trạng thái ngưng chuyển động hoặc chuyển động rất khẽ, rất nhẹ càng làm nổi bật sự tĩnh lặng.

    + Đặc biệt câu kết “cá đâu đớp động dưới chân bèo“.

    Vào lúc người ta có cảm giác tất cả đều bất động thì câu thơ tạo được một tiếng động nhất. Nhưng tiếng cá đớp mồi không phá vỡ cái tĩnh ngược lại nó càng làm tăng sự yên ắng, tĩnh mịch của cảnh vật. Đây chính là thủ pháp lấy động nói tĩnh rất quen thuộc của thơ ca.

    Không gian rộng, sâu đối lập với mặt ao hẹp, gợn sóng nhẹ và hiu hắt gió, lại cộng thêm với “Ngõ trúc quanh co khách vắng teo” tạo cho không gian một cảm giác hiu quạnh. Cảnh làng quê trong trẻo trong ánh mắt của thi nhân nhưng phảng phất nỗi buồn. Cảnh đẹp nhưng tĩnh và vắng bởi cảm nhận của một người vẫn đầy suy tư trăn trở, chứng tỏ trong lòng nhà thơ còn rất nhiều trắc ẩn. Từ thân thế, cuộc đời, hoàn cảnh sống của tác giả có thể hiểu, tâm sự của người câu cá là chính là nỗi lòng non nước, nỗi lòng thời thế của nhà nho có lòng tự trọng và lòng yêu quê hương đất nước như Nguyễn Khuyến.

    Câu 4: Vần của bài thơ thu điếu

    Trong bài thơ rất đặc biệt. Vần “eo” là một vần khó luyến láy, vốn rất khó gò vào mạch thơ, ý thơ nhưng tác giả lại sử dụng rất tài tình, độc đáo. Vần “eo” góp phần diễn tả một không gian nhỏ dần, khép kín, phù hợp với tâm trạng đầy oan khúc của thi nhân.

    Câu 5: Bài thơ gợi tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ.

    Bài thơ gợi tình yêu và sự gắn bó sâu sắc với thiên nhiên vùng đồng bằng Bắc Bộ. Nếu không xuất phát từ tình yêu quê hương tha thiết thì không thể vẽ lên một bức tranh thu đẹp, rất đặc trưng và có hồn như thế. Cảnh thu rất đẹp nhưng buồn phảng phất. Đó chính là nét buồn lan ra từ tâm trạng của nhân vật trữ tình.

    Bài thơ không bộc lộ trực tiếp bất cứ cảm xúc nào của tác giả. Suốt từ đầu tới cuối bài thơ, người đọc mới thấy nhân vật trữ tình xuất hiện nhưng là xuất hiện trong cái tư thế của người đi câu (Tựa gối buông cần lâu chẳng được) mà thực tế không phải. Đó là tư thế của con người u uẩn trong nỗi lo âu triền miên, chìm đắm. Cái tình của Nguyễn Khuyến đối với đất nước, đối với non sông trầm lặng, da diết và đậm chất suy tư.

    Phần Luyện tập

    Phân tích cái hay của nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong bài “Câu cá mùa thu”.

    Thu điếu của Nguyễn Khuyến không chỉ có cái hấp dẫn của một bức tranh làng quê tĩnh mặc, của một tâm sự kín đáo ẩn dấu trong ao-nước-mây-trời mà còn ở thứ ngôn ngữ linh hoạt sắc sảo trầm tích trong mình những biến tấu tinh vi của tâm cảnh. Vẻ đẹp của nghệ thuật sử dụng từ ngữ trong Câu cá mùa thu được thể hiện trên 3 phương diện cơ bản sau:

    Thứ nhất đó là thứ ngôn ngữ có thần. Những từ ngữ như “vèo“, bé tẻo teo, hơi gợn tí, xanh ngắt, đâu đớp động … là thứ ngôn ngữ được chắt lọc “trong bàn tay nhào nặn của người nghệ sỹ ngôn từ”. Ngôn ngữ giản dị nhưng nắm bắt được những chuyển động tế vi của trời đất, lột tả được cái run rẩy của tạo vật khi bước vào thu,. Sự run rẩy của lá (vèo), của sóng (hơi gợn), của mây (lơ lửng)… hợp lưu trong nỗi run rẩy của lòng người để gợi và để cảm về một bức tranh làng cảnh trác tuyệt.

    Thứ hai đó là thứ ngôn ngữ lấy tĩnh chế động, lấy động tả tĩnh thêm vào đó là sự linh hoạt của ngôn ngữ, hư từ hay thực từ đều có hai chức năng vừa vẽ ngoại cảnh vừa khắc họa tâm cảnh.

    Thứ ba đó là việc khai thác tối đa vỏ ngữ âm của ngôn ngữ: những từ trùng phụ âm đầu đi liền nhau như: bé tẻo teo, lơ lửng, đâu đớp động hay cặp điệp vận teo-teo (cặp 2- 6) vừa tạo ra nhịp điệu bằng bằng vi biến trong những mơ hồ của đời, vừa tạo ra vòng lặp quẩn quanh u sầu trong tâm trạng của chính tác giả

  • [Soạn Văn] Tự tình 2 – Hồ Xuân Hương

    [Soạn Văn] Tự tình 2 – Hồ Xuân Hương

    Soạn văn lớp 11: Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương)

    Câu 1: Hau câu đầu của bài Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương)

    – Hai câu đầu khái quát không gian, thời gian làm nền cho tâm trạng.

    • Thời gian: đêm khuya.
    • Không gian: trống trải, mênh mông, văng vẳng tiếng trống cầm canh.

    – Thời gian được thể hiện qua câu với âm thanh văng vẳng trống canh dồn. Âm thanh văng vẳngkhông chỉ đơn thuần là sự cảm nhận âm thanh bằng thính giác mà còn là sự cảm nhận về sự trôi đi của thời gian – thời gian vô thủy, vô chung nhưng thời gian còn chứa đựng sự phá hủy.

    – Từ trơ được đặt ở đầu câu với nghệ thuật đảo ngữ vừa nói được bản lĩnh nhưng lại cũng thể hiện được nỗi đau của nhà thơ. Trơ là tủi hổ, là bẽ bàng. Nhưng trơ với Hồ Xuân Hương còn là sự thách thức.

    – Hồng nhan: cách nói về người phụ nữ nhưng đi liền với cái, gợi lên sự rẻ rúng, mỉa mai.

    – Chén rượu hương đưa say lại tỉnh: Câu thơ gợi lên cái vòng luẩn quẩn, như là sự cảm nhận duyên tình đã trở thành trò đùa của tạo hóa: Hương rượu và hương tình đi qua chỉ để lại vị đắng chát, khổ đau của tác giả.

    – Hình ảnh Vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn là hình tượng chứa hai lần bi kịch: trăng sắp tàn (bóng xế) mà vẫn khuyết chưa tròn. Đó là sự tương đồng với thân phận của người phụ nữ. Câu thơ tả ngoại cảnh nhưng chứa đựng nội tâm của tác giả, tạo nên sự thống nhất giữa trăng và người.

    Câu 2: Hai câu 5 và câu 6 bài Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương)

    Hai câu 5 – 6 mang đậm cá tính của Hồ Xuân Hương. Hai hình ảnh thiên nhiên rất dữ dội thể hiện sự bức bối trong tâm trạng và khát khao phá vỡ những lối mòn quen thuộc của cuộc sống để được tự do. Rêu là một sinh vật nhỏ yếu, hèn mọn nhưng cũng không chịu khuất phục, mềm yếu; nó phải xiên ngang mặt đất. Đá vốn rất chắc nhưng giờ cũng ngọn hơn để đâm toạc chân mây.

