Category: Luận Văn – Đồ Án

Hỗ Trợ Ôn Tập cung cấp Kho tư liệu Miễn Phí bao gồm hàng ngàn Luận Văn, Đồ Án, Tiểu Luận Tốt Nghiệp, Báo cáo, Bài tập lớn, Đề tài, Đề án,… Miễn Phí!Luan Van Do An Ho Tro On Tap

  • Đồ án nền & móng: Thiết kế móng cọc

    Đồ án nền & móng: Thiết kế móng cọc

    Đồ án nền & móng: Thiết kế móng cọc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%A1n-n%E1%BB%81n-m%C3%B3ng-Thi%E1%BA%BFt-k%E1%BA%BF-m%C3%B3ng-c%E1%BB%8Dc.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ án nền & móng: Thiết kế móng cọc

    THUYẾT MINH ĐỒ ÁN

    THIẾT KẾ MÓNG CỌC

    *******

    I.Số liệu:

    1. Đặc điểm kết cấu: Kết cấu khung BTCT có tường chèn

    Tải trọng tính toán tác dụng dưới chân công trình tại cốt mặt đất:

    Móng  M1 : Cột trục B Ntt0 = 516T ;    Mtt0 = 135T.m;   Qtt0 = 81T

    Móng M2  : Cột trục D Ntt0 = 436T ;    Mtt0 = 123T.m;   Qtt0 = 81T

    • Tải trọng tiêu chuẩn dưới chân cột: Trục B

    , ,

    (n: hệ số vượt tải có thể lấy chung từ 1,1 – 1,2, ở đây ta chọn n= 1,15)

    Loại Vị trí N(T) M(T.m) Q (T)
    Tải trọng
    tiêu chuẩn

     

    Ptc

    C1 448,7 117,39 70,43
    C2 379,1 107 70,43
    Tải trọng
    tính toán

     

    Ptt

    C1 516 135 81
    C2 436 123 81
    1. Khu vực xây dựng , nền đất gồm 5 lớp:

    + Lớp đất 1: Sét pha dày 2,4m

    +Lớp đất 2 : Sét dày 4,7

    + Lớp đất 3: Cát pha dày 5,4m

    + Lớp đất 4: Cát nhỏ dày 6m

    +Lớp đất 5 : Cát vừa  rất dày

    Chiều sâu mực nước ngầm :   Hnn = 9 (m)

    I.Số liệu công trình: (nhà công nghiệp)

    * Tải trọng tính toán:

    Ntt0= 516 T

    M0tt= 135 T.m

    Q0tt= 81 T

    A.Số liệu tính toán

    + Lớp đất 1: Sét pha dày 2,4m

    +Lớp đất 2 : Sét dày 4,7

    + Lớp đất 3: Cát pha dày 5,4m

    + Lớp đất 4: Cát nhỏ dày 6m

    +Lớp đất 5 : Cát vừa  rất dày

    Mực nước ngầm ở độ sâu -9,0 (m) kể từ mặt đất khi khảo sát.

    Bảng giá trị tính toán

    Móng Cột Trục (T) (Tm) (T)
    M1 B 516 135 81
            M2           D          436 123           81

    Bảng chỉ tiêu cơ học ,vật lý của các lớp đất

    TT Tên lớp đất Chiều dày

     

    (m)

         γ  (kN/m3) γs

     

    (kN/m3)

    W

     

    (%)

    WL (%) W(%)   CII

     

    (kPa)

     N30 E

     

    (kPa)

    Cu (kPa)
    1 Sét pha 2,4 17,9 26,9 36 41 24,5 17 20 7 6800 45
    2 Sét 4,7 17,6 27 40 46 28,0 16 25 5 6300 34
    3 Cát pha 5,4 18,1 26,7 28 30 24,0 21 7 8 6500 41
    4 Cát nhỏ 6,0 18,5 26,6 24 _ _ 30 _ 22 12000 _
      5 Cát vừa Rất dày     18    26,4   18    _     _    35     _  35 25000     _

    I.Đánh giá điều kiện địa chất công trình,địa chất thủy văn

    a.Đều kiện địa chất công trình

    * Trục địa chất

    TRỤC ĐỊA CHẤT

     

     

     

     

    MẶT BẰNG CÔNG TRÌNH

    * Đánh giá điều kiện địa chất công trình

    – Để có thể lựa chọn giả pháp nền và móng cho công trình một cách hợp lý ta cần phải đánh giá điều kiện địa chất thủy văn của khu đất xây dựng công trình ta cần phải xét các chỉ số sau:

    – Hệ số rỗng [e]

    – Độ sệt [ IL]

    =B

    – Trọng lượng đẩy nổi của đất [ đn ]

    đn  với =10(kN/m3)

    – Đánh giá sơ bộ về địa chất của khu đất xây dựng công trình như sau:

    Lớp 1 : Sét pha

    +Độ rỗng : e0 = = =1,04

    +Chỉ số dẻo A= 41% – 24,5%=16,5%    17% đất thuộc loại sét  pha

    +Độ sệt trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

    Từ chỉ tiêu độ dẻo đất thuộc loại sét pha, có eo= 1,04 >1

    Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm

    Kết Luận :Đây là lớp đất yếu không thể làm nền cho công trình

    Lớp2:   Sét

    +Độ rỗng : e0 = = =1,14>1

    +Chỉ số dẻo A= 46% – 28%=18%    17% đất thuộc loại sét

    +Độ sệt B= =   trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

    Từ chỉ số dẻo,hệ số rỗng >1

    Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm Đây là lớp đất dẻo không thể làm nền cho công trình

    Lớp3Cát pha

    +Độ rỗng : e0 = = >0,85 thuộc loại cát rời

    +Chỉ số dẻo A= 30% – 24%=6%    7% đất thuộc loại  pha cát

    +Độ sệt B= =   trạng thái dẻo mềm

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

    Từ chỉ số dẻo đất thuộc loại pha cát, đất rời.

    Độ sệt cho ta biết đất trạng thái dẻo mềm Đây là lớp vẫn chưa  có thể đặt mũi cọc  chịu lực cho công trình

    Lớp4:   Cát nhỏ

    +Độ rỗng : e0 = = =0,78

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

    Đây là lớp đất TB có thể  làm móng cho công trình

    Lớp5:   Cát vừa

    +Độ rỗng : e0 = = =0,73<0,75 thuộc loại đất cát nhỏ chặt vừa

    +Trọng lượng đẩy nổi

    Nhận xét

    Với các chỉ tiêu tinh toán trên ta nhận thấy lớp đất thứ 1 và lớp 2 thuộc loại mềm yếu,lớp đất 3 và lớp đất 4,thuộc cát pha  ,lớp 5 lớp đất chặt và có  độ sâu khá dầy , ta cần  đặt mũi cọc vào lớp thứ 5 này.

    II.Đề xuất phương án móng cọc

    *Tiêu chuẩn xây dựng :Do phần móng cần tính toán thuộc kết cấu cơ bản  là khung BTCT có tương chèn nên theo TCXD 205-1998 ta có :

    –    Độ lún cho phép Sgh = 8 cm. Chênh lún tương đối cho phép .Chênh lún tương đối cho phép  = 0,2%.

    –    Hệ số an toàn: Lấy F= 2÷ 3

    *Phương án nền,móng :

    • Tải trọng công trình không lớn, nền đất nếu bóc lớp vỏ trên có thể coi là tốt. Vì vậy đề xuất phương án móng nông trên nền thiên nhiên.
    • Móng dạng đơn BTCT dưới cột, băng BTCT dưới tường BTCT chịu lực.
    • Các tường chèn, bao che có thể dùng móng gạch hay dầm giằng để đỡ.
    • Các khối nhà có tải chênh lệch được tách ra khỏi khe lún.

    * Chọn giải pháp móng cọc đài thấp: Dùng cọc BTCT 30 x 30 cm, đài đặt vào lớp 1, mũi cọc hạ sâu xuống lớp 5 khoảng . Thi công bằng phương pháp đóng (ép).

    *Đài Cọc

    -Bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

    -Thép chịu lực: AII  Rs= 280000 Kpa,

    -Lớp lót: bê tông nghèo, mác thấp 100, dày 100 cm.

    -Lớp bảo vệ cốt thép đáy móng dày  3cm. (thường chọn 3-5 cm)

    – Đài liên kết ngàm với cột và cọc. Thép dọc neo trong đài ≥ 30d ( ở đây chọn 55cm) và đầu cọc trong đài 15 cm

    *Cọc đúc tại công trường

    + Bê tông: mác B25 , Rb= 14500 Kpa

    + Cốt thép : thép chịu lực –AII, đai AI

    III : TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ MÓNG

    1. Tải trọng tác dụng xuống móng + số thứ tự là 1

     

    Móng Cột trục      
    M1 B 516 135 81

    A: Thiết kế móng

    Tiết diện chân cột 0,7×0,4m

    Tải trọng tiêu chuẩn

    1.Chiều sâu đáy đài Hmd

    Tính hmin : Chiều sâu chon móng  yêu cầu nhỏ nhất

    Hmin :

    +Q: tổng các lực ngang Qx= 70,43T

    + : dung trọng tự nhiên =17,9 Tm3

    +B: bề rộng đài sơ bộ b=1,8

    + : góc ma sát trong

    NHư vậy Hmin =0,8 ta chọn hmd =1,2 m > hmin= 0,8

    Với độ sâu đáy đài đủ lớn , lực ngang Q nhỏ , trong tinh toán gần đúng coi như bỏ tải trọng ngang.

    Vậy độ sâu chôn móng là h= 1,2+0,5 (tôn nền)= 1,7 (m)

    • Cos 0,000 được tính cao hơn mặt đất thiên nhiên 0,500 (m)
    • Đáy đài đặt tại cote -1,700 (m)
    • Làm lớp Bêtông lót vữa xi măng cát B5 dày 100.

    2.Cọc

    -Tiết diện cọc : 300×300 (mm), bê tông  B25

    Thép chịu lực là  thép A-II 4 16 Fa=8,04 cm2

    +Chọn chiều dài cọc cắm xuống lớp đất thứ 5 là 2 (m):

    +Đầu cọc trong đài là 15cm

    +Cọc cắm xuống nền: 2,4 + 4,7 + 5,4 + 6 -1,2 + 0,5=18 (m)

    +Thép của cọc neo trong đài lấy 55cm

    -Ta chia cọc ra làm 3 đoạn mỗi đoạn dài 6 (m) nối cọc bằng hàn bản mã.

    Chi tiết nối cọc 

    III.Xác định sức chịu tải của cọc

     1-a.Sức chịu tải của cọc theo vật liệu:

    Theo kết quảkhảo sát công trình,điều kiện địa chất thủy văn,trong trụ địa chất

    không có than bùn nên không cần kể đến ảnh hưởng của hệ số uốn dọc => φ =1  .Chi tiết nối cọc

    Pv=.φ.(Rb.Fb + Ra. Fa)

    Rb=9000 Kpa

    Fb =0,3×0,3

    Fa =8,04.10-4

    Ra =280000 Kpa

    => PVL=1.(9000 x 0,3×0,3 + 28.104 x 8,04.10-4)  = 1035,12KN

    1-b.Sức chịu tải của cọc theo đất nền:

    2.Sức chịu tải của cọc theo Pđ(cọc ma sát, cọc treo):

    Pđ=

    M : m = 1 đối với cọc đóng

    MR= mf = 1 Đối với loại cọc thứ nhất

    U: chu vi tiết diện cọc: 0,3.4=1,2(m)

    F: Diện tích mặt cắt ngang cọc: 0,3×0,3=0,09

    Chia đất thành các lớp đất đồng nhất, chiều dày mỗi lớp £ 2 m như hình vẽ. Ta lập bảng tra được ti (theo giá trị độ sâu trung bình của mỗi lớp và loại đất, trạng thái đất). Cường độ tính toán của đất ở chân cột với độ sâu Hm= 18,5m, mũi cọc đặt ở lớp cát vừa( rất dày) tra bảng sách hướng dẫn làm đồ án nền móng nội suy ta  được R = 6780 kPa = 678 T/m2.

    Lớp đất Loại đất Li (m) Zi (m) fi (Kpa) mfi,li, fi (KN/m) ∑ mfi,li, fi

     

    (KN/m)

    Lớp 1 Sét pha

     

    IL= 0,69

    1,2 2,3 7,3 8,76 578,844
    Lớp 2 Sét

     

    IL = 0,67

    2 3,9 8,9 17,8
    2 5,9 10 20
    0,7 7,25 10 7
    Lớp 3 Cát pha

     

    IL= 0,67

    2 8,6 10 20
    2 10,6 10,12 20,24
    1,4 12,3 10,46 14,644
    Lớp 4 Cát nhỏ 2 14 49,5 99
    2 16 52 104
    2 18 54,7 109,4
    Lớp5 Cát vừa 2 20 79 158

    Pđ=

    =1.(1.6780.0,09+4×0,3×578,844)=1304,813KN

    Pđ’=

    Kd = 1,4 hệ số an toàn đối với đất.

    Vậy Pđ’<Pv nên ta đưa Pđ’ vào tính toán

    – Theo kết quả thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT: theo công thức Nhật Bản

    Trong đó :                   α = 300 cọc hạ bằng phương pháp đóng (ép)

    N =35 số SPT ở chân cọc(đất dưới mũi cọc)

    Cuj =lực dính không thoát nước của lớp đất lọai sét j (Kpa)

    Ap = 0,3x 0,3 =0,09m2

    u = 4×0,3 =1,2m

    sức chịu tải cho phép của cọc theo đất nền :

    1. Chọn và bố trí cọc :

    Áp lực tính toán giả định tác dụng lên đáy đài do phản lực đầu cọc gây ra là :

    Diện tích sơ bộ đáy đài là :

    Trong đó :

    : dung trọng trung bình của lớp vữa bê tông móng.

    Trọng lượng của đài và đất trên đài :

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Số lượng cọc sơ bộ là :

    Để kể đến ảnh hưởng của moment lấy số cọc  n = 12 cọc bố trí như hình vẽ :

    Chọn sơ bộ chiều cao đài cọc

    Chiều cao đài cọc được chọn theo điều kiện chống chọc thủng. Ở đây có thể sơ bộ chọn hd từ điều kiện đáy tháp chọc thủng vừa trùm cạnh ngoài các cọc biên. Khi đó phản lực các cọc đều nằm trong đáy tháp chọc thủng, lực chọc thủng = 0 chiều cao đài thỏa mãn.

    Khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh dài có :

    Lđ = 2.(C + h2) + lcột

    Tương tự khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh ngắn điều kiện là :

    => H2 = max(h2l,h2b) = 1,15m

    Chiều cao đài chọn sơ bộ :

    Hđ = h1 + h2 = 0,15+ 0,15 = 1,3m

    Với h1 là chiều sâu cọc ngàm vào đài.

    Kiểm tra điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên

    Diện tích đế đài thực tế : F’d = 2,3×3,2= 7,36 m2

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Ntt = Nott + Ndtt = 5160 +194,304 = 5354,304 KN

    Moment tính toán xác định tương ứng với trọng tâm diện tích tiết diện các cọc tại mặt phẳng đáy đài :

    Mtt = Mott+ Qott x hd = 1350 +810×1,3= 2403 KNm

    Lực truyền xuống các cọc dãy biên là :

    Pttmax= 713KN

    Pttmin =179 KN >0 => cọc không bị nhổ.

    Trọng lượng tính toán của cọc :

    Pc = 0,3.0,3.( 6- 0,35-0,15).810.1,1=44,105KN

    Có Pttmax +Pc = 713 + 44,105=757KN < Pd = 932KN( thỏa mãn điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên)

    Pttmin =179KN>0 nên không cần phải kiểm tra theo điều kiện chống nhổ.

    VII. Tính toán kiểm tra cọc :

    Khi vận chuyển cọc : Tải trọng phân bố

    q = g.F.n với n là hệ số động, n = 1,5

    =>q=2,5.0,3.0,3.1,5=0,33T/m chọn a sao cho M1+ M1=> a = 0,207lc 1,3m

    Biểu đồ moment cọc khi vận chuyển

    – Treo cọc lên giá búa : để

    + Trị số mônmen dương lớn nhất :

    Ta thấy M1 = 0,279 < M2 = 0,535 => dùng M­2 để tính toán

    + Lấy lớp bảo vệ của cọc là a’=2 cm  Chiều cao làm việc của cốt thép h0= 30-2= 28 cm

    =>

    Cốt thép chịu lực của cọc là 2f16(Fa=4cm2)

    vậy cọc đủ khả năng chịu tải khi vận chuyển, cẩu lắp.

    Tính toán cốt thép làm móc cẩu :

    Lực kéo lên móc cẩu trong trường hợp treo lên giá búa

    => Lực kéo ở một nhánh, gần đúng:

    F’k = =

    Diện tích cốt thép của móc cẩu:

    Chọn thép móc cẩu  f12 có Fa = 1,13 cm2

    Chọn búa thích hợp : với kinh nghiệm lc ≤ 12  Q búa = 2,5T

    Kiểm tra nền móng cọc theo TTGH 2:

    Kiểm tra điều kiện áp lực ở đáy móng quy ước:

    Độ lún của nền móng được tính theo độ lún của nền khối móng quy ước abcd:

    Chiều dài của đáy khối quy ước :

    LM= 3,2-2(0,25-0,15)+2.19,6tan(5,911o)= 7,06m

    Bề rộng đáy khối quy ước :

    Trọng lượng tiêu chuẩn của khối móng quy ước từ đáy lớp lót trở lên:

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ lớp lót đến chân cọc :

    Trọng lượng khối móng quy ước phần dưới lớp lót chưa kể bê tông cọc:

    Trọng lượng cọc trong khối móng quy ước:

    Trọng lượng khối móng quy ước:

    Trị tiêu chuẩn lực dọc xác định đến đáy khối quy ước:

    Moment tiêu chuẩn tương ứng trọng tâm đáy khối quy ước :

    Độ lệch tâm :

    Áp lực tiêu chuẩn ở đáy khối quy ước:

    Cường độ tính toán của đất ở đáy khối móng quy ước :

    Ktc =1

    M1=1,4;   M2=1vì công trình không thuộc loại tuyệt đối cứng.

    tra bảng ta được :A= 1,68, B = 7,73  ,C= 9,60

    Chiều cao của khối móng quy ước lấy đến cốt thiên nhiên :

    HM = 0,5+2,4+4,7+5,4+6,0+2 = 21m

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ đáy móng quy ước đến cốt thiên nhiên :

    Có :

    Vậy thỏa mãn điều kiện áp lực dưới đáy móng quy ước.

    Kiểm tra điều kiện biến dạng :

    ứng suất bản thân tại đáy lớp sét pha:

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp sét :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát pha :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát nhỏ :

    Ứng suất bản thân của đất ở đáy móng quy ước :

    Ứng suất gây lún ở đáy móng quy ước:

    Chia nền đất dưới móng quy ước thành các lớp phân tố có chiều dày

    Và đảm bảo mỗi lớp chia ra là đồng nhất.

    Gọi z là độ sâu kể từ đáy móng quy ước thì ứng suất gây lún ở độ sâu z1 :

    K0 tra bảng theo 2z/b và l/b = 7,96/5,26=1,513

    Độ lún của lớp phân tố thứ i :

    Điểm Z

     

    (m)

    2z/b l/b Ko (Kpa) (Kpa)   (Kpa) Si

     

    (m)

    0 0 0   1,000 111,58 370,42 0,3 0 0
    1 1,315 0,5 0,9315 103,937 394,09 0,264 25000 0,0007
    2 2,63 1 0,7355 82,067 417,76 0,196 25000 0,0006
    3 3,945 1,5 0,5282 58,937 441,43 0,134 25000 0,0005
    4 5,26 2 0,3434 38,317 465,1 0,082 25000 0,0003
    5 6,575 2,5 0,2734 30,506 488,77 0,062 25000 0,0002
    6 7,89 3 0,2053 22,907 512,44 0,045 25000 0,00018
    7 9,205 3,5 0,1580 17,630 536,11 0,033 25000 0,00014
    8 10,52 4 0,1113 12,419 559,78 0,022 25000 0,0001

    Giới hạn nền lấy đến điểm 8 ở độ sâu 10,52m kể từ đáy khối quy ước.

    Độ lún của nền:

    thỏa mãn điều kiện độ lún tuyệt đối giới hạn.

    Tính toán độ bền và cấu tạo dài cọc:

    Dùng bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

    Dùng cốt thép nhóm AII có Ra = 280000Kpa

    Xác định chiều cao đài cọc theo điều kiện chọc thủng:

    Với chiều cao đã chọn hđ =1,3m thì đáy tháp chọc thủng vừa trùm kín cạnh ngoài các cọc biên. Lực chọc thủng Pcth = 0  đài không bị chọc thủng.

    Sức chống chọc thủng của đài :

    Nếu chọn chiều cao đài hd<1,3m sao cho Pcth >0  lực chọc thủng :

    Nếu chọn chiều cao đài nhỏ hơn 1,3m sức chống chọc thủng của đài sẽ nhỏ hơn lực chọc thủng đài không  thỏa mãn điều kiện chọc thủng.

    Vậy chiều cao đài đã chọn hđ =1,3m là hợp lý.

    Tính toán moment và thép đặt cho đài cọc

    Moment tương ứng với mặt ngàm I-I :

    M1 = ( P4 +P8+P9 )r1+(P3 +P7 +P10)r1

    r1 = 1,35 – 0,7/2 = 1m

    r1, = 0,45– 0,7/2 = 0,1m

    P4 = P8 = P9 = Pttmax = 713 K N

    M1 =( 3x713x1)+(3x535x0,1)= 2299,5 KNm

    Moment tương ứn mặt ngàm II –II :

    M2 = ( P1 +P4 ) r2 + ( P2 + P3)r2

    r2 = 1,35 – 0,4/2 = 1,15m

    r2 = 0,45 – 0,4/2 = 0,25m

    P1   = Pttmin = 179 KN

    P4  = Pttmax = 713 KN

    P3  = 535 KN

    M2 =(179 +713 )x1,15+ (357 +535) x 0,25= 1249 KNm

    Cốt thép chịu moment M1 :

    Chọn  có Fa = 80,054cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : L – 2abv = 3200 – 2x 35 = 3130 mm

    Cốt thép chịu moment M2 :

    Chọn  có Fa = 45,81cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : b – 2abv =2300 – 2x 35 = 2230mm

    MÓNG 1 T/L : 1/20 ( PHƯƠNG ÁN MÓNG CỌC)

    MẶT CẮT C-C

    II. THIẾT KẾ MÓNG M2 ( D)

    I.Số liệu công trình: (nhà công nghiệp)

    * Tải trọng tính toán:

    Ntt0= 436 T

    M0tt= 123 T.m

    Q0tt= 81 T

    Địa chất dưới móng M2 (D) giống như địa chất dưới móng M1 (B).

    II.Đề xuất phương án móng cọc

    *Tiêu chuẩn xây dựng :Do phần móng cần tính toán thuộc kết cấu cơ bản  là khung BTCT có tương chèn nên theo TCXD 205-1998 ta có :

    –    Độ lún cho phép Sgh = 8 cm. Chênh lún tương đối cho phép .Chênh lún tương đối cho phép  = 0,2%.

    –    Hệ số an toàn: Lấy F= 2÷ 3

    *Phương án nền,móng :

    • Tải trọng công trình không lớn, nền đất nếu bóc lớp vỏ trên có thể coi là tốt. Vì vậy đề xuất phương án móng nông trên nền thiên nhiên.
    • Móng dạng đơn BTCT dưới cột, băng BTCT dưới tường BTCT chịu lực.
    • Các tường chèn, bao che có thể dùng móng gạch hay dầm giằng để đỡ.
    • Các khối nhà có tải chênh lệch được tách ra khỏi khe lún.

    * Chọn giải pháp móng cọc đài thấp: Dùng cọc BTCT 30 x 30 cm, đài đặt vào lớp 1, mũi cọc hạ sâu xuống lớp 5 khoảng . Thi công bằng phương pháp đóng (ép).

    *Đài Cọc

    -Bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

    -Thép chịu lực: AII  Rs= 280000 Kpa,

    -Lớp lót: bê tông nghèo, mác thấp 100, dày 100 cm.

    -Lớp bảo vệ cốt thép đáy móng dày  3cm. (thường chọn 3-5 cm)

    – Đài liên kết ngàm với cột và cọc. Thép dọc neo trong đài ≥ 30d ( ở đây chọn 55cm) và đầu cọc trong đài 15 cm

    *Cọc đúc tại công trường

    + Bê tông: mác B25 , Rb= 14500 Kpa

    + Cốt thép : thép chịu lực –AII, đai AI

    III : TÍNH TOÁN VÀ THIẾT KẾ MÓNG

    1. Tải trọng tác dụng xuống móng + số thứ tự là 1

     

    Móng Cột trục      
    M1 B 436 132 81

    A: Thiết kế móng

    Tiết diện chân cột 0,7×0,4m

    Tải trọng tiêu chuẩn

    1.Chiều sâu đáy đài Hmd

    Tính hmin : Chiều sâu chon móng  yêu cầu nhỏ nhất

    Hmin :

    +Q: tổng các lực ngang Qx= 70,43T

    + : dung trọng tự nhiên =17,9 Tm3

    +B: bề rộng đài sơ bộ b=1,8

    + : góc ma sát trong

    NHư vậy Hmin =0,8 ta chọn hmd =1,2 m > hmin= 0,8

    Với độ sâu đáy đài đủ lớn , lực ngang Q nhỏ , trong tinh toán gần đúng coi như bỏ tải trọng ngang.

    Vậy độ sâu chôn móng là h= 1,2+0,5 (tôn nền)= 1,7 (m)

    • Cos 0,000 được tính cao hơn mặt đất thiên nhiên 0,500 (m)
    • Đáy đài đặt tại cote -1,700 (m)
    • Làm lớp Bêtông lót vữa xi măng cát B5 dày 100.

    2.Cọc

    -Tiết diện cọc : 300×300 (mm), bê tông  B25

    Thép chịu lực là  thép A-II 4 16 Fa=8,04 cm2

    +Chọn chiều dài cọc cắm xuống lớp đất thứ 5 là 2 (m):

    +Đầu cọc trong đài là 15cm

    +Cọc cắm xuống nền: 2,4 + 4,7 + 5,4 + 6 -1,2 + 0,5=18 (m)

    +Thép của cọc neo trong đài lấy 55cm

    -Ta chia cọc ra làm 3 đoạn mỗi đoạn dài 6 (m) nối cọc bằng hàn bản mã.

    Chi tiết nối cọc 

    III.Xác định sức chịu tải của cọc

     1-a.Sức chịu tải của cọc theo vật liệu:

    Theo kết quảkhảo sát công trình,điều kiện địa chất thủy văn,trong trụ địa chất

    không có than bùn nên không cần kể đến ảnh hưởng của hệ số uốn dọc => φ =1  .Chi tiết nối cọc

    Pv=.φ.(Rb.Fb + Ra. Fa)

    Rb=14500 Kpa

    Fb =0,3×0,3

    Fa =8,04.10-4

    Ra =280000 Kpa

    => PVL=1.(9000 x 0,3×0,3 + 28.104 x 8,04.10-4)  = 1035,12KN

    1-b.Sức chịu tải của cọc theo đất nền:

    2.Sức chịu tải của cọc theo Pđ(cọc ma sát, cọc treo):

    Pđ=

    M : m = 1 đối với cọc đóng

    MR= mf = 1 Đối với loại cọc thứ nhất

    U: chu vi tiết diện cọc: 0,3.4=1,2(m)

    F: Diện tích mặt cắt ngang cọc: 0,3×0,3=0,09

    Chia đất thành các lớp đất đồng nhất, chiều dày mỗi lớp £ 2 m như hình vẽ. Ta lập bảng tra được ti (theo giá trị độ sâu trung bình của mỗi lớp và loại đất, trạng thái đất). Cường độ tính toán của đất ở chân cột với độ sâu Hm= 18,5m, mũi cọc đặt ở lớp cát vừa( rất dày) tra bảng sách hướng dẫn làm đồ án nền móng nội suy ta  được R = 6780 kPa = 678 T/m2.

    Lớp đất Loại đất Li (m) Zi (m) fi (Kpa) mfi,li, fi (KN/m) ∑ mfi,li, fi

     

    (KN/m)

    Lớp 1 Sét pha

     

    IL= 0,69

    1,2 2,3 7,3 8,76 578,844
    Lớp 2 Sét

     

    IL = 0,67

    2 3,9 8,9 17,8
    2 5,9 10 20
    0,7 7,25 10 7
    Lớp 3 Cát pha

     

    IL= 0,67

    2 8,6 10 20
    2 10,6 10,12 20,24
    1,4 12,3 10,46 14,644
    Lớp 4 Cát nhỏ 2 14 49,5 99
    2 16 52 104
    2 18 54,7 109,4
    Lớp5 Cát vừa 2 20 79 158

    Pđ=

    =1.(1.6780.0,09+4×0,3×578,844)=1304,813KN

    Pđ’=

    Kd = 1,4 hệ số an toàn đối với đất.

    Vậy Pđ’<Pv nên ta đưa Pđ’ vào tính toán

    – Theo kết quả thí nghiệm xuyên tiêu chuẩn SPT: theo công thức Nhật Bản

    Trong đó :                   α = 300 cọc hạ bằng phương pháp đóng (ép)

    N =35 số SPT ở chân cọc(đất dưới mũi cọc)

    Cuj =lực dính không thoát nước của lớp đất lọai sét j (Kpa)

    Ap = 0,3x 0,3 =0,09m2

    u = 4×0,3 =1,2m

    sức chịu tải cho phép của cọc theo đất nền :

    1. Chọn và bố trí cọc :

    Áp lực tính toán giả định tác dụng lên đáy đài do phản lực đầu cọc gây ra là :

    Diện tích sơ bộ đáy đài là :

    Trong đó :

    : dung trọng trung bình của lớp vữa bê tông móng.

    Trọng lượng của đài và đất trên đài :

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Số lượng cọc sơ bộ là :

    Để kể đến ảnh hưởng của moment lấy số cọc  n = 12 cọc bố trí như hình vẽ :

    Chọn sơ bộ chiều cao đài cọc

    Chiều cao đài cọc được chọn theo điều kiện chống chọc thủng. Ở đây có thể sơ bộ chọn hd từ điều kiện đáy tháp chọc thủng vừa trùm cạnh ngoài các cọc biên. Khi đó phản lực các cọc đều nằm trong đáy tháp chọc thủng, lực chọc thủng = 0 chiều cao đài thỏa mãn.

    Khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh dài có :

    Lđ = 2.(C + h2) + lcột

    Tương tự khi đáy tháp chọc thủng trùm hết cạnh ngoài các cọc biên theo cạnh ngắn điều kiện là :

    => H2 = max(h2l,h2b) = 1,15m

    Chiều cao đài chọn sơ bộ :

    Hđ = h1 + h2 = 0,15+ 0,15 = 1,3m

    Với h1 là chiều sâu cọc ngàm vào đài.

    Kiểm tra điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên

    Diện tích đế đài thực tế : F’d = 2,3×3,2=7,36 m2

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Trọng lượng tính toán của đài và đất trên đài :

    Lực dọc tính toán xác định đến cốt đáy đài là :

    Ntt = Nott + Ndtt = 4360 +275,264 = 4635,264 KN

    Moment tính toán xác định tương ứng với trọng tâm diện tích tiết diện các cọc tại mặt phẳng đáy đài :

    Mtt = Mott+ Qott x hd = 1230 +810×1,3= 2283 KNm

    Lực truyền xuống các cọc dãy biên là :

    Pttmax= 640KN

    Pttmin =132KN >0 => cọc không bị nhổ.

    Trọng lượng tính toán của cọc :

    Pc = 0,3.0,3.( 6- 0,35-0,15).810.1,1=44,105KN

    Có Pttmax +Pc = 640 + 44,105=684,105KN < Pd = 932KN( thỏa mãn điều kiện lực max truyền xuống cọc dãy biên)

    Pttmin =132KN>0 nên không cần phải kiểm tra theo điều kiện chống nhổ.

    VII. Tính toán kiểm tra cọc :

    Khi vận chuyển cọc : Tải trọng phân bố

    q = g.F.n với n là hệ số động, n = 1,5

    =>q=2,5.0,3.0,3.1,5=0,33T/m chọn a sao cho M1+ M1=> a = 0,207lc 1,3m

    Biểu đồ moment cọc khi vận chuyển

    – Treo cọc lên giá búa : để

    + Trị số mônmen dương lớn nhất :

    Ta thấy M1 = 0,279 < M2 = 0,535 => dùng M­2 để tính toán

    + Lấy lớp bảo vệ của cọc là a’=2 cm  Chiều cao làm việc của cốt thép h0= 30-2= 28 cm

    =>

    Cốt thép chịu lực của cọc là 2f16(Fa=4cm2)

    vậy cọc đủ khả năng chịu tải khi vận chuyển, cẩu lắp.

    Tính toán cốt thép làm móc cẩu :

    Lực kéo lên móc cẩu trong trường hợp treo lên giá búa

    => Lực kéo ở một nhánh, gần đúng:

    F’k = =

    Diện tích cốt thép của móc cẩu:

    Chọn thép móc cẩu  f12 có Fa = 1,13 cm2

    Chọn búa thích hợp : với kinh nghiệm lc ≤ 12  Q búa = 2,5T

    Kiểm tra nền móng cọc theo TTGH 2:

    Kiểm tra điều kiện áp lực ở đáy móng quy ước:

    Độ lún của nền móng được tính theo độ lún của nền khối móng quy ước abcd:

    Chiều dài của đáy khối quy ước :

    LM= 3,2-2(0,25-0,15)+2.19,6tan(5,911o)= 7,06m

    Bề rộng đáy khối quy ước :

    Trọng lượng tiêu chuẩn của khối móng quy ước từ đáy lớp lót trở lên:

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ lớp lót đến chân cọc :

    Trọng lượng khối móng quy ước phần dưới lớp lót chưa kể bê tông cọc:

    Trọng lượng cọc trong khối móng quy ước:

    Trọng lượng khối móng quy ước:

    Trị tiêu chuẩn lực dọc xác định đến đáy khối quy ước:

    Moment tiêu chuẩn tương ứng trọng tâm đáy khối quy ước :

    Độ lệch tâm :

    Áp lực tiêu chuẩn ở đáy khối quy ước:

    Cường độ tính toán của đất ở đáy khối móng quy ước :

    Ktc =1

    M1=1,4;   M2=1vì công trình không thuộc loại tuyệt đối cứng.

    tra bảng ta được :A= 1,68, B = 7,73  ,C= 9,60

    Chiều cao của khối móng quy ước lấy đến cốt thiên nhiên :

    HM = 0,5+2,4+4,7+5,4+6,0+2 = 21m

    Trọng lượng riêng trung bình của đất từ đáy móng quy ước đến cốt thiên nhiên :

    Có :

    Vậy thỏa mãn điều kiện áp lực dưới đáy móng quy ước.

    Kiểm tra điều kiện biến dạng :

    ứng suất bản thân tại đáy lớp sét pha:

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp sét :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát pha :

    Ứng suất bản thân của đất ở cao độ đáy lớp cát nhỏ :

    Ứng suất bản thân của đất ở đáy móng quy ước :

    Ứng suất gây lún ở đáy móng quy ước:

    Chia nền đất dưới móng quy ước thành các lớp phân tố có chiều dày

    Và đảm bảo mỗi lớp chia ra là đồng nhất.

    Gọi z là độ sâu kể từ đáy móng quy ước thì ứng suất gây lún ở độ sâu z1 :

    K0 tra bảng theo 2z/b và l/b = 6,16/5,26=1,171

    Độ lún của lớp phân tố thứ i :

    Điểm Z

     

    (m)

    2z/b l/b Ko (Kpa) (Kpa)   (Kpa) Si

     

    (m)

    0 0 0   1,000 111,58 370,42 0,3 0 0
    1 1,315 0,5 0,9315 103,937 394,09 0,264 25000 0,0007
    2 2,63 1 0,7355 82,067 417,76 0,196 25000 0,0006
    3 3,945 1,5 0,5282 58,937 441,43 0,134 25000 0,0005
    4 5,26 2 0,3434 38,317 465,1 0,082 25000 0,0003
    5 6,575 2,5 0,2734 30,506 488,77 0,062 25000 0,0002
    6 7,89 3 0,2053 22,907 512,44 0,045 25000 0,00018
    7 9,205 3,5 0,1580 17,630 536,11 0,033 25000 0,00014
    8 10,52 4 0,1113 12,419 559,78 0,022 25000 0,0001

    Giới hạn nền lấy đến điểm 8 ở độ sâu 10,52m kể từ đáy khối quy ước.

    Độ lún của nền:

    thỏa mãn điều kiện độ lún tuyệt đối giới hạn.

    Tính toán độ bền và cấu tạo dài cọc:

    Dùng bê tông B20  Rb= 9000 Kpa, Rbt = 750 Kpa

    Dùng cốt thép nhóm AII có Ra = 280000Kpa

    Xác định chiều cao đài cọc theo điều kiện chọc thủng:

    Với chiều cao đã chọn hđ =1,3m thì đáy tháp chọc thủng vừa trùm kín cạnh ngoài các cọc biên. Lực chọc thủng Pcth = 0  đài không bị chọc thủng.

    Sức chống chọc thủng của đài :

    Nếu chọn chiều cao đài hd<1,75m sao cho Pcth >0  lực chọc thủng :

    Nếu chọn chiều cao đài nhỏ hơn 1,3m sức chống chọc thủng của đài sẽ nhỏ hơn lực chọc thủng đài không  thỏa mãn điều kiện chọc thủng.

    Vậy chiều cao đài đã chọn hđ =1,3m là hợp lý.

    Tính toán moment và thép đặt cho đài cọc

    Moment tương ứng với mặt ngàm I-I :

    M1 = ( P4 +P8+P9 )r1+(P3 +P7 +P10)r1

    r1 = 1,35 – 0,7/2 = 1m

    r1, = 0,45– 0,7/2 = 0,1m

    P4 = P8 = P9 = Pttmax = 640K N

    M1 =( 3x640x1)+(3x471x0,1)= 2061 KNm

    Moment tương ứn mặt ngàm II –II :

    M2 = ( P1 +P4 ) r2 + ( P2 + P3)r2

    r2 = 1,35 – 0,4/2 = 1,15m

    r2 = 0,45 – 0,4/2 = 0,25m

    P1   = Pttmin = 132 KN

    P4  = Pttmax = 640 KN

    P3  = 471 KN

    M2 =(132 +640 )x1,15+ (302 +471) x 0,25= 1081 KNm

    Cốt thép chịu moment M1 :

    Chọn  có Fa = 73,635cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : L – 2abv = 3200 – 2x 35 = 3130 mm

    Cốt thép chịu moment M2 :

    Chọn  có Fa = 38,175cm2

    Khoảng cách giữa trục các cốt thép cạnh nhau là :

    Chiều dài của 1 thanh là : b – 2abv =2300 – 2x 35 = 2230mm

    MÓNG 1 T/L : 1/20 ( PHƯƠNG ÁN MÓNG CỌC)

    MẶT CẮT C-C


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Ch%C3%ADnh-s%C3%A1ch-xo%C3%A1-%C4%91%C3%B3i-gi%E1%BA%A3m-ngh%C3%A8o-%C4%91%E1%BB%91i-v%E1%BB%9Bi-%C4%91%E1%BB%93ng-b%C3%A0o-c%C3%A1c-d%C3%A2n-t%E1%BB%99c-thi%E1%BB%83u-s%E1%BB%91-%E1%BB%9F-n%C6%B0%E1%BB%9Bc-ta-trong-giai-%C4%91o%E1%BA%A1n-hi%E1%BB%87n-nay-th%E1%BB%B1c-tr%E1%BA%A1ng-v%C3%A0-gi%E1%BA%A3i-ph%C3%A1p..pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay, thực trạng và giải pháp.

    Lời nói đầu

    Trong lịch sử của xã hội loài người, đặc biệt từ khi có giai cấp đến nay, vấn đề phân biệt giầu nghèo đã xuất hiện và đang tồn tại như một thách thức lớn đối với phát triển bền vững của từng quốc gia, từng khu vực và toàn bộ nền văn minh hiện đại. Đói nghèo và tấn công chống đói nghèo luôn luôn là mối quan tâm hàng đầu của các quốc gia trên thế giới, bởi vì giầu mạnh gắn liền với sự hưng thịnh của một quốc gia. Đói nghèo thường gây ra xung đột chính trị, xung đột giai cấp, dẫn đến bất ổn định về xã hội, bất ổn về chính trị. Mọi dân tộc tuy có thể khác nhau về khuynh hướng chính trị, nhưng đều có một mục tiêu là làm thế nào để quốc gia mình, dân tộc mình giầu có. Trong thực tế ở một số nước cho thấy khi kinh tế càng phát triển nhanh bao nhiêu, năng suất lao động càng cao bao nhiêu thì tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư lại càng bức xúc và có nguy cơ dẫn đến xung đột.

    Trong nền kinh tế thị trường, Quy luật cạnh tranh đã thúc đẩy nhanh hơn quá trình phát triển không đồng đều, làm sâu sắc thêm sự phân hoá giữa các tầng lớp dân cư trong quốc gia. Khoảng cách về mức thu nhập của người nghèo so với người giầu càng ngày càng có xu hướng rộng ra đang là một vấn đề có tính toàn cầu, nó thể hiện qua tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập, về nạn đói, nạn suy dinh dưỡng vẫn đang đeo đẳng gần 1/3 dân số thế giới.

    Nhân loại đã bước sang thế kỷ 21 và đã đạt được nhiều tiến bộ vượt bậc trên nhiều lĩnh vực như khoa học công nghệ, phát triển kinh tế, nhưng vẫn phải đối mặt với một thực trạng nhức nhối nạn đói nghèo vẫn còn chiếm một tỉ lệ đáng kể ở nhiều nước mà nổi bật là ở những quốc gia đang phát triển. ở Việt Nam từ khi có đường lối đổi mới, chuyển đổi nền kinh tế vận hành theo cơ thị trường có sự điều tiết của nhà nước, tuy nền kinh tế có phát triển mạnh, tốc độ tăng trưởng hàng năm là khá cao, nhưng đồng thời cũng phải đương đầu với vấn đề phân hoá giầu nghèo, hố ngăn cách giữa bộ phận dân cư giầu và nghèo đang có chiều hướng mở rộng nhất là giữa các vùng có điều kiện thuận lợi so với những vùng khó khăn, trình độ dân trí thấp như vùng sâu vùng xa. Chính vì vậy mà Đảng và Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ đối với những  vùng gặp khó khăn, những hộ gặp rủi ro vươn lên xoá đói giảm nghèo nhất là đối với vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    Trong nghị quyết của Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của đảng đã nhấn mạnh coi vấn đề dân tộc và đoàn kết dân tộc luôn luôn có vị trí chiến lược trong sự nghiệp cách mạng. Do đó vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi, vùng sâu, vùng xa là đối tượng chính của nhiệm vụ xoá đói giảm nnghèo, bởi vì họ còn ở trình độ dân tri thấp, tập quán sản xuất lạc hậu, thiếu thông tin nghiêm trọng về sản xuất hàng hoá trong nền kinh tế thị trường. Việc xóa đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số được thực hiện tốt là một trong những yếu tố cơ bản để thực hiện chính sách đại đoàn kết các dân tộc ở nước ta  cùng tiến lên đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Từ các chương trình chính sách xoá đói giảm nghèo được triển khai ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, các ngành Trung ương và địa phương cùng với sự nỗ lực vươn lên của đồng bào dân tộc thiểu số thực sự đã góp phần quan trọng, tạo được chuyển biến đáng kể về phát triển kinh tế xã hội, xây dựng cơ sở hạ tầng và giải quyết những vấn đề bức xúc ở vùng dân tộc thiểu số. Tuy nhiên những thành tựu này mới chỉ là bước đầu những tồn tại và khó khăn còn nhiều, để khắc phục nó cần có sự nỗ lực của toàn đảng toàn dân và đặc biệt là từ phía bản thân đồng bào các đân tộc thiểu số, cùng với cả nước xoá đói giảm nghèo, thực hiện công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nước.

    Nghiên cứu chính sách xoá đói giảm nghèo và tác động của chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số sẽ  giúp chúng ta hiểu thêm về thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số, thấy được những kết quả đã đạt được và những yếu kém cần được khắc phục trong quá trình thực hiện chính sách xoá đói, giảm nghèo của Đảng và Nhà nước ta ,để từ đó có kiến nghị và đề xuất giải pháp tốt hơn, có hiệu quả hơn trong công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.

    Đề án gồm ba phần chính:

    Chương I Cở sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói, chính sách xoá đói giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

    Chương II Thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết quả đạt được từ việc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây.

               

    Chương III   Những kiến nghị và giải pháp về xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta.

     

     

     

    Chương I

    Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội và vấn đề nghèo đói, chính sách xoá đói giảm nghèo đối với vùng đồng bào các đân tộc thiểu số ở nước ta.

    I Cơ sở lý luận về chính sách kinh tế xã hội

         1 Các khái niệm cở bản về chính sách kinh tế xã hội.

    1.1 Khái niệm chính sách

    Chính sách là phương thức hành động được một chủ thể hay tổ chức nhất định khẳng định và tổ chức thực hiện nhằm giải quyết những vấn đề lặp đi lặp lại.

    Chính sách giúp các nhà quản lý xác định những chỉ dẫn chung cho quá trình ra quyết định. Giúp họ thấy được phạm vi hay giới hạn cho phép của các quyết định, nhắc nhở các nhà quản lý những quyết định nào là có thể và những quyết định nào là không thể. Từ đó chính sách sẽ hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên trong tổ chức vào việc thực hiện mục tiêu chung của tổ chức.

    1.2 Khái niệm chính sách kinh tế xã hội

    Chính sách kinh tế xã hội là tổng thể các giải pháp và công cụ do nhà nước với tư cách là chủ thể quản lý xã hội xây dựng và tổ chức thực hiện để giải quyết những vấn đề chính sách nhằm thực hiện mục tiêu bộ phận theo định hướng mục tiêu tổng thể của đất nước.

         2 Đặc trưng cơ bản của chính sách kinh tế xã hội

    • Chính sách kinh tế xã hội là các hình thức mà Nhà nước can thiệp vào nền kinh tế. Thông qua các quyết định của nhà nước tác động lên các chủ thể hoạt động trong nền kinh tế hướng họ theo mục tiêu chung của quốc gia trên cơ sở những quy định của pháp luật hiện hành.
    • Chính sách kinh tế xã hội là hành động can thiệp của nhà nước trước một vấn đề chính sách chín muồi. Đó là những vấn đề lớn có phạm vi ảnh hưởng đến toàn bộ đất nước cần được giải quyết ngay.
    • Các mục tiêu của chính sách kinh tế xã hội là mục tiêu bộ phận, có thể mang tính ngắn hạn huặc dài hạn và được thực hiện trên cơ sở hướng vào mục tiêu tổng thể của đất nước.
    • Chính sách kinh tế xã hội không chỉ là những cách thức được đưa ra mà nó còn bao hàm cả quá trình thực hiện chính sách đó. Khi Nhà nước đưa ra văn bản về chính sách đã được các cấp có thẩm quyền thông qua thì đó vẫn chưa phải là chính sách. Chính sách kinh tế xã

    hội bao hàm cả hành vi thực hiện những kế hoạch được thể hiện         trong chính sách và đưa lại những những kết quả thực tế tiễn.Việc hiểu chính sách kinh tế xã hội một cách giản đơn là những chủ trương, chế độ mà nhà nước ban hành, điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nếu không có việc thực thi chính sách và những kết quả thực tiễn thu đựơc thì chính sách đó chỉ là những khẩu hiệu.

    • Mục tiêu chính sách kinh tế xã hội là mục tiêu chung của nhiều nguời huặc của xã hội. Tuy nhiên một chính sách khó có thể đều đem lại lợi ích cho tất cả mọi người, khi đó chính sách được lựa chọn là chính sách đem lại lợi ích cho đa số mọi người. Thước đo chính để đánh giá, so sánh và lựa chọn chính sách phù hợp là lợi ích mang tính xã hội mà chính sách đó đem lại.
    • Việc xây dựng chính sách kinh tế xã hội có sự tham gia từ nhiều phía nhiều tổ chức khác nhau trong đó Nhà nước với tư cách là người tổ chức và quản lý xã hội xây dựng và chịu trách nhiệm tổ chức thực thi. tuy nhiên ngày nay chính sách kinh tế xã hội không chỉ do các cơ quan tổ chức của nhà nước xây dựng mà nó có sự tham gia của nhiều cơ quan tổ chức ngoài nhà nước.
    • Chính sách kinh tế xã hội có phạm vi ảnh hưởng lớn, nó tác động đến nhiều đối tượng, đến nhiều lĩnh vực của đời sống kinh tế xã hội.

         3 Giải pháp và công cụ của chính sách kinh tế xã hội

    3.1 Giải pháp chính sách kinh tế xã hội

    Giải pháp chính sách  kinh tế xã hội là phương thức hành động của nhà nước để đạt được mục tiêu. Để đạt được mục tiêu nhà nước phải xác định một hệ thống các giải pháp và mỗi chính sách đều có giải pháp riêng của mình. Có thể phân loại các giải pháp dưới nhiều tiêu trí khác nhau một trong những cách đó là phân loại theo phương thức tác động bao gồm các giải pháp tác động trực tiếp vào mục tiêu và các giải pháp tác động gián tiếp vào mục tiêu của chính sách. Với các giải pháp tác động trực tiếp vào mục tiêu, Nhà nước tham gia vào thị trường, vào đời sống kinh tế xã hội thông qua những chính sách những quy định cụ thể về các hoạt động kinh tế xã hội từ đó tác động tới mục tiêu một cách trục tiếp. Các giải pháp tác động gián tiếp vào mục tiêu được sử dụng nhằm tạo ra những phản ứng có lợi cho việc mục tiêu từ những chủ thể kinh tế xã hội.

    3.2 Những nhóm công cụ của chính sách kinh tế xã hội

    • Nhóm công cụ kinh tế là các ngân sách, các quỹ, hệ thống đòn bẩy và khuyến khích kinh tế như thuế, lãi suất, giá cả, tiền lương, tiền thưởng, bảo hiểm, tỷ giá hối đoái…
    • Nhóm các công cụ hành chính tổ chức bao gồm các công cụ mô hình các tổ chức, bộ máy và đọi ngũ cán bộ, công chức, các công cụ hành chính là các kế hoạch của nhà nước và hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật.
    • Nhóm công cụ tuyên truyền, giáo dục là hệ thống thông tin đại chúng, hệ thống thông tin chuyên ngành, hệ thống giáo dục và đào tạo, hệ thống các tổ chức tổ chức chính trị, xã hội và đoàn thể.
    • Các công cụ kỹ thuật, nghiệp vụ đặc trưng cho từng chính sách.

         4 Vai trò của chính sách kinh tế xã hội

    Chính sách kinh tế xã hội có vai trò hết sức to lớn thể hiện ở những chức năng cơ bản sau:

    • Chức năng định hướng giúp các củ thể kinh tế xã hội có được những chỉ dẫn ra quyết định vạch ra phạm vi giới hạn cho phép của những quyết định, hướng suy nghĩ hành động của các chủ thể vào việc thực hiện mục tiêu chung của quốc gia. Chính sách kinh tế xã hội cũng định hướng việc huy động phân bổ và sử dụng nguồn lực nhằm giải quyết những vấn đề chính sách một cách kịp thời và có hiệu quả.
    • Chức năng điều tiết của những chính sách do Nhà nước ban hành giúp Nhà nước giải quuyết những vấn đề bức xúc phát sinh trong đời sống kinh tế xã hội , điều tiết những mất cân đối, những hành vi không phù hợp, nhằm tạo ra một hành lang pháp lý cho các hoạt động xã hội theo các mục tiêu đề ra.
    • Chức năng tạo tiền đề cho sự phát triển đây chức năng quan trọng nhất của chính sách xây dựng và nâng cấp các yếu tố quyết định sự phát triển như giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, hệ thống thông tin và các thị trường vốn.
    • Chức năng khuyến khích sự phát triển đây là chức năng tạo động lực phát triển mạnh mẽ cho sự phát triển kinh tế xã hội. Bản thân mỗi chính sách khi hướng vào giải quyết một vấn đề bức xúc đã làm cho sự vật phát triển thêm một bậc. Đồng thời khi giải quyết vấn đề đó thì chính sách lại tác động lên vấn đề khác, làm nẩy sinh những vấn đề mới.

    II Vấn đề nghèo đói

         1 Các quan điểm tiếp cận vấn đề nghèo đói

    1.1 Theo cách tiếp cận hẹp

    Nghèo đói là một phạm trù chỉ mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư là thấp nhất so với mức sống của một cộng đồng hay một nhóm dân cư khác.

    Theo cách tiếp cận này về vấn đề nghèo đói chưa bao quát được tính chất tuyệt đối của nghèo đói, nghĩa là mới chỉ đánh giá theo tiêu chuẩn nghèo đói tương đối, mà trên thực tế thì lúc nào trong xã hội hiện đại cũng tồn tại nghèo đói kể cả ở những quốc gia giầu nhất. Nếu đứng trên phương diện so sánh mức sống, mức thu nhập của các nhóm dân cư thì lúc nào cũng có một nhóm dân cư đứng thấp nhất, nhóm đứng cao nhất và các nhóm trung bình. Đó là nghèo đói tương đối. Nhưng thực tế ở nhiều quốc gia nghèo, ngay trong nhóm nghèo nhất cũng đã xuất hiện nhóm nghèo đói tuyệt đối, nghĩa là họ sống một cuộc sống cùng cực, ở tạm bợ và lo lắng về từng bữa ăn.

    Cách tiếp cận này là cách tiếp cận phổ biến hiện nay. Những người theo quan điểm này có xu hướng tìm kiếm một chuẩn nghèo chung để đánh giá mức độ nghèo đói của từng nhóm dân cư, mà không đi sâu vào giải quyết những nguyên nhân sâu xa, những căn nguyên sâu xa, bản chất bên trong của vấn đề, tức là cơ chế nội tại của nền kinh tế đang hàng ngày hàng giờ đẩy một nhóm dân cư đi vào tình trạng nghèo đói như một xu thế tất yếu xẩy ra. Do đó các biện pháp tấn công nghèo đói đưa ra trên theo quan điểm này thường thiếu triệt để, họ chỉ dừng lại ở các biện pháp hỗ trợ tài chính, kinh tế, và các biện pháp kỹ thuật cho nhóm dân cư nghèo đói đó, nó sẽ không tạo được động lực để bản thân những người nghèo tự mình vươn lên trong cuộc sống.

    1.2  Theo cách tiếp cận rộng

    Vấn đề nghèo đói theo quan điểm này được tiếp cận từ phương pháp luận cho rằng căn nguyên sâu xa của nghèo đói là do trong xã hội có sự phân hoá giầu nghèo, mà chính sự phân hoá đó là hệ quả của chế độ kinh tế xã hội. Trong thời kỳ cộng sản nguyên thuỷ, khi mà năng suất lao động còn thấp, chưa có tích luỹ thì giữa con người chưa có sự phân hoá giầu nghèo. Nhưng khi xã hội càng phát triển, có sự phân công lao động trong lực lượng sản suất, xã hội đã bắt đầu có tích luỹ thì cấu trúc xã hội trên quan hệ thị tộc cũng đã bắt đầu biến đổi, xuất hiện chiếm hữu tư nhân và trao đổi hàng hoá. Xã hội đã phân chia thành nhiều giai cấp, trong xã hội đã có người giầu người nghèo đây là mầm mống của những xung đột giữa các giai cấp. Cách tiếp cận rộng cho phép tiếp cận nghèo đói một cách toàn diện, đặt hiện tượng nghèo đói trong sự so sánh với giầu có và trong hoàn cảnh nhất định. Khi nói đến người nghèo chúng ta không thể không đặt họ vào sự so sánh toàn diện với người giầu, bằng cách đó chúng ta mới có thể nhìn thấu đáo hộ nghèo và đói như thế nào, từ đó lý giải một cách khoa học thực chất của quá trình dẫn tới đói nghèo.

    Từ những cách tiếp cận vấn đề nghèo đói chúng ta có thể rút ra được những kết luận sau:

    • Phân hoá giầu nghèo không những là hệ quả của các xã hội có giai cấp và phân chia giai cấp, mà còn thể hiện bản chất sâu xa của các xung đột xã hội giữa lớp người giầu lớp người nghèo. Giải quyết căn bản vấn đề này chỉ có thể trên cơ sở giải quyết căn bản vấn đề bất bình đẳng trong xã hội.
    • Phân hoá giầu nghèo là hiện tượng phát sinh trong quá trình thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Bởi vậy nếu không xử lý kịp thời, huặc không có cơ chế duy trì sự công bằng nhất định hay hạn chế quá trình làm trầm trọng thêm hố ngăn cách giữa lớp người giầu và lớp người nghèo, thì nguy cơ phân tầng xã hội, phân hoá giai cấp cũng sẽ diễn ra.
    • Chủ thể có đầy đủ khả năng điều hòa thu nhập giữa các nhóm dân cư là Nhà nước, tuy nhiên do bản chất nhà nước ở các chế độ, cũng như định hướng chính trị khác nhau là rất khác nhau nên năng lực cũng như tính triệt để của các giải pháp xủ lý hố ngăn cách giầu nghèo có thể dựa trên cách tiếp cận rộng hay hẹp tuỳ theo điều kiện cụ thể của từng quốc gia, trong từng thời điểm lịch sử nhất định.

         2 Các quan điểm về chỉ tiêu đánh giá về mức nghèo đói hiện nay

    Cho đến nay dường như đã đi đến một cách tiếp cận tương đối thống nhất về đánh giá mức độ nghèo đói, đó là định ra một tiêu chuẩn hay một điều kiện chung nào đó, mà hễ ai có thu nhập hay chi tiêu dưới mức thu nhập chuẩn thì sẽ không thể có một cuộc sống tối thiểu hay đạt được những nhu cầu thiết yếu cho sự tồn tại trong xã hội. Trên cơ sở mức chung đó để xác định người nghèo hay không nghèo. Tuy nhiên khi đi sâu vào kỹ thuật tính chuẩn nghèo thì có nhiều cách xác định khác nhau theo cả thời gian và không gian.

    ở đây cần phân biệt rõ mức sống tối thiểu và mức thu nhập tối thiểu. Mức thu nhập tối thiểu hoàn toàn không có nghĩa là có khả năng nhận được những thứ cần thiết tối thiểu cho cuộc sống. Trong khi đó mức sống tối thiểu lại bao hàm tất cả những chi phí để tái sản xuất sức lao động gồm năng lượng cần thiết cho cơ thể, giáo dục, nghỉ ngơi giải trí và các hoạt động văn hoá khác. Do vậy khái niệm về mức sống tối thiểu không phải là một khái niệm tĩnh mà là động, một khái niệm tương đối và rất phong phú về nội dung và hình thức, không chỉ tuỳ theo sự khác nhau về môi trường văn hoá, mà còn phụ thuộc vào sự thay đổi về đời sống vật chất cùng với quá trình tăng trưởng kinh tế.

    2.1 Quan điểm của ngân hàng thế giới (WB)

    – Trong việc lựa chọn tiêu thức đánh gía WB đã lựa chọn tiêu thức phúc lợi với những chỉ tiêu về bình quân đầu người bao gồm cả ăn uống, học hành, mặc, thuốc men, dịch vụ y tế, nhà ở, giá trị hàng hoá lâu bền. Tuy nhiên báo cáo về những số liệu này về thu nhập ở Việt Nam sẽ thiếu chính xác bởi phần lớn người lao động tự hành nghề.

    – WB đưa ra hai ngưỡng nghèo:

    + Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một số lương thực gọi là ngưỡng nghèo lương thực.

    + Ngưỡng nghèo thứ hai là bao gồm cả chi tiêu cho sản phẩm phi lương thực, gọi là ngưỡng nghèo chung.

    – Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm mà WB đưa ra theo cuộc điều tra mức sống 1998  là lượng lương thực, thực phẩm tiêu thụ phải đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng với năng lượng 2000-2200 kcal mỗi người mỗi ngày. Người dưới ngưỡng đó thì là nghèo về lương thực. Dựa trên giá cả thị trường để tính chi phí cho rổ lương thực đó. Và theo tính toán của WB chi phí để mua rổ lương thực là 1.286.833 đồng/người/năm.

    – Cách xác định ngưỡng nghèo chung

    Ngưỡng nghèo chung  =(ngưỡng nghèo lương thực)+(ngưỡng nghèo phi lương thực)

    Ngưỡng nghèo được tính toán về phần phi lương thực năm 1998 là 503038 đồng/người/năm từ đó ta có ngưỡng nghèo chung là 1789871 đồng/người/năm.

    2.2  Quan điểm của tổ chức lao động quốc tế(ILO)

    -Về chuẩn nghèo đói ILO cho rằng để xây dựng rổ hàng hoá cho người nghèo cơ sở xác định là lương thực thực phẩm. Rổ lương thực phải phù hợp với chế độ ăn uống sở tại và cơ cấu bữa ăn thích hợp nhất cho những nhóm người nghèo. Theo ILO thì có thể thu được nhiều kcalo từ bất kỳ một sự kết hợp thực phẩm mà xét về chi phí thì có sự khác nhau rất lớn. Với người nghèo thì phải thoả mãn nhu cầu thực phẩm từ các nguồn kcalo rẻ nhất .

    – ILO cũng thống nhất với ngân hàng thế giới về mức ngưỡng nghèo lương thực thục phẩm 2100 kcalo, tuy nhiên ở đây ILO tính toán tỷ lương thực trong rổ lương thực cho người nghèo với 75% kcalo từ  gạo và 25% kcalo có được từ các hàng hoá khác được gọi là các gia vị. Từ đó mức chuẩn nghèo hợp lý là 511000 đồng/người/năm.

    2.3 Quan điểm của tổng cục thống kê Việtnam

    – Tiêu chuẩn nghèo theo tổng cục thống kê Việtnam được xác định bằng mức thu nhập tính theo thời gía vừa đủ để mua một rổ hàng hoá lương thực thực phẩm cần thiết duy trì với nhiệt lượng 2100 kcalo/ngày/người. Những người có mức mức thu nhập bình quân dưới ngưỡng trên được xếp vào diện nghèo.

    2.4 Quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội

    – Theo quan điểm của bộ lao động thương binh và xã hội cho rằng nghèo là bộ tình trạng của một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn nhu cầu cơ bản của con người mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế xã hội và phong tục tập quán của từng khu vực.

    – Bộ lao động thương binh và xã hội đã đưa ra chuẩn nghèo đói dựa những số liệu thu thập về hộ gia đình như sau :

    + Hộ đói là hộ có mức thu nhập bình quân đầu người trong một     tháng quy ra gạo được 13 kg.

    + Hộ nghèo là hộ có mức thu nhập tuỳ theo vùng.

    Vùng nông thôn, miền núi hải đảo là những hộ có thu nhập dưới 15 kg gạo.

    Vùng nông thôn đồng bằng trung du dưới 20 kg gạo.

    Vùng thành thị dưới 25 kg gạo.

    2.5 Các phương pháp đánh giá các chính sách của chính phủ về giải quyết vấn đề phúc lợi xã hội

         2.5.1  Phương pháp đường cong Lorenz

    Đường cong Lorenz thể hiện mối quan hệ giữa tỷ lệ % dân số được cộng dồn với tỷ lệ thu nhập được cộng dồn tương ứng. Phương pháp này được mô tả bằng đồ thị sau :

    100%                                                               A

                            % thu

                             nhập

    cộng                                                      A

    dồn     50

    L2        

    L1

    25

    B

    0             25            50                           100%

    % Dân số được cộng dồn          

    Vì dân số được cộng dồn và thu nhập được cộng dồn tương ứng nên mọi điểm nằm trên đường phân giác 0A phản ánh một sự phân phối tuyệt đối công bằng.

    Các đường cong Lorenz nói lên trong phạm vi dân số đã biết thì tỷ lệ % thu nhập tại các nhóm dân cư là khác nhau. Nhìn trên đồ thị ta thấy đường cong Lorenz càng gần đường phân giác bao nhiêu thì sự phân phối công bằng càng công bằng bấy nhiêu ( đường L2 gần đường phân giác hơn đường L1 ).

    Kinh nghiệm nhiều nước cho thấy rằng, khi nền kinh tế chưa phát triển, đường cong Lorenz khá gần đường phân giác 0A. Khi đó mọi người cảm thấy có sự công bằng nhưng nhưng công bằng trong nghèo khổ. Khi nền kinh tế thị trường dần dần phát triển thì đường cong Lorenz cũng dần dần nhích xa đường phân giác 0A, tức Lorenz là xuất hiện sự mất công bằng trong phân phối thu nhập. Một số có thu nhập cao nên giầu có, số khác có thu nhập thấp trở nên nghèo khổ. Và đến một lúc nào đó sự mất công bằng phân phối trở thành rào cản của sự phát triển. Khi đó chính phủ phải dùng chính sách tác động đến phân phối thu nhập để kéo đường cong Lorenz tiến dần về phía đường phân giác 0A.

    Để lượng hoá phương pháp đường cong Lorenz, người ta sử dụng hệ số Gini.

    Nếu gọi diện tích được giới hạn bởi đường phân giác và đường cong Lorenz là A và diện tích nằm phía dưới đường cong Lorenz là B, thì hệ số Gini được xác định bằng biiêủ thức :

    B = A/(A+B) = A/(1/2) = 2A

    Hệ số Gini nhận các giá trị từ 0 đến 1.

    G = 0 phản ánh một mức phân phối tuyệt đối công bằng.

    G = 1 phản ánh một sự phân phối tuyêt đối mất công bằng.

    Cả hai trường hợp G = 0 và G = 1 chỉ có ý nghĩa lý thuyết, không có trong thực tế.

    Tên thực tế G nhận các gía trị trong đoạn [ o,1 ], tức Là: 0<G<1 hệ số Gini càng gần 0 thì phản ánh sự phân phối càng công  bằng.

         2.5.2  Chỉ số nghèo khó

    Một chỉ số khác thường được dùng trong phân tích đánh giá chính sách là chỉ số nghèo khó.

    Chỉ số nghèo khó được xác định bằng tỷ lệ % giữa số dân nằm dưới giới hạn của sự nghèo khó với toàn bộ dân số .

    Ip = ( Số dân ở dưới mức tối thiểu)/(Tổng dân số)

    Chỉ số này cho ta biết những thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người thật sự nghèo với những sự thay đổi trong phân phối thu nhập giữa những người khá giả không quan trọng bằng những thay đổi có khả năng chuyển các cá nhân nằm dưới đường nghèo khổ lên trên đường này. Chỉ số này có thể dánh giá mức độ nghèo khổ của một huyện một tỉnh, hay cả nước.

    III Chính sách xoá đói giảm nghèo ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta

         1 Khái niệm, mục tiêu, đối tượng chính sách xoá đói giảm nghèo

    Khái niệm Chính sách xoá đói giảm nghèo là tổng thể các quan điểm, tư tưởng, các giải pháp và công cụ mà Nhà nước sử dụng để tác động lên các chủ thể kinh tế xã hội nhằm giải quyết vấn đề nghèo đói, thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo, từ đó xây dựng một xã hội giầu đẹp.

                Mục tiêu  của chính sách xoá đói giảm nghèo cho các đối tượng thuộc diện nghèo đói ở nước ta, giảm bớt khoảng cách giầu nghèo trong xã hội,  nhằm mục tiêu tổng quát xây dựng một đất nước dân giầu, nước mạnh, xã hội công bằng dân chủ văn minh.      

    Đối tượng  là đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta, những vùng sâu vùng xa nơi mà cuộc sống còn nhiều khó khăn và có cuộc sống cách biệt với đời sống kinh tế xã hội của cả nước.

         2 Những chủ trương, chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta hiện nay

    2.1 Chương trình phát triển nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

         2.1.1 Chương trình về thuỷ lợi, giao thông

    Đây là chương trình đầu tiên và kéo dài thời gian nhất cho đến nay nó vẫn được tiếp tục. Đa số người người nghèo tập trung nhiều nhất ở những vùng sâu vùng xa mà chính những nơi này giao thông thuỷ lợi lại rất yếu kếm do đó Nhà nước ta đã có chủ trương hỗ trợ cho những khu vực này với khẩu hiệu nhà nước và nhân dân cùng làm. Việc phát triển giao thông và thuỷ lợi sẽ tạo đà cho sự hoà nhập giữa miền ngược và miền xuôi, thúc đẩy kinh tế miền núi phát triển, tăng năng suất lao động góp phần bình ổn lương thực trong vùng.

         2.1.2 Chương trình định canh định cư

    Từ những năm đầu của thập kỷ 60 của thế kỷ XX, đảng và Nhà nước ta đã nhìn nhận vấn đề định canh định cư có tầm vóc cực kỳ quan trọng nhằm làm thay đổi bộ mặt kinh tế xã hội miền núi, vùng dân tộc thực tế đây là cách sống ổn định văn minh, tiến bộ. Nó tác động sâu sắc tới tâm tư tình cảm của nhân dân các dân tộc thiểu số, từng bước xoá bỏ những phong tục tập quán lạc hậu, bất lợi cho sự phát triển để hoà nhập vào sự phát triển chung. Chương trình này bắt đầu từ 1968, và nó đã trở thành một chương trình rất đắc lực trong việc giảm nghèo đói . Mục tiêu của nó nhằm biến người du canh du cư thành định cư, tức là giúp những người nghèo nhất những người dễ bị rủi ro nhất trở thành những người sống ổn định, nó có đối tượng phục vụ cụ thể và rất thiết thực đói với người nghèổ miền núi.

         2.1.3 Chương trình tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học công nghệ

    Đây là một chương trình đặc biệt có ý nghĩa trong việc phát triển kinh tế miền núi theo hướng chuyển dịch cơ cầu giống cây trồng mới và sản xuất hàng hoá tập trung. Nó được hiểu là một chương trình bao gồm nhiều công việc, dự án triển khai trên diện rộng, chủ yếu tập trung vào các khâu khuyến nông, khuyến lâm, khoa học kỹ thuật, vật tư sản xuất, tín dụng nông thôn.

    2.2 Chương trình giải quyết việc làm

    Trên cơ sở nghị quyết số 120/HĐBT ngày 11-4-1992 một chương trình có tầm quan trọng tác động tới việc xoá đói giảm nghèo đó là chương trình xúc tiến việc làm, chương trình ra đời nhằm giải quyết gánh nặng nhân lực trong qúa trình tổ chức, xắp xếp lại doanh nghiệp nhà nước theo yêu cầu đổi mới, cung cấp tín dụng, bồi thường, trợ cấp cho người ra khỏi biên chế nhà nước để tự tạo việc làm, buôn bán nhỏ và các hoạt động kinh tế phù hợp với kinh tế thị trường.

    2.3 Chương trình tín dụng

    Nhà nước ta đã có chủ trương thực hiện các khoản tín dụng cho vay mở rộng tới hộ nông dân, và theo quyết định số 525/TTg ngày 31-8-1995 của thủ tướng chính phủ cho phép thành lập ngân hàng phục vụ người nghèo để giúp người nghèo vay vốn phát triển sản xuất, giải quyết đời sống, góp phần thực hiện mục tiêu xoá đói giảm nghèo. Ngân hàng phục vụ người nghèo có chức năng khai thác các nguồn vồn của các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác nhà nước cho phép được lập quỹ cho người nghèo vay thực hiện chương trình của chính phủ đối với người nghèo.

    Hoạt động của ngân hàng người nghèo vì mục tiêu xoá đói giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo tồn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng phục vụ người nghèo thực hiện việc cho vay trực tiếp đến hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được cho vay để phát triển sản xuất, không phải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn, và theo lãi suất quy định. Ngân hàng phục vụ người nghèo được xét miễn thuế doanh thu và thuế lợi tức để giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo. Các rủi ro trong quá trình hoạt động phục vụ người nghèo được bù đắp bằng quỹ bù đắp rủi ro theo quy chế tài chính của bộ tài chính.

    Sau bẩy năm họat động ngay 4-10-2002 chính phủ đã ban hành nghị định 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và đối tượng chính sách khác trong đó ghi rõ thành lập ngân hàng chính sách xã hội để thực hiện tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác trên cơ sở tổ chức lại ngân hàng người nghèo đưa ngân hàng người nghèo trở thành một ngân hàng hoàn chỉnh giúp cho việc thực hiện các chức năng của mình hiệu quả hơn.

    2.4 Chương trình giáo dục y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo

         2.4.1 Chương trình giáo dục

    Có thể gói gọn chương trình giáo dục trong khuôn khổ đóng góp huặc tác động vào vào việc xoá đói giảm nghèo gồm:

    • Chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp.
    • Chương trình củng cố và mở rộng cơ sở vật chất kỹ thuật cho giáo dục tiểu học.
    • Chương trình tăng cường đẩy mạnh giáo dục phi chính thức.
    • Chương trình cải tiến hệ thống dậy nghề đáp ứng nhu cầu thị trường.
    • Chương trình 7 của Bộ giáo dục và đào tạo về hệ thống trường phổ thông dân tộc nội trú.

         2.4.2 Chương trình y tế

    Chương trình y tế chăm sóc và bảo vệ sức khoẻ nhân dân nói chung vốn có thâm niên từ trước rất lâu so với chương trình xoá đói giảm nghèo. Trong chương trình chung lại có chương trình bảo vệ bà mệ trẻ em, đó là hai đối tượng dễ bị tổn thương và rủi ro trong cuộc sống xã hội và gia đình. Những chương trình hoạt động chính trong khuôn khổ xoá đói giảm nghèo bao gồm chương trình phòng chống bệnh bướu cổ, phòng chống bệnh sốt rét, nước sạch cho sinh hoạt nông thôn, tiêm chủng mở rộng, xoá xã trắng về y tế. Những chương trình này nhằm cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra ở miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

    2.5 Chương trình quốc gia số 06/CP

    Chương trình quốc gia số 06/cp là chương trình về phòng chống và kiểm soát ma tuý theo nghị quyết số 60/CP của chính phủ ra ngày 29-01-1993. Chương trình này này được triển khai nhằm mục tiêu phòng và kiểm soát ma tuý mang ý nghĩa chính trị xã hội và quốc tế rộng lớn. Song quá trình thực hiện nó lại có ý nghĩa rất lớn đối với đồng bào dân tộc thiểu số, vận động đồng bào dân tộc từ bỏ trồng cây thuốc phiện và thay thế cây trồng vật nuôi để bù đắp sự hẫng hụt từ việc mất nguồn thu từ cây thuốc phiện.

    2.6 Chương trình hỗ trợ dân tộc đặc biệt khó khăn

    Chương trình này bắt đầu từ năm 1992, mục tiêu nhằm vào các dân tộc thiểu số khó khăn và có dân số ít ( trên dưới một vạn người ). Đa số những dân tộc này nằm ở vùng sâu vùng xa khó khăn về mọi mặt: kinh tế, giáo dục, y tế, giao thông, văn hoá thông tin… Những dân tộc quá cách biệt với các khu vực kinh tế đang năng động và hầu như chưa được cơ chế thị trường ảnh hưởng và tác động tới. Tính đặc biệt của chương trình này là đầu tư không hoàn lại tức là cho không .

