Author: Kiến Thức Trung Học

  • [Soạn văn] Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân)

    [Soạn văn] Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân)

    Soạn văn lớp 12: Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân)

    Câu 1: Tác phẩm Người lái đò sông Đà thể hiện sự quan sát công phu và tìm hiểu kĩ càng của nhà văn trên các phương diện nào?

    Tác phẩm Người lái đò sông Đà thể hiện sự quan sát công phu và tìm hiểu kĩ càng của nhà văn trên các phương diện sau:

    – Tác giả đã miêu tả sông Đà với tất cả những chi tiết rất cụ thể, sinh động và thực tế.

    – Tác giả miêu tả từ nhiều góc độ quan sát: từ trên máy bay để thấy sông Đà như một sợi dây thừng.

    Câu 2: Hình ảnh bờ sông, dựng vách thành…có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một yết hầu, lòng sông như có chỗ nằm gọn giữa hai bờ vách giống như con hang động huyền bí.

    – Khung cảnh mênh mông dài hàng cấy số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gùn ghè suốt mấy năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt. Đây là đoạn nguy hiểm cần người lại đò phải hết sức thận trọng.

    – Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu.

    – Những âm thanh hết gần rồi lại xa: tiếng nước réo nghe như là oán trách, lúc lại như van xin, khiêu khích, giọng gằn như chế nhạo. Có lúc nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tác giả thật tài tình so sánh với hình ảnh đàn trâu để nổi bật lên sự hùng vĩ của dòng sông, tiếng nước chảy như những tiếng gầm vang cả núi rừng. Sức mạnh hoang dại, vẻ đẹp kì vĩ và sự hung dữ của con sông qua góc nhìn và sự miêu tả tinh tế của Nguyễn Tuân.

    –> Ngôn ngữ miêu tả đầy tính tạo hình, biện pháp so sánh, nhân hóa độc đáo.

    Câu 3: Một con sông Đà trữ tình.

    – Nghệ thuật liên tưởng độc đáo: Sông Đà tuôn dài như áng tóc trữ tình của người thiếu nữ.

    – Sông Đà được nhìn qua làn mây, qua ánh nắng với những sắc màu:

    + Xuân: xanh màu xanh ngọc bích.

    + Thu: lừ đừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa.

    – Sông Đà gắn bó thân thiết với con người như cố nhân.

    – Bờ sông hoang dại, bình lặng như thời tiền sử – hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích xưa – Dòng sông lặng lờ trôi.

    –> Sông Đà rất mực trữ tình hiền hoà. Sự tài hoa của ông đã mang đến những áng văn với bức tranh trữ tình đủ để lòng người say đắm, ngất ngây.

    Câu 4: Hình ảnh người lái đò sông Đà trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo:

    – Cuộc chiến thật không cân sức giữa một con người nhỏ bé không hề có phép màu gì kì diệu, không có vũ khí lợi hại trong tay chỉ với chiếc cán chèo trên một con đò đơn độc với một tên hung bạo của núi rừng (dòng sông hiểm trở khó lường), thạch trận đủ 3 lớp trùng vi vây bủa, được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và thật nham hiểm, dữ dội…

    – Người lái đò với tài năng và trí thông minh của mình vượt thác như cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hết lớp này đến lớp khác của trùng vi thạch trận, nắm chặt cái bờm sóng mà vượt qua, mà chinh phục sự hung hãn của dòng sông.

    – Những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉu, thất vọng qua bộ mặt xanh lè.

    – Người lái đò là người chiến thắng trong trận chiến cam go ấy bằng sự ngoan cường, sung cảm. tài trí, chí quyết tâm và nhất là kinh nghiệm lên thác xuống ghềnh của ông bao nhiêu năm nay, từng khúc từng đoạn sông ông nắm trong lòng bàn tay, ông biết chỗ nào là cửa sinh, chỗ nào là cửa tử và khéo léo xử lý như một nghệ nhân.

    Câu 5: Một số câu văn thể hiện rõ nhất nét tài hoa về bút pháp trong cách sử dng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân là:

    – Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, …. với đàn trâu da cháy bùng bùng.

    – Sóng nước như thế quân liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng vào hông thuyền.

    – Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tính, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc …. nương xuân.

    – Bờ sông hoang dại …. cổ tích tuổi xưa.

  • [Soạn văn] Tự do (P.Ê-luy-a)

    [Soạn văn] Tự do (P.Ê-luy-a)

    Soạn văn lớp 12: Tự do (P.Ê-luy-a)

    Câu 1: Tìm hiểu tứ thơ và chủ đề tác phẩm Tự do (P.Ê-luy-a)

    Đoạn trích có lược bớt một số khổ thơ, còn 12 khổ và dòng cuối. 11 khổ thơ có điệp câu thơ “tôi viết tên em” ở cuối mỗi khổ. Riêng khổ cuối cùng, câu thơ cuối được thay thế bằng:

    Để gọi tên em

         TỰ DO.

    Tự do được hóa thân thành “em”, người thân yêu nhất. Cảm xúc hướng về tự do rất tha thiết. Nhà thơ viết tên tự do lên khắp mọi nơi hay đó chính là quyết tâm hành động hướng tới TỰ DO, giành và bảo vệ Tự Do. Nhà thơ sẵn sàng bắt đầu lại cuộc đời để được gắn bó với Tự Do.

    – Chủ đề: Bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết đối với tự do của tác giả.

    Câu 2: Ý Nghĩa Cách lặp từ theo kiểu xoáy tròn “trên – trên“.

    – Cách lặp từ theo kiểu xoáy tròn “trên – trên“.

    + Tạo nhạc điệu nốt nhấn cho bài thơ.

    + Là cách thức tối ưu để tác giả bày tỏ tình yêu của mình với tự do.

    – Giới từ “trên” là giới từ báo hiệu trạng ngữ chỉ địa điểm:

    + Giới từ “trên” xuất hiện nhiều lần trải dài liên tiếp trong toàn bộ bài thơ.