    Lối đảo ngữ cùng với những động từ mạnh xiên, đâm kết hợp với các bổ ngữ như ngang, toạc thể hiện rõ hơn nỗi khát khao hạnh phúc, giải thoát khỏi cô đơn của nhà thơ.

    Câu 3: Hai câu kết cùa bài Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương)

    Hai câu kết bỗng nhiên chùng xuống. Dường như mọi cố gắng đều vô ích. Sự thật vẫn là sự thật. Tâm trạng được trực tiếp bộc lộ. Thời gian vô tình cứ trôi chảy, xuân của tự nhiên qua đi rồi trở lại nhưng xuân của người thì không. Từ lại thứ nhất có nghĩa là thêm một lần nữa, từ lạithứ hai là sự trở lại. Vì vậy, hai từ lại giống nhau về âm nhưng khác nhau về nghĩa, về cấp độ nghĩa.

    Câu thơ cuối phản phất sự cay đắng chua xót của người phụ nữ bất hạnh, có những cuộc tình duyên không trọn vẹn đủ đầy. Tác giả sử dụng nghệ thuật tăng tiến. Đây không phải là khối tình mà là mảnh tình, tức là hết sức bé nhỏ. Mảnh tình bé nhỏ lại đem san sẻ để chỉ còn tí con con.

    Câu 4: Nghệ thuật của Tự tình 2 (Hồ Xuân Hương)

    Trong Tự tình, nhà thơ đã dùng nhiều từ ngữ và hình ảnh gây ấn tượng mạnh, đó là các từ thuần Việt giàu hình ảnh, màu sắc với sắc thái đặc tả mạnh, như các động từ dồn, trơ, xế, đâm toạc, xiên ngang, đi, lại lại, san sẻ…, các tính từ say, tỉnh, khuyết, tròn… Các từ ngữ này có khả năng biểu lộ chính xác và tinh tế trạng thái tâm trạng của nhân vật trữ tình. Đó là sự cô đơn, là khát khao được sống, được hạnh phúc. Tâm trạng uất ức bị dồn nén dường như được thoát ra, trải ra cùng những hình ảnh, những từ ngữ táo bạo ấy.

    II. Luyện tập

       Sự giống nhau và khác nhau giữa hai bài thơ Tự tình I và Tự tình II của Hồ Xuân Hương

    – Giống nhau:

    + Cùng sử dụng thơ Nôm đường luật thể hiện cảm xúc của tác giả.

    + Đều mượn cảm thức về thời gian để thể hiện tâm trạng. Điều đó được thể hiện qua kết cấu vòng tròn của hai bài thơ: mở đầu bằng thời gian và kết thúc cũng là thời gian.

    + Đều sử dụng nhiều từ ngữ biểu cảm: văng vẳng, trở, cái hồng nhan, ngán, tí con con, oán hận, rền rĩ, mõm mòn, già tom…

    – Khác nhau:

    + Cảm xúc trong Tự tình I là nỗi niềm của nhà thơ trước duyên phận hẩm hiu, nhiều mất mát, trước lẽ đời đầy nghịch cảnh, đồng thời là sự vươn lên của chính bản thân, thách đố lại duyên phận.

    + Còn ở Tự tình II, cũng là sự thể hiện của bi kịch duyên phận muôn màng, cố gắng vươn lên nhưng cuối cùng cũng không thoát được bi kịch. Chính vì thế bi kịch như được nhân lên, phẫn uất hơn. Sự khác nhau đó chính là do cảm xúc chủ đạo trong từng bài thơ.

  • [Soạn văn] Vào phủ Chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự – Lê Hữu Trác)

    [Soạn văn] Vào phủ Chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự – Lê Hữu Trác)

    Soạn văn lớp 11: Vào phủ Chúa Trịnh

    Câu 1: Quang cảnh trong phủ chúa (được miêu tả từ ngoài vào trong, từ bao quát đến cụ thể).

    – Phải qua mấy lần cửa, vườn hoa đầy sắc hương và tiếng chim riu rít, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau.

    – Đến hậu mã – nơi quân Hậu mã chờ sẵn để chúa sai, cột và bao lươn lượn vàng, nhà “Đại đường” tất cả các cột và đồ dùng đều sơn son thiếp vàng…

    – Vào nội cung, cảnh càng xa hoa tráng lệ: trường gấm, màn là, xập vàng, ghế rồng, hương hoa ngào ngạt…

    Quang cảnh cực kì xa hoa, lộng lẫy. Tác giả đã ngâm lên bài thơ để diễn tả hết sự sang trọng, vương giả trong phủ chúa.

    * Những nghi thức, cung cách sinh họat trong phủ chúa:

    – Trong phủ có nhiều loại quan và người phục địch, người làm một nhiệm vụ.

    – Lời lẽ nhắc đến chúa Trịnh và thế tử phái hết sức cung kính.

    – Thế tử chỉ là một đứa bé năm sáu tuổi, mạch xong lại lạy, 4 lạy nữa mới được lui ra. Muốn xem thân hình thế tử để chuẩn đoán bệnh phải có quan viện nội thần đến xin phép cởi áo cho thế tử…

    – Tác giả vào đến nội cung không những không được thấy mặt chúa, tất cả chỉ làm theo lệnh và thông qua quan chánh đường.

    –>Cảnh nội cung trang nghiêm phản ánh quyền uy tột bậc của nhà chúa.

    * Cách nhìn của tác giả đối với đời sống nơi phủ chúa:

    – Tác giả không bộc lộ trực tiếp thát độ nhưng qua việc chọn chi tiết để kể và tả, đôi lúc xen vào lời nhận xét khách quan, phần nào thấy được thái độ của ông:

    + Ông nhận xét cảnh xa hoa, lộng lẫy tấp nập ở phủ chúa “khác hẳn người thường” đến mức không tưởng tượng nổi, “khác nào ngư phủ đào nguyên thưa nào”.

    + Được mời ăn cơm: tác giả nhận xét “toàn của ngon vật lạ”

    + Tác giả nhận xét nguyên nhân nơi phủ chúa cái gì cũng đẹp, cái gì cũng sang nhưng thái độ của tác giả lại tỏ rõ sự dưng dưng, không đồng tính với cuộc sống quá tiện nghi, quá sang trọng, khác thường như vậy. Đó là cuộc sống ăn chơi, hưởng lạc xa xỉ nhưng lại chẳng có tự do sinh khí.

    Câu 2: Đoạn trích có nhiều chi tiết nghệ thuật rất “đắt”, thể hiện nổi bật nội dung hiện thực của tác phẩm. Sự tinh tế và sắc sảo của tác giả đọng lại trong đoạn trích là ở những chi tiết tuy nhỏ nhưng rất gây ấn tượng:

    – Hình ảnh nhân vật Trịnh Cán được khắc họa bằng những nét riêng, nhưng đồng thời mang ý nghĩa khái quát. Thế tử bị bệnh có đến bảy tám thầy thuốc phục dịch và lúc nào cũng có mấy người đứng hầu hai bên. Dù thế tử chỉ là một đứa bé trẻ lên 5 – 6 tuổi, nhưng khi vào xem bệnh, thầy thuốc già phải quỳ lạy bốn lảy và khi xem mạch xong phải lạy bốn lạy nữa trước khi lui ra. Muốn xem thân thể của thế tử như thế nào để đoán bệnh thì phải có một viên quan nội thần đến xin phép được cởi áo cho thế tử.