    2.7 Chương trình bảo vệ môi trường

    Có thể nói những năm qua, chính phủ đã có nhiều cố gắng trong việc bảo vệ môi trường, chi phí cho việc bảo vệ môi trường năm sau lớn hơn năm trước mà nổi bật là chương trình 327 phủ xanh đất chống đồi trọc. Chương trình bảo vệ môi trường mà nước ta triển khai nhằm mục tiêu nâng cao kiến thức, tập huấn kỹ thuật cho đồng bào miền núi. Những yêu cầu, biện pháp bảo vệ môi trường dễ hiểu, thiêt thực đối với họ. Đồng thời có các chương trình chyển giao khoa học kỹ thuật để họ có thể thâm canh tăng năng suất lao động trên đất nông nghiệp hiện có và quan trọng hơn là không mở rộng diện tích canh tác khi dân số tăng huặc do thiếu đất bằng cách chuyển đất rừng làm nương rẫy. Tuy trọng tâm của những chương trình được triển là tập trung vào việc xoá đói giảm nghèo giải quyết những bức xúc của người nghèo nhưng không cho phép xâm hại phá vỡ tính ổn định của tự nhiên. nói cách khác xoá đói giảm nghèo và bảo vệ môi  trường là hai mặt của một quá trình cải thiện tính bên vững của môi trường sống, có giá trị lâu bền với đồng bào các dân tộ thiểu số.

     

    Chương II

    Thực trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và kết quả đạt được từ việc thực hiện xoá đói giảm nghèo ở vùng dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây

    I Thực trạng và nguyên nhân về tình trạng nghèo đói ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn trước đây

         1 Thực trạng về tình hình nghèo đói ở vùng đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong những giai đoạn gần đây

    Chính sách đổi mới của Đảng từ đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đến nay và nhất là từ khi có Nghị quyết số 22/TƯ ngày 27-11- 1989 của bộ chính trị “ Về một số chủ trương, chính sách lớn phát triển kinh tế _ xã hội miền núi “ và quyết định số 72/HĐBT ngày 13-3-1990 của hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) “ về một số chủ trương biện pháp tiếp tục phát triển kinh tế  xã hội miền núi “ nhằm cụ thể hoá việc phát triển kinh tế xã hội vùng cao, miền núi ngày càng đạt được nhiều thành tựu. Có thể nói chưa bao giờ các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước lại có tác động mạnh mẽ đến như vậy đối với vùng cao, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số vốn quen với một cuộc sống có nhu cầu thấp về tiêu thụ và hưởng thụ.

    Trong tình hình đó sự phân hoá giầu nghèo ngày càng rõ nét. Một nhóm nhỏ đã năng động sáng tạo biết cách làm ăn để vượt lên. Một nhóm lớn vẫn còn loay hoay chưa dám mạnh dạn thay đổi., kiếm tìm nguồn lực, phương sách tăng thu nhập. Nhóm đa số thực sự chỉ trông vào hạt ngô hạt lúa, hứng chịu nhiều hơn sự rủi ro, thất bát mùa màng. Không có lương thực cũng có nghĩa là không thể chăn nuôi để tăng thu nhập, không có tiền để đầu tư vào vật tư, giống cây trồng để sản xuất nên năng suất thấp, thu hoạch ít hơn, trong khi số người trong gia đình ngày càng tăng lên. Phương sách đơn giản và đỡ tốn kém nhất là đốt phá rừng làm nương rẫy để tăng thêm lương thực, thậm chí một số đồng bào dân tộc Thái, Dao và Mông quay sang trồng cây thuốc phiện để tạo thu nhập cho cuộc sống.

    Tuy chưa có cuộc điều tra riêng rẽ chính xác cho vùng dân tộc thiểu số, nhưng hai cuộc điều tra chung ở nông thôn cả nước đều cho thấy kết quả là mức độ nghèo đói diễn ra trầm trọng nhất là ở khu vực miền núi phía Bắc, vùng duyên hải Trung bộ và Tây nguyên. Kết quả cuộc điều tra năm 1992 về các dân tộc Thái, Dao, Tày, Nùng, Mông, Ơ Đu, Khơmú, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na, Xơ Đăng trên địa bàn miền núi Tây Bắc, Việt Bắc, miền Trung và Tây Nguyên đã cho một kết luận đáng chú ý về tỷ lệ phân hoá giầu nghèo như sau:

    • Giàu, khá : 9,3%
    • Trung bình : 45%
    • Nghèo : 45,7%

    Sự giầu nghèo giữa các dân tộc thiểu số là một vấn đề cần được quan tâm để tìm ra phương sách phù hợp. Cùng một vùng, khi người giầu huặc khá ở dân tộc Nùng là 10% thì dân tộc Giáy chưa có sự hình thành tầng lớp này. ở dân tộc Thái là 8 – 10 % trong khi người Mông ở Nghệ An lại là 31,25% do còn lén lút trong trồng bán thuốc phiện.

    Lấy mốc cuộc điều tra năm 1993 mức độ giầu khá, trung bình tính chung cả nước gấp gần 2,5 lần so với các tỉnh trung du và gần 4 lần so với các tỉnh miền núi phía bắc. Trong cuộc điều tra này đã phát hiện một vấn đề rất đáng quan tâm là chỉ số nghèo đói ở Việtnam được xếp ở mức độ rất thấp. Tỷ lệ chi phí cho nhu cầu lương thực chiếm tới 70% chi phí cho một gia đình thuộc 20% số dân nghèo nhất và là 66% chi phí cho một gia đình thuộc 20% số dân nghèo nói chung. Mức chi phí từ 66% – 70% là qua cao so với nhu cầu về nhiều mặt khác của một gia đình như dinh dưỡng từ những thực phẩm thịt động thực vật, chi phí học hành, hưởng thụ văn hoá- thông tin…

    Trong việc phân chia mức độ nghèo đói, có thể phân chia ra các nhóm như sau:

    Nhóm thứ nhất : một số hộ đói nghèo chủ động tìm kiếm cơ hội thoát ra khỏi cảnh nghèo đói. Họ tìm đến các nhóm dân tộc có trình độ sản xuất cao hơn, giỏi làm kinh tế để học tập kinh nghiệm, tìm tòi các địa điểm, địa phương có điều kiện làm việc để có thu nhập cao hơn. Họ mạnh dạn vay vốn phát triển sản xuất, tìm kiếm để mở rộng sản xuất ngoài nông nghiệp và chăn nuôi.

    Nhóm thứ hai : Nhóm này ít năng động hơn có thể khá lên thoát khỏi đói nghèo nhờ vào các chương trình phát triển giao thông, có đường sá tốt để giao lưu buôn bán trao đổi hàng hoá và nhờ vào được hưởng các dự án kinh tế, văn hoá, xã hội. Nhưng nhóm này tỏ ra kèm năng động hơn nhóm thứ nhất và cũng đễ bị đẩy xuống diện đói nghèo nếu các chương trình, dự án trên địa bàn kết thúc. Đó là nhóm thiếu bền vững.

    Nhóm thứ ba : Đây là nhóm chiếm đa số là những người không huặc rất ít khả năng tham gia vào các hoạt động của nền kinh tế thị trường đang ngày càng phát triển. Họ chỉ biết trông chờ vào ruộng nương huặc phát đồi rừng làm nương để hy vọng có lương thực khá  hơn, thậm chí ngay cả trong điều kiện thuận lợi về giao thông, chợ, tín dụng ưu đãi mà họ vẫn không nghĩ ra huặc không giám mạnh dạn tìm cơ hội thay đổi cuộc sống. Tâm lý dân tộc thiểu số quen sống dựa vào tự nhiên an phận thủ thường, dễ thoả mãn vào các nhu cầu cũng là một yếu tố đáng quan tâm một phần số họ là nhữg người neo đơn, bệnh tật, già nua, độc thân, họ sẽ bị tụt hậu mãi về phía sau khi nền kinh tế không ngừng tăng trưởng.

    Mặc nhiên hộ là dân tộc thiểu số hay đa số nhưng khi cư trú ở các khu vực miền núi có khó khăn thì họ phải chịu đựng những thiệt thòi chung. Dù cho sự thiệt thòi có khác nhau tuỳ thuộc vào khả năng tạo thu nhập, sáng kiến của các dân tộc. Trong cuộc điều tra năm 1992 người Tày đông đứng đầu trong các dân tộc thiểu số sống tập trung ở Việt Bắc, có tỷ lệ đói nghèo chiếm tới 58,1%. Ngoài sự khác biệt về vùng có chênh lệch khá lớn thì một thực tế cho thấy trong 53 dân tộc thiểu số cũng có sự phân cách nhất định giữa các nhóm đầu bản, giữa bảng và cuối bảng về mức độ giầu nghèo. Những dân tộc Thái, Mường, Tày thường đứng ở những bậc thang cao hơn cả. Họ vùa có số dân đông, nơi cư trú khá thuận lợi, trình độ dân trí cao.

    Một nhóm dân tộc quá ít người thường chịu những thiệt thòi hơn. Có thể là do lịch sử để lại những yếu kém tồn tại. Họ không đủ lực để tranh chấp những vùng đất mầu mỡ huặc họ đến sau những nơi tươi tốt đã thuộc về dân tộc khác đến trước. Có thể họ bị chèn ép, họ tự ý dắt nhau đi sâu vào những vùng hoang vắng. Những vấn đề ấy trong lịch sử của bất kỳ một quốc gia nào cũng có thể diễn ra, không phải là hiện tượng cá biệt. Di chứng lịch sử để lại nên họ đành phải chấp nhận một số phận ít may mắn hơn các dân tộc khác và vì thế độ đói nghèo cũng nhiều hơn. Các dân tộ trong nhóm này gồm: Lào, La Hủ, Phù Lá, Lự, Chứt, Cờ Lao, La Ha, Cống, Pu Péo, Ơ Đu, La Chí, Kháng, Pà Thẻn, Lô Lô, Mảng, Bố Y, Ngái, Shi La, Rơ Măm, BRâu.

    Một nhóm dân tộc thiểu số khác cũng cần đề cập đến là những người du canh du cư một cách khá thường xuyên huặc di dân tự do. Nhóm này gồm cả một bộ phận dân tộc có số dân đông như Mông, Ba Na, Gia Rai và gần đây là cả Tày, Nùng và Giao vào các vùng đất còn rừng và mầu mỡ ở Tây Nguyên. Đây là một nhóm người mà cuộc sống cũng rất bấp bênh và còn nhiều khó khăn chưa ổn định cuộc sống.

    Một nhóm nữa là một vài dân tộc còn khá lạc hậu, tồn tại nhiều phong tục tập quán cổ hủ và có nguy cơ giảm dân số huặc suy thoái nòi giống, còn giữ những nét hoang dã, chưa hoà nhập được với cuộc sống lao động sản xuất, vẫn quen hái lượm săn bắn, dựa vào thiên nhiên. Nhà ở tạm bợ, ăn uống thiếu vệ sinh, luôn trong tình trạng đói nghèo đã làm cho những dân tộc này tăng dân số rất chậm. Năm 1995, dân tộc Chứt ở bản Rào Tre, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh có 19 hộ với 103 nhân khẩu trưởng bản là một bà tên là Đại, người bé như một đứa trẻ 11 – 12 tuổi, nặng chừng 30 kg do suy thoái nòi giống. Trước đó 2 năm một dự án định canh định cư đã được thực hiện ở đây. Bản có ruộng nước, được cấp trâu bò, xây nhà cho các hộ, đào giếng nước ăn, mở lớp học… nhưng điểm quan trọng cần lưu ý là số ruộng đó lại do người kinh phát canh. Mùa đến, tuỳ theo người kinh cho bao nhiêu gạo thì cho, bản lúc nào cũng vắng tanh, chỉ có phụ nữ và trẻ con, đàn ông thì đi rừng hết, họ đi hàng tháng, đêm ngủ trong hang đá huặc leo lên cây… nghĩa là họ vẫn quen cuộc sống dựa vào thiên nhiên, không chịu làm ruộng mặc dù đã có ruộng và trâu bò.

         2 Những nngyuên nhân cơ bản về tình trạng nghèo đói ở vùng dân tộc thiểu số nước ta

    2.1 Sự phân cách trầm trọng kéo dài

    Đây là nguyên nhân bao trùm dẫn dến tình trạng nghèo đói đối với các hộ dân tộc thiểu số. Những dân tộc thiểu số chịu sự phân chia về địa hình và sự cách biệt về xã hội. Chiến lược phát triển giao thông vận tải đã đưa ra những con số gần đây cho thấy rõ những yếu kém và sự quá tải của hệ thống giao thông nước ta. Hiện nay cả nước vẫn còn khoảng 657 xã chưa có đường ôtô vào trung tâm xã ước tính độ dài đường cần phải làm là 6.400 Km và cần dựng thêm 2.708 cầu trên các tuyến đường vao trung tâm các xã mà chủ yếu là cầu nhỏ dân sinh. Riêng miền núi phía bắc còn có trên 400 xã chưa có đường ôtô đi vào, chiếm trên hai phần ba số xã miền núi trong toàn quốc.

    Đó là chưa thể so sánh con đường đó với những đường chỉ có ngựa thồ và người đi bộ từ các làng bản xa và cao xuống đường xương cá gắn với đường trục. Các chòm bản các hộ cách xa nhau là đặc điểm bắt buộc của những cư dân sống bằng nương rẫy. Do luân chuyển các hạt nương và năng suất đạt thấp nên gia đình cần có một khoảng canh tác rộng để có đủ lương thực sống. Hầu như họ rất ít đi chợ, mỗi lần đi chợ họ mua dự trữ những mặt hàng thiết yếu dầu thắp, muối ăn, và một vài thứ khác.

    Sự phân cách về mặt địa lý đã làm cho việc đi lại trở nên khó khăn. Việc đi lại cách trở, xa các chợ, thị tứ, thị trấn đã làm cho họ rất thiếu thông tin kiến thức về kinh tế thị trường, tính toán đầu vào đầu ra để có kết quả tốt nhất. Bên cạnh đó là sự thiếu thốn về giáo dục làm cho trình độ dân trí của các dân tộc thiểu số có sự cách biệt đáng kể. Số người được học hành để có bằng cấp là rất ít do vậy nên khả năng tham gia của nhười dân tộc vào các hoạt động của xã hội hiện đại là rất hạn chế. Những nỗ lực nhằm từng bước hoà nhập đời sống xã hội của đồng đồng bào các dân tộc thiểu số vào xã hội đương thời ở nước ta chính là cách xoá dần sự chênh lệch cách biệt. Các chương trình mở trường học, xoá mù chữ, dậy tiếng Việt trong nhà trường đã được tiến hành nhưng hiện tượng tái mù chữ vẫn xẩy ra do sau khi học xong thì họ ít có cơ hội tiếp xúc với những phương tiện thông tin để có thể vận dụng những chữ đã được học trong nhà trường.

    Song cho dù chương trình có tốt đến đâu, có hay đến đâu nếu không có kinh phí thì cũng không thể tiến hành được.Đây là một thực trạng khó khăn cho chúng ta hiện nay. Nguồn kinh phí chi cho những công tác này còn rất eo hẹp, cộng thêm với đội ngũ cán bộ thực hiện những chương trình đó thì chưa có đủ trình độ do đó dẫn đến sự kếm hiệu quả của những chương trình đã được triển khai.

     

     

     

    2.2 Những rủi ro tai hoạ đột xuất

    Đối với đồng bào các dân tộc thiểu số vùng núi, điều quan tâm nhất của họ trong đời sống là vấn đề cái ăn. Vì vậy có được sự an toàn về lương thực là vấn đề ưu tiên số một. Nhìn lại mấy chục năm qua, tình trạng thiếu lương thực luôn đè nặng lên cuộc sống của họ. Đa phần họ sống trên những vùng đất rốc, núi đá, không thuận lợi cho việc canh tác và năng suất lao động kém. Các vùng và tiểu vùng nơi họ sống thường rất thất thường và khắc nghiệt. Độ ẩm, gió Lào, độ mưa, độ lạnh luôn gây khó khăn cho cây vật nuôi, quá trình sản xuất, và kết quả là mất mùa đối với cây trồn, bệnh dịch đối với gia súc, cây trồng, vật nuôi kém phát triển tất nhiên dẫn đến năng suất thấp ít hiệu quả. Điều quan trọng là do cư trú ở những vùng sinh thái thiếu sự đảm bảo ổn định, tài nguyên rừng, nước ngày càng cạn kiệt. Do lối canh tác ngày càng lạc hậu cây con truyền thống, phụ thuộc nhiều vào khí hậu thời tiết nên dẫn đến thường xuyên đói lương thực và bị đe doạ đứt bữa vào những kỳ giáp hạt.

    Rủi ro và những phát sinh bất thường chính là do sự thiếu bền vững, có thể nói đó là hai mặt gắn liền với sự đói nghèo. Môi sinh mỏng manh, đất đai dễ bị sói mòn, bạc mầu, rừng bị tàn phá thu hẹp dần, nguồn nước mất kéo theo mất luôn nguồn thuỷ sản. Thêm vào đó là thiên tai thường xẩy ra hàng năm và bất ngờ đẩy cuộc sống của đồng bào các dân tộc thiểu số vào hoàn cảnh rất bấp bênh. Mặc dù có nhiều chương trình được thực hiện để củng cố tính bền vững của môi trường như chương trình định canh định cư và chương trình 327 nhưng hiệu quả đem lại chưa cao.

    2.3 Nguồn lực và năng lực

         2.3.1 Nguồn lực

    Có thể nói một cách nhắn gọn nguồn lực bao gồm tất cả những khâu thuộc đầu vào để tạo ra nguồcn thu nhập gồm  tức là đầu ra. Nguồn lực của những người nông dân bao gồm : đất đai, lao động, vốn sản xuất kỹ năng sản xuất. Muốn thực hiện xoá đói giảm nghèo thì phải cung cấp cho họ những điều kiện để họ sản xuất.Trong các nguồn lực cho sản xuất nông nghiệp thì đất đai là yếu tố quan trọng nhất, ở nước ta ngoài các dân tộc thiểu số như Mường, Tày, Nùng đã canh tác ruộng nước có hệ thống dẫn nước để tưới tiêu học ở người kinh còn lại đa số các đân tộc thiểu số quen phương thức canh tác trên đất đốc và khô. Để ngăn chặn nạn du canh du cư, phá rừng làm rẫy ngày 14-7-1993 tại kỳ họp thứ ba của Quốc Hội khoá IX đã thông qua luật đất đai cho phép xác định tính pháp lý của người có quyền sử dụng đất, tuy nhiên việc đất chia rừng cho các hộ gia đình quản lý diễn ra chậm chạp. Và nếu không có giấy tờ sở hữu đầy đủ thì các hộ dân tộc thiểu số sẽ bị lợi dụng huặc xâm chiếm đất đai bởi những cư dân tự do mới đến.

    Có được đất đai rồi muốn tổ chức sản xuất cần có lao động. Nhìn chung chất lượng lao động ở các dân tộc thiểu số bị yếu kém ở hai khía cạnh chính là : Thể trạng yếu mệt suy dinh dưỡng và kỹ năng lao động kém do đó làm cho năng suất trong lao động rất thấp. Bên cạnh đó nguồn vốn eo hẹp. Có nhiều hộ chỉ quen trông chờ vào nông nghiệp, chăn nuôi nên khi chưa có phương sách gì hơn để tạo thu nhập vốn nhiều khi chưa phải là cần thiết.

         2.3.2 Năng lực

    Năng lực muốn nói ở đây là mức độ tham gia của các dân tộc thiểu số vào xã hội hiện thời. Trước hết quyền tham gia vào các lĩnh vực chính trị – kinh tế, xã hội của các công dân thiểu số đã được xác lập cùng với sự ra đời của nhà nước Việt Nam. Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi cho con em của đồng bào dân tộc thiểu số có điều kiện được học  ở những lớp chuyên ngành và đại học

    II Những kết quả đạt được trong việc thực hiện chương trình xoá đói giảm nghèo ở vùng tộc thiểu số nước ta trong những giai đoạn gần đây

         1 Chương trình phát triển nông nghiệp và nông thôn, thuỷ lợi, giao thông

    1.1 Thuỷ lợi, giao thông

    Thập kỷ cuối của thế kỷ XX, việc phát triển giao thông nông thôn được phát triển trong toàn quốc, với phương châm nhà nước và nhân dân cừng làm đã huy động được nhiều nguồn nhân lực, vật lực, tiền của, phát triển được trên 150.000 Km đường bộ và 35.700 Km đường thuỷ. Nhưng ở miền núi còn rất nhiều khó khăn, làm một Km đường rất tốn kém vì núi đá và địa hình phức tạp, đóng góp của dân về tiền của không nhiều và cuối cùng là ngân sách của Nhà nước đầu tư cho giao thông miền núi còn xa mới đáp ứng được nhu cầu.                         

    1.2 Chương trình định canh định cư

    Vấn đề định canh định cư từ lâu đã được Đảng và Nhà nước ta hết sức quan tâm. Nó được thể hiện rõ nét nhất qua chương trình 327 được hội đồng bộ trưởng (nay là Chính phủ) quyết định ngày 15/9/1992. Chương trình này nhằm vào mục tiêu phủ xanh đất trống đồi núi trọc, bãi bồi, bãi cát sông biển và đối tượng của nó mở rộng tói nhiều hộ gia đình thiểu số dân tộc miền núi. Ngay trong hai năm đầu triển khai chương trình đã được vay 67 tỷ 230 triệu đồng (1 triệu đồng/hộ) để phát triển 400.495 ha đất thành kinh tế hộ, trồng được 19.500 ha cao su, 11.500 ha chè, 7.000 ha cà phê, 18.500 cây ăn quả; và giải quyết việc làm cho 68.300 hộ trải dài trên địa bàn gần 220 huyện, 700 xã miền núi.

    Tính đến 1998 cả nước ta còn có 356.000 hộ với 2,246 triệu nhân khẩu ở 1.939 xã của 38 tỉnh thuộc đối tượng định canh định cư, trong đó có 82.300 hộ, 507.000 khẩu cơ bản đã hoàn thành định canh định cư. Đối tượng còn lại tiếp tục định canh định cư có 25.714 hộ với 157.000 nhân khẩu đang còn du canh du cư.

     

    1.3 Tư vấn, dịch vụ, chuyển giao khoa học kỹ thuật

    Từ đầu những năm 90 của thế kỷ XX dịch vụ này đã có sự tiền bộ đáp ứng tương đối tốt nhu cầu đầu vào cho sản xuất nông, ngư, lâm nghiệp. Nhiều hộ nghèo đã được hưởng lợi ích từ chương trình này, và họ đã tìm được cho mình cuộc sống ổn định. Song miền núi, vùng dân tộc thiểu số, thậm trí cho tới nay cũng mới chỉ số ít địa phương có dược những chương trình hiệu quả kiểu này. Thực chất những nội dung lớn của chương trình này chưa được hoạt động mạnh mẽ, phần lớn chỉ khuôn lại ở khuyến nông và khuyến lâm, chỉ đơn thuần là việc đưa giống mới cho người sản xuất để tăng thu nhập. Sự chuyển giao công nghệ theo đúng nghĩa của nó thì chưa làm được bao nhiêu, mới chỉ dừng lại ở cây chè, cây cà phê, cây cao su. Hiệu quả hoạt động của trên 200 trạm khuyến nông cấp huyện và 61 trạm cấp tỉnh chưa đạt yêu cầu, đặc biệt ở những huyện miền núi trạm chưa đủ cán bộ, mạng lưới mỏng khó có thể tiếp cận được với đồng bào các dân tộc thiểu số.

    Nhưng khó khăn còn tồn tại trong việc thực hiện chương trình này qua tìm hiểu từ hai phía nhà đầu tư và người được đầu tư cho thấy:

    Về phía đầu tư  do đi lại khó khăn, thiếu cán bộ khoa học tâm huyết lên với đồng bào miền núi vì chế độ, chính sách đãi ngộ chưa tương xứng để khuyến khích chất xám khoa học kỹ thuật đưa vào sản xuất ở miền núi; mặt khác, mức độ thử nghiệm gặp rủi ro cao…

    Về phía được đầu tư  đồi hỏi phải có một trình độ nhận thực nhất định mới có thể tiếp thu được công nghệ. Những hộ nghèo rất hiếm có được trình độ hiểu biết do phía đầu tư yêu cầu. Người được nhận những chương trình loại này đa phần lại rơi vào các hộ khá và hộ giầu; nên vô hình chung người nghèo lại bị loại khỏi cuộc chơi.

    Một vấn đề rất cần quan tâm đến ở miền núi là công nghệ bảo quản sau thu hoạch và công nghệ chế biến nông phẩm. Vì vậy vấn đề nan giải trước mắt là lo đầu ra cho sản phẩm làm ra của người nghèo. Do không phát huy được những việ kể trrên nên dẫn đến việc tổn hại không nhỏ do bảo quản thiếu kỹ thuật, số lượng thực dư thừa chỉ biết chế biến thành rượu chứ không biết bán cho ai.

    Những vấn đề đặt ra đã cho thấy chương trình trợ giúp công nghệ hiện nay còn hết sức hạn chế. Nhu cầu dịch vụ, chuyển giao kỹ thuật ở miền núi chưa được đáp ứng tương xứng, nên không thể có hàng hoá đủ tiêu chuẩn chất lượng cho thị trường hiện nay và không đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

         2 Chương trình giải quyết việc làm

                Với mục tiêu là giải quyết việc làm cho đồng bào các dân tộc thiểu số, trong quá trình triển khai thực hiện các chương trình, chính sách xoá đói giảm nghèo thì một hệ  thống trung tâm xúc tiến việc làm đã được hình thành trên cả nước, góp phần tích cực để có thêm nhiều người có thu nhập và ổn định cuộc sống.Từ khi thực hiện chương trình đến nay đã có hàng vạn lao động đã được hưởng lợi ích tù chương trình này. Song nhìn vào những kết quả người ta chỉ nhận ra là chương trình xúc tiến việc làm chủ yếu tập trung ở những thành phố lớn, thành thị., còn ở nông thôn đặc biệt là những dân tộc thiểu số dường như chưa có sự ưu đãi, hưởng lợi từ chương trình này.

    Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, miền núi, vấn đề cần phải cảnh báo là: khả năng tham gia vào chương trình này là rất yếu kém. Đặc thù này dẫn đến một yêu cầu không thể thiếu được là cần chú ý huấn luyện, bồi dưõng để nâng cao năng lực cho đồng bào dân tộc ngay lúc ban đầu, thậm trí phải bầy ra công việc để hướng họ vào làm việc đó tức là tạo ngành nghề vừa với khả năng thói quen truyền thống của họ và mở ra các công việc mới mẻ cho lớp trẻ tham gia làm quen và nâng cao tay nghề của họ.

    Vì vậy chương trình xúc tiến việc làm ở miền núi, vùng dân tộc thiểu số sẽ khó khăn và nặnh nề hơn nhiều lần so với ở đồng bằng. Một điều cấp thiết nữa là cần có người biết tiếng dân tộc để truyền thụ kiến thức và hướng dẫn cách làm. Đội ngũ này hiện nay dường như chưa đáng kể, chưa đủ tiêu chuẩn am hiểu về tiếng và chưa đủ về lượng để phân phối cho một địa bàn rộng lớn chiếm 2/3 diện tích cả nước.

         3 Chương trình tín dụng

    Thực tế cho thấy từ năm 1991 chúng ta đã thực hiện khoản tín dụng cho vay mở rộng đối tới hộ nông dân, nhưng chỉ một số trong diện hộ nghèo mới có cơ hội vay vốn từ ngân hàng nhà nước và số vốn vay còn rất hạn chế. Tháng 3 năm 1995 quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo phát triẻn sản xuất ra đời, đó là tổ chức tín dụng tiền thân của ngân hàng phục vụ người nghèo nay là ngân hàng chính sách xã hội. Quỹ cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo đầu tiên đến với hộ nghèo đánh dấu sự đi lên với giấc mơ đẹp với người nghèo biết làm ăn và sản xuất vuơn lên. Cuối năm 2002 tổng nguồn vốn của ngân hàng người nghèo là 7.083 tỷ VND, trong đó vốn điều lệ là 1.105 tỷ dồng bằng tiền vay từ ngân hàng nhà nước, ngoài ra còn nhận vốn uỷ thác từ ngân sách địa phương và huy động vốn của hộ nghèo 398 tỷ đồng. Từ nguồn vốn khiêm tốn đó sau 7 năm hoạt động đã cho vay tổng doanh số 14.895 tỷ đồng, số lượng hộ nghèo được vay trên 7,7 triệu hộ. Số hộ còn dư nợ là 2,8 triệu hộ. Bình quân mỗi hộ được vay 2,5 triệu đồng và đến năm 2001 là 5 triệu đồng. Đáng chú ý là có 55 vạn hộ thuộc đồng bào các dân tộc thiểu số được vay với dư nợ 1300 tỷ. Tính đến 31-12-2002, nhân hàng người nghèo đã đưa 64 vạn hộ thoát nghèo trong đó có  7,6 vạn hộ thuộc dân tộc thiểu số, và cứ 8 hộ thì có 1 hộ thoát nghèo. Về chất lượng tín dụng thì chỉ có 1,71% là nợ quá hạn. Kết quả tài chính bước đầu khả quan. Tổng thu nhập 2.435 tỷ đồng, số lượt hộ nghèo được vay 7,7 triệu hộ. Những thành tựu trên thật đáng khích lệ, thể hiện đường lối đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong sự nghiệp xoá đói giảm nghèo.

    Một mặt tồn tại trong hoạt động của ngân hàng phục vụ người nghèo là do thụ động trông chờ vào vốn từ Trung ương rót xuống và không có mạng lưới, chi nhánh riêng nên ngân hàng phục vụ người nghèo chưa có một cơ chế hoạt động rõ ràng. Cuối cùng nó lại rơi vào tình trạnh của ngân hàng nông nghiệp, tức là vẫn còn những khoảng trống rât lớn ở vùng cao, vùng dân tộc thiểu số. Trong số những người nghèo thì người nghèo thuộc dân tộc thiểu số bao giờ cũng chịu nhiều bất lợi hơn. Đến nay ngân hàng phục vụ người nghèo chưa tác động được bao nhiêu đến các hộ đặc biệt khó khăn ở vùng cao biên giới, vùng sâu, vùng xa.

    Vấn đề thiết thực cần bàn đến là với mức lãi suất ưu đãi hiện nay, nhiều hộ người nghèo miền núi còn e ngại. Thông qua một số chương trình cho vay của các tổ chức quốc tế như: UNICEF, SIDA, IFAD, và UNDP, Hà Lan và một số tổ chức phi chính phủ thông qua hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam đã tỏ ra có hiệu quả. Những chương trình này đã tạo ra một bài học thực tế là nguồn tín dụng phải được chặt chẽ, gắn liền với việc huấn luyện phương pháp thích hợp để tăng thu nhập. Nếu không có hai yếu tố trên thì mức độ rủi ro sẽ cao và người nghèo sẽ phải gánh chịu hậu quả. Như vậy yếu tố tín dụng phải đi song song với việc cung cấp dịch vụ khuyến nông, khuyến lâm, chuyển giao giống và công nghệ mới. Bản thân người nghèo ở vùng dân tộc thiểu số không có khả năng lập kế hoạch sản xuất và tiến hành đầu tư khôn ngoan để có thể sinh lãi. Họ cần có cả tiền vốn và kiến thức về kinh tế, những dịch vụ cho sản xuất, mà trước hết là những vật tư cho sản xuất nông nghiệp thiết yếu như: phân bón, thuốc trừ sâu, giống mới và các dịch vụ thú y để hạn chế thấp nhất mức rủi ro.

         4 Chương trình giáo dục, y tế với mục tiêu xoá đói giảm nghèo

    4.1 Chương trình giáo dục

    Phổ cập giáo dục xoá nạn mù chữ là một mục tiêu mà Nhà nước ta rất ưu tiên, đặc biệt là đối với đồng bào các dân tộc thiểu số và đây chính là một cách thức hiệu quả nâng cao trình độ dân trí cho họ, giúp hộ hoà nhập với xã hội tiên tiến là con đường để họ có thể tự nhận thức và vươn lên xoá đói giảm nghèo. Đảng và Nhà nước đã có nhiều chính sách ưu đãi khuyến khích cho những giáo viên về công tác tại bản làng, đồng thời mở nhiều trường dậy học ở vùng cao xây dựng cơ sở hạ tầng cho ngành giáo dục nơi đây. Tuy nhiên do sự cách biệt về mặt địa lý nên công tác giáo dục nơi đây chưa làm được nhiều, con em của đồng bào dân tộc được học hành đầy đủ còn ít nhưng đó cũng là tín hiệu đáng mừng cho việc thay đổi bộ mặt nơi đây. Đã có nhiều sinh viên là con em các dân tộc sau khi học xong trở lại xây dựng quê nhà, thêm vào đó là những chương trình dậy nghề đã giúp cho họ có được nhiều việc làm tăng thu nhập, nâng cao năng suất lao động.

    Trong những nhóm chương trình được tiến hành thì chương trình nâng cao chất lượng phổ thông các cấp hầu như chưa có tác động trực tiếp tới học sinh nghèo vì hệ thống chủ yếu tập trung phục vụ cho chương trình này là các thiết bị cao cấp, kể cả máy vi tính. Điều đó là quá xa vời đối với học sinh là con em nhà nghèo. Với dân tộc thiểu số thì đó quả là một giấc mơ. Chương trình dậy nghề đối với học sinh dân tộc miền núi, vì nó không thuộc khu vực ưu tiên nên nó chưa có một hệ thống trung tâm dậy nghề và ít có khả năng với tới nguồn kinh phí ít ỏi của nhà nước dành cho lĩnh vực này và nguồn viện trợ từ nước ngoài.

    Điều đáng lưu ý nhất là trẻ em nghèo không có khả năng kinh tế để học lên các lớp trên nên không đủ tiêu chuẩn văn hoá để vào học các lớp dậy nghề; chính vì vậy có thể nói con nhà nghèo chưa được hưởng lợi từ chương trình này.

    4.2 Chương trình y tế          

    Bên cạnh chương trình giáo dục, chương trình y tế cũng đã có nhiều đóng góp to lớn trong công cuộc xoá đói giảm nghèo. Những chương trình y tế nhìn chung đã phát huy tác dụng cải thiện và nâng cao khả năng đề kháng đối với bệnh tật, chữa trị và phòng ngừa bệnh dịch hay xẩy ra xưa và nay ở miền núi, vùng đồng bào các dân tộc thiểu số. Việc ưu tiên dành hàng chục tỷ đồng cấp phát muối iốt cho vùng dân tộc thiểu số và hàng chục tỷ đồng trợ cước vận chuyển tới vùng cao, nhờ đó tỷ lệ bướu cổ đã từ 54% năm 1991 xuống dưới 40% năm 1996. Đến nay người dân miền núi và cả nhiều vùng miền xuôi đã quen dùng muối iốt và không cần phải tuyên truyền vận động như những năm trước đây.

    Chương trình nước sạch cho sinh hoạt cũng là một chương trình có ý nghĩa không nhỏ để cải thiện sức khoẻ sinh hoạt và đời sống xã hội đối với người nghèo. Chương trình này đã có 20 năm thực hiện (1982-2002) dưới sự trợ giúp của UNICEF. Kết quả của sự đầu tư gần 20 triệu USD và của UNICEF và trên 40 tỷ đồng của chính phủ Việt Nam là hơn 1/3 dân số nông thôn được dùng nước sạch, tuy nhiên số dân miền núi và dân tộc thiểu số được hưởng từ chương trình này là quá nhỏ bé, cần có sự điều chỉnh hợp lý hơn về vốn đầu tư dành cho những vùng đặc biệt khó khăn ở miền núi. Theo những số liệu của bộ y tế thì chương trình tiêm chủng mở rộng và bảo vệ sức khoẻ bà mẹ trẻ em đã thu được kết quả rất khả quan, Tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng, thiếu trọng lượng tiêu chuẩn khi mới sinh, trẻ em chết dưới một tuổi giảm. Tuy vậy tỷ lệ trẻ em trên dưới 40% ở lứa tuổi dưới một tuổi và suy dinh dưỡng dưới năm tuổi vẫn là con số khá cao đòi hỏi cần có sự đầu tư hơn nữa trong công tác y tế ởvùng cao.

         5 Chương trình quốc gia số 06/CP

    Năm năm thực hiện chương trình quốc gia số 06/CP diện tích trồng cây thuốc phiện từ 15.495 ha ở 11 tỉnh miền núi phía bắc đã giảm nhanh chóng xuống còn 12.787 ha vụ 1993; 3.296 ha vụ 1994; 2.363 ha vụ 1995. Cho đến nay cơ bản cây thuốc phiện đã được huỷ bỏ trên địa bàn miền núi nước ta. Trong số các địa bàn xoá bỏ cây thuốc phiện thì có 30% trong số các địa bàn đó đã ổn định cuộc sống nhờ vào các dự án xoá bỏ cây thuốc phiện và các chương trình xoá đối giảm nghèo. Còn 30% số vùng xoá bổ cây thuốc phiện đan còn gặp khó khăn, chưa ổn định, còn du canh , chưa tạo ra được nguồn thu nhập để thay thế cây thuốc phiện, lúng túng  trong chuyển dịch cơ cấu sản xuất, tức cuộc sống còn bấp bênh. Có 20% số vùng đã xoá bỏ cây thuốc phiện nhưng đang có hiện tượng tái trồng lại . 20% còn lại là những vùng quá xa xôi hẻo lánh vẫn còn sống du canh du cư mà chương trình chưa vươn tới huặc chưa có tác dụng.

         6 Chương trình hỗ trợ dân tộc dặc biệt khó khăn

    Theo cuộc điều tra đã thống kê ra 41 dân tộc trong đó có 27 dân tộc đói nghèo dưới mức quy chuẩn của Bộ lao động thương binh và xã hội tức là có thu nhập bình quân đầu người dưới 60.000đ/tháng. Theo số liệu điều tra có tới 65,85% số hộ nơi này dơi vào tình trạng đói nghèo, 990,7% là nhà tạm tranh tre nứa lá, 82,96% là không có nước sạch dùng trong sinh hoạt. Từ thực trạng những khó khăn trên chương trình đã được triển khai với cơ cấu nguồn vốn như sau:

    • 30% hàng hoáỗ trợ đời sống: lương thực, chăn màn, quần áo sửa chữa nhà cửa.
    • 57% mua trâu bò, lập vườn hộ, chăn nuôi để tạo thu nhập hỗ trợ sản xuất.
    • 10% củng cố thuỷ lợi nhỏ, trạm xá, lớp học …
    • 3% dùng trong hướng dẫn kỹ thuật và quản lý chỉ đạo chương trình.

    Qua một thời gian thực hiện, tình hình thu nhập của các hộ thuộc các diện được hỗ trợ trong chương trình này đã nhích lên trên mức đối nghèo. Thu nhập thấp nhất là dân tộc Chứt và La Chí từ 65.000đ đến 65.790đ/người/tháng, với các dân tộc khá hơn như Ơ Đu và M Nông là 82.300đ đến 87.300đ/người/tháng.

         7 Chương trình bảo vệ môi trường

    Trong số những chương trình về bảo vệ môi trường được triên khai thì chương trình 327 là chương trình có ý  nghĩa nhất đối với đồng bào dân tộc. Các chương trình về môi trường đã góp phần làm tăng độ tre phủ của rừng từ 25% năm 1992 lên 30% năm 1996, bình quân riêng chương trình 327 đã làm tăng thêm từ 110.000 ha lên 130.000 ha rừng trồng. Có rừng tức là có nguồn nước, chống được xói mòn, tạo cho đất đai thêm mâu mỡ, bền vững là cơ sở tăng năng suất trong nông nghiệp ở vùng núi. Chính điều này  lại tác động trở lại vào việc xoá đói giảm nghèo.               

                   

                            

     

     

    chương III

    Những kiến nghị và giải pháp về xoá đói, giảm nghèo đối với đồng bào các dân tộc thiểu số của nước ta

     

    I Những vấn đề cần lưu ý và giải pháp khắc phục trong công cuộc xoá đói, giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta trong giai đoạn hiện nay

         1 Vấn đề phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường

    1.1 Khuyến nông, khuyến lâm

    Để giải quyêt vấn đề nghèo đói hiện nay ở miền núi, một điều dễ nhìn thấy là phải khai thác triệt để những ruộng nương, ao hồ, sông, suối, bãi bồi để trồng trọt và chăn nuôi… Với việc bùng nổ dân số thì việc phá rừng là một biện pháp hiệu quả nhất cho các dân tộc thiểu số để có diện tích đất canh tác, bên cạnh đó có thể tăng thu nhập bằng cách săn bắn thú quý trái phép và dùng thuốc nổ hay điện để bắt cá. Những biện pháp trên là kể thù của môi trường và không thể chấp nhận được trong yêu cầu phát triển bền vững hiện nay.

    Đặt vấn đề trên cũng coi như là khẳng định giải pháp kỹ thuật , chuyển dịch cơ cấu sản xuất với các loại giống mới với năng suất cao và xây dựng loại mô hình VACR ( vườn, ao, chuồng, rừng ) là trọng tâm của công tác khuyến lâm miền núi. Tuy nhiên để đảm trách được công việc này cần có một hệ thống khuyến nông từ Tung ương đến các địa phương, các trung tâm nghiên cứu các dự án chương trình, kế hoạch trong khuôn khổ quỹ xoá đói giảm nghèo. Quy trình khuyến nông, lâm, ngư  như sau:

    • Các trung tâm nghiên cứu đào tạo cán bộ khuyến nông, trang bị kiến thức cho họ bằng những thông tin mới nhất và kỹ nghệ tiên tiến sát với yêu cầu thực tế của nông dân miền núi và của thị trường.
    • Hệ thống khuyến nông chính quy bao gồm cục khuyến nông của bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và các trung tâm của tỉnh, huyện.
    • Hệ thống khuyến nông tự nguyện bao gồm các viện, trường cao đẳng, đại học, các hội, các tổ chức đoàn thể, các tình nguyện viên, các hộ nông dan sản xuất giỏi.

    Đối với những người, những đơn vị tham gia khuyến nông tự nguyện tuy họ làm như vậy mà không đòi hỏi gì nhưng cũng cần có hìn thức khuyến khích động viên huặc tạo điều kiện thuận lợi cho họ trong công việc. Trong tình hình miền núi nước ta hiện nay giải pháp khuyến nông Nhà nước vẫn cần được duy trì và mở rộng, và vẫn phải trợ cước, trợ giá để đỡ bớt gánh nặng đầu vào trong quy trình sản xuất cho người nghèo.

    1.2 Tín dụng

    Phần lớn các hộ dân tộc thiểu số nghèo đều ngại vay tiền trong hệ thống dịch vụ tài chính mà Nhà nước cung cấp phục vụ cho mọi đối tượng dân cư. Đối với họ thì hình thức hấp dẫn phải với điều kiện là thời gian đầu cho vay không lãi, sau đó lãi suất thấp. Tức là mô hình ưu đãi kiểu mô hình người nghèo đã áp dụng. Tuy nhiên loại tín dụng ưu đãi này chỉ đến được với rất ít người nghèo trong hàng chục vạn hộ nghèo ở vùng cao miền núi. Lý do mà những người dân tộc thiểu số ngại vay tín dụng vì những lý do chính sau:

    • Không biết cách sử dụng vốn để sinh lãi.
    • Sợ rủi ro trong sản xuất, chăn nuôi (bão, lũ, lụt, dịch bệnh trong chăn nuôi).

    Muốn thu hút được người dân tộc thiểu số tiếp cận ngày càng đông với tín dụng thì thì phải giải quyết được những khúc mắc ngần ngại này.

    Có một thực tế hiện nay là với nguồn lực hiện nay thì việc huy động một nguồn tài chính khổng lồ như vậy là rất khó khăn. Ngân sách dành cho ngân hàng người nghèo là có hạn vì vậy càn phải huy động từ nguồn lực khác nhau từ những quỹ tín dụng hợp tác xã, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng nông thôn… ở những nơi mà ngân hàng người nghèo chưa vươn tới được huặc không có khả năng cung cấp tín dụng do nhu cầu quá cao. Đối với dân tộc thiểu số thì những uỹ tín dụng như vậy có lẽ phù hợp với điều kiện dân cư phân tán, đường sá khó đi, chi phí vận chuyển cao, khó tiếp cận với ngân hàng nhà nước. Những quỹ tín dụng thôn, xã, nhóm hộ dễ tiếp cận hơn, dễ kiểm soát đồng vốn vay, biết được các hộ đầu tư vào công việc gì. Nó còn phù hợp ở chỗ đáp ứng được vốn vay nhỏ cải thiện đời sống.

    Đông thời cũng cần cải cách dần dần chính sách lãi suất hợp lý để thu hút được vốn đầu vay cho hộ nghèo, khuyến khích các tổ chức tài chính huy động các nguồn vốn từ cộng đồng, cá nhân và coi trọng quyền tự chủ của họ. Bên cạnh đó cần xem xét xen kẽ vốn ngắn hạn và dài hạn nếu cùng một lúc hộ nghèo có kế hoạch đầu tư vào sản xuất ngắn hạn và dài hạn. Song, dù dưới hình hức nào, kiểu nào cũng phải tăng hạn mức vay và kéo dài thời gian vay để người nghèo có đủ thời gian cho cây, con lớn trưởng thành đến khi thu hoạch.

    1.3 Giao thông vận tải

    Vấn đề số một hiện nay là giao thông được nhắc đi nhắc lại nhiều lần vì đây chính là nguyên nhân quan trọng nhất gây nên sự cách biệt, nhưng nếu giải quyết tốt sẽ tạo là cơ hội cho ngưòi nghèo ở vùng dân tộc thiểu số vươn lên. Với phương chân Nhà nước và nhân dân cùng làm đã mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Tuy nhiên số dự án xây dựng đường giao thông ở miền núi vẫn còn ít, trong khi đó nhu cầu thì rất nhiều. Một khó khăn đó là vấn đề vốn đầu tư cho những dự án này đòi hỏi chúng ta cần phải có một cơ chế, chính sáh ưu đãi về vốn vay, thu phí giao thông… để các doanh nghiệp, các tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng giao thông miền núi.

    Một vấn đề hết sức quan trọng là việc duy trì, bảo dưỡng đường miền núi. Do địa hình dốc, phức tạp, độ xói mòn lớn, mưa gió bất thường nên đường thường xuyên hỏng. Biện pháp tốt nhất để giải quyết là nên giao công việc này cho cơ quan địa phương phối hợp cùng với các cơ quan ngành giao thông và được sự giúp đỡ của cơ quan nhà nước. Vấn đề lâu dài cần có kế hoách từng bước nâng cấp đường giao thông theo hướng nhựa hoá tỉnh lộ,  đá hoá huyện lộ, cơ giới hoá xa lộ và mở rộng đường liên thôn, liên bản để xe ngựa và xe máy có thể đi lại dễ dàng.

    1.4 Giao đất giao rừng

    Tình trạng mất đất do mua bán, sang nhượng huặc thiếu đất canh tác đang diễn ra rất trầm trọng ở khắp các địa phương kể cả đồng bằng và miền núi. Đối với đa phần các dân tộc thiểu số thì đất đai là nguồn lực quan trọng nhất để duy trì cuộc sống. Trong điều kiện hiện nay, đối với miền núi, vùng dân tộc thiểu số nơi phức tạp bởi các phong tục tập quán truyền thống việc chia đất khoán rừng nên thực hiện theo những  bước sau:

    • Lập một bản đồ tổng thể ở các xã, bản có cán bộ địa chính và chính quyền xã, già làng, truởng bảntham gia.
    • Tổ chúc các cuộc họp lấy ý kiến dân chủ trong nhân dân.
    • Xác định mốc giới trên thực địa có mặt các hộ và cấp sổ đỏ sử dụng đất.

    Nghiên cứu cấp sỏ đỏ và chia đất khoán rừng theo nguyên tắc gán với nơi cư trú của các hộ và tuỳ vào khả năng canh tác và số nhân khẩu. Một số đất đai dự trữ dành cho sự phát triển dân số giao cho tập thể cộng đồng quản lý và sử dụng. Cần có sự hướng dẫn viẹc sử dụng dất đai khai thác rừng, giữ gìn và bảo vệ rừng đầu nguồn, dừng đặc vụ… để đảm bảo tính bền vững lâu dài cho môi trường sinh thái. Những nơi không có khả năng sản xuất thì giãn đi nơi khác. Hướng giải quyết đất đai ưu tiên trước hết là giãn trong nội huyện, nội tỉnh, tránh tối đa sự xáo trộn quá nhiều ảnh hưởng tới đời sống kinh tế và xã hội trong vùng.

    1.5 Chuyển giao khoa học kỹ thuật và chuyển dịch cơ cấu sản xuất

    Thực tế cho thấy nếu biết ứng dụng khoa học tiên tiến, tìm kiếm giống mới, thâm canh thì không cần tăng diện tích vẫn có thể làm giầu được. Tuy đất đai rất quan trọng nhưng nó không phải là tất cả. Cho nên với một mức độ nào đó, người nghèo ở miền núi phải được tập huấn và tạo nên một cách làm ăn mới. Bỏ dần cây, con và cách canh tác truyền thống, thay vào đó là những cây, con mới hoàn toàn huặc lai tạo với giống địa phương có khả năng phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng và sinh thái ở địa phương.

    Để giúp đỡ bà con các dân tộc dần dần xoá đói giảm nghèo nên chăng ở mỗi huyện cần có một trung tâm chuyển giao hướng dẫn khoa học kỹ thuật, mà trước hết là những kỹ thuật đơn giản cho nhân dân miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Trung tâm này mở các lớp huấn luyện ngắn hạn cho một số người có học vấn tối thiểu ở các xã, các bản theo múa vụ của cây con, rồi từ đó họ sẽ toả xuống các bản xóm chỉ dẫn kỹ thuật cho đồng bào ngay trên thực địa. Cách làm này hiệu quả mà chi phí lại ít và phù hợp với điều kiện dân cư phân tán ở miền núi.               

         2 Các vấn đề xã hội

    2.1 Y tế

    Về tình hình y tế miền núi , vùng dân tộc hiện nay, cần lưu ý mấy vấn đề sau:                     

    • Sự kém hiểu biết của nguời miền núi về bảo vệ sức khoẻ và phòng chống bệnh dịch thường dẫn đến tình trạng phát bệnh đến giai đoạn trầm trọng, mãn tính nên rất khó chữa trị.
    • Các bệnh nguy hiểm lại thường bắt nguồn từ những bệnh rất thông thường. Do một lý do nào đó, người dân ơi đây đã coi thường huặc ngại đi đến các cơ sở khám chữa bệnh, không có thuốc men… nên từ bệnh này lan sang bệnh khác càng khó chữa trị.
    • Các phương pháp chữa trị dân gian tỏ ra có hiệu quả và rẻ tiền dễ kiếm ở địa phương, nhưng một tình trạng vẫn đang xẩy ra là một số bà con ở vùng sâu vùng xa lạc hậu hoặc bị lừa bịp với cách chữa trị thiếu khoa học của thầy mo, thầy cúng nên thường đãn đến nguy hiểm cho tính mạng.
    • Hệ thống y tế dường như nặng về hình thức, thiếu khả năng chuyên môn, thuốc thang và cán bộ để phục vụ trên địa bàn rộng thì phân tán.

    Từ những vấn đề trên một số giải pháp để khắc phục những vấn đề này là:

    • Phổ biến rộng khắp mạng lưới y tế viên cộng đồng gồm các giáo viên phổ thông, người có trình độ học vấn, cán bộ các đoàn thể…kết hợp công tác chuyên trách với công tác y tế cộng đồng.
    • Cung cấp đủ số thuốc thông thường cho các túi thuốc thôn bản.
    • Kết hợp với sự giúp đỡ về y tế của lực lượng y tế bộ đội biên phòng ở các đồn vùng sâu vùng xa.
    • Tập hợp các bà lang, ông lang có uy tín ở địa phương để cùng hợp tác chữa bệnh. Khuyến khích chữa bệnh bằng thuốc nam, thuốc lá và xây dựng vườn thuốc thôn bản.
    • Tổ chức những đợt khám chữa bệnh lưu động và miễn phí định kỳ xuống thôn bản. Phát hiện kịp thời để đưa các bệnh nhân nặng về tuyến y tế huyện, tỉnh chữa trị.
    • Cấp thuốc nhân đạo cho các trưồng hợp quá khó khăn và đối tượng thuộc chính sách xã hội.

    2.2 Giáo dục

    Những vấn đề nổi cộm hiện nay:

    • Mù chữ và tái mù chữ còn nhiều.
    • Việc phổ cập giáo dục tiểu học đối với trẻ em nhà nghèo còn chưa đạt yêu cầu.
    • Sự bất bình đẳng giữa trẻ em trai và trẻ em gái còn phổ biến. Các trẻ em gái có tỷ lệ bỏ học lớn hơn so với em trai, và càng học lên cao thì tình trạng rơi rụng càng nhiều.
    • Đội ngũ dậy học và sách giáo khoa còn thiếu nghiêm trọng.
    • Đội ngũ thầy cô giáo mỏng, còn thiếu về số lượng, yếu kém về trình độ chuyên môn, đặc biệt là tình trạng thiếu giáo viên là người dân tộc thiểu số.
    • Cơ sở hạ tầng trường lớp xuống cấp, chất lượng học sinh yếu so với mặt bằng giáo dục phổ thông chung.

    Từ thực trạng trên cho thấy muốn giúp người nghèo được hưởng thụ chương trình giáo dục nâng cao đân trí để tiếp bước xoá đói giảm nghèo, cần phải giải quyết những vấn đề cơ bản sau:

    • Cần có cơ chế chính sách ưu tiên với đối tượng nghèo và con con em của họ đảm bảo xoá được nạn mù chữ và phổ cập tiểu học, được miễn hoàn toàn về học phí và các khoản đóng góp khác.
    • Mở các nhóm xoá mù chữ tại các chòm xóm, bản; người biết khá dậy người biết kém, người biết kém dậy người chưa biết chút nào… Người tình nguyện dậy có kết quả tốt sẽ được hỗ trợ một khoản tiền hay vật chất để khuyến khích.
    • Mở rộng loại hình lớp học bán trú dân nuôi thành một quy định đóng góp của toàn dân(bằng ngô, lúa, lương thực tự có).
    • Dần dần đào tạo thay thế hệ thống giáo viên thôn bản bằng giáo viên dân tộc và có chế độ đãi ngộ để họ đủ sống, yên tâm bám trường lớp giảng dậy.       
    • Cải thiện đời sống văn hoá tinh thần cho thầy trò nhà trường ở miền núi( trang bị một số thiết bị như báo, tranh ảnh, vi deo, đài…).
    • Mở rộng việc kết nghĩa giữa các đơn vị quân đội, đoàn thể nhân dân với nhà trường nhằm giúp đỡ, ủng hộ về vật chất, ngày công sửa trường lớp và đồ dùng sách vở học tập.
    • Cần trích hợp lý một phần nhỏ kinh phí từ các chương trình dự án trên địa bàn để hỗ trợ cho giáo dục và con em nhà nghèo.

    2.3 Về bản sắc văn hoá dân tộc thiểu số

    Vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi muốn giữ được bản sắc văn hoá trước hết phải có thông tin đúng và thường xuyên về chính sách văn hóa đối với từng dân tộc, phù hợp với xu hướng phát triển của đất nước. Vấn đề quyết định là phải có chế độ, chính sách thoả đáng trong việc đầu tư cho phong trào văn hoá quần chúng ở cơ sở, đẩy mạnh hơn nữa công tác văn hoá , thông tin lưu động, cổ động trực quan phục vụ đồng bào dân tộc và miền núi. Tăng cường hơn nữa công tác thông tin phục vụ đồng bào dân tộc thiểu số qua các hoạt động xuất bản, phát hành, thư viện. Đẩy mạnh hơn nữa phong trào đọc sách báo qua các thư viện, tủ sách cơ sở, các trường học. Bên cạnh đó cần có nhiều đề tài, dự án nghiên cứu về văn hoá của các dân tộc thiểu số, tổ chức các buổi hội thảo, toạ đàm, tập huấn về các chủ đề truyền thống các dân tộc, chủ động giao lưu văn hoá giữa ác dân tộc, tiếp thu nền văn hoá, văn minh của các dân tộc trên thế giới làm phong phú thêm ban sắc văn hoá các dân tộc thiểu số nước ta.

         3 Trợ giúp đối tượng chính sách xã hội

    3.1 Người có công với nước và gia đình họ

    Nhà nước ta đã có nhiều chính sách ưu đãi với những đối tượng thuộc diện này, hàng năm chúng ta đã dành ra hàng ngàn tỷ đồng giúp đỡ đối tượng này. Tuy vậy đối tượng này vẫn gặp không ít khó khăn và chỉ trông chờ vào số tiền trợ giúp của Nhà nước huặc một số rất nhỏ có sổ tiền tiết kiệm thì chưa thể giải quyết được đời sống ổn định. Vì vậy cần có một chính sách ưu tiên rộng lớn và phong phú hơn, đa dạng về hình thức sản xuất hàng hoá để giúp cho những đối tượng này có được mức sống bằng và dần dần cao hpưn mặt bằng đời sống ở địa phương.

    Có thể áp dụng những hình thức ưu tiên, giúp đỡ sau dây:

    • Ưu tiên đất canh tác tốt hơn khi chia đất khoán rừng và có cự ly gần nhà để tiện chăm sóc.
    • Ưu tiên việc đầu tư giống mới, cấp cho không(hạt, giống) huặc miễn một phần chi phí dịch vụ hay vật tư nông nghiệp…
    • Ưu tiên cho con em họ khi sắp xếp việc làm, ngành nghề.     
    • Cấp sổ khám bệnh và miễn phí trong trường hợp bệnh nặng cần số tiền lớn để điều trị…
    • Các tổ chức đoàn thể nhân dân thường xuyên quan tâm chăm sóc, động viên các hộ nghèo theo hướng sản xuất tiên tiến bằng cả vật chất và tinh thần trong điều kiện cho phép.

    3.2 Người tàn tật, già yếu, trẻ mồ côi

                Đây là đối tượng rất đông đảo do nguyên nhân chiến tranh, do điều kiện sống quá thiếu thốn nghèo đói gây ra. Nhà nước đã có nhiều quyết định và được thể chế hóa và hướng dẫn tiêu chuẩn, chế độ cho từng loại đối tượng. Tuy có nhiều cố gắng nhưng vẫn chưa giải quyết được so với yêu cầu và sự bình đẳng giữa các địa phương có người tàn tật, cô đơn chưa công bằng và chưa được chuẩn hóa. Trước khó khăn để hỗ trợ cho họ, những đối tượng loại này cũng cần được nghiên cứu tìm nhữnh khả năng phù hợp để mở rộng các hình thức và biện pháp giúp đỡ họ theo hướng sản xuất và ngành nghề phù hợp. Các địa phương cần có những lớp dậy nghề phù hợp cho từng loại đối tượng, nên khuyến khích và có chế độ giảm thuế đối với những cơ sổ sản xuất nhận người tàn tật, trẻ mồ côi…

         4 Cứu tế, viện trợ khẩn cấp

                Hàng năm, nhà nước dùng khoản chi phí trên dưới 40-60 tỷ đồng cho các đối tượng thuộc diện cần cứu trợ khẩn cấp. Nguồn viện trợ này chủ yếu được sử dụng trong những trường hợp: cứu tế khi bị thiên tai, cứu tế khi giáp hạt, trong đó chủ yếu là thuốc men, lương thực và đồ dùng sinh hoạt thiết yếu. Hiện nay Nhà nước đã cho phép các địa phương thành lập các quỹ dự trữ để khắc phục các hậu quả do thiên tai. Tuy nhiên khi có thiên tai xẩy ra thường bị động và cung cấp chậm những nhu cầu khẩn cấp. Để chủ động hơn nữa việc phòng chống thiên tai chúng ta cần chủ động dự báo trước các hiện tượng thiên tai trên mọi phương tiện thông tin và cách phòng chống cho mọi nguời. Bên cạnh đó trước mùa mưa lũ, nên tập kết các loại vật chất thiết yếu để viện trợ kịp thời khi có thiên tai xẩy ra.

         5 Chốngtệ nạn xã hội và xây dựng nếp sống văn hoá

    Tệ nạn chủ yếu ở miền núi hiện nay là tệ nghiện hút thuốc phiện, ma chay cưới xin lạc hậu, tốn kém đã ảnh hưởng lớn tới kinh tế gia đình và làm cho hộ nghèo càng nghèo hơn. Từ khi có trương trình quốc gia số 06/CP mỗi năm nguồn kinh phí cho chương trình nay là vài ba chục tỷ đồng, tuy đã đem lại nhiều kết quả khả quan nhưng chươg trình này là chưa đủ để có thể xoá hết những tệ nạn, phong tục tập quán lạc hậu đang tồn tại là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến nghèo đói.

    Để giúp người nghèo thoát khỏi những tệ nạn này, biện pháp tập trung cai nghiện hoặc cải tạo gái mại dâm ở miền núi là khó có thể triển khai trên diện rộng, do khó khăn về kinh phí và các khoản khó khăn về chi phí cho xây dựng cơ sở hạ tầng và bộ máy quản lý. Biện pháp tốt nhất là tuyên truyền phát động phong trào bỏ hút thuốc phiện, tác động từ phía những người thân ruột thịt trong gia đình. Trợ giúp thuốc cai nghiện tại nhà phù hợp với đồng bào các dân tộc thiểu số sống phân tán và không muốn xa nhà. Nên có nguồn kinh phí sủ dụng để vận động trợ giúp, tập huấn, tuyên truuyền đồng bào bỏ các tệ nạn xã hội. Đồng thời xây dựng các quy ước văn hoá cộng đồng, xây dựng các chuẩn mực văn hoá phù hợp với vùng dân tộc và cho từng dân tộc. Việc chống tệ nạn xã hội cần phải có sự tham gia của đông đảo mọi người, bên cạnh hình thức tuyên truyền thì Nhà nước cần từng bước thể chế hoá thành các quy phạm pháp luật để đưa những đối tượng này vào kỷ cương phép nước.

     

     

     

     

     

    II Bài học kinh nghiệm trong công tác xoá đói giảm nghèo ở nước ta

    1. Sự nghiệp xoá đói giảm nghèo là sự nghiệp của toàn Đảng toàn dân, đòi hỏi sự nỗ lực của tất cả mọi người cùng tham gia mà trước hết là những cơ quan tổ chức chịu trách nhiệm thực hiện các chủ trương chính sách của nhà nước về công tác xoá đói giảm nghèo. Để có thể thành công bản thân các cơ quan tổ chức này cần xây dựng cho mình một bộ máy vững mạnh có đủ năng lực và trình độ, nhiệt tình trong công việc. Bên cạnh đó cần có một cái nhìn khách quan và toàn diện về hiện tượng nghèo đói để có được phương pháp tiếp cận, công cụ thực hiện một cách có hiệu quả nhất.
    2. Muốn xoá đói giảm nghèo thành công, một vấn đề quan trọng là cần phải có sự thống nhất cao trong nhận thức về trách nhiệm của cấp uỷ đảng, chính quyền từ Trung ương đến cơ sở, của các tổ chức đoàn thể nhân dân; có hệ thống chính sách, cơ chế phù hợp, có kế hoạch và chỉ đạo thực hiện cụ thể ở từng xã, thôn, bản và đến từng hộ.
    3. Có sự phân công trách nhiệm rõ ràng, cụ thể giữa các cấp, các ngành, phát huy vai trò của tổ chức đòan thể: hội phụ nữ, hội nông dân, hội cựu chiến binh…
    4. Các giải pháp đưa ra để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ chiến lược thường có liên quan tới nhiều cấp nhiều ngành, do đó cần có cơ chế vận hành chương trình hiệu quả để có thể phối hợp các cơ quan liên quan nhằm thực hiện mục tiêu nhiệm vụ chiến lược đã đề ra. Cơ chees vận hành và sự phối kết hợp phải tạo ra được sự phù hợp về trách nhiệm và quyền hạn của từng cơ quan.
    5. Phải có quy hoạch sắp xếp lại dân cư, bố trí xen kẽ và hợp lý các hộ thuộc dân tộc Kinh có kinh nghiệm sản xuất giỏi với các hộ chưa biết cách làm ăn, giúp nhau phát triển sản xuất, thực hiện xoá đói, giảm nghèo.
    6. Phải có tổ chức điều tra, xác định rõ nguyên nhân, quản lý chắc các hộ nghèo ở từng xã và có biện pháp hỗ trợ phù hợp, phát huy dân chủ cơ sở tạo cơ hội cho người nghèo trực tiếp tham gia vào quá trình xây dựng và thực hiện kế hoạch xoá đói giảm nghèo.
    7. Đa dạng hoá nguồn lực, trước hết là phát huy nguồn lực tại chỗ, huy động nguồn lực cộng đồng, mở rộng hợp tác quốc tế về kinh nghiệm và kỹ thuật, tài chính cho xoá đói giảm nghèo.
    8. Có sự lồng ghép và có kế hoạch tổ chức các hoạt động xoá đói, giảm nghèo các chương trình dự án trên địa bàn miền núi, tránh trùng lặp để có được hiệu quả cao.

    Kết luận

    Xoá đói giảm nghèo từ lâu là vấn đề mà Đảng và Nhà Nước ta rất quan tâm và coi đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu ưu tiên thực hiện, đặc biệt là xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số. Thông qua chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số, chúng ta đã đạt được nhiều thành công trong công tác xoá đói giảm nghèo , tuy nhiên bên cạnh những thành quả đạt được vẫn còn nhiều khó khăn và thách thức đòi hỏi chúng ta cần nỗ lực hơn nữa. Qua quá trình nghiên cứu đề tài “ Chính sách xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số, thực trạng và giải pháp “ phần nào đã cho chúng ta thấy được vai trò quan trọng của nhiệm vụ xoá đói giảm nghèo và có một cái nhìn toàn diện hơn về vấn đề nghèo đói, thấy được những thành công đạt được cũng như những vấn đề còn tồn tại trong việc thực hiện chính sách xoá đói giảm nghèo. Xoá đói giảm nghèo là một vấn đề lớn và phức tạp, nó là vấn đề thách thức không chỉ đối với Việt Nam mà còn với nhiều nước trên thế giới. Bởi vai trò và tính chất phức tạp của công tác xoá đói giảm nghèo, vấn đề xoá đói giảm nghèo không thể giải quyết ngay mà nó cần phải giải uyết từng bước và cần có sự đóng góp nỗ lực của tất cả mọi người. Với khả năng có hạn của mình, em xin đóng góp một số ý kiến để hoàn thiện hơn công tác xoá đói giảm nghèo cho đồng bào các dân tộc thiểu số ở nước ta. Em xin chân thành cảm ơn cô Nguyễn Thị Hồng Thuỷ đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành tốt đề án này. Tuy bản thân đã có nhiều cố gắng, nhưng do còn hạn chế về kiến thức nên đề án không tránh khỏi có nhiều thiếu xót, em rất mong nhận được sự góp ý của cô để đề án được hoàn thiện hơn.

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     

     


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-T%E1%BB%B0-H%E1%BB%8CC-C%E1%BA%A6U-N%E1%BB%90I-GI%E1%BB%AEA-H%E1%BB%8CC-T%E1%BA%ACP-V%C3%80-NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-KHOA-H%E1%BB%8CC.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: NGHIÊN CỨU KHOA HỌC: PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    PHƯƠNG PHÁP TỰ HỌC – CẦU NỐI GIỮA HỌC TẬP VÀ NGHIÊN CỨU KHOA HỌC

    SELF-STUDY METHOD – A LINK BETWEEN LEARNING AND DOING SCIENTIFIC RESEARCH

    DIỆP THỊ THANH

    Trường Đại học Ngoại ngữ, Đại học Đà Nẵng

    TÓM TẮT

    Tự học là hình thức học tập không thể thiếu được của sinh viên đang học tập tại các trường đại học. Tổ chức hoạt động tự học một cách hợp lý, khoa học, có chất lượng, hiệu quả là trách nhiệm không chỉ ở người học mà còn là sự nghiệp đào tạo của nhà trường. Bài viết dưới đây đề cập đến phương pháp tự học giữ vai trò cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên, góp phần nâng cao chất lượng đào tạo.

    ABSTRACT

    Self-study is a way of learning which is very neccessary for college students. It is the responsibility of not only learners but also teachers to organize qualified, scientific and effective self-study activities. This paper writes about the self-study method as a link between learning and doing scientific research of students so as to improve the training quality of the college.

    Chất lượng và hiệu quả giáo dục được nâng cao khi và chỉ khi tạo ra được năng lực sáng tạo của người học, khi biến được quá trình giáo dục thành quá trình tự giáo dục. Luật Giáo dục đã ghi rõ: “Phương pháp giáo dục đại học phải coi trọng việc bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu, tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo, rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, thực nghiệm, ứng dụng”. Như vậy, phương pháp dạy và học

    • các trường đại học, cần thực hiện theo ba định hướng: – Bồi dưỡng năng lực tự học, tự nghiên cứu; – Tạo điều kiện cho người học phát triển tư duy sáng tạo; – Rèn luyện kỹ năng thực hành, tham gia nghiên cứu, ứng dụng.

    1. Đặc trưng của hoạt động học ở các trường đại học

    1.1. Quá trình học tập của sinh viên ở các trường đại học về bản chất là quá trình nhận thức có tính chất nghiên cứu

    Trong quá trình học tập, mỗi sinh viên tự mình chiếm lĩnh hệ thống tri thức, kỹ năng, phải nắm vững những cơ sở của nghề nghiệp tương lai và có tiềm năng vươn lên thích ứng với những yêu cầu trước mắt và lâu dài do thực tiễn xã hội đặt ra. Muốn vậy, khi tiến hành hoạt động học tập, sinh viên không chỉ phải có năng lực nhận thức thông thường mà cần tiến hành hoạt động nhận thức mang tính chất nghiên cứu trên cơ sở khả năng tư duy độc lập, sáng tạo phát triển ở mức độ cao. Điều đó có nghĩa là, dưới vai trò chủ đạo của thầy, sinh viên không nhận thức một cách máy móc chân lý có sẵn mà còn đào sâu hoặc mở rộng kiến thức…

    Mặt khác, trong quá trình học tập, sinh viên đã bắt đầu thực sự tham gia hoạt động tìm kiếm chân lý mới. Đó là hoạt động tập dượt nghiên cứu khoa học được tiến hành ở các mức độ từ thấp đến cao tuỳ theo yêu cầu của chương trình. Hoạt động nghiên cứu khoa học này giúp sinh viên từng bước tập vận dụng những tri thức khoa học, phương pháp luận khoa học, những phẩm chất, tác phong của nhà nghiên cứu nhằm góp phần giải quyết một cách khoa học những vấn đề do thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp đặt ra.

    1.2. Tự học và nghiên cứu khoa học

    1.2.1. Tự học

    Trong quá trình học tập bao giờ cũng có tự học, nghĩa là tự mình lao động trí óc để chiếm lĩnh kiến thức. Trong tự học, bước đầu thường có nhiều lúng túng nhưng chính những lúng túng đó lại là động lực thúc đẩy sinh viên tư duy để thoát khỏi “lúng túng”, nhờ vậy mà thành thạo lên, và đã thành thạo thì hay đặt những dấu hỏi, phát hiện vấn đề và từ đó đi đến có đề tài nghiên cứu.

    1.2.2. Nghiên cứu khoa học

    Việc nghiên cứu khoa học dĩ nhiên tác động trở lại việc học và có phát triển tự học lên đến nghiên cứu khoa học thì mới có thực tiễn để hiểu sâu mối quan hệ giữa tư duy độc lập và tư duy sáng tạo.

    2. Phương pháp tự học có tác dụng bồi dưỡng năng lực tự học, kỹ năng tự học làm cầu nối giữa học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên

    Hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là loại hình hoạt động rất cơ bản do tính chất đặc thù của quá trình ở trường đại học… Khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên phải chứa đựng cả mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu, tri thức về phương pháp và đối tượng nghiên cứu và các yếu tố kỹ thuật khác của hoạt động nghiên cứu. Theo chúng tôi, khả năng nghiên cứu khoa học của sinh viên là năng lực thực hiện có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học trên cơ sở lựa chọn, tiến hành hệ thống các thao tác trí tuệ và thực hành nghiên cứu khoa học phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh nhất định nhằm đạt mục đích nghiên cứu khoa học đề ra.

    Khi coi hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên là một loại hình hoạt động học tập đặc trưng ở đại học, hoạt động này có thể diễn ra theo các giai đoạn sau:

    • Định hướng nghiên cứu;
    • Xây dựng kế hoạch nghiên cứu;
    • Thực hiện kế hoạch nghiên cứu;
    • Kiểm tra, đánh giá kết quả nghiên cứu;
    • Báo cáo kết quả nghiên cứu.

    Khả năng nghiên cứu khoa học có mối liên hệ chặt chẽ với kết quả nghiên cứu và xa hơn nữa, đến kết quả học tập và khả năng tự học của sinh viên đại học. Do vậy, khả năng nghiên cứu khoa học trở thành loại hình kỹ năng học tập rất cơ bản mà sinh viên cần chú trọng bồi dưỡng và rèn luyện.

    3. Biện pháp thực hiện

    3.1. Sinh viên cần nắm vững kiến thức của hệ thống phương pháp học tập tích cực

    Trong quá trình học tập, việc xác định mục đích, xây dựng động cơ, lựa chọn phương pháp, hình thức tự học hợp lý là cần thiết. Song điều quan trọng là sinh viên phải có hệ thống kỹ năng tự học. Điều này có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sinh viên, bởi lẽ muốn có kỹ năng nghề nghiệp trước hết phải có kỹ năng làm việc độc lập, trên cơ sở phát huy tính tích cực nhận thức để chiếm lĩnh hệ thống tri thức. Vì tri thức là sản phẩm của hoạt động, muốn nắm vững tri thức và có tay nghề thì việc rèn luyện hệ thống kỹ năng tự học một cách thường xuyên và nghiêm túc phải được chú trọng ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường.

    Như vậy, để hoạt động học tập của sinh viên đạt chất lượng và hiệu quả, sinh viên phải có tri thức và kỹ năng tự học. Chính kỹ năng tự học là điều kiện vật chất bên trong để sinh viên biến động cơ tự học thành kết quả cụ thể và làm cho sinh viên tự tin vào bản thân mình, bồi dưỡng và phát triển hứng thú, duy trì tính tích cực nhận thức trong hoạt động tự học của họ.

    3.2. Vận dụng hệ các phương pháp tự học nêu trên vào chu trình tự học của sinh

    viên

    Đó là một chu trình ba giai đoạn:

    Giai đoạn 1- Tự nghiên cứu: Người học tự tìm tòi, quan sát, mô tả, giải thích, phát hiện vấn đề, định hướng, giải quyết vấn đề, tự tìm ra kiến thức mới (chỉ mới đối với người học) và tạo ra sản phẩm ban đầu hay sản phẩm thô có tính chất cá nhân.

    Tự nghiên cứu (1)

    Tự kiểm tra

    điều chỉnh (3)

    Tự thể hiện (2)

    Giai đoạn 2 – Tự thể hiện: Người học tự thể hiện mình bằng văn bản, bằng lời nói, tự trình bày, bảo vệ kiến thức hay sản phẩm cá nhân ban đầu của mình, tự thể hiện qua sự đối thoại, giao tiếp với các bạn và thầy, tạo ra sản phẩm có tính chất xã hội của cộng đồng lớp học.

    Giai đoạn 3 – Tự kiểm tra, tự điều chỉnh: Sau khi tự thể hiện mình qua sự hợp tác trao đổi với các bạn và thầy, sau khi thầy kết luận, người học tự kiểm tra, tự đánh giá sản phẩm ban đầu của mình, tự sửa sai, tự điều chỉnh thành sản phẩm khoa học.