    + Địa điểm mang tính cụ thể, hữu hình: trang vở, bàn học, đất cát, tuyết, mũ áo vua quan…

    + Địa điểm mang tính trừu tượng: thời thơ ấu, điều huyền diệu đêm đêm, các mùa, những mảnh trời trong xanh, những khoảnh khắc hừng đông…

    Tự do không chỉ được gắn với những vật cụ thể đang hiện hữu mà hiện diện trong mọi không gian mà “tôi” chiếm lĩnh ngự trị. Nó hiện diện trong giấc mơ, trong trí tượng tượng, trong hồi ức và trong tất cả những gì không thể cảm nhận bằng trực giác thông thường.

    Câu 3: Giới từ “trên” thể hiện cả không gian và thời gian như thế nào?

    – Giới từ “trên” thể hiện cả không gian và thời gian:

    + Chỉ địa điểm – không gian (tôi viết Tự Do ở đâu, vào đâu)

    + Chỉ thời gian ( tôi viết Tự Do khi nào)

    – Cách thức liên tưởng: Hình ảnh trong các khổ thơ thể hiện sự liên tưởng ngẫu hứng (Tự Do được viết mọi nơi, mọi lúc):

    + Viết tên em – Tự Do lên những vật cụ thể, hữu hình.

    + Viết tên em – Tự Do lên những cái trừu tượng, vô hình.

    –> Khát vọng Tự Do hoá thân khắp không gian, xuyên suốt thời gian, hiện hữu trong cuộc đời mỗi con người.

    Câu 4:

    Tôi viết tên em” khi đang tuổi ấu thơ, ban đêm, ban ngày, lúc hửng đông, lúc đêm tối, khi ở ngoài đại dương mênh mông hay trên núi cao hiểm trở, lúc bão giông hay khi bình yên …

    Dù ở nét nghĩa nào thì “tôi” đều biểu hiện tự do cháy bỏng, mãnh liệt. “Tôi” đã bị thu phục hoàn toàn bởi “em”. “Em” (tự do) đã ngự trị “tôi”, chiếm trọn không gian của “tôi”, chiếm hết thời gian của “tôi” và suy nghĩ hành động của “tôi” luôn hướng về “em”.

    Với cấu trúc và sự suy luận như vậy, bài thơ giống như lời của một bản trường ca, một khúc hát dài ca ngợi và kêu gọi tự do.

    Đặt trong hoàn cảnh nước Pháp bị phát xít Đức xâm lược, nhân dân bị mất tự do, tác phẩm trở thành bài Thánh ca, kêu gọi nhân dân Pháp đấu tranh vì tự do giải phóng đất nước.

  • [Soạn văn] Bác ơi! (Tố Hữu)

    [Soạn văn] Bác ơi! (Tố Hữu)

    Soạn văn lớp 12Bác ơi! (Tố Hữu)

    Bố cục bài thơ Bác ơi! (Tố Hữu)

    – 4 khổ thơ đầu: Nỗi đau thương lớn lao, đột ngột trước sự qua đời của Bác.

    – 4 khổ thơ đầu: Nỗi đau thương lớn lao, đột ngột trước sự qua đời của Bác.

    – 3 khổ cuối: Nỗi tiếc thương, niềm tin và ước nguyện đi theo con đường của Bác.

    Câu 1: Nỗi đau xót lớn lao trước sự kiện Bác Hồ qua đời được diễn tả qua bốn khổ thơ đầu:

    – Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa: không gian hoà điệu với tâm trạng con người.

    – Con lại lần theo lối sỏi quen: đau đớn, bàng hoàng đến thẩn thờ, ngơ ngác.

    –> Mọi vật xung quanh trở nên hoang vắng lạnh lẽo, ngơ ngác hệt như lấy mất linh hồn.

    – Bác đã đi rồi sao Bác ơi?: Tang tóc quá lớn gần như không thật, không thể tin được.

    – Nỗi đau lớn được thể hiện qua tiếng khóc trực tiếp của tác giả: những câu hỏi tu từ, câu cảm thán liên tiếp dùng để khóc thương, bày tỏ niềm thương xót của nhà thơ, cũng là nỗi đau của triệu người…

    Câu 2: Hình tượng Bác Hồ được thể hiện nhiều khía cạnh, phương diện:

    a. Về lí tưởng và lẽ sống.

    Suốt cả cuộc đời không lúc nào bác thảnh thơi vì “nỗi thường đời“. Đó là lí tưởng sống cao đẹp, là lẽ sống quên mình vì mọi người của bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng“. Bác hi sinh cả hạnh phúc cá nhân để lo cho cả dân tộc, lo cho mỗi sinh linh bé nhỏ được tự do hạnh phúc, yên vui.

    b. Niềm vui và tình thương của Người được thể hiện ở nhiều cung bậc, góc độ:

    – Bác đau: dân nước, năm châu; lo: muôn mối; yêu: ngọn lúa, cành hoa; nhớ: miền Nam; vui: mỗi mầm non trái chín, tiếng ca chung…

    – Bác nghe từng bước ra tiền tuyến: lắng mỗi tin mừng…

    Tất cả những động từ biểu thị tâm trạng trong các khổ thơ đã tác lên động lên chân dung của Bác. Người dành cả trái tim, tấm lòng trí óc, bầu nhiệt huyết cho nhân dân. Tất cả điều mà người quan tâm tới không có gì dành cho cá nhân, cho riêng bản thân Người mà đều vì dân tộc, Tổ quốc. Thế mới thấy hết được trái tim của người Cha, người Mẹ, người Bác, người Anh trong trái tim vĩ đại Hồ Chí Minh.

    c. Di sản Người để lại.