    – Sự tinh tế, sắc sảo trong việc miêu tả của tác giả kết tinh ở những chi tiết tuy nhỏ nhưng gây ấn tượng như việc thế tử ngồi chễm chệ trên sập vàng để một cụ già phải quỳ dưới đất lạy bốn lạy, rồi cười và ban một lời khen: “Ông này lạy khéo!”.

    – Chi tiết tác giả đi vào nơi ở của thế tử để xem mạch: “Ở trong tối om, không có cửa ngõ gì cả. Đi qua độ năm, sáu lần trướng gấm như vậy …”. Có thể nói, đọc đến chi tiết này, nhiều người đã có thể cắt nghĩa được nguyên nhân căn bệnh của thái tử Cán. Một đứa trẻ còn quá nhỏ lại bị “giam hãm” nơi thâm cung không có ánh sáng ban ngày thì làm sao có được sinh lực tự nhiên để sống.

    – Truyện còn có nhiều chi tiết khác cũng sắc sảo như vậy: chi tiết miêu tả nơi “Thánh thượng đang ngự” (có mấy người cung nhân đang đứng xúm xít. Đèn sáp chiếu sáng làm nổi bật màu mặt phấn và màu áo đỏ. Xung quanh lấp lánh, hương hoa ngào ngạt), rồi chi tiết miêu tả dụng cụ để ăn uống, … Lời văn của tác giả rất tự nhiên, không hề có chút cường điệu nào. Cũng chính vì thế mà việc hưởng lạc xa hoa của nhà chúa tự nó phơi bày ra trước mắt người đọc không cần thêm một lời bình luận nào.

    Câu 3: Phẩm chất người thầy thuốc giỏi:

    Tuy ông ở quê nhưng tiếng tăm của ông “như sấm bên tai các thầy thuốc giỏi ở trong cung. Ông hiểu rõ căn bệnh thế tử nhưng sợ chữa khỏi ngay sẽ bị giữ lại bên chúa, bị công danh trói buộc. Chứng tỏ ông là người khinh thường danh lại.

    – Ông muốn chữa bệnh cầm chừng cho thế tử nhưng lại thấy trái với y đức, phụ lòng của cha ông…

    –>Chứng tỏ ông là người có lương tâm, đức độ.

    – Khi đã quyết định chữa bệnh cho thế tử, mặc dù ý kiến trái với ý đa số thầy thuốc trong cung nhưng ông vẫn bảo vệ giữ nguyên ý kiến. Chứng tỏ ông là người thầy thuốc già dặn kinh nghiệm và có bản lĩnh, có chính kiến.

    Câu 4: Thành công của đoạn trích phải kể đến giọng điệu kể chuyện rất kí sự của Lê Hữu Trác:

    Đó là sự xen kẽ rất tự nhiên của lời kể và lời bình. Thông thường, kí là kết quả của sự kết hợp giữa tả cảnh và thể hiện tâm tư. Ở đây, tác giả chú ý nhiều đến tả cảnh, đến tường thuật sự việc. Nhưng ngay trong giọng kể có vẻ khách quan ấy đã chứa đựng những đánh giá, bình luận thể hiện thái độ của người viết. Khi tả cảnh xa hoa, đông đúc của phủ chúa, tác giả viết: “Tôi nghĩ bụng: Mình vỗn con quan, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết. Chỉ có những việc ở trong phủ chúa là mình mới chỉ nghe nói thôi. Bước chân đến đây mới hay cảnh giàu sang của vua chúa thực hẳn khác người thường!”. Khi dự bữa cơm sáng, ông viết: Mâm vàng, chén bạc, đồ ăn toàn là của ngon vật lạ, tôi bấy giờ mới biết cái phong vị của nhà đại gia. Đó là những câu văn thâm thúy ẩn chứa sắc thái mỉa mai của người viết đối với sự xa hoa quá mức của phủ chúa. Kí sự của Lê Hữu Trác là kết quả của sự quan sát tinh tế, bộc lộ thái độ một cách kín đáo nhưng sâu sắc. Đó là thể văn tự sự giàu chất trữ tình.

  • Soạn Văn Lớp 11 – Hỗ Trợ Soạn Văn

    Soạn Văn Lớp 11 – Hỗ Trợ Soạn Văn

    Dưới đây là một số bài soạn văn lớp 11 được Hỗ Trợ Ôn Tập sưu tầm và chia sẻ lại cho các bạn. Hi vọng những bài đăng dưới đây có thể giúp đỡ được các bạn học sinh – sinh viên trong quá trình học tập.

    Một số bài soạn văn lớp 11

    1. Vào phủ Chúa Trịnh (Trích Thượng kinh kí sự)
    2. Tự tình – Hồ Xuân Hương
    3. Câu cá mùa thu (Thu điếu)
    4. Thương vợ – Trần Tế Xương
    5. Khóc Dương Khuê – Nguyễn Khuyến
    6. Vịnh khoa thi Hương – Trần Tế Xương
    7. Bài ca ngất ngưởng (Nguyễn Công Trứ)
    8. Bài ca ngắn đi trên bãi cát (Cao Bá Quát)
    9. Lẽ ghét thương (Nguyễn Đình Chiểu)
    10. Chạy giặc (Nguyễn Đình Chiểu)
    11. Bài ca phong cảnh Hương Sơn (Chu Mạnh Trinh)
    12. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Tác giả Nguyễn Đình Chiểu
    13. Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc: Tác phẩm
    14. Chiếu cầu hiền (Ngô Thì Nhậm)
    15. Xin lập khoa luật (Nguyễn Trường Tộ)
    16. Khái quát văn học Việt Nam từ đầu thế kỉ XX đến cách mạng tháng Tám 1945
    17. Hai đứa trẻ (Thạch Lam)
    18. Chữ người tử tù (Nguyễn Tuân)
    19. Hạnh phúc của một tang gia (Vũ Trọng Phụng)
    20. Chí Phèo: Tác giả Nam Cao
    21. Chí Phèo: Tác phẩm
    22. Cha con nghĩa nặng (Hồ Biểu Chánh)
    23. Vi hành (Nguyễn Ái Quốc)
    24. Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan)
    25. Vĩnh biệt Cửu Trùng Đài (Nguyễn Huy Tưởng)
    26. Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)
    27. Lưu biệt khi xuất dương (Phan Bội Châu)
    28. Hầu trời (Tản Đà)
    29. Vội vàng (Xuân Diệu)
    30. Tràng Giang (Huy Cận)
    31. Đây thôn Vĩ Dạ (Hàn Mạc Tử)
    32. Chiều tối (Hồ Chí Minh)
    33. Từ ấy (Tố Hữu)
    34. Lai tân (Hồ Chí Minh)
    35. Nhớ đồng (Tố Hữu)
    36. Tương tư (Nguyễn Bính)
    37. Chiều xuân (Anh Thơ)
    38. Tôi yêu em (Pu-Skin)
    39. Bài thơ số 28 (Ta-go)
    40. Người trong bao (Sê-khốp)
    41. Người cầm quyền khôi phục uy quyền (V.Huy-Gô)
    42. Về luân lí xã hội ở nước ta (Phan Châu Trinh)
    43. Tiếng mẹ đẻ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức (Nguyễn An Ninh)
    44. Ba cống hiến vĩ đại của Các Mác (Ph.Ăng-ghen)
    45. Một thời đại trong thi ca (Hoài Thanh)
  • [Soạn văn] Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)

    [Soạn văn] Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)

    Soạn văn lớp 12: Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)

    Bố cục: chia làm 3 phần chính:

    – Phần 1: Cuộc đổi xác của hồn Trương Ba với hàng thịt.