    Chu trình tự nghiên cứu ® tự thể hiện® tự kiểm tra, tự điều chỉnh “thực chất cũng là con đường” phát hiện vấn đề, định hướng giải quyết, và giải quyết vấn đề của nghiên cứu khoa học.

    3.3. Rèn luyện phương pháp tự học phải trở thành một mục tiêu học tập của sinh

    viên

    Tự học có ý nghĩa to lớn đối với bản thân sinh viên để hoàn thành nhiệm vụ học tập của họ đối với chất lượng, hiệu quả của quá trình dạy học – đào tạo trong nhà trường. Tự học là sự thể hiện đầy đủ nhất vai trò chủ thể trong quá trình nhận thức của sinh viên. Trong quá trình đó, người học hoàn toàn chủ động và độc lập, tự lực tìm tòi, khám phá để lĩnh hội tri thức dưới sự chỉ đạo, điều khiển của giáo viên.

    Để phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của mình, sinh viên cần tự rèn luyện phương pháp tự học, đây không chỉ là một phương pháp nâng cao hiệu quả học tập mà là một mục tiêu quan trọng của học tập. Có như vậy thì phương pháp tự học mới thực sự là cầu nối

    giữa học tập và nghiên cứu khoa học. Phương pháp tự học sẽ trở thành cốt lõi của phương pháp học tập.

    4. Kết luận

    Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cùng với sự bùng nổ của công nghệ thông tin, của những tri thức mới, sự tăng lên gấp bội của sáng tạo công nghệ và kỹ thuật, sự mở rộng của các ngành nghề… đòi hỏi con người phải có năng lực tự học, tự đào tạo để thích ứng.

    Trong quá trình học tập ở trường đại học của sinh viên thì tự học, tự nghiên cứu là rất quan trọng và cái ranh giới học tập – nghiên cứu khoa học là gần gũi, khó phân định. Nhưng để học tốt, nghiên cứu khoa học có hiệu quả thì sinh viên cần khai thác và quan tâm đúng mức về vai trò “cầu nối” của phương pháp tự học.

    TÀI LIỆU THAM KHẢO

    • Đặng Quốc Bảo, Nguyễn Đắc Hưng, Giáo dục Việt Nam hướng tới tương lai vấn đề và giải pháp, Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2004.
    • Nguyễn Nghĩa Dán, Vì năng lực tự học sáng tạo của học sinh, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/ 1998.
    • Đặng Vũ Hoạt, Một số nét về thực trạng, phương pháp dạy học đại học, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 1/ 1994.
    • Phạm Trọng Luận, Về khái niệm “Học sinh là trung tâm”, Tạp chí “Nghiên cứu Giáo dục”, số 2/ 1995.
    • Thái Duy Tuyên, Giáo dục học hiện đại – Những vấn đề cơ bản, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội, 2001.

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC  “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%80-T%C3%80I-NGHI%C3%8AN-C%E1%BB%A8U-KHOA-H%E1%BB%8CC-PH%C6%AF%C6%A0NG-PH%C3%81P-H%E1%BB%8CC-C%E1%BB%A6A-SINH-VI%C3%8AN-C%C3%81C-NG%C3%80NH-KINH-T%E1%BA%BE-V%C3%80-QU%E1%BA%A2N-TR%E1%BB%8A-KINH-DOANH.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC “PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QUẢN TRỊ KINH DOANH”

    LỜI MỞ ĐẦU

    Mỗi năm các trường khối kinh tế đào tạo được khoảng 50-60.000 cử nhân, họ đang là những nhân tố bổ sung nhân lực cho nền kinh tế đang trong giai đoạn phát triển mạnh mẽ.  Theo đánh giá của các nhà tuyển dụng thì chất lượng nguồn nhân lực này vẫn còn yếu và kém. Mà nguồn lực cụ thể ở đây chính là sinh viên vừa mới tốt nghiệp. Khi nói đến sinh viên, người ta liền nghĩ đến khía cạnh học tập. Vì thế chân dung của sinh viên phải được phác họa qua thái độ học tập của họ. Tuy nhiên, cần phải nhìn nhận rằng một bộ phận không nhỏ sinh viên ngày nay đang thật sự gặp bế tắc về phương pháp học tập. Đặc biệt với sinh viên khối ngành kinh tế, lượng kiến thức nắm bắt cần phải nhiều, đa dạng trên nhiều mặt của đời sống, đòi hỏi tính thực tiễn cao. Vậy làm thế nào để xây dựng lại một phương pháp học tập thật hiệu quả cho sinh viên khối ngành kinh tế phù hợp với thời đại và trên hết là làm tiền đề xây dựng thế và lực mới cho đất nước sau này? Phương pháp học tập là kỹ năng đòi hỏi rèn luyện lâu dài thông qua quá trình học và tự học chứ không thể truyền thụ một cách đơn giản, ngắn gọn bằng một khóa học. Chẳng hạn không thể qua một lớp huấn luyện viết mà sinh viên có thể viết tốt tiểu luận. Muốn được như vậy, anh ta nhất thiết phải qua một quá trình viết đi viết lại các tiểu luận khác nhau và được sửa chữa đối chiếu thì mới hình thành nên một lối viết vững vàng. Phương pháp học là một hệ thống những kỹ năng mang tính cá nhân cao. Tính cá nhân ở đây bị chi phối bởi nhân cách, mục đích học, tương quan của cá nhân đó với môi trường xã hội. Đây là yếu tố làm cho phương pháp học không thể rập khuôn từ người này sang người khác. Tuy vậy về mặt lý thuyết chung chúng ta vẫn có thể đưa ra phương pháp học cụ thể để sinh viên có thể áp dụng. Với vai trò là một sinh viên tôi tập hợp những phương pháp học ở Đại học, lồng ghép cụ thể vào sinh viên khối ngành kinh tế với mục đích nhằm mang lại cho các bạn sinh viên kinh tế một phương pháp học tập hiệu quả cao. Là lần đầu tiên làm đề tài nghiên cứu khoa học nên chắc chắn còn mắc phải nhiều sai sót, mong nhận được ý kiến phê bình, đóng góp của quý thầy cô và các bạn sinh viên.

                                                                                               

     

     

    TÓM TẮT THUYẾT MINH ĐỀ TÀI

    1.  Tính cấp thiết và mục tiêu của đề tài nghiên cứu

    Với yêu cầu đào tạo của giáo dục đại học khác với giáo dục phổ thông cho nên đặt ra nhiệm vụ học tập nặng nề hơn so với phổ thông. Điều này đòi hỏi sinh viên phải có phương pháp, có động cơ, thái độ đúng đắn, khoa học. Một bộ phận không nhỏ sinh viên đã có những biểu hiện không tốt trong học tập như: Trốn học không đi học thường xuyên, tới lúc thi thì chỉ mượn tập các bạn chăm chỉ photo. Cách học thụ động, đối phó, lười suy nghĩ và phát biểu không phát huy được tính năng động, sáng tạo, tích cực của sinh viên. Nhiều sinh viên có cách học “mù quáng” là tin tuyệt đối vào sách vở mà không có sự phản biện và hoài nghi. Không thường xuyên ôn tập những kiến thức cơ bản của môn học dẫn tới không nhớ bài cũ, không tiếp thu tốt bài mới, lượng tri thức tích luỹ thấp, thi cử kém hiệu quả. Sau này ra trường đụng chạm công việc thực tế thì không nhìn nhận, phân tích, xử lý các vấn đề đặt ra một cách chính xác. Sinh viên kinh tế tham gia hoạt động nhóm và xã hội ít, làm cho khả năng tiếp thu, trau dồi kiến thức thực tiễn hạn chế. Lười đọc thêm tài liệu tham khảo, học theo kiểu “nước đến chân mới nhảy”, “học ngày không đủ tranh thủ học đêm”, nhồi nhét và không tiêu hoá được kiến thức. Không có thời gian để suy ngẫm, liên hệ vận dụng thực tế, phát triển kiến thức của mình.

    Mục tiêu là đưa ra được ra phương pháp học tập các môn kinh tế áp dụng vào hai khoa: TCNH & QTKD và Kinh tế & Kế toán giúp sinh viên làm quen với việc tự học và tự định hướng việc học của mình, tự tìm tòi tài liệu chủ động lên kế hoạch cho bản thân, chủ động thảo luận về bài học với bạn bè và giảng viên nhằm đạt kết quả cao trong học tập cũng như việc nắm bắt thực tiễn, có những kỹ năng thực tế nhất định, nhằm vào việc đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực của các doanh nghiệp và của cả xã hội.

    2.  Nội dung nghiên cứu và tiến độ thực hiện

    Nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết về phương pháp học tập ở đại học. Thực hiện cuộc khảo sát và tiến hành phân tích, đánh giá về phương pháp học tập của sinh viên ở Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán. Đưa ra đặc điểm  của sinh viên kinh tế và đặc thù riêng về các môn học kinh tế và ứng dụng lý thuyết về phương pháp học Đại học vào sinh viên khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.

    Thực hiện khảo sát, lấy số liệu thống kê từ Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán để ứng dụng phương pháp học ở đại học đưa ra phương pháp học các môn kinh tế. Quá trình thực hiện từ khảo sát đến đưa ra phương pháp chung được tiến hành từ cuối học kỳ I đi đến hoàn thành đề tài nghiên cứu vào cuối tháng 4 năm 2010.

    Tiến độ thực hiện

    Nội dung công việc Thời gian thực hiện Kết quả dự kiến
    1. Xây dựng thuyết minh đề tài Từ đầu 01/2010 đến giữa 01/2010 Bản thuyết minh chi tiết của đề tài
    2. Thu thập tài liệu,phân tích, đánh giá và xây dựng báo cáo tổng quan về hiện trạng của đề tài nghiên cứu Từ giữa 01/2010 đến cuối 01/2010 – Bảng số liệu

     

    – Báo cáo tổng quan về hiện trạng của đề tài nghiên cứu

    3.Phần nghiên cứu lí thuyết về từng nội dung cụ thể của đề tài Từ đầu 02/2010 đến giữa 02/2010 Báo cáo về kết quả nghiên cứu lý thuyết chung
    4. Kiểm tra, thử nghiệm đánh giá kết quả (nêu phương pháp, cách thức đánh giá kết quả tạo ra)

     

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp đánh giá

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp phân tích

    – Kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp tổng hợp

    Từ giữa 02/2010

     

    đến giữa 04/2010

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp đánh giá

     

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp phân tích

    – Bản báo cáo về kiểm tra chỉ tiêu bằng phương pháp tổng hợp

    5. Viết báo cáo tổng kết đề tài (theo biểu mẫu) Từ giữa 04/2010 đến kề cuối 04/2010 Bản báo cáo tổng kết
    6. Chuẩn bị bảo vệ và bảo vệ đề tài Cuối 04/2010  

     

    3.  Đối tượng nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu

    Đối tượng nghiên cứu: thông tin lý thuyết về phương pháp học ở đại học, những đặc điểm cơ bản và đặc thù của các môn chuyên ngành kinh tế, phương pháp học của sinh viên Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán, trường Đại học Quy Nhơn.

    Phương pháp nghiên cứu: 1) Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu sẵn có từ các nguồn tài liệu liên quan đến đề tài về phương pháp học ở đại học, 2) Phương pháp điều tra xã hội học: Phương pháp này được thực hiện ở Khoa TCNH – QTKD và Khoa Kinh tế – Kế toán, đại học Quy Nhơn về kết quả học tập và tình hình phương pháp học, 3) Nghiên cứu trường hợp điển hình (case study): Phương pháp này được sử dụng nhằm tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn cũng như những kinh nghiệm mà những sinh viên khá giỏi đã gặp khi vận dụng một vài phương pháp học đại học, 4) Đánh giá, phân tích, tổng hợp kết quả tìm kiếm, khảo sát, ứng dụng lý thuyết, 5) Phương pháp khảo nghiệm và thử nghiệm: Đánh giá tính khả thi và cần thiết của các giải pháp đã đề xuất.

    4.  Sản phẩm của đề tài nghiên cứu và ứng dụng

    Kết quả nghiên cứu là phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD đạt hiệu quả, thầy cô các bộ môn kinh tế xem xét, hoàn thiện các giải pháp đưa ra, góp phần nâng cao hơn, ứng dụng vào sinh viên các ngành kinh tế và QTKD.

     

     

    KẾT CẤU ĐỀ TÀI GỒM 3 CHƯƠNG:

    CHƯƠNG  1:

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC Ở ĐẠI HỌC

    CHƯƠNG 2:

    THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QTKD, ĐẠI HỌC QUY NHƠN

    CHƯƠNG 3:

    CHƯƠNG  1

    NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN

    VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC Ở ĐẠI HỌC

    1.1  Giáo dục đại học – Sự khác biệt so với giáo dục phổ thông

    Trường đại học là nơi lý tưởng nhất để phát huy những khả năng của con người, giúp chúng ta thu thập thêm nhiều kiến thức chuyên sâu và cả những kinh nghiệm quý báu. Sinh viên là những công dân bình đẳng trước pháp luật tự chịu trách nhiệm với bản thân vì vậy có sự thay đổi lớn về cách thức học tập, nghiên cứu. Sự thay đổi lớn đó chính là sự tác động từ môi trường: Không bị ràng buộc nhiều về nề nếp, nội dung và phương pháp học tập mới, học tập gắn với thực tiễn nghề nghiệp, bạn học là đồng nghiệp tương lai, sống tập thể – tự lực – xa gia đình. Đối với cấp học phổ thông, phương pháp thường thấy là chủ yếu thầy cô giảng và đọc cho học sinh ghi chép, ít có giờ thảo luận và trao đổi trong quá trình học. Ở đại học: Các thầy cô giáo chỉ đóng vai trò là người hướng dẫn sinh viên tìm kiếm tài liệu và nghiên cứu, những lời giảng của các thầy cô chỉ mang tính chất gợi ý, và hướng dẫn sinh viên thảo luận, tự nghiên cứu viết tiểu luận… còn chủ yếu dựa vào khả năng tự tiếp thu, tự nghiên cứu và sử lý kiến thức của sinh viên đối với bài học đó. Chính vì sự khác nhau đó mà làm cho rất nhiều bạn sinh viên rất bỡ ngỡ trong việc xác định và tìm kiếm một số phương pháp học hiệu quả nhất cho mình. Một số đặc điểm cơ bản cụ thể của sinh viên đại học là:

    Tự quản lý

    Điểm khác biệt lớn nhất đó là sinh viên phải tự mình lên kế hoạch học tập cho bản thân. Sẽ không có giáo viên kèm cặp mỗi ngày, phải đến lớp, mượn tài liệu, đọc bài, vào thư viện, tìm kiếm thông tin…Thời gian và không gian làm những việc đó đều được tự quyết định, thành công hay thất bại, kết quả ra sao cũng chính sinh viên tự chịu trách nhiệm. Thế nhưng điểm tích cực của cách học này là sinh viên sẽ tìm ra được phương pháp thích hợp nhất với năng lực bản thân, cũng như sắp xếp lịch học sao cho đảm bảo được khối lượng bài vở không quá nặng nề.

    Tự kiểm soát

    Sinh viên có trách nhiệm với những gì họ chọn lựa: môn học, thời gian, nghề nghiệp hướng đến… Những lời khuyên cũng nên lắng nghe, nhưng hơn cả, chính họ mới là người quyết định áp dụng lời khuyên nào, áp dụng ra sao và vào thời điểm nào. Và cũng chỉ bản thân những sinh viên mới kiểm soát được mức độ tập trung của mình trong mỗi môn học, luôn duy trì tâm trạng và niềm yêu thích với những gì mình đã chọn lựa. Phải chắc rằng mình là người nắm vững điểm mạnh, điểm yếu của mình nhất, chứ không nên để bị tác động bởi nhân tố bên ngoài.

    Lên kế hoạch cá nhân

    Trường đại học là nơi lý tưởng nhất để phát huy những khả năng tiềm ẩn, giúp sinh viên thu thập thêm nhiều kiến thức chuyên sâu và cả những kinh nghiệm quý báu. Dù vậy, rất nhiều sinh viên nghĩ rằng vào đại học là để sau này dễ xin việc. Điều đó đúng nhưng chưa đủ. Nhà tuyển dụng chú ý một bảng điểm tốt, nhưng điều làm họ quan tâm hơn nữa, đó là khả năng hoạt động thực tế của sinh viên. Đừng mãi lên kế hoạch về những môn học, hãy lên kế hoạch cho những hoạt động tình nguyện, những chương trình liên kết, hội thi, công việc part-time… Từ những hoạt động đó, sinh viên rút ra được kinh nghiệm và kĩ năng cần thiết cho công việc sau này như kĩ năng làm việc nhóm, tư duy phản biện, nói trước đám đông, giải quyết vấn đề…đó mới là những gì mà nhà tuyển dụng đánh giá cao.

    Học cách ghi chép hữu ích

    Không phải cứ chép y nguyên lời giảng của giảng viên là thành công. Điều các bạn sinh viên cần ở đây là một cuốn sổ tay nhỏ, và cố gắng ghi chép lại những điều cần chú ý, những việc cần làm và những điều cần tránh. Vì sao vậy? Vì sẽ thấy hối tiếc khi mất thời gian, tiền bạc và công sức học lại, thi lại chỉ vì quên mất hạn nộp bài, đề tài, những tư liệu phục vụ kì thi, ngày giờ thi… Đừng bao giờ để sót những thông tin dạng như vậy.

    Tìm kiếm thông tin

    Thường có tâm lý ỷ lại vào sự trợ giúp của giảng viên và đó là họ đang sai lầm lớn. Phần lớn giảng viên đều cung cấp tư liệu cần đọc cho sinh viên, nhưng điều đó không có nghĩa là cứ ngồi đó chờ đến lúc gần thi mới đi tìm. Vì mỗi tài liệu ở thư viện đều chỉ có một hoặc vài bản lưu, do đó nếu có người mượn trước thì bạn rắc rối to. Để tránh tình trạng dở khóc dở cười này cần phải lên kế hoạch mượn tài liệu trước rồi photo ngay, lên danh sách những thư viện hoặc những địa điểm có thể mượn sách khác, và nếu quá khó thì Internet là một công cụ cực kì hữu dụng. Hiện nay có nhiều giảng viên đánh giá năng lực của sinh viên thông qua khả năng tự tìm kiếm và sàng lọc thông tin của họ, vì chỉ có bản thân người học mới nhận diện được thứ gì họ có thể tiếp thu được mà thôi.

    Sự nỗ lực

    Khi tự học, cần phải luôn giữ cho bản thân tập trung và có động lực. Tuy nhiên không phải lúc nào điều này cũng có thể thực hiện. Có nhiều lúc các bạn sinh viên thấy động lực của mình thay đổi, cũng như mục đích học bị lung lay. Điều này cũng là tự nhiên, vì không có thứ gì ổn định mãi mãi được. Nhưng quan trọng hơn cả là các bạn nhận ra được giá trị trong việc mình đang làm, các bạn sẽ đạt được gì trong tương lai sau khi tốt nghiệp. Nỗ lực hết mình không phải vì cái đích, mà là cho hành trình xây dựng bản thân các bạn được trọn vẹn hơn.

    1.2 Bối cảnh phát triển của giáo dục đại học

    Sự bùng nổ dân số gây ra hệ quả Giáo dục đại học chuyển từ đào tạo “tinh hoa” sang đào tạo “đại trà”, cụ thể nhiều hệ Đại học được mở ra “vừa học vừa làm” , “đào tạo từ xa”, “từ xa qua mạng”, “văn bằng hai”, “liên thông”,… Bên cạnh đó nguồn lực đào tạo cũng còn hạn chế, số lượng Giáo sư, Tiến sĩ trong một trường Đại học còn ít dẫn đến chất lượng đào tạo Đại học chưa thực sự đạt yêu cầu như mong muốn. Thực tế này cho thấy việc tự học để đạt chuẩn kiến thức ở sinh viên Đại học là điều hết sức cần thiết.

    Sự bùng nổ thông tin. Tri thức của loài người trong thế kỷ qua, tính trung bình cứ sau 7 năm thì tăng gấp đôi. Vì vậy, sau 4 năm đại học, kiến thức của 2 năm đầu lạc hậu 50%. Bước vào thế kỷ 21, loài người bước vào nền văn minh thông tin:  Mọi hoạt động của từng người và từng tổ chức xã hội đều gồm 3 bước theo thứ tự: 1.Thu thập thông tin, 2.Xử lý thông tin, 3.Ra quyết định hoạt động hoặc giải quyết vấn đề. Đó cũng chính là mục tiêu của Giáo dục của thế kỷ 21 trong đó Giáo dục đại học phải đào tạo ở trình độ cao 3 năng lực này. Sự bùng nổ thông tin đã làm đảo lộn mục tiêu giáo dục truyền thống, đặc biệt là mục tiêu giáo dục đại học mà cốt lõi là chuyển từ chủ yếu đào tạo kiến thức và kỹ năng sang chủ yếu đào tạo năng lực. Điểm này cũng đã dẫn đến làm cho từng người chúng ta không chỉ học khi còn đi học mà còn học cả khi đã đi làm và lúc đã nghỉ hưu – học suốt đời, tạo dựng nên một xã hội học tập.

    Sự bùng nổ tiến bộ khoa học kỹ thuật đã làm: tăng lượng thông tin theo cấp số nhân, nhu cầu thông tin của mỗi người, mỗi tổ chức tăng theo cấp số mũ, tốc độ truyền tin tăng lên theo luỹ thừa của luỹ thừa. Những tiến bộ khoa học và công nghệ thông tin (tin học và viễn thông) đang làm thay đổi phương pháp dạy và phương pháp học đại học một cách sâu sắc. Cụ thể là sự thay đổi về phương pháp dạy của giảng viên tuy nhiên còn bộ phận sinh viên chưa thích nghi và sự thay đổi lớn về phương pháp học.

    Hệ quả của các bùng nổ này đã làm đảo lộn giáo dục Đại học: chuyển từ lấy việc dạy làm trọng tâm sang lấy việc học làm trọng tâm, chuyển từ việc chú trọng dạy kiến thức- kỹ năng sang chú trọng dạy năng lực, chuyển từ việc đào tạo tập trung sang đào tạo không tập trung, chuyển từ quản lý tập trung sang quản lý tự chủ.

    Các phẩm chất và năng lực hiện đại của sinh viên. Theo tiêu chuẩn của Hiệp hội các trường đại học thế giới thì sinh viên phải là những người: Có sự sáng tạo và thích ứng cao trong mọi hoàn cảnh chứ không chỉ học để đảm bảo tính chuẩn mực. Có khả năng thích ứng với công việc mới chứ không chỉ trung thành với một chỗ làm duy nhất. Biết vận dụng những tư tưởng mới chứ không chỉ biết tuân thủ những điều đã được định sẵn. Biết đặt những câu hỏi đúng chứ không chỉ biết áp dụng những lời giải đúng. Có kỹ năng làm việc theo nhóm, bình đẳng trong công việc chứ không tuân thủ theo sự phân bậc quyền uy. Có hoài bão để trở thành những nhà khoa học lớn, các nhà doanh nghiệp giỏi, các nhà lãnh đạo xuất sắc chứ không chỉ trở thành những người làm công ăn lương. Có năng lực tìm kiếm và sử dụng thông tin chứ không chỉ áp dụng những kiến thức đã biết. Biết kết luận, phân tích đánh giá chứ không chỉ thuần tuý chấp nhận. Biết nhìn nhận quá khứ và hướng tới tương lai. Biết tư duy chứ không chỉ là người học thuộc. Biết dự báo, thích ứng chứ không chỉ phản ứng thụ động. Chấp nhận sự đa dạng chứ không chỉ tuân thủ điều đơn nhất.

    1.3  Học tập – các thang bậc của quá trình nhận thức

    Theo Bloom, học tập là một quá trình nhận thức gồm 6 cấp độ sau: 1.Biết: ghi nhớ các sự kiện, thuật ngữ và các nguyên lý dưới hình thức mà sinh viên đã được học. 2.Hiểu: hiểu các tư liệu đã được học, sinh viên phải có khả năng diễn giải, mô tả tóm tắt thông tin thu nhận được. 3.Áp dụng: áp dụng được các thông tin, kiến thức vào tình huống khác với tình huống đã học. 4.Phân tích: biết tách từ tổng thể thành bộ phận và biết rõ sự liên hệ giữa các thành phần đó đối với nhau theo cấu trúc của chúng. 5.Tổng hợp: biết kết hợp các bộ phận thành một tổng thể mới từ tổng thể ban đầu.  6.Đánh giá: biết so sánh, phê phán, chọn lọc, quyết định và đánh giá trên cơ sở các tiêu chí xác định.

    Năng lực tư duy: tối thiểu có thể chia thành 4 cấp độ như sau: 1.Tư duy logic: suy luận theo một chuỗi có tuần tự, có khoa học và có hệ thống. 2.Tư duy trừu tượng: suy luận một cách khái quát hoá, tổng quát hoá vượt ra khỏi khuôn khổ có sẵn. 3.Tư duy phê phán: suy luận một cách hệ thống, có nhận xét, có phê phán. 4.Tư duy sáng tạo: suy luận các vấn đề một cách mở rộng và ngoài các khuôn khổ định sẵn, tạo ra những cái mới.

    1.4      Mục tiêu của phương pháp học ở đại học

    Tìm tòi những phương pháp học nhanh, hiệu quả là vấn đề mà đa số sinh viên từ khi bước vào giảng đường cho đến trong suốt quá trình học tập đều trăn trở, băn khoăn bởi mục tiêu và yêu cầu đào tạo của Đại học nặng hơn so với phổ thông. Phương pháp dạy học ngày nay cũng đang bắt đầu chuyển từ lấy người dạy làm trung tâm sang người học làm trung tâm. Sự thay đổi về phương pháp giảng dạy yêu cầu người học phải thay đổi thích ứng. Thế nhưng, thực tế hiện nay đa số sinh viên đều không tìm được một phương pháp học tập hiệu quả. Điều này ảnh hưởng không nhỏ tới trình độ sinh viên, chất lượng đào tạo của nhà trường không đáp ứng được  yêu cầu của thị trường lao động trong quá trình Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa và hội nhập quốc tế. Nguyên nhân vì đâu ?

    Phương pháp học ở Đại học được thực hiện với mục tiêu là trang bị cho sinh viên kiến thức về các mô hình học tập khác nhau có thể áp dụng được ở bậc Đại học, huấn luyện cho sinh viên làm quen với việc tự học, tự tìm tòi tài liệu, chủ động lên kế hoạch cho bản thân cũng như chủ động thảo luận về bài học với bạn bè và giảng viên.

        1.5  Bí quyết học tốt và chuẩn bị thành đạt

    Giới thiệu phương pháp học tập và đọc tích cực SQ3R

    Mô tả:

    Có rất nhiều người trong chúng ta không thể nhớ nổi nội dung của một cuốn sách, một bài báo, một tài liệu cần thiết cho công việc của mình. Chúng ta quên béng mất nội dung của tài liệu chỉ sau vài giờ đồng hồ đọc chúng. Chính do quá trình quên nhanh chóng các nội dung quan trọng này, chúng ta thường không thể kết nối kiến thức, không thể thành công trong các kỳ thi và không thể hoàn thành tốt công việc của chính bản thân mình.

    Nguyên nhân:

    Do trong quá trình đọc tài liệu, chúng ta đọc một cách “thụ động”. Cặp mắt của chúng ta vẫn lướt trên tài liệu, nhưng bộ não của chúng ta lại đang nhảy múa với những ý tưởng khác hoặc hờ hững với nội dung của tài liệu. Hoặc học sinh của chúng ta đọc “ra rả” bài học nhưng ngay lúc ấy trí não của các em không hề “nhúc nhích”, nói cách khác, các em đang dùng các biện pháp “cơ học”, “cưỡng bức” để bộ não phải ghi nhớ, nhưng “chữ thầy vẫn trả cho thầy”. Theo các điều tra về tâm lý và hoạt động của não bộ, chúng ta sẽ nhớ lâu hơn khi chúng ta chú tâm một cách tích cực và hiểu rõ nội dung mà tài liệu đang trình bày.

    Giải pháp:

    Có rất nhiều phương pháp, kỹ thuật để giúp chúng ta học tập hiệu quả hoặc đọc tích cực một tài liệu, Phương pháp SQ3R (Francis Robinson, 1970) là một kỹ thuật hữu hiệu nhằm giúp chúng ta nắm hết toàn bộ nội dung thông tin của một tài liệu, một quyển sách, … thông qua việc làm cho ta phải chú tâm đọc tài liệu một cách tích cực. Phương pháp này được nhiều trường đại học trên thế giới khuyến khích các sinh viên sử dụng để nâng cao hiệu quả học tập, nghiên cứu. Các chữ cái SQ3R là từ viết tắt của các kỹ thuật mà chúng ta sẽ sử dụng liên tiếp để đạt đến mục đích cuối cùng là nắm toàn bộ nội dung của tài liệu.

    Các bước tiến hành:

    Survey (Khảo sát): Thu thập các thông tin cần thiết để tập trung và hình thành các mục đích khi đọc. Trước khi đọc bất kỳ tài liệu nào, hãy dành vài phút ban đầu để xem xét tổng quát tài liệu bằng cách xem qua mục lục, các tiêu đề của chương, các tựa đề, phần tóm tắt, phần mở đầu, phần kết luận … Chú ý những bảng biểu, đồ thị, hình vẽ trong sách. Hãy cố gắng đưa ra ý kiến liệu rằng tài liệu hay cuốn sách này có giúp ích gì cho bạn không? Nếu cảm thấy rằng nó không có ích lợi gì cho bạn, hãy lựa chọn một cuốn sách khác.

    Việc xem xét tổng quát tài liệu sẽ giúp chúng ta:- Có một khái niệm ban đầu và sự quen thuộc với nội dung sắp sửa đọc.- Cho phép ta ước lượng thời gian cần thiết để đọc tài liệu.- Khi đọc toàn bộ nội dung tài liệu, chúng ta sẽ thông hiểu tài liệu gấp đôi.

    Question (Đặt câu hỏi): làm cho não của bạn bắt đầu hoạt động và tập trung bằng cách dựng lên một loạt câu hỏi làm “khung sườn” cho nội dung. Chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật 5W1H để tạo ra các câu hỏi hoặc sử dụng ngay các câu hỏi do giáo viên đưa ra, câu hỏi ở đầu chương của sách…Đặt ra các câu hỏi trước khi bắt đầu đọc thật sự, sẽ giúp chúng ta có chủ đích khi tiến hành đọc tài liệu.

    Read (Đọc): lắp thông tin vào cấu trúc mà bạn đã dựng lên. Tiến hành đọc tài liệu. Trong quá trình đọc, hãy cố gắng tập trung tìm kiếm các chi tiết nhằm giúp ta trả lời những câu hỏi đã đặt ra. Khi đọc, chúng ta có thể sử dụng kỹ thuật mindmap để ghi chú các chi tiết.

    Recite (Thuật lại): như tên gọi của nó: “thuật lại”, ở bước này chúng ta giúp não bộ tập trung ghi nhớ về nội dung vừa xem bằng cách thuật lại, diễn giải nội dung đã đọc bằng chính ngôn ngữ của bản thân. Nếu cần thiết, hãy viết ra các diễn giải hay các câu trả lời bằng chính suy nghĩ, diễn đạt của mình. Nếu có thể, hãy đọc hay diễn tả lại nội dung vừa xem bằng cách nói lớn tiếng. Hãy tưởng tượng, bạn đang phải trình bày lại nội dung của cuốn sách, bài báo vừa xem cho 1000 khán giả trước mặt, trong một khán phòng rộng lớn, những khán giả này đang chăm chú lắng nghe từng lời diễn tả của bạn. Điều quan trọng ở bước này là phải dùng chính ngôn ngữ của mình để thuật lại hay diễn tả lại. Nếu chúng ta đang ở nơi đông người và không muốn làm ảnh hưởng đến người khác thì chúng ta hãy nhắc lại một cách thì thầm. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng chúng ta có xu hướng quên đến 80% nội dung mà mình đã đọc sau 2 tuần lễ. Nhưng nếu chúng ta tiến hành bước “thuật lại”, thì chúng ta chỉ quên có 20% với cùng thời gian 2 tuần.

    Review (Xem lại): bước cuối cùng này theo đúng tinh thần mà ông bà chúng ta đã nhắc nhở: “Văn ôn, Võ luyện”. Vào ngày hôm sau, tuần sau, hãy thử quay lại quyển sách đã đọc và xem thử bạn nhớ được và có thể thuật lại bằng chính từ ngữ của bạn bao nhiêu về nội dung. Ở bước này, chúng ta chỉ nhìn lướt lại quyển sách đã đọc, các câu trả lời đã hoàn thành, các câu hỏi đã đặt ra và thử xem bạn có thể trả lời chúng một cách trôi chảy hay không. Nếu không, hãy làm lại các bước trên. Bước cuối cùng này giúp cho nội dung được làm mới và ghi nhớ lâu hơn trong trí óc của chúng ta.

    Một vài chuẩn bị cho sự thành đạt của sinh viên:

    • Xây dựng mục tiêu và kế hoạch học tậ
    • Định hướng nghề nghiệ
    • Rèn luyện kỹ năng xã hộ
    • Tự tin trong học tập và cuộc số
    • Phương pháp học tập chủ động & tích cự
    • Ngoại ngữ và CNTT là chìa khóa.
    • Mạng Internet là phương tiện hiệu quả.
    • Khai thác tốt mọi nguồn lự

        1.6  Phương pháp học ở đại học

           Lý thuyết về cách học ở ĐH

    Học cách thức đi tới sự hiểu biết. Coi trọng sự khám phá và khai phá trong học thuật. Học kỹ năng thực hành và thái độ thực tiễn trong nghề nghiệp. Học phong cách độc lập, sáng tạo, linh hoạt trong nhận thức và hành động. Biết mềm hoá tư duy và tuỳ cơ ứng biến. Học phương pháp nghiên cứu đi từ phân tích đối tượng và mô trường để tìm giải pháp đồng bộ giải quyết những tình huống đa chiều. Nhiều trường đại học cho thấy có một tỉ lệ cao sinh viên không hứng  thú  trong  các  bài  giảng. Có lẽ đây cũng chỉ là một phát hiện mới về một điều mà chúng ta đã biết rất rõ từ lâu nay rồi. Nói cách khác là chất lượng giáo dục đại học hiện nay ở nước ta đang gặp  nhiều vấn đề mà đó chỉ là một biểu hiện như phần nổi của cả tảng băng chìm.

    Vấn đề đặt ra là vậy thì đâu là nguyên nhân chán học của sinh viên. Trong số các nguyên nhân khác nhau chắc chắn có việc sinh viên chưa xác định được đúng đắn các mục tiêu làm động cơ tự  thân cho việc học của mình. Mặt khác, nội dung và phương pháp đào tạo đại học của chúng ta cũng chưa phù hợp. Hơn nữa, mỗi  giáo viên cũng chưa thực sự trang bị được cho mình những kỹ năng cần  thiết để  lôi cuốn sinh viên học tập. Chính vì thế mà chúng ta vẫn chưa thu hút được sinh viên nhi ệt tình học tập nhằm tạo ra hiệu quả tốt hơn cho quá trình đào tạo. Do vậy, trong nh ững việc phải làm để thu hút sinh viên tích cực thì trước hết phải giúp họ xác định được học tập là mục tiêu tự thân, đồng thời giáo viên phải đổi mới phương pháp giảng dạy và trau dồi những kỹ năng sư phạm cần thiết.

    Xác định học tập là mục tiêu tự thân

    Các nhà giáo, trước khi dạy tri thức, rèn luyện kỹ năng, phải dạy cho người học biết rằng: Học tập là mục tiêu tự thân (Đỗ Quốc Bảo, 2008). Chỉ khi nào sinh viên tự xác định được và nhà trường giúp sinh viên xác định được những mục tiêu học tập đúng đắn cho chính họ làm động cơ tự thân thì họ mới tích cực nổ lực học tập. Vậy thì mục tiêu học tập mà chúng ta cần hướng cho sinh viên là gì để thu hut được họ nhiệt tình học tập? Theo UNESCO (1996) các mục tiêu trụ cột của việc học trong thời đại ngày nay là “h ọc để biết, học để làm, học để chung sống với nhau và học để tồn tại”. Có sự liên quan gì giữa những mục tiêu học tập này với sự nhiệt tình học tập của người học?

    Học để biết (learning to know)

    Học trước tiên để hiểu biết (learn to know) và là mục tiêu truyền thống của việc học. Khi người học khao khát muốn biết thì sẽ say sưa học tập để tìm kiếm kiến thức. Chính vì thế mà các nền giáo dục tiên tiến như giáo dục Mỹ đang dày công giúp cho học sinh, sinh viên có “khuynh hướng muốn biết”. Giáo dục Thái Lan đặt cũng ra mục tiêu “giúp cho học sinh khao khát tìm kiếm tri thức mới, khám phá bản thân và cuộc sống”.

    Tuy nhiên, kiến thức nhân loại, dù trong một lĩnh vực chuyên môn hẹp, không ngừng được cập nhật và trong xã hội đầy biến động làm sao một con người có thể hiểu biết hết tất cả những gì xung quanh và sử dụng lượng kiến thức học được ở trường đại học trong một số năm để tác động vào thực  tiễn? Cách duy nhất là học để không  ngừng cập nhật kiến thức trong suốt cuộc đời (life-long learning) (Trần Lê Hữu Nghĩa, 2008). Do vậy, cái biết quan trọng nhất của người học là để biết cách học (knowing how to learn), đặc biệt là cách tự học. Nói cách khác, dạy học không chỉ lấy việc  thuyết giảng nhằm  trang bị kiến thức cho học viên  làm nhiệm vụ cơ bản mà phải tạo cơ hội cho người học chủ động  tích cực trong việc tìm kiếm kiến thức theo những cách thức nhất định (phương pháp học) và vận dụng những kiến thức đã học được để tiếp tục học. Rõ ràng sinh viên làm các bài tập toán với mục đích cụ thể là tìm ra đáp số cho bài toán, nhưng có lẽ không ai nhớ được và cũng không cần nhớ để làm gì những đáp số đó. Mục tiêu của việc làm bài tập đó là để biết được cách giải toán, để hiểu và vận dụng những nguyên lý toán học cho việc tiếp tục học được các môn học sau.

    Học để biết quan trọng nữa là biết sử dụng các phương tiện để giúp học tập có hiệu quả cao. Trong số các phương  tiện cần học nhất  trong  thời đại  toàn cầu hoá và bùng nổ thông tin hiện này thì phải là ngoại ngữ (mà quang trọng nhất là tiếng Anh) và tin học. Khi sinh viên chủ động sử dụng được ngoại ngữ và tin học thì chắc chắn họ cũng say mê học tập hơn vì họ tiếp cận được thông tin không hạn chế của nhân loại một cách có hiệu quả hơn.

    Học để làm (learning to do)

    Khi người học xác định được việc học là để trang bị cho mình năng lực làm việc với một nghề nghiệp đã được được định hướng  (theo chương  trình đào tạo) thì người học sẽ học nhằm có được những kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp cần thiết. Khi xác định được mục tiêu này thì người học sẽ say sưa học tập, học không vì mục đich đối phó thi cử hay bằng cấp mà học vì mục đích làm việc trong cả cuôc đời. Về khía cạch này thì học đại học cũng giống như học lái xe, mục đích của việc học lái xe không phải là để lấy bằng lái (mặc dù đó là yêu cầu bắt buộc phải có) mà cơ bản là để sau này biết lái xe mà không nguy hiểm đến tính mạng. Do vậy, khi h ọc lái xe không ai lại không tích cực học cả vì người học đều nhận thức rõ đó là học cho chính mình và học để làm (lái xe) thực sự.

    Tuy nhiên, học ở đại học còn phải nhằm mục tiêu xa hơn nữa là học để biết sáng tạo (learning to be creative). Học tập đối với sinh viên đôi khi chỉ vì sự thúc ép của gia đình, hoặc chỉ đơn thuần là để lấy tấm bằng vì sĩ diện, vì kiếm công ăn việc làm mà thiếu hẳn sự say mê vươn tới đỉnh cao tri thức và sáng tạo và vì thế mà thiếu đi sự đam mê. Khi có mục tiêu vươn tới đỉnh cao tri thức và sáng tạo thì sinh viên mới say mê trong học tập. Chính vì thế giáo dục Nhật Bản đặt ra mục tiêu “Đào tạo một lớp người mới đầy năng lực sáng tạo có khả năng khám phá và thích  ứng nhanh chóng với xã hội thông tin”.  Một khi người học không khát khao sáng tạo thì sẽ không tự giác, nỗ lực và say sưa trong học tập. Một sinh viên ngành giống cây trồng chẳng hạn chắc chắn sẽ say mê học tập nếu có khát khao và tin rằng rằng sau này mình sẽ tạo ra được những giống cây trồng mới có giá trị cao cho thực tiễn sản xuất.

    Học để chung sống (learning to live together)

    Vì thế giới ngày càng xích l ại gần nhau, mỗi cá nhân là một mắt xích trong xã hội và phụ thuộc lẫn nhau cho nên bản thân mỗi cá nhân không chỉ học cho riêng mình mà còn học cho cả cộng đồng, học lẫn nhau, để làm việc với nhau và để chung sống với nhau. Khía niệm học để chung sống nhấn mạnh vào việc phát triển sự hiểu biết, quan tâm và tôn trọng người khác, kể cả niềm tin, giá trị và văn hoá riêng của họ. Điều này được coi là sẽ tạo cơ sở cho việc tránh được xung đột, giải quyết mọ vấn đề không bằng bạo lực và chung sống hoà bình với nhau. Hơn thế nữa, điều này cũng có nghĩa là thừa nhận sự khác biệt của nhau và sự đa dạng như  là cơ hội,  là nguồn lực có giá  trị để khai  thác vì mục  tiêu chung, chứ không phải là mối đe doạ. Chính vì vậy nhiều nước đang tìm những cách khác nhau nhằm khuyến khích việc học để chung sống. Khi người học xác định được mục tiêu này thì ngoài việc học để lấy kiến thức và kỹ năng để làm việc thì họ sẽ thấy cần phải và hứng thú học với  nhau, học cách học cùng  nhau để phát  triển khả năng chung sống  và  làm việc cùng nhau sau này. Đó là một động cơ để sinh viên nhi ết tình học tập.

    Học để tồn tại (learning to be)

    Xã hội luôn luôn biến đổi, kiến thức nhân  loại luôn luôn bùng nổ, trong xã hội hiện đại ai muốn tự khảng định mình, muốn tồn tại được bình đẳng với mọi người thì không thể không học tập. Học tập không ngừng trong suốt cuộc đời là con đường mà mỗi người phải xây cho mình tồn tại được trong xã hội học tập ngày nay mà đất nước nào cũng đang xây dựng. Đây cũng chính là điều mà mỗi sinh viên phải ý thức được để lấy việc học làm động cơ tự  thân cho chính mình, từ đó mới say mê học, học cho chính sự tồn tại của bản thân mình.

    Trong quá trình học tập, sinh viên thường rơi vào một trong những rắc rối sau: Thứ nhất, không thể áp dụng tính năng động của bản thân vào những trường hợp vô cùng đơn giản, hay nói một cách khác, đây là tuýp người luôn quan trọng hóa vấn đề, biến cái đơn giản nhất thành cái khó nhất và ngược lại, một vấn đề khó ư? Chuyện nhỏ, đối với họ chẳng là gì. Kiểu thứ hai là mẫu người luôn tự đẩy mình vào tình trạng không biết phải phân bố thời gian thế nào cho hợp lý để có thể học hết khối lượng kiến thức dày đặc. Và cả kiểu thứ ba, thứ tư… nữa chứ. Sinh viên cần có những phương pháp học tập có hiệu quả, sau đây là một vài phương pháp:

    1.6.1 Phương pháp tìm đọc tài liệu và ghi nhớ tốt

    Phương pháp đọc có cân nhắc: Đề tài của bài đọc, hoặc quyển sách bạn đang đọc là gì? Vấn đề nào đang được nêu ra? Tác giả đã kết luận gì về vấn đề ấy? Những lý do nào được đưa ra để chứng minh cho quan điểm của tác giả? Người viết dùng sự thật, lý thuyết hay niềm tin của bản thân? Sự thật có thể được chứng minh. Lý thuyết còn đang cần được chứng minh, không nên nhầm lẫn với sự thật. Ý kiến có thể có hoặc không được xây dựng trên cơ sở lập luận vững chắc. Bản thân niềm tin không cần được chứng minh. Tác giả dùng từ trung lập hay có xen lẫn cảm xúc cá nhân? Người đọc biết cân nhắc là người có cái nhìn xuyên thấu bề mặt ngôn từ, để thẩm định lý lẽ bên trong. Khi quyết định chấp nhận hay không chấp nhận ý kiến của người viết, cần củng cố quyết định của mình bằng những lý do xác đáng. Những đặc điểm của người đọc có cân nhắc: Trung thực với bản thân, tránh sự chi phối, biết vượt qua vướng mắc, đặt câu hỏi, xây dựng phán đoán trên bằng chứng cụ thể, tìm mối quan hệ nối kết các sự việc, có tư duy độc lập.

    Phương pháp đọc tài liệu

    Trước khi đọc

    Một đề tài nghiên cứu khoa học nghiêm túc đòi hỏi người nghiên cứu phải đọc nhiều tài liệu tham khảo liên quan đến chủ đề đang quan tâm, một cách có chiến lược và hiệu quả. Do đó, điều cần làm đầu tiên khi có một tài liệu không phải là lao vào đọc chăm chú từ đầu tới cuối, mà là… một vài phút chuẩn bị (!). Tự đặt những câu hỏi để xác định rõ ràng mục đích đọc tài liệu, đánh giá sơ bộ tài liệu cần đọc trước khi đi vào từng chi tiết. Động cơ đọc tài liệu? – Giải trí, tìm hiểu tổng quát, tìm hiểu chuyên sâu, tìm một định nghĩa, làm sáng tỏ một vấn đề,… Vấn đề nào cần quan tâm? – Đó là những khía cạnh của vấn đề đã được xác định trong quá trình lựa chọn đề tài nghiên cứu, chủ đề cần tìm hiểu. Những thắc mắc đang cần tìm câu trả lời? Kiểu thông tin nào đang cần có? – Số liệu thống kê, kết quả nghiên cứu, hình ảnh minh hoạ, báo cáo tổng hợp,…Nhớ rõ mục đích đọc tài liệu rồi, vẫn chưa đến lúc đọc ngay mọi chi tiết! Nên đọc lướt qua toàn bộ tài liệu để đánh giá sơ bộ nội dung và đại ý tác giả muốn trình bày. Đôi khi, giai đoạn này còn giúp xác định mức độ phù hợp của tài liệu với nhu cầu đề tài, để quyết định đi vào chi tiết hay bỏ qua tài liệu. Ở thời điểm này, nên xem kĩ nội dung phần tóm tắt của tài liệu, đọc các đề mục chính và phụ trong bài để tạo một mối liên hệ chung giữa toàn bộ các khái niệm quan trọng, các từ khoá mô tả phạm vi giới hạn và trọng tâm của tài liệu.

    Trong khi đọc

    Sau khi đã làm xong bước chuẩn bị và đánh giá sơ bộ, mới đến lúc bắt đầu đọc thực sự. Hiệu quả đọc phụ thuộc vào phương pháp đọc (và phương pháp đọc phụ thuộc vào quá trình rèn luyện lâu dài), vào trình độ ngôn ngữ cả trong tiếng mẹ đẻ và tiếng nước ngoài, và vào khả năng lĩnh hội kiến thức chuyên môn. Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác ảnh hưởng đến quá trình đọc tài liệu là mức độ yêu cầu của cá nhân đối với vấn đề đang nghiên cứu.

    Có các phương pháp đọc thường gặp nhất là: 1.đọc định vị: đọc lướt qua tài liệu để tìm các thông tin chính xác, một mẩu trích dẫn, khái quát các yếu tố liên quan,…  đòi hỏi xác định rõ mục đích đọc ngay từ đầu; 2.đọc gạn lọc: chỉ đọc những gì quan trọng, cốt lõi, mới mẻ, hấp dẫn nhất, chỉ đọc tựa, các tựa phụ, đoạn đầu và đoạn cuối, câu đầu và câu cuối của các đoạn khác, ghi nhớ các ý chính; chú ý đặc biệt đến những từ nối quan trọng tạo mối liên hệ trong lập luận suốt toàn bài; không đọc các chi tiết nhỏ cụ thể; 3.đọc chéo: đọc nhanh qua tất cả các trang, đoạn văn bản mà không chú ý vào một điểm cụ thể nào trong bài; phù hợp với những tài liệu chỉ cung cấp các thông tin cơ bản, phổ thông, không đòi hỏi nhiều kiến thức chuyên môn sâu; 4.đọc bình thường: mức độ đúng… bình thường như vẫn gọi là “đọc”, tức đọc lần lượt toàn bộ văn bản, có thể nhanh hay chậm tuỳ khả năng, tiếp nhận thông tin một cách bình thường trong quá trình đọc mà không đòi hỏi một sự tập trung cao độ với nhiều thao tác tư duy phức tạp, và thông thường không đủ để đáp ứng yêu cầu cao khi đọc tài liệu khoa học; 5.đọc tích cực: là phương pháp đọc hiểu quả nhất, bằng cách:  ghi chú, đánh dấu các ý chính, tóm tắt toàn bộ tài liệu hoặc các phần quan trọng, biết lĩnh hội kiến thức, tiêu hoá thông tin một cách chủ động, có chọn lọc, đánh giá, so sánh, liên hệ giữa các ý, các tài liệu, các tác giả khác nhau nhằm đưa ra một cái nhìn phân tích/tổng hợp/phê bình đối với mọi tài liệu và thông tin khoa học.

    Sau khi đọc

    Sau khi đọc xong, cần kiểm tra, đối chiếu lại những gì thu được với các mục đích ban đầu. Có đáp ứng các yêu cầu chuyên môn đặt ra chưa? Có đạt được mục đích định ra ban đầu chưa? Có giải đáp được những thắc mắc cần tìm câu trả lời chưa? Và từ đó, xác định là đã hoàn tất việc đọc tài liệu, hay cần phải đọc lại, hay cần phải đọc mở rộng thêm trong các tài liệu khác…Có vài điều lưu ý sau đây khi đọc tài liệu: bỏ qua ngay những tài liệu có khoảng cách rất xa với đề tài hoặc chủ đề quan tâm; không nên đọc ngay những tài liệu có tính chuyên môn rất cao, đòi hỏi phải có trước những hiểu biết sâu sắc nhất định về các vấn đề được trình bày, mà cần chuẩn bị trước các kiến thức nền đó qua các tài liệu cơ bản hơn.

     

    Để ghi nhớ tốt

    Trí nhớ là yếu tố nền tảng của tư duy. Có khả năng ghi nhớ tốt bạn sẽ có rất nhiều nguồn dữ liệu tham khảo để cho ra ý tưởng xuất sắc. Nắm được các phương pháp ghi nhớ còn giúp bạn có cách diễn đạt thông điệp phù hợp.

    Tưởng tượng và liên tưởng

    Hình ảnh và âm thanh có tác động mạnh lên trí não. Do đó, để ghi nhớ những thông tin quá trừu tượng hoặc thiên về kỹ thuật, bạn tưởng tượng hoặc gắn chúng với một hình ảnh, âm thanh nào đó. Ví dụ: một quy trình sản xuất sẽ được ghi nhớ tốt hơn nếu được minh họa bằng hình ảnh, sơ đồ thay vì chỉ có chữ viết và con số.

    Kết nối

    Phương pháp này sẽ giúp bạn ghi nhớ một loạt những thông tin có liên quan với nhau. Ví dụ: Để ghi nhớ tên, thứ tự các cung Hoàng đạo, bạn có thể hình dung ra một bức tranh với đầy đủ các con vật biểu trưng cùng những hành động của chúng. Con cừu đực (cung Dương Cửu) húc đầu vào con bò đực (cung Kim Ngưu), trên lưng bò đực là chị em sinh đôi (cung Song Sinh) cầm con cua (cung Cự Giải),…

    Định vị

    Đây là cách sử dụng những thứ tự của riêng bạn (thứ tự đồ vật trong nhà bạn, thứ tự các bộ phận cơ thể,…) và liên kết chúng với những thông tin cần ghi nhớ. Ví dụ: Trong một buổi truyết trình, bạn sẽ dễ dàng nhớ lại thứ tự nội dung trình bày của mình bằng cách gán chúng với những vật trong phòng làm việc theo hướng từ cửa đi vào. Rèn luyện: vẽ và đánh số thứ tự từ 1 đến 20 các đồ vật trong phòng bạn.

    Chiến lược cầu vồng

    Phương pháp này chủ yếu áp dụng khi trong từng chủ đề thông tin có nhiều đề mục nhỏ hơn. Khi đó từng chủ đề lớn sẽ được gán với màu sắc trên cầu vồng và các mục nhỏ hơn sẽ áp dụng phương pháp định vị. Bạn cũng có thể sử dụng một hình ảnh khác thay cho cầu vồng.

    Tạo ra từ ngữ mới cho riêng mình

    Những từ ngữ mới này được tạo ra bằng cách ghép những ký tự đầu của một nhóm từ ý nghĩa. Ví dụ: 5P trong kinh doanh (Product – Sản phẩm, Price – Giá, Promotion – Khuyến mãi, Place – Kênh phân phối, Post Sales – Hậu mãi), 5W (What – Why – When – Where – Who),…

    Sự gợi ý

    Gợi ý sẽ giúp trí não hồi tưởng lại thông tin, sự kiện cần phải ghi nhớ. Ví dụ: Bạn cần lập kế hoạch làm việc cho tuần sau, nhưng vì có việc nên phải ra ngoài gấp. Bạn đặt cuốn lịch ngay giữa bàn làm việc. Như vậy, khi quay lại văn phòng và nhìn thấy cuốn lịch, bạn sẽ nhớ ra cần phải làm gì.

    Học thuộc lòng

    Đây là phương pháp kém hiệu quả nhất, mặc dù chúng ta đã từng thường xuyên áp dụng khi còn trên ghế nhà trường. Điểm tích cực duy nhất của nó là giúp bạn ghi nhớ trong thời gian ngắn và cũng quên nhanh.

    1.6.2 Kỹ năng học nhóm hiệu quả

    Cộng tác trong học tập là một quá trình làm việc theo nhóm, mỗi thành viên đóng góp và giúp đỡ nhau để cùng đạt được một mục đích chung. Lớp học chính là một môi trường lý tưởng để rèn luyện kỹ năng làm việc theo nhóm mà sẽ rất cần trong cuộc sống sau này. Cộng tác trong học tập là hoạt động tương tác, là một thành viên của nhóm, mỗi sinh viên sẽ có trách nhiệm: phát triển và cùng chia sẻ một mục đích chung, đóng góp ý kiến vào việc giải quyết vấn đề, đặt ra các câu hỏi hay tìm giải pháp, tham gia, nỗ lực làm việc để hiểu quan điểm của các thành viên khác, cũng như ý kiến của họ, phát biểu và đóng góp, có trách nhiệm với các thành viên khác và họ cũng có trách nhiệm đối với người trong nhóm, quyền lợi và nghĩa vụ gắn liến chặt chẽ với mọi người và ngược lại.

    Những kĩ năng được rèn luyện trong khi làm việc nhóm là rất quan trọng cho môi trường làm việc mới sau này, đây sẽ là tiền đề để ta biết cách làm việc trong một môi trường tập thể. Làm việc nhóm có nhiều ưu điểm, nhưng không phải ai cũng đạt được kết quả cao với phương pháp học tập này, thậm chí đôi khi một số người cảm thấy nó mang nhiều tính hình thức và ít hiệu quả hơn so với làm việc theo cá nhân. Vậy nguyên nhân vì sao? Câu trả lời là:

    Thứ nhất, một số còn coi bài tập nhóm là công việc của tập thể nên thường có tâm lí “không phải việc của mình”, ai cũng trừ mình ra. Và kết quả là “cha chung không ai khóc”.

    Thứ hai, do làm việc theo nhóm nên sự hợp tác là rất quan trọng, đòi hỏi sự tự giác của từng thành viên trong nhóm. Nếu một thành viên trong nhóm không làm việc như đã phân công sẽ dẫn đến công việc của nhóm bị ngưng trệ.

    Thứ ba, sự phân công công việc không rõ ràng. Đôi khi một thành viên trong nhóm phải đảm nhiệm quá nhiều công việc, trong khi có thành viên không có việc để làm, kết quả là sự bất hợp tác.

    Các nguyên tắc làm việc nhóm

    Tạo sự đồng thuận

    Những buổi họp là cách thức tuyệt hảo để bổi đắp tinh thần đồng đội và thói quen làm việc theo nhóm ngay từ lúc đầu mới thành lập nhóm. Những loạt buổi họp giúp các thành viên mới làm quen với nhau, tạo sự nhất trí về các mục tiêu được giao cùng các vấn đề cần giải quyết về mặt tổ chức.

    Những điểm cần ghi nhớ: Mọi thành viên của nhóm cần thống nhất về việc phải nhắm tới. Các mục tiêu chỉ ổn định khi đã bàn thảo xong các biện pháp thực hiện. Mặc dù các thành viên của nhóm cần được định hình các mục tiêu, nhưng nên phổ biến các mục tiêu cho các hội viên nắm. Để đạt được những kết quả cao nhất, các mục tiêu còn phải được thử thách bằng cách kết hợp giữa những mục tiếu chung và mục tiêu riêng.

    Tһiết lập các mối quan hệ với ban quản trị

    Mọi nhóm cần có sự hỗ trợ của đôi ngũ thâm niên ở cơ quan chủ quản. Ba mối quan hệ chủ yếu mà nhóm cần tới là: Người bảo trợ chính của nhóm. Người đầu ngành hoặc phòng ban có liên quan. Và bất kỳ ai quản lý tài chính của nhóm.

    Khuyến khích óc sáng tạo

    Nhiều người trở thành những kẻ chỉ biết làm theo kinh nghiệm và tính cách riêng của họ. Hãy phá thế thụ động ấy và tạo tính sáng tạo.  Đừng để nhóm của bạn bị phân lớp thành những con người chuyên sáng tạo và những kẻ thụ động. Muốn vậy, bạn luôn biết hoan nghênh tính đa dạng của các quan điểm và ý tưởng, để rồi lái buổi tranh luận đi đến chỗ thống nhất.

    Phát sinh những ý kiến mới

    Việc có được những sáng kiến đòi hỏi có ngýời lãnh đạo và cần một hình thức tổ chức nào đó, để kết quả buổi họp có thể mở ra một hướng đi. Mọi ý kiến cần được ghi chép lên biểu đồ hay bảng để mọi người có thể nhìn thấy. Sau đó, loại bỏ nhũng ý kiến bất khả thi và tóm tắt những ý khả thi. Những điểm cần ghi nhớ: Phương pháp vận dụng trí tuệ tập thể đôi khi được gọi là “tư duy hành động nhóm”. Sự chỉ trích làm giảm óc sáng tạo. Đừng bao giờ miệt thị ý kiến nào trong buổi họp. Nhiều ý kiến tưởng chừng ngớ ngẩn lại có thể đưa đến những giải pháp đáng giá. Cần ghi mọi ý kiến lên bảng cho dù đấy chưa hẳn là ý kiến độc đáo. Những ý kiến sáng tạo trong những buổi họp bao giờ cũng cao hơn ý kiến của một cá nhân đưa ra.

    Học cách ủy thác

    Sự ủy thác cói hai hình thức: ủy thác công việc và ủy thác quyền hành. Ủy thác công việc là phân nhỏ mỗi kế hoạch thành các phần việc riêng và với mục tiêu riêng, rồi phân chúng cho các thành viên của nhóm. Sau đó, phó mặc cho họ và chỉ can thiệp khi không đạt mục tiêu. Việc ủy thác quyền hành là sau khi tham khảo ý kiến, trao cho người được ủy quyền đầy đủ quyền và để họ được hành xử nó. Khi ủy thác, cần nhận diện các loại đặc tính khi ủy thác: Có khả năng muốn thực hiện: Đây là trường hợp ta gặp người được ủy nhiệm lý tưởng, sẵn lòng nhận trách nhiệm và cũng sẵn lòng tham khảo ý kiến người khác, thực hiện theo ý khi được ủy nhiệm. Có khả năng không muốn thực hiện: Loại người này không sẵn lòng học hỏi và tiếp thu ý kiến của người khác, thiếu tinh thần hợp tác, không nên giao quyền cho họ. Thiếu khả năng muốn thực hiện: Cần được đào tạo bổ khuyết những mặt yếu trước khi được ủy nhiệm. Thiếu khả năng, không muốn thực hiện: Giao việc cho loại người này hẳn là hỏng to.

    Khuyến khích mọi người phát biểu

    Người lãnh đạo cần động viên mọi người bàn thảo, ngay cả với ý kiến nghịch lại cũng có giá trị của nó.

    Chia sẻ trách nhiệm

    Bổ sung các cách thức hành động, giám sát tiến độ, sáng tạo, có tính xây dựng khi hoạt động nhóm gặp trở ngại tạm thời. Cũng cần tạo bầu không khí thông hiểu nhau giữa các thành viên nhất thông tin về tiến độ và những thay đổi đường lối làm việc.

    Cần linh hoạt

    Mỗi thành viên phải có khả năng thực hiện vai trò của mình chí ít cũng như người khác. Mỗi người phải được phân nhiệm để hành động chủ động trong nhóm. Dù việc khó đến đâu nhưng nếu có sự đồng lòng của toàn nhóm thì đều có thể hoàn thành. Mọi người đều được phân nhiệm rõ ràng tử đầu đến cuối. Mọi người đều được khuyến khích làm theo phương cách hiệu quả nhất của mình.

    1.6.3 Xây dựng môi trường học tập – phưong pháp học ở nhà

    Môi trường học tập

    Không nhất thiết phải đẹp, đầy đủ thật sự tiện nghi nhưng góc học tập thuận tiện sẽ giúp cho việc học được dễ dàng hơn. Có thể học ở bất kỳ nơi nào, mặc dù rõ ràng có một số nơi thuận lợi hơn cho việc học. Thư viện, phòng đọc sách, phòng riêng là tốt nhất. Quan trọng là nơi đó không làm phân tán sự tập trung. Cho nên hãy làm cho việc lựa chọn nơi học thích hợp trở thành một phần của thói quen học tập. Không gian học tập cần có sự yên tĩnh nhất định để tránh bị phân tâm trong quá trình học. Môi trường làm việc độc lập gần như đối lập với môi trường làm việc nhóm vì vậy cần nhìn nhận ưu, nhược điểm của mình trong tưng môi trường mà chon cách học phù hợp và môi trương thích nghi. Nhưng nhìn chung dù chọn hình thức học tập nào thì cũng cần chọn môi trường tránh ít sự tác đọng bên ngoài nhất. Có như vậy mới luyện được khả năng tập trung bài cao độ, khi có được khả năng này rồi sẽ dễ dàng tích nghi với nhiều môi trường học tập khác nhau; ngay cả nhưng nơi có tiếng ồn. Xây dựng một môi trường học tập hợp lý sẽ giúp nâng cao hiệu quả học tập lên nhiều lần.

    Phưong pháp học ở nhà

    Sau những giờ tiếp nhận kiến thức bài mới trên lớp do thầy giáo truyền thụ, nhiệm vụ tiếp theo của học sinh là về nhà tự học, bao gồm ôn lại lý thuyết, giải bài tập, rèn luyện kỹ năng xử lý các tình huống khó khi gặp một bài toán hóc búa, một phản ứng hóa học phức tạp hay hiện tượng vật lý thú vị…

    Cần tìm một chỗ yên tĩnh, tránh tiếng ồn. Nên chọn một thời gian học cố định và tạo cho mình thói quen học thời gian đó. Ngoài ra, cần có lịch học thật hợp lý, kết hợp giữa học tập và giải trí như có thể một bản nhạc nhẹ nhàng, hoặc một bài tập thể dục. Nếu học phải phần khó hiểu thì để lại, học những phần khác dễ hiểu hơn, sau khi thư giãn, thoải mái thì học tiếp.

    1.6.4 Kỹ năng lập kế hoạch học tập

    Nhiều sinh viên cho rằng chỉ cần cố gắng học là có thể đạt kết quả tốt, nhưng thật ra, học ở Đại học khác với học ở trung học rất nhiều, và biết cách học có hiệu quả ở Đại học là một điều quan trọng mà có khi chưa được chú ý đúng mức. Hệ quả của phương pháp học không tốt là lãng phí thời gian, thành tích học tập kém, thậm chí thi rớt dẫn đến chán nản, thất vọng và bất mãn. Học đối với sinh viên là cuộc sống, là tương lai. Vậy nên thời gian học tập vô cùng quý giá, không thể lãng phí được. Do đó, hãy tạo và phát triển nơi mình một kĩ năng học tập có hiệu quả.

    Lập kế hoạch học tập là điều cần thiết:

    Trước khi làm bất cứ chuyện gì, nên lập kế hoạch. Nếu không có kế hoạch thì không làm chủ được thời gian, nhất là khi có điều gì bất trắc xảy đến. Một kế hoạch học tập tốt cũng giống như chiếc phao cứu hộ vậy. Mỗi người, tùy vào nhu cầu của mình, sẽ lập một kế hoạch học tập riêng, kế hoạch đó có thể thay đổi khi cần, nhưng điều quan trọng là phải tuân thủ kế hoạch đã đề ra.

    Kế hoạch học tập giúp quản lý thời gian:

    Bất cứ ai cũng có 168 giờ mỗi tuần, nhưng có người sử dụng quỹ thời gian đó có hiệu quả hơn người khác. Sinh viên có rất nhiều thứ để làm, hãy liệt kê tất cả công việc cho từng ngày ( ngủ, chưng diện, đi lại, ăn uống, kiếm tiền, đi chơi, tham gia công tác đoàn thể, xã hội, thể thao…) sau đó, nếu cảm thấy còn ít hơn 30 giờ mỗi tuần để tự học thì hãy kiểm điểm lại xem tại sao mình phí thời gian như vậy.

    Khi nào nên học tập:

    Nói chung chỉ nên học lúc chúng ta thoải mái, minh mẫn, vào đúng khoảng thời gian đã lên kế hoạch để học. Nguyên tắc là không học trong vòng 30 phút sau khi ăn, và trước khi đi ngủ, không học ngốn vào giờ chót  trước khi đến lớp.

    Học cho giờ lý thuyết:

    Nếu học trước để chuẩn bị cho giờ lên lớp, cần đọc tất cả những tài liệu, cần đọc trước và ghi chú thích những điểm chưa hiểu. Nếu học sau giờ lên lớp, cần chú ý xem lại những thông tin ghi chép được.

    Học cho giờ cần phát biểu, trả bài:

    Nên dùng khoảng thời gian ngay trước các giờ học này để luyện tập kỹ năng phát biểu với các học viên khác (nếu cần). Điều này sẽ giúp hoàn thiện kỹ năng phát biểu.

    Sửa đổi kế hoạch học tập:

    Đừng lo ngại khi phải sửa đổi kế hoạch. Thật sự kế hoạch chỉ là cách dự tính sẽ dùng quỹ thời gian của mình như thế nào, cho nên một khi kế hoạch không hiệu quả, ta có thể sửa đổi nó. Nên nhớ rằng, việc lập kế hoạch là giúp có thói quen học tốt hơn và khi đó việc lập kế hoạch sẽ trở nên dễ dàng hơn.

    Học phải có định hướng, phải biết mình học gì, có những bài kiểm tra lớn, nhỏ, đề tài quan trọng như thế nào để vạch kế hoạch thực hiện. Cần chủ động trong việc sắp xếp lịch học hợp lý, cân đối giữa việc học, làm thêm và giải trí.

    1.6.5 Phương pháp học tập trên lớp

    Nghe giảng: Để tập trung nghe giảng nắm được bài ngay trên lớp không phải là một việc đơn giản và dễ dàng. Hơn nữa, việc tập trung được hay không đôi khi còn phụ thuộc vào thầy giáo, bài giảng hay các nguyên nhân chủ quan khác. Chỉ có cách phải luyện tập, tránh để bản thân bị phân tâm. Tốt nhất nên chọn vị trí gần thầy cô, vừa có thể nghe rõ hơn, vừa có khả năng ít nói chuyện. Việc phát biểu hay đặc câu hỏi cho thầy cô giáo cũng là một cách khiến chúng ta tập trung hơn. Để phát biểu tốt thì hãy ghi những câu nhận xét hay phát biểu vào một tờ giấy trước khi phát biểu. Ghi chép: Cần phải viết nhanh hơn, dùng nhiều ký tự viết tắt hơn. Không cần phải ghi tất cả những gì thầy cô nói. Hãy dành thời gian để nghe các thầy cô giải thích kĩ hơn về định nghĩa, khái niệm, cách chứng minh… Chỉ ghi chép những gì mà chúng ta chưa biết, những điều quan trọng mà sách không có. Ngoài ra, vở của người bạn học sẽ là tài liệu hữu ích vì có thể lúc đãng trí bỏ sót một chi tiết quan trọng trong bài giảng.

    Vấn đề nghe giảng ở lớp: đừng thắc mắc tại sao thầy cô cứ nhắc đi nhắc lại vấn đề này. Vì nó là điều kiện đầu tiên giúp bạn trong việc học bài ở nhà sau đó. Bạn nghĩ: “Ðã là học sinh thì khi đến lớp ai mà không chú tâm nghe giảng cần chi phải nhắc hoài!”. Không đâu bạn. Nếu tất cả các bạn đều “chú tâm nghe giảng” thì tôi có thể quả quyết với bạn rằng: Hầu hết những học sinh ấy đều là những học sinh giỏi. Bài giảng họ tiếp thu tốt thì tất nhiên sẽ học bài mau thuộc. Nhưng nếu tất cả như vậy, chắc chắn tôi sẽ không viết quyển sách này.

    Vậy thái độ nghe giảng của các bạn phải ra sao? Bạn cũng có thể nhìn lên bục giảng, nhìn thầy cô chăm chú, tưởng chừng như bạn đã “nuốt” từng lời giảng của thầy cô vậy. Nhưng nếu bạn không có nghe gì cả, mà thầy cô hỏi bạn một câu, chắc chắn bạn sẽ lúng túng ngay. Phải, bạn sẽ không thể đáp lại câu hỏi của thầy cô một cách chính xác được. Và như vậy là bạn đã “nhìn” chứ bạn có “nghe” đâu. Ðầu óc bạn mơ màng, bạn đang ngồi ở lớp mà nghĩ tới những cuộc chơi ở xa. Nào là chiều nay sẽ đi hồ bơi, đi đánh quần vợt, bóng chuyền… các bạn nữ thì mơ tưởng đến cuộc họp mặt nào đó.v.v…

    Nói chung, bạn đang nhìn thầy cô mà hồn bạn đang “lang thang” một cuộc viễn du nào đó chứ không có tại lớp. Thầy cô thì khản tiếng, hết nước bọt để trình bày bài dạy của mình, những mong học sinh hiểu sâu, hiểu rộng mà nào được có mấy ai chịu khó nghe! Bạn phải biết rằng bạn đang ở trong lớp học, và bạn đang có nhiệm vụ “nghe giảng bài”. Bạn phải xác định như vậy mới gạt phăng mọi vấn đề khác để tập trung cho việc nghe giảng bài. Nếu như bạn không chú tâm nghe giảng thì đâu phải bạn có động cơ đi học. Mà động cơ học tập thì đúng là điều rất quan trọng của tuổi trẻ. Vậy bạn phải tự hỏi mình. Ta đến lớp để làm gì? Học, học thì phải nghe lời giảng của thầy cô. Nếu không, bạn chỉ có tiếng đi học, mang danh là một học sinh, nhưng kỳ thực không phải là học sinh. Vì một học sinh thì phải biết học, chăm học và học giỏi nữa. Chịu bao lao nhọc để đặt kỳ vọng nơi bạn, vậy mà bạn nỡ phụ lòng ba mẹ bạn sao? Dù sau này bạn là ai, bất cứ địa vị nào trong xã hội, mà tuổi trẻ bạn chây lười trong học tập là bạn đã mắc nợ với đời. Trước nhất là cha mẹ. Sau đến là thầy cô và cuối cùng là với xã hội. Vì bạn sống trong lòng xã hội là bạn phải có trách nhiệm phục vụ xã hội. Ai làm ra những phẩm vật cho xã hội? Con người. Muốn làm một con đường phải có kỹ sư tính toán. Cái áo bạn mặc, quyển vở bạn đọc đều do tay con người làm ra. Bệnh tật, bạn cần bác sĩ và viên thuốc bạn uống cũng cần dược sĩ bào chế. Nhưng tất cả những thành phần đó là ai? Do đâu mà họ được như vậy? Tất cả cũng phải học và họ cũng đã trải qua quá trình gian lao để ngày nay có được công thành danh toại đó,nhằm góp bàn tay xây dựng và kiến tạo xã hội. Ðó cũng có thể gọi là “trả nợ áo cơm”, hoàn thành nghĩa vụ đối với xã hội… Ngay bây giờ, còn trẻ đến lớp mà bạn không học thì lớn lên bạn sẽ góp phần gì cho xã hộ? Chắc bạn đã từng nghe câu: “Trẻ mà không học, già sẽ ân hận” rồi chứ?

    1.6.8 Thư giãn – giảm Stress

    Nhiều học sinh, sinh viên, vì các lý do khác nhau, luôn cảm thấy bị stress trong học tập. Để đối phó một cách có hiệu quả với stress, chúng ta cần phát hiện những nguyên nhân gây ra stress và có phương pháp để giảm stress. Dưới đây là một vài biện pháp tích cực mà các bạn có thể thực hành để giảm stress trong học tập:

    Luyện tập thân thể thường xuyên: Bạn sẽ giảm được những áp lực căng thẳng nhờ luyện tập thân thể thường xuyên. Việc luyện tập là một cách thức có lợi nhất để thư giãn và làm dịu những cơn căng thẳng. Một thể chất khoẻ khoắn luôn tạo điều kiện cho một tâm trí thông suốt, đủ sức để bạn làm việc và học tập mỗi ngày.

    Ăn uống điều độ: Mỗi ngày, nên ăn uống điều độ và đầy đủ chất dinh dưỡng. Tránh dùng quá nhiều chất ngọt, nhiều đường, chất béo, vì những chất này có nguy cơ gây tăng huyết áp, làm cơ thể giảm khả năng đối phó với stress.

    Mỗi ngày, có một khoảng thời gian để thư giãn: Bạn có thể thực hành ít nhất một kỹ thuật thư giãn nào đó, chẳng hạn : nghe nhạc du dương, êm dịu; hô hấp sâu; trầm tư mặc tưởng;…

    Gặp gỡ những người bạn yêu thích: Cố gắng tham gia những nhóm, câu lạc bộ phù hợp với bạn, nơi bạn có thể cùng theo đuổi và chia sẻ những sở thích và các mối quan tâm với các bạn khác, chẳng hạn: sở thích văn chương, sở thích âm nhạc, sưu tầm tem, đàm thoại ngoại ngữ,…

    Tránh dùng những chất kích thích: Các chất cafein, cồn, nicotin có thể nhất thời làm bạn cảm thấy thích thú, nhưng về lâu dài, những chất này có khuynh hướng làm tăng stresss.