    – Bác để tình thương cho chúng con

    – Một đời thanh bạch, áo vải hồn muôn trượng …

    Những gì mà người để lại cho dân tộc đã vượt lên trên giá trị vật chất tầm thường, món quà vô giá Người để lại là di sản tinh thần, đó là tình yêu thương, là một trái tim chỉ biết quên mình; đó là một cuộc đời đơn giản thanh bạch, cao quý. Chính sự giản dị, thanh bạch trong lối sống đã tạo nên một hình ảnh Hồ Chí Minh vĩ đại, khắc sâu trong mỗi trái tim Việt Nam hơn mọi bức tượng đồng được xây dựng công phu. Lời thơ là lời ngợi ca sự tồn tại vĩnh hằng của một cuộc đời rất đỗi giản dị, thanh cao đã hi sinh cho giống nòi, dân tộc này.

    Câu 3: Cảm nghĩ của mọi người dân Việt Nam qua ba khổ thơ cuối như thế nào?

    – Lời thơ không chỉ dừng lại là lời của một cá nhân mà là tiếng lòng cảm xúc của cả dân tộc Việt Nam.

    Tác giả khẳng định nỗi nhớ Bác Hồ thường trực trong trái tim hàng triệu người con Việt Nam, nỗi nhớ ấy đã nghìn thu, muôn thuở như cuộc đời Bác, sự nghiệp của Bác, nhưng lời thơ không bi lụy. Vì tác giả đã khẳng định về sự bất diệt và sức sống vĩnh hằng của trái tim Hồ Chí Minh. Sự ra đi của Bác cũng chỉ là cuộc hành trình về với tổ tiên.

    Bác đã lên đường theo tổ tiên

    Mác, Lê-nin thế giới người hiền

    Đó cũng chính là động lực thúc đẩy cả dân tộc tiếp tục con đường mà Bác đã lựa chọn và theo đuổi.

    – Lời thơ là lời biết ơn sâu nặng công lao của Hồ Chí Minh, đồng thời trước cái chết của Người, nhiều đứa con của Người đã tìm thấy được thanh lọc tâm hồn, được trong sáng hơn, đẹp đẽ hơn. Đó là sức mạnh tinh thần mà Bác đã tạo ra, nhân cách của cuộc đời Bác đã là một tấm gương sáng mà mỗi người có thể tự soi chiếu để mình được trong sáng hơn.

    – Cuối bài thơ là lời hứa, lời nguyện ước của cả dân tộc trước Bác.

    + Không dám khóc nhiều …

    + Chúng con cùng nhau tiến lên …

    + Nguyện cùng Người vươn tới mãi …

    Lời thơ là lời thề hứa, bởi vậy giọng điệu câu thơ khỏe khoắn, rắn rỏi. Lời thề hứa cùng là lời đáp lại những mong mỏi của Người, đáp lại những lời băn khoăn trăn trở mà Người đang thực hiện dang dở. Bởi vậy có thể thấy tình cảm thiết tha sâu nặng ân tình mà hàng triệu trái tim Việt Nam cùng dâng lên Người. Tinh thần nhân văn của bài thơ cũng chính là ở đó.

  • [Soạn văn] Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

    [Soạn văn] Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

    Soạn văn lớp 12: Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

    Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca chia làm 3 phần:

    + Phần 1: (6 dòng đầu) Lor-ca một nghệ sĩ tự do và cô đơn, một nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật TBN.

    + Phần 2 (tiếp đó đến “không ai chôn cất tiếng đàn“): Một cái chết oan khuất gây ra bởi thế lực tàn ác.

    + Phần 3 (còn lại): Niềm xót thương Lor-ca những suy tư về cuộc giải thoát và giã từ của Lor-ca.

    Câu 1: Những hình ảnh nổi bật trong bài Đàn Ghi Ta của Lor-ca

    Các hình ảnh: tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, vầng trăng chếnh choáng, yên ngựa mỏi mòn đều mang tính biểu tượng. Các dòng thơ không hề có hình ảnh về con người nhưng bóng dáng con người vẫn hiện lên rõ nét qua hình ảnh và âm thanh (tiếng đàn) màu sắc (áo choàng đỏ gắt), trạng thái (chếnh choáng, mỏi mòn).

    Ngay ở khổ thơ đầu, người đọc đã được bước vào một không gian đậm chất Tây Ban Nha, với tiếng đàn ghi ta- niềm tự hào của người Tây Ban Nha, với hình ảnh áo choàng đỏ gắt – áo choàng khoác trên mình những võ sĩ đấu bò tót – một biểu tượng của Tây Ban Nha.

    Các hình ảnh đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn có ý nghĩa chỉ cuộc hành trình của con người: đi lang thang về niềm đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn. Đó là cuộc độc hành của con người – cuộc độc hành của Lor-ca (một anh hùng của Tây Ban Nha).

    Câu 2: Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ:

    Không ai chôn cất tiếng đàn

    Tiếng đàn như cỏ mọc hoang

    Giọt nước mắt vầng trăng

    Long lanh trong đáy giếng

    Khổ thơ đầy ắp những hình ảnh biểu tưởng và siêu thực, với hình ảnh hoán dụ “Không ai chôn cất tiếng đàn“, hình ảnh so sánh “tiếng đàn như cỏ mọc hoang” gợi thương cảm về cái chết bi thảm của nhà thơ. Đặc biệt hình ảnh “Giọt nước mắt vầng trăng” là một hình ảnh siêu thực, đa nghĩa, bắt nguồn từ sự việc có thực: kẻ thù bắn nhà thơ và vứt xác ông xuống giếng để phi tang. “Nước mắt vầng trăng” còn là tình thương, sự cao khiết, tỏa sáng. Với Thanh Thảo, đó là nước mắt sáng đẹp và vĩnh cửu như vầng trăng, những giọt nước mắt anh hùng. Vầng trăng là sự hóa thân, sự thăng hoa của tâm hồn liệt sĩ.

    Tiếng đàn đã trở thành một nhân vật có linh hồn: “không ai chôn cất tiếng đàn“, “tiếng đàn như cỏ mọc hoang“.