    – Phần 2: Những hành động sau khi bị tráo đổi.

    – Phần 3: Trở về con người cũ.

    Câu 1: Qua đoạn đối thoại giữa Trương Ba và hàng thịt, tác giả muốn gửi gắm một bức thông điệp quan trọng tới người đọc:

    – Ở đây bi kịch của con người khi phải hoán đổi thân xác cho nhau, cứ phải sống nhờ lương tựa vào người khác, những mỗi người một khác nên sẽ rất bị ảnh hưởng trong tâm hồn của tác giả.

    – Ở đây tác giả đã thể hiện những chi tiết rất đặc sắc trong tâm hồn của tác giả, hình ảnh về mượn thể xác sẽ làm cho con người cảm thấy khó chịu khi mình phải trú ngụ và lương tựa vào cái không phải là của mình.

    – Một con người hiền lành lịch sử của Trương Ba nay bị hoán đổi sang với xác của hàng thịt một người cục cằn thô lỗ, ở đây sự hoán đổi không hợp lý để làm nổi bật ý nghĩa sâu xa mà tác giả muốn để lại cho người đọc.

    – Trương Ba hội thoại với hàng thịt, ông ta đang chán cái thể xác kềnh càng khó chịu này, ông ta muốn thoát khỏi chúng, nhưng nay chỉ còn là thể xác và những hình đó thật mờ nhạt khi linh hồn của ông mãi trong xác hàng thịt và không thể thay đổi.

    – Hình ảnh của Trương Ba và Xác hàng thịt tác giả muốn để lại một ý nghĩa giáo dục sâu sắc không nên hoán đổi thể xác và trú ngụ vào những nơi không phải là của mình.

    – Cuộc hội thoại trên chỉ làm tăng ý nghĩa của tác giả qua bài viết, tâm hồn của mình không thể bị hoán đổi cho người khác.

    Câu 2: Hồn Trương Ba khi ngụ trong xác anh hàng thịt: Có những thay đổi rõ rệt.

    – Không còn chăm chỉ – hết lòng yêu thương vợ con. Không con quan tâm đến chuyện của bà con hàng xóm.

    – Vụng về, thô lỗ, phũ phàng.

    – Con dâu: xót xa – ngỡ ngàng bởi không còn được thấy hình ảnh con người “hiền hậu, vui vẻ, tốt lanh như thầy của chúng con xưa kia“.

    => Những thay đổi này người thân Trương Ba phải chứng kiến và chịu đựng. Chính Trương Ba cũng không còn nhận ra chính mình nữa, ông rất đau khổ nhưng sự thật không thể thay đổi, hình ảnh của ông mờ nhạt trong thể xác của hàng thịt. Đây là một sự thật về sự lấn át của xác đối với hồn. Cái tốt nếu không biết gìn giữ sẽ dần mai một rồi có ngày bị tận diệt. Lúc này, nỗi đau khổ của hồn Trương Ba tạm thời lắng xuống nhường chỗ cho một sự tính toán quan trọng. Sống là để xác chiến thắng ngĩa là tự đánh mất mình mà muốn giữ được linh hồn thì chỉ có cách … Hồn đã đứng dậy trong xung khắc căng thẳng với xác và bình tình đi đến quyết định: Hồn Trương Ba thắp hương gọi Đế Thích.

    Câu 3:

    – Quan niệm sống của Trương Ba và Đế Thích rất khác nhau, Trương Ba thì cho rằng mượn thân xác của người khác để trú ngụ là một điều không nên, sống trong người khác làm cho bản tính của ta sẽ bị mờ nhạt đi, còn Đế Thích thì lại cho rằng mượn thân xác để sống cũng là điều bình thường, chỉ cần được sống là tốt. Hai quan điểm hoàn toàn khác nhau.

    – Những lời trách móc của Trương Ba đối với Đế Thích: “ông chỉ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết“. Mượn thân xác để sống con người sống nhưng tính cách của chính mình bị mờ nhạt trong cái xác thịt của hàng thịt, linh hồn và thể xác của ông hoàn toàn không muốn sống trong thân xác của kẻ khác.Ở đây ông đang nói về những trải nghiệm mà ông đang phải trải qua.

    – Ý nghĩa:

    + Con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hoà, không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng thì không nên chỉ đổ tội cho xác và không thể an ủi, vỗ về bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn.

    + Sống nhờ, sống gởi, sống chắp vá, khong được là mình thì cuộc sống ấy thật là vô nghĩa.

    – Qua lời thoại, nhân vật ý thức rõ hoàn cảnh của mình: đầy trớ trêu và bi hài.

    Câu 4:

    Khi Trương Ba kiên quyết đòi trả lại xác hàng thịt, Đế Thích định cho Trương Ba vào xác của cu Tý nhưng Trương Ba không đồng ý lý do vì:

    – Hồn Trương Ba ngày càng thấm thía nỗi đau xót trớ trêu: bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo.

    – Không thể trú ngụ nhờ thân xác khác, nó sẽ làm cho tâm hồn của ông mờ nhạt hơn, đó là những điều mà Trương Ba đang nghĩ và nó có tác dụng đối với ông cả sau này ông không phải sống trong những ngày dằn vặt.

    => Có nhận thức tỉnh táo + tình thương cu Tị nên ông đã dứt khoát quyết định nhường lại sự sống cho cu Tị còn mình thì chết hẳn.

    Câu 5:

    Đoạn kết có ý nghĩa rất to lớn nó có tác dụng thúc đẩy ý chí nhận thức của con người về cách sống để tránh làm cho tâm hồn của mình bị tổn thương, không hoán đổi thân xác và sống nhờ vào thân xác của người khác.Được sống làm người quý giá thật nhưng được sống đúng mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn.

    Phần Luyện tập

    Đề bài: Giả định Đế Thích cho Trương Ba được quyền sống (không phải mượn xác anh hàng thịt, hoặc hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị và Trường Ba đồng ý) thì cuộc sống của Trương Ba sau đó sẽ như thế nào? Anh (chị) hãy trình bày ý tưởng về những rắc rối sẽ xảy ra qua một lớp kịch ngắn về điều đó.

    Nội dung vở kịch

    Đế Thích: Này ông Trương Ba, nếu ông có thương cảnh mẹ góa con côi của nhà chị Lụa thì ông hãy để tôi hóa phép cho hồn ông nhập vào xác thằng cu Tị nhé! Như thế là ông vẫn sống, mà chị Lụa thì ngày ngày vẫn được thấy mặt con.

    Hồn Trương Ba (băn khoăn, nghĩ ngợi): ông cho tôi suy nghĩ một lát đã. Thời gian qua, tôi gặp biết bao nhiêu là rắc rối vì chuyện mượn thân xác anh hàng thịt. Khổ quá ông ạ! Nhiều lúc tôi nghĩ thà chết thật có khi lại sướng hơn; chứ cứ dơi chẳng ra dơi, chuột chẳng ra chuột thế này đúng là dở sống dở chết.

    Đế Thích: Ông với anh hàng thịt vốn là người xa lạ; còn ông với thằng cu Tị đã từng quý mến, quấn quýt với nhau. Hồn ông sống trong thân thể thằng bẻ chắc sẽ ổn thổi.