    Tâm sự nỗi buồn với người thân quen: Bất cứ ai cũng có những nỗi lo buồn không thể tránh khỏi trong cuộc sống. Do đó, nếu có chuyện gì quá buồn, bạn cũng nên tâm sự với người thân, những người mà bạn có thể tin tưởng được, họ sẽ chia sẻ và đưa ra cho bạn những lời khuyên hữu ích. Tuy nhiên, không phải lúc nào bạn cũng tâm sự mọi chuyện với bất kỳ ai. Có nhiều trường hợp, sức mạnh ý chí đòi hỏi bạn phải can đảm im lặng và tự mình vượt qua mọi buồn khổ.

    1.6.9 Kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra

    Học thi: Cần giữ sức khỏe.

    Học sinh chuẩn bị bước vào kỳ thi cần giữ sức khỏe, đáp ứng đầy đủ các chất dinh dưỡng, tạo trạng thái tâm lý tốt và đặc biệt là không để bị áp lực gây căng thẳng. Không nên áp đặt lên kết quả thi cử, chẳng hạn như: “Phải thi đạt cho được loại giỏi, phải thi đỗ…”, đừng quá quan tâm đến những gì người khác nghĩ mà chỉ nên cố gắng làm thế nào để đạt kết quả cao nhất theo khả năng của mình. Sau đây là những cách giúp bạn có được sức khỏe và tinh thần tốt nhất để đạt kết quả cao trong các kỳ thi.

    Giữ gìn sức khỏe.

    Việc cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng là điều cực kỳ quan trọng vì trong thời gian ôn thi, học tập với cường độ cao, cơ thể tiêu hao nhiều năng lượng. Ở giai đoạn này, các bạn cần tăng cường các loại thức ăn giàu chất dinh dưỡng như thịt, cá, tôm, cua… cùng các loại rau xanh, củ, quả. Bên cạnh đó, các bạn nên uống từ 2 đến 3 ly sữa mỗi ngày. Có vậy, sức khỏe mới được đảm bảo và việc học tập cũng hiệu quả hơn. Thức ăn đem lại nguồn dinh dưỡng quý giá cho sức khỏe nhưng nếu không bảo đảm vệ sinh thì trở thành mầm mống của nhiều bệnh tật. Để nâng cao sức khỏe và giúp bữa ăn ngon hơn, hấp dẫn hơn, cần chú ý đến nguyên tắc ba sạch: vệ sinh cá nhân, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, nhất là trong mùa nắng nóng.

    Nên ngủ đủ giấc 7 – 8 giờ mỗi ngày. Buổi trưa dù bận cách mấy cũng nên chợp mắt ít nhất nửa giờ vì người ta nhận thấy giấc ngủ buổi trưa dù ngắn nhưng sẽ giúp ích rất nhiều cho sự tiếp thu kiến thức vào buổi chiều và tạo sự sảng khoái trong học tập.

    Ngoài ra, việc dùng thuốc tăng cường bồi bổ trí nhớ đối với người bình thường là không cần thiết và không nên sử dụng. Bởi vì, những lợi ích của các loại “thuốc giúp thông minh” này thường đã bị thổi phồng và quảng cáo quá mức. Các thử nghiệm cho thấy những loại thuốc có thể giúp tập trung, ghi nhớ và tỉnh táo bằng cách tạo các tương tác khác nhau lên chất dẫn truyền thần kinh. Tuy nhiên, các nhà quản lý và dược sĩ đều cảnh báo về việc lạm dụng thuốc bổ óc có thể gây nhiều tác hại đối với học sinh. Một số chuyên gia tin rằng, có những loại “thuốc giúp thông minh” khi ngấm vào não sẽ gây nghiện và nguy hiểm cho não bộ về lâu dài.

    Giữ trạng thái tâm lý tốt.

    Dinh dưỡng đóng vai trò rất quan trọng để học thi, nhưng việc định hướng, sắp xếp thời khóa biểu học tập một cách khoa học, hợp lý cũng cần thiết không kém. Kinh nghiệm cho thấy, chuẩn bị bước vào mùa thi, trạng thái tâm lý của học sinh không ổn định, lo lắng, thậm chí là sợ thi nên các bạn dễ bị rối trí. Do vậy, các bạn nên sắp xếp thời gian hợp lý để chú tâm hơn vào việc học. Tránh tình trạng đầu tư thời gian vào môn này quá nhiều, môn kia lại quá ít, môn sở trường thì ham học, còn những môn không thích thì không muốn học.

    Việc học tập căng thẳng cũng tạo nên cảm giác mệt mỏi. Vì thế, thời gian ngủ của các bạn phải được đảm bảo, hoạt động vui chơi giải trí cũng không thể bỏ qua. Quãng thời gian thư giãn có thể là lúc để các bạn hồi tưởng lại những gì đã học.

    Trong trường hợp tự giải các đề thi thử, nếu có bài làm của môn nào không được như ý muốn thì hãy khoan vội thất vọng, mà hãy biết điểm còn yếu của mình để chú tâm hơn cho môn đó. Việc giữ gìn sức khỏe cho tốt, tâm lý vững vàng cũng là một cách giúp cho việc thi cử đạt kết quả cao. Vì vậy, đừng quá lo lắng và miệt mài học thi mà lơi lỏng việc chăm sóc sức khỏe của bản thân.

    Phương pháp tập đọc nhanh trong mùa thi: Đọc bằng mắt, không phát âm; tập mở rộng tầm nhìn để khi mắt lướt qua, đọc và tập nhớ lại tựa bài, những vấn đề chính yếu căn bản của bài; không học thuộc lòng mà nhớ ý là chính; cố gắng hiểu những gì đã học kể cả hỏi bạn bè, thầy cô; ghi nhớ các chi tiết gần nhau, khắc ghi những gì quan trọng nhất,  gạch dưới hoặc tô màu dễ thấy; sau khi đọc xong, dùng trí nhớ hệ thống hóa lại toàn bộ bài học, những điểm căn bản, trước khi ngủ, ôn lại một lần nữa vì trong giấc ngủ, tài liệu ôn tập dễ ghi vào bộ nhớ. Việc học thuộc lòng làm não trở nên thụ động, lười suy nghĩ .  Vì vậy, vào phòng thi, nhiều thí sinh đọc xong đề bài, bừng con mắt dậy thấy óc mình trống trơn. Vì thế, muốn tăng cường trí nhớ, học dễ nhớ lâu quên thì phải tập trung phân tích, tổng hợp bài vở kèm theo hình ảnh cụ thể để trí nhớ dễ tìm kiếm khi cần thiết.

     

    CHƯƠNG 2

    THỰC TRẠNG PHƯƠNG PHÁP HỌC CỦA SINH VIÊN

    CÁC NGÀNH KINH TẾ VÀ QTKD, ĐẠI HỌC QUY NHƠN

     2.1 Đặc điểm riêng của sinh viên khối ngành kinh tế:

    Căn cứ theo mục tiêu đào tạo, có thể tạm chia nhóm ngành kinh tế thành ba nhóm nhỏ với ba đặc điểm đào tạo khác nhau của sinh viên khối ngành kinh tế:

    Nhóm đào tạo các nhà quản lý nhà nước về kinh tế gồm các ngành: kinh tế học, kinh tế kế hoạch đầu tư, kinh tế môi trường, kinh tế quản lý công cộng, kinh tế lao động quản lý nguồn nhân lực… Tốt nghiệp các ngành này sẽ làm công tác quản lý, phân tích, hoạch định chính sách kinh tế, dự án kinh tế trong các cơ quan quản lý nhà nước. Nhóm ngành này phù hợp với những người có khả năng lãnh đạo, khả năng quản lý, thuyết phục, lập kế hoạch cũng như khả năng nghiên cứu, phân tích – tổng hợp và ra quyết định…

    Nhóm đào tạo các chuyên gia kinh tế: tài chính, kế toán, kiểm toán, ngân hàng, kinh doanh bảo hiểm… Nhóm ngành này cũng yêu cầu khả năng nghiên cứu kinh tế – tài chính, lập kế hoạch, thu thập xử lý thông tin số liệu giải quyết vấn đề liên quan đến nghiệp vụ của mình. Các ngành kế toán, kiểm toán đặc biệt yêu cầu khả năng tính toán cũng như khả năng làm việc tỉ mỉ, chính xác… Tốt nghiệp các ngành này (tùy chuyên môn cụ thể) có thể làm việc ở các doanh nghiệp, cơ sở kinh doanh, thương mại – dịch vụ, ngân hàng, tổ chức tín dụng…

    Nhóm đào tạo các nhà quản trị doanh nghiệp: quản trị kinh doanh, quản trị chất lượng, kinh doanh quốc tế, thương mại, ngoại thương, marketing… Tốt nghiệp các ngành này có khả năng phân tích thị trường, phát hiện cơ hội kinh doanh, lập kế hoạch và quản lý hoạt động doanh nghiệp (thương mại, du lịch, xuất nhập khẩu…). Nhóm ngành này yêu cầu kỹ năng làm việc theo nhóm, có khả năng quản lý, lập đề án phát triển doanh nghiệp, ra quyết định đúng đắn trong kinh doanh…

    Ngoài ba nhóm ngành trên, nhóm ngành hệ thống thông tin kinh tế với các tên gọi như: thống kê, tin học quản lý… là các ngành học gắn liền với nhu cầu của các doanh nghiệp. Họ cần những “nhà kinh tế giỏi công nghệ thông tin, nhu cầu nhân lực lớn nhưng ít người. Ngành này trang bị các kiến thức và kỹ năng ở cả hai lĩnh vực kinh doanh và công nghệ thông tin. Tốt nghiệp ngành này có thể làm các công việc: xây dựng hệ thống mạng quản lý doanh nghiệp, quản lý kinh doanh qua mạng, quản lý hệ thống thông tin trong doanh nghiệp hoặc làm việc ở lĩnh vực thu thập và phân tích số liệu, thống kê…

    Cân nhắc việc học và làm thêm sao cho hiệu quả

    Một vấn đề mà có lẽ rất nhiều sinh viên kinh tế quan tâm: làm thêm. Tìm việc làm thêm không dễ dàng nhưng cũng không phải là không thể. Tuy nhiên trong giai đoạn học thi thì nhất định không được làm thêm bất cứ công việc gì. Trong thời gian này hãy cố gắng học bài thi cho tốt để được kết quả tốt nhất. Có thể tìm việc theo ba cách: trên internet, tại sở lao động hoặc tìm tại trường đại học đang theo học.

    Sinh viên vừa làm vừa học mới là những người tiếp thụ được kiến thức nhiều nhất. Họ được học hành và cùng lúc đó là có thể duy trì được công việc và có tiền để tiêu. Tuy nhiên, đó có thể là con dao hai lưỡi, nếu bạn không cẩn thận, nó có thể hủy hoại việc học tập lẫn công việc. Dưới đây là các cách giúp sinh viên cân bằng để đạt hiệu quả tốt nhất.

    Quản lý thời gian tốt. Tự mình lên kế hoạch hàng ngày hoặc hàng tuần và hãy chắc chắn rằng phải dành thời gian nhất định cho việc học. Lựa chọn thời gian phù hợp cho việc học nhất và lên lịch. Thời gian còn lại có thể phân đều cho gia đình, bạn bè, hoạt động xã hội … Luôn nhớ rằng viêc học đối với sinh viên vẫn là quan trọng nhất. Tùy vào số lượng công việc và số giờ ngủ cần thiết mà các buổi sáng thứ Bảy và Chủ nhật có thể là sự lựa chọn tốt cho phép các bạn có thời gian rãnh rỗi dành cho gia đình, đi lễ nhà thờ, các hoạt động thể thao, và các chương trình vui chơi khác.

    Hãy năng động, tạo động lực cho mình bằng cách tạo mối liên hệ với các bạn cùng lớp. Sử dụng email để chia sẽ ý kiến và thảo luận nhóm về cách giải quyết, đáp án đốI với các bài tập được giao. Vừa học vừa làm, sẽ dễ dàng đánh mất động lực học nếu không có sự liên hệ thường xuyên với các sinh viên khác, vì thế hãy sử dụng tốt khoảng thời gian gặp bạn bè để trao đổi. Cố gắng theo kịp bài học trước hay sau khi môn học kết thúc, tuy đôi khi bạn đến lớp chỉ để điểm danh.

    Thiết lập mục tiêu và hãy tự tán thưởng cho mình khi các bạn đạt được mục tiêu đó. Đây là thói quen tự động viên rất hiệu quả. Mục tiêu cao cả là thực hiện đúng thời gian biểu vừa học vừa làm!

    Chọn một nơi yên tĩnh để học, tách bạch hoàn toàn khỏi những sự xao nhãng từ cuộc sống gia đình, như là xem ti vi, những cú điện thoạI hoặc từ các nhân viên đồng nghiệp. Hãy luôn cất giữ cuốn tập, các mẫu giấy ghi chú, máy vi tính, … chỉ ở một nơi để bạn có thể dễ dàng nhìn thấy vào và lục tìm khi cần thiết. Làm như thế sẽ làm giảm bớt sự lo lắng khi mà sau một ngày dài làm việc ở văn phòng, cửa hàng hoặc xí nghiệp là khoảng thờI gian mà bạn thực sự cảm thấy mệt mỏi

    Dọn dẹp, sắp xếp căn phòng ngăn nắp để cảm thấy dễ chịu. Thử tưởng tượng đi làm về mệt, nhìn nhà cửa bề bộn như thế thì trong đầu bạn chắc chắn sẽ chẳng hứng thú gì khi phải lôi sách vở ra học.

    Vui chơi lành mạnh. Làm việc, làm việc và làm việc sẽ góp phần làm con người bạn trở nên nhàm chán, tẻ nhạt. Vui chơi sẽ làm sảng khoái tinh thần và cho ta cảm giác yêu đời hơn. Hãy đi ra ngoài và tự thỏa mãn những sở thích của mình như coi ca nhạc, xem phim, dành cả một buổi chiều nghịch chơi với trẻ nhỏ như xếp hình, lắp ráp đồ chơi trên sàn. Đây là những giây phút đáng quý hơn bao giờ hết vì trong khi bạn đùa giỡn, đầu óc bạn sẽ được nghỉ ngơi. Một nguồn năng lượng mới được tái tạo sẽ giúp sinh viên cảm thấy hăng say hơn cho công việc sắp tới.

    Hãy tận hưởng những lợi ích khi vừa làm vừa học. Các sinh viên chỉ có học sẽ cảm thấy ganh tỵ với bạn vì họ đã không tận dụng được một cơ hội quan trọng để thúc đẩy bản thân, đó là kinh nghiệm làm việc. “Đã từng làm việc” sẽ làm tăng thêm giá trị cho tấm bằng của các bạn, bằng cách cung cấp cái nhìn tổng quan về cuộc sống thực tế và những tình huống mà có thể giúp bạn hiểu rõ các bài học trên trường tốt hơn.

    Ngay cả khi việc làm và chuyên ngành học hoàn toàn không liên quan gì đến nhau thì bạn cũng học được rất nhiều kỹ năng cần thiết cho công việc sau này như: kỹ năng sắp xếp công việc, kỹ năng cân bằng công việc, kỹ năng quản lý thời gian, kỹ năng giao tiếp với đồng nghiệp và giải quyết vấn đề… Tất cả các kỹ năng thì vô giá khi đem so sánh với những sinh viên học toàn thời gian nhưng lại chẳng có chút kinh nghiệm nào.

    Bí quyết: Hãy “tranh thủ” sự thông cảm của gia đình và bạn bè. Nếu chỉ tập trung cho công việc, việc học mà “lơ là” người thân, gia đình thì đang dần biến mình thành “Robinson trên đảo hoang đấy”. Nếu phải cúp tiết học vì công việc, hãy tham gia các lớp học khác để học bù. Nếu có thể, hãy cho Giảng viên của bạn biết được hoàn cảnh và những nỗ lực ko bỏ lỡ bài vỡ của bạn. Đừng cho rằng giảng viên nào cũng hiểu vấn đề của bạn trong thời gian thi – điều này phải rõ ràng, cụ thể trước khi bắt đầu học kỳ. Đừng để công việc trượt dốc. Nếu như nhận thấy rằng việc học làm tốn nhiều công sức và rằng nó làm ảnh hưởng đến công việc, cần phải điều chỉnh thời gian biểu. Nếu đã xác định vừa học vừa làm, thì hãy cố gắng hòan thiện cả hai..

     2.2  Kết quả học tập của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    Sự đổi mới về phương thức quản lý sinh viên trong năm học 2009-2010 đã cho thấy sự thay đổi về chất lượng học tập của sinh viên cao hơn so với những năm học trước. Cụ thể học kỳ I  Khoa TCNH & QTKD và Kinh tế & Kế toán số sinh viên xuất sắc, giỏi đạt 13,1%; sinh viên khá chiếm 38,5%; và 34,73% là số sinh viên trung bình; còn lại 13,67% có kết quả duới trung bình.

    Có được kết quả này chính nhờ sự đổi mới về phương thức quản lý cũng như việc đổi mới về cách thức truyền đạt của giảng viên đến sinh viên. Tuy nhiên về cơ bản vẫn còn nhiều bộ phận sinh viên chưa có một phương pháp học tập hiệu quả, đào sâu kiền thức đặc biệt là các môn trong khối ngành kinh tế. Sinh viên vẫn chưa tập được cho mình thói quen chủ động trong học tập, chỉ đến lớp để ứng phó điểm danh, kiểm tra giữa kỳ, chưa thật sự quan tâm đến chất lượng học tập của bản thân dẫn đến chưa đưa ra cho mình được phương pháp học tập hiệu quả.

    2.3 Tình hình phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    Thực trạng chương trình dạy và học hiện nay: Chúng ta có thể nói rằng các môn học tự bản thân nó không có tội nhưng chính cách dạy làm sinh viên ngao ngán và chán nản. Giờ học cho các môn chuyên ngành ít, trong khi giờ cho các môn ngoại ngữ, tin học lại quá nhiều. Thời gian học không hợp lý, dồn dập, đặc biệt là các lớp buổi tối. Từ đó dẫn đến tình trạng là sinh viên đi học không đều. Sinh viên hiện nay không tự tin trong khi học và khi đi làm, không có phương pháp học cụ thể, khoa học. Phần lớn họ chỉ xem lại bài học khi đến gần ngày kiểm tra.

    Qua khảo sát hơn 2500 sinh viên của Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán thu được kết quả sau:

    Thời gian tự học mỗi ngày của sinh viên khá, giỏi từ 2-3 giờ mỗi ngày chiếm 56%, từ 4-5 giờ chiếm 38% và 6% cho số còn lại.

    Trong khi mức trung bình chung từ 2-3 giờ mỗi ngày chỉ 32%, từ 4-5 chưa đến 19% và có đến 49% chưa dành thời gian học tập hàng ngày đến 2 giờ.

    Sinh viên khá giỏi tham gia đầy đủ các buổi học. Tỷ lệ có mặt trên lớp của số sinh viên này từ 95% trở lên chiếm 80%, số còn lại tham gia các buổi học từ 90-95%.

    Thời gian có mặt trên lớp của sinh viên trung bình và dưới trung bình hạn chế hơn, chỉ 57% các sinh viên này tham gia các buổi học từ 95% trở lên, số còn lại có mặt trên lớp khá khiêm tốn, thậm chí có nhiều sinh viên cả học kỳ chỉ có mặt trên lớp một vài buổi.

    Hầu hết sinh viên khá, giỏi đều có giáo trình đầy đủ chiếm khoảng 93%, số còn lại tham khảo tài liệu ngoài; có khoảng 56% trong số họ sử dụng Internet làm công cụ hỗ trợ học tập.

    Hoạt động thảo luận nhóm được sinh viên khá giỏi tham gia chiếm hơn 61%, 93% trong số họ có khả năng học tập độc lập và 86% hoạt động thảo luận trên lớp; 45% sinh viên khá, giỏi tham gia hoạt động nhóm và học tập độc lập đạt hiệu quả cao. Những bạn sinh viên khác hoạt đọng nhóm chỉ chiếm 34%; 96% trong số những sinh viên này hoạt động độc lập và 65% hoạt động trên lớp nhờ những buổi đi học.

    Kế hoạch học tập, thời gian biểu cụ thể được các bạn sinh viên khá, giỏi quan tâm, 82% trong số họ có kế hoạch học tập hàng ngày, 26% có kế hoạch học tập hàng tuần và 7% có kế hoạch hàng tháng; trong đó có khoảng 15% sinh viên khá, giỏi vừa có kế hoạch hàng ngày, vừa có kế hoạch hàng tuần. Trong khi chỉ có 13% các sinh viên trung bình và dưới trung bình cho một bảng kế hoạch học tập.

    Sinh viên tham khảo tài liệu ngoài còn hạn chế, 85% trong số sinh viên khá, giỏi thỉnh thoảng tham khảo tài liệu ngoài, 13% có mức độ tham khảo thường xuyên và chỉ 2% còn lại hầu như ngày nào cũng tham khảo tài liệu ngoài.

    2.4  Đánh giá về phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và QTKD, đại học Quy Nhơn

    2.4.1. Những kết quả đạt được

    Kết quả cuộc khảo sát cho thấy sinh viên khá giỏi là những người có kế hoạch, biết đầu tư thời gian hợp lý cho học tập (3-4 giờ tự học mỗi ngày), tham gia đầy đủ các buổi học trên lớp, có đầy đủ sách giáo trình và tham khảo tài liệu ngoài, tham gia hoạt động thảo luận nhóm đạt hiệu quả. Kết quả đạt được này thực sự chưa cao, nhất là về tính rộng rãi, phong phú của các môn học kinh tế. Nhưng về cơ bản hầu hết họ đã ứng dụng được một vài phương pháp học tập ở Đại học vì vậy đã đạt được kết quả khả quan. Những sinh viên này khi đã có định hướng sẽ chuẩn bị cho mình những kiến thức phù hợp, họ sẽ có thể học và không học một số kiến thức, tuy nhiên họ phải có những kỹ năng căn bản nhất mà một sinh viên phải có khi ra trường. Dù có làm việc trong môi trường nào, công việc nào, đúng chuyên ngành hay phải làm trong một vị trí không phù hợp thì những kỹ năng vẫn là những chìa khóa cho thành công cho bất kỳ ai. Những kỹ năng này sẽ được học hỏi và vận dụng tốt hơn đối với những sinh viên khá giỏi. Áp dụng kiến thức căn bản trên lớp được thầy cô truyền thụ nhiệt tình kết hợp những kỹ năng phù hợp sinh viên khối ngành kinh tế thì nhất định sẽ có được nhưng con người kinh tế năng động thật sự, đáp ứng nguồn nhân lực giàu năng lực cho đất nước.

    2.4.2. Những tồn tại và nguyên nhân

    Bên cạnh những kết quả đạt được đó, vẫn còn bộ phận sinh viên chưa đạt được kết quả cao trong học tập cũng như khả năng ứng dụng thực tiễn do họ chưa tìm được cho mình những phương pháp học tập hiệu quả, đặc biệt là các môn thuộc khối ngành kinh tế và QTKD, kể cả sinh viên khá, giỏi.

    Về mặt thực tiễn và một số kỹ năng cần thiết ở sinh viên kinh tế ở số sinh viên này vẫn còn hạn chế, lý do của việc này là sinh viên tìm hiểu kiến thức chưa sâu cũng như hạn chế về việc tìm kiếm tài liệu, họ vẫn thụ động từ cách học phổ thông, tin tuyệt đối vào sách vở không có sự hoài nghi phản biện, không chủ động trong việc mở mang kiến thức xã hội cho bản thân, nhất là những kinh nghiệm thực tế – sự cần thiết tối thiểu cho sinh viên kinh tế sau này. Trong khi con nguời kinh tế là những nguời thật sự hiểu sâu biết rộng trên nhiều lĩnh vực, mọi mặt của đời sống, bởi mọi sự vận động của các yếu tố xã hội, từ khoa học công nghệ, giáo dục , y tế, văn hoá, chính trị … đều có sự tác động, ảnh huởng đén nền kinh tế. Bên cạnh đó khả năng tiếp thu tài liệu cũng như tư duy vận dụng kiến thức cơ bản đến thực tiễn của các bạn sinh viên còn yếu, sự tác động của nhiều yếu tố bên ngoài, khối lượng thông tin, kiến thức các bạn tiếp xúc hàng ngày nhiều làm cho khả năng ghi nhớ thông tin cần thiết, quan trọng đối với các bạn bị hạn chế, đặc biệt là các thông tin kinh tế – xã hội cập nhật hàng ngày luôn có sự liên quan ảnh huởng đến tình hình phát triển kinh tế của đất nuớc.

    Các bạn sinh viên ở hai khoa chưa chú trọng nhiều đến việc học nhóm, thảo luận, tự nghiên cứu cũng như trao đổi với giáo viên về kiến thức trên lớp, tìm hiểu kiến thức mở rộng, nguyên nhân của hạn chế này là do các bạn sinh viên còn ngại ngùng trong việc trao đổi, trau dồi kiến thức cùng nhau, chưa chủ động trong mọi việc, phần lớn mang tính tự chủ. Việc học nhóm ở sinh viên kinh tế là điều kiện để phát huy các kỹ năng cơ bản cũng như kỹ năng chuyên biệt của các bạn. Học nhóm sẽ giúp các bạn rèn luyện kỹ năng giao tiếp, khả năng làm viẹc nhóm hiệu quả – rất cần thiết cho công viẹc sau này. Ở đó cũng giúp cho các bạn trao đổi lẫn nhau những phưong pháp học hiệu quả, bổ sung kiến thức cho nhau. Điều khiến các bạn thiếu đi sự quan quan tâm học nhóm này là do các bạn chưa thật sự hội nhập, thích nghi với môi trưòng đại học; chưa có cách sống tự lập xa gia đình an toàn, lành mạnh và huớng đến xã hội, cộng đồng. Bên cạnh đó các bạn cũng thiếu đi việc xây dựng hình ảnh cá nhân, các kỹ năng lãnh đạo, giải đáp vấn đè mà chính môi trường học nhóm là điều kiện tốt đẻ các bạn phát huy những kỹ năng này.

    Việc tự xây dựng cho mình cũng như thích nghi một môi trường học tập ở các bạn sinh viên kinh tế còn thiếu và yếu, sự phát triển của các phương tiện thông tin giải trí, cũng như các loại hình vui chơi khác đã khiến nhiều bạn bị cuốn vào và không tìm cho mình được môi trường học tập hiệu quả. Một số bạn lựa chọn thư viện hay giảng dường làm nơi khổ luyện hàng ngày nhờ sự yên tĩnh, ở đây cũng vừa cung cấp cho các bạn một lượng thông tin khá lớn nhưng mặt trái của vấn đè này là các bạn cứ vùi đầu vào sách vở ngày qua ngày mà thiếu đi các hoạt động trao đổi thực tế, cũng như sắp xếp thời gian giải trí phù hợp. Nhiều bạn rơi vào tình trạng Stress mà không rõ nguyên nhân, phần lớn các bạn chưa quan tâm đến Stress và rất dễ rơi vào tình trạng này.

    Một vấn đề nữa tồn tại ở các bạn sinh viên kinh tế là đa số các bạn chưa có kế hoạch học tập hiệu quả cũng như sắp xếp công việc làm thêm, giải trí hiệu quả, mà đây lại là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của một nhà kinh tế, chính sự không chủ động trong mọi việc của các bạn sinh viên đã làm cho các bạn chưa có những kế hoạch, học tập làm việc hiệu quả.

    Việc học tập trên lớp của sinh viên phần nhiều còn mang tính hình thức, các bạn đến lớp chỉ để điểm danh, kiểm tra giữa kỳ mà không quan tâm đến lượng kiến thức mình tiếp thu được trên lớp như thế nào đều này dẫn đến việc các bạn không tìm được cho mình cách học trên lớp sao cho hiệu quả, tận dụng hết khả năng của mình trên lớp mà tiếp thu kiến thức của thầy cô truyền thụ. Cũng như việc tận dụng thời gian trên lớp để trao đổi cùng bạn bè về những kiến thức vừa học, kiểm tra lẫn nhau chuẩn bị cho bài học mới.

    Đi học không thường xuyên, không sắp xếp cho mình kế hoạch học tập phù hợp cũng là nguyên nhân dẫn đến việc các bạn sinh viên chưa có được những kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra đạt hiệu quả. Thụ động trong việc học tập, nhiều bạn không đi học thường xuyên hoặc có đi học nhưng không ghi bài, không tập trung đến lúc thi chỉ mượn vở các bạn khác photo đã làm cho chính các bạn thiếu đi khả năng chuẩn bị ôn tập và thi đạt kết quả cao.

    Phần lớn sinh viên chưa nắm được những điều kiện cần thiết, nền tảng để có được phương pháp học tập hiệu quả. Mỗi người có một phương pháp, cách học khác nhau tùy thuộc vào đặc điểm, điều kiện, khả năng của mỗi người. Nhưng về cơ bản phải nắm vững những yếu tố cần thiết để hình thành phương pháp học tập hiệu quả cho mình như: đọc, tìm kiếm tài liệu, làm việc theo nhóm, đồng đội, tập thể, học tập và nghỉ  ngơi, cách nghe giảng, ghi chép, tóm lược và sửa chữa bài giảng, Kỹ năng tư duy hiệu quả, phương pháp giải quyết vấn đề, phương pháp luận sáng tạo, kỹ năng tổ chức công việc khoa học, lên kế hoạch học tập, viết tiểu luận, báo cáo khoa học, thuyết trình… Học chưa gắn liền với hành. Những phương pháp học tập và nghiên cứu khoa học được các thầy/cô hướng dẫn trên lớp, trong những lần báo cáo chuyên đề, giao lưu hay những phương pháp có trong các cuốn sách, bài báo chỉ trở thành sở hữu của sinh viên khi nó được tìm hiểu, phân tích, vận dụng, bổ sung, chỉnh sửa hàng chục, hàng trăm lần trong nhiều nội dung môn học khác nhau. Nhiều sinh viên có nghe, có xem nhưng lại không có ý chí, kiên nhẫn để thực hành do sức ỳ từ những cách thức, cách làm cũ. Sức ỳ từ phương pháp học tập ở phổ thông. Thói quen, lề lối, phương pháp học tập đó được duy trì cho tới bậc trung học và ngay cả bậc đại học – bậc học có mục tiêu và yêu cầu khác với bậc phổ thông. Thiết nghĩ rằng, mỗi  sinh viên muốn thắng được “sức ỳ” của mình, tìm được phương pháp học tập mới thì cần phải “biết quên” cái cũ đi. Hãy nhìn vấn đề một cách háo hức, say mê, không chỉ là ghi nhớ, thuộc các dữ kiện mà có khả năng quan sát, suy nghĩ, hiểu, giao lưu, thích nghi và sáng tạo. Đối với sinh viên, học tập là nhằm trang bị cho mình năng lực lao động để tạo ra sản phẩm công việc. Học tập phục vụ cho ai? Học tập cái gì? Người sử dụng đang cần gì ở mình? Chất lượng có đáp ứng yêu cầu của người sử dụng không?… Là những câu hỏi cần trả lời để sinh viên có định hướng, phương pháp, nội dung học tập phù hợp, hiệu quả bảo đảm đầu ra cho mình. Nhiều sinh viên cho rằng Đại học là chỗ “xả hơi” sau những năm học tập mệt mỏi, nặng nề ở phổ thông. Họ cũng luôn ca thán, oán trách, phê phán nền giáo dục nước nhà là trì trệ, lạc hậu, không phát huy được tài năng, sức sáng tạo của mình trong lúc cách học của họ thì rất thụ động, đối phó, lười suy nghĩ, phát biểu, tìm kiếm tài liệu, không đi học thường xuyên, phong cách lề mề, chậm chạp, thiếu tính kỷ luật, quay cóp,… Chính với tinh thần, thái độ học tập lệch lạc, miễn cưỡng như vậy tất yếu sẽ dẫn đến một phương pháp học tập hiệu quả chưa cao.

     

     

    CHƯƠNG 3

    ỨNG DỤNG LÝ THUYẾT VỀ PHƯƠNG PHÁP HỌC

    Ở ĐẠI HỌC VÀO SINH VIÊN KHỐI NGÀNH KINH TẾ

    3.1 Đặc thù các môn học ngành kinh tế

     Nhìn chung các môn học nhóm ngành kinh tế chuyên về các kiến thức rộng, nền tảng, kiến thức bổ trợ liên quan đến ngành học. Từ đó, sinh viên có thể có tầm nhìn tổng quát, có thể nghiên cứu sâu hơn để đưa ra những cải tiến, phát minh, giải pháp mới. Các môn học kinh tế có tầm kiến thức khá rộng rãi, cần có kết quả nghiên cứu từ thực tế và có ứng dụng trong thực tiễn đòi hỏi sinh viên kinh tế phải nắm bắt kiến thức cơ bản trên lớp sâu sắc, tham khảo tài liệu ngoài nhiều, tích cực tham gia hoạt động thảo luận nhóm…Tựu chung lại, yêu cầu về phương pháp học các môn kinh tế cho sinh viên là điều hết sức cần thiết.

    3.2 Các giải pháp để học các môn kinh tế đạt hiệu quả

    Học tập theo phương pháp P.O.W.E.R cho sinh viênkinh tế

    Từ “Power” ở đây vừa có nghĩa là sức mạnh, năng lực, vừa là tên gọi của một phương pháp học tập ở bậc đại học do GS Robert Feldman (ĐH Massachusetts) đề xướng nhằm hướng dẫn sinh viên cách học tập có hiệu quả nhất. Phương pháp POWER bao gồm 5 yếu tố cơ bản là chữ viết tắt ghép thành POWER: Prepare , Organize, Work, Evaluate, Rethink

    Prepare (chuẩn bị sửa soạn)

    Quá trình học tập ở đại học không phải chỉ bắt đầu ở giảng đường khi sinh viên nghe thầy giáo giảng bài hoặc trao đổi, tranh luận với các bạn đồng học. Quá trình này chỉ thật sự bắt đầu khi sinh viên chuẩn bị một cách tích cực các điều kiện cần thiết để tiếp cận môn học như: đọc trước giáo trình, tìm tài liệu có liên quan. Sự chuẩn bị tư liệu này càng trở nên hiệu quả hơn khi đi liền với nó là một sự chuẩn bị về mặt tâm thế để có thể tiếp cận kiến thức một cách chủ động và sáng tạo. Với sự chuẩn bị tâm thế này, sinh viên có thể chủ động tự đặt trước cho mình một số câu hỏi liên quan đến nội dung sẽ được đặt trên lớp, thậm chí có thể tự tạo cho mình một cái “khung tri thức” để trên cơ sở đó có thể tiếp nhận bài học một cách có hệ thống. Với cách chuẩn bị tích cực này, tri thức mà sinh viên có được không phải là một tri thức được truyền đạt một chiều từ phía người dạy mà còn do chính sinh viên tự tạo ra bằng cách chuẩn bị các điều kiện thực thể và tâm thể thuận lợi cho sự tiếp nhận tri thức. Nói “học là quá trình hợp tác giữa người dạy và người học” có nghĩa là như vậy.

    Organize (tổ chức)

    Sự chuẩn bị nói trên sẽ được nâng cao hơn nữa khi sinh viên bước vào giai đoạn thứ hai, giai đoạn người sinh viên biết tự tổ chức, sắp xếp quá trình học tập của mình một cách có mục đích và hệ thống.

    Work (làm việc)

    Một trong những sai lầm của việc học tập cũ là tách rời việc học tập ra khỏi làm việc. Trong khi làm việc chính là một quá trình học tập có hiệu quả nhất. Trong giai đoạn này sinh viên phải biết cách làm việc một cách có ý thức và có phương pháp ở trong lớp và trong phòng thí nghiệm, thực hành. Các hình thức làm việc trong môi trường đại học rất đa dạng, phong phú: Lắng nghe và ghi chép bài giảng, thuyết trình hoặcthảo luận, truy cập thông tin, xử lí các dữ liệu, bài tập, thực tập các thí nghiệm… tất cả đều đòi hỏi phải làm việc thật nghiêm túc, có hiệu quả.

    Evaluate (đánh giá)

    Ngoài hệ thống đánh giá của nhà trường, sinh viên còn phải biết tự đánh giá chính bản thân mình cũng như sản phẩm do mình tạo ra trong quá trình học tập. Chỉ có qua đánh giá một cách trung thực, sinh viên mới biết mình đang đứng ở vị trí, thứ bậc nào và cần phải làm thế nào để có thể cải thiện vị trí, thứ bậc đó. Tự đánh giá cũng là một hình thức phản tỉnh để qua đó nâng cao trình độ và ý thức học tập.

    Rethink (suy nghĩ lại – luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác)

    Khả năng suy nghĩ lại này giúp sinh viên luôn biết cách cải thiện điều kiện, phương pháp và kết quả học tập của mình. Về bản chất, tư duy đại học không phải là một thứ tư duy đơn tuyển, một chiều mà đó chính là hình thức tư duy đa tuyển, phức hợp đòi hỏi người học, người dạy, người nghiên cứu phải có tính sáng tạo cao, luôn biết cách lật ngược vấn đề theo một cách khác, soi sáng vấn đề từ những khía cạnh chưa ai đề cập đến. Khả năng suy nghĩ lại này cũng gắn liền với khả năng làm lại (redo) và tái tạo quá trình học tập trên can bản nhận thức mới đối với vấn đề và kết quả đã đặt ra. Cuối cùng, chữ R của giai đoạn thứ năm này cũng có nghĩa là Recreate (giải lao, giải trí, tiêu khiển), một hoạt động cũng quan trọng không kém so với các hoạt động học tập chính khóa. Ở đây cần nhớ rằng: Ai không biết cách nghỉ ngơi, giải trí, tiêu khiển thì người đó cũng không biết cách học tập hoặc học tập không có kết quả cao.

    3.2.1 Phương pháp tìm đọc tài liệu và ghi nhớ tốt

    Sách giáo trình và tài liệu về kinh tế đa dạng và phong phú, để có thể nắm bắt được những kiến thức quan trọng cần chú ý những hướng dẫn về những tài liệu tham khảo cần thiết của thầy cô. Khi đọc sách, tài liệu tham khảo tập trung những nội dung, số liệu cần thiết. Tài liệu rất đa dạng từ nhiều nguồn: báo chí, thư viện, Internet…nhưng không thể đọc hết được. Theo đó cần chọn khối lượng vừa đủ để bắt đầu, cố gắng nắm bắt được cách bố trí, hệ thống của tư liệu, cần đọc phần tóm lược để nắm ngay nội dung. Đọc những gì hiểu rõ nhất để xác định độ khó chừa lại những gì không hiểu. Dùng bút đánh dấu những chỗ quan trọng hay chưa hiểu để xen lại. Trong khi đọc thỉnh thoảng dừng lại và đặt những câu hỏi kích thích, tự tìm câu trả lời. Để có một trí nhớ tốt hãy chọn cho mình một thói quen như khi đến trường kiểm tra sách vở; nên ghi danh sách các việc cần làm vào một tờ giấy nhỏ và thỉnh thoảng kiểm tra xem tiếp theo mình cần phải làm gì. Để ghi nhớ tốt trong việc tiếp thu kiến thức thì cùng bạn bè thảo luận về một vấn đề cùng quan tâm. Ngoài ra, ghi nhớ qua các chi tiết quan trọng, các key words, các hình ảnh minh họa. Học thật kĩ: Hãy ghi chép cẩn thận trong giờ giảng của thầy cô và từ sách giáo khoa. Xem chỉ dẫn ở Ghi chép trong giờ học và Ghi chép từ sách giáo khoa. Ngay sau tiết học hoặc ngay khi về nhà, hãy xem lại những gì bạn đã ghi chép được. Xem qua lại bài trước buổi học sau. Định ra một khoảng thời gian dài hơn vào cuối tuần để ôn lại thật kĩ.

    Bạn phải bận rộn giữa hàng đống công việc, làm sao để nhớ mọi thứ tốt hơn?

    Viết ra giấy: Tại sao với một mớ công việc, bạn lại cố gắng nhồi nhét vào đầu để rồi bắt nhớ tất cả mọi thứ! Cách tốt nhất để nhớ mọi thứ là ghi nó ra giấy, khi cần nhớ đến một việc gì đó, chỉ cần bạn lật sổ tay ra…

    Liên kết chúng lại với nhau: Khi ghi ra sổ tay, bạn cũng cần phải sắp xếp theo đề mục khoa học, chứ đừng ghi quyển sổ tay này một ghi chú, quyển khác một ghi chú khác! Kết quả, bạn sẽ rất mất thời gian để lục lại mọi điều mình cần nhớ.

    Duy trì sức khỏe tốt: Ăn những loại thức ăn tốt cho bộ nhớ, ngủ đủ giấc, tập thể dục. Những điều này rất tốt cho sức khỏe và bộ nhớ của bạn.

    Ghi âm lại suy nghĩ: Đôi khi bạn muốn nhớ một điều gì đó mà lại không có giấy bút bên cạnh để ghi ra. Nếu bạn có thể trang bị một máy ghi âm nhỏ thì tốt – điện thoại di động có ghi âm cũng là một phương tiện hữu ích, nhất là lúc ghi nhớ lại số điện thoại của ai đó.

    Suy nghĩ tích cực: Đừng vội kết luận mình sẽ có một trí nhớ không tốt rồi quyết định… không ghi nhớ gì cả! Hãy lạc quan lên, hãy tự nói với mình “Tôi có thể nhớ được mọi điều”.

    Ghi chú vào những mẩu giấy stick: Thật tuyệt vời khi luôn có những mẩu giấy stick nhỏ bên cạnh! Hãy trang bị những mẩu giấy stick và ghi vào những điều bạn cần nhớ, cần làm và dán nó lên góc làm việc chẳng hạn.

    Hẹn giờ báo công việc: Bạn có thể hẹn giờ cho công việc vào điện thoại di động hoặc những lịch điện tử bỏ túi.

    Gợi nhớ bằng mắt: Sử dụng bộ nhớ bằng thị giác sẽ giúp bạn ghi nhớ tốt hơn! Hãy tập nhớ những sự kiện bằng cách ghi nhớ lại một hình ảnh có liên quan nào đó

     

            

    Sự đa dạng của số liệu kinh tế cũng như kiến thức nền tảng của các môn kinh tế làm cho khối lượng kiến thức của sinh viên kinh tế tăng lên đáng kể so với giáo khoa. Để có thể có khả năng ghi nhớ một lượng kiến thức lớn như vậy sinh viên kinh tế cần chọn cho mình một thói quen học tập để ghi nhớ tốt. Để ghi nhớ tốt trong việc tiếp nhận kiến thức thì cùng bạn bè thảo luận vấn dề cần quan tâm. Ghi danh sách những việc cần làm vào các key words và thường xuyên kiểm tra chúng. Các vần đề được thầy cô giao, có thể dùng các công cụ khác để hỗ trợ sau đó đóng thành tập, để ở nững nơi thuận tiện để thường xuyên xem lại. “Một trí nhớ tốt cũng không bằng một mẫu bút chì” vì vậy cần ghi lại những gì cần nhớ và xem lại chúng thường xuyên, nhất là các công thức, số liệu thống kê kinh tế.

    3.2.2 Học nhóm

    Học nhóm đối với sinh viên kinh tế là điều hết sức cần thiết. Sau giai đoạn tìm kiếm, tài liệu cần ghi chú lại những vắn đề trọng tâm, những số liệu kinh tế để cùng nhau thảo luận. Từ số liệu thực tế đến kiến thức liên quan là cả vấn đề, vì vậy cần thảo luận nhóm để tham khảo được nhiều ý kiến, cũng như đánh giá khách quan ý kiến của mình. Các yếu tố, đề tài kinh tế được nhìn nhận dưới nhiều góc độ khác nhau sẽ đem lại khả năng ứng dụng cao hơn; cũng như các lý thuyết kinh tế, thảo luận sẽ giúp nhận ra, mở rộng ưu và nhược điểm nhiều hơn. Khi thảo luận cũng cần nhìn nhận ở 3 khía cạnh, đưa ra vấn đề, thảo luận và tổng hợp; có như vậy buổi thảo luận mới đạt kết quả tốt hơn.

    Học nhóm hiệu quả

    Để học nhóm có hiệu quả, giáo viên phải đảm bảo rằng trong nhóm có sự “phụ thuộc tích cực”, trao đổi trực tiếp, thảo luận trong nhóm và trách nhiệm của cá nhân cũng như của cả nhóm. “Phụ thuộc tích cực” nhấn mạnh tầm quan trọng và tính độc đáo sự đóng góp của mỗi thành viên trong nhóm trong khi thực hiện các hoạt động nhận thức và giao lưu giữa các cá nhân. Trong khi học viên giao tiếp với nhau, sẽ phải có một người làm trưởng nhóm. Người này phải có kĩ năng hòa giải xung đột, có khái niệm rõ ràng và khả năng thảo luận, có khả năng tháo gỡ những phức tạp trong quan hệ giữa mọi người. Quá trình học như thế này sẽ nâng cao hiệu quả học tập của học viên. Vì thế, học viên có thể học được nhiều hơn những gì được giảng giải.

    Tuy nhiên, học nhóm có thể tạo điều kiện cho những học viên lười – những thành viên không hoàn thành trách nhiệm mà vẫn được điểm do thành tích của cả nhóm. Để hạn chế tình trạng này, giáo viên có thể cho áp dụng hình thức đánh giá theo nhóm để đánh giá đóng góp của từng thành viên trong nhóm, hoặc tổ chức một bài kiểm tra kèm theo. Vì vậy sẽ tồn tại hai mức độ trách nhiệm: cá nhân và nhóm. Các phương pháp học nhóm:

    Chia nhóm nhỏ cùng thảo luận: Chia học viên thành các nhóm nhỏ gồm 4 hoặc 5 để thảo luận về một khía cạnh xoay quanh một vấn đề nào đó. Sau 20 phút thảo luận, mỗi nhóm nhỏ cử một thành viên trình bày ý kiến của cả nhóm cho cả lớp.

    Chia nhóm theo sở thích: Chia thành các nhóm 4 hoặc 5 học viên cùng làm một nhiệm vụ được giao ở bên ngoài trong một thời gian nhất định. Trong lần thảo luận tiếp theo với giáo viên, các nhóm hoặc đại diện mỗi nhóm phải trình bày kết quả cho cả lớp.

    Chia nhóm đánh giá: Một nhóm chịu trách nhiệm thảo luận một chủ đề nào đó và một nhóm khác có trách nhiệm phê bình đưa ra các quan sát, nhận xét và đánh giá bài trình bày của nhóm kia.

    “Giảng – Viết – Thảo luận”: cuối mỗi bài học, học viên phải trả lời những câu hỏi ngắn và chứng minh câu trả lời của mình. Sau khi mỗi cá nhân xử lí các câu hỏi thì so sánh với học viên khác. Sau đó, giáo viên tổ chức một buổi thảo luận để kiểm tra các câu trả lời hợp lí.

    Thảo luận có phê bình, đóng vai, tranh luận và nghiên cứu là những phương pháp giảng dạy hiệu quả khác nhằm khơi dậy sự nhiệt tình của học viên và khuyến khích học viên tham gia học nhóm. Học viên theo đó cũng có cơ hội học tập trong môi trường không bị kiểm soát nhưng vẫn “an toàn” (vì được giáo viên hoặc các nhóm khác đánh giá). Ngoài ra, học viên cũng tập phản ứng với những tình huống phức tạp và “có thật” sẽ gặp trong cuộc sống sau này.

    3.2.3 Xây dựng môi trường học tập – phưong pháp học ở nhà

    Sự tác động của môi trường học tập là một ảnh hưởng khá lớn đến kết quả học tập của sinh viên. Cần chọn một chỗ yên tĩnh, tránh tiếng ồn, sách vở, dụng cụ tài liệu được sắp xếp ngăn nắp, hợp lý sẽ giúp sinh viên thuận tiện hơn trong học tập. Bên cạnh góc học tập của sinh viên kinh tế thì không thể thiếu báo chí về kinh tế, tạp chí chuyên ngành các loại như Marketing, Thời báo kinh tế, Kinh doanh và sản phẩm, Thời báo Ngân hàng… Góc học tập là nơi cung cấp thông tin tối thiểu cần có cho sinh viên thì sẽ giúp việc học thuận tiện hơn và đạt kết quả.

    Một môi trường học thoải mái sẽ đem lại cho bạn sự hứng thú, khả năng tư duy, sáng tạo và tưởng tượng cao hơn hản một không gian bừa bãi, tối tăm và ngột ngạt đó bạn.Đối với các bạn, dù có đang học ở phổ thông hay đại học thì cũng đều phải tạo cho mình một không gian hay nói khác đi là một môi trường thoải mái để bạn có thể học tập một cách tốt nhất. Còn môi trường đó thế nào thì do bản thân mỗi người. Hãy sắp xếp một góc học tập thật “ấn tượng” để bạn có thể dễ dàng tìm kiếm công cụ học tập cho mình. Khu cửa sổ luôn được chọn là mảnh đất tốt cho chiếc bàn học. Ở đây có đầy đủ ánh sáng, khí trời – tự nhiên hơn hẳn thứ ánh sáng của chiếc đèn bàn cùng những luồng gió phát ra từ chiếc quạt điện. Khi bạn cảm thấy mệt mỏi thì có thể thơ thẩn qua ô cửa sổ, điều đó cũng sẽ giúp bạn thư giãn, xả hơi nhanh và hiệu quả lắm đó. Không cần quá gọn gàng nhưng cũng không quá bừa bộn với “địa hạt” của mình. Điều này tuỳ thuộc vào thói quen của mỗi người. Các bạn cứ làm thế nào cho thoải mái, tiện lợi với mình nhất là được. Bạn cũng đừng quên sắm cho mình một chiếc đèn bàn nhé. Ánh sáng của chiếc đèn sẽ giúp bạn tập trung nhiều lắm đấy. Theo kinh nghiệm của nhiều người. Những đồ vật dễ thương với màu sắc bạn ưa thích cũng làm cho không gian thêm sinh động hơn, cuốn hút bạn hơn và giúp bạn có sáng tạo, tưởng tưởng tốt hơn.

    Học ở nhà thế nào cho hiệu quả

     

     

    Đặc thù của những môn kinh tế là phải tham khảo tài liệu ngoài khá nhiều từ các nguồn như Internet, báo chí, thư viện…Do vậy việc học ở nhà của sinh viên kinh tế cần cân đối giữa việc học lý thuyết căn bản và đọc tài liệu tham khảo. Cần tìm một chỗ học yên tĩnh tránh tiếng ồn, cần tạo một thời gian học cố định và tạo thói quen cho thời gian học đó. Ôn lại những kiến thức cơ bản, tóm tắt các ý chính, kiên trì làm bài tập đầy đủ và đọc tài liệu tham khảo. Nếu học phải phần khó hiểu thì để lại, học những phần khác dễ hiểu hơn, sau khi thư giãn thỏa mái thì học tiếp.

    Tự học dễ làm thấy chán và mất cảm hứng học tập, nhất là đối với những bạn đã từng rớt thi lại. Vì thế mà không ít bạn đã tự biến thành các lò luyện thi để ép mình phải học. Tự học chính là cách để bạn rèn luyện tính kiên trì và thử thách tin thần của bạn. Đặt ra vấn đề là phải điểm thật cao khi ra trường, nên cho mình một menu các môn cần phải ôn. Đây chính là chiến lược chậm mà chắc. Cứ nhìn một bài tập thật khó và tự do sáng tạo cách giải, các bạn sẽ học được thật nhiều từ bản thân.

    3.2.4 Lập kế hoạch học tập

    “Không chuẩn bị là chuẩn bị cho thất bại”. Phát triển kỹ năng sắp xếp thời gian đòi hỏi những nỗ lực lớn, nhất là khối lượng học tập các môn kinh tế khá lớn, đòi hỏi tính thực tiễn cao, một số sinh viên còn sắp xếp thời gian làm thêm. Một mục tiêu để nhận thức được cách sử dụng thời gian như một điều quan trọng khi sắp xếp, đặt việc quan trọng và đạt được thành công trong học tập khi có hoạt động chi phối khác như đi làm, vui chơi cùng bạn bè, họp hội…

    Chiến lược về cách sử dụng thời gian: Tự tạo các khoảng thời gian học hợp lý,
    tổng kết và cập nhập chương trình sau mỗi tuần, lập danh sách những việc cần làm, việc gì quan trọng hơn thì làm trước, việc nào kém quan trọng thì làm sau. Ghi ra giấy những điều cần làm, rồi quyết định việc nào sẽ làm bây giờ, việc nào để sau, hay nhờ ai làm, hoặc hoãn việc nào sau một thời gian dài. Cần có quyển lịch sắp xếp công việc theo tuần tháng: Đánh dấu các buổi hẹn, đi học, họp trong một cuốn sổ tay chia ô thời gian hoặc bảng biểu. Lịch ghi kế hoạch lâu dài: Sử dụng một bảng cho mỗi tháng để có thể lên kế hoạch trước. Những lịch ghi kế hoạch lâu dài như thế này sẽ nhắc nhở để sử dụng tốt quỹ thời gian.

    3.2.5 Học tập ở trên lớp

    Để tập trung nghe giảng nắm được bài ngay trên lớp không phải là một việc đơn giản và dễ dàng. Với những môn kinh tế, khối lượng kiến thức chuyển tải thường ở dạng chủ đề, đòi hỏi sinh viên phải có sự vận động suy nghĩ liên tưởng thực tế. Những môn toán kinh tế thường không khó nhưng rộng rãi và có sự liên kết từ nhiều môn theo từng bộ môn nên khi học môn này thì phải liên tưởng đến môn đã học trong cùng bộ môn, nhất là phần tính toán. Về phần các môn với nội dung lý thuyết được tập trung nhiều hơn cũng có sự tương quan, chẳng hạn các bước trong Marketing thường lặp lại trong nhiều môn vì vậy cần có sự chuẩn bị bài trước khi đến lớp. Khi nghe giảng chú ý tập trung lời giảng và những câu hỏi gợi mở của giảng viên. Cần phải viết nhanh hơn, dùng nhiều ký tự hơn, không nhất thiết phải ghi tất cả những gì thầy cô nói. Tuy nhiên cần ghi chép đầy đủ các đề tài thầy cô giao trên lớp để về nhà nghiên cứu, ghi chép các gợi mở cho các đề tài này để việc sưu tầm, nghiên cứu đạt hiệu quả, đặc biệt là các số liệu kinh tế thực tế phản ánh tính thực tiễn cao của đề tài.

    3.2.6 Thư giãn – Giảm Stress

    Nhiều sinh viên nghĩ rằng học thi là học liên miên từ sáng đến tối, từ tối đến khuya, nhưng não bị nhồi nhét nhiều quá cũng sẽ “sôi” lên, khó nhớ và dễ quên. Chống bão hòa não bằng thư giãn, nghỉ ngơi: Khi não đã bão hòa thì học chỉ là hình thức mà tiếp thu chẳng có gì, chưa kể nhầm lẫn chi tiết, vấn đề này sang chi tiết khác. Vì vậy, cần phải có thời gian thư giãn. Chọn bơi lội, tập thể dục cho máu huyết lưu thông, nghe nhạc êm dịu (đừng chọn metal rock sẽ nhức đầu thêm) hoặc đi chơi chút đỉnh với bạn bè, ngủ một giấc thật sâu cũng là cách xả hơi cho não. Tìm niềm vui trong học tập: Cần biết tạo niềm vui trong học tập thì việc học đỡ vất vả hơn, dễ nhớ lại lâu quên. Các yếu tố tâm lý ảnh hưởng đến trí nhớ rất nhiều như: lo âu tiền bạc, sức khỏe suy giảm hoặc bị phân tâm bởi những vấn đề nào đó. Sinh viên kinh tế cũng thường chọn làm thêm vừa là công viecj giải trí, kiếm thêm thu nhập, vừa học hỏi kinh nghiệm. Tuy nhiên cần cân đối thời gian hợp lý và lựa chọn công việc phù hợp để không ảnh hưởng đến việc học nâng cao khả năng làm việc sau này.

    Các dấu hiệu của stress bao gồm những bất bình thường về thể chất, thần kinh và quan hệ xã hội. Cụ thể là sự kiệt sức, tự dưng thèm ăn hoặc bỏ ăn, đau đầu, khóc, mất ngủ hoặc là ngủ quên. Ngoài ra, tìm đến rượu, thuốc, hoặc những biểu hiện khó chịu khác cũng là những dấu hiệu của stress. Stress còn đi kèm với cảm giác bất an, giận dữ, hoặc sợ hãi. Bằng cách nghỉ ngơi, thư giãn, tạo cho mình một khoảng thời gian ngắn mỗi ngày hoặc vận động như đi bộ,tập thể dục,trò chuyện cùng bạn bè. Sau khi đã cảm thấy thoải mái hơn hãy bắt đầu giải quyết vấn đề,xem xung quanh bạn có việc gì mà bạn có thể thay đổi để xoay chuyển tình hình. Đừng để tâm vào những việc lặt vặt. Ngoài ra, phải ngủ đủ giờ, hãy luôn cố gắng suy nghĩ tích cực như: Tại sao phải “ghét” khi mà “một chút xíu không thích”; Tại sao lại phải “lo cuống lên” khi mà “hơi lo một tẹo”; Tại sao phải “giận sôi người” khi mà “hơi giận một chút” là đủ? Tại sao “đau khổ tột cùng” khi mà bạn chỉ cần “buồn một tẹo”…

    Stress là tình trạng phổ biến khi ôn thi và chính stress làm giảm năng lực ôn tập của thí sinh.Vì sao cần giữ giấc ngủ? Khi học bài nhiều, trí óc bị bão hòa, hiện tượng stress dẫn đến suy sụp tinh thần gây trằn trọc khó ngủ hoặc tỉnh dậy trong trạng thái căng thẳng. Giấc ngủ càng không đạt chất lượng thì việc ôn tập càng khó nhớ bài. Khi bị mất ngủ thì không nên ngủ trễ (quá giấc), tránh sử dụng chất kích thích và không nên chuyển từ bàn học qua giường để rồi lại trằn trọc. Cách tốt nhất trong mùa thi cử là thư giãn trước khi đi ngủ. Chính trong giấc ngủ mà não bộ làm việc, đưa các dữ liệu mới nạp vào tiềm thức. Các thuốc an thần giảm lo âu, giúp dễ ngủ sẽ làm mất đi nhịp sinh lý tự nhiên của giấc ngủ nên sẽ ngăn cản hoạt động của não bộ. Vì vậy không nên dùng thuốc an thần trong mùa thi cử. Tránh mệt mắt: Để tránh mệt mắt và ít bị phân tâm, môi trường học cần yên tĩnh và sáng sủa. Lượng ánh sáng đủ sẽ làm mắt đỡ mệt nên ít bị đau đầu và làm tăng năng suất học tập. Một nguồn sáng 60w là đủ. Trường hợp chữ nhỏ, nhiều biểu đồ cần tập trung hơn thì đòi hỏi nguồn sáng mạnh hơn.

    3.2.7 Kỹ năng chuẩn bị và làm bài kiểm tra

    Bước vào kỳ thi, hãy nghiên cứu kỹ đề thi của những năm trước, phải xác định các tài liệu liên quan để ôn tập; sắp xếp những gì ghi chép được, hệ thống hóa kiến thức, ước lượng xem cần bao lâu để ôn tập, chia nhỏ những gì học thành từng phần. Phân bổ các môn lý thuyết kinh tế, bài tập kinh tế và những môn khác hợp lý để có thể vạch kế hoạch thi tốt nhất. Học 3 tiếng buổi sáng, 3 tiếng buổi chiều sẽ hiệu quả hơn ngồi học cả ngày. Hoặc có thể ôn theo nhóm, điều này tạo điều kiện để hoàn thiện cả những phần quan trọng mà nếu học một mình rất dễ bỏ qua. Cần thu xếp một buổi tổng ôn tập trước khi thi. Đặc biệt, nên chú ý đến những thông tin được các thầy, cô chỉnh sửa đến mọi hướng dẫn về học tập. Đôi khi quá bận vào một công việc nào đó mà sao nhãng việc học. Khi còn ít thời gian để ôn tập thì học nhồi nhét. Đầu tiên hãy xem trước tất cả những tài liệu mà cần phải học, lướt qua các chương để nắm được ý chính, bỏ qua những phần mà không có thời gian xem lại.  Sắp xếp những ghi chép, sách vở và bài tập, theo thứ tự những gì sẽ gặp trong bài kiểm tra. Ước lượng xem cần bao lâu để ôn tập. Lập một thời gian biểu, chỉ ra khoảng thời gian dành để ôn tập và có những tài liệu gì. Tự kiểm tra qua các tài liệu. Học hết những gì bạn cần trước ngày kiểm tra.

    Khi làm bài kiểm tra cố gắng chứng minh rằng có thể hiểu bài học và làm một số dạng bài tập nhất định. Ví dụ về một số dạng bài tập mang tính khách quan, như bài tập đúng sai, trắc nghiệm, điền vào chỗ trống. Ví dụ về một số dạng bài tập mang tính chủ quan, như những câu trả lời ngắn gọn, những bài luận, thi vấn đáp. Đến sớm hôm có giờ kiểm tra. Mang theo tất cả những đồ dùng cần như là bút chì, bút bi, máy tính, từ điển và đồng hồ. Như vậy sẽ có thể hoàn toàn tập trung vào bài kiểm tra. Luôn tạo một tâm thế thoải mái nhưng phải cảnh giác. Giữ cho mình được thoải mái và tự tin. Trong quá trình làm bài thi: Đọc kĩ hướng dẫn của đề bài. Điều này có vẻ là đương nhiên, nhưng nó sẽ giúp khắc phục được những sai lầm do không cẩn thận. Nếu có thời gian, nhanh chóng lướt qua toàn bài kiểm tra để có một cái nhìn tổng quát. Nhận biết những phần quan trọng, vạch ra thật ngắn gọn những ý chính. Trả lời các câu hỏi theo cách khoa học nhất.Trước tiên là những câu hỏi dễ để tạo cảm giác tự tin, để ngay lập tức ghi được điểm, và định hướng cho bản thân về vốn từ, các khái niệm và những kiến thức đã có. Sau đó là đến những câu hỏi khó hoặc những câu được nhiều điểm nhất. Với dạng bài kiểm tra mang tính chất khách quan, trước tiên, loại trừ những đáp án biết là sai, hoặc chắc chắn là sai, không phù hợp, hoặc là hai đáp án rất giống nhau và cả hai đều không thể đúng được. Với dạng câu hỏi mang tính chủ quan, vạch ra những ý chính, và sắp xếp những ý đó theo một trình tự phù hợp nhất. Xem lại: Hãy kiềm chế ý muốn được rời khỏi phòng thi ngay khi đã trả lời hết các câu hỏi. Xem lại bài thi để đảm bảo rằng đã trả lời hết tất cả các câu hỏi trong bài, không đánh dấu nhầm trong bài làm, hay làm sai một vài chỗ đơn giản. Đọc lại bài luận của để có thể phát hiện ra các lỗi chính tả, ngữ pháp, dấu câu… Quyết định xem những cách thức nào phù hợp và bám lấy chúng. Chỉ ra những cách không hiệu quả và thay thế chúng.

    Trong một bài kiểm tra mà sinh viên được sử dụng sách vở sẽ được đánh giá dựa trên những gì các bạn sinh viên hiểu chứ không phải là khả năng ghi nhớ:  Áp dụng sách vở vào những tình huống mới. Đánh giá các yếu tố và sự liên quan giữa chúng. Biết tổng hợp hoặc bố trí các thông tin các bạn có được. Sử dụng các tài liệu của các bạn để đánh giá một nhận định hay một vấn đề nào đó. Sử dụng tất cả các nguồn thông tin (sách, vở ghi, …) mà thầy cô cho phép. Chuẩn bị: Đều đặn làm bài và đọc sách trong các buổi học ở trên lớp. Chuẩn bị một cách ngắn gọn, những ghi chép chính xác về những khái niệm và ý chính sẽ có trong bài kiểm tra. Chọn lựa thật cẩn thận, những gì dự định sẽ mang vào phòng kiểm tra và chỉ rõ ra những gì không cần mang vào. Mang theo cả những bài luận tự viết về các thông tin, đó chính là cơ sở cho các lập luận, và chứng tỏ rằng đã từng nghĩ đến những vấn đề đó trước giờ kiểm tra. Thử dự đóan trước đề bài với những câu hỏi mẫu, nhưng không phải là những câu trả lời mẫu. Thử thách chính mình bằng cách xem có thể trả lời những câu hỏi đó hay không, và sẽ cần phải có những phương án lựa chọn ra sao và cần quan tâm tới những tài liệu nào. Bố trí những tài liệu tham khảo – “cuốn sách mở”. Bố trí sao cho các tài liệu đó được đặt ở một vị trí thuận tiện nhất để không phải mất thời gian định vị xem cái đang cần nằm ở đâu. Tạo dựng một thói quen cho bản thân với bố cục và cách trình bày của cuốn sách và những tài liệu của bạn. Sắp xếp những cuốn sách này cùng với những ghi chép của để có thể nhanh chóng lấy ra những thứ cần thiết, những ý chính, các khái niệm, bằng cách chỉ dẫn hoặc ghi số trang của tài liêu vào trong vở. Tạo một tập những bút đánh dấu, giấy nhớ, bảng cấc khái niệm… để đánh dấu những ý chính, đề mục, tóm tắt, chương. Viết những bản tóm tắt ngắn gọn về nội dung của từng phần. Liệt kê ra những số liệu và công thức một cách riêng biệt để dễ tìm được trong khi làm bài. Làm bài kiểm tra: Đọc kĩ câu hỏi để nắm được yêu cầu của đề bài. Có thể dựa trên những hướng dẫn của chúng tôi trong mục cách làm bài viết và các hướng dẫn. Thu xếp thời gian sao cho hợp lí nhất. Nhanh chóng xem tổng số câu hỏi của bài và ghi rõ xem bạn cần bao lâu cho mỗi câu hỏi. Trước tiên, hãy trả lời những câu hỏi mà bạn cảm thấy chắc chắn và/hoặc những câu mà bạn không cần nhiều thời gian để tham khảp các tài liệu. Làm những câu phức tạp và khó hơn sau. Đừng trả lời thừa. Hướng tới việc có những câu trả lời đúng đắn, chính xác, dựa trên những bằng chứng đích thực. Sử dụng dẫn chứng. Để trình bày một ý nào đó.Để chứng minh rằng có tận dụng lợi ích của việc được mở tài liệu. Vì không thể trình bày tốt hơn thế. Các dẫn chứng có thể rất ngắn. Ba hay bốn từ thôi cũng sẽ rất hiệu quả nếu nó thích hợp với câu văn. Chỉ rõ lấy dẫn chứng từ đâu cũng sẽ quan trọng không kém việc đưa ra lời trích dẫn. Phải chú ý để không dẫn chứng quá nhiều. Đây là bài viết của các bạn, là những lí luận của các bạn; trích dẫn quá nhiều sẽ làm giảm chất lượng chính kiến của các bạn.

    Có thể làm bài ở lớp hay mang về nhà với những câu hỏi các bạn đã hoặc chưa từng gặp trước bài kiểm tra. Đừng đánh giá thấp sự chuẩn bị trước cho một bài kiểm tra được mở tài liệu: bạn bị hạn chế về thời gian, vì vậy mà chìa khóa cho việc đạt hiệu quả là các bạn phải sắp xếp cho thật hợp lí để có thể nhanh chóng tìm thấy những dữ liệu, lời trích dẫn, ví dụ, hoặc những lập luận cần dùng tới trong khi làm bài.

     

    KẾT LUẬN

     

    Trong điều kiện đất nước ta đang xây dựng và phát triển một nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường, có sự quản lý của Nhà nước, từng bước hòa nhập vào nền kinh tế thế giới thị việc học tập, nghiên cứu lý thuyết cũng như các vấn đề kinh tế ngày càng trở thành yêu cầu bức xúc và có ý nghĩa thiết thực trong công cuộc đổi mới. Nhằm góp phần cho sinh viên kinh tế có một phương pháp học thiết thực và hiệu quả hơn, đáp ứng đúng nhu cầu của các doanh nghiệp cũng như xã hội đặt ra tôi tiến hành nghiên cứu đề tài khoa học “Phương pháp học của sinh viên các ngành kinh tế và quản trị kinh doanh”. Nghiên cứu, tổng hợp lý thuyết về phương pháp học tập ở Đại học. Thực hiện cuộc khảo sát và tiến hành phân tích, đánh giá về phương pháp học tập của sinh viên khá, giỏi ở Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán. Đưa ra đặc thù riêng về các môn học kinh tế và ứng dụng lý thuyết về phương pháp học Đại học vào sinh viên khối ngành kinh tế và quản trị kinh doanh.

    Đây là đề tài khá mới mẻ trong việc tìm kiếm phương pháp học hiệu quả, chất lượng, đúng yêu cầu cho sinh viên kinh tế. Với tính thiết thực và mới mẻ của đề tài, hy vọng sẽ mang lại cho sinh viên khối ngành kinh tế một phương pháp học hiệu quả nhất. Ngoài ra, cũng là một đề tài mà sinh viên các ngành khác sẽ tìm thấy những phương pháp khá bổ ích trong quá trình nghiên cứu và học tập của mình.

    Đề tài được thực hiện dựa trên những vấn đề lý thuyết chung, cuộc khảo sát thực tế và sự giúp đỡ của Th.Sỹ Trịnh Thị Thu Hồng trong quá trình nghiên cứu, đánh giá và hoàn thiện. Nhân dịp này, tôi xin trân trọng cảm ơn những thế hệ đi trước đã có những nghiên cứu làm cơ sở cho tôi trong việc tìm lý thuyết chung, tất cả những anh, chị, các bạn và các em sinh viên Khoa TCNH & QTKD và Khoa Kinh tế & Kế toán đã có sự hợp tác trong quá trình khảo sát, và đặc biệt là sự hướng dẫn tận tình của Th.Sỹ Trịnh Thị Thu Hồng đã giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành đề tài này.

    Kết quả nghiên cứu là phương pháp học các môn kinh tế đạt hiệu quả, chuyển thầy cô các bộ môn kinh tế xem xét, hoàn thiện lại các giải pháp đưa ra, góp phần nâng cao hơn, ứng dụng vào sinh viên nhóm ngành kinh tế cả trường và phát triển. Xin chân thành cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Chi Tiết Máy


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-Qu%E1%BA%A3n-L%C3%BD-Kh%C3%A1ch-S%E1%BA%A1n-V%C3%A0-%C4%90%E1%BA%B7t-Ph%C3%B2ng-Tr%E1%BB%B1c-Tuy%E1%BA%BFn.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Luận Văn Quản Lý Khách Sạn Và Đặt Phòng Trực Tuyến

    Đồ án tốt nghiệpQuản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    CHƯƠNG I:

    MÔ TẢ BÀI TOÁN VÀ GIẢI PHÁP

     

    I. QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG CỦA KHÁCH SẠN

    Bộ máy quản lý của khách sạn bao gồm: Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, Phó giám đốc, các phòng ban (Phòng kế toán, phòng kinh doanh, phòng tổ chức – hành chính), và các tổ; được bố trí theo sơ đồ sau:

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              1

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

    GIÁM ĐỐC

    PHÒNG KINH DOANH   PHÒNG KẾ TOÁN   PHÓ GIÁM ĐỐC
             
    BỘ   BỘ   BỘ   BỘ   PHÒNG TỔ CHỨC
    PHẬN   PHẬN   PHẬN   PHẬN   – HÀNH CHÍNH
    LỄ TÂN   NHÀ   NHÀ   DỊCH VỤ    
             
        PHÒNG   HÀNG        
            VÀ BẾP        
                     
    BỘ   BỘ   BỘ
    PHẬN   PHẬN   PHẬN
    AN NINH   NHÂN   BACK
    SỬA   SỰ   OFFICE
    CHỬA        
             

    Hình 1.1: Sơ đồ bộ máy quản lý của khách sạn

    Khách sạn được hình thành từ các phòng, tổ quan hệ mật thiết hỗ trợ nhau. Mỗi phòng ban có tổ chức rõ ràng, không chồng chéo. Mọi hoạt động quản lý, sản xuất kinh doanh của khách sạn đều dưới sự chỉ đạo của Ban giám đốc. Ban giám đốc chịu trách nhiệm với hội đồng quản trị cấp trên và chịu trách nhiệm trước tập thể cán bộ công nhân viên công ty.

    Giám đốc là người chịu trách nhiệm chính của khách sạn và là người chịu trách nhiệm trực tiếp với hội đồng quản trị cấp trên và trước tập thể cán bộ công nhân viên.

    Phó giám đốc hành chính chịu trách nhiệm trước giám đốc về công tác tổ chức, lao động, làm công tác khen thưởng, kỷ luật, quản trị hành chính, lưu trữ văn thư.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              2

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Phòng kinh doanh chịu trách nhiệm trước ban giám đốc chuyên sâu về vấn đề tổ chức kinh doanh của khách sạn để đạt hiệu quả cao, đem lại nhiều lợi nhuận cho khách sạn.

    Bộ phận kế toán chịu trách nhiệm trước ban giám đốc khách sạn, bộ phận này gồm có một kế toán trưởng và các kế toán viên, có trách nhiệm thực hiện các hoạt động về kế hoạch tài chính cà công tác kế toán, cụ thể là lập kế hoạch tài chính, dự trù ngân sách hàng năm, tổ chức theo dõi việc thu chi của khách sạn, chi trả lương, định giá thành và kiểm soát các hoạt động tài chính.

    Bộ phận lễ tân, Bộ phận nhà phòng, Bộ phận nhà hàng và bếp, Bộ phận dịch vụ, Bộ phận an ninh – sửa chữa, Bộ phận nhân sự, Bộ phận back office – chịu trách nhiệm trực tiếp với phòng kinh doanh và giám đốc.

    Bộ phận lễ tân là chiếc cầu nối giữa khách hàng và khách sạn.

    1. Quy trình đặt phòng qua mạng:

    Sau khi truy vấn những thông tin của khách sạn trên mạng, khách hàng có thể lựa chọn việc đặt phòng tại khách sạn thông qua website. Để có thể đăng ký đặt phòng, khách có nhu cầu cần phải đăng ký một account cho mình trên website của khách sạn – account gồm có địa chỉ Email đang hoạt động và password của khách. Khi tiến hành lựa chọn phòng thuê, khách sẽ đăng nhập vào website thông qua account của mình (hoặc có thể đăng nhập sau khi đã lựa chọn được phòng phù hợp với yêu cầu của mình), sau đó sẽ chọn loại phòng muốn đăng ký. Từ yêu cầu đặt phòng của khách, hệ thống website sẽ tự động kiểm tra trong cơ sỡ dữ liệu rồi đưa ra những phòng có trong loại phòng khách yêu cầu.

    Từ danh sách phòng mà website đưa ra, nếu khách hàng tìm được phòng theo yêu cầu của họ, họ sẽ đánh dấu vào phòng mình chọn, điền các thông tin bắt buộc và không bắt buộc (những thông tin có thể điền hoặc có thể không) như: chọn loại phòng, ngày nhận phòng (Ngày nhận phòng phải sau ngày đặt phòng tối thiều là 2 ngày), ngày trả phòng, số lượng phòng, số người

    • (số người lớn và số trẻ em), họ và tên khách (người đăng ký), giới tính, số

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              3

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    partpost hoặc số chứng minh thư nhân dân, số tài khoản, địa chỉ liên lạc, số điện thoại, số fax (nếu có), tên nước…; và chọn chức năng “đặt phòng”.

    Thông tin của cuộc đặt phòng của khách sẽ được gửi về ban quản lý để xử lý. Danh sách phòng được đặt và khách thuê là kết quả cuối cùng và sẽ được chuyển cho bộ phận lễ tân.