    Ở đây Lor-ca không hiện diện mà chỉ có sự hiện diện của tiếng đàn. Nó đã trở thành biểu tượng của tâm hồn Lor-ca, trái tim Lor-ca. Cuộc đời của ông sống tự do, thanh thản trong suốt như giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng. Lor-ca đã chết (về thể xác) nhưng dư âm vang vọng của cuộc đời ông thì còn mãi.

    Câu 3: Ý nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn trong bài thơ?

    – Hình tượng tiếng đàn được xuất hiện nhiều lần trong bài thơ: tiếng đàn bọt nước, tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghi ta ròng ròng, tiếng đàn như cỏ mọc hoang…

    + Tiếng đàn ghi ta ở đây được thể hiện với vô vàn cung bậc khác nhau: khi là âm thanh vui tươi, khi là âm thanh chia cắt, tan vỡ, khi là âm thanh của cái chết, khi là giai điệu của tình yêu.

    + Tiếng đàn ghi ta là sự hài hòa của rất nhiều trạng thái cảm xúc. Trước hết đó là cảm xúc của Lor-ca. Cuộc đời Lor-ca như tiếng ghi ta, những âm thanh, cung bậc của nó khi réo rắt về niềm yêu đời thiết tha, khi hùng tráng, mạnh mẽ về những ngày tháng chiến đấu sôi nổi, khi trầm lặng, đau buồn về khoảnh khắc phải chia lìa sự sống.

    Những âm thanh ấy cũng là âm thanh biểu hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của tác giả. Tác giả đã sống cùng với khoảnh khắc cận kề cái chết của Lor-ca, niềm tiếc thương đau đớn, chua xót, sự ngưỡng mộ tôn vinh được cam kết hài hòa vào những cung bậc thanh âm của tiếng ghi ta.

    + Tiếng ghi ta là ẩn dụ hay nói đúng hơn là bài ca về cuộc đời, số phận và cái chết của Lor-ca. Cuộc đời của con người ấy như tiếng đàn ghi ta với thanh âm trong trẻo làm lay động lòng người.

  • [Soạn văn] Sóng (Xuân Quỳnh)

    [Soạn văn] Sóng (Xuân Quỳnh)

    Soạn văn lớp 12: Sóng (Xuân Quỳnh)

    Bố cục bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) gồm 3 phần:

    + Hai khổ đầu: sóng và tình yêu

    + Bốn khổ sau: tình yêu và nỗi nhớ

    + Còn lại: tình yêu và khát vọng

    Câu 1: Anh/chị có nhận xét gì về âm điệu, nhịp điệu bài thơ? Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

    Âm điệu, nhịp điệu bài thơ xao xuyến, rộn ràng, được tạo bởi:

    – Câu thơ ngắn, đều (5 chữ).

    – Nhịp thơ thường thuận, gợi dư âm sóng biển:

    Dữ dội / và êm dịu (2/3)

    Ồn ào / và lặng lẽ (2/3)

    Sông / không hiểu nổi mình (1/4)

    Sóng / tìm ra tận bể (1/4)

    – Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

    Câu 2: Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liền kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hinh tượng này.

    – Ở lớp nghĩa tả thực, hình tượng sóng được diễn tả chân thực, sinh động. Nó như có tâm hồn, tính cách, tâm trạng. Sóng lúc thì dữ dội và dịu êm, có khi lại ồn ào và lặng lẽ. Hành trình của sóng là từ sông Sóng tìm ra tận bể.

    – Trong bài thơ tình của Xuân Quỳnh, Sóng là hình ảnh thiếu nữ đang sống trong một tình yêu nồng nàn. Sóng bể muôn trùng, tình yêu vô hạn. Sóng nhớ bờ còn em thì nhớ đến anh – “cả trong mơ còn thức“. Sóng “con nào chẳng tới bờ” cũng như tình yêu sẽ cập bến hạnh phúc. Và sóng sẽ tan ra trên đại dương, vỗ mãi đến ngàn năm, muôn đời. Cũng như tình yêu đẹp sống mãi trong lòng người và cuộc đời, đó là “biển lớn tình yêu“. Xuân Quỳnh lấy hình tượng Sóng để thể hiện một tình yêu sôi nổi, chân thành và dạt dào khát vọng.

    Câu 3: Phân tích hai hình tượng Sóng và em? Kết cấu bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh)?

    – Có hai hình tượng luôn song hành cùng nhau đó là sóng và em. Có lúc phản ánh lẫn nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một –> hình tượng này tuy hai mà một. Kết cấu song hành đó làm tăng hiệu quả của sự nhận thức và khám phá của chủ thể trữ tình về một tình yêu thủy chung, bất diệt.

    – Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ và cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, nhân quan sát sóng biển, suy nghĩ về tình yêu, cô nhận thấy tình yêu cũng như sóng biển, đa dạng và biến hóa, mạnh mẽ và thủy chung. Rồi cô ước ao hóa thành cong sóng nhỏ để ngàn năm hát cùng “biển lớn tình yêu“.

    Câu 4:    Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh, chị, tâm hồn đó có những đặc điểm gì?

    Đó là một tâm hồn rất chân thành, sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu. Tâm hồn ấy mạnh dạn thành thực tự bộc lộ nhưng vẫn đầy nữ tính và rất thủy chung, nhạy cảm với cái hữu hạn của cuộc đời nên khát khao một tình yêu vĩnh hằng.

  • [Soạn văn] Đò lèn (Nguyễn Duy)

    [Soạn văn] Đò lèn (Nguyễn Duy)

    Soạn văn lớp 12: Đò lèn (Nguyễn Duy)

    Câu 1: Kí ức tuổi thơ hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ?

    Kí ức tuổi thơ hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ vừa sinh động hồn nhiên vừa đầy suy tư day dứt. Bài thơ có 6 khổ thơ thì đến 5 khổ là kí ức tuổi thơ. Kí ức hiện lên với hai mảng hình ảnh tương phản, ngầm thể hiện sự ân hận, day dứt của nhân vật tôi trong quá trình nhận thức.