    Hồn Trương Ba: Tôi là một lão già sáu mươi tuổi; còn thằng cu Tị đang tuổi ăn tuổi lớn, mới bắt đầu cuộc đời. Nhập vào thân xác nó, suốt ngày tôi sẽ nghịch ngợm, chạy nhảy với cái lốt cháu nội tôi. Tôi sẽ giải thích với bà nhà tôi sao đây? Còn chị Lụa nữa. Nếu chị ta nhớ thương con, bắt tôi về ở hẳn bên ấy thì sao? Rồi bà con làng xóm sẽ xì xám to nhỏ và đám lý trưởng, Trương tuần sẽ lại gây khó dễ cho tôi … Phiền phức quá ông ạ! Thôi, ông cứ để cho tôi chết. Tôi chỉ cầu xin ông tìm cách cứu thằng.

    Đế Thích: Tôi chẳng có cách nào hay hơn cả. ông hãy nghe lời tôi đi ông có nghe thấy tiếng khóc con xé ruột của mẹ thằng cu Tị không?

    Hồn Trương Ba (miễn cưỡng thở dài): Thôi đành vậy, tùy ông!

    (Đế Thích hóa phép, hồn Trương Ba rời khỏi thân xác hàng thịt, nhập vào thân xác cu Tị. Cu Tị ngồi dậy dụi mắt Chị Lụa bàng hoàng, sửng sốt rồi reo lên sung sướng.)

    Chị Lụa (ôm cu Tị vào lòng, âu yếm): Ôi, con trai yêu quý của mẹ! Mẹ cám ơn Trời Phật đã cho con sống lại! Từ nay trở đi, mẹ con ta sẽ sống bên nhau mãi mãi.

    Hồn Trương Ba (vùng ra khỏi vòng tay chị Lụa): Tôi là Trương Ba, hàng xóm nhà chị đây mà!

    Chị Lụa: Ối cu Tị ơi, con là con trai của mẹ mà! Lại đây với mẹ nào!

    Hồn Trương Ba (bực bội gắt): Tôi đã bảo tôi là Trương Ba chứ không phải là thằng cu Tị!

    Chị Lụa (hoảng hốt gào khóc): Trời ơi! Con tôi bị làm sao thế này? Con nói lảm nhảm gì thế? Ôi con ơi là con ơi!

    (Hồn Trương Ba đi về nhà mình, mặc cho chị Lụa chạy theo khóc lóc.) Vợ Trương Ba (nhìn thấy cu Tị xăm xăm đi vào, kinh hãi thét lên): Ma ….. Ma … ….! ối trời đất ơi!

    Hồn Trương Ba: Tôi đây mà! Trương Ba đây, bà đừng sợ!

    Vợ Trương Ba: Trời ơi! Lại trò gì nữa đây hả trời?! Tôi chưa đủ khổ hay sao mà ông còn …?!

    Hồn Trương Ba (nắm lấy tay vợ): Thì bà cứ bình tĩnh nghe tôi nói đã! Đầu đuôi câu chuyện là thế này: Tôi chán sống trong thân xác anh hàng thịt bởi nó gây ra cho tôi và mọi người nhiều điều phiền toái nên yêu cầu ông Đế Thích hãy để cho tôi chết hẳn. Nhưng ông ấy bảo tôi nếu thương thằng cu Tị thì hãy nhập vào xác nó để cho má nó ngày ngày còn được thấy mặt con …

    Vợ Trương Ba: ông lại tiếp tục sống nhờ vào thân xác người khác ư?! Thôi, lần này thì tôi đành phải bỏ nhà mà ra đi thật rồi! Làm sao tôi chấp nhận được ông chồng sáu mươi trong thân xác đứa trẻ lên mười? Bao nhiêu rắc rối sẽ lại xảy ra trong gia đình này …

    (Chị Lụa vừa chạy vào vừa mếu máo gọi con.)

    Chị Lụa: Ối cu Tị ơi, về nhà với mạ nào! Con đừng bỏ mẹ con ơi!

    Vợ Trương Ba: Đấy, Ông thấy tôi nói có đúng không nào? Mọi chuyện lôi thôi lại bắt đầu rồi!

    Chi Lụa (bế thốc “cu tí” chạy đi): về nhà mình con nhé! Hôm nào con khỏe, mẹ sẽ cho con sang đây chơi với cái Gái.

    Hồn Trương Ba (giãy giụa): Ơ hay cái nhà chị này! Chị có buông tôi ra không thì bảo! Tôi đã nói tôi là Trương Ba chứ không phải cu Tị con chị.

    (Bất chợt, lý trưởng và Trương tuần đi ngang qua, thấy ồn ào liền đứng lại.)

    Lý trưởng (trợn mắt ra oai): Hừm! Chuyện gì thế hử?

    Chị Lụa: Bẩm ông lý, tôi chỉ bắt thằng con tôi về nhà thôi ạ! Cháu nó cứ đòi ở bên nhà ông Trương Ba!

    Hồn Trương Ba (phân trần): Tôi không phải là con chị ta. Tôi là Trương Ba.

    Lý trưởng (tức giận quát): A, thằng nhãi ranh láo toét! Tao bảo Trương tuần phết cho mày mấy gậy bây giờ! Đi về nhà mau!

    Hồn Trương Ba: Tôi về nhà tôi!

    Lý trưởng: Trương tuần đâu! Lôi cổ thằng nhãi ranh này ra đình rồi trói nó lại! Nó dám cãi lệnh ta sao?!

    Hồn Trương Ba: Buông tôi ra! Tôi chẳng làm gì nên tội!

    Trương tuần (quật cho “cu Tị” một gậy vào mông rồi túm cổ lôi đi): Này thì cãi! Này thì cãi! Tối nay tao cho mày đánh tổ tôm với muỗi, con ạ!

    Chị Lụa (chạy theo năn nỉ): Trăm lạy ông lý, ngàn lạy ông lý! Xin ông tha cho cháu! Dạ, thôi thì có chút tiền trà thuốc xin ông lý nhận cho!

    Lý trưởng (đút nhanh tiền vào túi): Chị đã biết điều như thế thì ta tha cho nó! Liệu mà dạy con cẩn thận, nghe chưa?!

    (Lý trưởng, Trương tuần bỏ đi.)

    Hồn Trương Ba: Chị Lụa này, tôi phải nói cho chị rõ là ông tiên Đế Thích đã hóa phép cho hổn tôi nhập vào xác cu Tị. Cho nên tôi vẫn là Trương Ba chứ không phải là con chị. Chị đừng ép tôi. Tôi hứa sẽ qua lại bên nhà cho chị đỡ buồn. Thôi, tôi về nhà tôi đây! Chào chị!

    (Hồn Trương Ba gặp cái Gái ở ngay cửa.)

    Cái Gái (hoảng hốt lùi lại): ối! Cu Tị! Bà nội ơi, bà nội! Cu Tị chết rồi cớ mà?! Hu hu …

    Hồn Trương Ba (tiến lại gần): Đừng sợi Ta là ông nội cháu đây mà!

    Cái Gái (hét lên): Không phải! Đừng động vào tôi! Bố ơi! Cứu con!

    Con trai Trương Ba (chạy ra ôm lấy con): Bố đây! Bố đây! Sao thế con?

    Cái Gái (sợ hãi): Cu Tị, cu Tị dám xưng là ông nội! Hu hu …

    Con trai Trương Ba (ngạc nhiên): Ơ! Thế này là thế nào?

    Hồn Trương Ba (rầu rĩ): Thầy đây, anh cả ạ! ông Đế Thích cho hồn thầy nhập vào xác thằng cu Tị đấy mà!