    Bộ phận phụ trách và điều hành website sẽ có trách nhiệm giải quyết những thắc mắc, yêu cầu của khách hàng qua Email hoặc hướng dẫn qua điện thoại.

    Sơ đồ quy trình đặt phòng:

    Nguồn khách

    Nhận yêu cầu đặt phòng

    Đưa ra danh sách phòng

    thuộc loại phòng khách

    yêu cầu

    Khách sạn không có khả

    năng đáp ứng

    Nhận thay đổi yêu cầu

    của khách

    Nhận thông tin đặt phòng Trường ĐHDL Hải Phòng

    Khách đồng ý

    4

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    1. Đón tiếp và xếp phòng cho khách: Khi khách hoặc đoàn đến khách sạn;

     

    + Đối với khách đã đặt phòng từ trước khi yêu cầu nhận phòng phải đưa thông tin liên quan tới cuộc đặt phòng của mình. Nhân viên lễ tân sẽ tìm kiếm thông tin đặt phòng trên máy tính hoặc trong sổ sách, xác nhận lại các thông tin check in và lưu vào cơ sở dữ liệu. Thông tin check in bao gồm thông tin về khách và thông tin phòng khách thuê.

     

    + Còn với khách chưa đặt phòng trước có yêu cầu thuê phòng, nhân viên lễ tân sẽ cung cấp thông tin về các phòng trống hiện có cho khách thông

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              5

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    qua việc truy vấn vào kho dữ liệu danh sách phòng. Khách xác nhận thuê phòng, nhân viên lễ tân sẽ lưu thông tin vào cơ sỡ dữ liệu.

    Trường hợp là khách lẻ: bộ phận lễ tân ghi nhận các thông tin về khách

    hàng

    Trường hợp là khách đoàn: Bộ phận lễ tân sẽ ghi nhận nhưng thông tin về người đại diện cho đoàn, thông tin về các thành viên trong đoàn, số lượng phòng, loại phòng, danh sách khách trong từng phòng và các yêu cầu của khách hàng.

    Nếu khách có yêu cầu giúp đỡ đối với hành lí của họ thì nhiệm vụ của nhận viên này là thông báo với tổ trưởng bộ phận phục vụ khách hàng để cử nhân viên của bộ phận đó đưa hành lý lên phòng cho khách. Bên cạnh đó, bộ phận lễ tân giới thiệu các dịch vụ sẳn có của khách sạn phục vụ khi khách ở trong khách sạn.

    Sơ đồ quy trình đón tiếp và xếp phòng cho khách:

    ĐÓN TIẾP

      Đã đặt chỗ trước   XÁC NHẬN VIỆC ĐẶT   Chưa đặt chỗ trước
            PHÒNG      
                     
                   
      LÀM THỦ TỤC ĐĂNG KÝ       ĐÓN TIẾP
                 
                     
    Trường ĐHDL Hải Phòng     6
                 
      XÁC NHẬN KHẢ NĂNG     XÁC ĐỊNH KHẢ NĂNG
      THANH TOÁN       CỦA KHÁCH SẠN

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.                 Quy trình phục vụ khách hàng trong thời gian khách lưu trú tại khách sạn:

    Trong thời gian khách lưu trú tại khách sạn, khi khách có yêu cầu sử dụng dịch vụ, khách sạn sẽ cung cấp các dịch vụ phục vụ nhu cầu của khách. Bộ phận lễ tân thu thập các phiếu sử dụng của khách hàng gửi lên từ các bộ phận phục vụ khách để tiến hành lập và tổng hợp lại các khoản chi phí của khách.

    Sơ đồ quy trình phục vụ khách

    NHẬN YÊU CẦU SỬ DỤNG

    DỊCH VỤ

    CUNG CẤP DỊCH VỤ

    Trường ĐHDL Hải Phòng 7

    LƯU THÔNG TIN SỬ DỤNG

    DỊCH VỤ

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4. Quy trình làm thủ tục và thanh toán cho khách (Check out):

    Khi khách có yêu cầu trả phòng, bộ phận lễ tân có nhiệm vụ thông báo cho các bộ phận khác trong khách sạn về việc trả phòng của khách nhằm xác định các khoản chưa thanh toán. Khi khách trả phòng, nhân viên lập hoá đơn tổng hợp và tiến hành thanh toán với khách.

    Việc check out cho khách theo đoàn phải có khả năng phân biệt các chi phí của đoàn và các chi phí của cá nhân trong đoàn.

    Sau khi làm thủ tục check out xong, bộ phận lễ tân sẽ thông báo cho bộ phận trực phòng làm thủ tục kiểm kê tài sản và vệ sinh phòng đó.

    Cuối mỗi ngày bộ phận lễ tân sẽ viết báo cáo tổng hợp về tình hình khách đến, khách đi, thực trạng phòng trống, phòng bận cũng như thu chi của ngày cũng như ý kiến phản hồi của khách (từ bộ phận back office) cho ban giám đốc khách sạn.

    Sơ đồ quy trình làm thủ tục và thanh toán cho khách:

    NHẬN YÊU CẦU TRẢ

    PHÒNG

    XÁC ĐỊNH THÔNG TIN TRẢ

    PHÒNG

    LƯU THÔNG TIN TRẢ PHÒNG

         
    Trường ĐHDL Hải Phòng TỔNG HỢP CHI PHÍ PHÁT 8
      SINH CỦA KHÁCH  

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    II. GIẢI PHÁP ĐỀ XUẤT

    1. Giải pháp kỹ thuật

    Yêu cầu chung đối với tổng thể hệ thống:

    • Bộ phận tiếp tân sử dụng từ 2 – 3 máy tính.
    • Phòng kế toán sử dụng từ 2 – 5 máy tính và máy đọc thẻ tín dụng do ngân hàng cung cấp.
    • Bộ phận đặt phòng sử dụng từ 1 – 2 máy tính.
    • Bộ phận dịch vụ sử dụng từ 2 – 3 máy tính.
    • Các bộ phận khác sử dụng từ 1 – 4 máy tính tùy theo nhu cầu sử dụng chương trình.
    • Các máy tính phải nối mạng với nhau và nối mạng Internet).
    • Cấu hình tối thiểu đối với mỗi máy tính:
    • Cấu hình CPU tối thiểu phải là Pentium 500Mhz.
    • Hệ điều hành: Windows 2000, Windows XP.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                              9

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Giải pháp hệ thống

    Từ việc phân tích hoạt động của khách sạn diển ra hàng ngày ở trên, có thể thấy: Quản lý khách sạn là một công việc quá phức tạp và luôn yêu cầu phải được giải quyết nhanh chóng. Để đáp ứng yêu cầu này cần phải có một chương trình có thể quản lý được các công việc trên và được làm tự động hóa trên máy tính. Hệ thống với dữ liệu vào là Các thông tin về khách, thời gian thuê phòng của khách, giá các loại dịch vụ, thông tin về việc sử dụng dịch vụ hàng ngày của khách. Hệ thống sẽ xử lý các dữ liệu này và đưa ra: Phiếu thanh toán chi tiết cho khách, hóa đơn thanh toán, các báo cáo thông kê tình hình doanh thu trong ngày, trong tháng, trong quý, trong năm, các dự trù kinh phí cho các hoạt động sắp tới.

    CHƯƠNG 2:

    GIỚI THIỆU NGÔN NGỮ LẬP TRÌNH

    VISUALBASIC 6.0

    1. Giới thiệu vài nét về ngôn ngữ lập trình VisualBasic

    Dùng VisualBasic là cách nhanh và tốt nhất để lập trình cho Microsoft Windows. Cho dù là một chuyên gia lập trình hay một người mới làm quen với chương trình windows, VisualBasic sẽ cung cấp một bộ công cụ hoàn chỉnh để đơn giản hóa việc triển khai lập trình ứng dụng cho MSWindows.

    VisualBasic là gì? Phần “Visual” đề cập đến phương pháp được sử dụng để tạo giao diện đồ họa người dùng (Graphical User Interface, viết tắt là GUI). Có sẵn những bộ hình ảnh, gọi là controls, bạn tha hồ sắp đặt vị trí và quyết định các đặc tính của chúg trên một khung màn hình, gọi là form. Điều này giúp cho người lập trình với VisualBasic đỡ mất công hơn – thay vì việc

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            10

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    phải viết những dòng code để mô tả các thành phần đồ họa trên form thì chỉ cần thêm vào những đối tượng đã được định nghĩa trước trong thư viện của VisualBasic.

    Phần “Basic” đề cập đến ngôn ngữ BASIC (Beginner All-Purpose Symbolic Instruction Code), một ngôn ngữ lập trình được coi là đơn giản, dễ học.

    VisualBasic đã ra đời từ MSBasic, do Bill Gate viết từ thời dùng cho máy tính 8 bits 8080 hay Z80. Từ VisualBasic 1.0 đến VisualBasic 5.0 đã được bổ sung thêm nhiều cách thức, tạo thêm phần hỗ trợ 32 bits, ngoài khả năng tạo các tập tin thêm còn có khả năng tạo các bảng điều khiển riêng. Đến bản VisualBasic 6.0 (Có 3 ấn bản là Learning, Professional và Enterprise) đã được bổ sung một số tính năng ngôn ngữ đã được mong đợi từ lâu, tăng cường năng lực Internet, và các tính năng cơ sở dữ liệu mạnh hơn. VisualBasic đã trở thành ngôn ngữ lập trình mạnh nhất và tiện lợi nhất hiện nay, nó tiết kiệm thời gian và công sức hơn so với các ngôn ngữ lập trình khác khi xây dựng cùng một ứng dụng.

    VisualBasic gắn liền với khái niệm lập trình trực quan, nghĩa là khi thiết kế chương trình ta thấy ngay kết quả qua từng thao tác và giao diện khi chương trình thực hiện. Đây là một thuận lợi so với các ngôn ngữ lập trình khác. ViusalBasic cho phép chỉnh sửa đơn giản, nhanh chóng về màu sắc, kích thước, hình dáng của các đối tượng có mặt trong ứng dụng.

    Một khả năng đặc biệt của VisualBasic là khả năng kết hợp các thư viện liên kết động DLL (Dynamic Link Library). DLL chính là phần mở rộng cho VisualBasic tức là khi xây dựng một ứng dụng nào đó có một số một số yêu cầu mà VisualBasic chưa đáp ứng đủ, ta viết thêm DLL phụ trợ.

    Khi viết chương trình bằng VisualBasic, chúng ta cần trải qua hai bước:

    • Thiết kế giao diện (Visual Programing)
    • Viết lệnh (Code Programing).

    2.                 Tổ chức chương trình của VisualBasic (Project)

     

    • Project bao gồm:

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            11

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • File project (.vpb)
    • Các form (.frm): Dùng để cập nhật dữ liệu cho cơ sỡ dữ liệu (nhập, sửa, xóa, tìm kiếm, các xử lý tính toán dữ liệu…).
    • Các thiết kế:
    • Designer
    • Data Envirment tạo các kết nối cơ sở dữ liệu
    • Data report tạo các báo cáo
    • Các Module (.bas): Chứa các hàm, các thủ tục viết bằng VisualBasic.
    • Các Class Module (.cls): Tạo ra các lớp.
    • Có nhiều cá điều khiển riêng của người sử dụng như ActiveX (.ocx).

    3.     Truy cập cơ sở dữ liệu từ xa bằng mô hình ADO (ActiveX Data

    Object)

     

    Mô hình này dùng để truy cập và xử lý cơ sở dữ liệu từ xa thông qua mạng nhờ kết nối ODBC.

     

    3.1.           ODBC (Open DataBase Connectivity – Khả năng tương kết cơ

    sở mở)

     

    Đây là một biện pháp độc lập ứng dụng để kết nối nhiều cơ sở dữ liệu khác nhau nghĩa là có trình điều khiển đúng đắn khi đó ODBC sẽ cho phép kết nối với cơ sở dữ liệu nào đó từ xa.

     

    ODBC có 2 loại: laọi 32 bits và loại 16 bits.

     

    – ODBC Adminitrator 32 bits hay ODBC Data Source Adminitrator (Bộ điều hành nguồn dữ liệu ODBC) nó sẽ bao gồm các bảng sau:

     

    • User DSN (Data Source Name): Cho phép cấu hình một nguồn dữ liệu ODBC dành cho chỉ một người dùng.
    • System DSN: Xác lập các nguồn dữ liệu sẽ được nhiều người dùng trên một máy tính.
    • File DSN: Xác lập một nguồn dữ liệu gốc tập tin (Tạo ra một kết nối nhưng tồn tại ở dạng 1 file .DSN).

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            12

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • ODBC Driver: Liệt kê các trình điều khiển ODBC đã cài đặt

    trên hệ thống.

    • Tracing: Cho phép theo dõi các lệnh gọi ODBC cho các trình điều khiển ODBC thực hiện.

    3.2. Mô hình ADO (Active Data Object)

    Connection

    Command

    Parameter

    RecordSet

    Field

    Error

    Hình 2.1: Mô hình ADO

    3.2.1. Điều khiển ADODC (ADO Data Control)

    Project Æ Component Æ Control Æ Microsoft ADO Data Control 6.0 (OLEDB).

    • Tác dụng của điều khiển ADODC: Cho phép truy cập và xử lý dữ liệu trong cơ sở dữ liệu tại chỗ hoặc từ xa thông qua kết nối ODBC.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            13

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Một số thuộc tính
    • Connectinon String = “DSN = Tên kết nối ODBC”

    hoặc:

    Connectinon String = “Giá trị Provider (Trình điều khiển) = Tên trình điều khiển; DataSource = Tên và đường dẫn đến cơ sở dữ liệu”

    • Command Type (Xác định các kiểu câu lệnh) = adCmdTabe adCmdText adCmdUnknown adCmdStoredProc
    • Cursor Type (Kiểu con trỏ) = adOpenDynamic

    adOpenKeyset

    adOpentatic

    • Lock Type = adLockBatchOptimistic adLockOptimistic adLockRessimistic adLockReadOnly
    • Mode (Quy định mở bảng) = adModeRead adModeWrite adModeShareDenyNone adModeShareDenyRead adModeShareDenyWrite adModeShareDenyUnknown
    • RecordSource: Xác định bảng dữ liệu cần truy cập. RecordSource = “Tên bảng\ Nội dung câu lệnh SELECT…”
    • Cursor Location = adUserClient

    adUserServer

    (Định vị con trỏ làm việc về phía máy khách\chủ).

    • Refresh: Làm tươi mới cơ sở dữ liệu.
    • ROF Action = 0 – adDomovefirst: chưa ở đầu bảng.

    1 – adStayBOF: đầu đọc dừng ở đầu bảng.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            14

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    + EOF Action = 0 – adDomovelast: chưa ở cuối bảng.

    • – adStayEOF: đầu đọc đang ở cuối bảng.
    • – adDoaddnew: Tạo ra bản gi trống.
    • Một số các phương thức (Method):

    Khi việc kết nối cơ sở dữ liệu thành công cho phép sử dụng một số phương pháp sau để xử lý dữ liệu. Việc xử lý dữ liệu được thực hiện nhờ các phương thức của thành phần RecordSet.

    • Phương thức dịch chuyển bản ghi trong bảng:
    • ADODC Name.RecordSet.Movefirst: Dịch chuyển về bản ghi đầu.
    • ADODC Name.RecordSet.Movelast: Dịch chuyển về bản ghi cuối.
    • ADODC Name.RecordSet.Movenext: Dịch chuyển về bản ghi tiếp

    theo.

    • ADODC Name.RecordSet.Moveprevious: Dịch chuyển về bản ghi đứng trước bản ghi hiện hành.
    • ADODC Name.RecordSet.Move n: Dịch tiến (n) hoặc lùi (-n) n bản ghi so với bản ghi hiện hành.
    • Phương thức cập nhật dữ liệu cho bảng:
    • ADODC Name.RecordSet.Addnew: Thêm bản ghi mới.
    • ADODC Name.RecordSet.Delete: Loại bỏ bản ghi hiện hành.
    • ADODC Name.RecordSet.Update: Lưu trử một bản ghi tại một thời điểm.
    • ADODC Name.RecordSet.UpdateBatch: Lưu trử 1 bó dữ liệu tại một thời điểm.
    • Phương thức truy cập đến trường dữ liệu: ADODC Name.RecordSet.Fields(“Tên trường”)
    • Kiểm tra trạng thái con trỏ trong bảng:

    ADODC Name.RecordSet.BOF = TRUE: Control đang ở đầu bảng;

    • FALSE: Control khác đầu bảng.
    • ADODC Name.RecordSet.EOF = TRUE: Control đang ở cuối bảng

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            15

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    =  FALSE:  Control  không  ở  cuối

    bảng.

    • Đếm số bản ghi trong bảng:

    ADODC Name.RecordSet. RecordCount

    3.2.2. Đối tượng ADODB

    Tham chiếu đến thư viện:

    Project Æ References Æ Microsoft ActiveX Data Object 2.0 Library.

    Tác dụng của đối tượng ADODB là: kết nối đến cơ sở dữ liệu từ xa, là dạng đối tượng ActiveX.

    3.2.2.1. Cách khai báo và thiết lập:

    Khai báo biến connection:

    Dim cn AS ADODB.Connection, rs AS ADODB.RecordSet Set cn = New ADODB.Connection, rs AS ADODB.RecordSet cn.Open “Tên kết nối ODBC” [Hoặc: “DSN = Tên kết nối ODBC”

    hoặc: “Driver =…; server = …; UID = …; PWD = …; Database=…”] Set rs = New ADODB.RecordSet

    Set rs = cn.Execute(“Tên bảng | Tên truy vấn | Nội dung câu lệnh select”)

    Hoặc: rs.Open Source, Active Connection, Cursor Type, Lock Type;

    Với Source là biểu thức chuổi chứa tên bảng cần mở trong cơ sở dữ liệu,

    Active Connection là tên kết nối đã được thiết lập từ trước (chính là cn)

    Cursor    Type    là    kiểu    con    trỏ    (gồm    3    kiểu:    adOpenDynamic,

    adOpenKeyset, adOpenstatic).

    Lock Type là kiểu khóa dữ liệu (Gồm: adLockBatchOptimistic, adLockOptimistic, adLockPessimistic, adLockReadOnly).

    • Ngoài ra còn cho phép sử dụng cây lệnh của SQL để cập nhật dữ liệu cho bảng trong cơ sở dữ liệu mà không cần thông qua RecordSet:

    cn.Execute(“INSERT INTO…| DELETE FROM… | UPDATE…”)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            16

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.2.2. Các phương thức để xử lý dữ liệu trong bảng thông qua

    RecordSet:

    1. Cập nhật dữ liệu cho bảng: – Nhập dữ liệu mới cho bảng:

    rs.AddNew

    rs.Field(“Tên trường”) = <Giá trị mới>

    rs.Update

    – Sửa dữ liệu:

    cn.Execute(“UPDATE<Tên bảng> SET<Tên trường> = <Giá trị mới sửa> WHERE <Điều kiện>”)

    – Xóa bản ghi hiện hành: rs.Delete

    1. Dịch chuyển bản ghi

    rs.Movefirst

    rs.Movenext

    rs.Moveprevious

    rs.Movelast

    rs.Move n

    1. Thuộc tính rs.BOF rs.EOF

    rs.RecordCount (Đếm số bản ghi)

    1. Thiết kế môi trường dữ liệu DED (Data Environment Designer)

     

    • Định nghĩa

     

    • DED dùng để định nghĩa những kết nối phức tạp giữa cơ sở dữ liệu dùng trong ứng dụng, cụ thể:

    + Định nghĩa kết nối các cơ sở dữ liệu.

    + Sử dụng câu lệnh của SQL để truy cập cơ sở dữ liệu vừa được kết

    nối.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            17

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Chỉ định các lệnh riêng rẽ kết hợp với nhau như thế nào để tạo nên những mục (câu) hỏi phức tạp.
    • Định nghĩa chức năng gộp cho các mục hỏi.
    • Chỉ định thứ tự sắp xếp của dữ liệu ở các mục hỏi.
    • Sau khi đã tạo ra được các kết nối để kết nối đến cơ sở dữ liệu cần làm việc thì các kết nối này sẽ được sử dụng vào các công việc sau:
    • Làm nguồn dữ liệu để tạo báo cáo bằng các DataReport.
    • Làm nguồn dữ liệu để hiển thị dữ liệu của bảng trong cơ sở dữ liệu trên Form, từ đó cho phép cập nhật dữ liệu vào bảng.

    +Làm nguồn dữ liệu cho điều khiển HFG (Hierachical Flex Grid – điều khiển khung kẻ ô có thứ bậc)

    4.2. Các thành phần có trong một DE (Data Environment)

    Data Environment

    Connection 1

    Command 1.1

    Child Command

    Command 1.2

    Command 1.n

    Connection2

    Connection m

    Hình 2.2: Các thành phần trong một DE

    – Mô tả cấu trúc:

    Một DE sẽ bao gồm nhiều kết nối (Connection) khác nhau. Mỗi một kết nối sẽ kết nối đến 1 cơ sở dữ liệu tại chỗ hoặc từ xa thông qua ODBC.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            18

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Trong mỗi kết nối sẽ có nhiều câu lệnh (Command) khác nhau. Trong đó mỗi câu lệnh trong kết nối sẽ kết nối trực tiếp đến 1 bảng hoặc đến nhiều bảng trong cơ sở dữ liệu đang được kết nối (trong trường hợp nhiều bảng Æ dùng câu lệnh Select của SQL).

    Ngoài ra: trong mỗi câu lệnh còn các câu lệnh con (Child Command) ở trong nó, mỗi câu lệnh con trong câu lệnh cha sẽ kết nối đến 1 bảng trong cơ sở dữ liệu đang được kết nối thỏa mãn bảng này phảo có quan hệ n-1 với bảng mà câu lệnh cha đang kết nối vào.

    • Đối với mỗi câu lệnh trong kết nối cho phép:
    • Phân nhóm dữ liệu theo 1 trường nào dods của bảng để từ đó thống kê dữ liệu trên bảng (Chức năng Grouping).
    • Cho phép thay đổi quyền truy cập dữ liệu đối với bảng trong cơ sở dữ liệu (Chức năng Advanced).
    • Đối với câu lệnh con nằm trong câu lệnh cha thì phải đặt mối quan hệ với bảng dữ liệu mà câu lệnh cha truy cập vào (Chức năng Relation).
    • Một DE được tạo ra sẽ được tồn tại ở bộ nhớ ngoài dưới dạng 1 tệp có phần mở rộng là .DSR (Designer).

    * Các phương thức của RecordSet trong command: Tên DE.RS tên lệnh.AddNew Tên DE.RS tên lệnh.Delete Tên DE.RS tên lệnh.Update

    Tên DE.RS tên lệnh.Find “Biểu thức điều kiện” Tên DE.RS tên lệnh.MoveFist

    Tên DE.RS tên lệnh.MoveLast Tên DE.RS tên lệnh.MovePrevious Tên DE.RS tên lệnh.MoveNext Tên DE.RS tên lệnh.Move n

    * Thuộc tính:             Tên DE.RS tên lệnh.BOF

    Tên DE.RS tên lệnh.EOF

    Tên DE.RS tên lệnh.Finter = “Biểu thức điều kiện”

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            19

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Tên DE.RS tên lệnh.RecordCount

    Tên DE.RS tên lệnh.Fields(“Tên trường”)

    CHƯƠNG 3:

    GIỚI THIỆU CƠ SỞ DỮ LIỆU ACCESS

    Cơ sở dữ liệu là một tập hợp các thông tin liên quan tới một đối tượng liên quan cụ thể hoặc theo một mục đích nào đó. Ví dụ như các thông tin về đặt hàng của khách hàng hoặc lưu trữ các thông tin hàng hoá.

    Sử dụng Microsoft access có thể quản lý tất cả các thông tin với một tệp tin cơ sở dữ liệu đơn lẻ (tệp có phần mở rộng .mdb). Trong tệp tin cơ sở dữ liệu này, thông tin sẽ được lưu trữ trong các hộp chứa gọi là các bảng (table). Cập nhật thông tin, xem thông tin, nhập thông tin mới trên các bảng được thực hiện một các trực tiếp trên các mẫu biểu (forms). Tìm kiếm, lấy các thông tin được thực hiện nhờ các truy vấn (query) và phân tích in ấn, trình bày dữ liệu được thực hiện bằng cách tạo ra các báo biểu (report).

    Để lưu trữ thông tin, cần tạo một bảng cho mỗi kiểu thông tin cần lưu trữ. Để thực hiện việc tổ hợp các thông tin trên nhiều bảng lại với nhau cần định nghĩa quan hệ giữa các bảng.

    1. Bảng trong access (Table):

    Bảng (Table) là đối tượng được định nghĩa và dùng để lưu trữ dữ liệu, mỗi bảng chứa các tệp tin về một chủ đề xác định. Mỗi bảng gồm các trường (field) hay gọi là cột (Column) lưu trữ các loại dữ liệu khách nhau.

    Có thể định nghĩa một khoá cơ bản (Primary key) gồm một hoặc nhiều trường trong mỗi bảng ghi có giá trị xác định duy nhất và một hoặc nhiều chỉ mục (index) cho mỗi bảng để tăng tốc độ truy cập dữ liệu.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            20

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Mỗi bản ghi trên một bảng chứa đầy đủ thông tin hoàn chỉnh về một đối tượng dưới dạng một bảng tính, bạn có thể thêm, sửa hoặc xem dữ liệu trong bảng.

    Bạn có thể kiểm tra và in dữ liệu trong bảng dữ liệu của bạn hoặc thực hiện việc lọc sắp xếp dữ liệu, thay đổi cách hiển thị dữ liệu, thay đổi cấu trúc bảng (thêm, xoá các cột (trường)).

    Trong cửa sổ DataBase chọn tabs Table và chọn New để tạo một bảng mới hoặc chỉ mục Design để thiết kế sửa lại cấu trức của một bảng đã tồn tại.

    Các bước tạo một bảng dữ liệu:

    • Nhập vào tên một trường hoặc đổi tên một trường (nếu làm việc với các bảng đã có sẵn) trong cột Field Name.

    Tên trường: gồm một dãy không quá 64 ký tự, bao gồm chữ cái, chữ số và các ký tự cách trống.

    • Chọn kiểu dữ liệu tương ứng với trường đó trong cột Data Type

    Các trường có các kiểu dữ liệu cơ bảng sau:

    STT Kiểu Mô tả   Kích thước
             
    1 Text Ký tự   Dài ≤ 255 Byte
             
    2 Memo Ký tự   Dài ≤ 64000 Byte
             
    3 Number Ký tự   Dài 1, 2, 4 hoặc 8 Byte
             
    4 Date/Time Ngày, tháng, giờ   Dài 8 Byte
             
    5 Currency Tiền tệ   Dài 8 Byte
             
    6 Autonumber Số   Dài 8 Byte
             
    7 Yes/No Boolean   Dài 1 bit
             
    8 Ole object Đối  tượng  nhúng kết  
        hình ảnh    
             
    • Các loại quan hệ
    • Mối quan hệ 1 – 1: đòi hỏi giá trị của trường khoá trong chỉ một bản ghi của bảng mới phải so khớp với giá trị tương ứng của trường có quan hệ

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            21

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    trong bảng hiện có. Trong trường hợp này, từ khoá trong bảng mới phải là duy nhất.

    • Mối quan hệ 1 – nhiều: Đòi hỏi trường khóa chính của bảng mới phải là duy nhất, nhưng các giá trị trong trường khóa của bảng mới có thể so khớp với nhiều mục trong bảng quan hệ trên hệ cơ sở dữ liệu hiện có. Trong trường hợp này, trường quan hệ trong bảng của cơ sở dữ liệu hiện có sẽ có mối quan hệ nhiều – một với trường khóa chính trong bảng mới.
    • Mối quan hệ nhiều – một: cho phép bảng mới có nhiều giá trị trường khóa tương ứng với chỉ một giá trị trong trường giá trị của bảng hiện có. Trong trường hợp này, ta có thể có các giá trị trường khóa trùng lặp. Đây là kiểu phổ biến nhất.
    • Cách tạo quan hệ
    • Trong cửa sổ DataBase Windowns chọn Relationships từ menu Tools
    • Chọn các bảng, các truy vấn để đưa vào quan hệ
    • Chọn một trường từ bảng chính (Primary Table) và kéo sang trường tương ứng của bảng quan hệ, rồi bấm chuột tại Create để tạo quan hệ.
    • Chọn mục Enforce Referential Intergity. Nếu thỏa mãn:
    • Trường của bảng chính là khóa chính
    • Các trường quan hệ có cùng kiểu dữ liệu
    • Cả hai bảng trong quan hệ cùng thuộc một cơ sở dữ liệu thì access luôn đảm bảo tính chất: mỗi bản ghi trong các bảng quan hệ phải có một bản ghi tương ứng trong bảng chính. Điều này ảnh hưởng đến các phép thêm và xóa trong bảng quan hệ.
    • Tùy chọn Cascade Update và Cascade Delete

    – Khi đánh dấu Enforce Referential Intergity có thể sử dụng thêm các

    tùy chọn sau:

    • Cascade Update Related fields
    • Cascade Delete Retated fields

    Cascade Update: Khi sửa giá trị trường khóa trong bảng chính thì giá trị tương ứng của bản ghi trong trường quan hệ cũng bị sửa theo

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            22

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Cascade Delete: Khi xóa một bản ghi trong bảng chính thì bản ghi tương ứng trong trường quan hệ cũng bị xóa theo.

    2. Truy vấn (Query )

    Truy vấn là một đối tượng cho phép chọn xem các dữ liệu của một hoặc nhiều bảng theo ý muốn. Trong Microsoft Access có thể tạo ta các truy vấn bằng phương tiện truy vấn đồ họa theo mẫu QBE hoặc viết các câu lệnh SQL. Có thể định nghĩa các truy vấn dùng để chọn, cập nhật, chèn hoặc xoá DEL và để tạo các bảng mới từ các dữ liệu trong một hoặc nhiều bảng có sẳn.

    3. Mẩu biểu (Form)

    Mẩu biểu là một đối tượng được thiết kế chủ yếu dùng để nhập và hiển thị dữ liệu hoặc điều khiển việc thực hiện một ứng dụng. Cũng có thể in mẫu biểu, có thể thiết kế một mẫu biểu để chạy một Macro khi giá trị của dữ liệu thay đổi.

    4. Báo biểu (Report)

    Báo biểu là một đối tượng được thiết kế để quy định các tính toán, in và tổng hợp các dữ liệu được chọn; và chúng ta có thể xem một báo các trên màn hình trước khi in nó.

    Báo biểu dùng để in ấn các kết quả sau khi đã được xử lý từ bảng hay từ truy vấn với các khả năng sau:

    • In dữ liệu dưới dạng các bảng.
    • In dữ liệu dưới dạng phiếu.
    • Sắp xếp dữ liệu trước khi in và có thể phân nhóm dữ liệu trước khi in, sử dụng phép toán để tổng hợp dữ liệu trên mỗi nhóm trước khi in.
    • Ngoài dữ liệu tổng hợp nhận được trên các nhóm có thể đưa vào trong công thức để nhận được sự so sánh đối chiếu trên các nhóm và trên toàn báo biểu.
    • In dữ liệu của nhiều bảng có liên quan tới nhau cùng một lúc bằng hệ thống báo biểu chính và báo biểu phụ cấp 1, cấp 2.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            23

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Ngoài ra việc chọn font chữ, cỡ chữ, kiểu chữ, số lượng bản in, in các trang nào cũng như việc trình bày trên các báo biểu được tiến hành đơn giản và nhanh chóng.

    5. Macro

    Macro là một đối tượng định nghĩa một hoặc nhiều hành động (thao tác) có cấu trúc Access sẽ thực hiện để đáp ứng một sự kiện xác định. Ví dụ để thiết kế một Macro mà nó sẽ mở một mẫu biểu thức hai khi một phần tử nào đó trên mẫu biểu chính được chọn. Cũng có thể thiết kế một Macro mà nó sẽ kiểm tra tính hợp lệ của giá trị trong một trường khi giá trị của trường đó thay đổi, trong đó các Macro có thể đặt thêm các điều kiện đơn giản để quy định khi nào thì một hoặc nhiều hành động của một Macro sẽ được thực hiện hoặc sẽ bị bỏ qua. Các Macro có thể dùng để mở và thực hiện các truy vấn, các bảng, in và xem các báo cáo. Trong một Macro có thể chạy một Macro khác hoặc các hàm trong Module.

    6. Module

    Module là đối tượng chứa các thủ tục tuỳ ý được lập trình bằng Microsoft Acces Basic, đó là một biến thể của ngôn ngữ Microsoft Basic được thiết kế để làm việc trong Access, các module tạo ra các chuỗi hành động rời rạc và cho phép bẫy các lỗi mà các Macro không thực hiện được. Các Module có thể là các đối tượng độc lập chứa các hàm và có thể được gọi từ một vị trí bất kì trong một ứng dụng hoặc chúng có thể được liên kết trực tiếp với các mẫu biểu hoặc báo cáo để đáp ứng các sự kiện xảy ra trên mẫu biểu hoặc báo cáo đó. Các Module được liên kết với các mẫu biểu hoặc báo cáo là một ưu điểm đặc biệt của Access.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            24

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

     

    CHƯƠNG 4:

    PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN VÀ ĐẶT PHÒNG TRỰC TUYẾN

    I. CÁC KHÁI NIỆM CƠ BẢN

    Luồng dữ liệu (Data Flow): là các dữ liệu di chuyển từ một vị trí này

    đến một vị trí khác trong hệ thống.

    Luồng dữ liệu được ký hiệu:

    Kho dữ liệu (Data Store): là các dữ liệu được lưu trữ tại một chỗ.

    Kho dữ liệu được ký hiệu:

        Tên kho dữ liệu D
           

    Tiến trình (Process): là một công việc hay một hành động có tác dụng lên các dữ liệu làm cho chúng di chuyển, được lưu trữ, thay đổi hay được phân phối. Tên tiến trình phải là một mệnh đề động từ gồm động từ và bổ ngữ; ví dụ: “Tính tiền” hay “Lập đơn hàng”…

    Tiến trình được ký hiệu:

    (với n là số hiệu của tiến trình)

    n

    Tên tiến trình

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            25

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Ngoài ra, người ta còn thêm vào phần thứ 3 của hình chữ nhật góc tròn để ghi tên người, bộ phận hay phương tiện thực hiện tiến trình này; được ký hiệu như sau:

    n

    TÊN TIẾN

    TRÌNH

    Người/phương

    tiện thực hiện

    Tác nhân (Actor): là nơi xuất phát (nguồn – source) hay nơi đến (đích – sink) của luồn dữ liệu. Tên tác nhân phải là một danh từ, ví dụ như: “Khách hàng” hay “Nhà cung cấp”… Tác nhân có thể là:

    • Một tổ chức hay một đơn vị của tổ chức bên ngoài hệ thống (hay một phần hệ thống) gửi hay nhận thông tin từ hệ thống mà ta nghiên cứu.
    • Những người hay nhóm người có tương tác với hệ thống.
    • Các hệ thống thông tin khác có trao đổi thông tin với hệ thống.

    Tác nhân được ký hiệu như sau:

    TÊN TÁC NHÂN

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            26

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    II. PHÂN TÍCH THIẾT KẾ HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN VÀ ĐẶT PHÒNG TRỰC TUYẾN.

    1. Biểu đồ mức khung cảnh của hệ thống:

    Biểu đồ ngữ cảnh cho ta cái nhìn tổng quan về hệ thống quản lý khách sạn. Nó bao gồm ba thành phần sau:

    • Một tiến trình duy nhất: Hệ thống quản lý khách sạn.
    • Các tác nhân: Khách hàng và Nhà quản lý khách sạn.
    • Các luồng dữ liệu: Các luồng dữ liệu đi từ hai tác nhân đến hệ thống quản lý khách sạn và từ hệ thống quản lý khách sạn đến hai tác nhân.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            27

    Trường ĐHDL Hải Phòng
                                          òng
                                        h   h
                                        Yêu cầu đặt phòng
            Yêu cầu báo cáo             Trả lời yêu cầu đặt phòng  
                                                   
                                           
                                                           
                                        Yêu cầu thuê phòng            
            Báo cáo         0                      
                                                   
                                     
                                                       
                                  Trả lời yêu cầu thuê phòng          
            Yêu cầu cập nhật                        
                                                 
                                     
            thông tin dịch vụ                                            
                  HỆ THỐNG   Yêu cầu nhận phòng        
                                 
                          HỆ THỐNG                            
    KHÁCH SẠN                 nận p                    
              QUẢN LÝ       KHÁCH HÀNG
    NHÀ QUẢN LÝ                       Trả lời yêu cầu  
                          QUẢN LÝ                            
                              Yêu cầu dịch vụ              
            Yêu cầu cập nhật KHÁCH SẠN          
            KHÁCH SẠN                            
                               
            thông tin tiện nghi       Cung cấp dịch vụ      
                               
            Yêu cầu cập nhật                   Yêu cầu trả phòng              
                                   
              hòng                        
                                             
            thông tin p                   Thanh toán                
                                     
            Yêu cầu cập nhật                      
                                                   
                                           
            thông tin loại                                        
                                                   
            phòng                                        
                  Hình 4.1: Biểu đồ ngữ cảnh hệ thống                            
                                                               
    uểBi ánĐồ
    đồ tốt
    khungcứm pệnghi
    ng:ốthệhnhảc  
      ạskháchlýnảQu
      nếtuycựtrphòngtđặvàn

     

    28

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Phân rã chức năng hệ thống quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến:

    HỆ THỐNG QUẢN LÝ KHÁCH SẠN

    Quản lý khách sạn

    Quản lý tài nguyên

    Quản lý đặt phòng

    Quản lý khách vào

     Quản lý sử dụng dịch vụ

    Quản lý khách ra

    Báo cáo

    Quản lý đặt phòng qua mạng

    Thông tin về khách sạn

    Đặt phòng qua mạng

    Hình 4.2: Biểu đồ phân rã chức năng

    2.1 Quản lý tài nguyên

    Các tài nguyên của khách sạn cần quản lý như: loại phòng, phòng, tiện nghi, tài nguyên hỗ trợ cho các dịch vụ của khách sạn… Trong đó mỗi loại

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            29

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    phòng bao gồm nhiều phòng và mỗi phòng sẽ được trang bị những tiện nghi khác nhau.

    Thông tin về phòng cần phải quản lý để phục vụ cho quy trình đặt phòng, quản lý khách vào, khách ra. Thông tin về phòng bao gồm: số phòng, loại phòng, các tiện nghi hiện có trong phòng, giá phòng… và được lưu vào kho dữ liệu “Danh sách phòng”. Thông tin phòng phải được cập nhật thường xuyên về tình trạng phòng: phòng trống (phòng chưa có người thuê), phòng bận (phòng đã có người thuê), phòng được đặt ( phòng đã có khách đặt trước).

    Các tiện nghi được trang bị cho các phòng cũng được phân loại và cập nhật vào danh sách các tiện nghi. Các tiện nghi này sẽ được quản lý theo từng phòng và do nhân viên phục vụ phòng kiểm soát tình trạng khi dọn dẹp trong thời gian khách ở. Thông tin về tiện nghi bao gồm: tên tiện nghi, giá tiện nghi, mô tả tiện nghi.

    Quản lý tài nguyên cho phép quản lý dịch vụ mà khách sạn cung cấp, thông tin về dịch vụ bao gồm: tên dịch vụ, giá tiền, dụng cụ sữ dụng.

    Chức năng quản lý tài nguyên:

    QUẢN LÝ TÀI NGUYÊN

    Phòng   Loại phòng   Tiện nghi   Dịch vụ
                 
    2.2. Quản lý đặt phòng:        

    Chức năng quản lý đặt phòng cho phép quản lý thông tin về các cuộc đặt phòng của khách. Thông tin về cuộc đặt phòng bao gồm:

    • Thông tin về khách: thông tin định danh, tên khách, giới tính, địa chỉ, số điện thoại, số fax, số tài khoản…
    • Thông tin về cuộc đặt phòng: số phòng, ngày đến, giờ đến, ngày đi, hình thức thanh toán…

    Chức năng quản lý đặt phòng:

    QUẢN LÝ ĐẶT PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng     30
               
               

    Khách                         Cuộc đặt phòng

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.3 Quản lý khách vào:

    + Khách đã đặt chỗ trước:

    Khi đến thuê phòng, khách hàng cần đưa ra thông tin liên quan đến cuộc đặt phòng. Nhân viên lễ tân sẽ tra cứu thông tin cuộc đặt phòng trên máy tính, xác nhận lại các thông tin thuê phòng và lưu vào cơ sở dữ liệu. Thông tin về Quản lý khách vào bao gồm: thông tin khách thuê phòng và thông tin phòng khách thuê.

    + Khách chưa đặt chỗ trước:

    Nhân viên lễ tân sẽ đưa ra thông tin về các phòng còn trống trong

    khách sạn cho khách thông qua việc truy vấn vào kho dữ liệu Danh sách

    phòng trên máy tính. Khách xác nhận phòng thuê và nhân viên sẽ lưu các

    thông tin vào cơ sỡ dữ liệu.

    Chức năng quản lý khách vào:

    QUẢN LÝ KHÁCH VÀO

    Khách   Phòng thuê
         

    2.4. Quản lý sử dụng dịch vụ:

    Thông tin khách sử dụng dịch vụ của khách sạn sẽ được lưu trữ vào cơ

    sỡ dữ liệu và được tính toán tự động số tiền khách phải trả. Khách sẽ thanh

    toán theo hóa đơn riêng lẻ của từng dịch vụ hoặc thanh toán theo hóa đơn

    tổng hợp khi khách rời khỏi khác sạn.

    Chức năng quản lý sử dụng dịch vụ:

    QUẢN LÝ SỬ DỤNG DỊCH VỤ

    Trường ĐHDL Hải Phòng         31
                   
      Ăn uống   Điện thoại   Giặt là   Gửi fax
                     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.5 Quản lý khách ra:

    Nhân viên khách sạn sẽ tổng hợp chi phí phát sinh của khách, lập hóa đơn và chuyển cho nhân viên thu ngân của lễ tân thông báo cho khách và thanh toán tiền với khách. Nhân viên thu ngân chuyển phòng khách vừa trả thành phòng trống.

    Chức năng quản lý khách ra:

    QUẢN LÝ KHÁCH RA

    Hóa đơn thanh toán   Phòng trả
         

    2.6. Chức năng báo cáo:

    Hệ thống báo cáo có thể lọc theo thời gian hoặc theo một số tiêu chí khác theo yêu cầu:

    • Báo cáo về tình trạng phòng: số phòng trống, số phòng bận, số phòng

    đã được đặt.

    • Báo cáo về khách: Số khách vào, số khách ra…
    • Báo cáo về Phòng đặt.
    • Báo cáo về doanh thu phòng
    • Báo cáo về doanh thu dịch vụ.

    2.7. Thông tin về khách sạn:

    Chức năng thông tin về khách sạn nhằm giới thiệu và quảng cáo về khách sạn: Lịch sử khách sạn, vị trí địa lý, địa chỉ của khách sạn, diện tích khuôn viên của khách sạn, các dịch vụ mà khách sạn hiện có để cung cấp…

    Khách hàng có thể truy vấn thông tin về khách sạn trên mạng Internet.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            32

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2.8. Đặt phòng qua mạng:

    Sau khi truy vấn trên mạng, khách hàng có thể lựa chọn việc đặt phòng tại khách sạn thông qua mạng. Để có thể đặt phòng, khách hàng sẽ phải đăng ký một tài khoản (account) với email của khách hàng đã có.

    Việc đặt phòng sẽ được tiến hành như sau: sau khi truy cập website của khách sạn, khách hàng sẽ tiến hành việc chọn loại phòng có trong danh sách loại phòng của khách sạn. Khi khách hàng thực hiện yêu cầu chọn phòng, hệ thống sẽ đưa ra danh sách phòng thuộc loại phòng khách hàng yêu cầu. Khách hàng sẽ đánh dấu phòng chọn, điền các thông tin liên quan đến việc đặt phòng: số lượng phòng đặt, số phòng đôi, số phòng đơn, số khách thuê, số trẻ em, số người lớn, ngày đến, ngày đi, số tài khoản… Với yêu cầu ngày đến phải sau ngày đặt phòng ít nhất là hai ngày. Các thông tin này sẽ được gửi đến hệ thống. Sau đó hệ thống sẽ kiểm tra số lượng phòng có thể đáp ứng cho khách. Nếu thỏa mãn sẽ xác nhận lại thông tin đặt phòng và đặt phòng cho khách. Nếu không thỏa mãn thì sẽ gửi thông tin từ chối khách.

    3.     Biểu đồ luồng dữ liệu hệ thống.

     

    3.1 Biểu đồ luồng dữ liệu mức đỉnh:

      Yêu cầu đặt phòng 1.0 Thông tin              
        phòng đặt              
        Trả lời yêu cầu QUẢN LÝ              
                           
        đặt phòng ĐẶT Thông tin                  
        D53   DSDSphòngkhách        
          PHÒNG phòng        
                           
    Tr  ng ĐHDL Hải P òng   Thông tin         33      
                 
        Yêu cầu thuê 2.0       D6 DS phòng đặt    
        phòng phòng đặt          
               
            Thông tin                  

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh.

    3.2.1. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý đặt phòng

        1.1                
          Thông tin phòng  
    Trường ĐHDL Hải Phòng TRA CỨU
                34  
      Tra cứu thông tin   D5 DS phòng        
        THÔNG          
                       
        TIN                
                       

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.2. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý khách vào:

    3.2.2.1. Đối với khách đã đặt chỗ trước.

    Trường ĐHDL Hải Phòng 2.1.1 35

    TRA CỨU

     

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

        3.2.2.2. Đối với khách chưa đặt chỗ trước.          
                2.2.1          
            Yêu cầu thuê phòng TRA CỨU          
            Thông tin phòng rỗi THÔNG Thông tin phòng rỗi
            TIN          
                         
                           
                    D5 DS phòng  
                           
    Tr KHÁCH HÀNG     36  
    ường ĐHDL  ải Phòng      
                           
                           

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.3. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý sử dụng dịch vụ

      Yêu cầu sử dụng dịch vụ   Thông tin dịch vụ      
      3.1                
                     
                     
      D2   Dịch vụ    
                   
          QUẢN LÝ      
    KHÁCH HÀNG      
                     
                     
          DỊCH VỤ Lưu              
      Cung cấp dịch vụ              
      D4   Hoá đơn    
               
                   
                           

    Hình 4.6: Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng quản lý

    đặt phòng đối với khách chưa đặt chỗ trước

    3.2.4. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý khách ra

    Yêu cầu trả phòng 4. 1

    TRA CỨU

    THUÊ

    PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng

    Thông tin đúng

    4 2

    Thông tin khách sử

    dụng dịch vụ

    D2  Dịch vụ

    kháchphòng          37

    về

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.5. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Quản lý tài nguyên

    Yêu cầu c ập nhật 5.1          
    thông tin phòng   Cập nhật thông        
    QUẢN LÝ D5   DS phòng  
         
      tin phòng        
             
      PHÒNG          
      Yêu cầu cập nhật 5.2        
      thông tin loại phòng QUẢN LÝ        
    Trường ĐHDL Hải Phòng        
    Cập nhật thông D7 38  
            Loại phòng  
          LOẠI tin lợi phòng      
               
    NHÀ QUẢN LÝ        
               

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    3.2.6. Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Báo cáo

            Thông tin D1     Tiện nghi          
              tiện nghi                                
                                             
                  Thông tin                    
                    D2     Dịch vụ        
                  dịch vụ                              
                                               
                    Thông tin                        
                      D3     DS khách    
                                         
      Yêu cầu báo cáo 6. 0         khách                            
                                         
              Doanh thu                      
                                   
                                 
          LẬP BÁO     D4   Hóa đơn  
    NHÀ QUẢN LÝ  
                                           
          CÁO       Thông tin                            
      Danh sách các báo cáo                                  
                  D5   DS phòng  
                         
    Trường ĐHDL Hải Phòng             phòng          
                                           
            D6   DS phòng đặt 39
                       

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Thông tin

    phòng

    Thông tin

    loại phòng

    Hình 4.9: Biểu đồ luồng dữ liệu mức dưới đỉnh – chức năng Báo cáo

    4.     Mô hình dữ liệu quan hệ:

     

    • Các khái niệm cơ bản

     

    – Thực thể (Entity): là một khái niệm để chỉ một lớp các đối tượng cụ

    thể hay các khái niệm có cùng những đặc trưng chung mà ta quan tâm; và được ký hiệu:

    TÊN THỰC THỂ

    Bản thể (Instance): là một đối tượng cụ thể của thực thể.

    – Thuộc tính (Attributes): là các đặc trưng của thực thể. Nó được ký

    hiệu:

    Tên thuộc tính

    Thuộc tính của thực thể có các loại cơ bản sau:

    • Thuộc tính tên gọi: là thuộc tính của thực thể mà mỗi giá trị cụ thể của nó cho ta tên gọi của một bản thể thuộc thực thể và có thể nhận biết được bản thể đó.
    • Thuộc tính định danh: là một hay một số thuộc tính của thực thể mà giá trị của nó cho phép ta phân biệt được các bản thể khác nhau của một thực thể.
    • Thuộc tính mô tả: là các thuộc tính của thực thể không phải là thuộc tính định danh, không phải là thuộc tính tên gọi; những thuộc tính này cho ta biết đầy đủ hơn về các bản thể của thực thể; Thực thể có thể có nhiều hoặc không có một thuộc tính mô tả nào.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            40

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Thuộc tính đa trị (lặp): là một thuộc tính có thể nhận nhiều hơn một giá trị đối với mỗi bản thể thuộc thực thể.

    Ký hiệu:

    Tên thuộc tính Tên thuộc tính
      định danh  
        đa trị (lặp)
        TÊN THỰC THỂ  
           
    Tên thuộc tính   Tên thuộc tính
    tên gọi   mô tả

    – Các liên kết: là các mối quan hệ gắn kết các thực thể trong mô hình E-

    1. Một mối quan hệ có thể kết nối giữa một thực thể với một hoặc nhiều thực thể khách được xem xét trong tổ chức. Nó phản ánh mối quan hệ vốn có giữa các bản thể của các thực thể đó; được ký hiệu:

    TÊN LIÊN

    KẾT

    4.2. Các thực thể và thuộc tính của nó trong hệ thống quản lý khách sạn:

    – Thực thể PHÒNG:

    STT Tên thuộc tính Ghi chú
         
    1 Số phòng Thuộc tính khóa (định danh)
         
    2 Loại phòng  
         
    3 Giá phòng  
         
    4 Mã khách hàng  
         
    5 Trạng thái Rỗi, bận
         

    Bảng 4.1: Thông tin về phòng – Thực thể LOẠI PHÒNG

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            41

    Đồ án tốt nghiệp Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến
                 
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
                 
      1 Mã loại phòng   Thuộc tính khóa (định danh)  
                 
      2 Tên loại phòng      
                 
      3 Giá phòng      
                 
      4 Mô tả      
               
          Bảng 4.2: Thông tin về loại phòng
               
      – Thực thể TIỆN NGHI      
               
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
               
      1 Mã tiện nghi   Thuộc tính khóa (định danh)  
              được thêm vào  
               
      2 Tên tiện nghi      
               
      3 Đơn giá      
               
      4 Mô tả      
                 

    Bảng 4.3: Thông tin về loại phòng – Thực thể KHÁCH HÀNG:

    STT Tên thuộc tính Ghi chú
         
    1 Mã khách Thuộc tính khóa (định danh) được thêm vào
         
    2 Tên khách (Last name và First name)
         
    3 Ngày sinh  
         
    4 Quốc gia  
         
    3 Giới tính  
         
    4 Thông tin định Là loại giấy tờ xác định khách hàng như:
      danh Chứng minh thư nhân dân / Visa / passport
         
    5 Ngày đến Sau ngày đặt phòng ít nhất 2 ngày
         

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            42

    Đồ án tốt nghiệp     Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến
                         
    6   Ngày đi   Trước ngày đến ít nhất 1 ngày
                         
        5   Địa chỉ liên lạc          
                         
        6   Số điện thoại          
                         
        7   Số fax          
                         
        8   Nước          
                       
              Bảng4.4: Thông tin về khách hàng
                     
        – Thực thể DỊCH VỤ        
             
      STT Tên thuộc tính   Ghi chú
             
      1 Mã dịch vụ   Thuộc tính khóa (định danh) được thêm vào
                 
      2 Tên dịch vụ        
                 
      3 Đơn giá        
                 
      4 Mô tả        
                         

    Bảng4.5: Thông tin về dịch vụ

    4.3. Mô hình quan hệ thực thể E-R của hệ thống quản lý khách sạn:

    LOẠI       Thuộc TIỆN
    PHÒNG       NGHI
         
                     
                     
                     
    PHÒNG Trang bị
     

    Đặt

        Ngày thuê                   Ngày trả
                         
                             
                             
    Trường Đ HDL Hải Phòng             43
                                 
      SỰ ĐẶT                       DỊCH VỤ
                           

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4.4. Mô hình quan hệ

    Chuyển các thực thể, liên kết thành các quan hệ, ta có mô hình quan hệ sau:

    Xét khách đặt phòng nhưng chưa tới nhận phòng là “khách đặt”; khách đến nhận phòng là “khách”. Khi đó ta sẽ có “khách đặt” có thể đặt phòng cho một hoặc nhiều “khách” đến nhận phòng. Còn “khách” có thể là “khách đặt” hoặc cũng có thể là “khách” đơn lẻ không đặt phòng trước nhưng đến thuê trực tiếp.

    Khách hàng thuê phòng, sử dụng dịch vụ; tiền thuê phòng và sử dụng dịch vụ sẽ được tính vào trong hóa đơn.

    TIỆN NGHI

    #Mã tiện nghi

    LOẠI PHÒNG

    #Mã loại phòng

    TRANG BỊ

    #Mã tiện nghi

    #Số phòng

    PHÒNG

    #Số phòng #Mã loại phòng

    Trường ĐHDL Hải Phòng

    44

    SỰ ĐẶT PHÒNG

    #Mã đặt phòng

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    III. GIAO DIỆN VÀ MỘT SỐ ĐOẠN MÃ CHƯƠNG TRÌNH DEMO

     

    1.     Form đăng nhập:

    Option Explicit

    ‘Dim dbMyDB As Database

    Dim rsUserRight As ADODB.Recordset

    Dim LoginSucceeded As Boolean

    Private Sub cmdCancel_Click()

    LoginSucceeded = False

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            45

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    End

    End Sub

    Private Sub cmdOK_Click()

    If (txtPassword.Text = “please”) Then

    frmMain.mnuList.Enabled = True

    frmMain.mnuCheckin.Enabled = True

    frmMain.mnuCheckOut.Enabled = True

    frmMain.mnuReser.Enabled = True

    frmMain.mnuReport.Enabled = True

    frmMain.mnuFileLogin.Enabled = False

    frmMain.mnuLogout.Enabled = True

    Unload Me

    Exit Sub

    End If

    If Not LoginSucceeded Then

    MsgBox “Invalid Password !”, , “Login”

    txtPassword.SetFocus

    SendKeys “{Home}+{End}”

    End If

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            46

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    2. Giao diện chính của chương trình:

    Chọn tab System chọn chức năng English – Vietnamese để chuyển tiếng anh sang tiếng việt hoặc ngược lại.

    Mã nguồn thực hiện chức năng này:

    Private Sub MDIForm_Load()

    VIETANH = False

    If (VIETANH = True) Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            47

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Call EnglishVietNam(Me.Name)

    Else

    Call VietNamEnglish(Me.Name)

    End If

    init

    RATEOFEXCHANGE = 0

    frmLogin.Show 1

    frmRateOfExchange.Show 1

    End Sub

    3. Chức năng Danh mục

    Bao gồm các form: Danh mục quốc gia

    Danh mục điện thoại – fax

    Danh mục dịch vụ

    Danh mục giá phòng

    Tỉ giá ngoại tệ

    Form cập nhật danh mục quốc gia

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            48

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Form cập nhật loại phòng, giá phòng

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            49

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    4. Chức năng Đăng ký

    Bao gồm các form: Đăng ký khách

    Chuyển phòng

    Xem tình trạng phòng

    Xem thông tin phòng

    Xem thông tin khách

    Tìm kiếm

    Form đăng ký khách (Quản lý khách vào)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            50

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    – Khai báo

    Dim SuaFlag As Boolean

    Dim ThemMoiFlag As Boolean

    Dim BOOK As Byte

    Dim clicked As Boolean

    – Hộp chọn giới tính

    Private Sub CboGT_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboGT.ListCount > 0) Then

    If (CboGT.ListIndex = 0) Then

    CboGT.Tag = “M”

    ElseIf (CboGT.ListIndex = 1) Then

    CboGT.Tag = “W”

    End If

    End If

    End Sub

    – Hộp chọn tên quốc gia

    Private Sub CboNation_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboNation.ListCount > 0) Then

    sql = “select * from QG WHERE TENNUOC=’” & CboNation.List(CboNation.ListIndex) & “‘”

    CboNation.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (Not rs1.EOF) Then

    CboNation.Tag = rs1!MANUOC

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            51

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    End Sub

    – Hộp chọn phương thức thanh toán

    Private Sub CboPayment_Click()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    If (CboPayment.ListCount > 0) Then

    sql = “select * from Payment WHERE Detail=’” & CboPayment.List(CboPayment.ListIndex) & “‘”

    CboPayment.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (rs1.EOF = False) Then

    CboPayment.Tag = rs1!PaymentID

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    End If

    End Sub

    • Xoá thông tin của khách đăng ký Private Sub CmdXoa_Click()

    If (VSDS.Row > 0 And VSDS.Row < VSDS.Rows) Then sql = “DELETE FROM CUR_CUST WHERE

    CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End If

    End Sub

    – Các hàm được gọi

    Private Sub Form_Load()

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            52

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    If (VIETANH = True) Then

    Call EnglishVietNam(Me.Name)

    Else

    Call VietNamEnglish(Me.Name)

    End If

    Call LoadCusID

    Call LoadGioiTinh

    Call LoadNation

    Call LoadPayMent

    Call init

    Call ClearItem

    LoadCustomer

    clicked = False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End Sub

    Private Sub LoadGioiTinh()

    CboGT.AddItem “Man”

    CboGT.AddItem “Woman”

    End Sub

    Private Sub LoadNation()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “select * from QG”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    CboNation.Clear

    While Not rs1.EOF

    CboNation.AddItem rs1!Tennuoc

    rs1.MoveNext

    Wend

    rs1.Close

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            53

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Set rs1 = Nothing

    If (CboNation.ListCount > 0) Then CboNation.ListIndex = 0 sql = “select * from QG WHERE TENNUOC=’” &

    CboNation.List(CboNation.ListIndex) & “‘”

    CboNation.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (Not rs1.EOF) Then

    CboNation.Tag = rs1!MANUOC

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    + Thông tin giá phòng

    Private Sub LoadRate(RoomNumber As String)

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Dim STT As Integer

    sql = “Select * From ROOMRATE WHERE ROOMNUM=’”

    & Trim(RoomNumber) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    TxtRate.Text = “”

    If Not rs1.EOF Then

    TxtRate.Text = Str(rs1!Rate)

    Else

    MsgBox “Invalid Room number !”

    TxtRoomNumber.Text = “”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            54

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    • Đánh chỉ số ID cho khách Private Sub LoadCusID()

    sql     =      “Select      Max(CUSTOMERID)       as     SL      From

    CUSTOMER”

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If Not rs1.EOF Then

    If (IsNull(rs1!SL)) Then

    TxtCusID.Text = “1”

    Else

    TxtCusID.Text = rs1!SL + 1

    End If

    Else

    TxtCusID.Text = “1”

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    – Cập nhật thông tin khách mới

    Private Sub CmdNew_Click()

    Call ClearItem

    ThemMoiFlag = True

    SuaFlag = False

    SetButton True

    End Sub

    – Sửa thông tin khách

    Private Sub CmdSua_Click()

    If (VSDS.Rows > 1 And VSDS.Row > 0 And VSDS.Row <

    VSDS.Rows) Then

    SuaFlag = True

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            55

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    ThemMoiFlag = False

    SetButton True

    Exit Sub

    Else

    MsgBox “Please Select a customer to modify !” (Thông báo khi chưa chọn đối tượng để sửa thông tin)

    Exit Sub

    End If

    End Sub

    – Huỷ thông tin khách vừa nhập

    Private Sub CmdHuy_Click()

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    Call VSDS_Click

    End Sub

    • Thoát khỏi form nhập thông tin khách đăng ký thuê phòng Private Sub CmdThoat_Click()

    SuaFlag = False ThemMoiFlag = True Unload Me

     

    End Sub

     

    • Hộp text nhập số phòng đăng ký của khách

    Private Sub TxtRoomNumber_LostFocus()

    If ThemMoiFlag = False And SuaFlag = False Then

    clicked = False

    Exit Sub

    End If

    If clicked = True Then

    clicked = False

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            56

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Exit Sub

    End If

    If CheckRoom(TxtRoomNumber.Text) = False Then MsgBox “Room number invalid !” TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If RoomBusy(TxtRoomNumber.Text) = True Then

    MsgBox “The Room is not avaiable !” & ” Please Choice another room !”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    LoadRate (TxtRoomNumber.Text)

    End Sub

    • Hộp chọn phương thức thanh toán Private Sub LoadPayMent()

     

    Dim rs1 As ADODB.Recordset Dim STT As Integer

    sql = “Select * From PayMent” Set rs1 = pConnection.Execute(sql) CboPayment.Clear

     

    While Not rs1.EOF CboPayment.AddItem rs1!Detail rs1.MoveNext

     

    Wend rs1.Close

     

    Set rs1 = Nothing

     

    If (CboPayment.ListCount > 0) Then CboPayment.ListIndex = 0

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            57

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “select * from Payment WHERE Detail=’” & CboPayment.List(CboPayment.ListIndex) & “‘”

    CboPayment.Tag = “”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    If (rs1.EOF = False) Then

    CboPayment.Tag = rs1!PaymentID

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End If

    End Sub

    Private Sub SetButton(B As Boolean)

    CmdGhi.Visible = B

    CmdHuy.Visible = B

    CmdNew.Visible = Not B

    CmdXoa.Visible = Not B

    CmdSua.Visible = Not B

    CmdThoat.Visible = Not B

    End Sub

    • Kiểm tra và lưu thông tin vừa nhập Private Sub CmdGhi_Click() Dim rs1 As ADODB.Recordset Dim Maloaihh As String

     

    IfTrim(TxtRoomNumber.Text)=””Or

    CheckRoom(TxtRoomNumber.Text) = False Then

    MsgBox “Invalid Room number”

    TxtRoomNumber.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(TxtFirstName.Text) = “” Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            58

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    MsgBox “First Name Invalid”

    TxtFirstName.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(TxtLastName.Text) = “” Then

    MsgBox “Last Name Invalid”

    TxtLastName.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboNation.Tag) = “” Then

    MsgBox “National Invalid”

    CboNation.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboPayment.Tag) = “” Then

    MsgBox “Payment Invalid”

    CboPayment.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If Trim(CboGT.Tag) = “” Then

    MsgBox “Invalid Sexual”

    CboGT.SetFocus

    Exit Sub

    End If

    If (ThemMoiFlag = True) Then

    sql = “INSERT INTO CUSTOMER (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” &

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            59

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUR_CUST (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    ElseIf SuaFlag = True Then

    sql = “DELETE FROM CUR_CUST WHERE CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            60

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “DELETE FROM CUSTOMER WHERE CUSTOMERID=” & Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)) & “”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUSTOMER (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    sql = “INSERT INTO CUR_CUST (CUSTOMERID,LASTNAME,FIRSTNAME,BIRTHDAY,NATION,SEXSU AL,DATE_IN,DATE_OUT,PAYMENT,VISA_NUM,PASSPORT,TIME_IN ,TIME_OUT,ROOMNUM,COMPANY,RATE,BOOK) VALUES(” & Trim(TxtCusID.Text) & “,’” & Trim(TxtLastName.Text) & “‘,’” & Trim(TxtFirstName.Text) & “‘,’” & TxtBirthDay.Value & “‘,’” & Trim(CboNation.Tag) & “‘,’” & CboGT.Tag & “‘,’” & TxtDateIn.Value & “‘,’” & TxtDateOUT.Value & “‘,’” & Trim(CboPayment.Tag) & “‘,’” & Trim(TxtVisaNum.Text) & “‘,’” & TxtPassNum.Text & “‘,’” & txtTimeIn.Value & “‘,’” & TxtTimeOut.Value & “‘,’” & Trim(TxtRoomNumber.Text) & “‘,’” & Trim(TxtCompany.Text) & “‘,” & Trim(TxtRate.Text) & “,” & BOOK & “)”

    pConnection.Execute (sql)

    Call LoadCustomer

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            61

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    SetButton False

    ThemMoiFlag = False

    SuaFlag = False

    End If

    End Sub

    Private Sub init()

    Dim i As Integer

    VSDS.Cols = 16

    VSDS.Rows = 1

    For i = 1 To 5

    VSDS.ColWidth(i) = (VSDS.Width – VSDS.ColWidth(0)) / 5 – 20 Next

    VSDS.TextMatrix(0, 0) = “Cust. ID”

    VSDS.TextMatrix(0, 1) = “RoomNum”

    VSDS.TextMatrix(0, 2) = “Last Name”

    VSDS.TextMatrix(0, 3) = “First Name”

    VSDS.TextMatrix(0, 4) = “Birthday”

    VSDS.TextMatrix(0, 5) = “National”

    VSDS.TextMatrix(0, 6) = “Sexual”

    VSDS.TextMatrix(0, 7) = “Day In”

    VSDS.TextMatrix(0, 8) = “Day out”

    VSDS.TextMatrix(0, 9) = “Payment”

    VSDS.TextMatrix(0, 10) = “No. Visa”

    VSDS.TextMatrix(0, 11) = “Rate”

    VSDS.TextMatrix(0, 12) = “Time In”

    VSDS.TextMatrix(0, 13) = “Time out”

    VSDS.TextMatrix(0, 14) = “No. Pass”

    VSDS.TextMatrix(0, 15) = “Company”

    For i = 6 To 15

    VSDS.ColHidden(i) = True

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            62

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Next

    For i = 0 To VSDS.Cols – 1

    VSDS.Cell(flexcpAlignment, 0, 0, 0, 5) = flexAlignCenterCenter

    VSDS.Cell(flexcpFontBold, 0, 0, 0, 5) = True

    Next

    BOOK = 1

    End Sub

    • Hàm kiểm tra phòng

    Private Function CheckRoom(RN As String) As Boolean CheckRoom = False

    If (Trim(RN) = “201” Or Trim(RN) = “202” Or Trim(RN) = “203” Or Trim(RN) = “204” Or _

    Trim(RN) = “301” Or Trim(RN) = “302” Or Trim(RN) = “303” Or Trim(RN) = “304” Or _

    Trim(RN) = “401” Or Trim(RN) = “402” Or Trim(RN) = “403” Or Trim(RN) = “404” Or _

    Trim(RN) = “501” Or Trim(RN) = “502” Or Trim(RN) = “503” Or Trim(RN) = “504” Or _

    Trim(RN) = “601” Or Trim(RN) = “602” Or Trim(RN) = “603” Or Trim(RN) = “604” Or _

    Trim(RN) = “701” Or Trim(RN) = “702” Or Trim(RN) = “703” Or Trim(RN) = “704” Or _

    Trim(RN) = “801” Or Trim(RN) = “802” Or Trim(RN) = “803” Or Trim(RN) = “804”) Then

    CheckRoom = True

    End If

    End Function

    Private Sub LoadCustomer()

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    Dim STT As Integer

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            63

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    sql = “Select * FROM CUR_CUST where book=” & BOOK Set rs1 = pConnection.Execute(sql) VSDS.Clear 1

    VSDS.Rows = 1

    STT = 0

    While Not rs1.EOF

    STT = STT + 1

    VSDS.AddItem rs1!CUSTOMERID & vbTab & Trim(rs1!ROOMNUM) & vbTab & rs1!LASTNAME & vbTab & rs1!FIRSTNAME & vbTab & rs1!BIRTHDAY & vbTab & rs1!nation & vbTab & Trim(rs1!SEXSUAL) & vbTab & Trim(rs1!DATE_IN) & vbTab & Trim(rs1!DATE_OUT) & vbTab & Trim(rs1!PAYMENT) & vbTab & Trim(rs1!VISA_NUM) & vbTab & Trim(rs1!Rate) & vbTab & Trim(rs1!TIME_IN) & vbTab & Trim(rs1!TIME_OUT) & vbTab & Trim(rs1!PASSPORT) & vbTab & Trim(rs1!COMPANY)

    rs1.MoveNext

    Wend

    If (VSDS.Rows > 1) Then

    VSDS.Row = 1

    CmdSua.Enabled = True

    Call VSDS_Click

    Else

    CmdSua.Enabled = False

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Sub

    • Bảng hiển thị danh sách khách đăng ký Private Sub VSDS_Click() Dim rs1 As ADODB.Recordset

     

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            64

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Dim MaChungTu As String

    Dim MaLoaiHangHoa As String

    Dim MaHangHoa As String

    clicked = True

    If (VSDS.Row > 0 And VSDS.Row < VSDS.Rows) Then

    TxtCusID.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 0)

    TxtRoomNumber.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 1)

    TxtLastName.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 2)

    TxtFirstName.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 3)

    TxtBirthDay.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 4)

    CboNation.ListIndex = GetIndex(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 5))

    If (Trim(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 6)) = “M”) Then CboGT.ListIndex = 0

    Else

    CboGT.ListIndex = 1

    End If

    TxtDateIn.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 7) TxtDateOUT.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 8) CboPayment.ListIndex=

    GetIndexPayMent(VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 9))

    TxtVisaNum.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 10)

    TxtRate.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 11)

    txtTimeIn.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 12)

    TxtTimeOut.Value = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 13)

    TxtPassNum.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 14)

    TxtCompany.Text = VSDS.TextMatrix(VSDS.Row, 15)

    End If

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            65

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    Private Function GetIndex(Ma As String) As Integer Dim NationName As String

    Dim i As Integer

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select * from QG where Manuoc=’” & Trim(Ma) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    GetIndex = -1

    If (Not rs1.EOF) Then

    NationName = rs1!Tennuoc

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    If (CboNation.ListCount >= 0) Then

    For i = 0 To CboNation.ListCount – 1

    If (Trim(CboNation.List(i)) = Trim(NationName)) Then GetIndex = i

    Exit Function

    End If

    Next

    End If

    End Function

    Private Function GetIndexPayMent(Ma As String) As Integer Dim PayMentName As String

    Dim i As Integer

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select * from PAYMENT where PAYMENTID=’” & Trim(Ma) & “‘”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    GetIndexPayMent = -1

    If (Not rs1.EOF) Then

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            66

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    PayMentName = rs1!Detail

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    If (CboPayment.ListCount >= 0) Then

    For i = 0 To CboPayment.ListCount – 1

    If (Trim(CboPayment.List(i)) = Trim(PayMentName)) Then GetIndexPayMent = i

    Exit Function

    End If

    Next

    End If

    End Function

    • Xóa thông tin đang nhập

    Private Sub ClearItem()

    Call LoadCusID

    TxtRoomNumber.Text = “”

    TxtLastName.Text = “”

    TxtFirstName.Text = “”

    TxtBirthDay.Value = Null

    CboNation.ListIndex = -1

    CboGT.ListIndex = -1

    CboPayment.ListIndex = -1

    TxtVisaNum.Text = “”

    TxtPassNum.Text = “”

    TxtRate.Text = “”

    TxtCompany.Text = “”

    TxtDateIn.Value = Date

    TxtDateOUT.Value = Date

    txtTimeIn.Value = Time()

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            67

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    TxtTimeOut.Value = Time()

    End Sub

    Private    Function    RoomBusy(ROOMNUM      As    String)    As

    Boolean

    Dim rs1 As ADODB.Recordset

    sql = “Select ROOMNUM From CUR_CUST WHERE ROOMNUM=’” & Trim(ROOMNUM) & “‘ and book=1”

    Set rs1 = pConnection.Execute(sql)

    RoomBusy = False

    If (Not rs1.EOF) Then

    RoomBusy = True

    End If

    rs1.Close

    Set rs1 = Nothing

    End Function

    5. Chức năng Trả phòng ( Quản lý khách ra)

    Bao gồm các Form:

    Nhập hoá đơn

    Nhập hoá đơn điện thoại

    Nhập hoá đơn Fax

    Sửa hoá đơn

    Trả phòng.

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            68

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    6. Chức năng Đặt phòng (Quản lý thông tin đặt phòng)

    Form hiển thị tình trạng phòng của khách sạn

    – Đoạn code

    Private Sub SetStatusRoomBusy(ByVal Room As String, ByVal code As Integer)

    Room = Trim(Room)

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            69

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    If (CheckRoom(Room) = True) Then

    If (code = 1) Then ‘ Free Room

    IRoomX((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 2) Then ‘ Busy Room

    IRoomD((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 3) Then ‘ Overdate Room

    IRoomV((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    ElseIf (code = 4) Then ‘ Booking Room

    IRoomT((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    L((Val(Left(Room, 1)) – 2) * 4 + Val(Right(Room, 1)) – 1).ZOrder (0)

    End If

    End If

    End Sub

    7. Chức năng báo cáo

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            70

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    8. Chức năng trợ giúp

    • Code kết nối dữ liệu access bằng OLEDB: Private Sub init()

     

    Set pConnection = New ADODB.Connection With pConnection

    .ConnectionTimeout = 5

     

    .ConnectionString=

    “PROVIDER=Microsoft.Jet.OLEDB.4.0;Data            Source=”         &

    App.Path             &             “\CSDLKS.mdb;Jet              OLEDB:Database

    Password=vietnam;”

    .CursorLocation = adUseServer

    .IsolationLevel = adXactIsolated

    .Open

    End With

    Exit Sub

    End Sub

    Trường ĐHDL Hải Phòng                                                                                                                            71

    Đồ án tốt nghiệp                                                          Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến

    CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN

    1. Nhận xét về đề tài

    Trong thời gian nghiên cứu, xây dựng chương trình, em hết sức cố gắng làm việc với sự giúp đỡ tận tình của thầy giáo. Chương trình đã đạt được một số kết quả nhất định: Giao diện đơn giản, dể sử dụng, đảm bảo tìm kiếm thông tin nhanh chóng, chính xác và tiết kiệm thời gian, hạn chế được việc phải lưu trữ quá nhiều sổ sách trong quá trình quản lý.

    Quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến là một đề tài thiết thực với nhu cầu của các doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực khách sạn hiện nay.

    Tuy nhiên với thời gian ngắn, trình độ và kinh nghiệm còn hạn chế; hệ thống quản lý vẫn còn có nhiều thiếu sót. Rất mong các thầy cô giáo và các bạn tận tình giúp đỡ để hệ thống quản lý ngày càng được hoàn thiện hơn.

    2. Hướng phát triển của đề tài:

    Hệ thống quản lý khách sạn và đặt phòng trực tuyến trên đây phần nào đã đáp ứng được nhu cầu sử dụng của các doanh nghiệp kinh doanh khách sạn; tuy nhiên còn có rất nhiều thiếu sót và hạn chế.

    Nếu được phát triển tiếp đề tài này em sẽ xây dựng hệ thống quản lý bằng website, ban quản lý khách sạn có thể quản lý dữ liệu trực tiếp trong cơ sở dữ liệu của website, đồng thời cập nhật thường xuyên cho khách hàng những thông tin mới nhất của khách sạn đồng thời tiếp nhận ý kiến của khách hàng cũng nhanh chóng hơn. Việc quản lý và đăng ký đặt phòng trực tuyến cũng trở nên dể dàng hơn; Hạn chế được việc để lỡ các cơ hội cho thuê phòng cũng như những sai sót có thể làm ảnh hưởng đến uy tính của khách sạn do ảnh hưởng của việc tra cứu thông tin chậm trễ – đó là điều mà những nhà kinh doanh nói chung và kinh doanh khách sạn nói riêng không bao giờ mong đợi.

    Cuối cùng, một lần nữa em xin chân thành cảm ơn TS.Trần Minh cùng ThS.Nguyễn Hoài Thu, người đã định hướng cho em hướng nghiên cứu đề tài này và là người hướng dẫn, giúp đỡ tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài. Em xin cảm ơn Ba, Mẹ, anh chị và bạn bè đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong quá trình thực hiện đề tài này.

    Em xin trân trọng cảm ơn!


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Đồ Án Chi Tiết Máy

    Đồ Án Chi Tiết Máy

    Đồ Án Chi Tiết Máy

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Đồ Án Bê Tông Cốt Thép


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-Chi-Ti%E1%BA%BFt-M%C3%A1y.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Chi Tiết Máy

    Đồ án môn học

     

    CHI TIẾT MÁY
    TRƯỜNG CAO ĐẲNG CÔNG NGHỆ

                       KHOA CƠ KHÍ

                          ***                                  ĐỒ ÁN MÔN HỌC CHI TIẾT MÁY

                    Đề Số: 10                                    

                                             THIẾT KẾ HỆ DẪN ĐỘNG BÁNH RĂNG TẢI

     

     

    1. Động cơ 3. Hộp giảm tốc  4.Bộ truyền đai                thang
    2. Nối trục đàn hồi      5. Băng tải       dẹt

    Số Liệu Cho Trước :        

     

    1 2 3 4 5 6 7 8 9
    STT Sinh viên thiết kế Lực kéo băng tải

     

    F (N)

    Vận tốc băng tải

     

    V (m/s)

    Đường kính tang

     

    D (mm)

    Thời hạn phục vụ

     

    lh (giờ)

    Số ca làm việc Soca Góc nghiêng đường nối tâm bộ truyền ngoài α (o) Đặc tính làm việc
    5 Nguyễn Bá Anh Hào 14000 0.7 400 10000 1 38 Va đập

                                                                                             

     Khối Lượng Thiết Kế :

                 

                1/ Bản vẽ lắp hộp giảm tốc – khổ A0

                 

                2/ Bản vẽ chế tạo chi tiết – khổ A3

     

                3/ 1 bản thuyết minh  (Kèm theo đĩa CD)

     

                Giáo viên hướng dẫn : NGUYỄN THANH TÂN

     

    PHẦN I: TÍNH TOÁN ĐỘNG HỌC

    I. Chọn động cơ điện

    1. Chọn kiểu, loại động cơ

    Đây là trạm dẫn động băng tải nên ta chọn động cơ: 3 pha không đồng bộ roto lồng sóc, do nó có nhiều ưu điểm cơ bản sau:

    – Kết cấu đơn giản, giá thành thấp.

    – Dễ bảo quản và làm việc tin cậy.

    2. Chọn công suất động cơ

    Công suất của động cơ được chọn theo điều kiện nhiệt độ, đảm bảo cho khi động cơ làm việc                                     nhiệt độ sinh ra không quá mức cho phép. Muốn vậy, điều kiện sau phải thoả mãn:

    (KW)

    – công suất định mức của động cơ.

    – công suất đẳng trị trên trục động cơ.

    Do ở đây do chế độ làm việc êm nên tải trọng là không đổi :

    – công suất làm việc danh nghĩa trên trục  động cơ

    – Giá trị công suất làm việc danh nghĩa trên trục công tác:

    =   (KW) (2.11)[I]

    Ft – lực vòng trên trục công tác (N);

    V – vận tốc vòng của băng tải    (m/s).

    – hiệu suất chung của toàn hệ thống.

    Theo bảng 2.3[I] ta chọn:

    = 0,96        –  Hiệu suất bộ truyền đai

    = 0,97         –  Hiệu suất bộ truyền bánh răng

    = 0,99       –  Hiệu suất của mỗi cặp ổ lăn

    =  1                                   –  Hiệu suất khớp nối

    P  = 14000 (N)

    V = 0,7 (m/s)

    Þ  = 0,96.0,972.0,994.1 = 0,868

    Công suất cần thiết là:

    Suy ra, công suất làm việc danh nghĩa trên trục  động cơ:

    (KW)

    (KW)

    3. Chọn số vòng quay đồng bộ của động cơ nđb

    Tính số vòng quay của trục công tác

    – Với hệ dẫn động băng tải:

    (v/ph)                                                                    D – đường kính tang dẫn của băng tải (mm);

    v – vận tốc vòng của băng tải       (m/s)

    4. Chọn động cơ thực tế

    Qua các bước trên ta đã xác định được:

    Căn cứ vào những điều kiện trên tra bảng phụ lục P1.1; P1.2: P1.3[I]:

    Các thông số kỹ thuật của động cơ, ta chọn động cơ4A160M8Y3. Bảng các thông số kỹ thuật của động cơ này.

    Kiểu động cơ Công suất KW Vận tốc quay (v/ph)        
    4A160M8Y3 11 730 0,75 87 2,2 1,4

     

    5. Kiểm tra điều kiện mở máy, điều kiện quá tải cho động cơ:

    1. Kiểm tra điều kiện mở máy cho động cơ

    Khi khởi động, động cơ cần sinh ra một công suất mở máy đủ lớn để thắng sức ỳ của hệ thống.

    Vậy:

                       (KW)

    – Công suất mở máy của động cơ

    =2,2  Hệ số mở máy của động cơ

    – Công suất ban đầu trên trục động cơ

    Từ các công thức trên ta tính được:

    (KW)

    (KW)

    Kbd – Hệ số cản ban đầu;ta chọn Kbd =1,5

    Ta thấy: . Vậy động cơ đã chọn thoả mãn điều kiện mở máy.

    1. Kiểm tra điều kiện quá tải cho động cơ

    Ở đây chế độ  làm việc êm nên tải trọng là không đổi nên ta không cần kiểm tra quá tải cho động cơ.

             II. Phân phối tỉ số truyền

    Việc phân phối tỷ số truyền Ich cho các cấp bộ truyền tong hộp có ảnh hưởng rất lớn đến kích thước và khối lượng trong hộp giảm tốc

    Thỏa mản nguyên tăc sau :

    +Phân phối tỷ số truyền I ch sao cho các bộ truyền có kíchthươc nhở gọn

    +Phân phối tỷ số truyền sao cho việc bôi trơn dể nhất

    Ta có :

    ichung=

    =  v/p  (v=)

       Mà :ih = ing.itr = iđ.it = iđ.inh.ichậm

       Chọn  iđ=1,82 ta có : it==

       Bộ truyền cấp nhanh (bộ truyền bánh răng nón răng thẳng): inh

    Bộ truyền cấp chậm (bộ truyền bánh răng trụ răng thẳng): ichậm

    Trong điều kiện bôi trơn các bộ truyền bánh răng trong hộp giảm tốc bằng phương pháp     ngâm dầu

    lấy inh =0,22it => choün inh = 0,22.11,97=2,63

    => inh =

    Tỉ số truyền chung của toàn hệ thống:

    Trong đó: ndc – số vòng quay của động cơ đã chọn (v/ph)

    nct  – số vòng quay của trục công tác (v/ph)

    Ta có:

    Với:     ung – tỉ số truyền của các bộ truyền ngoài hộp

    uh – tỉ số truyền của hộp giảm tốc uh = u1.u2

    u1, u2 – tỉ số truyền của các bộ truyền cấp nhanh và cấp chậm

    1. Tỉ số truyền của bộ truyền ngoài hộp

    Hệ dẫn động gồm hộp giảm tốc hai cấp đồng trục nối với 1 bộ truyền xích ngoài hộp.

    Chọn ung = ux = 3

    2. Tỉ số truyền của các bộ truyền trong hộp giảm tốc

    uh = u1.u2

    Đối với hộp giảm tốc 2 cấp đồng trục ta tính TST  theo công thức:

    III. Xác định các thông số trên các trục

    1. Tính tốc độ quay của các trục (v/ph)

    – Tốc độ quay của trục I:                                 (v/ph)

    – Trong đó  là tỉ số truyền của khớp nối

    – Tốc độ quay của trục II:                               (v/ph)

    – Tốc độ quay của trục III:                            (v/ph)

    – Tốc độ quay của trục IV:                          (v/ph)

              2. Tính công suất trên các trục (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục động cơ:

    (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục I:

    (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục II:

    (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục III:

    (KW)

    – Công suất danh nghĩa trên trục IV:

    (KW)

    3. Tính mômen xoắn trên các trục (Nmm)

    Mô men xoắn trên trục thứ k được xác định theo công thức sau:

    – Mômen xoắn trên trục động cơ:

    (Nmm)

    – Mômen xoắn trên trục I:

    (Nmm)

    – Mômen xoắn trên trục II:

    (Nmm)

    – Mômen xoắn trên trục III:

    (Nmm)

    – Mômen xoắn trên trục IV:

    (Nmm)

    4. Lập bảng số liệu tính toán:

    Tham số

     

    Trục

    Đ/cơ I II III Công tác
    i Iđ = 1,82 Inh= 2,63                  Ich= 4,55 4,55
     Công suất (kw) 11,3 11,187 10,7 10,3 9,8
     Tỷ số truyền   3 4,7 3,1 1  
    Số vòng quay(v/ph) 730 730 270 100 33,4
     Mô men (Nmm) 147829 146351 378463 983650 2802096
                               

     

    PHẦN II: THIẾT KẾ CÁC CHI TIẾT TRUYỀN ĐỘNG

    I. Tính toán thiết kế các bộ truyền trong hộp

    1. Chọn vật liệu cặp bánh răng côn và cặp bánh răng trụ

    Do hộp giảm tốc ta đang thiết kế có công suất trung bình, nên chọn vật liệu nhóm I có độ cứng HB < 350 để chế tạo bánh răng.

    Đồng thời để tăng khả năng chạy mòn của răng,nên nhiệt luyện bánh răng lớn đạt độ rắn thấp hơn độ rắn bánh răng nhỏ từ 10 đến 15 đơn vị độ cứng.

    – Dựa vào bảng 6.1, [I]: Cơ tính của một số vật liệu chế tạo bánh răng, ta chọn:

    Cặp bánh răng trụ:

    Loại bánh răng Nhãn hiệu thép Nhiệt luyện Kích thướt S(mm) không lớn hơn Độ rắn Giới hạn bền  (Mpa) Giới hạn chảy  (Mpa)
    Bánh răng nhỏ 45XH Tôi cải thiện 100 HB 230300 850 600
    Bánh răng lớn 45X Tôi cải thiện 100 HB 230280 850 650

    2. Xác định ứng suất cho phép

    Ứng suất tiếp xúc cho phép  và ứng suất uốn cho phép xác định theo các công thức sau:

    (6.1)[I]

    (6.2)[I]

    ZR – Hệ số xét đến độ nhám mặt răng làm việc.

    ZV – Hệ số xét đến ảnh hưởng của vận tốc vòng.

    KXH – Hệ số xét đến ảnh hưởng của kích thước bánh răng.

    YR – Hệ số xét đến ảnh hưởng của độ nhám mặt lượn chân răng.

    YS – Hệ số xét đến độ nhạy của vật liệu với tập trung ứng suất.

    KXF – Hệ số xét đến kích thước bánh răng ảnh hưởng đến độ bền uốn.

    Chọn sơ bộ:  và  nên ta có:

    (6.1a)[I]

    (6.2a)[I]

    Trong đó: và : lần lượt là ứng suất tiếp xúc cho phép và ứng suất uốn cho phép ứng với số chu kì cơ sở.

    Giá trị của chúng được tra trong bảng 6.2, [I].

    Chọn độ rắn

    (MPa)

    (MPa)

    Vậy

    Bánh nhỏ:2.290+70=650                                                   (MPa)

    1,8.290=522                                                              (MPa)

    Bánh lớn:2.280+70=630                                                     (MPa)

    1,8.280=504                                                               (MPa)

    • KFC: Hệ số xét đến ảnh hưởng của việc đặt tải.

    Vì hệ dẫn động ta thiết kế, tải được đặt một phía (bộ truyền quay 1 chiều) [ KFC =1

    • KHL,FL: Hệ số tuổi thọ, xét đến ảnh hưởng của thời hạn phục vụ và chế độ tải trọng, được xác định theo công thức sau:

    (6.3)[I]

    (6.4)[I]

    Với:

    -mH, mF: bậc của đường cong mỏi khi thử về tiếp xúc và uốn.

    Vì vật liệu ta chọn làm bánh răng có HB < 350 nên: mH = mF = 6

    -NHO: số chu kì thay đổi ứng suất cơ sở khi thử về tiếp xúc.

    (HHB – Độ rắn Brinen)                                                                   (6.5)[I]

    : số chu kì thay đổi ứng suất cơ sở khi thử về tiếp xúc của bánh răng nhỏ.

    : số chu kì thay đổi ứng suất cơ sở khi thử về tiếp xúc của bánh răng lớn

    NFO: số chu kì thay đổi ứng suất cơ sở khi thử về uốn

    Với tất cả các loại thép thì: NFO = 4.106

    NHE, NFE: số chu kì thay đổi ứng suất tương đương.

    Vì ở đây bộ truyền chịu tải động tĩnh nên:

    NHE = NFE = N = 60.c.n.tS                                                                                                                    (6.6)[I]     

    Với: c, n, tS lần lượt là số lần ăn khớp trong một vòng quay, số vòng quay trong 1 phút và tổng số giờ làm việc của bánh răng đang xét.

    Ta có:c=1

    (giời)

    – Trong  bộ truyền bánh răng cấp nhanh:

    Bánh nhỏ có:n1 =730 (v/ph) nên:

    Bánh lớn có:n2 = 270 (v/ph) nên:

    – Trong bộ truyền bánh răng cấp chậm:

    Bánh nhỏ có:n3 = 100  (v/ph) nên:

    Bánh lớn có:n4 = 33,4(v/ph) nên:

    Vậy:

    – Bộ truyền bánh răng cấp nhanh có:

    >lấy

    >lấy

    >lấy

    >lấy

    – Bộ truyền bánh răng trụ cấp chậm có:

    >lấy

    >lấy

    SH,SF: Hệ số an toàn khi tính về tiếp xúc và uốn, tra bảng 6.2 ta có ứng với vật liệu đã chọn thì:

    SH = 1,1; SF = 1,75

    Từ đó ta xác định được sơ bộ ứng suất cho phép của bánh răng.

    =590                                                               (MPa)

    =298                                                    (MPa)

    =573                                                                 (MPa)

    =288                                                      (MPa)

    Vì vậy, ứng suất tiếp xúc cho phép là: ==573(MPa).

    Ứng suất tiếp xúc cho phép khi quá tải:

    (MPa)                               (6.13)[I]

    Ứng suất uốn cho phép khi quá tải (vật liệu có HB<350) là:

    =0,8.650=520                                                                   (MPa)

    =0,8.600=480                                                                  (MPa)

              3.Tính toán cấp chậm ,bộ truyền bánh răng trụ răng thẳng :

              a.Tính khoảng cách trục:

    aw1 =Ka(u+1)                                                                        (6.15a)[I]

    Tra bảng 6.6   =0,25…0,4 ,chọn      = 0,3.Bánh răng thẳng Ka =49,5.

    Theo (6.16)

    = 0,53.0,3.(2,7+1)=0,6 bảng (6.7) ,tra theo đồ 4

    = 1,01

    aw1 = (mm)

    b.Xác định các thông số ăn khớp :

    Lấy  aw1 = 210 (mm)

    từ đó   m = (0,01..0,02)aw1 = (0,01..0,02) .210= 2,1..4,2                                  (6.17)[I]

    Chọn môdun tiêu chuẩn m = 2,5

    z1 =    chọn z1 =45

    z2 = .45=2,7.45=121  chọn z2 = 121

    Do đó

    aw =

    Có tỉ số truyền thực   ut = =3

    Vì  45 theo bảng 6.9[I] ta chọn hệ số dịch chỉnh = 0

    cos                                               (6.27)[I]

    c.Kiểm nghiệm răng về độ bền tiếp xúc : 

    Do hệ thống bánh răng được đậy kín trong hộp ( môi trường không bụi) và được bôi trơn đầy đủ.Vậy dạng hỏng nguy hiểm nhất thường gặp là tróc rỗ bề mặt, nên cơ sở chọn độ bền tiếp xúc để thiết kế kiểm nghiệm hệ thống dẫn động bánh răng:

    (6.33)[I]

    Trong đó:  hệ số kể đến cơ tính vật liệu của các bánh răng ăn khớp trong bảng 6.5

    số kể đến hình dạng bề mặt tiếp xúc

    Bảng 6.5     ZM = 274 (MPa1/3)

    ZH =                                                      (6.34)[I]

    hệ số kể đến sự trùng khớp của răng

    hệ số trùng khớp dọc

    hệ số trùng khớp ngang

    =

    Ze                                                                       (6.36a)[I]

    Đường kính vònh lăn bánh nhỏ

    dw1 =

    v                                                                            (6.40)[I]

    Theo bảng  (6.13) ,chọn cấp chính xác 9,tra bảng 6.16 hệ số làm việc êm g0 =73

    (6.42)[I]

    hệ số kể đến ảnh hưởng của sai số ăn khớp

    dH = 0,006 tra theo bảng  (6.15)

    KHv = 1 +                                                                                     (6.41)[I]

    chiều rộng vành răng

    bw  = Yba .aw2=0,3232,5 = 70 (mm)

    KHb  = 1,0 ,KHa= 1

    hệ số kể đến ảnh hưởng của tải trọng động xuất hiện trong vùng ăn khớp

    KHv  = 1 +

    KH  = KHb . KHa . KHv =1,01.1.1,01=1                                                                       (6.39)[I]

    (6.33)[I]

    [                                                                                    (6.1)[I]

    – hệ số xét đến độ nhám của mặt răng làm việc

    Với  cấp chính xác về mức tiếp xúc là 9, khi đó cần gia công đạt độ nhám: Ra = 2,5 … 1,25 mm Þ ZR = 0,95

    – hệ số xét đến ảnh hưởng của vận tốc vòng,ta có v = 0,6 < 5 (m/s) nên lấy

    – hệ số xét đến ảnh hưởng của kích thướt bánh răng

    Lại có  da <700 mm KXH =1

    [sH] = 573.0,95.1.1.1 = 544,4 (Mpa)

    Vậy kiểm nghiệm về độ bền tiếp xúc đạt yêu cầu

                d.Kiểm nghiệm  răng về độ bền uốn :

    (6.43)[I]

    (6.44)[I]                                                                        – hệ số kể đến sự trùng khớp của răng

    -hệ số kể đến độ nghiêng của răng, đối với răng thẳng

    -hệ số dạng răng của bánh 1, 2. Tra bảng 6.18[I] ta có:

    K­F– hệ só tải trọng vêt uốn

    K­F = KFb . KFa . KFv

    (6.46)[I]

    (6.47)[I]

    go = 73

    – hệ số kể đến ảnh hưởng của sai số ăn khớp.                                    bảng(6.15)[I]

    KFa =1

    KFb = 1,23                                                                                                                         (6.7)[I]

    K­F = KFb . KFa . KFv  = 1,23.1.1,05 = 1,3

    (Mpa)

    (Mpa)

    Vậy kiểm nghiệm về độ bền uốn đạt yêu cầu.

                e.Kiểm nghiệm răng về quá tải:             

    (6.48)[I]

    Vậy bộ truyền thỏa mãn điều kiện quá tải

                g.Các thông số bộ truyền

    Dựa theo bảng 6.11[I] ta tính

      Bánh răng 1 Bánh răng 2
    Khoảng cách trục, aw

     

     

    210 mm
    Môđun pháp, m 2,5 mm
    Chiều rộng, bw

     

     

    72 mm 72 mm
    Tỉ số truyền, u 2,7
    Số răng, z1, z2

     

     

    45 121
    Hệ số dịch chỉnh răng 0 0
    Đường kính lăn, 65 mm 175,5 mm
    Đường kính đỉnh răng, 70 mm 180,5 mm
    Đường kính đáy răng, 58,75 mm 169,25 mm
    Đường kính chia, d d 1= mm 175,5 mm

     

              4. Tính toán truyền động bánh răng trụ răng thẳng (cấp mhanh)

    Vì trong hộp giảm tốc 2 cấp đồng trục có khoảng cách trục của bộ truyền cấp nhanh và cấp chậm bằng nhau nên ta chọn các thống bộ truyền như phần trên.

    Vì momen xoắn trên trục ở bộ truyền cấp chậm bao giờ cũng lớn hơn ở cấp chậm, ta cũng đã kiểm tra bền cho bánh răng ở cấp chậm rồi nên bánh răng ở cấp nhanh không cần kiểm nữa.Ta chỉ cần tính lại vận tốc và cấp chính xác

    v                                                                                     (6.40)[I]

    Theo bảng  (6.13) ,chọn cấp chính xác 8,tra bảng 6.16 hệ số làm việc êm g0 =56

    Với  cấp chính xác về mức tiếp xúc là 8, khi đó cần gia công đạt độ nhám: Ra = 2,5 … 1,25mm

     

    PHẦN III : THIẾT  KẾ BỘ TRUYỀN NGOÀI

                         THIẾT KẾ BỘ TRUYỀN ĐAI DẸT

    I.Giới thiệu:

    – Truyền động đai là truyền động ma sát giữa đai và bánh đai. Ưu điểm của bộ truyền đai là làm việc không ồn, thích hợp với vận tốc lớn. Đai không làm việc được trong điều kiện ẩm ướt

    – Chọ loại đai :

    – Ta chọn loại đai dẹt vật liệu là vải cao su dày là loại có sứ bền tính đàn hồi cao ít chịu ảnh hưởng của độ ẩm nhiệt độ, vận tốc truyền cao.

    II.Các bước thiết kế bộ truyền đai :

    + Giai đoạn I : Nghiêng cứu các yêu cầu của bộ truyền

    Ta thiết kế bộ truyền đai dẹt để dẫn truyền công suất từ động cơ đến hộp giảm tốc với tỷ số truyền của đai là số vồng quay của truc dẫn là n=730 v/p

    Trục bị dẫn là n=270v/p

    Đai làm việc trong nhiệt đọ và môi trường khô vận tốc khá lớn ta thiết kế bộ truyền đai theo hai phương án sau đó chọn một phương án hợp lý.

    + Giai đoạn II :

    Xác định các thông số hình học của đai

    1.Xác định đường kính bánh đai.

    Ta có sơ đồ đọng có A là khoảng cách trục D1,D2 là đường kính bánh đai nhỏ và bánh đai lớn , là góc ôm bánh nhỏ và bánh lớn

    A  =      (I1CT5-2T83)

    1. Đường kính bánh đai nhỏ.

    Theo công thức D1=(11001300)  (I1 CT(5-6)_T84)

    Với Ncông suất trục dẫn kw

    n1   Số vòng quay trong một phút của bằng số vòng quay của động trục bị dẫn cơ

    Phương án 1: chọn D1=1100=1100.  mm

    Phương án 2 : chọn D1=1300 =1300 =324mm

    Kiểm tra vận tốc theo điều kiện V= (I1CT5-7T84)

    Ta có :             PA1:V=

    PA2:V=

    Cả hai phương án đều thỏa mãn điều kiện

    Ta có : D2 =i.D1

                 Phương án 1:    D2 =1,82.274=498 mm

    Phương án 2:    D2 =1,82.324 =589mm

    Tính số vòng quay trục

    n2­= choün =0,1

    Phương án 1: n2=     

    Phương án 2: n2=

    1. Xác định chiều dài đai.

    Ta có : Lmim=(I­1  CT(5-9)  T85)

    umax  Là số vòng chạy lần nhất trong một giây của đai umax(35) chọn umax=3

    Lmin=  ( PA1)

    Lmin= ( PA2)

    Thay Lvà D1,D2 vàocông thức A ta được:

    – Kiểm tra điều kiện A2(D1+D2)   (I1  CT(5-10)T86)

    Phương án 1: 1138>2(274+498)=1544mm

    Phương án 2: 1377>2(324+589)=1826mm

    Thỏa mãn

    – Kiểm tra theo điều kiện góc ôm :

    Phương án 1:   (I1  CT(5-11)T86)

    Phương án 2:

    Cả hai đều thỏa mãn điều kiện

    Tính lại L : L=(I1 CT5-1 T83)

    Phương án 1: L = (mm)

    Phương án 1: L=  ( mm)

    Để xác định chiều rộng đai ta xác định theo điều kiện bền mòn b         (I1 CT5-13 T86)

    Chiều dài đai  chọn theo tỷ số (I1 CT5-12 T86)

    Ta có :        ( PA1)

    (PA2)

    Chọn ứng suất công ban đầu ,Theo(I1 B5-7 T89 ) có

    ct: Hệ số xét đến ảnh hưởng chế độ trọng tải

    c Hệ số xét đến ảnh hưởng góc ôm

    cHệ số xét đến ảnh hưởng của vận tốc

    cb Hệ số xét đến ảnh hưởng của bộ truyền

    Theo(I1 B5-7,5-8,5-6T90,89)ta coï ct=0,8 c=0,97,cv=0,9, cb=1

    Phương án 1:                   b

    Phương án 2:               b

    Chiều rộng B của bánh đai

    B=1,1b+( 10)(I1 CT,5-14T91)

    Phương án 1: B=1,1.96+10=115,6(mm) ta láúy B=125(mm)

    Phương án 2: B=1,1.114+10 =135,4mm láúy  B=140mm

    Xác định lực căng đai

    S0=(I1 CT,5-16  T91)

    Phương án 1: S0=1,8.4,3.96=743.04N

    Phương án 2: S0=1,8.5,08.114=1072N

    Lực tác dụng lên trục : R=3S0.sin   (I1 CT5-17T91)

    R1=3.487,6 sin

    R2=3.1072. sin

    Giai đoạn III :

    Qua hai phương án thiết kế ta thấy cả hai phương án đều thỏa mãn tuy nhiên ta phải chọn  phương án một vì phương án này làm bộ truyền đai có kích thướt nhỏ gọn

    Vậy ta đã thiết kế bộ truyền đai với các thong số hình học

    Khoảng cách trục A=1138 chiều dài đai L=3499mm

    Góc ôm  chiều rộng đai b=63 chiều dài đai là 8,1mm

    Bánh đai : Đường kính bánh đai nhỏ D1=274mm,D2=498mm

    Lực căng đai S0=743,04N ,Râ=1453,4

    Ta có kết cấu bánh đai như hình vẽ :

     

    IV. TÍNH TOÁN THIẾT KẾ TRỤC

     

             1.Thông số khớp nối trục đàn hồi

    Do khớp nối truyền công suất tương đối lớn nên ta chọn cách nối trục vòng đàn hồi. Tđc= 147829 (Nmm). Khi đó tra bảng16.10a các kích thước cơ bản của nối trục vòng đàn hồi được tra theo mômem xoắn.

    T =500 (M.m)                 d = 40 (mm)                   D = 170 (mm)

    dm = 80  (mm)                 L = 175 (mm)                 l = 110 (mm)

    d1 = 71 (mm)                  Do = 130 (mm)               Z = 8

    nmax = 3600                     B = 5                              B1 =70

    l1 = 30 (mm)                   D3  = 28 (mm)                l2 = 32(mm)

              2. Thiết kế trục

                a.Chọn vật liệu

    Chọn vật liệu chế tạo trục I, II, III trong hộp truyền giảm tốc là thép 35 có

    sb = 600 MPa , ứng suất xoắn cho phép [t] = 15..30 Mpa

    b.Tính đường kính sơ bộ

    d =                                                                                             (10.9)[I]

    []-ứng suất xoắn cho phép []= 15…30 Mpa, lấy số nhỏ đối với trục vào của hộp giảm tốc, trị số lớn đối với trục ra

    d1 =

    d2 =

    d3 =

    Ở đây do trục I (d1) nối với động cơ điện 4A160M8Y3 có đường kính trục dđc =42 mm.

    d1=(0,8..1,2) dđc = (0,8..1,2).42 = 36.6…50,4 mm.

    Vậy chọn d1 = 35 mm.

    c.Xác định khoảng cách giữa các gối đỡ và điểm đặt lực.

    Dựa theo bảng 10.2, 10.3 [I] ta chọn

    mm                                       mm                                                 mm

    mm                                      mm

    Tra bảng (10.4),(10.3)[I], kết quả tính được khoảng cách lki  trên trục thứ k từ gối đỡ 0 đến chi tiết quay thứ i như sau:

    l12 = – lc12 = 0,5.(lm12 + b0) + k3 +hn = 78,25 mm

    l13 = 0,5(lm13 + b0) + k1 +k2 = 69,5 mm

    2.55,5 = 139 mm

    ­            l22 = 0,5(lm22 + b0) + k1 +k2 = 74,3 mm

    l23 = l11 +k1 + b0+ l32 = 259 mm

    l21 = l23 + l32 = 343 mm

    l32 = 0,5(lm32+ b0) + k1 +k2 = 0,5(1,5.60+19)+10+15 = 84 mm

    l31 = 2 l32 = 84.2 = 168 mm

    l33 = l31 +0,5.(lm33 + b0) +k3 + hn = 262

                d.Xác định trị số và chiều của các lực từ chi tiết quáy tác dụng lên trục:

    Ta có sơ đồ bố trí hộp giảm tốc như hình (10.9)[I]

    `

    Lực từ đai tác dụng lên trục 1 hướng theo phương y có trị số là:

    Fy12 = 1453 N.

    Theo phương y có trị số là

    Fx12 = 3185 N

    Lực tác dụng của khớp nối trục đàn hồi tạo ra: Fx33= (0,2 ¸ 0,3) Fr ; Fr = 2TIII/D0 ,

    Tra bảng 16.10a  ta chọn D0 = 71 mm: Fx33 = 2459 N

    Lực tác dụng khi ăn khớp trong các bộ truyền được chia làm ba thành phần:

    Fx: Lực vòng.

    Fy: Lực hướng tâm.

    Fz: Lực dọc trục.

    Với trục 1:

    Fx13=

    Fy13 =

    Fz13 =

    Với trục 2:

    Fx22=  – Fx13 =  4503 N

    Fy22=  – Fy13 =  2600 N

    Fz22=  – Fz13 =  0 N

    Với trục 3:

    Fx32=  – Fx23 =  11645 N

    Fy32=  – Fy13 = – 6723 N

    Xác định đường kính và chiều dài các đoạn trục. Khi đó ta có các biểu đồ Momen và các giá trị tương ứng trên các vị trí, khi tính toán momen uốn tổng và các momem tương đương tại các thiết diện ta tiến hành làm tròn, các kết qủa có sai số đó được bù bằng hệ số an toàn khi các trục được kiểm nghiệm. Tính phản lực tác dụng lên các gối đỡ:

    Với trục 1:

    Flx11 =

    Momen uốn tổng tại các thiết diện và mômen tương ứng(với các tiết diện 0, 1, 3: lần lượt là các tiết diện từ trái sang phải ứng với các trục tương ứng:

    Đường kính trục tại các thiết diện tương ứng khi tính sơ bộ:

    Khi đó theo tiêu chuẩn và điều kiện công nghệ và điều kiện bền ta chọn thông số các đường kính trục tại các thiết diện tương ứng là: d12 =40 mm, d11 = 45 mm và d13 = 48mm.Khi tính toán lắp bánh răng lên trục 1 ta dùng then bằng để truyền momen xoắn.Khi đó theo TCVN 2261- 77 ta có các thông số về các loại then được lắp trên các trục như sau:

    Đường kính trục Kích thướt tiết diện Chiều sâu rãnh then Bán kính góc lượn của rãnh
    b h t1 t2 nhỏ nhất lớn nhất
    45 14 9 5,5 3,3 0,25 0,4
    40 12 8 5 3,3 0,25 0,4
    48 14 9 5,5 3,3 0,25 0,4
                   

    Với trục 2:

    = 9768 N

    = -(7000 + 4503 – 11645) = 31110 N

    Momen uốn tổng tại các thiết diện và mômen tương ứng:

    Đường kính trục tại các thiết diện tương ứng khi tính sơ bộ:

    Khi đó theo tiêu chuẩn và điều kiện công nghệ ta chọn thông số các đường kính trục tại các thiết diện tương ứng là: d21 =40 mm, d22 = 45 mm và d23 = 48 mm

    Trên trục 2 ta cũng dùng then bằng để truyền momen. Khi đó theo TCVN 2261- 77 có các thông số về các loại then được lắp trên các trục như sau:

    Đường kính trục Kích thước thiết diện Chiều sâu rãnh then Bán kính góc lượn của rónh
    b h t1 t2 nhỏ nhất lớn nhất
    40 12 8 5 3,3 0,25 0,4
    45; 48 14 9 5,5 3,8 0,25 0,4
                   

    Với trục 3:

    = 474 N

    N

    Khi đó ta có các biểu đồ Momen, các giá trị tương ứng trên các vị trí và sơ bộ các kích thước của trục:

    Momen uốn tổng tại các thiết diện và mômen tương ứng:

    Đường kính trục tại các thiết diện tương ứng khi tính sơ bộ:

    Khi đó theo tiêu chuẩn và điều kiện công nghệ ta chọn thông số các đường kính trục tại các thiết diện tương ứng là: d33 = 42 mm,  d31 = 60 mm, d32 = 63 mm. Các đường kính ở các đoạn trục này chỉ là tính sơ bộ nên ta chỉ sử dụng các số liệu này khi nó thoả món điều kiện bền và điều kiện an toàn khi kiểm nghiệm lại. Chọn kiểu lắp ghép: các ổ lăn lắp trên trục theo kiểu k6, lắp bánh răng, bánh xích theo k6 kết hợp với lắp then.Khi tính toán lắp bánh răng và bánh xích lên trục, dùng then bằng để truyền momen xoắn từ trục đến các chi tiết lắp trên nó.Khi đó theo TCVN 2261- 77 ta có các thông số về các loại then được lắp trên các trục như sau:

    Đường kính trục kích thước thiết diện Chiều sâu rãnh then Bán kính góc lượn của rãnh
    b h t1 t2 nhỏ nhất lớn nhất
    60;63 18 11 7 4,4 0,25 0,4
    42 12 8 5 3,3 0,25 0,4
                   

              * Tính kiểm nghiệm trục về độ bền mỏi:

    Với thép 35 có:

    Theo bảng 10.7 ta có: ,

    Trên trục I

    Các trục trong hộp giảm tốc đều quay, ứng suất uốn thay đổi theo chu kỳ đối xứng do đó:

    ;                                                                             (10.2)[I]

    (10.23)[I]

    nên:

    Trục quay một chiều nên ứng suất xoắn thay đổi theo chu kỡ mạch động, do đó:

    (10.23)[I]

    với

    nên:

    Xác định hệ số an toàn tại các thiết diện nguy hiểm của trục (kiểm tra điều kiện bền mỏi của trục khi thiết kế).Dựa theo kết cấu trục nhận được ta có các tiết diện nguy hiểm là tiết diện lắp bánh răng.

    Kết cấu trục vừa thiết kế đảm bảo được độ bền mỏi nếu hệ số an toàn tại các tiết diện nguy hiểm đó thỏa mãn điều kiện sau:

    Trong đó: [s] – hệ số an toàn cho phép, [s] = 1,5…2,5

    khi cần tăng độ cứng thì [s] = 2,5… 3.ss , st– hệ số an toàn chỉ xét riêng cho trường hợp ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp, được tính theo công thức sau đây:

    ;

    trong đó : s-1, t-1: giới hạn mỏi uốn và xoắn ứng với chu kỳ đối xứng. sa, ta, sm, tm là biên độ và trị số trung bình của ứng suất pháp và ứng suất tiếp tại tiết diện xét.

    * Xét tại tiết diện lắp bánh răng.

    Phương pháp gia công trên máy tiện , tại các tiết diện nguy hiểm yêu cầu đạt Ra = 2,5 …0,63 mm, do đó theo bảng 10.8, hệ số tập trung ứng suất do trạng thái bề mặt  Kx = 1,06 .Không dùng các phương pháp tăng bền bề mặt do đó hệ số tăng bền Ky =1.Theo bảng 10.12 khi dựng dao phay ngón , hệ số tập trung ứng suất tại rãnh then ứng với vật liệu sb = 600 MPa là Ks = 1,76 và Kt = 1,54.Từ bảng 10.10 với d = 48 mm, es = 0, 81, et= 0,76 xác định được tỉ số Ks/es và Kt/et tại rãnh then trên tiết diện này :

    Ks/es= 1,76/0,81 = 2,1

    Kt/et= 1,54/0,76 = 2

    Tra bảng 10.11 ứng với kiểu lắp đó chọn sb = 600Mpa và đường kính tiết diện nguy hiểm ta tra được tỉ số

    Ks/es = 2,75

    Kt/et = 2,05

    Xác định các hệ số Ksd và Ktdtheo công thức 10.25 và ct 10.26

    ,

    Với trục thép Cacbon  => ys =0,05 ; yt = 0

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất pháp sstheo ct 10.20

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất tiếp sttheo ct 10.21

    Hệ số an toàn s theo ct 10.19

    Trục tại tiết diện lắp bánh răng thoả mãn về độ bền mỏi.

    * Tính toán kiểm nghiệm độ bền của then:

    Kiểm nghiệm độ bền của then.

    Độ bền dập công thức 9.1:

    Độ bền cắt theo công thức 9.2:

    d  (mm) lt   (mm) bxh t1(mm) T(Nmm) sd (MPa) tc (MPa)
    48 60 14×9 5,5 146351 10,9 4,1

    Theo bảng 9.5với tải trọng [sd] =150 (Mpa)  và [tc] =6090  (Mpa) .Vậy mối ghép then  thỏa mãn độ bền đập và độ bền cắt.

    Trên trục II(Tại tiết diện 22)

    Các trục trong hộp giảm tốc đều quay, ứng suất uốn thay đổi theo chu kỳ đối xứng do đó:

    ;                                                                                         (10.2)[I]                 (10.23)[I]

    nên:

    Trục quay một chiều nên ứng suất xoắn thay đổi theo chu kỡ mạch động, do đó:

    (10.23)[I]

    với

    nên:

    Xác định hệ số an toàn tại các thiết diện nguy hiểm của trục (kiểm tra điều kiện bền mỏi của trục khi thiết kế).Dựa theo kết cấu trục nhận được ta có các tiết diện nguy hiểm là tiết diện lắp bánh răng. Kết cấu trục vừa thiết kế đảm bảo được độ bền mỏi nếu hệ số an toàn tại các tiết diện nguy hiểm đó thỏa mãn điều kiện sau:

    Trong đó: [s] – hệ số an toàn cho phép, [s] = 1,5…2,5 khi cần tăng độ cứng thì [s] = 2,5… 3.ss , st– hệ số an toàn chỉ xét riêng cho trường hợp ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp, được tính theo công thức sau đây:

    ;

    trong đó : s-1, t-1: giới hạn mỏi uốn và xoắn ứng với chu kỳ đối xứng.sa, ta, sm, tm là biên độ và trị số trung bình của ứng suất pháp và ứng suất tiếp tại tiết diện xét.

    * Xét tại tiết diện lắp bánh răng.

    Phương pháp gia công trên máy tiện , tại các tiết diện nguy hiểm yêu cầu đạt Ra = 2,5 …0,63 mm, do đó theo bảng 10.8, hệ số tập trung ứng suất do trạng thái bề mặt  Kx = 1,06 .Không dùng các phương pháp tăng bền bề mặt do đó hệ số tăng bền Ky =1 Theo bảng 10.12 khi dựng dao phay ngón , hệ số tập trung ứng suất tại rãnh then ứng với vật liệu sb = 600 MPa là Ks = 1,76 và Kt = 1,54.Từ bảng 10.10 với d = 45 mm, es = 0, 81, et= 0,7xác định được tỉ số Ks/es và Kt/et tại rãnh then trên tiết diện này

    Ks/es= 1,76/0,81 = 2,1

    Kt/et= 1,54/0,76 = 2

    Tra bảng 10.11 ứng với kiểu lắp đó chọn sb = 600Mpa và đường kính tiết diện nguy hiểm ta tra được tỉ số

    Ks/es = 2,75

    Kt/et = 2,05

    Xác định các hệ số Ksd và Ktdtheo công thức 10.25 và ct 10.26

    ,

    Với trục thép Cacbon  => ys =0,05 ; yt = 0

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất pháp sstheo ct 10.20

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất tiếp sttheo ct 10.21

    Hệ số an toàn s theo ct 10.19

    Trục tại tiết diện lắp bánh răng thoả mãn về độ bền mỏi.

    * Tính toán kiểm nghiệm độ bền của then:

    Kiểm nghiệm độ bền của then.

    Độ bền dập công thức 9.1:

    Độ bền cắt theo công thức 9.2:

    d  (mm) lt   (mm) bxh t1(mm) T(Nmm) sd (MPa) tc (MPa)
    45 67,5 14×9 5,5 378463 27,6 7,8

    Theo bảng 9.5với tải trọng [sd] =150 (Mpa)  và [tc] =6090  (Mpa) .Vậy mối ghép then  thỏa mãn độ bền đập và độ bền cắt.

    Trên trục II(Tại tiết diện 23)

    Các trục trong hộp giảm tốc đều quay, ứng suất uốn thay đổi theo chu kỳ đối xứng do đó:

    ;                                                                             (10.2)[I]

    (10.23)[I]

    nên:

    Trục quay một chiều nên ứng suất xoắn thay đổi theo chu kỡ mạch động, do đó:

    (10.23)[I]

    với

    nên:

    Xác định hệ số an toàn tại các thiết diện nguy hiểm của trục (kiểm tra điều kiện bền mỏi của trục khi thiết kế).Dựa theo kết cấu trục nhận được ta có các tiết diện nguy hiểm là tiết diện lắp bánh răng. Kết cấu trục vừa thiết kế đảm bảo được độ bền mỏi nếu hệ số an toàn tại các tiết diện nguy hiểm đó thỏa mãn điều kiện sau:

    Trong đó: [s] – hệ số an toàn cho phép, [s] = 1,5…2,5 khi cần tăng độ cứng thì [s] = 2,5… 3.ss , st– hệ số an toàn chỉ xét riêng cho trường hợp ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp, được tính theo công thức sau đây:

    ;

    trong đó : s-1, t-1: giới hạn mỏi uốn và xoắn ứng với chu kỳ đối xứng. sa, ta, sm, tm là biên độ và trị số trung bình của ứng suất pháp và ứng suất tiếp tại tiết diện xét.

    * Xét tại tiết diện lắp bánh răng.

    Phương pháp gia công trên máy tiện , tại các tiết diện nguy hiểm yêu cầu đạt Ra = 2,5 …0,63 mm, do đó theo bảng 10.8, hệ số tập trung ứng suất do trạng thái bề mặt  Kx = 1,06 Không dùng các phương pháp tăng bền bề mặt do đó hệ số tăng bền Ky =1 Theo bảng 10.12 khi dựng dao phay ngón , hệ số tập trung ứng suất tại rãnh then ứng với vật liệu sb = 600 MPa là Ks = 1,76 và Kt = 1,54.Từ bảng 10.10 với d = 48 mm, es = 0, 81, et= 0,76 xác định được tỉ số Ks/es và Kt/et tại rãnh then trên tiết diện này

    Ks/es= 1,76/0,81 = 2,2

    Kt/et= 1,54/0,76 = 2

    Tra bảng 10.11 ứng với kiểu lắp đó chọn sb = 600Mpa và đường kính tiết diện nguy hiểm ta tra được tỉ số

    Ks/es = 2,75

    Kt/et = 2,05

    Xác định các hệ số Ksd và Ktdtheo công thức 10.25 và ct 10.26

    ,

    Với trục thép Cacbon  => ys =0,05 ; yt = 0

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất pháp sstheo ct 10.20

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất tiếp sttheo ct 10.21

    Hệ số an toàn s theo ct 10.19

    Trục tại tiết diện lắp bánh răng thoả mãn về độ bền mỏi.

    * Tính toán kiểm nghiệm độ bền của then:

    Kiểm nghiệm độ bền của then.

    Độ bền dập công thức 9.1:

    Độ bền cắt theo công thức 9.2:

    d  (mm) lt   (mm) bxh t1(mm) T(Nmm) sd (MPa) tc (MPa)
    48 75 14×9 5,5 378463 15,5 6,3

    Theo bảng 9.5với tải trọng [sd] =150 (Mpa)  và [tc] =6090  (Mpa) .Vậy mối ghép then  thỏa mãn độ bền đập và độ bền cắt.

    *Trên trục III(Tại tiết diện 32)                       

    Các trục trong hộp giảm tốc đều quay, ứng suất uốn thay đổi theo chu kỳ đối xứng do đó:

    ;                                                                        (10.2)[I]                                                                                                                                                                                                      (10.23)[I]

    nên:

    Trục quay một chiều nên ứng suất xoắn thay đổi theo chu kỳ mạch động, do đó:

    (10.23)[I]

    với

    nên:

    Xác định hệ số an toàn tại các thiết diện nguy hiểm của trục (kiểm tra điều kiện bền mỏi của trục khi thiết kế).Dựa theo kết cấu trục nhận được ta có các tiết diện nguy hiểm là tiết diện lắp bánh răng. Kết cấu trục vừa thiết kế đảm bảo được độ bền mỏi nếu hệ số an toàn tại các tiết diện nguy hiểm đó thỏa mãn điều kiện sau:

    Trong đó: [s] – hệ số an toàn cho phép, [s] = 1,5…2,5 khi cần tăng độ cứng thì [s] = 2,5… 3.ss , st– hệ số an toàn chỉ xét riêng cho trường hợp ứng suất pháp hoặc ứng suất tiếp, được tính theo công thức sau đây:

    ;

    trong đó : s-1, t-1: giới hạn mỏi uốn và xoắn ứng với chu kỳ đối xứng. sa, ta, sm, tm là biên độ và trị số trung bình của ứng suất pháp và ứng suất tiếp tại tiết diện xét.

    * Xét tại tiết diện lắp bánh răng.

    Phương pháp gia công trên máy tiện , tại các tiết diện nguy hiểm yêu cầu đạtRa = 2,5 …0,63 mm, do đó theo bảng 10.8, hệ số tập trung ứng suất do trạng thái bề mặt  Kx = 1,06 Không dùng các phương pháp tăng bền bề mặt do đó hệ số tăng bền Ky =1Theo bảng 10.12 khi dựng dao phay ngón , hệ số tập trung ứng suất tại rãnh then ứng với vật liệu sb = 600 MPa là Ks = 1,76 và Kt = 1,54.Từ bảng 10.10 với d = 45 mm, es = 0, 81, et= 0,76 xác định được tỉ số Ks/es và Kt/et tại rãnh then trên tiết diện này

    Ks/es= 1,76/0,81 = 2,2

    Kt/et= 1,54/0,73 = 2

    Tra bảng 10.11 ứng với kiểu lắp đó chọn sb = 600Mpa và đường kính tiết diện nguy hiểm ta tra được tỉ số

    Ks/es = 2,75

    Kt/et = 2,05

    Xác định các hệ số Ksd và Ktdtheo công thức 10.25 và ct 10.26

    ,,

    Với trục thép Cacbon  => ys =0,05 ; yt = 0  Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất pháp sstheo ct 10.20

    Hệ số an toàn chỉ xét riêng ứng suất tiếp sttheo ct 10.21

    Hệ số an toàn s theo ct 10.19

    Trục tại tiết diện lắp bánh răng thoả mãn về độ bền mỏi.

    * Tính toán kiểm nghiệm độ bền của then:

    Kiểm nghiệm độ bền của then.

    Độ bền dập công thức 9.1:

    Độ bền cắt theo công thức 9.2:

    d  (mm) lt   (mm) bxh t1(mm) T(Nmm) sd (MPa) tc (MPa)
    70 105 20×12 7,5 983650 55 12,3

    Theo bảng 9.5với tải trọng [sd] =150 (Mpa)  và [tc] =6090  (Mpa) .Vậy mối ghép then  thỏa mãn độ bền đập và độ bền cắt.

     

    PHẦN V: THIẾT KẾ GỐI ĐỠ TRỤC

    I.Chọn ổ lăn

    Cả ba trục đều không có lực dọc trục, do đó ta chọn ổ bi, đỡ chặn để làm gối đỡ trục

    a.Chọn ổ lăn

    Với trục1 : d= 45 mm số vòng quay n = 730 v/p

    Ta chọn sơ bộ theo bảng (P 2.7)[I] :

    Kí hiệu ổ d, mm D, mm B, mm R, mm Đườn kính bi, mm C, kN , kN
    309 45 100 25 2,5 17,46 37,8 26,70

    b.Kiểm tra khả năng tải

                Kiểm tra tải trọng động :

                Tải trọng hướng tâm :ta chọn gối có lực lớn hơn để tính

    Đối với ổ bi đỡ :

    (11.1)[I]

    Q- tải trọng động quy ước, kN

    L- tuổi thọ tính bằng triệu vòng quay

    Gọi  là tuổi thọ của ổ tính bằng giờ thì :                                              (11.2)[I]

    m- bậc của đường cong mỏi, m = 3

    nên ổ ta chọn đủ bền

                c.Kiểm tra tải trọng tỉnh :

                                                                                                                         (11.18)[I]

    Vậy ổ đủ bền tỉnh

    Với trục2 :d = 40 mm, n = 270 vòng/ph

    Ta chọn sơ bộ theo bảng (P 2.7)[I] :

    Kí hiệu ổ d, mm D, mm B, mm R, mm Đườn kính bi, mm C, kN , kN
    308 40 90 23 2,5 15,08 31,9 21,7

    Đối với ổ bi đỡ : Q =

    (11.1)[I]

    Q- tải trọng động quy ước, kN

    L- tuổi thọ tính bằng triệu vòng quay

    Gọi  là tuổi thọ của ổ tính bằng giờ thì :                                              (11.2)[I]

    m- bậc của đường cong mỏi, m = 3

    nên ổ ta chọn đủ bền

                d.Kiểm tra tải trọng tỉnh :

    (11.18)[I]

    Vậy ổ đủ bền tỉnh

    Với trục3 :d = 65 mm, n = 33,4vòng/ph

    Ta chọn sơ bộ theo bảng (P 2.7)[I] :

    Kí hiệu ổ d, mm D, mm B, mm R, mm Đườn kính bi, mm C, kN , kN
    312 60 130 31 3,5 22,23 64,1     49,40

    Đối với ổ bi đỡ : Q =

    (11.1)[I]

    Q- tải trọng động quy ước, kN

    L- tuổi thọ tính bằng triệu vòng quay

    Gọi  là tuổi thọ của ổ tính bằng giờ thì :                                              (11.2)[I]

    m- bậc của đường cong mỏi, m = 3

    nên ổ ta chọn đủ bền

                e.Kiểm tra tải trọng tỉnh :

    (11.18)[I]

    Vậy ổ đủ bền tỉnh

                II.Các phương pháp cố định ổ trên trục và trên vỏ hộp

    1.Cố định ổ trên trục:

    Vì không có lực dọc trục lớn nên ta chọn phương pháp đệm chắn mặt đầu

    Kích thướt tra bảng 8-10, 8-12 [II]

    2.Cố định ổ trong hộp

    Đặt vòng ngoài của ổ vào giữa mặt tỳ của nắp ổ và vai lỗ trong hộp

                III. Chọn kiểu lắp và cấu tạo lắp ổ

    + Lắp ô lăn vào trục theo hệ lỗ, kiểu T2ô

    + Lắp ô lăn vào vỏ theo hệ trục, kiểu L1ô

                IV. Ống lót và nắp ổ.

    * Ống lót được chế tạo bằng gang GX15-32

    Có hai loại nắp ổ: Nắp ổ kín và nắp ổ thủng để trục nắp xuyên qua.

    Đối với nắp ổ kín lấy bề mặt có đường kính D làm chuẩn định tân theo kiểu lắp L1ô, L3ô. Kết cấu được trình trong hình vẽ.

    + Bề mặt tiếp xúc của nắp với đầu mút kẹp chặt cần được gia công đạt độ nhẵn ³Ñ3

    + Kích thước chổ lắp nắp tra bảng 10-10b

    – Các tâm lỗ nắp lấy cách mép lỗ một khoảng bằng (0,8¸ 1)d3; d3- đường kính vít.

    – Đường kính ngoài của mặt bích: Db = D + d=  D + 4,4d3

    – Chiều dài bích nắp ổ lấy bằng (0,7¸ 0,8) chiều dài vỏ hộp.

    – Trị số d3 và số bu lông lấy theo bảng 10-10b được M8, M10, số bu lông là 6.

    Trục I:   d3 = 8;      DIb =80 + 4,4.8 = 115,2      [mm]

    TrụcII:   d3 = 8;      DIIb =90 + 4,4.8 = 125,5     [mm]

    Trục III:            d3 = 10;   DIIIb =140+ 4,4.10 = 184    [mm]

                V.Cố định trục theo phương dọc trục

    Sơ đồ nguyên lý như hình vẽ:

    Trục được cố định bằng các nắp ổ, vòng trong ổ được tỳ lên vai trục, vòng ngoài được tỳ lên nắp ổ. Ta chỉ cố định một đầu còn đầu kia “tuỳ động.

                VI.Bôi trơn ổ lăn

    Bộ phận ổ lăn được bôi trơn bằng mỡ, vì vận tốc bộ truyền bé nên dầu không thể bắn toé lên trên được.

    Mỡ dùng bôi trơn chọn trong bảng 8-28[II], nhiệt độ làm việc 60¸C và số vòng quay < 1500 vg/ph chọn mỡ T

    Lượng mỡ cho vào lần đầu trong bộ phận ổ theo qui định:

    + Số vòng quay nhỏ và trung bình, mỡ lấp đầu dưới 2/3 thể tích rỗng của bộ phận ổ.

    + Vòng quay lớn: Dưới 1/3 ¸ 2/3 thể tích trên.

                VII.Che kín ổ lăn

    Để che kín các đầu trục ra, tránh sự xâm nhập của bụi, tạp chất, ngăn mỡ chảy ra ngoài ta dùng vòng phớt.

    Tra bảng 8-29 được;

    Trục I: D = 100 [mm]

    Þ d = 75 [mm];  = 76,5 [mm];  = 74 [mm]

    a = 12 [mm];b = 9 [mm];So= 15 [mm]

    Trục II: D=90

    Þ d = 70 [mm];  = 71,5 [mm];  = 69 [mm]

    a = 9 [mm];b = 6,5 [mm];So= 12 [mm

     

    PHẦN VI: THIẾT KẾ VỎ

    Vỏ máy được đúc bang gang xám. Những nơi cần yêu cầu về độ cứng thì làm thêm gân chịu lực.

    Các kích thướt sơ bộ dưới đây được tra trong bảng 10.9[II]

    + Chiều dày thành thân hộp (vỏ máy)

    d = 0.025.A + 3 = 0,025.240 + 3 = 9 [mm]

    lấyd = 9 [mm]

    + Chiều dày thành nắp

    = 0.02.A + 3 = 0,02.240 + 3 = 7,8[mm]

    lấy = 8,5 [mm]

    + Chiều dày mặt bích dưới của thân hộp

    b = 1,5.d = 1,5.9 = 13,5 [mm]

    + Chiều dày mặt bích trên của nắp hộp

    b1 = 1,5. = 1,5.8,5 = 12,75 [mm]

    + Chiều dày mặt đế

    phần không có phần lồi:          p = 2,35.d = 2,35.9 = 21,15[mm]

    + Chiều dày gân ở thân hộp:  m = 0,9.d = 0,9.9 = 8,1 [mm]

    + Chiều dày gân ở nắp hộp:    m1 = 0,9.d1 = 0,9.8,5 = 7,7 [mm]

    + Đường kính bu lông nền:

    + Đường kính bu lông:

    – Ở cạnh ổ:       = 0,7. = 0,7.20,64 = 14,5[mm]

    – Ghép các mặt bích và nắp thân:

    = 0,5.dn =0,5.20,64 = 10,3[mm]

    – Ghép nắp ổ:   = 8 [mm]     (M8)

    – Ghép nắp cửa thăm:   = 8 [mm]     (M8x12)

    + khoảng cánh  từ mặt ngoài của vỏ đến tâm bu lông:   =14[mm]

    + Chiều rộng mặt bích k:

    k = + ;        = 12[mm]

    Þ k = 14 + 12 = 26[mm]

    + Kích thước phần lồi:             =     = 12[mm]

    = 0,2. =0,2.12 = 2,4[mm]

    + Chiều rộng mặt bích chỗ lắp ổ:         = k + 2 = 26 + 2 = 28[mm]

    + Đường kính bu lông vòng d:

    Có A1.A2 = 240. 240, tra bảng 10-11b Þ trọng lượng 400kg

    Tra bảng 10-11a Þ chọn loại M16

    Khối lượng 1 vít 0,295kg

    Số lượng bu lông nền:

    Chọn sơ bộ L = 500[mm]; B = 420[mm]

    Tra bảng 10-13 chọn n = 6 bu lông

                *Kích thước nút tháo dầu:

    Nút tháo dầu dùng để xả dầu khi cần

    Đáy hộp được làm nghiêng một góc 1¸ về phía tháo dầu, chỗ tháo dầu được làm hơi lõm xuống.

    * Chân đế: Mặt chân đế không làm phẳng mà làm hai dẫy lồi song song.

    * Mặt thông hơi: Để thông hơi khi dầu bị nóng

    * Chốt định vị: Dùng chốt định vị hình trụ để định vị tương đối giữa nắp và thân hộp khi lắp.

    Đường kính chốt:        d = 5[mm]

    * Cửa thăm: Để quan sát các chi tiết máy trong hộp và rót dầu vào hộp thì trên nắp hộp ta làm cửa thăm (hình vẽ).

    * Bu lông vòng:Để nâng và vận chuyển hộp giảm tốc người ta dùng bu lông vòng trên nắp. Kích thước bu lông vòng chọn theo khôi lượng hộp giảm tốc.

    * Mắt dầu: kiểm tra mức dầu trong hộp giảm tốc

    * Tính toán và chọn dầu bôi trơn hộp giảm tốc:

    Mục đích của việc bôi trơn các chi tiết máy là để bảo vệ bề mặt các chi tiết máy không bị rỉ, giảm ma sát, hao mòn, thoát nhiệt, lọc bụi bẩn, giảm tiếng ồn, dao động.

    Khả năng làm việc và tuổi thọ của máy phụ thuộc nhiều vào việc chọn vật liệu bôi trơn và lót kín.

    1) Vật liệu bôi trơn

    Vật liệu bôi trơn là dầu khoáng và mỡ, khi chọn dầu cần tính đến nhiệt độ đông đặc, nhiệt độ bôi trơn.

    2) Bôi trơn bộ truyền bánh răng

    Bộ truyền bánh răng được bôi trơn bằng phương pháp ngâm dầu.

    Chiều sâu ngâm dầu ở bánh răng cấp chậm khoảng 1/3 bán kính bánh răng lớn, bánh răng nhỏ được bôi trơn nhờ bánh răng lớn vung toé lên.

    Dung lượng bôi trơn phải lấy đủ lớn để đảm bảo bôi trơn tốt.

    Nhiệt độ dầu bôi trơn <C

    Chọn loại dầu bôi trơn:

    +Vật liệu bánh răng là thép

    +Thường hoá, vận tốc vòng  2,5¸ 5

    +Giới hạn bền kéo:     470 ¸ 1000 [N/mm2]

    Tra bảng 10-17 và 10-20 ta chọn được dầu MC-14.

    Trong hộp giảm tốc có dùng vòng chắn để ngăn cách dầu trong hộp và mỡ trong ổ.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]


  • Đồ Án Bê Tông Cốt Thép

    Đồ Án Bê Tông Cốt Thép

    Đồ Án Bê Tông Cốt Thép

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/%C4%90%E1%BB%93-%C3%81n-B%C3%AA-T%C3%B4ng-C%E1%BB%91t-Th%C3%A9p.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Đồ Án Bê Tông Cốt Thép

    A. THIẾT KẾ BẢN SÀN

     

    Sơ đồ bản sàn

    L 1
    (m)
    L 2
    (m)
    p c

     

    (kN/ m2)

    gfp Bêtông B15
    (Mpa)
    Cốt thép
      Cốt dọc

     

    (MPa)

    Cốt đai, cốt xiên

     

    (MPa)

    Nhóm CI, AI R s= 225 R sw=175
    2,2 6,2 8 1,2 R b= 8,5

     

    R bt=0,75

    g b=0,9

    Nhóm CII, AII R s= 280 R sw=225

    1.     Bảng số liệu tính toán:

    Lớp cấu tạo sàn Chiều dày(d i)

     

    (m)

    Khối lượng riêng(g i)

     

    (KN/m3)

    Hệ số vượt tải(g f, i)
    Gạch Cêramic 0,010 22 1,1
    Vữa lót 0,030 18 1,3
    Bê tông cốt thép 0,080 25 1,1
    Vữa trát 0,030 18 1,3

    Các lớp cấu tạo sàn

    • Chọn sơ bộ chiều dày bản sàn:

    hs= =  = 73,33 (mm).

    Þ chọn hs= 80(mm)

    • Chọn sơ bộ kích thước dầm phụ: (nhịp Ldp = L2 = 6200mm)

    *

    Þ chọn  = 450 (mm)

    *

    Þ chọn  = 200 (mm)

    • Chọn sơ bộ kích thước dầm chính: (nhịp = 3L1 =3.2200= 6600mm)

    *

    Þ chọn  = 700 (mm)

    *

    Þ chọn  = 300 (mm)

    2.     Sơ đồ tính:

    nên bản thuộc loại bản làm việc thep phương cạnh ngắn, các trục từ 2 đến 4 là dầm chính, các tục vuông góc với dầm chính là dầm phụ.

    – Để tính bản,ta cắt một dãy rộng b=1m vuông góc với dầm phụ và thuộc dầm liên tục có gối tựa là dầm phụ và tường.

    –  Bản sàn được tính theo sơ đồ dẽo.

    Nhịp tính toán của bản:

    – Nhịp biên:

    – Nhịp giữa:

    Chênh lệch giữa các nhịp:

    Sơ đồ nhịp tính toán của bản

    3.  Xác định tải trọng:

    – Hoạt tãi tính toán:

    • Tỉnh tải:
    Lớp cấu tạo Chiều dày
    di (m)
    Trọng lượng riêng

     

    gi (kN/m3)

    Trị tiêu chuẩn
    gc (kN/m2)
    Hệ số tin cậy
    tải trọng gf,i
    Trị tính toán gs(kN/m2)
    Gạch lát 0,010 20 0,20 1.1 0,22
    Vữa lót + tạo dốc 0,030 18 0,54 1.3 0,7
    Bản BTCT 0,080 25 2,00 1.1 2,2
    Vữa trát 0,030 18 0,54 1.3 0,70
    Tổng 3,82

    – Tải trọng toàn phần (tính theo dãy bản rộng b=1m)

    – Tính moment:

    Xác định moment trong bản bằng sơ đồ dẽo. Nhịp tính toán chênh nhau 1,5% nên có thể dùng các công thức lập sẵn.

    Giá trị tuyệt đối của moment dương ở nhịp biên và moment âm ở gối thứ hai:

    Giá trị tuyệt đối của moment dương ở nhịp giữa và moment âm ở gối giữa:

    Sơ đồ tính và biểu đồ moment của bản sàn

    Tính cốt thép :

    Chọn  a0 = 20mm cho mọi tiết diện

    Chiều cao làm việc của betong :

    0 = hs – a0 = 80 – 20 = 60(mm)

    –  Công thức tính toán:

    ;  ;  ;

    ;   ;

    • Số liệu bêtông: Bêtông B15 : Rb= 8,5 Mpa ; gb= 0,9 ; xR=0,37 ; aR =0,3.

    Dùng thép AI : Rs= 225 Mpa ;  gs= 1.

    • Hàm lượng cốt thép hợp lý của bản dầm:

    mmin = 0,05 % £mhợp lí £mmax =  =

    • Điều kiện hạn chế khi tính theo sơ đồ dẽo:
    Tiết diện M (kNm)   x Ast

     

    (mm2)

      Chọn cốt thép  
    f(mm) a (mm) A s

     

    (mm2)

    Nhịp biên, gối 2 4,74 0,172 0,19 387,6 0,64 8 130 387 -0,15
    Nhịp giữa, gối giữa 3,36 0,122 0,13 265,2 0,44 8 190 265 -0,07

    Kiểm tra h0tt:

    Chọn abv = 15 mm. fmax=8 mm Þ h0tt = hs–abv–0,5 f max = 80 – 15 – 0,58 = 61 > h0 = 60(mm).

    Vậy kết quả thiên về an toàn.

    – Xét tỉ lệ :

    Þ 1 <  < 3 Þ a = 0,25 Þ aL0b = aL0g =0,25×2000=500(mm)

    .

    Chọn

    * chiều dài đoạn cốt thép neo vào gối tựa:

    Lan = (10 ¸ 15)fmax = (10 ¸ 15)8 = (80 ¸  120)(mm).

    chọn Lan=120 (mm).

    * cốt thép cấu tạo chịu moment âm dọc theo gối biên và phía trên dầm chính:

    A s, ct ³

    Chọn f6 a200 (Asc = 141 mm2).

    * chiều dài cốt thép chịu moment âm tại gối biên (mút cốt thép – mép tường)

    Þ chọn 250 (mm)

    * chiều dài cốt thép chịu moment âm từ mút cốt thép – mép dầm chính:

    Þ chọn 400 (mm)

    * cốt thép phân bố:

    Þ

    Þ chọn f6a250 (As = 113 mm2)

     

    B. TÍNH DẦM PHỤ

    Dầm phụ tính theo sơ đồ khớp dẽo.

    1.     Sơ đồ tính:

    Là dầm liên tục 4 nhịp với các gối tựa là tường biên và dầm chính.

    Chọn đoạn kê dầm phụ lên tường: Cdp= 220 mm.

    • Nhịp biên:
    • Nhịp giữa:
    • Chênh lệch giữa các nhịp:

    Sơ đồ xác định nhịp tính toán của dầm phụ

    2.     Xác định tải trọng:

    • Tĩnh tải:
      • Trọng lượng bản thân dầm phụ:
    • Tĩnh tải từ bản sàn truyền vào:
    • Tổng tĩnh tải:
    • Hoạt tải:
      • Hoạt tải tính toán từ bản sàn truyền vào:
    • Tổng tải:

    3.     Xác định nội lực:

    Biều đồ bao momen:

    Xét tỉ số:

    Tra bảng Þ k= 0,237

    • Tung độ tại tiết diện của biểu đồ bao moment tính theo công thức:

    ( l0: nhịp tính toán)

    • Moment âm triệt tiêu cánh mép gối tựa một đoạn::
    • Moment dương triệt tiêu cánh mép gối tựa một đoạn:

    Đối với nhịp biên:

    Đối với nhịp giữa:

    Xác định tung độ biểu đồ bao moment của dầm phụ

    Nhịp Tiết diện Nhịp tính toán   L0(m) qdpL

     

    (KNm)

    max min Mmax Mmin
    Biên Gối 1 5,990 1122,3 0   0  
    1 0,065   74,21  
    2 0,090   102,7  
    0,425L0b 0,091   103,9  
    3 0,075   85,6  
    4 0,020   22,8  
    Giữa Gối  2-TIẾT DIỆN.5   -0,0715   -81
    6 5,900 1088,8 0,018 -0,0309 20 -34,2
    7 0,058 -0,0099 64,24 -11
    0,5L0g 0,0625   69,2  
    8 0,058 -0,006 64,24 -6,6
    9 0,018 -0,024 20 -26,5
    10

     

    (gối 3)

      -0,0625   69,23

     

    Lực cắt (Q)

    – Tung độ biểu đồ bao lực cắt được xác định theo công thức:

    Biểu đồ bao lực của dầm phụ

    4.     Tính cốt thép:

    v Tính cốt dọc tại tiết diện ở nhịp:

    • Tương ứng với giá trị mômen dương, bản cánh chịu nén, cơ sở tính toán là tiết diện chữ T.
    • Độ vươn của sải cánh được lấy theo TCVN 356-2005:
    • Chiều rộng bản cánh:
    • Kích thước tiết diện chữ T:
    • Xác định vị trí trục trung hòa:
      • Giả thiết a = 50(mm); h0 = h – a = 550 – 50 = 500(mm)
      •  
      • Mnhịp (biên,giữa) < Mf nên trục trung hòa qua cánh tính với tiến diện chữ nhật lớn: 1160 x 450

    v Tính cốt dọc tại tiết diện ở gối:

    • Tương ứng với giá trị mô men âm, bản cánh chịu kéo, tính cốt thép theo tiết diện chữ nhật nhỏ: 200 x 450 (mmmm)

    Chọn  a0 = 50mm

    Chiều cao làm việc của betong :

    0 = hs – a0 = 500 – 50 =450(mm)

    • Công thức tính toán:

    ;  ;  ;

    ;   ;

    • Số liệu bêtông: Bêtông B15 : Rb= 8,5 Mpa ; gb= 0,9 ; xR=0,37 ; aR =0,3.

    Dùng thép AI : Rs= 225 Mpa ;  gs= 1.

    • Hàm lượng cốt thép hợp lý của bản dầm:

    mmin = 0,05 % £mhợp lí £mmax =  =

    • Kiểm tra nếu: att agt (thỏa)
    Tiết diện M (kN.m)     As (mm2) (%) Chọn thép
    Chọn Ast (mm2) Chênh lệch
    Nhịp biên

     

    (1160×500)

    103,9 0,057 0,059 841,4 1,0 3f16­+2f14 911 8%
    Gối 2

     

    (200×500)

    81 0,26 0,3 737 0,8 2f16­+2f14 710 -3,8%
    Nhịp giữa

     

    (1160×500)

    69,2 0,04 0,04 570,5 0,67 3f16 603 5,7%
    Gối 3

     

    (200×500)

    69,23 0,22 0,25 614,7 0,67 3f16 603 -2%

     

    Kiểm tra chiều cao làm việc của betông : h0=500 (mm) ;  chọn abv = 25(mm).

    h0tt=hdp– a.

    Điều kiện kết quả được chọn thiên về an toàn : h0tt > h0

     

    Tiết diện Nhịp biên Gối 2 Nhịp giữa Gối 3
    a (mm) 48 49 33 33
    h0tt (mm) 452 451 467 467

     

    v Tính cốt đai:

    • Tính cốt đai cho tiết diện bên trái gối B có lực cắt lớn nhất Q =92,28(kN)

    Q >

    Bê tông không đủ khả năng chịu cắt, phải tính cốt đai chịu cắt.

    • Chọn cốt đai f6 (asw = 28 mm2), số nhánh cốt đai n = 2.
    • Xác định bước cốt đai:
      •  
    •  
    •  

    å Chọn s  = min(  stt; smax; sct ) = 150 mm bố trí trong đoạn L/4 đoạn đầu dầm.

    å Chọn s   = 300 mm bố trí trong đoạn L/2 ở giũa dầm.

    å Đặt cốt giá 12 vào mặt bên tiết diện dầm.

    5.     Biểu đồ bao vật liệu:

    v Khả năng chịu lực của tiết diện:

    Chọn abv=25mm, t= 30mm

    ® ath ® ® ® ®

    Bảng tổng hợp kết quả:

    Tiết diện Cắt Uốn Còn lại As (mm2) ath (mm) hoth (mm)     [M] (kN.m)
    Nhịp biên

     

    (1160×500)

        3f16­+2f14 911 48 452 0,06 0.06 111,6
    Trái N.biên 1f16   2f16+2f14 710 49 451 0,05 0,05 87,4
      2f14   2f16 402 33 467 0,03 0,03 58,05
    Phải N.biên 1f16   2f16+2f14 710 49 451 0,05 0,05 87,4
      2f14   2f16 402 33 467 0.03 0.03 58,05
    Gối 2

     

    (200×500)

        2f16­+2f14 710 49 451 0,29 0,25 86,4
    Trái Gối B 2f14   2f16 402 33 467 0,16 0,15 50,05
    Phải Gối B 2f14   2f16 402 33 467 0,16 0,15 50,05
    Nhịp giữa

     

    (1160×500)

        3f16 603 33 467 0,04 0,04 77,4
    Trái N.giữa 1f16   2f16 402 33 467 0,03 0,03 58,05
    Phải N.giữa 1f16   2f16 402 33 467 0,03 0,03 58,05
    Gối 3

     

    (200×500)

        3f16 603 33 467 0,24 0,21 70,07
    Trái Gối C 1f16   2f16 402 33 467 0,16 0,15 50,05

    6.     Tính đoạn W kéo dài :

    với Qs,inc = 0

    • Trong đoạn dầm có cốt đai f6a150 :
    • Trong đoạn dầm có cốt đai f6s300 :
    • Xác định Qo bằng phương pháp vẽ.
    Tiết diện Thanh thép Q
    (kN)
    qsw
    (kN/m)
    Wtính 20 Wchọn
    Nhịp biên trái 1f16 23,5 65 224 320 320
    2f14 48 65 365 280 370
    Nhịp biên phải 1f16 18 33 298 320 320
    2f14 33,2 33 472 280 480
    Gối B trái 2f14 61,5 65 448 280 450
    Gối B phải 2f14 39 65 310 280 310
    Nhịp giữa trái 1f16 63 33 843 320 850
    Nhịp giữa phải 1f16 10,5 33 207 320 320
    Gối C trái 1f16 36 65 301 320 320

     

    C. TÍNH DẦM CHÍNH

    Dầm chính tính theo sơ đồ đàn hồi:

    Sơ đồ tính:

    – Dầm chính là dầm liên tục 4 nhịp với các gối tựa là cột và tường:.

    – Kích thước dầm như đã chọn:  ; Chọn cạnh của cột bc=350 (mm) ; đoạn dầm chính kê lên tường chọn độ dày betong Cdc= 340 (mm)

    Þ Nhịp tính toán ợ nhịp giựa và nhịp biên lấy bằng: Lt= 3L1=6600 (mm).

    • Sơ đồ tính toán:

     

    Sơ đồ tính dầm chính

    Xác định tải trọng:

    Tải trọng từ bản sàn truyền lên dầm phụ rồi từ dầm phụ truyền lên dầm chính dưới dạng lực tập trung.