    – Hai khổ thơ đầu: Đó là kí ức tuổi thơ hồn nhiên, vô tư với những trò chơi nghịch ngợm của trẻ con (câu cá, bắt chim, hái trộm nhãn, níu váy theo bà đi chợ, …). Đó là niềm say mê, mơ mộng thế giới hư ảo của tiên Phật, thánh thần (chơi đền Cây Thị, xem lễ đền Sòng, tâm hồn trẻ thơ ngây ngất trước mùi thơm của hương trầm, hoa huệ, trước điệu hát văn của cô đồng, …)

    – Ba khổ thơ tiếp: Hiện lên hình ảnh người bà trong cuộc đời thực với bao vất vả, khổ cực, gian nan. Cuộc sống nghèo khó nên phải “mò cua xúc tép“, “gánh chè xanh” trĩu nặng trên vai cùng bà con xuôi ngược buôn bán khắp nơi; ăn “củ dong riềng luộc sượng” để cầm hơn qua cơn đói khát; thời chiến tranh ác liệt, nhà bà bị bom Mĩ dội bà phải đi “bán trứng ở ga Lèn

    – Đứa cháu vô tư đến mức vô tâm không nhận ra nỗi vất vả cơ cực của bà.

    Câu 2: Tình cảm sâu nặng đối với người bà được biểu hiện qua hình ảnh nào?

    – Hình ảnh người bà: mò cua xúc tép, gánh chè xanh những đêm lạnh ,bán trứng ga Lèn ngày bom Mỹ dội, năm đói củ dong riềng luộc sượng … . Đó là những hình ảnh thể hiện sự cơ cực, tần tảo, yêu thương.

    – Tình cảm của nhà thơ khi nghĩ về bà ngoại:

    + Thấu hiểu nỗi cơ cực, tần tảo, tình yêu thương của bà .Thể hiện tình yêu thương, sự tôn kính, lòng tri ân sâu sắc đối với bà.

    + Sự ân hận, ngậm ngùi, xót đau muộn màng:

    Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

    Bà chỉ còn một nấm cỏ thôi

    Câu 3: Nét độc đáo trong cách thể hiện tình cảm đối với người bà của Nguyễn Duy

    Trong Bếp lửa, nhà thơ Bằng Việt thể hiện tình cảm dành cho bà bằng việc tái hiện những hồi ức thiêng liêng, cảm động về tình bà cháu. Tình cảm ấy được thể hiện qua tiếng tu hú tha thiết, qua hình ảnh bếp lửa bập bùng.

    Nét độc đáo trong cách thể hiện tình cảm đối với người bà của Nguyễn Duy là bộc lộ tình cảm trực tiếp, những kí ức ùa về dạt dào rất chân thành, không che đậy dưới bất kì hình ảnh, biểu tượng nào. Mặt khác, nhà thơ còn bày tỏ tình cảm đối với bà bằng những lời thơ tự trách mình, như ăn năn hối lỗi khi nhớ về một thời vô tâm, vụng dại đã qua, chưa kịp làm gì để thương và đền đáp công ơn của bà.

  • [Soạn văn] Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

    [Soạn văn] Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

    Soạn văn lớp 12: Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

    Câu 1: Ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con tàu và địa danh Tây Bắc, giải thích nhan đề bài thơ và bốn câu thơ đề từ.

    Thực tế lúc đó chưa có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc. Hình ảnh “con tàu” trong bài thơ chủ yếu mang ý nghĩa biểu tượng cho khát vọng đi xa đến những vùng đất xa xôi hòa vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân, đất nước. Đó là con tàu của tâm hồn nhà thơ khao khát về với ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật.

    – “Tây Bắc” ngoài ý nghĩa cụ thể chỉ miền đất vùng cao phía Tây Bắc của tổ quốc, nó còn biểu tượng cho mọi miền xa xôi của đất nước, nơi có cuộc sống gian lao mà sâu nặng tình nghĩa, khắc ghi kỉ niệm một thời kháng chiến. Tây Bắc chính là Tổ quốc.

    – Tiếng hát con tàu là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ, hăm hở, sôi nổi làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân, cũng là đến với chân trời nghệ thuật mới.

    – Bốn câu thơ đề từ là những cuộc hóa thân kì diệu trong tâm hồn nhà thơ, nói lên được sự gắn bó máu thịt giữa thi sĩ với Tổ quốc, với cuộc đời – nơi tạo ra nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca.

    Câu 2: Bố cục bài thơ Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

    • 2 khổ đầu: Sự trăn trở, lời mời gọi lên đường.
    • 9 khổ giữa: Khát vọng về với nhân dân, nơi khắc ghi nhiều kỉ niệm nghĩa tình trong kháng chiến.
    • 4 khổ cuối: khúc hát lên đường say mê, tin tưởng.

    Bố cục 3 phần đã thể hiện sự vận động tâm trạng chủ thể trữ tình: phần đầu có sự day dứt, trăn trở. Đoạn giữa là dòng hoài niệm với cảm xúc thiết tha, biết ơn. Đoạn cuối sôi nổi, háo hức.

    Câu 3: Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ:

    Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

    Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

    Tác giả đã tạo ra những cặp hình ảnh giàu tính tượng trưng, mỗi cặp một sắc thái khác nhau để so sánh làm nổi bật niềm hạnh phúc lớn lao của mình khi từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của cá nhân để về với nhân dân. Đối với người con ở đây, nhân dân là nơi chan chứa tình yêu thương, che chở, cưu mang, là nguồn sống, là bầu sinh khí, tiếp sức cho anh.

    Hình ảnh so sánh phong phú chắt lọc từ đời sống thiên nhiên và con người nên rất bình dị, gần gũi. Cách sắp xếp hàng loạt hình ảnh so sánh cùng hướng tới một ý nghĩa tạo sự nồng nàn, tha thiết.

    Câu 4: Hoài niệm của tác giả Chế Lan Viên về nhân dân Tây Bắc

    Nhân dân Tây Bắc trong hoài niệm của tác giả là những người dân lao động nghèo nhưng giàu lòng yêu nước, gắn bó nghĩa tình với kháng chiến. Đó là “người anh du kích“, đã hi sinh trong một trận công đồn, trước lúc ra đi còn nhường lại chiếc áo đang mặc cho người kháng chiến. Chỉ là “chiếc áo nâu suốt một đời vá rách” nhưng nghĩa tình trong cử chỉ nhường áo đó mãi không thể quên. “Nhường cơm sẻ áo” đã trở thành những cử chỉ đẹp trong môi trường kháng chiến thiếu thốn. Trong bài “Việt Bắc“, Tố Hữu đã viết:

    Thương nhau chia củ sắn lùi

    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

    Đó là hình ảnh “em liên lạc“, một em thiếu nhi Tây Bắc sớm có lòng yêu nước, tận tụy, đầy ý thức trách nhiện với công việc “Mười năm tròn chưa mất một phong thư“. Tình cảm của em đối với người kháng chiến rất đáng trân trọng, yêu thương, bảo vệ người kháng chiến hết mình (Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ).

    Hình ảnh “mế“, người mẹ Tây Bắc ân cần chăm sóc người kháng chiến khi họ bị bệnh không phải một ngày, một tháng mà cả “mùa dài“. Tình mẹ đối với người kháng chiến chẳng khác tình ruột thịt. Hình ảnh mẹ càng đẹp hơn trong sự phản chiếu lung linh của “lửa hồng soi tóc bạc“.

    Hình ảnh cô gái Tây Bắc đọng lại trong cử chỉ ấm áp “Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch“, trong hương thơm của “vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng“. Tình quân dân lâu dần thành tình đôi lứa. Nỗi nhớ được so sánh bằng những hình ảnh gợi bất ngờ, mới lạ, gợi được những tưởng tượng phong phú. (Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét, Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng …)

    – Cách xưng hô thân tình, ruột thịt (anh con, em con, mế …) hình ảnh chân thực, từ ngữ gợi cảm, so sánh độc đáo … Đoạn thơ thể hiện lòng biết ơn, tình yêu thương sâu nặng đối với Tây Bắc. Nhân dân Tây Bắc như một đại gia đình ruột thịt của người kháng chiến.

    – Khổ thơ:

    Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ

    Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương

    Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

    Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn

    Thể hiện niềm thương nhớ đằm thắm, sâu nặng với những mạnh đất mình đã đi qua. Những câu thơ triết lí nhưng không khô khan bởi vì nó dựa vào quy luật của tình cảm. Những miền đất lạ theo thời gian và nghĩa tình sẽ âm thầm bồi đắp tình yêu cho con người. Để rồi khi đi xa, những mảnh đất đó vẫn mãi theo người.

    Từ những cảm xúc suy tư về những chuyển hóa kì diệu của tâm hồn của người đúc kết thành triết lí đó chính là nét độc đáo trong phong cách thơ Chế Lan Viên.

    Câu 5: Những câu thơ thể hiện rõ nhất chất suy tưởng và triết lí của Chế Lan Viên là gì?

    Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ

        ….

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

    Câu 6: Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên trong bài thơ Tiếng hát con tàu

    Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên hấp dẫn người đọc một phần là ở nghệ thuật sáng tạo hình ảnh. Biểu hiện ở:

    – Sự phong phú, đa dạng các loại hình ảnh:

    + Hình ảnh thực với chi tiết cụ thể (hình ảnh “mế“, hình ảnh người du kích, em liên lạc, …)

    + Hình ảnh biểu tượng (con tàu, vầng trăng, mặt hồng em, suối lớn mùa xuân, …)

    + Hình ảnh tượng tưởng (con tàu mộng tưởng, mỗi đêm khuya uống một vầng trăng, …)

    – Sử dụng đa dạng các phương thức sáng tạo hình ảnh:

    + Tả thực (khổ 6, 7, 8)

    + So sánh (khổ 5 và 10)

    + Ẩn dụ (con tàu, vầng trăng, …)

    – Hình ảnh thường được tổ chức thành từng chuỗi liên kết, tiếp nối, bổ sung nhằm khắc sâu ý tưởng, cảm xúc.

  • [Soạn văn] Đất nước (Nguyễn Đình Thi)

    [Soạn văn] Đất nước (Nguyễn Đình Thi)

    Soạn văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Đình Thi)

    Câu 1: Bố Cục bài thơ và mối quan hệ giữa các phần trong tác phẩm Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)?

    a. Bố cục bài thơ gồm 2 phần.

    – Phần 1: Từ đầu đến câu “Những buổi ngày xưa vọng nói về“.

    + Ý chính: Hình ảnh đất nước vươn dậy từ trong máu lửa, đau thương.

    – Phần 2: Đoạn còn lại.

    + Ý chính: Hình ảnh đất nước vươn dậy từ trong máu lửa, đau thương

    b. Mối quan hệ giữa các phần:

    Đó là quan hệ bổ sung cho cảm hứng tổng hợp về đất nước thêm đầy đủ và phong phú hơn.

    + Đoạn 1 gồm các khổ thơ, ý thơ đã được hình thành từ trước (1948-1949), nhưng tác giả cảm thấy chưa đầy đủ, chưa phong phú.

    + Đoạn 2 là những cảm nhận bổ sung, giàu tính khái quát, cho ta thấy hình ảnh đất nước Việt Nam không chỉ có cộng đồng, những con đường hay “Những dòng sông chảy nặng phù sa“… mà còn là một đất nước vươn lên từ trong gian khổ chiến tranh:

    Nước Việt Nam từ máu lửa

    Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

    Câu 2: Mùa Thu trong tác phẩm Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)?

    – Mùa thu hiện lên trong nỗi nhớ của nhà thơ: buổi sáng mùa thu trong lành mát mẻ, gió thổi nhẹ nhẹ thoảng mùi hương cốm trong gió, gợi cảm xúc cho nhà thơ nhớ Hà Nội.

    – Trong hoài niệm của nhà thơ Hà Nội hiện lên với cảnh vật thiên nhiên và con người.

    + Thiên nhiên: thời gian buổi sớm chớm lạnh, không gian: phố dài xao xác hơi may, hương vị cốm, … cảnh hiện lên đẹp nhưng buồn và vắng lặng.

    + Con người: ra đi đầu không ngoảnh lại đó là tư thế thể hiện sự ra đi vì lí tưởng cứu nước quyết tâm, dứt khoát nhưng vẫn biết sau lưng thềm nắng lá rơi đầy, vẫn có gì đó khiến cho chiến sĩ bịn rịn bâng khuâng.

    Tóm lại: đoạn thơ đã diễn tả thành công hình ảnh mùi hương của mùa thu Hà Nội. Đó là một bức tranh đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn.

    Câu 3: Phân tích đoạn thơ “Mùa thu nay đã khác rồi” đến “Những buổi ngày xưa vọng nói về”

    – Đoạn thơ từ “Mùa thu nay đã khác rồi” đến “Những buổi ngày xưa vọng nói về” thể hiện những thay đổi biến chuyển.

    + Nhân vật “tôi” thay đổi từ trạng thái buồn, bâng khuâng, lưu luyến, đến vui sướng, tự hào.

    + Cái nhìn thay đổi từ đường phố, thềm nhà sang núi đồi, rừng tre, trời xanh, cánh đồng, dòng sông.

    + Cảm xúc của tác giả hân hoan, hả hê trước cảnh đất nước rộng lớn:

    Trời thu thay áo mới

    Trong biếc nói cười thiết tha

    + Tác giả chuyển sang cảm xúc tự hào về chủ quyền đất nước và truyền thống bất khuất của ông.

    Trời xanh đây là của chúng ta

    Núi rừng đây là của chúng ta

    ….

    Những buổi ngày xưa vọng nói về

    – Cảm hứng vui sướng và tự hào sở dĩ có được là do tình hình thực tế năm 1948: sau chiến thắng Việt Bắc thu – đông năm 1947, cả một vùng đất rộng lớn thuộc sáu tỉnh biên giới phía Bắc được giải phóng. Điều này đem lại cảm hứng tin tưởng, tự hào của các nhà thơ đi theo kháng chiến (đoạn thơ này được hình thành từ năm 1948 trong bài Sáng mát trong như sáng năm xưa).

    Khi thể hiện cảm hứng tự hào, tác giả đã có những khám phá sâu sắc về truyền thống Đất nước với Nguyễn Đình Thi nổi bật lên ở truyền thống bất khuất.

    Nước chúng ta

    Nước những người chưa bao giờ khuất

    Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

    Những buổi ngày xưa vọng nói về

    Đó là hai đặc tính quý báu của dân tộc ta: anh hùng bất khuất và giản dị chất phác.

    Câu 4: Nguyễn Đình Thi đã cảm nhận và suy tư như thế nào về quê hương đất nước trong phần 2.

    a. Đất nước đau thương

    – Nhà thơ nêu lên tội ác của giặc bằng những hình ảnh giàu tính khái quát như đồng quê chảy máu, bát cơm chan đầy nước mắt…

    – Bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa cánh đồng quê chảy máu đã tố cáo tội ác của giặc.

    – Kẻ thù đã hủy hoại cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân ta.

    –> Chính tội ác ấy đã làm cho nhân dân ta căm hờn mà quyết tâm đứng dậy đánh cho chúng tan hoang, đánh cho chúng không còn đường chạy.

    b. Đất nước quật khởi huy hoàng

    – Nghệ thuật đối có sức gợi cảm mạnh mẽ, một bên là sự tàn bạo của quân xâm lược, một bên là quyền sống chính đáng của nhân dân ta.

    – Tất cả những hình ảnh trên kết hợp lại thành một biểu tượng của đất nước.

    – Những câu thơ cuối lấy chất liệu hiện thực từ trận đánh Điện Biên Phủ.

    –> Khổ thơ là một sự khám phá về chủ nghĩa anh hùng của đất nước, từ bùn lầy của nô lệ, từ đau thương quật khởi chiến thắng vang dội.

    Câu 5: Nghệ thuật

    Bài thơ được làm theo thể thơ tự do với các đặc điểm: câu thơ dài ngắn khác nhau, nhịp điệu khi nhanh, khi chậm. Kết hợp với việc lựa chọn sử dụng những hình ảnh có tính khái quát cao phù hợp với việc diễn tả nội dung tư tưởng và mạch cảm xúc của tác giả.

    Tác dụng:

    + Giúp tác giả dựng được một bức tưởng đài đẹp đẽ, sống động về hình ảnh đất nước trong chiến đấu và chiến thắng.

    + Gợi được cảm nhận rõ ràng về sự chiến thắng của dân tộc: chiến thắng ấy là kết quả của bao nhiêu máu đổ, bao nhiêu mồ hôi và nỗi đau vò xé ; chiến thắng ấy cũng là kết tinh cao nhất của tình yêu, của tinh thần chiến đấu và khát vọng hòa bình sâu thẳm.

    + Tạo được cảm hứng hào hùng cho khúc tráng ca của dân tộc từ nô lệ đến tự do, từ buồn thương đến mừng vui, hạnh phúc. Đây chính là sự vận động đẹp đẽ, sâu sắc trong tứ thơ của Nguyễn Đình Thi.

  • [Soạn văn] Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

    [Soạn văn] Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

    Soạn văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

    Câu 1: Đoạn Trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm có thể chia thành bao nhiêu phần?

    Phần 1(Từ đầu đến “Làm nên Đất Nước muôn đời“): đoạn này nói về vẻ đẹp của đất nước được tác giả so sánh và đánh giá trên nhiều phương diện: văn hóa, phong tục, truyền thống, địa lí, lịch sử, ….

    Phần 2 (còn lại): tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng của nhân dân, đất nước là của nhân dân.

    Câu 2: Cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm?

    – Cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm thật đa dạng, trên nhiều bình diện, từ chiều dài lịch sử (quá khứ – hiện tại – tương lai), đến chiều rộng của không gian – địa lí và nhất là trong bề dày văn hóa – phong tục, lối sống, tâm hồn, tính cách dân tộc. Cả ba bình diện ấy đều có sự gắn bó, thống nhất với nhau.

    – Nhà thơ đã khai thác các thành tố Đất và Nước trong mối quan hệ với không gian – thời gian, với lịch sử và hiện tại. Chiều sâu của lịch sử, truyền thống, phong tục và văn hóa đất nước được gợi lên từ huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ truyền thống Hùng Vương, từ những câu ca dao quen thuộc. Đất nước là không gian sinh tồn của con người (Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm – Đất Nước là nơi ta hò hẹn …). Nhưng sự trường tồn của Đất Nước lại chính là sự trường tồn của con người, qua con người (Nhưng ai đã khuất – Những ai bây giờ – Yêu nhau và sinh con đẻ cái – Gánh vấc phần người đi trước để lại – Dặn dò con cháu chuyện mai sau …).

    Câu 3: Tư tưởng đất nước của nhân dân trong đoạn trích?

    Đất nước là một nhân chứng đáng quý của mỗi người dân việt nam, ở phần 1 đất nước được cảm nhận qua rất nhiều những phương diện như lịch sử, văn hóa, hay chiều dài lịch sử… đất nước hiện lên với những vẻ thân thương gần gũi bởi cốt lõi đất nước mang tư tưởng nhân dân, những hình ảnh quen thuộc của đất nước như hòn trống mái, hay núi vọng phu đây là những hình ảnh của địa danh ở việt nam,đất nước Việt Nam là một đất nước giàu tình yêu thiên nhiên quê hương đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đất nước là nơi vô cùng thiếng liêng những nó lại rất đỗi gần gũi với con người:

    Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

    Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

    ….

    Hãy nhìn rất xa

    Vào 4.000 năm Đất Nước

    Đất nước là một vị anh hùng: một minh chứng cho những vị anh hùng đã xả thân vì nghiệp lớn, đât nước là nơi đoàn kết gắn bó của nhân dân trong lao động sản xuất, hình ảnh đất nước được hiện lên trong ca dao tục ngữ mang đậm tính dân tộc sâu sắc, đất nước từ nhân dân do nhân dân và vì nhân dân mà ra tất cả đều phục vụ cho nhân dân, tư tưởng đất nước của dân là tư tưởng cốt yếu trong bài đất nước của Nguyễn Đình Thi.

    Đất nước của Nguyễn Đình Thi đã mang đậm tính chất lịch sử những bề dày lịch sử lâu dài gắn bó từ xưa đến nay, nó mang đậm vẻ đẹp của một dân tộc giàu truyền thống.

    Câu 4: Nghệ thuật trong đoạn trích Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    – Đoạn thơ sử dụng nhiều chất liệu văn học và văn hóa dân gian: ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, phong tục, lối sống, …

    – Tác giả sử dụng sáng tạo các yếu tố dân gian:

    + Có khi lấy lại từng phần của câu ca dao: “yêu em từ thủa trong nôi

    + Chủ yếu là sử dụng ý, hình ảnh ca dao, truyền thuyết để tạo lên hình tượng thơ mới, gần gũi và mới mẻ.

  • [Soạn văn] Dọn về làng (Nông Quốc Chấn)

    [Soạn văn] Dọn về làng (Nông Quốc Chấn)

    Soạn văn lớp 12: Dọn về làng (Nông Quốc Chấn)

    Câu 1: Tác phẩm miêu tả cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao-Bắc-Lạng và Tội ác của giặc Pháp như thế nào?

    – Cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao-Bắc-Lạng được miêu tả qua các từ ngữ và hình ảnh:

    + Mấy năm: thời gian kéo dài

    + Quên tết… quên rằm …

    + Chạy hết núi khe, cay đắng …

    + Lán sụp; nát cửa; vắt bám

    + Mẹ địu em chạy; con sau lưng tay dắt bà; vai đầy tay nải…

    + Cuộc sống yên ấm bị đảo lộn, nhà cửa tan hoang, gia đình li tán, cơ cực.

    – Tội ác của giặc Pháp:

    + Lán đốt trơ trụi, súng nổ, Tây lùng.

    + Áo quần bị vơ vét.

    + Cha bị bắt, bị đánh chết.

    + Chôn cất cha; bằng khăn của mẹ; liệm bằng áo của con

    + Máu đầy tay, nước tràn đầy mặt …

    Câu 2: Niềm vui của nhân dân khi quê hương giải phóng như thế nào?

    Niềm vui của nhân dân khi quê hương được giải phóng được diễn tả độc đóa qua hình ảnh, từ ngữ: Cười vang, Xuống làng, Người nói cỏ lay, Ô tô kêu vang đường cái, Ríu rít tiếng cười con trẻ …. Mật độ động từ dày đặc diễn tả xúc cảm mừng vui, hân hoan khi quê hương đã trở lại cuộc sống thanh bình.

    Với ngôn ngữ mộc mạc, lối thơ giản dị, ý thơ chân thực, tác giả đã diễn tả niềm vui với đủ cung bậc, ở các đối tượng, vui nhất là niềm vui của nhân vật trữ tình.

    Câu 3: Màu sắc dân tộc qua cách sử dụng hình ảnh từ ngữ của nhà thơ.

    – Hình ánh so sánh: Người đông như kiến, súng đầy như củi; Người nói cỏ lay trong rừng rậm; Hổ không dám đến đẻ con trong vườn chuối; …

    – Từ ngữ: hàng đàn; quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy; mày; tao …

    Cách diễn tả nỗi đau cũng như niềm vui sướng của tác giả sinh động giàu hình ảnh mà rất cụ thể thuần phác, hồn nhiên như chính tâm hồn của người dân miền núi.