    Con trai Trương Ba (vò đầu bứt tai): Lại thế nữa! Thầy còn chưa đủ khổ sở hay sao cơ chứ?! Cà nhà ta chưa đủ khổ sở vì những điểu rắc rối đã xảy ra ư?! Trời ơi!

    Hồn Trương Ba (xua tay): Thôi! thôi! Chẳng qua là thầy thương thằng cu Tị. Thầy không muốn chị Lụa mất con, cái Gái mất bạn. Nếu rắc rối quá thì để thầy nghĩ lại.

    (Đến đêm, Hồn Trương Ba thắp mấy nén nhang, khấn vái. Đế Thích xuất hiện)

    Đế Thích (vui vẻ): Chào ông Trương Ba! Sao? Ngụ trong thân xác cu Tị, ông cổ thấy thoải mái hơn chút nào không?

    Hồn Trương Ba (lắc đầu tỏ vẻ không hài lòng): Bất ổn rồi ông ơi! Mới từ sáng tới giờ mà bao nhiêu chuyện rắc rối đã xảy ra. Suýt nữa thì tôi bị lý trưởng với Trương tuần lôi ra đình trói lại đấy! Còn vợ con tôi, cháu tôi, chẳng ai muốn tôi sống trong hình hài này cả. Tôi nghĩ kĩ rồi. Xin ông cho tôi chết hẳn đi!

    Đế Thích (băn khoăn, phân vân): Chà, khó nhỉ! Tôi thì tôi không muốn mất bạn đánh cờ. Nói thật nhé, dưới trần gian chỉ có một mình ông là ngang tài ngang sức với tôi thôi. Đánh cờ với ông thú vị lắm!

    Hồn Trương Ba: Tôi cũng biết thế nhưng tôi không chiều theo ý ông mãi được. Ai mà chẳng thích sống, nhưng sống kiểu như tôi bây giờ thì có lẽ chết lại đỡ khổ hơn, ông ạ!

    Đế Thích: Ông nghĩ kĩ chưa? ông có yêu cầu gì không?

    Hồn Trương Ba: Tôi chẳng ân hận điều gì cả. Chỉ xin ông nghĩ cách cứu lấy thằng cu Tị! Cảnh mẹ góa con côi khổ sở trăm bề. Nay nó chết đi thì mẹ nó chắc cũng không sống nổi. Đối với người mẹ, chẳng có gì quý bằng đứa con đâu, ông ạ! Mong ông giữ lời hứa để tôi chết cũng vui lòng.

    Đế Thích (ngẫm nghĩ hồi lâu rồi cả quyết gật đầu): Tôi hứa là sẽ cứu bằng được thằng cu Tị, dù một lần nữa vi phạm luật Trời! Ông cứ yên tâm nhắm mắt!

    Hồn Trương Ba (mỉm cười thanh thản): Xin cảm ơn ông! Xin đa tạ, đa tại (Một làn khói trắng nhẹ nhàng bay lên khỏi mái nhà, tan hòa vào màn sương mỏng. Bên nhà chị Lụa bỗng nổi lên tiếng reo sung sướng: Ôi, con trai tôi sống lại rồi! Xin tạ ơn Trời Phật!)

  • [Soạn văn] Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê)

    [Soạn văn] Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê)

    Soạn văn lớp 12: Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê)

    Bố cục: gồm 2 phần

    – Phần 1 (từ Mặt trời đang mọc lên đến nước bắn tung trùm lên cả ông lão và con thuyền): Cuộc chiến của Xan-ti-a-gô.

    – Phần 2 (còn lại): Xan-ti-a-gô đưa con cá về bến.

    Câu 1:

    Hình ảnh những vòng lượn của con cá kiếm được miêu tả lặp đi lặp lại mang nhiều hàm ý. Trước hết cho thấy, mặc dù đã ba ngày hai đêm đuổi theo con cá kiếm nhưng ông lão cũng chưa nhìn thấy con cá. Ông chỉ cảm nhận tình trạng của con cá qua sợi dây, qua vòng lượn từ rộng tới hẹp, từ xa tới gần của nó và điều đó cũng cho thấy ông lão rất giàu kinh nghiệm. Mặc khác từ những vòng lượn đó mà ta hiểu được sự cố gắng của con cá, mặc dù đã mắc câu nhưng nó vẫn muốn thoát khỏi sự bủa vây của người ngư phủ. Con cá kiếm rất kiên cường.

    Câu 2:

    Cảm nhận về con cá được niêu tả từ xa đến gần, từ bộ phận đến toàn thể chủ yếu qua xúc giác và thị giác của ông lão. “Đến vòng lượn thứ ba” ông lão mới nhìn thấy con cá nhưng cũng chỉ thấy từng bộ phận: Cái bóng của nó rất dài, cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, cánh vi trên lưng xếp lại, bộ vây to sụ, … từ những bộ phận ấy mà cảm nhận con cá thật lớn. Chỉ đến khi con cá bị ông lão đâm trúng tim, nó “phóng vút lên khỏi mặt nước“, lúc đó nó mới “phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và còn sức lực” của nó. Con cá không những lớn mà còn rất đẹp. Tính cách của nó mạnh mẽ, bình tĩnh, kiêu hùng.

    Câu 3:

    – Trong đoạn trích: ông lão không chỉ cảm nhận con cá với cảm xúc của kẻ đi săn, muốn giết đối thủ mà còn coi nó như đối thủ xứng tầm người bạn, người anh em, cảm phục nó.

    – Chi tiết:

    + Lời đối thoại với con cá kiếm: đừng nhảy, cá ơi, tao chưa từng thấy … anh em ạ. => coi con cá như con người.

    + Chiêm ngưỡng con cá kiếm, thưởng thức vẻ đẹp của nó.

    + Thán phục hành động chấp nhận cuộc chiến của nó (con cá có thể lặn xuống làm đứt dây câu hoặc lật thuyền …)

    + …

    – Mối liên hệ giữa ông lão và con cá: đa diện, phức tạp.

    + Người đi câu – con mồi được câu.

    + Hai kì phùng địch thủ, cân sức cân tài.

    + Hai người bạn cảm thông, chia sẻ.

    + Mối quan hệ giữa cái đẹp và người thưởng thức, hướng tới cái đẹp.

    + Ứng xử giữa con người và môi trường.

    Câu 4:

    Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê)

    – Hình ảnh con cá kiếm mang ý nghĩa biểu tượng:

    + Thiên nhiên => thể hiện vẻ đẹp, sức mạnh, tính chất kiêu hùng, kì vĩ của tự nhiên.

    + Cuộc sống => những chông gai, thử thách của cuộc đời.

    + Con người: ước mơ về thành quả lao động.

    + Nghệ thuật: ước mơ sáng tạo.

    Đặc điểm của nghệ thuật tảng băng trôi qua đoạn trích:

    – Phần nổi của “tảng băng trôi“: hành trình theo đuổi, chiến đấu để bắt được con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô.

    – Phần chìm của “tảng băng trôi“:

    + Hành trình theo đuổi và thực hiện ước mơ giản dị nhưng lớn lao của con người.

    + Hành trình khám phá vẻ đẹp và chinh phục thiên nhiên của con người.

    + Hành trình vượt qua thử thách để đến với thành công.

    + Con đường đến với thành công hiếm khi bằng phẳng.

    + Cần phải chinh phục tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của con người nhưng cũng chớ coi thường thiên nhiên. Thiên nhiên là kẻ thù nhưng cũng là bạn của con người. Chiến đấu hết mình để giành thắng lợi trước các lực lượng của tự nhiên nhưng cũng phải biết sống hoà hợp với thiên nhiên.