    Xác định tải trọng tác dụng lên dầm chính

    Tĩnh tải:

    • Trọng lượng bản thân dầm chính:
    • Từ dầm phụ truyền lên dầm chính:
    • Tĩnh tải tính toán:

    Hoạt tải:

    • Từ dầm phụ truyền lên dầm chính:

    Biểu đồ bao momen:

    Xác định nội lực: theo PP TỔ HỢP

    • Các trường hợp đặt tải:
    • Xác định tung độ của Biểu đồ momen cho từng trường hợp tải:
      • Tung độ của Biểu đồ momen tại một tiết diện bất kì của từng trường hợp tải được xác định như sau:

    Các trường hợp tải

    • Tung độ Biểu đồ momen:
    Sơ đồ Gối A 1 2 Gối B 3 4 Gối C
    a   0 0,244 0,156 -0,267 0,067 0,067 -0,267
      MG (kN.m) 0 121,3 75,7 -129,5 32,5 32,5 -129,5
    b   0 0,289 0,244 -0,133 -0,133    
      MP1 (kN.m) 0 250 211 -115 -115 -115 0
    c   0 -0,044 -0,089 -0,133 0,200 0,200  
      MP2 (kN.m) 0 -38 -77 -115 173 173 0
    d   0     -0,311     -0,089
      MP3 (kN.m) 0 -90 -179 -269 -205 -141 -77
    e   0     0,044     -0,178
      MP4 (kN.m) 0 13 25 38 -26 -90 -154
    • Dùng Phương pháp vẽ tiến hành xác định giá trị momen tại các tiết diện cho các trường hợp tải (b), (c), (d), (e)
    • Biểu đồ momen cho từng trường hợp tải:
    • Tung độ Biểu đồ momen thành phần và biểu đồ bao momnen:
    Momen Gối A 1 2 Gối B 3 4 Gối C
    M1 (kN.m)

     

    (MG+MP1)

    0 368,3 286,7 -244,5 -82,5 -82,5 -129,5
    M2 (kN.m)

     

    (MG+MP2)

    0 80,3 -1,3 -244,5 205,5 205,5 -129,5
    M3 (kN.m)

     

    (MG+MP3)

    0 316,3 183,7 -389,5 115,5 179,5 -206,5
    M4 (kN.m)

     

    (MG+MP4)

    0 131,3 100,7 -91,5 5,5 58 -283,5
    Mmax (kN.m) 0 386,3 286,7 -91,5 205,5 205,5 -129,5
    Mmin (kN.m) 0 80,3 -1,3 -389,5 -82,5 -82,5 -283,5

    Biểu đồ bao moment dầm chính

    Xác định moment mép gối theo Phương pháp vẽ:

    Biểu đồ Bao lực cắt:

    • Xác định Biểu đồ lực cắt cho từng trường hợp tải
    • Quan hệ giữa momen và lực cắt:
    • Xác định các biểu đồ lực cắt thành phần và Biểu đồ bao lực cắt

    Biểu đồ bao lực cắt của dầm chính

    Tính cốt thép:

    • Bê tông có cấp độ chịu nén B15: Rb = 8,5 Mpa; Rbt = 0,75 Mpa.
    • Cốt thép dọc của dầm chính sử dụng loại AII: Rs = 280 Mpa;
    • Cốt thép đai của dầm chính sử dụng loại AI : Rsw = 175 Mpa.

    Tại tiết diện giữa nhịp (tương ứng vùng chịu moment dương), bản cánh chịu nén nên tiết diện tính toán là tiết diện chữ T.

    • Chiều rộng bản cánh:
    • Kích thước tiết diện chữ T:
    • Xác định vị trí trục trung hòa:
      • Giả thiết a = 55(mm)
      •  
      • Mnhịp (biên,giữa) < Mf nên trục trung hòa qua cánh tính với tiến diện chữ nhật lớn: 1260 x 800(mm x mm).
      • Mnhịp (biên,giữa) < Mf  nên trục trung hòa qua cánh.
    • Bảng tính cốt thép dọc cho dầm chính:

    Giản đồ tính toán:

    Giả thuyết a = 80 (mm)

     

    ®   ®

    ® Kiểm tra hàm lượng thép:

    • Số liệu bêtông: Bêtông B15 : Rb= 8,5 Mpa ; gb= 0,9 ; xR=0,681 ; aR =0,449.

    Dùng thép AII : Rs= 280 Mpa ;  gs= 1.

    Sai số:

    • Kiểm tra: att agt (thỏa)
    Tiết diện M (kN.m)     As (mm2) (%) Chọn thép
    Chọn Ast (mm2) Chênh lệch
    Nhịp biên

     

    (1260×800)

    371,3 0,07 0,08 1982,8 0,99 4f22+2f20 2149 8%
    Gối 2

     

    (300×800)

    374,5 0,31 0,39 2309 1,05 6f22 2281 -1,2%
    Nhịp giữa

     

    (1260×800)

    205,5 0,04 0,04 1041,2 0,5 2f22+1f20 1074 3%
    Gối 3

     

    (300×800)

    268 0,22 0,26 1527 0,7 4f22 1521 -3%
    • Cốt dọc cấu tạo:

    Do chiều cao dầm hd > 70 cm nên đặt cốt giá  12 vào mặt bên của tiết diện dầm.

    • Tính cốt ngang:
    • Lực cắt lớn nhất tại gối:
    • Kiểm tra điều kiện tính toán:

    Bê tông không đủ khả năng chịu cắt, phải tính cốt đai chịu cắt.

    • Chọn cốt đai f10 (asw = 78,5 mm2), số nhánh cốt đai n = 2.
    • Xác định bước cốt đai:
      •  

    .

    •  
    •  

    Chọn s  = min(  stt; smax; sct ) = 200 mm bố trí trong đoạn L/3 đoạn đầu dầm.

    • Đoạn dầm giữa nhịp:

    Chọn s = 500 mm.

    • Kiểm tra:

    vết nứt nguy hiểm nhất xuất hiện trong dầm khi không đi qua cốt đai

    • Khả năng chịu cắt của cốt đai:
    • Khả năng chịu cắt của cốt đai và bêtông:

    Không cần bố trí cốt xiên cho dầm.

    • Tính cốt treo:
    • Ở chỗ dầm phụ kê lên dầm chính cần có cốt treo để gia cố cho dầm chính. Lực tập trung do dầm phụ truyền lên dầm chính là:

    131+63=194(kN)

    • Sử dụng cốt treo dạng đai, diện tích cần thiết là:
    • Chọn f10 (asw = 79 mm2), số nhánh n = 2. Số lượng cốt treo cần thiết là

    Chọn số lượng là 6 đai, đặt mỗi bên dầm phụ 3 đai.

    Bước đai:

    • Phạm vi bố trí cốt đai
    • Khoảng cách giữa các cốt treo lấy 120mm

    Bố trí cốt treo

     

     

    Biểu đồ bao vật liệu:

    Tiết diện Cắt Uốn Còn lại As (mm2) ath (mm) hoth (mm)     [M] (kN.m)
    Nhịp biên     4f22­+2f20 2149 51 749 0.077 0.074 400
    Trái N.biên 2f20   4f22­ 1520 36 764 0.058 0.056 315
        2f22 2f22 760 36 764 0.03 0.03 160,2
    Phải N.biên 2f20   4f22­ 1520 36 764 0.058 0.056 315
        2f20 2f22 760 36 764 0.03 0.03 160,2
    Gối B     6f22 2281 68 732 0.38 0.31 378
    Trái Gối B 2f22   4f22 1520 51 749 0,25 0,21 279
        2f22 2f22 760 51 749 0.12 0.11 149,5
    Phải Gối B 2f22   4f22 1520 51 749 0,25 0,21 279
      2f22   2f22­ 760 51 749 0,12 0,11 149,5
    Nhịp giữa     2f22­+1f20 1074 36 764 0.04 0.04 224
    Trái N.giữa 1f20   2f22 760 36 764 0,03 0,03 160,2
    Phải N.giữa 1f20   2f22 760 36 764 0,03 0,03 160,2
    Gối C     4f22 1520 51 749 0,25 0,22 279
    Trái Gối C 2f22   2f22 760 51 749 0,12 0,11 149,5

    Tính đoạn W kéo dài :

    • Xác định Qo bằng phương pháp vẽ.
    • Trong đoạn dầm có cốt đai f10s220 :
    • Trong đoạn dầm có cốt đai f10s500 :

    Với

    Tiết diện Thanh thép Q
    (kN)
    Qs,inc
    (kN)
    qsw
    (kN/m)
    Wtính 20 Wchọn
    Trái nhịp biên 2f20 167 122,4 177,7 1000 400 1000
    Phải nhịp biên 2f20 39,2 122,4 177,7 997 400 1000
    Gối B trái 2f22 260 148 177,7 1100 440 1100
    Gối B phải 2f22 230 0 177,7 1105 440 1110
    Gối B phải 2f22 130 0 177,7 1100 440 1100
    Nhịp giữa trái 1f20 204 0 177,7 1005 400 1110
    Nhịp giữa phải 1f20 204 0 177,7 1005 400 1010
    Gối C trái 2f22 102 0 177,7 1100 440 1110

    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-V%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-c%C3%B4ng-nghi%E1%BB%87p-h%C3%B3a-hi%E1%BB%87n-%C4%91%E1%BA%A1i-h%C3%B3a-%E1%BB%9F-Vi%E1%BB%87t-Nam.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận “Vấn đề công nghiệp hóa-hiện đại hóa ở Việt Nam”

    LỜI NÓI ĐẦU

    TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

    Tại sao l ại phải nghiên cứu về ph ạm trù con ngườ i và v ấn đề về con người trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước trong khi thế giới đ ã tr ải qua hai cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật vĩ đại và trên thế giới đã có rất nhiều, rất nhiều nước đã trở thàmh những nước công nghiệp lớn. Ph ải ch ăng đó là vì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là phương thức duy nhất để phát triển nền kinh tế thế giới và bất kỳ một quốc gia nào bỏ qua quá trình này đều sẽ trở nên quá ch ậm, quá lạc hậu so với bước đi của thế giới? Và phải chăng giống như các quốc gia khác, Việt Nam cũng không nằm ngoài quy lu ật chung đ ó? Nhưng quan trọng hơn cả, phải chăng con người là chủ thể, là mấu chốt, là điểm khởi đầu cũng như là cái đích của quá trình lâu dài này?

    Đúng là trên thực t ế ở nhiều quốc gia công nghiệp hoá, hi ện đại hoá đã tạo ra nhiều thành tựu khoa họ c không thể phủ nhận được. Chẳng hạn việc sử dụ ng n ăng lượng nguyên tử, năng lượ ng mặt trời đ ã làm giảm sự phụ thu ộc của con ng ười vào nguồn năng lượng khoáng sản; sự ra đời của các vật liệu t ổng hợp không những giúp con người giảm phụ thuộc vào tài nguyên thiên nhiên không tái sinh được mà cung cấp cho con người nguồn vật liệu mới có tính năng ưu việt hơn và tái sinh được. Nh ờ phát minh con người sử dụ ng nguồn vật liệu mới này mà con người đã có thể thu nhỏ máy tính điện tử xuống hàng vạn lần về th ể tích đồng thời tăng hiệu năng của nó lên hàng chục vạn lần so với ba chục năm trước. Sự ra đời và xuất hiện các loại vật liệu mới đang ngày càng trở thành nhân tố vô cùng quan trọng của sự phát triển sức sản xuất xã h ội và tiến bộ khoa học công nghệ. Cùng với quá trình tự động hoá, tiến bộ khoa học công nghệ cho thấy khả năng loài người sẽ tiến tới một xã hội của cải tuôn ra rào rạt.

    Còn ở Việt Nam thì sao?

    Cho đến nay,Vi ệt Nam vẫn thuộc loại những nước nghèo nhất thế giới, nền kinh tế vẫn ở tình trạng lạc hậu, còn mang tính chất tự cấp, tự túc, đất nước chưa ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, lạm phát còn ở mức cao, sản xuất chưa ổn định, tình hình mất cân đối vẫn nghiêm trọng, bộ i chi ngân sách còn lớn, tốc độ tăng dân số cao, lao động thất nghiệp hoặc không đủ việc làm ngày càng tăng (7% dân số thành thị thất nghiệp), đời sống nhân

    1

    dân còn nhiều khó khăn; tổng sản phẩm quốc dân (GDP) tính theo đầu người thuộc loại thấp nhất th ế gi ới: 220$ (tại thời điểm tháng 9 năm 1993), thấp hơn Lào, Bangladesh, chỉ bằng 1/9 của Thái Lan, b ằng 1/4 của Malaysia, 1/45 của Đài Loan; tố c độ tăng bình quân chậm hơn nhiều nước trong khu vực. Gắn liền v ới n ền kinh tế đó là lối làm ăn tản mạn và tuỳ tiện của sản xuất nhỏ. Cùng với những thuy ền thống tốt đẹp mà chúng ta đang kế thừa cũng có những truyền thống lạc hậu củ a người đã ch ết đang đ è nặng lên vai người đang sống… Vì vậy muốn không bị t ụt hậu xa hơn n ữa, muốn ổn định mọi mặt để đi lên và phát triển thì tất yếu phải thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Hội nghị l ần thứ VI Ban chấp hành trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khoá VII (từ 24/11/1993 đến 1/12/1993) và Đại hội đại biểu toàn qu ốc gi ữa nhiệm kỳ (20 -25/1/1994) đã xác định tới đây nước ta “chuyển dần sang một thời kỳ phát triển mới, đẩy tới một bước công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, nhằ m t ạo thêm nhiều công ăn vi ệc làm, đẩy nhanh tố c độ t ăng trưởng kinh tế, cải thiện hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân. Đây là nhiệm vụ trung tâm có tầm quan trọng hàng đầu trong thời gian tới.” Song d ựa vào đ âu để đảm bảo việc thực hiện nó cho thật hiệu quả và không phải trả giá quá đắt thì lại không dễ dàng; bởi vì từ chỗ thấy được tính tất yếu nếu không cẩn thận lại dễ sa vào duy ý chí như đã từng xảy ra trước đây hoặc trái lại nếu chỉ thấy khó khăn, bất lợi, thiếu đi ều kiện rồi cam chịu tụt hậu thì lại là một tai họa. Như v ậy cũ ng có nghĩa là chúng ta đã để lại cho thế hệ tương lai một cái gánh quá nặng và sẽ có tội rất lớn đối với những ai đã hy sinh xương máu cho sự nghiệp giải phóng dân tộc bảo vệ đất nước.

    Nhưng nếu ch ỉ có như vậy thì tại sao lại phải đề cập đến vấn đề con người? Liệu có phải con người đang giữ một vai trò gì đó trong sự nghi ệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất n ước, và hơn thế nữa phải chă ng đó là một vai trò quan trọng, quyết định sự thành bại của sự nghiệp đổi mới này?

    Trước h ết có thể nói rằng xã hội loài người tồn t ại và phát triển dựa vào hai nguồn tài nguyên là: thiên nhiên và con người. Cái quý nhất trong nguồn tài nguyên con người là trí tuệ. Theo quan niêm cổ đ iển, mọi nguồn tài nguyên thiên nhiên đều có hạn và đều có thể bị khai thác cạn kiệt. Song, sự hiểu biết của con người đã, đang và sẽ không bao giờ chịu dừng lại, nghĩa là nguồn tài nguyên trí tuệ không có giới hạn. Tính vô tận của nguồn tiềm năng trí tuệ là nền tảng để con người nh ận thức tính vô tận của thế giới vật chất, tiếp tụ c nghiên cứu những nguồn tài nguyên thiên nhiên còn vô tận nhưng chưa được khai thác và sử dụng, phát hiện ra những tính năng mới

    2

    của những d ạng tài nguyên đang sử d ụng hoặc sáng tạo ra những nguồn tài nguyên mới vốn không có sẵn trong tự nhiên, nhằm phục vụ cho sự phát triển của xã hộ i trong những điều kiện mới. Bởi vậy có thể nói, trí tuệ con người là nguồn lực vô tận của sự phát triển xã hội.

    Đồng thời, nguồn l ực phát triển của xã hội, trước hết và quan trọng hơn cả cũng chính là con người- nguồn tiềm năng sức lao động. Con người đã làm nên lịch sử của chính mình bằng lao động được định hướng bởi trí

    tuệ đó. Ta đã biết rằng, “tất cả cái gì thúc đẩy con người hoạt động đều tất nhiên phải thông qua đầu óc của họ”(1), tức là phải thông qua trí tuệ của họ.

    Trước tiên, những nhu cầu về sinh tồn đã thúc đẩy con người hoạt động theo bản năng như bất kỳ một động vật nào khác. Nhưng rồi “bản thân con người bắt đầu tự phân biệt với súc vật ngay khi con người bắt đầu sản xuất ra

    những tư liệu sinh ho ạt của mình- đó là một bước tiến do tổ chức cơ thể của con người quy định” (2). Sự khác biệt căn bản về mặt “tổ chức cơ thể” giữa

    con người và con vật chính là bộ óc và đôi bàn tay. Bộ óc điều khiển đôi bàn tay, nghĩa là bằng trí tuệ (b ộ óc) và lao động ( đôi bàn tay) con người đã tiến hành ho ạt động biến đổi tự nhiên làm nên lịch sử xã hội, đồng thời trong quá trình đó đã biến đổi cả bản thân mình.

    Cho đến khi lực lượng sản xuất phát triển, đánh dấu bởi những phát minh khoa họ c, những công nghệ hiện đại thì trí tuệ con người vẫn có sức mạnh áp đảo. Nh ững t ư duy máy móc, trí tuệ nhân tạo… dù r ộng l ớn đến đâu, dù dưới hình thức hoàn hảo nhất cũng chỉ là mộ t mảng cực nhỏ, một sự phản ánh rất tinh tế thế giới nội tại của con người, ch ỉ là kết quả của quá trình phát triển khoa học kinh tế, của ho ạt động trí tuệ của con người. Mọi máy móc dù hoàn thiện, dù thông minh đến đâu cũng chỉ là kẻ trung gian cho hoạt động của con người. Do đó con ng ười luôn luôn đã và vẫn là chủ thể duy nhất của mọi hoạt động trong xã hội.

    Th ực tiễn ngày nay càng khẳng định tính đ úng đắn trong quan niệm của Mác về vị trí vai trò không gì thay thế được của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử nhân loại, của xã hội loài người. Bản thân sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá mà chúng ta đang từng bước thực hi ện với những thành công bước đầu củ a nó cũng ngày càng đòi hỏ i mỗi chúng ta ph ải nhận thức sâu sắc “những giá trị lớn lao và ý nghĩa quyết định của nhân tố con ng ười”, thấy rõ vai trò của con người trong chiến l ượ c phát triển kinh tế xã hội trên thực tế và trong quan niệm của mỗi chúng ta, con người ngày

    càng thể hiện rõ vai trò là “chủ thể của mọi sáng tạo, mọi nguồn của cả i vật chất và văn hoá, mọi nền văn minh của các quốc gia” (3). Bởi vậy để đẩy

    3

    nhanh sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN và đưa sự nghiệp cách mạng lớn lao đó đến thành công ở một nước vẫn còn trong tình trạng lạc hậu như nướ c ta, chúng ta không thể không phát triển con người Việt Nam, nâng cao độ i ngũ những người lao độ ng nước ta lên một tầm cao chất lượng mới. Nhận định này đã được kh ẳng định trong nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng: “Nâng cao dân trí, bồi d ưỡng và phát huy nguồn lực to lớn của con người Việt Nam là nhân tố quyết định thắng lợi của công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá”.

    Một lần nữa ta có th ể khẳng định tính cấp thiết và ý nghĩa quan trọng của việc nghiên cứu đề tài này. Qua đ ó, triết học tiếp tục khẳng định vị trí, vai trò của mình trong đời sống xã hội và trong công cuộc đổi mới đất nước. Sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở nướ c ta được tiến hành như thế nào, quy mô và nhịp độ của nó ra sao, điều đó một phần tuỳ thuộc vào sự đóng góp của triết học.

    4

    CHƯƠNG I

    NGUỒN GỐC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN

    I . BẢN CHẤT CON NGƯỜI

    Con người là sinh vật có tính xã hội. Đối với Mác “con người không phải là một tồn tại trừu tượng, ẩn náu đâu đó ngoài thế giới” (4). Đó là những

    con người sống trong một thời đại nhất định, một môi trường xã hội nhất định, có nh ững quan hệ xã hội phong phú, phức tạp và ngày càng phong phú với sự phát triển của văn minh.

    Các Mác viết “Bản chất con người không phải là một cái trừu tượng

    cố hữu cá nhân riêng biệt. Trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hoà những quan hệ xã hội” (5). Qua luận đề nổi tiếng đó, chúng ta

    thấy Mác muốn nói b ản chất con người, một sự trừ u tượng khoa học, là sự khái quát từ đời sống cụ thể, t ừ thuộc tính của con người hiện thực, thế hệ này qua thế hệ khác, bản ch ất con người đượ c thể hiện và chỉ có thể được thể hi ện thông qua tổng thể các quan hệ xã h ội. Mu ốn tìm bản chất con người thì phải tìm ở bên trong chứ không phải ở bên ngoài đời sống hiện thực của con người. Luận đề củ a Mác không làm mất đi tính cá nhân, khẳng định sự kỳ diệu, sự phong phú vô hạn của tính cách con người. Nếu đứng trên quan điểm sinh vật học mà xét thì không thể hi ểu được chẳng nh ững thực chất của con người, mà ngay cả ý nghĩa của cơ thể con ng ười, từ khi quá trình nguồn gốc loài người kết thúc thì những biến đổi trong cơ thể đều đượ c hướng dẫn b ởi ảnh h ưởng quyết định của văn hoá: khả năng đối xử có tính người đối với thế giới và đố i với nh ững ngườ i khác, khả năng lao động, giao tiếp với những ng ười chung quanh, khả năng t ư duy, có những tình cả m đạo đức và những xúc cảm thẩm mỹ , tất cả những cái đó đều không phải là đặc tính của cơ thể mà là những nét đã hình thành trong quá trình thực tiễn lịch sử xã hộ i, tiêu biểu cho thự c chất củ a con ngườ i trong cách biểu hi ện và bộc lộ cá thể của nó. Những nét ấy được hình thành nhờ chỗ con ng ười tham gia vào hệ thống các quan hệ xã hộ i, vào quá trình hoạt động lao động, đi liền với sự tham gia của con người vào quá trình nắm vững và tái tạo nền văn hoá xã hội (lao động, hoạt động) . Chính trong quá trình này con người đã t ự sáng tạo ra bản thân mình một cách lịch sử và không ngừng tái hiện bản thân mình, tự giáo dục bản thân với tư cách là con người. Tiêu chuẩn

    5

    lịch s ử cho phép ngườ i ta phân biệt con ng ười- đó là sản xu ất ra công cụ lao động cũ ng b ằng chính công cụ. Đồ ng thời tiền đề tuyệt đối và điều kiện của văn hoá con người là giới tự nhiên mà con ng ười dùng để xây dựng nền văn hóa củ a mình bằng cách chinh phục tự nhiên một cách sáng tạo. Con người xã hội là kẻ sáng tạo ra lịch sử, sáng tạo ra bản thân mình. Chính vì vậy, con người hoàn toàn mang tính xã hội.

    Vậy thì trong đời sống xã hội con người có vai trò gì?

     

    II. . VAI TRÒ CỦA CON NGƯỜI TRONG ĐỜI SỐNG XÃ HỘI, ĐẶC BIỆT TRONG QUÁ TRÌNH SẢN XUẤT XÃ HỘI

    Hơn mộ t trăm nă m trước, khi khẳng định tiến trình phát triển lịch sử của xã hộ i loài người là sự thay thế lẫn nhau của các hình thái kinh tế xã hội, Các Mác đã nói t ới việc lấy sự phát triển toàn diện của con người làm th ước đo chung cho sự phát triển xã h ội. Các Mác cho rằng, xu hướ ng chung của tiến trình phát triển lịch sử được quy định bởi s ự phát triển của lực lượ ng sản xuất bao gồm con người và những công cụ lao động do con người tạo ra. Sự phát triển củ a lực lượng sản xuất t ự nó đã nói lên trình độ phát triển của xã hội qua việc con người chiếm lĩnh và sử d ụng ngày càng nhi ều lực lượng tự nhiên với tư cách là cơ sở v ật ch ất cho hoạt đoọng sống của chính con người. Chúng ta biết rằng sản xuất là quá trình hoạt độ ng thực tiễn cơ bản của con người nhằm thoả mãn những nhu cầu của mình. Sản xuất quyết định nhu cầu nhưng không có nhu cầu thì cũng không có sản xuất. Nhu cầu của con người t ăng lên không ngừng, do đó mà con người luôn luôn phát triển sản xuất vì muốn nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả của sản xu ất, giảm nhẹ lao độ ng. Vì vậy có thể nói, trong quá trình hoạt động, trước hết và quan trọng h ơn cả là hoạt động lao động sản xuất, bộ óc và bàn tay con người không ngừng hoàn thiện. Sự hoàn thiện của bộ óc là cơ sở, là nguồn vật chất vô tận cho những hoạt động ngày càng phức tạp, tinh vi, đa dạng, phong phú của con ngườ i, đưa đến sự thay đổi liên tục cơ sở vật chất và kỹ thuật củ a xã hội. Sự phát triển hoàn thiện không ngừng của trí tuệ con người đã được th ể hi ện bằng việc truyền đạt, tàng trữ những tri thức lý luận và kinh nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác và được ghi nhận nhân cách cụ thể, trước hết ở sự biến đổi của công cụ sản xuất. Hay nói cách khác, sức mạnh trí tuệ con người không ngừng được vật th ể hoá trong công cụ sản xuất, trong lực lượng sản xuất nói chung. Tính vô tận của trí tuệ con ng ười được biểu hiện ở sự biến đổi không ngừng ở tính đa dạng, phong phú vô cùng tận của công cụ sản xuất trong quá trình phát triển củ a xã hộ i. Những cuộc cách mạng l ực l ượng s ản xu ất đã và đang diễn ra trong lịch sử xã hội loài người là những nấc thang đánh dấu sự phát triển ngày càng cao hơn của công cụ sản

    6

    xuất: từ lử a đến công cụ sản xuất thủ công, rồi công cụ cơ khí máy móc và công nghệ trí tuệ ngày nay.. Tất cả những đi ều đó chứng tỏ rằng con người với bàn tay và khối óc của mình là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của lực lượng sản xuất.

    Nh ưng bên cạnh vai trò con người là chủ thể của hoạt độ ng sản xuất, là y ếu tố hàng đầu đóng vai trò quyết định trong lực lượngsản xuất củ a xã hội, con ngườ i còn là chủ thể hoạt động của quá trình lịch sử. Thông qua ho ạt động sản xuất vật chất, cc sáng tạo ra lịch sử củ a chính mình, sáng tạo ra l ịch s ử của xã h ội loài ng ười. Kết quả là xã hội loài ng ười đã bước từ thời đại v ăn minh này sang thời đại văn minh khác cao hơn, trong quá trình lịch sử tự nhiên.

    Mặt khác khi sản xuất ngày càng phát triển, tính chất xã hội hóa của sản xuất ngày càng gia tăng, vi ệc tiến hành sản xuất tập thể bằng lực lượ ng của toàn xã hội và sự phát triển mới của nền sản xuất do việc đó mang l ại sẽ cần đến những con người hoàn toàn mới. Các Mác đã khẳng định: sự phát

    triển của lực lượng sản xuất xã hộ i trước hết có ý nghĩa là “sự phát triển phong phú của bản chất con người, coi như là một mục đích tự thân”(6). Bởi

    vậy theo Các Mác, ý nghĩa lị ch sử, mục đích cao cả của s ự phát triển xã hội là phát triển con ngườ i toàn diện, nâng cao n ăng lực và phẩm giá của con người, giải phóng con người, loại trừ ra khỏi cuộ c số ng con người mọi sự tha hoá để con người sống với cuộc sống đích thực của mình.

    Thực tế đã chứng minh, trong công cuộc đổi mới đất nước, chỉ có con ngườ i-y ếu tố quan trọng nhất trong l ực lượng s ản xuất của xã hộ i mới là nhân tố chính, là nguồn lực mang tính quy ết định sự thành công hay thất bại. Nhưng con người cũng là mục tiêu, là cái đích của sự phát triển, sự đổ i mới này. Hay nói cách khác, công cu ộc đổi mới đất nước mà cụ thể là công nghiệp hoá, hiện đại hoá là do con người, phụ thuộc vào con người và vì con người.

    7

    CHƯƠNG II

    VẤN ĐỀ CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ Ở VIỆT NAM

    I . CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ LÀ GÌ ?

    Từ trước tới nay, có nhiều đị nh nghĩa khác nhau về công nghiệp hoá. Vậy nên hiểu phạm trù này như thế nào?

    Quan niệm đơn gi ản nhất về công nghiệp hoá cho rằng “ công nghiệp hoá là đưa đặc tính công nghiệp cho một hoạt động, trang bị ( cho một vùng, một nước), các nhà máy, các loại công nghiệp…” Quan niệm mang tính triết tự này được hình thành trên cơ sở khái quát quá trình hình thành lịch sử công nghiệp hoá ở các nước Tây Âu, Bắc Mỹ.

    Nghiên cứ u định nghĩ a phạ m trù công nghiệp hoá củ a các nhà kinh tế Liên Xô (cũ) ta thấy trong cuốn giáo khoa kinh tế chính tr ị của Liên Xô đượ c dịch sang tiếng Việt Nam 1958, người ta đã định nghĩa “ công nghiệp hoá XHCN là phát triển đại công nghiệp, tr ước hết là công nghiệp n ặng, sự phát triển ấy cần thiết cho việc cải tạo toàn bộ nền kinh tế quốc dân trên cơ sở kỹ thuật tiên tiến.”

    Quan đ iểm công nghiệp hoá là quá trình xây dựng và phát triển đại công nghiệp, trước hết là công nghiệp nặng của các nhà kinh tế học Liên Xô đã đượ c chúng ta tiếp nhận thiếu sự phân tích khoa học đối với điều kiện cụ thể của n ước ta. Cuốn “ Từ điển tiếng Việt” đã giải thích công nghiệp hoá là quá trình xây dựng n ền sản xuất cơ khí lớn trong tất cả các ngành c ủa nền kinh tế qu ốc dân và đặc biệt công nghiệp nặng, dần tới sự tăng nhanh trình độ trang bị kỹ thuật cho lao động và nâng cao năng suất lao động. Trên thực tế, quá trình công nghi ệp hoá, hiện đại hoá đất nước những năm 60, ta đ ã mắc phải sai lầm đó, kết quả là nền kinh tế vẫn không thoát khỏi n ền công nghiệp lạc hậu, nông nghiệp lạc hậu, kết cấu hạ tầng yếu kém… Mặc dù không đạt được mục tiêu nhưng cũng chính nhờ công nghiệp hoá mà nước ta đẫ xây dựng được một số cơ sở vật chất kỹ thuật nhất định, tạo ra tiềm lực về kinh tế-quốc phòng, phục vụ chiến tranh, đảm bảo được phần nào đời sống nhân dân.

    Nă m 1963, tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hiệp quốc ( UNIDO) đã đưa ra mộ t định ngh ĩa: “công nghiệp hoá là một quá trình phát triển kinh tế, trong quá trình này, một b ộ phận ngày càng tăng các nguồn của cải quốc dân được động viên để phát triển cơ cấu kinh tế nhiều ngành ở

    8

    trong nước với kỹ thuật hiện đại. Đặc đi ểm của c ơ cấu kinh tế này là có một bộ phận luôn thay đổi để sản xuất ra tư liệu sản xuất, hàng tiêu dùng và có khả năng đảm bảo cho toàn bộ nền kinh tế phát triển v ới nhịp độ cao, đảm bảo đạt tới sự tiến bộ của nền kinh tế và xã h ội.” Theo quan điểm này, quá trình công nghiệp hoá nhằm thực hiện nhiều mục tiêu chứ không phải chỉ nhằm một mục tiêu kinh tế-kỹ thuật.

    Còn theo quan niệm m ới phù hợp với đ iều kiện nước ta thì công nghiệp hoá, hiện đại hoá là quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn liền với đổi mới công nghệ, xây dựng cơ cấu vật chất-kỹ thuật, là quá trình chuyển nền sản xuất xã hội từ trình độ công nghệ thấp sang trình độ công nghệ cao hơn, nhờ đó mà tạo ra sự tăng trưởng bền vững và có hiệu quả của toàn bộ nền kinh tế quốc dân.

    Nói tóm lại đó là sự phát triển củ a lực lượng sản xuất từ chưa hoàn thiện đến hoàn thiện. Thực hiện công nghiệp triển kinh tế-xã hội, đưa nước ta theo kịp các nước tiên tiến

    thấ p đến cao, từ hoá là nhằm phát trên thế giới.

    II. MUỐN TIẾN HÀNH CÔNG NGHIỆP HOÁ, HIỆN ĐẠI HOÁ TA PHẢI LÀM GÌ?

    Sự thành công củ a quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đòi hỏi ngoài môi trường chính tr ị ổn định, phải có các nguồn lực cần thiết nh ư: nguồn lực con ngườ i, vốn, tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất kỹ thuật, vị trí địa lý, nguồn lực nướ c ngoài. Các nguồn lực này có quan hệ chặt chẽ với nhau, cùng tham gia vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhưng mức độ tác động và vai trò của chúng đối với toàn bộ quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá không giống nhau, trong đó nguồn lực con người là yếu tố quyết định.

    Vai trò của nguồn lực con người quan tr ọng nh ư thế nào đã được chứng minh trong lịch sử kinh tế của những nước t ư bản phát triển như Nhật Bản, Mỹ,… nhi ều nhà kinh doanh nước ngoài khi đến tham quan Nhật Bản thường chỉ chú ý đến kỹ thuật, máy móc và coi đó là nguyên nhân t ạo nên “kỳ tích Nhật Bản”. Nhưng họ đã nhầm, chính người Nhật Bản cũng không quan niệm như v ậy. Ng ười Nhật cho rằng kỹ thuật và công ngh ệ có vai trò rất to lớn nh ưng không phải là yếu tố quyết định nhất. Yếu tố quyết định nhất dẫn đến thành công của h ọ là con ngườ i. Cho nên họ đã tập trung cao độ và có những chính sách độc đáo phát triển yếu tố con người.

    Ngày nay đối với những nước lạc hậu đ i sau, không thể phát triển nhanh chóng nếu không tiếp thu những tiến bộ khoa học-kỹ thuật và công

    9

    ngh ệ hiện đại của các nướcphát triển. Nhưng không ph ải cứ nhập công nghệ tiên tiến bằng mọi giá mà không cần tính đến yếu tố con người. Cần nhớ rằng, công nghệ tiên tiến của n ước ngoài khi đượ c tiếp thu sẽ phát huy tác dụng t ốt hay bị lãng phí, thậm chí bị phá hoại là hoàn toàn phụ thuộc vào yếu t ố con người khi sử dụng chúng. Nhiều công ty chỉ chú ý đổi mới kỹ thuật và công nghệ nhưng vì không chú ý đến yếu tố con người nên đều thất bại. Ông Victor S.L.Tan, giám đốc của Ohostate University đã viết: “Điều mỉa mai lớn nhất còn là ở chỗ, trong có nhiều công ty đã cố thực hi ện đổi mới, nhưng lại có ít công ty thực hiện đủ mức để đạt t ới thành công. Nhiều công cu ộc đổi mới đã tiến hành nhưng thất bại vì các công ty đ ó đã không đưa vào cấu tạo của kế ho ạch đổ i mới hoặc chương trình đổi mới của họ một nhân tố khó nhất để thành công- con người.”

    Như mọ i quốc gia khác trên thế giới, sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam cũng phải phụ thuộc vào nguồn lực con người và do nguồn lực này quyết định. Bởi vì:

    _ Thứ nhất, các nguồn lực khác như vốn, tài nguyên thiên nhiên, vị trí địa lý… tự nó chỉ t ồn tại d ưới dạng tiềm năng. Chúng chỉ phát huy tác dụng và có ý nghĩa tích cực xã hội khi được kết hợp với nguồn lực con người thông qua hoạt độ ng có ý thức của con người. Bởi lẽ, con người là nguồ n lực duy nhất biết tư duy, có trí tuệ và có ý chí, biết “lợi dụng” các nguồn lực khác, gắn chúng kết lại với nhau, tạo thành mộ t sức mạnh tổng hợp, cùng tác động vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Các nguồn lực khác là những khách thể chịu s ự cải tạo, khai thác của con người, hết thảy chúng đều phục vụ cho nhu cầu, lợi ích của con người, nếu con người biết cách tác động và chi phối. Vì th ế trong các yếu t ố cấu thành lực lượng sản xuất, ngườ i lao động là yếu tố quan trọng nhất, là “lực lượng sản xuất hàng đầu của toàn nhân loại”.

    Ch ẳng hạn như vốn cũng là một nguồn lực để tiến hành công nghiệp hoá, hi ện đại hoá nhưng vốn chỉ trở thành nguồn lực quan tr ọng và cấp thiết của sự phát triển khi nó nằm trong tay những người biết sử dụng đúng mục đích và có hiệu quả cao.

    Tương tự như vậy, sự giàu có về tài nguyên thiên nhiên và những ưu thế về v ị trí địa lý cũng sẽ mất ý nghĩa nếu chủ nhân của nó không có năng lực khai thác.

    Ngày nay trước xu hướng quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự hợp tác đầu tư nướ c ngoài cũng là nguồn l ực quan trọng, nó tạo ra “cái hích” kinh tế, nhất là với các nước có điểm xuất phát thấp, nhưng sức mạnh của “cái hích”

    10

    này đến đâu, tác động tích cực của nó như thế nào còn tuỳ thuộc vào yếu tố con người khi tiếp nhận nguồn lực đó.

    Xét đến cùng nếu thiếu sự hiện di ện của trí tu ệ và lao động của con người thì mọi nguồn lực đều tr ở nên vô nghĩa thậm chí khái niệm “nguồn lực” cũng không còn lý do gì để tồn tại.

    _ Thứ hai, các nguồn l ực khác là hữu hạn, có thể bị khai thác cạn kiệt, trong khi đó nguồ n lực con người lại là vô tận. Nó không chỉ tái sinh và tự sản sinh về mặt sinh h ọc mà còn tự đổi mớ i không ng ừng, phát triển về chất trong con ng ười xã hội, nếu biết chăm lo, bồi dưỡng và khai thác hợp lý. Đó là cơ sở làm cho n ăng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người phát triển như một quá trình vô tận xét trên bình diện cộng đồ ng nhân lo ại. Nhờ vậy con người đã từng bước làm chủ tự nhiên, sáng t ạo, khám phá ra nhiều nguồ n tài nguyên mới, nhiều công cụ sản xuất có hiệu quả hơn, đưa xã hội chuyển qua các nền văn minh từ thấp đến cao.

    _ Thứ ba, trí tuệ con người có s ức mạnh vô cùng to lớn một khi nó được vật thể hoá, trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp. Dự báo vĩ đại này của C.MáC đã và đang trở thành hiện thực. Sự phát triển như vũ bão của cu ộc cách mạng khoa học-kỹ thuật và công nghệ hiện đại đang dẫn nền kinh tế của các nướ c công nghiệp phát triển vận độ ng đến nền kinh tế củ a trí tuệ. Gi ờ đ ây sức mạnh của trí tuệ đã đạt đến mức mà nhờ nó con người có thể sáng tạo ra những người máy “bắt chước” hay “phỏng theo” những đặc tính trí tuệ của chính con người. Rõ ràng là bằng những kỹ thuật công nghệ hiện đại do chính bàn tay khối óc con người làm ra mà ngày nay nhân loại đang chứng kiến những biến đổi thần kỳ trong lịch sử phát triển của mình.

    _ Th ứ t ư, kinh nghiệm của nhiều n ước và th ực tiễn của chĩnh nướ c ta cho thấy sự thành công của công nghiệp hoá, hiện đại hoá phụ thuộc chủ yếu vào việc hoạch định đường lối, chính sách cũng nh ư tổ chức thực hiện, ngh ĩa là phụ thuộc vào năng lực nhận thức và hoạt động thực tiễn của con người. Đối với những nền kinh tế nông nghiệp chưa công nghiệp hoá thì mặt số lượng của ngu ồn nhân lực có tầm quan trọng đặc biệt vì nó qui định quy mô của thị trường. Nhưng khi tiến hành công nghiệp hoá thì mặt chất lượ ng, cơ cấu và cơ chế sử dụng nguồn nhân lực l ại quan trọng hơn. Cơ cấu lao độ ng cần cho quá trình công nghiệp hoá phải bao gồm: các chính khách, các nhà hoạch định chính sách, các học giả, các nhà kinh doanh, các nhà kỹ thuật và công nghệ, các công nhân lành nghề… không có các chính khách, các học gi ả tài ba thì khó có thể có được những chiến lược, chính sách phát triển đúng đắn;

    11

    không có các nhà kinh doanh lỗi lạc thì cũng sẽ không có người sử dụng một cách có hiệu quả các ngu ồn vốn, nhân lực, công nghệ. S ự thiếu vắng hay kém cỏi của một trong các bộ phận cấu thành nhân lực trên đây sẽ có hại cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.

    Qua toàn bộ phân tích trên có thể kế luận rằng nguồn lực con người là nguồn lực có vai trò quyết định sự thành công của sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Do vậy, mu ốn công nghiệp hoá, hi ện đại hoá thành công thì phải đổi mới cơ bản các chính sách đầu tư cho các ngành khoa học, văn hoá, giáo dục, y tế ở Việt Nam nhằm phát triể n nguồn lực con ngườ i cho công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Đ ây là nhiệm vụ lớn nhất và khó khăn nhất trong công cuộc đổi mới hiện nay.

    III. . CON NGƯỜI VIỆT NAM CÓ THỰC HIỆN ĐƯỢC VAI TRÒ ĐÓ KHÔNG? VÌ SAO?

    Có rất nhiều nước trên thế giới đã thực hi ện thành công công cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước với nguồn lực ch ủ đạo là con người. Vậy trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam hôm nay, Với nh ững thế mạnh và những hạn chế của mình con người Việt Nam có thực hiện được vai trò của mình hay không?

    Trước h ết ta tìm hiểu xem ngu ồn nhân lực củ a Việt Nam có những đặc điểm gì để phát huy và những hạn chế gì cần phải khắc phục.

    Những thế mạnh phải nói đến đó là:

    _ Th nhất , ở Vi ệt Nam hiện nay có lực l ượng lao động dồi dào với 36,5 triệu người trong độ tuổi lao động, dự báo đến năm 2000 con số này sẽ là 45,6 triệu người.

    _ Thứ hai, Việt Nam có tỷ trọ ng tương đối cao v ề lao động trẻ, ph ần lớn có học vấn phổ thông, ngay cả ở nông thôn. Đây là một tiền đề quan trọng tạo điều kiện tiếp thu các kiến thức kỹ năng nghề nghiệp, kể cả những ngành nghề mới. Lự c lượng lao động có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ đượ c đào tạo tương đối lớn (so với các nước có thu nhập như nướ c ta). Hi ện t ại n ước ta có trên 9000 tiến sĩ và phó tiến sĩ , trên 800000 ngườ i có trình độ đại học cao đẳng, trên 2 triệu công nhân kỹ thuật. Đây là điều kiện quan trọng cho quá trình phát triển khoa họ c, tiếp thu, làm ch ủ và thích nghi với các công nghệ nhập từ nước ngoài, kể cả công nghệ cao.

    12

    _ Thứ ba, chúng ta có mộ t lượng tương đối l ớn người Việt sống ở nước ngoài, tập trung chủ yếu ở châu Âu, châu Mỹ và Ôxtraylia; trong đó tỉ lệ người có trình độ cao về chuyên môn và nghiệp vụ là đáng kể ( trên 300000 người). Đây là một nguồn lực quan trọng góp phần phát triển đất nước, là cầu nối giữa Việt Nam và thế giới về mặt chuyển giao tri thức, công nghệ và các quan hệ quốc tế.

    _ Th , đó là bản tính hiếu học, thông minh cần cù lao động của con người Việt Nam. Truyền thống đó cần được nuôi dưỡng và phát huy làm cơ sở cho việc nắm b ắt, tiếp thu và v ận d ụng một cách nhanh chóng, sáng tạo những phát minh, sáng kiến khoa học của nhân loại phục v ụ cho sự nghiệp phát triển kinh tế-xã hội của đất nướ c. Tính cộng đồng, ý thức trách nhiệm với cộng đồng được phát huy mạnh mẽ s ẽ có thể hỗ trợ đắc lực không ch ỉ cho việc truyền bá tay nghề, kinh nghiệm nghề nghiệp mà còn có thể giúp nhau cả về vốn liếng, t ạo dựng và phát triển c ơ nghiệp, hỗ trợ nhau tìm kiếm công ăn vi ệc làm, góp phần làm giảm sứ c ép về lao động hiện nay. Dân tộc Việt Nam còn có truy ền thống biết chịu đựng gian khổ để tiết ki ệm, tích luỹ cho đầu tư mở rộng, tạo dựng cơ đồ cho mình và cho nền kinh tế nước nhà nói chung.

    Nhưng bên cạnh đó, nguồn nhân lực ở Việt Nam có những hạn chế,những điểm yếu kém sau đây:

    _ Thứ nhất, s ố người lao động được đ ào tạo quá ít chỉ chiếm 5.5% dân số và 11% tổng số lao động. Mặt bằng dân trí còn thấp, s ố năm đi học của người dân từ 7 tu ổi trở lên mới đạt 4,5 nă m. Đáng lo ngại hơn là mặc dù chúng ta đã cố gắng để đạt được 88% dân số bi ết chữ nhưng hiện nay lại đang diễn ra quá trình tái mù chữ, nhất là các tỉnh miền núi (có xã số ngườ i mù ch ữ lên tới 70%); trong số trẻ em ở độ tuổi đi học chỉ có 45% em học hết cấp I. Số người được đào tạo có tay nghề cao cũng như người có học vấn đại h ọc và sau đại học năm 1982 là 0,26% năm 1993 còn 0,2%. Tỉ lệ này ở các nước công nghiệp mới Đông nam á là 0,6 đến 0,8. Trong 75% lao động sản xuất nông nghiệp chỉ có 7% được đào tạo. Vì vậy năng su ất lao động thấp, trong công nghiệp chỉ đạt 30% mức trung bình của thế giới, còn trong nông nghiệp một lao độ ng của ta chỉ nuôi được 3 đến 5 người, trong khi chỉ số này ở các nước phát triển là 20 đến 30 người. Đây là trở ng ại lớn nhất khi tiến hành công nghiệp hoá trong nông nghiệp trong kinh tế nông thôn nói riêng và trong cả nền kinh tế Việt Nam nói chung.

    _Thứ hai, đội ngũ cán bộ khoa học trẻ quá ít. Qua điều tra ở 17 trường đại học

    13

    thì số cán bộ giảng dạy dưới 35 tuổi chỉ có 8%. Phần lớn những tri thức có trình độ trên đại học đang là những chuyên gia đầu ngành đã ở độ tuổi 55 đến 60. Hơn 60% phó tiến sĩ và tiến sĩ, hơ n 70% giáo sư và hơn 90% giáo sư đều ở độ tu ổi này.Trong khi đó sinh viên giỏ i sau khi tố t nghiệp đều không muốn ở lại trường. Vì vậy việc chuẩn bị cho đội ngũ trí thức kế cận sẽ gặp không ít khó khăn.

    _Th ba, vi ệc bố trí sử d ụng cán bộ còn nhiều việc bất hợp lý giữa các vùng, các ngành: 80% cán bộ khoa học công nghệ làm việc tại Hà Nội, ở thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 12%. Đa số các cán bộ khoa h ọc của ta làm việc trong các viện nghiên cứu, các trườ ng học, còn trong các ngành sản xu ất vật chất thì rất ít Chẳng hạn, trong các ngành nông lâm ngư nghiệp chỉ có 8,1% cán bộ có trình độ đại học và 6,49% cán b ộ có trình độ sau đại học. Trong khi có tới 34% cán bộ có trình độ đại học và 55,47% trình độ sau đại học làm việc trong các ngành khoa học tự nhiên và khoa học xã hội. Nhìn vào một số nước trong khu vực, cán bộ khoa h ọc làm việc trong các ngành sản xuất chiếm tỉ lệ rất cao như Thái Lan: 58%, HànQuốc: 48%, Nhật Bản: 64%. Chính việc phân bố lực lượng lao động không hợp lý này gây nên hiện tượng thừa thiếu gi ả tạo, gây ra nạn thất nghiệp đặc biệt trong lao động tri thức. Qua đ iều tra ở 55 trường đại học có khoảng 14 nghìn sinh viên ra trường chưa có việ c làm. Chẳ ng hạn từ năm 1988 đến nay số sinh viên tốt nghiệp ở 19 trườ ng đại học và cao đẳng khu vực Hà Nội chưa tìm được việc làm tăng dần từ 13,4% (năm 1988) lên 35,38% (năm 1992). Trong khi đó nhiều vùng, nhiều miền nhất là miền núi vùng sâu vùng xa l ại thi ếu cán bộ khoa họ c kỹ thuật. Nguyên nhân chủ yếu là một mặt do sinh viên ra trường muốn ở lại công tác tại các thành phố, khu công nghiệp, nơi kinh tế phát tri ển để có thu nhập cao hơn và điều kiện việc làm tốt hơn, mặt khác chúng ta chưa có chính sách thu hút để điều chỉnh sự phân bố này.

    _ Thứ , thể chất, sức khoẻ của thanh niên Việt Nam còn rất nhiều hạn chế. Sự phát triển về phương diện sinh lý và thể lự c dường như chững lại “sau hơn 40 năm thanh niên n ước ta không cao thêm 1cm nào và không cân nặng thêm 1kg nào”, mức duy dinh dưỡng ở trẻ em dưới năm tuổi là 51,5%.

    _ Thứ năm, người lao động nước ta nói chung ch ưa có nếp lao động công nghiệp, quen theo kiểu sản xuất nhỏ, lao động giản đơn còn gò bó trong nếp sống phương đông, cha truyền con nối. Chính vì thế mà cho tới tận thế kỷ 20 công cụ làm vi ệc ở các bễ lò rèn Bắc Ninh vẫn không khác bao nhiêu với công cụ đã rèn cày cuốc và vũ khí đánh giặc Ân thời Thánh Gióng, các cô

    14

    gái Hà Đông vẫn dệt lụa trên các khung cửi mà cách đây 900 năm các cô gái triều Lý đã sử dụng.

    Trên đây là những điểm trong nguồn lực con ngườ i ở Việt Nam với những thế mạnh cũng như các mặt hạn chế. Ph ải có những nố lực phi thường bằng hành động thực tiễn trong vi ệc huy động và sử dụng nguồn lực này thì công nghiệp hoá hiện đại hoá mới có thể thành công. Đó cũng là lý do vì sao nhi ều nhà khoa học kêu gọi phải tiến hành một cuộc “cách mạng con người” mà thự c ch ất là cách mạng về ch ất lượng nguồn lao động. “Cách mạng con ngườ i” với công nghiệp hoá hiện đại hoá là hai mặt của một quá trình thống nhất, giữa chúng có mối quan hệ biện ch ứng với nhau. Bởi vậy, mỗ i b ước tiến lên của cuộc “cách mạng con người” s ẽ đ em lại những thành tựu to lớn cho quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá và ngược lại.

    IV. ĐỂ CON NGƯỜI VIỆT NAM TH ỰC HIỆN ĐƯỢC VAI TRÒ ĐÓ CẦN CÓ NHỮNG CHÍNH SÁCH GÌ?

    Thự c chất căn bản c ủa chủ nghĩa Mác về con người là sự phát triển tự do của mỗi con ngườ i là điều kiện cho sự phát triển tự do của mọi người. Xã hội loài người chỉ được phát triển khi phát triển tối đa từng cá nhân. Vấn đề phát triển cá nhân không còn là vấn đề lý thuyết mà là nhu cầu thiết yếu trong thực tiễn xã hội ta ngay từ hôm nay. Cụ thể để công nghiệp hoá hiện đại hoá cần phải tiến hành một cu ộc “cách mạng con người” nhằm tạo ra một số lượng lớn các nhà khoa học một đội ngũ đông đảo các nhân viên kỹ thuật có trình độ tri thức tương đối cao và những người lao động lành nghề. Điều đó đòi hỏi sự nghiệp giáo dục bồi dưỡng nhân tài phải phát triển tương ứng.

    Thử nhìn vào lịch sử kinh tế của một số nước tư bản phát triển, ta thấy nói chung những nướ c này đều r ất coi tr ọng công tác giáo dục. Chẳng hạn thời kỳ đầu sau chiến tranh, kinh tế Nhật bản bị phá hoại nặng nề, tài chính quố c gia vô cùng nguy ngập nhưng chính phủ Nhật bản không hề giảm chi phí giáo dục, tỷ trọ ng kinh phí giáo dục luôn chiếm 20% trở lên trong kinh phí hành chính củ a Nhật còn ở Mỹ năm 1985 chi tiêu nhà nước cho giáo dục chiếm 4,2% GDP và chiếm 12,8% chi tiêu củ a nhà nước. Thực tế đã chứng minh, ở Mỹ nếu đầu tư cho giáo dục 1$ thì sẽ lãi 4$, còn ở Nhật thì 1$ sẽ lãi 10$.

    Th ực ra không chỉ có các nướ c tư bản phát triển nhìn th ấy vai trò của giáo dục trong phát triển kinh tế mà mộ t số nước Đông nam á cũng đã nhận thức được v ấn đề này. Và k ết qu ả là sự ra đời của những nước công nghiệp mới ở châu á. Suốt 40 năm qua, các nước này đã đầu tư cho giáo dục ngày

    15

    một tăng. Tỷ lệ chi tiêu cho giáo dục trong ngân sách nhà nước ở cộng hòa Triều Tiên nă m 1972 là 13,9%, nă m 1981 tăng 17,9%, nă m 1983 tăng lên 21,6%. Trong 30 năm từ 1952 đến 1981 ở Đài Loan tổng giá trị sản phẩm quốc dân tăng 26,43 lần nhưng kinh phí giáo dục tăng hơn 90 lần. Hoặc như

    • Singapore, hiện nay kinh phí giáo dục chiếm 4% giá trị GDP, mấy năm nữa sẽ lên đến khoảng 6% ngang với mức của các nước phát triển phương Tây. Những con số, ở một mức độ nào đó tự nó đã giải thích rằng không phải ngẫu nhiên mà trong một tời gian dài một loạt các nước quanh ta đã vươn lên trở thành “ những con rồng châu á”.

    Đó là do kinh nghiệm của các nước đi trước, còn ở Việt Nam thì

    sao?

    Trong nhiều năm qua, nhà nước ta đ ã chú ý phát triển nguồn l ực con ngườ i bằng những chính sách, biện pháp kịp thời, khá hợp lý tuy không tránh khỏi một số hạn chế do điều kiện kinh tế hạn hẹp.

    Thử đi sâu vào một trong những chính sách đó- chính sách phát triển giáo dục -đào tạo; từ đó rút ra nhận xét, tìm ra bước đ i tiếp theo để hoàn thành cu ộc “ cách mạng con người” ở Việt Nam. Có thể khái quát tình hình giáo dục ở Việt Nam như sau:

    _ Quy mô giáo d ục không ngừng đượ c tăng lên, liên tục phát triển ở các ngành học và cấp học. Chẳng hạn, quy mô đào tạ o sinh viên đại học và cao đẳng có nhiều biến động lớn. Hình thức đào tạo cao học của ta r ất phong phú: chính quy tập trung, tại chức và ngắ n hạn…Tỷ lệ sinh viên đại học, cao đẳng trong độ tuổi đi họ c của Việt Nam là 2,3_2,5%, cao hơ n mức 2% của Trung Quốc nhưng thấp hơn so với mức16% của Thái Lan, 40% của Hàn Quốc.

    _ Hệ thống giáo dục được mở rộng: số trường học tăng nhanh, mỗi làng xã có ít nhất một trường tiểu học hoặc trung học cơ sở. S ố trường phổ thông trong cả nước liên tụ c tăng từ năm 1991-1992 đến nă m 1994-1995 là 16%. Trướ c tình hình phải t ăng s ố l ượng ngườ i có trình độ chuyên môn cao, nhà nước chủ trương phát triển hệ thống đ ào tạo đại học và cao đẳng. Tính đến năm 1994, Việt Nam đ ã có 109 trường đại học, cao đẳng và đào t ạo hơn 200 ngành h ọc. Tuy nhiên so với tiêu chuẩn quốc tế thì hầu hết các trường đại học của Việt Nam còn nhỏ bé.

    _ Trong chính sách phát triển giáo d ục và đào tạo, hình th ức giáo dụ c tại chức được nhà nước quan tâm chú ý đặc biệt. Hiện nay đã có khoảng 200

    16

    trung tâm đào tạo nghề theo các chương trình ng ắn hạn và dài hạn, nhưng hàng năm mới chỉ đáp ứng được 15% nhu cầu của người học.

    _ Hợp tác quố c tế trong lĩnh vực giáo dục và đ ào tạo cũng được phát triển. Tính đến cuối năm1994, đã có 1900 sinh viên, 394 sinh viên cao học, 715 nghiên cứu sinh, 298 thực t ập sinh đang họ c tập nghiên cứu t ại 25 nước trên thế giới. Để có vốn đầu tư phát triển giáo dục Việt Nam đã kêu gọi các tổ chức quốc tế tài trợ và cho vay vốn. Trong chu kỳ 1991 -1995, UNICEF đã hỗ trợ 10 tri ệu USD để nâng cấp các nhà trẻ, mở thêm các trung tâm dạy nghề. Chính phủ Việt Nam đã vay của Nhật Bản từ nguồn ODA thời kỳ 1993 -1995 là 1431,02 triệu yên, của ngân hàng thế giới 70 triệu USD để nâng cấp và cải t ạo một số trường học lụp xụp. Ngoài ra ngân hàng thế giới còn cam kết cho Việ t Nam vay 60 triệu USD thời kỳ 1995-1998 để đầu tư phát triển tr ường ĐH Quố c gia HN và ĐH Quốc gia thành phố HCM. Có thể nói h ợp tác trong lĩnh vực khoa học và giáo dụ c là tiền đề nâng đỡ Việt Nam vượt qua những khó khăn về vốn, khắc phục các mặt yếu kém về chương trình, về công nghệ giáo dục, tăng cường sự hiểu biết giữa Việt Nam và các nước trong khu vực.

    _ Từ năm 1990, ngân sách giáo dụ c của Việt Nam đã ở mức 10 -11% tổng ngân sách hàng năm của nhà nước. So với những năm tr ước đây, ngân sách này đã tăng nhưng cũng mới ch ỉ đáp ứng được 50% yêu cầu của ngành giáo dục. Giá trị thực tế bình quân đầu người về ngân sách giáo dục của Việt Nam vào khoảng 7,7 USD chỉ bằng 1/29 của Hàn Quốc, 1/22 của Malaixia và 1/8 của Thái Lan.

    Tuy nhiên so với các nước có thu nhập bình quân đầu người thấp như Việt Nam thì nền giáo dục Việt Nam vẫn được xếp vào loại khá.

    Mặc dù vậy sự nghiệp giáo dục ở Việt Nam còn bộc lộ một số mặt yếu kém như:

    _ Mô hình giáo dục -đào tạo đa ngành và chuyên môn hẹp đã không thích nghi kịp xu thế đổ i mới, không phản ứng nhạy bén trước yêu cầu của nền kinh tế thị trường, đào tạo ngành nghề không tươ ng x ứng với đòi hỏi khắt khe của thi trường lao động. Nhiều năm xảy ra sự mất cân đối giữa đào tạo và sử dụng…

    _ Cùng với nó là cơ cấu đào tạo t ạo không hợp lý giữa đào tạo đại học và đào tạo nghề. Có d ự báo cho rằng tươ ng lai Việt Nam s ẽ thiếu các nhà toán học, vật lý h ọc và các nhà khoa học khác. Lực lượng nghiên cứu cơ bản thiếu sẽ ngăn cản khả năng tiếp thu công nghệ và tri thức mới.

    _ Chất lượng giáo d ục cũng là vấn đề đáng phải quan tâm. Trướ c hết cần khẳng định, bộ phận học sinh giỏi của Việt Nam không thua kém các nước khác. Điều đó được chứng minh qua các kỳ thi OLEMPIC Quốc tế về toán

    17

    học, tin học, vật lý học… Nhưng những nă m gần đây chất l ượng giáo dục ở nhiều cấp bị giảm sút, theo số li ệu của Bộ giáo dục và đào tạo cứ 1000 h ọc sinh năm học 1986- 1987 thì chỉ có 500 em tố t nghi ệp tiểu học. Chủ yếu là do học sinh bỏ họ c và lưu ban. Nguyên nhân là do đời sống của đông đảo đội ng ũ giáo viên thấp dẫn đến tình trạng bỏ dạy, chân trong chân ngoài, những học sinh giỏi không thích nghi vào sư phạm. Theo đánh giá củ a Bộ GD và ĐT, thì giáo viên không đủ tiêu chuẩn ở mức 60 -70% cũ ng theo thống kê c ủa bộ thì ch ỉ có 10% giáo viên có nức sống tương đối khá, 60% có mức sống trung bình, 30% có mức sống th ấp. Ngoài ra, chất lượng giáo dục giả m sút còn do tình trạng thiết bị học tập nghèo nàn, thiếu thốn, công nghệ lạc hậu.

    Có thể nói giáo dục và đào tạo ở Việt Nam đang đứng trước những thách thức lớn lao, trước yêu cầu đổ i mới kinh tế-xã hội, trướ c yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, trước sức ép v ề nguy cơ tụt hậu so với các nước trong khu vực. Trong 20 n ăm tới, giáo dục Việt Nam phải thực hiện được các mục tiêu sơ b ản là nâng cao mặt bằng dân trí, đ ào tạo nhân lực và b ồi dưỡng nhân tài theo hướng khắc phục những hạn chế trong thời gian qua, trên c ơ sở nỗ lực của bản thân và kinh nghiệm, cùng sự giúp đỡ của các nước phát triển.

    Muốn vậy nhà nước phải có các chính sách, biện pháp phù hợp như: _ Tăng ngân sách giáo dục và đào tạo, s ử dụng ngân sách đó một cách có hiệu quả. Kể từ năm 1996, mỗi năm ngân sách giáo dục phải tăng 1% để đạt được mức trung bình của khu vực vào năm 2005.

    _ Đồ ng thời, nhà nước phải chăm lo đến đời sống của đội ngũ giáo viên, cải thiện chế độ tiền lương, tăng phụ cấp cho giáo viên để giáo viên có thể nâng cao vị trí xã hội của mình.

    _ Mặt khác, phải chú ý đào tạo các ngành kỹ thuật, công nghệ nhiều hơn cả về chiều rộng lẫn chiều sâu.

    _ Nâng cao chất lượng của các bậc tiểu học, làm tiền đề vững chắn cho chất lương của các cấp học tiếp sau.

    Nh ững phân tích trên đây mới chỉ đề cập đến phát triển giáo dục và đào tạo – một yếu tố một cơ sở để con ngươi Việt Nam có thể thực hiện vai trò của mình.

    Vì vậy tồn tại song song với phát triển giáo dục, nhà nước ta còn phải thực hiện những nhiệm vụ cấp bách sau đây:

    18

    _ Một là, căn cứ vào yêu cầu phát triển củ a các ngành và các vùng lãnh thổ, cần tổ chứ c bố trí lại lực l ượng lao độ ng một cách hợp lý trên phạm vi cả nước theo hướng đổi mới công nghệ, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tạo ra những ngành kinh tế mũi nhọn.

    _ Hai là, cần tr ả lương đúng và đủ cho ng ười lao độ ng, trong đó chú ý đến đội ngũ cán bộ khoa học. Cần nhấn mạnh rằng, bản thân tiền lương không đơn giản chỉ là việc trả công, mà nó còn tái sản xuất ra sức lao độ ng ( nhiều hay ít), kích thích những phẩm chất (tích cực hay tiêu cực) của người lao động.

    _ Ba là, tiến hành đào t ạo bồi d ưỡng l ại lực lượng lao động hiện có và đào tạo lự c lượng mới theo chuyên ngành nhất định. Trong đó, b ảo đảm sự cân đối và đồng bộ giữa lao động phổ thông, lao động kỹ thuật và lao động khoa học.

    _ Bốn là, tiến hành một cách th ường xuyên đồng bộ hoạt động giáo dụ c đối với người lao động về các mặt: chính trị-tư tưởng, lợi ích, ý thức pháp luật, trách nhiệm công dân, truyền thống. Trong đi ều kiện hiện nay, chỉ quan tâm đến lợi ích v ật chất mà không thực hi ện công tác giáo dục thì sẽ dẫn đến sai lầm, tại hại, làm hư hỏng con người, thậm chí cả một thế h ệ ng ười. C.Mác đã từng nhắc nhở chúng ta, trong phát triển kinh tế phải gắn “sự nghiệp giải

    phóng con người v ới cuộc đấu tranh chống lại biểu hi ện thực tiễn cực đoan của sự tha hóa con người”(7). Không nghi ngờ gì rằng, mặt trái của nền kinh

    tế thị tr ường đ ã và đang tác động đến từng cá nhân, từng gia đ ình và mỗi tập th ể của chúng ta. Trong xã hội hiện nay, có tình trạng một số người có kinh tế khá, thậm chí là giàu có nhưng vẫn tham ô, móc ngo ặc, ăn cắp, buôn lậu. Trái lại, mộ t số người nghèo, thậm chí rất nghèo nhưng không chịu lao động chân chính, chuyên dùng thủ đoạn l ừa bip, ăn cắp… Bên cạnh đó, còn một lớp người (thường là trẻ tuổ i) không chịu học hành, làm việc, chỉ lo ăn chơi và từ đây dẫn đến tội phạm.

    _ Năm là, phải nâng cao thể lực cho thanh niên. Mặc dù đây là một vấn đề đòi h ỏi phải có thời gian để giải quyết trên cơ sở nâng cao dần mứ c sống của nhân dân về vật chất cũng như v ề tinh thần. Trước mắt, cần tập trung giải quyết cho được các mục tiêu củ a chương trình chăm sóc, bảo vệ trẻ em đến năm 2000, nh ất là các mục tiêu giảm đáng kể t ỷ lệ suy dinh dưỡng: đầu tư nâng cao chất lượng của chương trình giáo dục thể chất và y t ế học đường; đẩy mạnh phong trào rèn luyện thân thể trong thanh thiếu niên, tạo điều kiện cho Đoàn thanh niên duy trì phong trào “ khoẻ vì ngày mai lập nghiệp”, “khoẻ để bảo vệ Tổ quốc”.

    Thực hiện những nhiệ m vụ trên đây có nghĩa là về c ơ bản nhà nước ta đã hoàn thành cuộc “ cách mạng con người ”, biến con người Việt Nam

    19

    thành nguồn lực quyết định đưa sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước đi đến thành công.

    20

    KẾT LUẬN

    Công nghiệp hoá, hiện đại hoá đã, đang và sẽ là xu hướng phát triển chung của t ất cả các qu ốc gia trên thế giới. Đó cũng là con đườ ng phát triển tất yếu củ a nước ta để đi tới mục tiêu “dân giàu, nướ c mạnh, xã hội công bằng, văn minh” công nghiệp hoá, hiện đại hoá không chỉ là công cuộc xây dựng kinh tế mà chính là quá trình biến đổi, cách mạ ng sâu sắc mọi lĩnh vực của đời sống xã hội (kinh tế, chính trị, văn hoá, khoa học và con ng ười), làm cho xã hội phát triển lên một tr ạng thái mới về chất. Nhưng cơ sở, động lực của công nghiệp hoá, hiện đại hoá là gì? Theo các nhà kinh điển củ a chủ nghĩa Mác-Lênin, con người vừa là điểm khởi đầ u vừa là điểm kết thúc, đồng thời vừa là trung tâm của mọ i biến đổi lịch sử. Nói cách khác, con ngườ i là chủ thể chân chính của các quá trình xã hội. Trong xã hội hiện đại ngày nay, chủ thể của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá vẫn chính là con ngườ i. Chính vì vậy, quá trình này đòi hỏi phải có ngu ồn nhân lực đủ về số lượng, mạnh về chất lượng. Nói cách khác, nguồn nhân lực phải trở thành động lực thật sự của sự phát triển.

    Quan điểm phát triển nguồn nhân lực đ ã được nhiều quốc gia quan tâm và đặc biệt đang nổi lên ở khu vực Đông á. Xuất phát là những nước nghèo, chỉ có thể rút ngắn thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá và đạt được tốc độ tăng trưởng cao, bền vững trong tr ường hợp đầu tư phát triển đủ mạnh nguồ n nhân lực. S ự đầu t ư ấy được hiểu cả ba mặt: ch ăm sóc sức khoẻ, nâng cao mức số ng và phát triển giáo dục, trong đó đầu t ư có hiệu quả nhất là đầu tư cho giáo dục. Khi nghiên cứu quan hệ giữa GDP và các yếu tố của nguồn nhân lực, ngườ i ta thấy sự phát triển củ a nguồn nhân lực càng sớm thì tốc độ tăng trưởng kinh tế càng cao. Thực tế đ ã ch ứng minh, do phát triển nguồn nhân lực mà Hàn Quốc đã mau chóng trở thành nước công nghiệp, có sự hội nhập thần kỳ ở khu vực Đông á và trở thành một điểm sáng bên Nhật Bản siêu cường.

    Đồ ng thời, xuất phát từ tư t ưởng của C.Mác về s ự phát triển vì con ng ười, vì sự nghiệp giải phóng củ a con người, giải phóng nhân loại, chúng ta có thể khẳ ng định rằng sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá trên thế giới nói chung và đặc biệt là ở nước ta hiện nay chính là mộ t cuộc cách mạng-cách mạng con người. Trong “Tư b ản”, C.Mác đã khẳng định: “để sản xuất ra những con người toàn diện” cần phải có một nền kinh tế phát triển, một nền văn hoá mới, một nền khoa học kỹ thuật hi ện đại, mộ t nền giáo dục tiên tiến. Và ông coi tạo ra những thành tưu kinh tế xã hội đó “không phải chỉ là

    21

    một phương pháp để làm tăng thêm nền s ản xuất xã hội, mà còn là một phương pháp duy nhất để sản xuất ra những con người phát triển toàn diện”

    • – những chủ nhân thực sự của một xã hội vì con người. Như vậy công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải vì mục tiêu phát triển con người. Chỉ có như vậy, công nghiệp hoá, hiện đại hoá mới trở thành sự nghiệp cách mạng của quần chúng.

    Qua toàn bộ phân tích trên, có thể khẳng định rằng, bước sang th ời kỳ phát triển mới, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước theo định hướng XHCN chúng ta phải lấy việc phát huy nguồn lực con người Việt Nam hiện đại làm yế u t ố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững, phải gắn tăng trưởng kinh tế với cải thiện đời số ng nhân dân, phát triển văn hoá, giáo dục, thực hiện ti ến bộ và công bằng xã hội. Đồng thời công nghiệp hoá, hiện đại hoá phải là vì sự phát triển con người Vi ệt Nam toàn diện, con người phải được coi là giá tr ị tối cao và là mục đích của sự nghiệp đầy khó khăn, phức tạp nhưng tất yếu này.

    —————————

    22


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]
  • Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: Tiểu luận Văn hóa giao tiếp ứng xử nơi công sở


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/K%E1%BB%B9-n%C4%83ng-thuy%E1%BA%BFt-tr%C3%ACnh-b%E1%BA%A3o-v%E1%BB%87-lu%E1%BA%ADn-v%C4%83n.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Kỹ năng thuyết trình bảo vệ luận văn

    Thuyết trình bảo vệ luận văn luôn là nỗi ám ảnh với nhiều sinh viên năm cuối. Làm thế nào để bạn tự tin b ảo vệ tâm huyết của mình sau 4 năm đại học? Làm thế nào để có bài thuyế t trình bảo v ệ ấn tượng trướ c thầy cô và bạn bè?… Những câu hỏi đó của bạn sẽ được giải đáp khi áp dụng các bí quyết sau của VietnamLearning.

    Chuẩn bị chu đáo:

     Không chuNn bị là chuNn bị cho sự thất bại. Để có một bài thuyết trình bảo vệ thành công bạn phải chuNn bị rất kỹ lưỡng từ nội dung, những tình huống có thể phát sinh trong quá trình thuyết trình.

    Bạn hãy chuNn bị trước phương án trả lời các câu hỏi mà thầ y cô có thể đưa ra cho bài thuyế t trình của bạn. Hãy hỏi trực tiếp ngườ i hướ ng dẫn bạn để bi ết dạng câu hỏi hoặc tham khảo ý kiến các anh chị khóa trước để nhận biết các câu hỏi mà thầy cô có thể hỏi. Bên cạnh đó bạn hãy soạn trướ c cho mình một bản slide, bản tóm tắt và các tài liệu liên quan mà bạn có thể dùng trong khi bảo vệ.

    Luyện tập trước khi diễn:

    Thao trường đổ mồ hôi, chiến trườ ng đỡ đổ máu. Bạn càng tập luyệ n kỹ bao nhiêu, bạn càng có cơ hội thành công bấy nhiêu trong quá trình thuyết trình. Hãy sử dụng phương pháp tưởng tượng để luy ện t ập khả năng thuyết trình của bạn. Nếu bạn có bạn bè, hãy nhờ họ làm giám khả o cho bài bảo vệ luận văn. Hãy nhờ họ nhận xét xem bạn đã tốt điều gì và yếu tố nào cần tốt hơn.

    Nguyên tắc 80/20 bạn cũng cần áp dụng trong quá trình chuNn bị và t ập luyện. Nế u bạn có 15 phút để bả o vệ chính thức thì khi luyện tậ p bạn cần că n ke làm sao quỹ thời gian của bạn sử dụng là 10 phút. Khoảng thời gian 5 phút còn lại để đề phòng các trường hợp bất chắc có thể xảy ra với bạn như tâm lý, sự cố máy tính…

    Thường xuyên giao lưu bằng mắt:

     Không ai ấn t ượng với một người thuyết trình không có s ự quan tâm đến mình. Hãy sử dụng tối đa khả nă ng giao tiếp bằng mắt của bạn. Bạn hãy áp d ụng nguyên tắc 75/25 trong tình huống này. Khi thuyết trình, bạn hãy dành 75% sự chú ý của bạn với những thầy cô trong hội đồng phản biện và 25% còn lại dành cho những bạn bè mình đang ngồi phía dưới.

    Bình tĩnh trả lời các câu hỏi:

    Nhiều sinh viên cảm thấy lo lắng và mất bình tĩnh khi

    nhận được các câu hỏi từ phía hội đồng phản biện. Lời khuyên cho bạn vào những lúc đó hãy hít một hơi thở thật sâu để lấy lại bình tĩnh. Để có thêm thờ i gian để bạn tìm câu trả lời hãy nhắc lạ i nội dung câu hỏi. Đó cũng là cách bạn thể hiện sự tôn trọng và gây ấn tượng với thầy cô.

    Với những câu hỏi quá khó mà bạn không có phương án trả lời, hãy thành thật và nói

    rằng bạn cảm ơn người đặt câu hỏi đó, bạn sẽ suy nghĩ và trả lời trong một đề tài nghiên cứu tiếp theo.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

     Tải Xuống Tại Đây


  • Tiểu luận Văn hóa giao tiếp ứng xử nơi công sở

    Tiểu luận Văn hóa giao tiếp ứng xử nơi công sở

    Tiểu luận Văn hóa giao tiếp ứng xử nơi công sở

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Kéo xuống để Tải ngay bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là bài nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Bài liên quan: TÀI LIỆU HƯỚNG DẪN SINH VIÊN KHI LÀM LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP


    [toc]

    [pdfviewer width=”800px” height=”1000px” beta=”true/false”]http://hotroontap.com/wp-content/uploads/2019/03/Ti%E1%BB%83u-lu%E1%BA%ADn-V%C4%83n-h%C3%B3a-giao-ti%E1%BA%BFp-%E1%BB%A9ng-x%E1%BB%AD-n%C6%A1i-c%C3%B4ng-s%E1%BB%9F.pdf[/pdfviewer]

    Tải ngay bản PDF tại đây: Tiểu luận Văn hóa giao tiếp ứng xử nơi công sở

    Tài liệu huấn luyện

    VĂN HOÁ GIAO TIẾP ỨNG XỬ NƠI CÔNG SỞ

    I/ Tổng quan về văn hoá ứng xử giao tiếp ở Việt Nam:

    Văn hoá giao tiếp của người Việt Nam bao gồm những đặc điểm sau:

    • Vừa cởi mở, vừa rụt rè;
    • Xử sự nặng nề về tình cảm hơn là lý trí;
    • Trọng danh dự thái quá tới mức trở thành một bệnh sĩ diện hão; · Giữ ý trong giao tiếp;
    • Thiếu tính quyết đoán. Bắt nguồn từ “Văn minh lúa nước” bao đời nay, những phẩm chất nổi trội về văn hoá trong con người Việt Nam là:
    • Khả năng đối phó rất linh hoạt với mọi tình thế và lối ứng xử mềm dẻo;
    • Tinh thần đoàn kết, cố kết cộng đồng để tạo nên sức mạnh vượt qua khó khăn, thử thách;
    • Giản dị, chất phác, ưa đơn giản, ghét cầu kỳ xa hoa;
    • Tấm lòng rộng mở và giàu cảm xúc lãng mạn;
    • Cần cù, chịu thương, chịu khó, giỏi chịu đựng gian khổ;
    • Trọng tuổi tác, trọng người già (Lão quyền);
    • Tập tính hạch toán kém, không quen lường tính xa;
    • Tác phong tuỳ tiện, kỷ luật không chặt chẽ;
    • Tâm lý bình quân chủ nghĩa;
    • Nhân ái, vị tha và rộng lượng;
    • Nặng tình nhẹ lý, chín bỏ làm mười (cơ sở chủ nghĩa dân tộc – một người làm quan cả họ được nhờ);
    • Tâm lý sống lâu lên lão làng, đề cao chủ nghĩa kinh nghiệm; · Tư tưởng bảo thủ, đóng cửa, tự thu xếp mọi việc, không cầu thị.

    II/ Phân loại văn hoá giao tiếp:

    1. Khi phân tích các hoạt động giao tiếp trong xã hội, ta có thể chia thành ba loại: Một là, giao tiếp truyền thống: Giao tiếp được thực hiện trên cơ sở các mối quan hệ giữa người và người đã hình thành lâu dài trong quá trình phát triển xã hội: Đó là quan hệ huyết thống trong họ hàng, gia đình giữa ông bà, cha mẹ, con cái v.v… quan hệ làng xóm láng giềng nơi mọi người đều quen biết nhau, vai trò cá nhân trong tiếp xúc giao lưu được quy định rõ ràng, ngôn ngữ giao tiếp đã hình thành lâu dài trở thành những quy định bất thành văn, thấm đẫm vào từng xã hội, cuối cùng trở thành văn hoá ứng xử riêng trong xã hội đó. Tất cả những điều ấy quy định và điều chỉnh quá trình trao đổi thông tin trong quan hệ tiếp xúc, giao lưu. Loại giao tiếp này bị chi phối bởi văn hoá tập quán, hệ thống các quan niệm và ý thức xã hội.

    Hai là, giao tiếp chức năng: Giao tiếp chức năng phát triển trong hoạt động chức nghiệp. Loại giao tiếp này xuất phát từ sự chuyên môn hoá trong xã hội, ngôn ngữ và hình thức giao tiếp chịu ảnh hưởng của những quy định thành văn hay không thành văn, để dần trở thành quy ước, chuẩn mực và thông lệ chung trong xã hội. Loại giao tiếp này không xuất phát từ sự đòi hỏi bộc lộ cá tính hay những tình cảm riêng tư mà xuất phát từ sự đòi hỏi của nghi lễ ứng xử xã hội và hiệu quả trong công việc. Đó là ngôn ngữ cho phép mọi người không quen biết nhau, rất khác nhau, nhưng khi thực hiện những vai trò xã hội nhất định đều sử dụng kiểu giao tiếp như vậy. Chẳng hạn đó là giao tiếp trong công việc giữa thủ trưởng và nhân viên, giữa người bán và người mua, giữa bác sĩ và bệnh nhân, giữa bị cáo và chánh án v.v…

    Ba là, giao tiếp tự do: Loại giao tiếp này mang nhiều đường nét cá nhân của người giao tiếp, được cảm thụ chủ quan như một giá trị tự tại, như mục đích tự thân. Những quy tắc và mục đích giao tiếp không được định trước như khuôn mẫu, mà xuất hiện ngay trong quá trình tiếp xúc, tuỳ theo sự phát triển của các mối quan hệ. Giao tiếp tự do được thúc đẩy bởi tính chủ động, phẩm chất và mục đích của mỗi cá nhân, nó cần thiết trong quá trình xã hội hoá làm phát triển và thoả mãn các nhu cầu về lợi ích tinh thần và vật chất của các bên giao tiếp một cách nhanh chóng và trực tiếp. Loại giao tiếp này trong thực tế cuộc sống là vô cùng phong phú, trên cơ sở trao đổi những thông tin có được, làm thức tỉnh những hứng thú tình cảm sâu sắc và để giải toả xung đột của mỗi cá nhân.

    1. Mức độ của hành vi văn minh trong giao tiếp của mỗi người được đánh giá thông qua cấu trúc:

    Tính chuẩn mực (phần cứng): biểu hiện ở những quy ước (dưới dạng truyền thống đạo đức, lễ giáo, phong tục tập quán) có ảnh hưởng vô hình và lâu dài trong tư duy, hành vi và thói quen của mỗi người; ý thức hệ xã hội (có ảnh hưởng mang tính bắt buộc); cùng với những quy định mang tính đặc thù của tổ chức – nơi mỗi người làm việc. Trong giao tiếp chính thức thì các quy ước và quy định đã được thể chế hoá. Mặt khác nó còn được biểu hiện ở kiểu khí chất trong mỗi cá nhân.

    Tính linh hoạt dựa trên phẩm chất cá nhân (phần mềm): trong giao tiếp biểu hiện ở trình độ văn hoá, học vấn, kinh nghiệm, trạng thái tâm lý, độ tuổi ở mỗi cá nhân, giới tính và đặc điểm nghề nghiệp. Mỗi người có thể tiến hành giao tiếp và đạt được kết quả như thế nào tuỳ thuộc vào sự linh hoạt vận dụng những phẩm chất cá nhân đó trong mỗi tình huống và hoàn cảnh giao tiếp cụ thể.

    Trên thực tế trở ngại lớn nhất trong giao tiếp thường ở phần cứng (đặc biệt giao tiếp với đối tác là người nước ngoài). Có nghĩa là người ta có thể bị ảnh hưởng quá sâu sắc, hoặc bám giữ quá chặt chẽ vào những quy định, quy tắc thuộc về phần cứng, do đó hạn chế đến khả năng tiếp cận và thích ứng với người đối thoại. Điều này ở mức độ lớn được gọi là sự xung đột về nền văn minh mà mỗi cá nhân đương hưởng thụ và chịu sự chi phối của nó. Tuy nhiên khi phẩm chất cá nhân đạt đến một trình độ cao, người ta càng có khả năng tự chủ, thoát ra khỏi mọi khuôn sáo, giáo điều một cách uyển chuyển linh hoạt. Sự linh hoạt (phần mềm chứ không phải là phần cứng) đang chứng tỏ sự thành công của nó trong một thế giới mà các mối quan hệ đang tiến đến gần một chuẩn mực chung. Nhưng phẩm chất cá nhân sẽ là gì khi thoát ly hẳn với phần cứng? Thực chất là bản sắc không thể tự mình tạo nên, và trong chân không, nó phải có gốc của nó – đó là phần cứng. Quả cây có ngọt hay không hãy xem đất của nó. Đến lượt nó, điều này lại giúp chúng ta tránh được xung đột về cá tính.

    1. Cốt lõi của lịch sự: điều mà nhờ nó chúng ta dành được cảm nhận tích cực từ phía đối tác là:

    Văn hoá chuẩn mực: có nghĩa là văn hoá ứng xử của mình phù hợp với bối cảnh, với đối tác, với địa vị và nghề nghiệp được điều tiết đúng mức độ mà công việc đòi hỏi;

    Tự nhiên: nghĩa là hành vi và cách ứng xử ấy không phải là kết quả của sự cố tạo dựng, gò ép hay bắt chước mà như là phẩm chất của chính mình, kết quả của một quá trình giáo dục lâu dài;

    Đàng hoàng: mọi cử chỉ, hành vi và lời nói không thể để cho đối tác liên tưởng đến những ngụ ý không tích cực về mình. Thí dụ bắt tay quá lâu và quá chặt với phụ nữ, ghé sát mặt thì thào, tỏ ra thân thiện quá mức với một ai đó, nhìn ngang nhìn ngửa…;

    Tự tin: có nghĩa là cái mà đối tác nhận được từ hành vi ứng xử của mình là cái xứng đáng mà họ được hưởng với tư cách, địa vị và với sự đòi hỏi của công việc mà hai bên sẽ tiến hành. Sự nhún nhường quá mức đến mức khúm núm khiến đối tác ngộ nhận và khiến hành vi ứng xử của ta đã đi ra khỏi cái nghĩa của lịch sự đó là sự cầu cạnh.

    QUY TẮC 10 ĐIỂM TRONG VĂN HOÁ GIAO TIẾP

    1. Ân cần: Trong giao tiếp tránh tỏ ra thờ ơ, lạnh nhạt hoặc có vẻ mặt khó đăm đăm, bực tức. Luôn cần thể hiện sự quan tâm và tôn trọng đối tượng giao tiếp;
    1. Ngay ngắn: Trang phục hợp cách, không tuỳ tiện, luộm thuộm; tác phong không tỏ ra trễ nải, dặt dẹo;
    1. Chuyên chú: Không làm việc riêng trong khi giao tiếp, nhất là chị em phụ nữ thường hay cắt móng tay, móng chân, kẻ lông mày, tô son, đánh phấn;
    1. Đĩnh đạc: Không trả lời thủng thẳng, hỏi câu nào trả lời câu ấy, cách nói thiếu chủ ngữ, cộc lốc, nhát gừng;
    1. Đồng cảm: Cần thể hiện cảm xúc đúng lúc, đúng chỗ, mắt luôn hướng về người đối thoại bày tỏ sự quan tâm, đồng cảm;
    1. Ôn hoà: Tránh vung tay tuỳ tiện, đặc biệt là chỉ ngón tay về phía mặt đối tượng giao tiếp theo “nhịp điệu” của lời nói “đanh thép” của mình. Cần có thái độ ôn hoà;
    1. Rõ ràng: Không nói quá to, kiểu nói oang oang hoặc nói quá nhiều. Tránh nói lạc đề hoặc nói quá nhỏ, kiểu lí nhí khiến người nghe phải căng tai mới nghe rõ;
    1. Nhiệt tình: Thể hiện sự sẵn sàng phối hợp giúp đỡ người khác khi cần thiết, đừng tỏ ra khó khăn, ích kỷ;
    1. Nhất quán: Phải khắc phục sự phát ngôn bất nhất, thay đổi tuỳ tiện, chối phăng những điều đã nói ra hoặc dễ dàng hứa nhưng không làm theo lời hứa. Đó là loại người ai cũng muốn tránh xa;
    1. Khiêm nhường: Tránh tranh luận khi không cần thiết, hoặc thích bộc lộ sự hiểu biết, sự khôn ngoan của mình hơn người, thích dồn đối tượng giao tiếp vào thế bí để dành phần thắng về mình.

    4. Rèn luyện các kỹ năng giao tiếp:

    Rèn luyện các kỹ năng định hướng

    Học thuộc về các biểu hiện bên ngoài, ngôn ngữ “của cơ thể” mà nó nói lên cái tâm lý bên trong của người ta. Rèn luyện sự quan sát con người, tích luỹ kinh nghiệm trong quá trình sống. Quan sát thực nghiệm bằng các băng ghi hình, tham khảo kinh nghiệm dân gian, tướng mạo học cũng rất có ích để nâng cao các kỹ năng định hướng trong giao tiếp.

    Rèn luyện các kỹ năng định vị

    Rèn luyện tính chủ động và điều tiết các đặc điểm tâm lý vốn có của mình và của đối tượng giao tiếp, tức là biết cách thu nhập và phân tích xử lý thông tin.

    Rèn luyện các kỹ năng điều khiển quá trình giao tiếp

    Rèn luyện khả năng thống ngự: có nghĩa là rèn luyện năng lực khống chế, chi phối và điều khiển cả con người trong giao tiếp. Thế nào là người có khả năng thống ngự ? Người có khả năng thống ngự là người biết và nắm chắc được sở thích, thú vui của đối tượng giao tiếp và là người hiểu biết nhiều, lịch lãm, tinh tường nghề nghiệp. Người ta có thể bồi dưỡng khả năng thống ngự của mình bằng cách:

    • Thứ nhất: Làm rõ đối tượng thống ngự, khắc phục tính mù quáng. Đối tượng thống ngự được quyết định bởi địa vị xã hội của kẻ thống ngự. Thí dụ đối tượng thống ngự của giám đốc là phó giám đốc và các cán bộ trung gian dưới quyền;
    • Thứ hai: Phải nâng cao trình độ văn hoá, trình độ lý luận, trình độ nghề nghiệp và bồi dưỡng phẩm cách của mình;
    • Thứ ba: Học cách “công tâm” có nghĩa là đi vào lòng người cốt lõi là sự chân thành, hữu hảo.

    Rèn luyện khả năng hấp hẫn: Hấp dẫn đối tượng giao tiếp bằng các cách:

    • Thứ nhất: Bằng lòng tự tin, không tự kiêu và không tự ti;
    • Thứ hai: Cư xử chân thành với mọi người;
    • Thứ ba: Chân thành ca ngợi những điểm mạnh của đối tượng giao tiếp;
    • Thứ tư: Đặt mình vào địa vị của đối phương mà cảm thông, đồng cảm với họ;
    • Thứ năm: Bằng sự học rộng, biết nhiều và phải biết đích thực;
    • Thứ sáu: Bằng cách luôn luôn mỉm cười với đối tượng giao tiếp;
    • Thứ bảy: Biết dùng đôi mắt để biểu thị tình cảm
    • Thứ tám: Trang phục phù hợp với con người mình;
    • Thứ chín: Đừng tiếc sự hào phóng nhiệt tình;
    • Thứ mười: Đừng quên sự khôi hài, dí dỏm.

    Rèn luyện khả năng tự kiềm chế:

    Theo các nhà tâm lý học, trong giao tiếp ở mỗi con người có ba trạng thái: Trạng thái bản ngã phụ mẫu: là cái mà người ta ý thức được quyền hạn và ưu thế

    của mình trong giao tiếp;

    Trạng thái bản ngã thành niên: là cái mà người ta biết cân nhắc cẩn thận mỗi lời nói của mình khi phát ra;

    Trạng thái bản ngã “nhi đồng”: là cái mà tình cảm xui khiến hành động chứ không phải lý trí (hay sự xúc động).

    5. Rèn luyện khả năng tự kiềm chế như thế nào ?

    • Thứ nhất: Trong bất cứ trường hợp nào cũng phải duy trì trạng thái bản ngã thành niên (chú ý và bình tĩnh);
    • Thứ hai: Biết bao dung và độ lượng;
    • Thứ ba: Luôn luôn phải trả lời vui vẻ các câu hỏi.

    Lịch sự phải để cho khách hàng của mình hiểu và thấy là họ được nâng lên tầm cao ứng xử mới chứ không phải là để chứng tỏ bạn hơn hẳn họ. Phong cách văn hoá là điều có tác dụng to lớn để khẳng định vị thế của bạn trong cảm nhận của đối tác, đồng thời nâng đối tác lên một tầm cao mới tạo điều kiện cho họ có cách ứng xử tương tự.

    Nếu ta bỏ tiền ra để mua bất cứ một hàng hoá gì thì ta có thêm hàng hoá đó và nghèo đi một lượng tiền tương ứng. Cảm giác đó khiến làm con người luôn thấy bức bối và thiếu thốn. Văn hoá làm cho chúng ta trở nên cân bằng hơn, biết đem đến cho họ sự giàu có khác, dưới hình thức khác để khách hàng khỏi cảm thấy nghèo đi khi bỏ tiền ra mua hàng hoá của bạn.

    Xã hội đã trở nên rộng lớn quá mức theo nghĩa là có quá nhiều các mối quan hệ, các mối quan tâm, kỳ vọng ở các cấp độ và đối tượng khác nhau, đồng thời lại nhỏ bé hơn bởi được rút ngắn nhờ giao thông liên lạc. Trong cảm giác hai chiều trái ngược đó văn hoá giao tiếp – ứng xử giúp con người được cân bằng, và họ muốn thấy mình được quan tâm chứ không chỉ bị lôi kéo vào cuộc kiếm lợi của các thương nhân.

    Quảng cáo như đã nêu là hình thức giao tiếp thường xuyên của công ty đối với khách hàng, bởi vậy nó luôn phải nhằm vào khách hàng ở chỗ khiến họ thừa nhận trên tinh thần văn hoá về các giá trị mà công ty muốn cung ứng cho họ chứ không phải đề cao bản thân công ty một cách quá đáng hoặc đưa ra những ý kiến, những lời mà trình độ dân trí ngày nay không thể chấp nhận.

    Lợi ích tồn tại trước mắt là điều tối quan trọng với những người này. Với họ không có kiểu lùi một bước để tiến mười bước mà là chiến lược thích nghi bằng mọi giá để tồn tại. Hơn nữa có một điểm giống con sâu, cái kiến là chu kỳ sống của chúng quá ngắn ngủi nên không thể có chỗ cho chiến lược lùi một bước. Sự thích nghi này không phải là sự thích nghi quá trình mà là thích nghi thời điểm, nghĩa là rất nhanh, đa dạng và liên tục với mục đích tồn tại, được chấp nhận hơn là mục đích phát triển.

    Trên cơ sở ta thừa nhận những mệnh đề sau:

    • Sự vật hiện tượng nào, cá thể nào cũng có khuynh hướng tiến tới trạng thái ổn định, cân bằng động, của riêng nó (vi mô) và của môi trường (vĩ mô);
    • Sự cân bằng của vi mô và của vĩ mô có thể là khác nhau trong những thời điểm khác nhau (sự lệch pha). Mỗi cá thể cần phải tự điều chỉnh để phù hợp với trạng thái cân bằng của vĩ mô chứ không phải là ngược lại;
    • Với mỗi cá thể, sự tồn tại trước mắt quan trọng hơn sự phát triển lâu dài. Tuy nhiên sự phát triển làm cho sự tồn tại đi đến trình độ cao hơn về chất;
    • Sự tự bảo vệ để tồn tại, trong đó các điểm yếu không được phép bộc lộ, mâu thuẫn nội tại được nguỵ trang. Sự tự hoàn thiện để phát triển, trong đó cái bất hợp lý cần phải được thay đổi, mâu thuẫn nội tại cần phải giải quyết;
    • Mỗi cá thể có một năng lực, cơ hội ứng xử riêng, cung cách hội nhập riêng tuỳ theo cách mà nó chọn là tồn tại hay phát triển, bởi vậy nó sẽ có khuynh hướng bộc lộ hay giấu mình.

    Thật đáng sợ khi người ta quen đi với việc không đem lại lợi ích hay niềm vui cho người khác, và dương dương tự đắc trong chức vụ của mình mà thật ra là rất vô bổ. Bạn có thể vin vào cớ gì đây khi nhận sự uỷ thác của cấp trên về việc tiếp khách mà không đem lại một kết cục khả dĩ nào cả, cho dù đó chỉ là cảm giác của cả hai bên mà thôi. Như thế bạn đã khoác lên người cái danh là cán bộ của công ty mà hưởng lương một cách vô lý rồi vì đã không làm cho cái danh đó đáng được tôn trọng trong con mắt của khách. Công việc tiếp khách ở đây không phải là cuộc gặp nói chuyện phiếm với nhau. Cho nên bạn có thể chủ động nhắc nhở khách về thời gian ngay từ lúc đầu bằng cách nói: “Thưa ông, chúng ta sẽ có khoảng 15 phút để được trao đổi với nhau về vấn đề này…”.

    Xử lý những lời phàn nàn từ khách hàng: Không nên tỏ ra sẵn sàng tranh luận, cướp lời, khẳng định hơn thiệt với khách hàng khi xảy ra những điều phàn nàn của khách. Việc cần thiết, và là nhiệm vụ của bạn là phải lắng nghe, cảm ơn và tìm cách khắc phục thiếu sót ngay sau đó nếu có thể. Không phải bao giờ khách hàng cũng đúng, và bao giờ cũng có đủ phẩm chất của một Thượng đế, hay Nữ hoàng. Nhưng họ chứ không ai khác mới có thể đem đến cho bạn những nguồn lợi nhuận, và đó chính là cái bạn cần để tồn tại. Sự phàn nàn của họ không phải bao giờ cũng thoả đáng, nhưng chắc chắn có lý do của nó xuất phát từ phía bạn hay cửa hàng của bạn. Chứng tỏ rằng cửa hàng hay chính bạn có điều gì đó đang tồn tại không làm thuyết phục họ hoàn toàn, chính thế cần phải lắng nghe để hoàn thiện chính mình. Khi khách phàn nàn, bạn không nên tỏ ra nôn nóng nghe cho qua chuyện, cũng không nên quan trọng hoá sự cố, hoặc không nên tìm ngay những người có trách nhiệm cụ thể về việc đó để nghe thay bạn. Họ phàn nàn với bạn, cho dù bạn không phải là người gây ra hay có trách nhiệm chính nhưng chí ít họ thấy cần phải nói, và thấy bạn là người xứng đáng đề nghe họ phàn nàn. Bằng cử chỉ, ánh mắt, giọng nói bạn tiếp thu lời phàn nàn như là bạn là người hiểu họ, đứng về phía họ để biến lời phàn nàn chưa hoàn hảo thành những lời góp ý chân tình một cách hoàn hảo. Bởi vì tuy họ phàn nàn nhưng tuyệt đối họ không muốn sẽ trở thành người đối địch với bạn. Hơn nữa họ muốn thấy là họ đúng ít nhất về một phương diện nào đấy, vấn đề là bạn tiếp thu và chỉ cho họ thấy họ dã đúng trên phương diện nào. Không nên phản đối khách hàng mà khéo léo chuyển sang một khía cạnh khác, đồng thời luôn có cách đưa ra những đề nghị mới hợp lý hợp tình cho cả hai bên. Chẳng hạn không nên khẳng định: “Dịch vụ của chúng tôi là rất tuyệt vời, tốt hơn dịch vụ mà ông vẫn nhận được từ công ty A.”. Mà nên khôn ngoan hơn bằng cách: “Tôi hiểu ông rất có lý khi quan tâm đến dịch vụ này đến như vậy, bây giờ chắc ông muốn đưa ra quyết định về nó, vì thế chúng tôi muốn đề nghị với ông một hợp đồng dịch vụ hoàn chỉnh hơn với 5 điểm như sau… mà ông có thể góp ý thêm cho chúng tôi.”.

    III/ Kỹ thuật giao tiếp văn hoá nơi công sở:

    1. Nghi thức xã giao nơi công sở:

    Văn hoá giao tiếp (VHGT) nơi công sở thể hiện những tính chất đặc thù của hoạt động thi hành công việc. Do vậy giao tiếp trong thực thi công việc phải đảm bảo những nguyên tắc nhất định nhằm thể hiện tính chuyên nghiệp của doanh nghiệp đó, tức là phải được tiến hành theo những nghi thức xã giao nhất định. Nghi thức xã giao nơi công sở là một bộ phận quan trọng cấu thành nên “Văn hoá doanh nghiệp”. Đó là những vấn đề có liên quan đến trang phục, thái độ ứng xử (đi đứng, điệu bộ, cử chỉ, lời nói…) của cán bộ, nhân viên trong doanh nghiệp.

    1. a) Trang phục:

    Trong nhiều năm qua, nước ta còn gặp nhiều khó khăn về kinh tế, Nhà nước còn chưa có đủ điều kiện để ban hành những quy định chính thức về y phục của công chức Nhà nước. Do đó ta có thể thấy vấn đề trang phục của cán bộ, công chức Nhà nước hiện nay còn bỏ ngỏ. Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) Võ Văn Kiệt đã có thông báo số 11/TB ngày 11/8/1992 quy định về y phục của công chức Nhà nước khi đón tiếp và làm việc với khách nước ngoài cũng như khi làm việc trong các công sở như sau:

    Lễ phục là trang phục chính thức mà các quan chức Nhà nước ở các cấp sử dụng trong các buổi lễ, cuộc họp trọng thể, các cuộc tiếp khách nước ngoài. Lễ phục của ta vừa phải phù hợp với trang phục đã thành quen thuộc phổ biến ở nhiều nước, vừa phù hợp với tập quán và phong cách của ta. Tuỳ theo thời tiết cụ thể của từng vùng, từng ngày và tuỳ theo từng đoàn, từng buổi hoạt động của khách mà có trang phục phù hợp.

    • Đối với Nam:

    + Mùa nóng mặc bộ complete màu nhạt, vải mỏng hoặc không mặc áo vest (chỉ mặc áo sơ mi dài tay hoặc ngắn tay bỏ trong quần, có hoặc không thắt caravatte);

    + Mùa lạnh mặc bộ complete màu sẫm, vải dày (tuỳ điều kiện, ngoài mặc áo khoác ấm như: pa-đờ-suy, blu-dông), có thắt caravatte, đi giày hoặc dép có quai hậu.

    • Đối với nữ:

    + Mùa nóng mặc áo dài truyền thống;

    + Mùa lạnh mặc bộ complete nữ màu sẫm, vải dày, hoặc áo dài có khoác áo măng-tô với thân dài hơn áo; ngoài mặc áo khoác ấm tuỳ điều kiện, đi giày hoặc dép có quai hậu.

    Tuỳ theo điều kiện của từng doanh nghiệp có thể hướng dẫn quy định các y phục trong giờ làm việc ở công sở, đón tiếp, gặp gỡ khách hàng, đối tác… Doanh nghiệp có thể quy định mặc đồng phục theo một số ngày trong tuần, trong từng bộ phận hoặc tiến đến mặc đồng phục hoàn toàn. Trong trường hợp doanh nghiệp khó khăn hoặc chưa may được đồng phục cho cán bộ nhân viên thì đối với nam có thể mặc quần âu sẫm màu, áo sơ mi trắng bỏ trong quần, đi giày hoặc dép có quai hậu. Riêng với nữ thì có thể tự chọn trang phục nhưng phải ăn mặc sao cho phù hợp với hoàn cảnh hiện tại cũng như văn hoá của doanh nghiệp đó.

    Mỗi cán bộ nhân viên khi đến nơi làm việc phải đeo thẻ ảnh có ghi rõ họ tên, chức vụ; trước cửa các phòng ban và trên bàn làm việc phải có biển đề tên, chức vụ (nếu có) để khách có thể dễ dàng tìm kiếm và thuận tiện trong khi liên hệ công việc.

    Một bộ quần áo sạch sẽ, ủi là thẳng nếp, giản dị, phù hợp với thân hình, địa vị người mặc, hợp thời trang thể hiện sự tự trọng, thái độ nghiêm túc, lịch sự trong giao tiếp sẽ gây ấn tượng tốt, dễ gần, thân thiện ngay khi mới tiếp xúc lần đầu. Bởi lẽ, trước tiên mọi người nhìn thấy rồi sau mới nghe thấy chúng ta, rồi nữa cách ăn mặc biểu hiện cách sử xự lịch thiệp của chúng ta mà không cần chúng ta phải phát ngôn. Do đó Doanh nghiệp phải xoá bỏ ngay các cách ăn mặc tuỳ tiện, thiếu nghiêm chỉnh như sau:

    • Áo sơ mi bỏ ngoài quần;
    • Mặc áo phông, quần bò, quần bó ống, váy quá ngắn, trang phục hở hang khêu gợi, loè loẹt, lố lăng không phù hợp với thẩm mỹ;
    • Đi dép lê trong văn phòng làm việc;
    • Đội mũ (mũ cát, mũ phớt, mũ nồi, mũ len…) trong phòng họp; · Cắt tóc theo kiểu quái đản, kinh dị, khác người; nhuộm tóc màu chạy theo mốt của một số diễn viên điện ảnh, nghệ sĩ;
    • Đeo kính đổi màu trong phòng làm việc;
    1. b) Các công cụ giao tiếp phi ngôn ngữ trong văn hoá giao tiếp: – Bắt tay: là một nghi thức lễ tân, xã giao, một nét văn hoá trong giao tiếp. Cho dù mối quan hệ vốn có thân thiết đến đâu, sự gặp lại sau bao khó khăn trắc trở bao nhiêu đi nữa cũng không nên bộc lộ thái quá cảm xúc của mình (như la hét, mừng rú hay nhảy cẫng lên…) ở nơi công cộng hoặc ngoài đường phố. Bắt tay là một động tác xã giao thông thường khi người ta gặp nhau hoặc giã từ nhau. Việc bắt tay không hề đơn giản chút nào và điều đó

    phải được tôn trọng theo những quy ước sau:

    Khi bắt tay cần biểu thị tình cảm đúng mức: nam giới với nhau nên nắm cả bàn tay, siết chặt rồi giữ ít lâu

    • Giữa nam và nữ thì người nữ chỉ nên nắm hờ, nam không nên siết chặt hoặc nắm quá lâu làm bàn tay mềm yếu của người nữ bị đau, nhất là khi người nữ đeo nhiều nhẫn trên các ngón tay;
    • Cần bắt tay với tư thế bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, tư thế đứng thẳng người, chỉ chìa tay phải ra; người đứng ở chỗ cao không được chìa tay ra để bắt tay với người đứng ở chỗ thấp hơn (phụ nữ có thể ngồi để bắt tay);
    • Bắt bằng tay phải (trừ trường hợp không thể được). Không nên bắt bằng tay trái vì như thế là vô lễ. Nhất là đối với phụ nữ cử chỉ đó có ý nghĩa xấu xa, thể hiện tâm địa bất chính;
    • Chủ nhà chủ động giơ tay trước để bắt tay từng người khách. Riêng các khách với nhau không nên chủ động bắt tay với người chưa quen biết (cần làm thủ tục giới thiệu xong rồi mới bắt tay), người có cương vị cao hơn hoặc là nữ;
    • Khi phái nam gặp một đôi vợ chồng thì bắt tay người vợ trước, người chồng sau;
    • Khi các bà gặp khách nam giới mà họ tỏ lời chào trước, nếu là đối tượng đã quen lâu hoặc thân thì nên bắt tay đáp lễ, còn không thì chỉ cần nghiêng mình chào là đủ;
    • Thứ tự bắt tay: người đến trước thì bắt tay trước, người đến sau bắt sau. Đầu tiên phải bắt tay người đến trước mình, người cao tuổi, người có chức vụ, địa vị. Lưu ý rằng phải chờ người đáng kính đưa tay ra mình mới nhận bắt chứ không chìa tay ra trước. Nếu người trẻ tuổi là chủ nhân, có địa vị hoặc một người trọng tuổi là khách thân tình thì có thể cùng một lúc đưa tay ra cho nhau bắt. Cần đứng dậy bắt tay người có cương vị cao hơn. Tuy nhiên trong mọi trường hợp không nên tỏ thái độ khúm núm, cong gập người quá độ, dù rằng người đó có đáng kính trọng đến mức nào đi nữa;
    • Không dùng hai tay chụp bổ với nhau cùng một lúc mà chỉ cần siết chặt nhưng nhẹ, nồng ấm thân thiết là đủ; bắt tay quá lâu, lắc mạnh, lắc nhiều lần, nhất là còn kèm theo việc cười nói oang oang, huênh hoang, toe toét; bắt tay người nọ tréo người kia; vừa bắt tay vừa vỗ vai khách hay ngoảnh mặt đi; đưa cả hai tay để bắt tay hai người cùng một lúc;
    • Vừa bắt tay vừa ngậm thuốc lá, lại đút tay khác vào túi quần là điều tối kỵ. Phụ nữ có thể mang găng khi bắt tay, riêng đối với nam giới thì điều đó là không thể chấp nhận được.

    – Danh thiếp: Không ai biết rõ danh thiếp có từ bao giờ và do ai nghĩ ra. Từ thời cổ đại người Trung Quốc đã sử dụng danh thiếp trong giao tiếp với nhau. Bởi thế cụ Nguyễn Du mới viết:

    “…Thiếp danh đưa tới lầu hồng Hai bên cùng liếc, hai lòng cùng ưa.”

    (Truyện Kiều)

    Trao tặng danh thiếp cho nhau cũng là một nghệ thuật giao tiếp phi ngôn ngữ, một nét văn hoá đời thường. Bởi vì qua danh thiếp người ta có thể biết được phần nào

    về trình độ học thức, công việc và địa vị xã hội của nhau. Theo thông lệ của Pháp thì việc trao danh thiếp thuộc về khách. Còn ở Anh thì ngược lại, người chủ trao danh thiếp cho khách trước. Bạn có thể tham khảo một số quy tắc sau về cách trình bày và trao tặng danh thiếp cho nhau:

    • Danh thiếp được in hai mặt hay một mặt ? trình bày như thế nào ? nội dung gì ?
    • Danh thiếp được in bằng ngôn ngữ nào ? Nếu bạn sử dụng tiếng nước ngoài thì cũng nên có thêm phần tiếng Việt, bởi vì đó là niềm tự hào, lòng tự trọng của dân tộc Việt Nam với thế giới. Bạn hãy xem người Nhật Bản, Trung Quốc, phần lớn họ in danh thiếp bằng ngôn ngữ chính của họ chứ ít sử dụng tiếng nước ngoài;
    • Lần đầu tiên đến liên hệ công tác với một cơ quan nào đó, bạn đưa danh thiếp vào trước cho thư ký để xem người ta có đồng ý tiếp mình hay không; · Khi tặng quà cho người quen nên kèm theo danh thiếp vào đó;
    • Khi đến thăm người quen mà không gặp được, bạn có thể để lại danh thiếp và ghi mấy chữ báo cho họ biết là bạn có đến thăm;
    • Nếu gặp gỡ lần đầu tiên thì việc trao danh thiếp thuộc về người chủ. Người vị trí thấp hơn trao danh thiếp trước cho người có vị trí cao hơn. Nói chung là chúng ta nên dựa vào phép xã giao mang bản sắc dân tộc “Kính trên nhường dưới”;
    • Khi trao danh thiếp thì tuỳ theo địa vị người giao tiếp mà bạn đưa bằng một tay hoặc hai tay nhưng nhất thiết phải đưa đúng chiều và ngôn ngữ để người đối diện có thể đọc được;
    • Khi nhận danh thiếp bạn nên đọc qua ít phút để tôn trọng họ rồi nhẹ nhàng đút vào túi áo ngực, kẹp vào quyển sổ hay túi cho vào xắc tay của bạn. Tuyệt đối không nhận ngay rồi cho luôn vào túi quần, dù rằng đó là túi trước hay túi sau. Làm như vậy người đối diện sẽ cho bạn là một người mất lịch sự và không tôn trọng họ.

    Ngày nay, có một số người lại lạm dụng nó như để quảng cáo, tô vẽ bản thân của họ. Tránh in danh thiếp quá mỏng manh, loè loẹt, cầu kỳ, hoặc quá nhiều chức danh mà chẳng có liên quan, phù hợp gì với doanh nghiệp, tổ chức mà bạn đang làm việc.

    Thí dụ: Nguyễn Văn A.

    1. Vật lý

    Th.S Kinh tế

    TGĐ kiêm Chủ tịch HĐQT…

    Hoặc có những người thích lễ nghĩa cũng tự in danh thiếp cho bản thân nhưng chức danh lại đề rất tầm thường như: Nội trợ, nhân viên,… Về học vị, học hàm bạn có thể thêm vào trước tên nhưng phải đúng với ngôn ngữ đang sử dụng để tránh bị hiểu nhầm. Phần địa chỉ cơ quan, nhà riêng (nếu có thể) thì bạn nên in thêm phần tiếng Việt có đủ dấu để người đọc đỡ phải mất công đoán chữ.

    Thí dụ: B.S NGUYỄN VĂN A (sẽ bị hiểu thành Bác sĩ A chứ không phải là Cử nhân Khoa học A) hoặc M.A CAO THỊ HUỆ (bị hiểu thành Ma Cao Thị Huệ chứ không phải là Thạc sĩ Văn chương Cao Thị Huệ);

    Home: 15 Hang Giay Str., Hoan Kiem Dist., Hanoi (Đố bạn đoán được đó là phố Hàng Giầy hay phố Hàng Giấy ? mặc dù cả hai phố này đều thuộc quận Hoàn Kiếm).

    – Ôm hôn hữu nghị: trong giao tiếp quốc tế cũng như đón khách nước ngoài, chúc mừng nhau nhân sự kiện trọng đại… có một nghi thức xã giao theo truyền thống châu Âu để biểu thị tình cảm hữu nghị là ôm hôn hữu nghị. Có trường hợp hai bên không chỉ hôn nhau mà còn có một số động tác liên hoàn, tức là: bắt tay – ôm nhau – hôn nhau (áp má trái, má phải vào nhau) – một hoặc hai tay vỗ nhẹ vào lưng nhau.

    – Cử chỉ, điệu bộ, nét mặt:

    Dáng điệu, cử chỉ, nét mặt là một phương tiện giao tiếp quan trọng mang tính phi ngôn ngữ. Nhìn chung đối với cán bộ, công chức về căn bản phải có các yếu tố sau:

    • Điệu bộ chững chạc, khoan thai;
    • Đi đứng thẳng người (tránh đi chữ bát ), ngay ngắn, đàng hoàng; · Không liếc ngang liếc dọc, nhảy lò cò, “đá thúng đụng nia” trên đường đi; · Không thọc tay vào túi quần;
    • Không ngồi rung đùi, nhổ râu khi tiếp khách;
    • Nên nhường bước người già, phụ nữ. Khi xuống cầu thang thì nên nhường cho

    người lớn tuổi hơn, có địa vị, chức vụ xuống trước nhưng khi lên cầu thang thì phải để phái nữ đi sau. Bởi vì có thể phái nữ mặc váy hoặc jupe, họ sẽ cho rằng bạn là người mất lịch sự, thiếu văn hoá nếu bạn đi sau họ để soi mói, nhòm ngó.

    Tư thế ngồi của người giao tiếp, có thể nói lên rất nhiều về bản thân con người, cũng như anh ta đang nghĩ gì, muốn gì vào thời điểm đó. Những người đang cảm thấy mình đang bị kích thích, bị đe doạ tấn công, có bản tính rụt rè… sẽ ngồi hai chân bắt chéo vào nhau theo lối cổ điển (vắt chân chữ ngũ ) và có thể kèm theo hai tay khoanh trước ngực.

    – Tặng quà:

    Tặng quà không hẳn chỉ là những vấn đề tuân theo những quy ước của phép lịch sự. Một hình ảnh có giá trị bằng cả ngàn lời nói, một đồ vật có giá trị không kém gì một bài diễn văn. Quà tặng và đồ lưu niệm là những thông điệp cuối cùng mà khách mời sẽ mang về nhà. Tặng quà là một thông lệ trong tất cả các nền văn minh của mọi thời đại. Có câu ngạn ngữ nói rằng: “Quà tặng duy trì tình bạn” đúng với cả đời sống lẫn đời tư. Bạn cần phải phân biệt giữa quà tặng với đồ lưu niệm như sau:

    • Đồ lưu niệm là đồ vật dùng để tặng hay lưu lại kỷ niệm cho khách nhằm giúp họ gợi nhớ đến người hay doanh nghiệp tặng và những sự kiện có liên quan. Đó là những đồ vật thông thường ít có giá trị kinh tế, được sản xuất hàng loạt song có những đặc trưng gợi nhớ đến những gì có liên quan đến chuyến viếng thăm của khách.
    • Còn quà tặng là đồ vật có giá trị dùng để tặng hay làm lưu niệm cho khách. Nếu như đồ lưu niệm được phát đại trà thì quà tặng lại mang tính độc nhất, được dành riêng cho một số cá nhân nhất định. Trong một số trường hợp quà tặng chỉ dành riêng cho Trưởng đoàn. Việc tặng đồ lưu niệm, tặng quà cũng cần được trao tặng theo những quy ước nhất định như sau:

    1) Tặng đúng mục đích: quà tặng đảm bảo duy trì mối quan hệ lâu dài, gợi nhớ về một chuyến đi, những con người đã được tiếp xúc;

    2) Đúng thời điểm: nên tặng quà vào lúc bắt đầu chuyến viếng thăm, tốt nhất là bằng cách kín đáo gửi đến nơi ở của khách (ngược lại khách cũng sẽ làm như vậy đối với chủ nhà);

    3) Không phạm vào những kiêng kỵ truyền thống của người được tặng như: người Hàn Quốc không tặng nhau dao, kéo, người Nhật không thích được tặng trà, vật sắc nhọn, người Đức không ưa được tặng rượu, người Venezuela không dùng đồ vật có hình vỏ ốc làm quà tặng…

    4) Tôn trọng những nghi thức truyền thống: người châu Âu đa phần không đóng gói quà tặng, còn người Nhật lại coi việc đóng gói và nghi thức trao quà là nghệ thuật văn hoá giao tiếp tinh tế và nhiều ý nghĩa.

    2. Nghi thức lời nói nơi công sở:

    Ngôn ngữ là công cụ thể hiện văn hoá giao tiếp quan trọng nhất và cũng là thành tựu vĩ đại nhất của nền văn minh nhân loại. Đó cũng là “cơ chế tín hiệu” của văn hoá giao tiếp mà phụ thuộc vào đó con người kiến tạo những lời nói để thực hiện các mục tiêu giao tiếp. Song việc giao tiếp

    bằng lời nói còn phụ thuộc rất nhiều vào những hoàn cảnh, điều kiện, mục tiêu và các tính chất khác nhau của giao tiếp. Nghi thức lời nói cũng là một bộ phận cấu thành lên “Văn hoá doanh nghiệp”.

    • Lời nói nơi công sở phải đảm bảo có tính chính xác, tránh đưa tin đồn nhảm, thất thiệt, mơ hồ, hoặc không có thực;
    • Lời nói nơi công sở cần đảm bảo tính trang trọng vì nó đại diện cho biểu tượng văn hoá của doanh nghiệp đó. Trong giao tiếp giữa lãnh đạo với nhân viên, giữa các đồng nghiệp với nhau hoặc với khách hàng phải có thưa gửi đàng hoàng, có chủ ngữ rõ ràng, những câu nói xã giao như: cám ơn, cảm tạ, xin lỗi, làm ơn…

    Phái nữ luôn luôn đòi hỏi ở phái nam một sự ga-lăng, lịch lãm. Thử hỏi rằng nếu bạn đi trước và mở cửa ra vào hoặc khi bạn bấm nút giữ cho cửa thang máy mở để phái nữ đi chậm được vào bên trong thang máy thì có bao nhiêu người nói được lời cảm ơn bạn ? Thật vô lý và không công bằng vì họ cho rằng đó là việc đương nhiên mà bạn phải làm. Với những người như thế thì lần sau bạn không cần phải tỏ lịch sự đối với họ nữa. Nếu bạn bị chỉ trích là không lịch sự thì có thể trả lời “Lịch sự với người có văn hoá”.

    Về cách thức xưng hô trong lời nói nơi công sở tuy yêu cầu đảm bảo tính khách quan, trang trọng, song cũng tuỳ từng hoàn cảnh để chọn lựa cho phù hợp:

    • Đối với những người cùng cơ quan: bạn không cần thiết phải phân vân về việc chào hỏi một số người mà bạn không biết gì về cá nhân họ – Đó là những người thuộc phòng, ban khác cùng đi chung thang máy với bạn, bảo vệ cơ quan, người điều khiển thang máy hoặc giám đốc công ty. Điều đó không có nghĩa là bạn cố bắt chuyện với với giám đốc công ty;
    • Trong quan hệ giữa các đồng nghiệp: không nên dùng cách xưng hô kiểu “chú cháu” trong khi đang thi hành công việc. Tuỳ theo hoàn cảnh, tình huống có thể sử dụng các từ khác thay thế như: ông, bà, ngài…
    • Trong những trường hợp nhất định: ngày nay, hầu hết ở các văn phòng, việc gọi tên riêng với nhau trở thành tập quán bình thường. Tuy nhiên bạn có thể dùng những từ xưng hô lịch sự như: ông, bà, bác, anh, chị, tiến sĩ… nhưng tuyệt đối không dùng những từ như: tao, mày, thằng, chú (em), con ấy… Bạn cứ theo những cái tập quán đã được đặt ra trong doanh nghiệp bạn, hãy hỏi đồng nghiệp nếu bạn là người mới đến và không biết rõ nhưng cần nhớ các nguyên tắc sau:

    + Xưng hô đối với lãnh đạo: bạn không nên gọi giám đốc, người giám sát bằng tên riêng trừ phi họ cho phép bạn gọi như thế. Bạn nên dùng thêm từ xưng hô để gọi họ khi có khách (Giám đốc và người cấp trên cũng sẽ có thái độ nhã nhặn giống như thế với bạn.);

    + Xưng hô với những người lớn tuổi hơn: việc những người lớn tuổi hơn thích người kém tuổi hơn gọi họ bằng chức vụ là chuyện bình thường. Nếu những người khác trong văn phòng gọi họ bằng tên riêng và bạn là người mới đến thì tốt nhất hãy đợi trước khi bạn có tư cách gọi thân mật như thế.

    Nói chung, nghi thức lời nói nơi công sở là một vấn đề mang tính thông lệ, quy ước được tạo lập và khẳng định bởi những chuẩn mực truyền thống dân tộc và tập quán. Cán bộ nhân viên trong doanh nghiệp phải rèn luyện liên tục, đảm bảo những nguyên tắc bất thành văn về văn minh nơi công sở và coi đó như là một phần không thể thiếu trong những nền tảng để xây dựng một nền văn hoá doanh nghiệp hiện đại.

    3. Giao tiếp với nhân viên mới:

    Nhân viên mới khi về làm việc ở doanh nghiệp bạn, có thể trước đây môi trường văn hoá cũ của họ khác biệt với doanh nghiệp bạn thì bạn cũng chớ nên tròn xoe đôi mắt để dò xét, hỏi han khiến cho họ cảm thấy khó xử và trở nên bị động, thu mình lại. Nhân viên mới rất trân trọng nếu được đồng nghiệp đón nhận thân thiện và giúp đỡ họ làm quen với các điều kiện và môi trường làm việc mới. Điều này cũng bảo đảm rằng nhân viên đó sẽ nhanh chóng quen dần với công việc hơn, họ sẽ cảm thấy quý trọng doanh nghiệp và muốn gắn bó làm việc lâu dài cho doanh nghiệp.

    Doanh nghiệp bạn nên có chương trình định hướng cho nhân viên mới nhưng không có nghĩa là không cần đến tình thân thiện cá nhân và sự giúp đỡ của những người đồng nghiệp. Doanh nghiệp (cụ thể là phòng Tổ chức-Hành chính hay phòng Nhân sự) phải giới thiệu người mới đến với các nhân viên trong văn phòng và các phòng ban khác. Việc làm này sẽ giúp cho nhân viên biết được tên họ và thấy mặt để nhớ hơn và có một ý tưởng tổng quát, mối liên hệ công việc của mọi người.

    Nhân viên mới về phòng, ban nào thì lãnh đạo phòng ban đó có thể mời họ cùng ăn trưa với những người khác trong phòng hoặc có những buổi giao lưu, văn nghệ… Đây là cách hay nhất giúp cho người mới đến có cảm giác như là ở nhà và là thành viên của tập thể. Tận dụng lúc đó để bạn nhận biết mối quan tâm của nhân viên mới đối với những vấn đề có liên quan đến công việc. Trong 1-2 tuần đầu, hàng ngày, bạn hãy tổ chức một một cuộc họp nhỏ trong phòng khoảng 10-15 phút để bàn bạc về lề thói làm việc và những dự án đặc biệt và giải đáp bất kỳ câu hỏi nào mà nhân viên mới đến nêu ra. Sau giai đoạn đầu tiên này, hàng tuần bạn có thể tổ chức các buổi họp đến khi nào nhân viên mới hoàn toàn làm quen với công việc. Những buổi họp ngắn ngủi như vậy sẽ giúp xoá đi những bối rối, ngỡ ngàng, mặc cảm và tiết kiệm được thời gian cho nhân viên mới làm quen với công việc, các thủ tục văn phòng, qua đó làm giảm đi những sai sót trong công việc về sau.

    Nếu bạn là nhân viên mới đến nên tìm hiểu xem tinh thần văn hoá của doanh nghiệp bạn ở mức độ nào. Một số quy tắc sau sẽ giúp bạn quen dần với công việc mới: · Không nên là người chỉ trích: thật là thô lỗ và vô ích nếu có tác động người khác bằng cách nói với họ là nhân viên trước đây đã giải quyết vấn đề đó hay hơn như thế nào hoặc chỉ ra những sai sót của họ khi thực hiện công việc. Một khi đã thiết lập mối liên hệ làm việc với các nhân viên khác và với giám đốc thì những đề nghị của bạn có cơ hội được chấp nhận nhiều hơn là bị từ chối;

    • Không nên thân thiện quá sớm: trong những ngày đầu làm việc bạn nên có sự chừng mực. Hãy tạo cơ hội cho những người chung cơ quan có dịp làm quen trước. Bạn không nên tránh cho người khác nghĩ rằng bạn là người huênh hoang, già dặn mà còn tránh việc tạo bè phái mà sau này bạn sẽ phải hối hận;
    • Biết phải làm gì khi bạn được mời dùng cơm trưa: trong ngày làm việc đầu tiên, có thể một số người sẽ mời bạn dùng cơm trưa với họ. Thường thì người ta muốn bạn tự trả tiền cơm trưa của mình mặc dù có mặt của cấp trên. Nếu cấp trên chỉ mời một mình bạn dùng cơm trưa thì thường họ sẽ trả tiền cho bạn.

     

    VĂN HOÁ GIAO TIẾP ĐIỆN THOẠI NƠI CÔNG SỞ

    I/ Văn hoá giao tiếp qua điện thoại:

    1. Tổng quan về việc nói chuyện qua điện thoại:

    Nói chuyện qua điện thoại thực chất là một cuộc giao tiếp hoặc tiếp khách gián tiếp. Người gọi là khách, người nghe là người tiếp khách. Vì vậy, về mặt thái độ, lời nói, giọng nói cũng phải thật hoà nhã, lịch thiệp như là nói chuyện trực tiếp. Thời gian nói chuyện điện thoại không cho phép kéo dài như trong tiếp khách trực tiếp.. Việc diễn đạt, trình bày một nội dung hay vấn đề nào đó phải hết sức ngắn gọn, rõ ràng, dễ hiểu. Tính lịch sự, lễ phép trong nói chuyện qua điện thoại thường được thể hiện qua việc sử dụng các từ ngữ lặp đi lặp lại thường xuyên mà không thể nào quên được là:

    • Chào hỏi;
    • Vâng, dạ, dạ thưa… · Xin lỗi;
    • Cảm ơn.

    Người ta cho rằng chi phí của một doanh nghiệp để có khách hàng mới nhiều gấp 8 lần để giữ khách hàng cũ và sử dụng tốt điện thoại sẽ giúp giữ được khách hàng trung thành với mình. Mỗi năm có khoảng hơn 10 triệu người giới thiệu cho người khác về những công ty mà họ từng giao dịch tốt qua điện thoại. Nhưng không khéo sử dụng thì điện thoại trở thành thứ phiền toái và người ta phải lẩn trốn không muốn nghe khi bị tiếp thị, quảng cáo tới quá mức.

    Người sử dụng ĐT tốt + Thái độ: ĐT là tiện dụng; + Xử sự: hiệu quả, nhã nhặn; + Kỹ thuật: biết mình muốn gì.           Người sử dụng ĐT tồi + Thái độ: ĐT là bất tiện; + Xử sự: tuỳ tiện;

    + Kỹ thuật: không biết mình muốn

    gì, im lặng đáng sợ.

    2. Kỹ thuật giao tiếp điện thoại nơi công sở:

    1. a) Nhận điện thoại: Khi có chuông điện thoại rung thì bạn nên:

    + Để điện thoại reo không quá 3 lần;

    + Nói: xin chào và tự giới thiệu mình; + Hỏi: tôi có thể giúp được gì ? + Tập trung vào cuộc gọi; + Đề nghị gọi lại nếu cần;

    + Chuẩn bị sẵn bút bên tay phải để ghi chép vào sổ, phiếu chuyên dụng; + Ghi lại điện thoại người gọi, thông tin cần thiết;

    + Không ngắt lời người gọi nếu…

    1. b) Nghe điện thoại:

    Có một số nguyên tắc về kỹ năng nghe điện thoại một cách lịch sự để giúp bạn tránh thất bại trong giao tiếp như sau:

    + Không nên dí sát ống nói vào miệng bạn mà giữ cách xa khoảng 10 cm để tránh cho người gọi nghe thấy rõ hơi thở của bạn vọng vào;

    + Không biểu lộ sự bực bội mà thay vào đó hãy nín thở rồi nhẩm đếm từ 1-10; + Gác mọi công việc khác mà bạn đang làm dở hoặc quay lưng lại với những gì gây mất tập trung rồi nhìn vào khoảng giữa hay vật gì đó để tập trung trả lời; + Lắng nghe cách ngắt câu và hơi thở của người gọi.

    • Nguyên tắc chọn giọng nói:

    + Không ngả người ra ghế tựa, ghế xoay; + Nói rõ ràng và nhấn mạnh vào ý chính; + Nếu cần quả quyết thì hãy đứng dậy; + Nếu không nghe rõ hãy nói thẳng;

    + Hỏi lại ngay khi có nghi ngờ, nhắc lại những gì quan trọng; + Giảm nhịp độ nói để tăng thông tin: để hiểu dễ và rõ hơn, để nhớ ý chính và ghi chép lại vấn đề cần quan tâm;

    + Chọn lời nói thích hợp, hoà nhã (thí dụ: Xin anh giữ máy để tôi đi gọi giúp anh; Xin lỗi đã làm anh phải đợi lâu; Không có gì; Cảm ơn…) + Không nên đặt các câu hỏi dẫn dắt hoặc chêm vào như: Tôi cho rằng…, Ý ông là…

    • Nguyên tắc điều chỉnh theo người gọi:

    + Người gọi đang vội nên cần ngắn gọn; + Người thích tán gẫu muốn bạn dành thời gian; + Người tuyệt vọng cần được sự cảm thông; + Người phàn nàn muốn được lắng nghe và thấu hiểu; + Người cần dịch vụ muốn được hướng dẫn và lời khuyên.

    • Nếu bạn làm được như vậy thì người gọi sẽ hài lòng vì:

    + Được đối xử như một cá nhân;

    + Được lắng nghe và chia sẻ;

    + Được hiểu và thông cảm;

    + Được coi là quan trọng;

    + Được giải quyết nhanh chóng;

    + Được trao đổi có trách nhiệm;

    + Được trả lời kết quả mong muốn;

    + Được gọi lại để khẳng định;

    + Được nhiều hơn cả mong đợi.

    • Nếu bạn nghe điện thoại hộ người khác:

    + Tên người gọi, tên cơ quan, địa chỉ (nếu có);

    + Muốn gặp ai;

    + Cần nhắn tin hay liên hệ việc gì, chi tiết việc nhắn tin, liên hệ;

    + Khi nào thì gọi lại;

    + Muốn gọi lại bằng cách nào;

    + Nhắc lại cho người gọi để xác nhận.

    • Nguyên tắc nghe khiếu nại:

    + Không nói những câu đại loại như: Tôi không biết; tôi không thể; bạn cần phải…; đợi tí xíu nhé !; A lô! Tôi đang bận; tôi không thấy có vấn đề gì cả; mai ông gọi lại nhé; không ai biết đâu; tôi mới chỉ làm ở đây; ngày mai tôi nghỉ phép; đấy không phải là việc của tôi…

    + Không biện hộ, cãi cùn đến cùng;

    + Không hứa hẹn suông;

    + Không đổ lỗi cho họ không biết cách sử dụng;

    + Hãy thực hiện 4 nền tảng sau: Thái độ cầu thị; ghi nhận và thông cảm; thảo thuận cùng giải quyết; quan tâm, thực tế.

    • Nguyên tắc nghe người phản đối:

    + Đừng cãi vã tranh luận hơn thua với họ;

    + Cứ để cho họ trút hết cơn giận;

    + Đừng ngắt lời họ đang nói;

    + Thực hiện 4 nền tảng.

    • Nguyên tắc nghe người thô lỗ:

    + Hãy coi như là chuyện nhỏ;

    + Đừng trả đũa họ;

    + Đừng giải quyết cá nhân;

    + Thực hiện 4 nền tảng.

    Tham khảo một số câu chuyện qua điện thoại nơi công sở:

    – Người nghe (NN): A lô! Ai gọi đấy ?

    – Người gọi (NG): Dạ, tôi ở công ty X đây! – NN: Anh (chị) cần gặp ai ?

    – NG: Xin lỗi, cho tôi hỏi đây có phải là công ty Y không ? – NN: Đúng rồi !

    – NG: Làm ơn cho tôi nói chuyện với anh Hùng. – NN: Anh chờ máy nhé !

    Rõ ràng là cuộc đối thoại trên cần phải mất đến 7 câu hỏi-đáp. Ta có thể rút ngắn xuống chỉ còn 3 câu như sau:

    – NN: A lô! công ty Y xin nghe (người gọi không phải hỏi lại để xác minh) – NG: Chị làm ơn cho tôi nói chuyện với anh Hùng.

    – NN: Dạ, anh chờ máy nhé !

    Nói rõ như vậy thì người gọi biết được họ đã gọi đúng hay nhầm số máy. Nếu đúng thì không cần phải hỏi cơ quan nào, nếu không đúng thì xin lỗi đã gọi nhầm và đặt ống nghe xuống. Tuy nhiên có một số ít người lại quên mất câu xin lỗi vì gọi nhầm. Cũng như tiếp khách trực tiếp, trong khi nói chuyện điện thoại cần tránh lối trả lời cộc lốc, thiếu văn hoá. Thí dụ như trường hợp sau:

    – NN: A lô! Ai gọi đấy ?

    – NG: A lô, tôi ở công ty X, chị làm ơn cho tôi nói chuyện với anh Hùng. – NN: Anh ấy đang họp.

    NG: Chị làm ơn nói dùm là tôi đang có việc gấp cần gặp một chút thôi. – NN: Tôi đã nói là anh ấy đang bận họp không thể gọi được, lúc khác anh gọi

    lại nhé!

    – NG: Vâng! Chị có thể cho tôi biết số máy di động của anh Hùng được không ? – NN: Anh tên là gì ? từ đâu gọi đến ?

    – NG: Tôi là …

    – NN: Anh Hùng không có di động. – NG: Thế số điện thoại nhà riêng ?

    – NN: Anh chờ một lát nhé ! (bỏ máy đấy để lục tìm danh bạ điện thoại.)

    Rõ ràng người gọi điện thoại sau vài phút đàm thoại không thể có ấn tượng tốt đối với người nghe. Đã không gặp được ông Hùng mà lại còn phải nghe trả lời cộc lốc, thiếu văn hoá, tế nhị và lễ độ. Nhưng nếu chỉ cần thay đổi cách nói giữa hai người một chút thì cuộc đàm thoại trên sẽ trở thành thân mật và giữ được ấn tượng tốt đẹp:

    – NN: A lô! Công ty Y xin nghe!

    – NG: A lô! Tôi ở công ty X, chị làm ơn cho tôi nói chuyện với anh Hùng. – NN: Xin anh thông cảm, anh Hùng đang bận họp.

    – NG: Chị làm ơn nói dùm, tôi là Nam, Trưởng phòng Kế hoạch công ty X có việc

    gấp muốn gặp anh ấy một phút thôi.

    – NN: Dạ, vậy thì anh xin chờ một chút, để tôi vào báo lại. – NG: Vâng cám ơn chị, tôi sẽ đợi máy.

    – NN: A lô, anh Nam đấy à! Anh Hùng nói là 15 phút sẽ gọi lại cho anh. – NG: Vâng, cám ơn chị nhiều, chào chị.

    – NN: Không có gì, chào anh Nam.

    Thực ra không cần thiết phải phân biệt giữa “người gọi” và “người nghe” điện thoại, vì khái niệm đó chỉ khác nhau về thời điểm rất nhỏ để xem ai là người chủ động, bị động. Còn trong quá trình nói chuyện thì vai trò của hai bên là như nhau: người gọi đồng thời cũng là người nghe vì phải trả lời; người nghe cũng là người gọi vì cũng phải chủ động đặt ra câu hỏi để phía đầu dây bên kia trả lời lại. Thí dụ sau đây là một kiểu nói chuyện điện thoại thể hiện tính mệnh lệnh, hách dịch:

    – NN: A lô! Công ty Y xin nghe !

    – NG: Có phải công ty Y đó không ? – NN: Dạ phải, xin lỗi anh muốn gặp ai ? – NG: Chị gọi ông Hùng đến cho tôi gặp. – NN: Thưa, anh Hùng đang bận họp. – NG: Thế bao giờ thì ông Hùng họp xong ? – NN: Thưa anh, tôi cũng không biết lúc nào thì họp xong. – NG: Thế ai có thể thay ông Hùng nói chuyện với tôi ?

    – NN: Xin lỗi, anh vui lòng cho biết quý danh và anh định nói về việc gì để tôi tìm

    người trả lời cho anh ?

    – NG: Không cần, chị cứ gọi người nào chịu trách nhiệm xử lý công việc đến đây

    thì khắc biết.

    – NN: Thưa anh, ở đây ai cũng có trách nhiệm với công việc cả, tôi không biết

    phải gọi ai đến gặp anh bây giờ cả, xin anh thông cảm !

    – NG: Cái công ty này quái quỷ thật ! (dập máy xuống)

    1. c) Gọi điện thoại:

    Người ta cho rằng cứ 4 cuộc gọi công việc thì có đến 3 cuộc không đạt được mục đích trong lần đầu tiên. Do vậy bạn cần phải chuẩn bị như sau:

    + Dự định gọi điện thoại cho ai;

    + Ghi sẵn số điện thoại cần gọi nếu bạn không nhớ rõ;

    + Dự tính thời gian gọi và nói về vấn đề gì;

    + Ghi chép sự phản hồi.

    Khi nói chuyện điện thoại, bạn chỉ có mỗi cái tai để hướng tới, vì thế mọi điều bạn muốn nói cần phải được phát âm thành lời. Vũ khí duy nhất của bạn chính là giọng nói. 5 quy tắc sau đây sẽ giúp bạn có được những cuộc gọi thành công:

    • Quy tắc 1: Trong mọi trường hợp, hãy bắt đầu bằng lời chào. Không hiểu vì sao nhiều người lại quên mất điều này, cứ gặp được người cần nói là vào chủ đề luôn. Bạn có bao giờ nhận thấy rằng hình như giọng nói của người nghe có gì đó không vui lắm ? Khi cần xin gặp ai đó, người ta lại quên cả chào người nhắc hộ ống nghe;
    • Quy tắc 2: Sau lời chào nhất định bạn phải tự giới thiệu bản thân mình. Kể cả khi bạn tin rằng người kia có thể nhận ra giọng nói của bạn thì cũng nên giới thiệu về mình. Đừng “tra tấn” người nghe bằng những câu kiểu như: “Thế nào, có biết ai không ? Tớ đây mà ! Không nhận ra tớ à ?”;
    • Quy tắc 3: Không hiểu sao rất nhiều người thường ngại hỏi xem ai đang cầm máy nói chuyện với mình. Thí dụ: “A lô! Anh Hùng đấy à ? Không phải ạ! Thế anh Nam à ? Cũng không phải ạ !…”. Những câu hỏi như thế làm người đang nghe rất khó chịu, mặc dù người nghe không nói tên của họ để chấm dứt cái kiểu đoán mò tên mãi. Nếu bạn gọi đến công sở, cô nhân viên lễ tân nhấc máy nhưng không nói cho bạn biết là công ty nào đang nghe thì bạn phải nhất định hỏi cho chắc chắn rồi mới mới bắt tay vào công việc. Như vậy, đỡ mất thời gian cho cả bạn lẫn người nghe, nếu bạn gọi nhầm số máy;
    • Quy tắc 4: Nếu bạn định gọi điện thoại đến để trình bày rõ ràng về một đề án, một ý tưởng nào đó, thì bạn nên hỏi xem người nghe có thời gian không. Có thể người nghe đang bận một công việc khác hoặc đang chuẩn bị cho một cuộc họp. Cũng có thể vì phép lịch sự mà họ không nói cho bạn biết điều đó. Nhưng bạn cần hiểu rằng trong trường hợp đó, cuộc nói chuyện của bạn không mang lại kết quả gì;
    • Quy tắc 5: Mặc dù người nghe không thể nhìn thấy bạn, nhưng bạn cố gắng cười vang lên trong điện thoại. Hãy để người nghe cảm thấy được ngữ điệu dễ thương của giọng bạn, sự ấm áp, thân thiện của bạn. Trong nhiều trường hợp, bạn được đánh giá không phải bởi những gì bạn nói mà bằng cái cách bạn nói như thế nào.

    Một số điểm cần lưu ý khi nói chuyện qua điện thoại:

    • Khi bạn gọi điện thoại đi quốc tế, nếu cuộc gọi hỏng có thể thực hiện lại, lưu ý đến múi giờ nơi gọi đến, giá cước và thời gian giảm giá;
    • Nói chuyện điện thoại không nên kéo dài, nhất là điện thoại đường dài. Có tín hiệu đường dài là phải nói ngay những thông tin cần nói;
    • Tránh “buôn dưa lê”, “nấu cháo điện thoại” hoặc gọi điện thoại đường dài, vào máy di động bừa bãi như “điện thoại chùa”. Vô tình bạn đã đánh mất hình ảnh của mình trong con mắt của “Sếp” và các đồng nghiệp. Bạn nên biết rằng chi phí điện thoại sẽ được tính vào giá thành sản phẩm. Như thế doanh thu và lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ bị giảm đi, tiền thưởng, phúc lợi hay ngân sách dành cho đào tạo nhân viên, tái đầu tư sẽ bị cắt giảm mà bạn cũng phải chia sẻ gánh nặng đó cùng với doanh nghiệp;
    • Không nên dập máy xuống khi người gọi đang nói với bạn (dù rằng bạn không muốn nghe nữa). Nếu thấy cần thì xin lỗi người gọi rồi ngắt máy;
    • Khi bạn gọi đi, không nên nóng vội bỏ máy xuống khi chuông reo dược 3 hồi. Hãy kiên nhẫn chờ tới hồi thứ 7 hoặc thứ 8 rồi mới đặt máy xuống;
    • Khi kết thúc cuộc nói chuyện đừng nên quên lời chào như: “Chào tạm biệt; chào anh; cảm ơn; không có chi…” tuỳ theo câu nói của đầy dây bên kia và đặt máy xuống sau khi bạn nghe thấy tiếng dập máy ở đầu dây bên kia.

    3. Văn hoá điện thoại di động:

    Ngày nay, điện thoại di động (ĐTDĐ) đã trở thành thứ phương tiện liên lạc rất phổ biến trong các công sở, cuộc sống đời thường. Tuy nhiên, có một số người đã lạm dụng chức năng của ĐTDĐ để hợm hĩnh, khoe của. Các nguyên tắc sau sẽ giúp bạn trở thành người lịch sự, có văn hoá khi sử dụng thiết bị liên lạc thông tin này:

    • Không nên đặt những bản nhạc chuông chói tai, kinh dị;
    • Không được chụp ảnh người khác khi chưa được sự đồng ý của họ. Một số người thấy con gái xinh đẹp đi ngoài đường là giơ máy ĐTDĐ có chức năng quay phim, chụp ảnh lên để chụp họ rồi phát tán, truyền cho nhau xem;
    • Nếu bạn phải nghe, gọi ĐTDĐ ở những nơi công cộng như: trên xe bus, trong cơ quan, trong thang máy… bạn nên nói vừa phải, đủ nghe, tránh nói oang oang lên. Những người xung quanh sẽ rất khó chịu khi nghe thấy bạn nói quá lớn tiếng làm cắt ngang câu chuyện của họ;
    • Khi đến làm việc với các cơ quan, nhất là chính quyền, các cơ quan ngoại giao, các tổ chức nước ngoài… bạn phải để ĐTDĐ sang chế độ rung kẻo bạn sẽ bị mắng té tát vì để điện thoại đổ chuông trong phòng làm việc của họ.
    • Trong các hội nghị, cuộc họp, lớp học… hầu hết họ đều nhắc mọi người tắt chuông ĐTDĐ. Tuy nhiên, một số người vẫn “cố tình quên”, để rồi lại ngồi thụp xuống hoặc cúi gục đầu xuống bàn nghe ĐTDĐ. Việc này sẽ gây sự mất tập trung cho cả người nói lẫn người nghe xung quanh. Bạn hãy chuyển ĐTDĐ sang chế độ rung và khi có cuộc gọi đến hãy đứng dậy đi ra ngoài hành lang, ban công để nghe. Bạn phải tập sao cho động tác đó trở thành thói quen in sâu trong tiềm thức của bạn.

    + Mà nên nói: “Ông Giám đốc hiện không có ở văn phòng, tôi có thể báo lại để ông Giám đốc gọi điện thoại cho ông được không ?” hoặc “Ông Giám đốc hiện không có ở văn phòng, ông có điều gì cần nhắn lại không ?”

    • Khi người gọi không chịu cho biết tên và lý do gọi đến. Trong trường hợp này thư ký phải cố gắng hỏi cho đủ chi tiết nhưng thật khéo léo tránh để người gọi phật ý:

    Thí dụ: “Ông Giám đốc đang bận họp, nếu ông cho biết quý danh và số điện thoại, tôi sẽ báo để Giám đốc gọi lại cho ông sau khi cuộc họp kết thúc.”. Hoặc “Ông Giám đốc không có mặt tại đây, ông có điều gì cần nhắn lại không? Xin ông vui lòng cho biết quý danh để tôi thưa lại với Giám đốc.” hay “Ông Giám đốc đang bận họp, xin ông cho biết quý danh và liệu tôi có thể giúp được gì ?”.

    • Trường hợp phải ghi lại lời nhắn: Thư ký phải luôn đặt tập phiếu nhắn tin và bút viết dự phòng bên cạnh điện thoại để ghi lại những điều cần thiết khi trả lời điện thoại. Khi trở về, lãnh đạo có thể xem và trả lời người gọi. Thư ký phải ghi lại chính xác và đầy đủ để lãnh đạo nắm được nội dung và giải quyết một cách nhanh chóng, thuận tiện. Trong lúc ghi chép, nếu chỗ nào chưa rõ phải hỏi lại ngay. Đối với các vấn đề quan trọng phải đọc lại cho người nhắn để xác nhận lại;
    • Trường hợp chuyển số máy:

    + Người gọi có thể gọi nhầm số điện thoại của phòng, ban khác trong cùng cơ quan;

    + Người gọi muốn hỏi một việc gì đó liên quan đến cơ quan mình, nhưng lại không biết rõ chức năng, nhiệm vụ của các phòng hoặc những điều nào đó mà người khác có thể trả lời rõ ràng hơn. Khi chuyển số máy, thư ký phải giải thích và phải biết chắc chắn là chuyển đúng số máy cho người am hiểu và có trách nhiệm giải quyết được vấn đề đó:

    Thí dụ: Rất tiếc là chị đã gọi nhầm số, để giải quyết chế độ trợ cấp thai sản, chị hãy gọi theo số 8XXXXXX số máy lẻ: 15, gặp chị Trang, Tổ trưởng Tổ chế độ – Chính sách của phòng Tổ chức-Hành chính để được hướng dẫn giải quyết.

    • Chấm dứt cuộc gọi: thư ký phải biết chấm dứt các cuộc nói chuyện điện thoại một cách lịch thiệp và thân mật. Khi người gọi muốn kết thúc, thư ký phải cám ơn người gọi trước khi có lời chào.

    Thí dụ: “Cám ơn anh đã gọi điện thoại cho chúng tôi, xin chào anh!”. Hoặc “Cảm ơn ông đã có lời nhắn, tôi sẽ báo lại với Giám đốc ngay khi ông có mặt ở công ty, xin chào ông!”, hay “Cảm ơn ông đã cho chúng tôi biết đầy đủ tin tức cần thiết, tôi sẽ báo lại với ông Giám đốc và sẽ gọi điện thoại trả lời ông.”. + Sau khi đã nói lời “Chào anh” hoặc “Xin chào ông”, thư ký đặt ống nghe xuống một cách nhẹ nhàng. Nếu thư ký là người nhận thì phải chờ cho người gọi đặt ống nghe xuống trước rồi mới mình đặt sau. Làm như vậy để tỏ ra mình quan tâm đến cuộc nói chuyện này, để lại cho người nghe ấn tượng tốt về công ty, nét đẹp văn hoá của bản thân người thư ký.

    3. Gọi điện thoại:

    Sử dụng danh bạ điện thoại: Mỗi thư ký phải có một cuốn danh bạ điện thoại đặt bên cạnh máy điện thoại và biết cách tra danh bạ. Ngoài cuốn danh bạ điện thoại, thư ký phải có sổ ghi chép số điện thoại của các cơ quan đối tác, khách hàng, cán bộ nhân viên, cơ quan chính quyền, các tổ chức nước ngoài, đại sứ quán… Khi có sự thay đổi số điện thoại của cơ quan, cá nhân đơn vị đó thì phải bổ sung kịp thời;

    Các thao tác khi gọi điện thoại:

    + Chọn số điện thoại cần gọi;

    + Nhấc ống nghe, bắt tín hiệu rồi bấm số;

    + Nhận lời đáp, tự xưng danh, nói tên người cần gặp và công việc cần gặp; + Nếu gọi nhầm máy thì phải xin lỗi người nghe rồi đặt ống nghe xuống và gọi lại số khác;

    + Khi kết thúc cuộc nói chuyện, chờ cho người nghe đặt máy xuống, thư ký mới đặt ống nghe xuống để biểu thị sự tôn trọng người nghe.

    1. Những điều cần ghi nhớ đối với thư ký khi sử dụng điện thoại: · Không được lạm dụng điện thoại công và việc riêng;
    • Khi có việc ra ngoài lâu, phải nhờ người khác làm giúp, tránh bỏ mặc cho điện thoại đổ chuông quá lâu làm nhỡ các cuộc gọi đến mà cứ nghĩ là mình ra ngoài một lát thì có sao đâu;
    • Không nói những điều bí mật trong điện thoại;
    • Không được cung cấp số điện thoại di động, số nhà riêng của lãnh đạo cho dù người gọi cứ nhận là người nhà, khách hàng, đối tác quan trọng, hay quan chức chính quyền. Thay vào đó thư ký phải khéo léo hỏi tên, số điện thoại của người gọi để báo lại cho lãnh đạo. Sau này lãnh đạo sẽ tự biết cách giải quyết với những thông tin như thế;
    · Khi chưa chọn được số máy thì không được nhắc ống nghe lên;
    · Những điều cần nói trong điện thoại phải được chuẩn bị kỹ càng, nếu cần thì
      ghi ra giấy để khỏi quên và không bị nhầm lẫn thứ tự;
    · Khi cầm máy phải có thói quen cầm theo bút và phiếu nhắn tin;
    · Giọng nói:

    + Nói rõ ràng;

    + Nói bình thường, đủ nghe (không quá to hoặc quá nhỏ);

    + Nói với tốc độ vừa phải. Nói chậm hơn một chút so với những cuộc nói chuyện bình thường. Trong trường hợp người nghe cần phải ghi chép những điều mình nói thì cần nhắc lại;

    + Không nên hạ thấp giọng làm người nghe cảm thấy khó chịu;

    + Giọng nói cần có âm điệu lên hoặc xuống một chút để người nghe khỏi bị nhàm chán.


    Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

    [sociallocker id=”19555″] Tải Xuống Tại Đây [/sociallocker]