    + Bài học về niềm tin vào bản thân, vào sức mạnh và khả năng tồn tại của con người trong cuộc sống.

  • [Soạn văn] Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)

    [Soạn văn] Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)

    Soạn văn lớp 12: Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)

    Bố cục: chia làm 3 phần

    – Phần 1 (từ đầu đến đang nghịch cát đấy): giới thiệu nhân vật.

    – Phần 2 (tiếp đó đến chợt lóe lên như thế): niềm hạnh phúc của bé Va-ni-a.

    – Phần 3 (còn lại): Số phẩn hẩm hiu của Xô-cô-lốp và niềm tin vào sức mạnh của con người Nga.

    Câu 1: Hoàn cảnh đáng thương của An-đrây Xô-cô-lốp sau chiến tranh kết thúc và trước khi gặp bé Va-ni-a là:

    – Chiến tranh đã kết thúc và giành được hòa bình, nhưng thật xót xa khi anh nhận được tin người vợ thân yêu và người con gái của anh đã bị bọn phát xít bắn chết, niềm vui chiến thắng chưa bao lâu thì nỗi buồn lại xảy ra, sự đau xót của anh thật tột cùng biết bao. Những nỗi đau mất mát đi người thân, những người thân yêu nhất đã bị chiến tranh cướp đi và giờ đây lòng căm thù phát xít trong anh ngày càng được nâng cao.

    – Bước ra khỏi cuộc chiến không biết đi về đâu, đành về tá túc nhờ nhà người bạn và làm nghề lái xe cho nông trường.

    – Hay uống rượu để dịu bớt nỗi đau, anh căm ghét chiến tranh, nó đã cướp đi không biết bao nhiêu số phận con người vô tội và giờ đây là vợ và con gái của anh, nỗi buồn tinh thần đó anh không thể nào nguôi được những giọt nước mắt của anh rơi xuống minh chứng một điều rằng anh đang có một nỗi buồn tới tận cùng của con người. Anh đã khóc trước mặt của bé Va-ni-a (mồ côi cha mẹ, cũng là nạn nhân của chiến tranh, lang thang, vất vưởng, đói rách, ăn xin, nhưng chú bé vẫn thật hồn nhiên, trong sáng). Nỗi đau của anh không diễn tả được bằng lời mà nó nuốt đắng trong tim nghẹn ngào thành những giọt nước mắt.

    => Hai số phận đau thương nghiệt ngã đặt cạnh nhau, bổ sung cho nhau làm rõ những mất mát không gì bù đắp nổi do chiến tranh gây ra. Ý nghĩa tố cáo chiến tranh toát ra từ đây.

    Câu 2:

    – Việc An-đrây nhận Va-ni-a làm con nuôi đã làm thay đổi cả cuộc đời hai cha con:

    + Bé Va ni a có được người chở che, mái ấm gia đình.

    + An-đrây tìm lại được ý nghĩa cuộc sống, tìm được tình yêu thương để xóa mờ nỗi đau chiến tranh.

    – Tâm hồn thơ ngây của bé Va-ni-a:

    + Mặt mũi lấm lem, quần áo bẩn thỉu nhưng đôi mắt rất sáng.

    + Khi được Xô-cô-lốp gọi, leo lên xe hỏi, chờ trả lời.

    + Ngồi trên xe lặng thinh, tư lự, chốc chố nhìn Xô-cô-lốp …

    + Trả lời những câu hỏi một cách hồn nhiên.

    + Nồng nhiệt thể hiện tình cảm, sự ước ao, hi vọng khi được nhận làm con.

    – Lòng nhân hậu của Xô cô lốp:

    + Khi gặp Va-ni-a: thấy quý và nhớ.

    + Trước hoàn cảnh đáng thương và tâm hồn ngây thơ của Va-ni-a nên đã nhận bé làm con nuôi => quyết định đột nhiên, xuất phát từ đáy lòng.

    + Khi nghe thấy tiếng thở dài của bé: dùng những hình ảnh nhỏ bé, đáng thương để so sánh với Va ni a tội nghiệp.

    + Chăm sóc Vania như con đẻ.

    + Âm thầm chịu đựng những đau khổ vì sợ Vania đau khổ.

    => Giàu tình yêu thương, nhân hậu, giàu trách nhiệm.

    – Điểm nhìn nhân vật trùng với điểm nhìn tác giả: Cái chính ở đây … trên má anh.

    => Điểm nhìn chan chứa tình yêu thương, hướng tới cuộc sống bình yên, tâm hồn trong sáng của trẻ thơ,đầy giá trị nhân đạo.

    Câu 3: An-đrây Xo-cô-lốp đã vượt lên nỗi đau và sự cô đơn như thế nào (khó khăn trong đời thường, chiêm bao ám ảnh và nỗi đau không nguôi)?

    – Khi Xô-cô-lốp đi làm thì không ai chăm sóc bé Va-ni-a, mà nó thì không chịu rời bố nửa bước.

    – Kí ức về người cha cũ lâu lâu chợt lóe lên, một hôm nó chợt hỏi: Cái áo bành tô bằng da của bố đâu rồi? Xô-cô-lốp lúng túng nhưng tìm ra cách nói dối trơn tru. Nhưng không thể nói dỗi với cháu mãi được. Đến khi nó biết được sự thật thì nó sẽ tổn thương như thế nào. Vấn đề tưởng nhỏ nhưng không đơn giản.

    – Rồi bệnh tim của Xô-cô-lốp tái phát. Nếu không may, thằng nhỏ lại mất cha một lần nữa thì Xô-cô-lốp sẽ đau khổ biết chừng nào.

    – Còn một nỗi khổ tâm nữa, hằng đêm Xô-cô-lốp chiêm bao thấy vợ con … thức giấc thì gối đậm nước mắt => Bé Va-ni-a mang lại niềm vui và hạnh phúc nhưng chỉ xoa dịu vết thương lòng chứ không thể thay thế vợ con, không thể bù đắp nỗi mất mát lớn lao, những tình cảm thiêng liêng đã mất. Trong sâu thẳm tâm hồn, Xô-cô-lốp vẫn âm thầm chịu đựng nỗi đau – vết thương chiến tranh dai dẳng. Quy luật tâm lí được thể hiện chân thực tự nhiên, thuyết phục.

    – Khi lái xe, Xô-cô-lốp lỡ gây ra tai nạn, chuyện không đâu nhưng anh bị tước bằng lái. Thế là mất việc. Hai cha con lại lang thang đi tìm việc. Hình ảnh con người bé nhỏ côi cút giữa nước Nga mênh mông đã gây xúc động lớn.

    – Cuối cùng là cảm nghĩ của tác giả về những con người Nga đó, tác giả tin rằng, với nghị lực và sức mạnh, họ sẽ đương đầu và vượt qua mọi thử thách.

    Câu 4: Thái độ người kể chuyện

    – Thể hiện lòng khâm phục, sự quý mến với bản lĩnh kiên cường, lòng nhân hậu của con người Xô viết.

    – Tin tưởng vào tương lai qua hình ảnh chú bé Vania.

    – Tin tưởng vào sức mạnh tiềm ẩn và những cống hiến thầm lặng mà to lớn của những thế hệ con người Nga trong cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    – Đoạn cuối: lời kêu gọi, nhắc nhở sự quan tâm, trách nhiệm của toàn xã hội đối với những con người bất hạnh.

    Câu 5:

    Với Sô lô khốp: trong cuộc sống, mỗi người có thể sẽ có những số phận khác nhau,con người có thể gặp nhiều nỗi đau, bất hạnh, mất mát, nhưng nhà văn vẫn không đánh mất hi vọng vào niềm tin, niềm hạnh phúc con người. Ông tin tưởng, con người biết dựa vào nhau, chia sẻ, đùm bọc, yêu thương nhau sẽ tạo nên hạnh phúc.

  • [Soạn văn] Thuốc (Lỗ Tấn)

    [Soạn văn] Thuốc (Lỗ Tấn)

    Soạn văn lớp 12: Thuốc (Lỗ Tấn)

    I. Tóm tắt truyện ngắn Thuốc

    – Một đêm thu gần về sáng, theo lời bác Cả Khang, lão Hoa trở dậy đi đến pháp trường để mua “thuốc” chữa bệnh cho thằng Thuyên – con trai lão, đang bị mắc bệnh lao. Bị chém hôm đó ở pháp trường là Hạ Du, một người làm cách mạng, do bị cụ Ba tố giác cháu với chính quyền để kiếm hai mươi lạng bạc mà bị bắt và hành hình. Nghe mọi người kể lại trong quán trà của gia đình lão Hoa, vào trong ngục, Hạ Du vẫn không sợ chết, còn dám cả gan rủ cả lão Nghĩa “làm giặc”. Mặc dù được chữa bằng bánh bao tẩm máu người nhưng cuối cùng thằng Thuyên vẫn không khỏi.

    – Một buổi sớm mùa xuân, trong tiết thanh minh, tại nghĩa địa mẹ của Thuyên và mẹ của Hạ Du đều đến thăm mộ con. Hai người rất ngạc nhiên, băn khoăn tự hỏi “Thế này là thế nào?” khi nhìn thấy một vòng hoa đặt trên mộ người cách mạng. Bà mẹ của Thuyên đã bước qua con đường mòn cố hữu ngăn cách giữa nghĩa địa của người chết nghèo và nghĩa địa của người chết chém hoặc chết tù để sang an ủi mẹ Hạ Du.

    II. Ý nghĩa nhan đề “Thuốc” và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người

    Nhan đề thiên truyện là Thuốc (nguyên văn là Dược). Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao. Nhan đề này có nhiều nghĩa.

    – Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh: chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người. Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ.

    – Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn: đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần: căn bệnh gia trưởng, căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó. Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác.Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.

    – Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người: là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ . Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân. Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc, là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước,cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng.

    Câu 1: Hình tượng chiếc bánh bao

    – Nghĩa thực: là một phương thuốc chữa bệnh => độc hại, gợi liên tưởng đến việc người ăn thịt người.

    => chiếc bánh bao là biểu tượng cho sự u mê, tăm tối và mê tín, dị đoan của những người Trung Quốc giai đoạn đó.

    Câu 2: Hình tượng Hạ Du

    – Hạ du là một người chiến sĩ cách mạng nhưng khi trong tù ngục Hạ Du được coi như một kẻ điên không ai biết đến hắn hoặc biết đến thì cũng không biết hắn con nhà ai.. Một người anh hùng đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng nhưng khi ra đến pháp trường hắn chỉ là một con người rất tầm thường, và cái chết của Hạ Du vẫn không làm cho căn bệnh u mê của người dân bị tiêu giảm. Họ vẫn tin rằng con của Lão Hoa Thuyên ăn chiếc bánh bao có tẩm máu của người cách mạng sẽ khỏi bệnh những rồi bệnh tật cũng không khỏi, một căn bệnh thật khó chữa và nan y ở trung quốc lúc biến những người dân nơi đây thành những kẻ mê muội và lầm than.

    => Bi kịch của người làm cách mạnh: xa rời quần chúng, quần chúng u mê, tăm tối, chưa giác ngộ (bị chú ruột tố giác, mẹ xấu hổ, đao phủ dùng máu trục lợi, bị miệt thị …)

    Lỗ Tấn vừa nhắc nhở, vừa nghiêm khắc phê bình những người làm cách mạng xa rời quần chúng,không làm được công tác dân vận, giác ngộ tư tưởng cho nhân dân.

    Câu 3: Quan hệ giữa cái chết và nội dung ý nghĩa toát ra từ nghệ thuật chơi chữ của nhà văn.

    – Thời gian: mùa thu trảm quyết => mùa xuân năm sau.

    => Ý nghĩa: thể hiện mạch suy tư lạc quan, tin tưởng của tác giả.

    – Hình ảnh vòng hoa:

    + Thể hiện tấm lòng ưu ái của Lỗ Tấn đối với cuộc đời, sự nghiệp, sự hi sinh của Hạ Du.

    + Thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng vào một tương lai tươi sáng của cách mạng Trung Quốc: có người đã thấu hiểu cho họ.

    + Thể hiện dấu hiệu tốt lành: khẳng định sẽ có những người tiếp tục làm cách mạng, tiếp bước Hạ Du.

    + Là chi tiết nghệ thuật độc đáo, thể hiện chủ để tư tưởng tác phẩm, mang nhiều ý nghĩa biểu tượng => đối lập hẳn với hình ảnh chiếc bánh bao: nó thể hiện tấm lòng nhân ái, nỗi niềm trăn trở và nhiềm tin son sắt của Lỗ Tấn vào tiền đồ Cách mạng.

    – Hình tượng con đường xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm của Lỗ Tấn. Nó trở thành hình tượng ẩn dụ thể hiện mối quan tâm đặc biệt của nhà văn về vận mệnh của quốc gia. Trong tác phẩm này, nó mang nhiều ý nghĩa.

    => Con đường mòn tượng trưng cho tập quán xấu, nếp nghĩ cũ. Và đây là con đường đã cũ không thể đưa Trung Hoa đi đến tương lai. Do đó cần phá bỏ con đường, xóa bỏ ranh giới ngăn cách của lòng người.

    Trung Hoa cần phải tìm ra con đường mới. Lỗ Tấn nói: Đường là cái gì? Chính là chỗ chưa có đường đi mà ra, từ chỗ chỉ có gai góc mở ra. Nhà thơ Tây Ban Nha là An-tô-ni-ô Ma-ca-đô cũng nói: Đầu tiên nào có đường! Cứ đi sẽ thành đường.

    – Mẹ Hạ Du viếng mộ nhưng xấu hổ không dám bước, sau đánh liều bước tới nấm mộ bên trái => Chứng tỏ bà chưa hiểu con.

    Nhưng khi nhìn thấy hoa trên mộ thì bà khóc than: Oan con lắm, Du ơi! => Bà mẹ đã bắt đầu hiểu.

    – Mẹ Hoa Thuyên động lòng trắc ẩn đứng dậy, niềm đồng cảm của người mẹ mất con thúc đẩy bà bước qua bên kia đường mòn => lòng người sẽ không còn cô đơn chia cắt, trong quần chúng đã bắt đầu có sự đồng cảm và nhận thức về thế giới xung quanh.

    – Cuối cùng là câu hỏi: Thế này là thế nào nhỉ? Hứa hẹn sẽ có câu trả lời, sẽ có sự giác ngộ trong quần chúng.

    – Vòng hoa trên mộ Hạ Du => đã có người hiểu Hạ Du, đã có quần chúng được giác ngộ và tiếp bước theo con đường của Hạ Du, con đường cách mạng sẽ lạc quan. Vòng hoa cũng là tấm lòng tri ân kính cẩn của nhà văn đối với các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc.