Category: Soạn Văn Lớp 12

  • [Soạn văn] Vợ Nhặt (Kim Lân)

    [Soạn văn] Vợ Nhặt (Kim Lân)

    Soạn văn lớp 12: Vợ Nhặt (Kim Lân)

    Câu 1: Bố cục: 4 phần

    – Phần 1 (từ đầu đến tự đắc với mình) : Tràng đưa người vợ nhặt về nhà.

    – Phần 2 (tiếp đến đẩy xe bò về): kể lại chuyện hai người gặp nhau và nên vợ nên chồng.

    – Phần 3 (tiếp đến nước mắt chảy ròng ròng): Tình thương của người mẹ nghèo khó.

    – Phần 4 (phần còn lại): niềm tin vào tương lai tươi sáng.

    Mạch truyện sẽ được dẫn dắt hợp lý. Có thể nói tất cả các cảnh huống được thể hiện trong truyện đều khởi đầu từ việc anh Tràng nhặt được vợ giữa những ngày đói khủng khiếp ấy.

    Thế nhưng tác phẩm lại được mở ra từ cảnh Tràng đưa “vợ nhặt” về nhà gặp mẹ. Nếu tác giả đưa đoạn thứ hai lên trước theo trình tự thời gian thì truyện sẽ kém phần hấp dẫn hơn.

    Câu 2: Tình huống truyện

    – Tình huống truyện được gói gọn trong nhan đề của tác phẩm: Vợ nhặt. Ấy là việc Tràng – một thanh niên nông dân nghèo, xấu xí, ế vợ bỗng nhiên nhặt được vợ dễ dàng trong nạn đói. Vợ là lại đi nhặt như đồ dùng là điều lạ lùng chưa từng thấy.

    – Trong cảnh đói kém, cái chết cận kề mà còn nghĩ đến chuyện lấy vợ, còn vui vẻ lo xây đắp tổ ấm gia đình là chuyện lạ thứ hai. Nhưng cũng chính nhờ cái lạ, cái độc đáo đó mới tạo ra sự hấp dẫn của truyện.

    => Tình huống truyện đã cho thấy thân phận buồn tụi của người lao động nghèo và bộc lộ tấm lòng người nông dân trong cảnh đời cơ hàn đói khát: giàu tình nghĩa và luôn khát khao hạnh phúc, mái ấm gia đình.

    Câu 3: Chữ “Nhặt” trong nhan đề

    Nhan đề “Vợ nhặt” thâu tóm giá trị nội dung tư tưởng tác phẩm “Nhặt” đi với những thứ không ra gì. Thân phận con người bị rẻ rúng như cái rơm, cái rác, có thể “nhặt” ở bất kì đâu, bất kì lúc nào. Người ta hỏi vợ, cưới vợ, còn ở đây Tràng “nhặt” vợ. Đó thực chất là sự khốn cùng của hoàn cảnh.

    Câu 4:

    Khi thể hiện niềm khao khát tổ ấm gia đình của nhân vật Tràng lúc quyết định lấy vợ, khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cơ và nhất là trong buổi sáng đầu tiên khi có vợ, Kim Lân đã có những phát hiện tinh tế và sâu sắc:

    – Lúc quyết định lấy vợ: Thoạt đầu Tràng có chút phân vân, do dự: Mới đầu anh chàng cũng chọn, nghĩ thóc gạo này đến cái thân mình cũng chả biết có nuôi nổi không, lại còn đèo bòng. Nhưng rồi sau đó anh chàng đã tặc lưỡi “Chậc, kệ“. Điều này đúng như ý đồ của tác giả: Khi đói người ta không nghĩ đến con đường chết mà chỉ nghĩ đến con đường sống. Dù ở trong tình huống bi thảm đến đâu, dù kề bên cái chết vẫn khao khát hạnh phúc, vẫn hướng về ánh sáng, vẫn tin vào sự sống và vẫn hi vọng vào tương lai, vẫn muốn sống, sống cho ra người (nhà văn Kim Lân nói về truyện Vợ nhặt).

    – Khi dẫn vợ về qua xóm ngụ cư. Phút này, Tràng như đã thành một con người khác, phớn phở lạ thường, môi cười tùm tỉm, mắt sáng hẳn lên, mặt vênh vênh tự đắc, nhưng cũng có lúc cứ “lúng ta lúng túng” đi bên vợ. Nhưng chủ yếu vẫn xúc cảm giác mới mẻ khác lạ mơn man như một bàn tay vuốt nhẹ.

    – Buổi sáng đầu tiên khi có vợ Tràng cảm thấy êm ả, lửng lơ, như người vừa trong giấc mơ đi ra xung quanh mình có cái gì thay đổi mới mẻ khác lạ. Từ cảm giác sung sướng hạnh phúc Tràng ý thức trách nhiệm, bổn phận của mình “bỗng nhiên hắn thấy thương yêu gắn bó với căn nhà của hắn lạ lùng“. Một nguồn vui sướng phấn trấn đột ngột tràn ngập trong lòng. Bây giờ hắn mới thấy hắn nên người, hắn thấy hắn có bổn phận phải lo lắng cho vợ cho con sau này.

    Câu 5: Bà cụ Tứ

    – Tâm trạng: mừng, vui, xót, tủi “vừa ai oán vừa xót thương cho số phận đứa con mình“. Đối với người đàn bà thì “lòng bà đầy xót thương” nén vào lòng tất cả bà dang tay đón người đàn bà xa lạ làm con dâu mình: “Ừ, thôi thì các con cũng phải duyên phải số với nhau, u cũng mừng lòng“.

    – Bữa cơm đầu tiên đón nàng dâu mới, bà cụ Tứ đã nhen nhóm cho các con niềm tin, niềm hy vọng: “Tao tính khi nào có tiền mua lấy con gà về nuôi, chả mấy mà có đàn gà cho xem“.

    => Bà cụ Tứ là hiện thân của nỗi khổ con người: Người mẹ ấy đã nhìn cuộc hôn nhân éo le của con thông qua toàn bộ nỗi đau khổ của cuộc đời bà. Bà lo lắng trước thực tế quá nghiệt ngã. Bà mừng một nỗi mừng sâu xa. Từ ngạc nhiên đến xót thương, nhưng trên hết vẫn là tình yêu thương. Cũng chính bà cụ là người nói nhiều nhất về tương lai, một tương lai rất cụ thể thiết thực với những gà, lợn, ruộng, vườn, … một tương lai khiến các con tin tưởng bởi nó không quá xa vời. Kim Lân đã khám phá ra một nét độc đáo khi để cho một bà cụ cập kề miệng lỗ nói nhiều với đôi trẻ về ngày mai.

    Câu 6: Đặc sắc nghệ thuật của truyện

    – Nghệ thuật tạo hình huống độc đáo.

    – Cách sử dụng ngôn ngữ bình dân tinh tế và có duyên.

    – Nghệ thuật tả tâm lí đặc sắc.

  • [Soạn văn] Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

    [Soạn văn] Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

    Soạn văn lớp 12: Vợ chồng A Phủ (Tô Hoài)

    Câu 1: Nhân vật Mị

    – Trước khi làm dâu nhà thống lý Pá Tra, Mị là một cô gái trẻ đẹp, hiền lành, đã có người yêu, thổi sáo rất giỏi, hiếu thảo với cha mẹ, chăm chỉ và có lòng tự.

    – Khi trở thành con dâu gạt nợ nhà thống lý:

    + Mị đau khổ khóc đến mấy tháng.

    + Trốn về nhà cha cầm nắm lá ngón trong tay định tự tử nhưng nhìn cha lại không thể làm được đành quay về làm kiếp dâu gạt nợ.

    + Từ đấy mị cứ lầm lũi như con rùa nuôi trong xó cửa.

    + Mị chỉ biết làm những công việc mà quanh năm ngày tháng làm đi làm lại,làm không ngưng nghỉ. Con trâu con ngựa nó còn có lúc đứng gãi chân nhai cỏ chứ đàn bà nhà này thì làm không nghỉ tay.

    + Mị sống trong một căn phòng chỉ có một ô vuông bằng bàn tay để nhìn ra ngoài cũng không thể biết được trời nắng hay mưa chỉ biết thấy mờ mờ trăng trắng.

    – Trong đêm tình mùa xuân Mị đã nhớ lại tất cả những kỉ niệm trước đây của mình, khi trước Mị là một cô gái có tài thổi sáo rất hay, Mị đã thả hồn mình vào đêm xuân đó nghe thấy tiếng sao tâm hồn Mị nhưng đang sống lại cái quảng thời gian trước đây của mình, nàng thả hồn mình vào cuộc chơi và quên đi chút hiện tại mình đang sống như thế nào, có thể nói đây là cơ hội để cho nàng hồi sinh và có thể sống một cuộc đời tươi vui trước đây.

    – Mị đang chuẩn bị sắm sửa để đi chơi nhưng rồi bị A Sử cấm cho đi chơi hắn cột Mị vào nhà cột cả tóc lên khiến Mị không ngẩng đầu lên được đó là một hành động mất hết nhân tính, Mị vẫn đang du mình trong đêm xuân những tiếng ngựa ngoài kia làm cho Mị tỉn giấc nàng đã trở lại với hiện tại, một hiện tại đau khổ và phải chịu đau thương cả về thể xác lẫn tinh thần.

    – Đêm đông trên núi cao: Mị là một cô gái đang sống trong một hiện thực đau khổ. Khi nhìn thấy A Phủ bị trói trong nhà thống lí, Mị đã dửng dung nhưng rồi khi nhìn thấy hai giọt nước mắt ấy mụ đã tỉnh giấc và trỗi dậy một niềm tin lớn đối với chàng, nàng cởi trói cho A Phủ và cả hai người cùng chạy trốn, sống một cuộc sống đúng nghĩa của cách mạng tự do.

    Câu 2: Nhân vật A Phủ

    – Là chàng trai khỏe mạnh, giỏi giang, con gái trong làng nhiều người mê.

    – Vì không chịu được sự bất công cũng như thái độ hống hách, cậy quyền thế của A Sử – con trai thống lý Pá Tra, A Phủ đã đánh A Sử. Tác giả mô tả hàng loạt động tác qua những động từ mạnh, nhịp văn nhanh: chạy vụt ra, vung tay ném con quay, xộc tới, nắm cái vòng cổ, kéo, xé, đánh tới tấp.

    => Hành động mạnh mẽ, quyết liệt ấy đã bộc lộ lòng căm thù kẻ cậy thế hống hách, yêu chuộng công lí và tính cách can trường, bất khuất.

    – A Phủ bị bắt, phải vay nhà thống lý một trăm đồng bạc hoa xòe để nộp vạ cho làng và trở thành người ở trừ nợ.Bi kịch xảy ra với anh khi anh đi chăn bò và đã để hổ ăn mất con bò nhà thống lý anh bị bắt và bị trói, số phận của anh nay bắt đầu rơi vào đau thương.

    – A Phủ đã có ý định chạy trốn nhưng rồi vẫn bị nhà thống Lý trói chặt hơn, trong đêm tình mùa xuân anh đã gặp Mị người con gái đã cứu anh thoát khỏi nhà thống Lý, do hai dòng nước mắt của anh đã làm thức tỉnh tâm hồn của Mị và từ đó Mị đã cứu A Phủ. Trong truyện có hai nhân vật đó là Mị và A Phủ có số phận thật bất hạnh hai người đều là nạn nhân trong gia đình nhà thống lí, tuy nhiên trong đêm tình mùa xuân và cả trong đêm đông Mị đã thức tỉnh và cứu được A Phủ thoát khỏi nơi đây và sống một cuộc sống hạnh phúc.

    – Khi được Mị cắt giúp dây trói cứu thoát, A Phủ đổ ập xuống nhưng anh liền quật sức vùng lên. Sức sống tiềm tàng và lòng khát khao được sống giúp A Phủ chiến thắng nỗi đau thể xác và cả số phận nghiệt ngã để trở thành người tự do.

    Câu 3: Thành công nghệ thuật

    – Nghệ thuật kể chuyện thành công. Truyện có kết cấu, bố cục chặt chẽ, hợp lí; dẫn dắt những tình tiết đan xen kết hợp một cách khéo léo tạo sức lôi cuốn.

    – Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng rất thành công. Mỗi nhân vật được sử dụng bút pháp khác nhau để khắc họa tính cách khác nhau trong khi họ có số phận giống nhau. Tác giả tả ngoại hình, tả tâm lí với dòng kí ức chập chờn, những suy nghĩ thầm lặng để khắc họa nỗi đau khổ và sức sống của Mị, còn A Phủ thì tả ngoại hình, hành động và những mẫu đối thoại ngắn để thấy tính cách giản đơn.

    – Ngòi bút tả cảnh rất đặc sắc: cảnh mùa xuân, cảnh trai gái đi chơi ngày Tết, cảnh xử kiện… từ không khí, con người đến phong tục đều mang đậm bản sắc miền núi.

    – Ngôn ngữ tạo hình cao, giàu chất điện ảnh. Giọng điệu trần thuật có sự pha trộn giữa giọng người kể với giọng nhân vật nên tạo ra chất trữ tình.

  • [Soạn văn] Những ngày đầu của nước Việt Nam mới (Võ Nguyên Giáp)

    [Soạn văn] Những ngày đầu của nước Việt Nam mới (Võ Nguyên Giáp)

    Soạn văn lớp 12: Những ngày đầu của nước Việt Nam mới (Võ Nguyên Giáp)

    Câu 1: Bố cục (4 đoạn)

    – Đoạn 1 (Từ đầu tới “ập vào miền Bắc“): Tư thế đứng hiên ngang của dân tộc thời chống Mĩ, thời gian hồi tưởng “giờ phút hiểm nghèo” của đất nước Việt Nam Mới.

    – Đoạn 2 (Tiếp tới “thêm trầm trọng“): Những khó khăn mọi mặt của đất nước khó có thể vượt qua.

    – Đoạn 3 (Tiếp tới “370 kg vàng“): Những biện pháp tích cực của chính quyền mới và quyết tâm vượt) qua mọi khó khăn, tinh thần của toàn Đảng.

    – Đoạn 4 (Còn lại): Hình ảnh Bác Hồ là tượng trưng cho một chính thể mới, nhà nước mới: nhà nước của dân, do dân, vì dân.

    Câu 2: Nêu điểm nhìn và những cảm nghĩ cụ thể của tác giả?

    Điểm nhìn hiện tại là bối cảnh đất nước năm 1970, thời điểm cuộc kháng chiến chống Mĩ đang diễn ra vô cùng gay go, ác liệt. So với 25 năm trước thì tuy khó khăn nhưng thế và lực của ta đã khác. Năm 1945 là “thời kì làm mưa, làm gió của chủ nghĩa đế quốc“, “gần hai chục vạn quân Tưởng từ mấy ngả ập vào miền Bắc“; còn bây giờ (1970), “mỗi hành động kẻ cướp … không tránh khỏi bị trừng phạt“, mọi cách tô son trát phấn của đế quốc Mĩ với bọn ngụy quyền tay sai ở miền Nam đều “hoàn công vô ích“. Năm 1945, nước Việt Nam chưa có tên trên bản đồ thế giới, cả Đông Dương khi đó mang tên Indo-China (vùng giáp giới Ấn Độ – Trung Quốc) thuộc Pháp; còn bây giờ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã là một nước tự do.

    Câu 3:

    Nước Việt Nam vừa mới khai sinh đã phải đương đầu với bao khó khăn. Đảng phải hoạt động bí mật, các đảng viên đều công tác dưới danh nghĩa những cán bộ Việt Minh. Chính quyền cách mạng mới, “chưa được nước nào công nhận“. Kinh tế hết sức khó khăn: Ruộng, đất vẫn trong tay địa chủ, bão lụt hạn hán liên miên, buôn bán đình trệ, hàng hóa khan hiếm, ngân khố chỉ còn một triệu bạc sách. Nạn thất nghiệm nhiều, nạn đói, dịch tả phát sinh trở lại.

    Tình thế “Ngàn cân treo sợi tóc” khi Pháp xâm lược ở Nam Bộ làm cho càng khó khăn, thách thức lớn.

    Câu 4:

    Việc quan trọng trước hết là phải củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng, giải tán chính quyền cũ (chính quyền của thực dân phong kiến) xây dựng bộ máy chính quyền mới, từ chính quyền cơ sở là Hội đồng nhân dân, Ủy ban hành chính đến Trung ương là Quốc dân đại hội, toàn dân đóng góp ý kiến cho dự án Hiến pháp, thi hành một số chính sách mới: địa chủ phải giảm tô 25%, xóa nợ cho nông dân, toàn dân tăng cường học chữ quốc ngữ, học tập thi cử đều miễn phí, động viên tinh thần đóng góp trong nhân dân, lập “Quỹ Độc lập“, kêu gọi đồng bào hưởng ứng “Tuần lễ vàng“. Nội lực của nước Việt Nam mới được nâng lên nhanh chóng.

    Câu 5:

    Gây ấn tượng mạnh là hình ảnh Bác Hồ, người đứng đầu bộ máy lao động Đảng và Chính Phủ, người cầm lái con thuyền cách mạng vượt qua sóng to, gió lớn. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho thấy một nét đẹp sáng ngời và cao cả của bác là toàn tâm toàn ý vì dân, vì nước: “ở Người, mọi vấn đề, …. tình cảm“. Để chính quyền mới còn tội tại và lớn mạnh dần. Bác chủ trương xây dựng “mối quan hệ …. nhân dân“. Bác đề ra 3 mục tiêu quan trọng “diệt giặc đói, diệt … ngoại xâm“.

    Câu 6: Nghệ thuật thể hiện hồi kí của đoạn trích:

    – Tác giả chỉ kể lại những sự kiện lịch sử có tính khái quát tổng thể.

    – Trong khi kể tác giả nêu cảm nghĩ, nhận xét, đánh giá.

    Đoạn hồi kí giống như những trang biên niên sử ghi lại những năm tháng không thể nào quên của đất nước.

  • [Soạn văn] Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

    [Soạn văn] Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

    Soạn văn lớp 12: Ai đã đặt tên cho dòng sông (Hoàng Phủ Ngọc Tường)

    Bố cục của đoạn trích: 2 phần

    – Phần 1 (từ đầu đến quê hương xử sở): thủy trình của sông Hương

    – Phần 2 (còn lại): dòng sông của lịch sử thơ ca

    Câu 1: Hình ảnh sông Hương

    a. Sông Hương vùng thượng lưu mang vẻ đẹp của sức sống mãnh liệt, hoang dại, bí ẩn, sâu thẳm nhưng cũng có lúc dịu dàng, say đắm.

    – Sự mãnh liệt, hoang dại của con sông được thể hiện qua những so sánh: “Bản trường ca của rừng già“, những hình ảnh đầy ấn tượng: “rầm rộ giữa bóng cây đại ngàn“, sự mãnh liệt thể hiện qua những ghềnh thác, cuộn sóng như cơn lốc vào những đáy vực bí ẩn…

    – Vẻ dịu dàng, say đắm: sắc màu rực rỡ (“những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa đỗ quyên rừng“).

    – Dòng sông được nhân hóa như một cô gái di-gan phóng khoáng và man dại, rừng già đã hun đúc cho “cô gái” một bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do và trong sáng.

    b. Ngay từ đầu trang viết người đọc đã cảm nhận được sự cảm nhận tài hoa của ngòi bút Hoàng Phủ Ngọc Tường: liên tưởng kì thù, xác đáng, ngôn từ gợi cảm… tạo sức cuốn hút, hấp dẫn về một con sông mang linh hồn, sự sống.

    Câu 2: Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố

    Đoạn tả sông Hương chảy xuôi về đồng bằng và ngoại vi thành phố bằng ngòi bút sắc sảo tác giả lại tái hiện thêm lần nữa con sông với vẻ đẹp lãng mạn. Sông Hương được ví như: “người đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoang dại” được “người tình mong đợi đến đánh thức“. Quả là một liên tưởng đặc biệt. Qua đó ta nhận biết được ngòi bút của nhà văn lột tả được năng lực qua sát tinh tế và sự phong phú về ngôn ngữ hình tượng tạo nên những câu văn mang đậm màu sắc và gây ấn tượng mạnh cho người đọc. Sông Hương đến đây uốn mình theo đường cong thật mềm, như một cuộc tìm kiếm ý thức để đi tới nơi gặp thành phố tương lai của nó. Dòng sông đã được gán cho có linh hồn, biết ý thức và đi tìm một thứ gì đó với nó. Dòng sông mềm mại như “tấm lụa“, sông Hương vẫn đi trong dư vang của Trường Sơn, nó vẫn “trôi đi giữa hai dãy đồi sừng sững như thành quách“. Bằng cách vận dụng kiến thức văn hóa, văn học tác giả đã khiến người đọc ấn tượng về vẻ đẹp trầm mặc, như triết lí, như cổ thi gắn với những thành quách, lăng tẩm của vua chúa thời trước.

    Câu 3: Sông Hương khi chảy và thành phố có nét đẹp riêng

    Sông Hương khi chảy và thành phố có nét đẹp riêng. Nếu ở trên, người đọc cảm nhận phần nào vẻ đẹp man dại, dịu dàng, trầm mặc của con sông, thì giờ đây con sông được khám phá, phát hiện ở sắc thái tâm trạng. Sông Hương gặp thành phố như đến với điểm hẹn tình yêu, trở nên vui tươi và đặc biệt chậm rãi, êm dịu, mềm mại. Ngòi bút của tác giả đã thực sự thăng hoa khi vẽ nên những hình ảnh đầy ấn tượng, những cảm nhận tinh tế, những liên tưởng, so sánh đẹp đến bất ngờ, lí thú, thể hiện tình yêu say đắm với con sông. Đó là những nét bút thật “dịu dàng, tình tứ, đắm đuối“: “chiếc cầu trắng ở thành phố in ngần trên nền trời, nhỏ nhắn như một vầng trăng non“, sông Hương “uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hiến“, đường cung ấy làm cho dòng sông mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra của tình yêu, “nghìn cánh hoa đăng bồng bềnh” làm dòng sông thêm lộng lẫy, con sông ngập ngừng như có “những vấn vương của một nỗi lòng, không nỡ rời xa thành phố …“. Quả đúng như câu thơ Thu Bồn:

    Con sông dùng dằng, con sông không chảy

    Sông chảy vào lòng nên Huế rất sâu

    Câu 4:

    Tác giả đã tô đậm cho con sông Hương ấy bao nét thơ thật dịu dang, thơ mộng mà hoang dã, đa tình, lịch lãm và cổ kính. Từ góc độ văn hóa truyền thống lịch sử tác giả cũng đã khắc họa sông Hương với nét tính cách đăc biệt qua đó cũng tái hiện lại cho bạn đọc những hình ảnh trong lịch sử và gắn liền với những phẩm chất rất riêng của người Huế. Mà đặc biệt hơn là vẻ đẹp của người con gái Huế luôn nhẹ nhàng, bay bổng mà rất đằm thắm.

    Câu 5: Nét đặc sắc của văn phong tác giả qua đoạn trích:

    – Soi bóng tâm hồn với tình yêu say đắm, lắng sâu niềm tự hào tha thiết đối với quê hương, xứ sở và đối tượng miêu tả, khiến đối tượng trở nên lung linh, huyền ảo, đa dạng như đời sống, như tâm hồn con người.

    – Sức liên tưởng kì diệu, sự hiểu biết phong phú về kiến thức địa lí, lịch sử, văn hóa, nghệ thuật và trải nghiệm của bản thân.

    – Ngôn ngữ trong sáng, phong phú, uyển chuyển, giàu hình ảnh, giàu chất thơ, sử dụng nhiều phép tu từ như: so sánh, nhân hóa, ẩn dụ…

    – Có sự kết hợp hài hóa của cảm xúc, trí tuệ, chủ quan và khách quan.

  • [Soạn văn] Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân)

    [Soạn văn] Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân)

    Soạn văn lớp 12: Người lái đò sông đà (Nguyễn Tuân)

    Câu 1: Tác phẩm Người lái đò sông Đà thể hiện sự quan sát công phu và tìm hiểu kĩ càng của nhà văn trên các phương diện nào?

    Tác phẩm Người lái đò sông Đà thể hiện sự quan sát công phu và tìm hiểu kĩ càng của nhà văn trên các phương diện sau:

    – Tác giả đã miêu tả sông Đà với tất cả những chi tiết rất cụ thể, sinh động và thực tế.

    – Tác giả miêu tả từ nhiều góc độ quan sát: từ trên máy bay để thấy sông Đà như một sợi dây thừng.

    Câu 2: Hình ảnh bờ sông, dựng vách thành…có vách đá thành chẹt lòng sông Đà như một yết hầu, lòng sông như có chỗ nằm gọn giữa hai bờ vách giống như con hang động huyền bí.

    – Khung cảnh mênh mông dài hàng cấy số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn gùn ghè suốt mấy năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt. Đây là đoạn nguy hiểm cần người lại đò phải hết sức thận trọng.

    – Những cái hút nước xoáy tít lôi tuột mọi vật xuống đáy sâu.

    – Những âm thanh hết gần rồi lại xa: tiếng nước réo nghe như là oán trách, lúc lại như van xin, khiêu khích, giọng gằn như chế nhạo. Có lúc nó rống lên như tiếng một ngàn con trâu mộng đang lồng lộn giữa rừng vầu rừng tre nứa nổ lửa, đang phá tuông rừng lửa, rừng lửa cùng gầm thét với đàn trâu da cháy bùng bùng. Tác giả thật tài tình so sánh với hình ảnh đàn trâu để nổi bật lên sự hùng vĩ của dòng sông, tiếng nước chảy như những tiếng gầm vang cả núi rừng. Sức mạnh hoang dại, vẻ đẹp kì vĩ và sự hung dữ của con sông qua góc nhìn và sự miêu tả tinh tế của Nguyễn Tuân.

    –> Ngôn ngữ miêu tả đầy tính tạo hình, biện pháp so sánh, nhân hóa độc đáo.

    Câu 3: Một con sông Đà trữ tình.

    – Nghệ thuật liên tưởng độc đáo: Sông Đà tuôn dài như áng tóc trữ tình của người thiếu nữ.

    – Sông Đà được nhìn qua làn mây, qua ánh nắng với những sắc màu:

    + Xuân: xanh màu xanh ngọc bích.

    + Thu: lừ đừ chín đỏ như da mặt người bầm đi vì rượu bữa.

    – Sông Đà gắn bó thân thiết với con người như cố nhân.

    – Bờ sông hoang dại, bình lặng như thời tiền sử – hồn nhiên như nỗi niềm cổ tích xưa – Dòng sông lặng lờ trôi.

    –> Sông Đà rất mực trữ tình hiền hoà. Sự tài hoa của ông đã mang đến những áng văn với bức tranh trữ tình đủ để lòng người say đắm, ngất ngây.

    Câu 4: Hình ảnh người lái đò sông Đà trong cuộc chiến đấu với con sông Đà hung bạo:

    – Cuộc chiến thật không cân sức giữa một con người nhỏ bé không hề có phép màu gì kì diệu, không có vũ khí lợi hại trong tay chỉ với chiếc cán chèo trên một con đò đơn độc với một tên hung bạo của núi rừng (dòng sông hiểm trở khó lường), thạch trận đủ 3 lớp trùng vi vây bủa, được trấn giữ bởi những hòn đá ngỗ ngược, hỗn hào và thật nham hiểm, dữ dội…

    – Người lái đò với tài năng và trí thông minh của mình vượt thác như cưỡi lên thác ghềnh, xé toang hết lớp này đến lớp khác của trùng vi thạch trận, nắm chặt cái bờm sóng mà vượt qua, mà chinh phục sự hung hãn của dòng sông.

    – Những thằng đá tướng phải lộ sự tiu nghỉu, thất vọng qua bộ mặt xanh lè.

    – Người lái đò là người chiến thắng trong trận chiến cam go ấy bằng sự ngoan cường, sung cảm. tài trí, chí quyết tâm và nhất là kinh nghiệm lên thác xuống ghềnh của ông bao nhiêu năm nay, từng khúc từng đoạn sông ông nắm trong lòng bàn tay, ông biết chỗ nào là cửa sinh, chỗ nào là cửa tử và khéo léo xử lý như một nghệ nhân.

    Câu 5: Một số câu văn thể hiện rõ nhất nét tài hoa về bút pháp trong cách sử dng ngôn ngữ của Nguyễn Tuân là:

    – Tiếng nước thác nghe như là oán trách gì, …. với đàn trâu da cháy bùng bùng.

    – Sóng nước như thế quân liều mạng vào sát nách mà đá trái, mà thúc gối vào bụng vào hông thuyền.

    – Con sông Đà tuôn dài như một áng tóc trữ tính, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc …. nương xuân.

    – Bờ sông hoang dại …. cổ tích tuổi xưa.

  • [Soạn văn] Tự do (P.Ê-luy-a)

    [Soạn văn] Tự do (P.Ê-luy-a)

    Soạn văn lớp 12: Tự do (P.Ê-luy-a)

    Câu 1: Tìm hiểu tứ thơ và chủ đề tác phẩm Tự do (P.Ê-luy-a)

    Đoạn trích có lược bớt một số khổ thơ, còn 12 khổ và dòng cuối. 11 khổ thơ có điệp câu thơ “tôi viết tên em” ở cuối mỗi khổ. Riêng khổ cuối cùng, câu thơ cuối được thay thế bằng:

    Để gọi tên em

         TỰ DO.

    Tự do được hóa thân thành “em”, người thân yêu nhất. Cảm xúc hướng về tự do rất tha thiết. Nhà thơ viết tên tự do lên khắp mọi nơi hay đó chính là quyết tâm hành động hướng tới TỰ DO, giành và bảo vệ Tự Do. Nhà thơ sẵn sàng bắt đầu lại cuộc đời để được gắn bó với Tự Do.

    – Chủ đề: Bài thơ thể hiện tình yêu tha thiết đối với tự do của tác giả.

    Câu 2: Ý Nghĩa Cách lặp từ theo kiểu xoáy tròn “trên – trên“.

    – Cách lặp từ theo kiểu xoáy tròn “trên – trên“.

    + Tạo nhạc điệu nốt nhấn cho bài thơ.

    + Là cách thức tối ưu để tác giả bày tỏ tình yêu của mình với tự do.

    – Giới từ “trên” là giới từ báo hiệu trạng ngữ chỉ địa điểm:

    + Giới từ “trên” xuất hiện nhiều lần trải dài liên tiếp trong toàn bộ bài thơ.

    + Địa điểm mang tính cụ thể, hữu hình: trang vở, bàn học, đất cát, tuyết, mũ áo vua quan…

    + Địa điểm mang tính trừu tượng: thời thơ ấu, điều huyền diệu đêm đêm, các mùa, những mảnh trời trong xanh, những khoảnh khắc hừng đông…

    Tự do không chỉ được gắn với những vật cụ thể đang hiện hữu mà hiện diện trong mọi không gian mà “tôi” chiếm lĩnh ngự trị. Nó hiện diện trong giấc mơ, trong trí tượng tượng, trong hồi ức và trong tất cả những gì không thể cảm nhận bằng trực giác thông thường.

    Câu 3: Giới từ “trên” thể hiện cả không gian và thời gian như thế nào?

    – Giới từ “trên” thể hiện cả không gian và thời gian:

    + Chỉ địa điểm – không gian (tôi viết Tự Do ở đâu, vào đâu)

    + Chỉ thời gian ( tôi viết Tự Do khi nào)

    – Cách thức liên tưởng: Hình ảnh trong các khổ thơ thể hiện sự liên tưởng ngẫu hứng (Tự Do được viết mọi nơi, mọi lúc):

    + Viết tên em – Tự Do lên những vật cụ thể, hữu hình.

    + Viết tên em – Tự Do lên những cái trừu tượng, vô hình.

    –> Khát vọng Tự Do hoá thân khắp không gian, xuyên suốt thời gian, hiện hữu trong cuộc đời mỗi con người.

    Câu 4:

    Tôi viết tên em” khi đang tuổi ấu thơ, ban đêm, ban ngày, lúc hửng đông, lúc đêm tối, khi ở ngoài đại dương mênh mông hay trên núi cao hiểm trở, lúc bão giông hay khi bình yên …

    Dù ở nét nghĩa nào thì “tôi” đều biểu hiện tự do cháy bỏng, mãnh liệt. “Tôi” đã bị thu phục hoàn toàn bởi “em”. “Em” (tự do) đã ngự trị “tôi”, chiếm trọn không gian của “tôi”, chiếm hết thời gian của “tôi” và suy nghĩ hành động của “tôi” luôn hướng về “em”.

    Với cấu trúc và sự suy luận như vậy, bài thơ giống như lời của một bản trường ca, một khúc hát dài ca ngợi và kêu gọi tự do.

    Đặt trong hoàn cảnh nước Pháp bị phát xít Đức xâm lược, nhân dân bị mất tự do, tác phẩm trở thành bài Thánh ca, kêu gọi nhân dân Pháp đấu tranh vì tự do giải phóng đất nước.

  • [Soạn văn] Bác ơi! (Tố Hữu)

    [Soạn văn] Bác ơi! (Tố Hữu)

    Soạn văn lớp 12Bác ơi! (Tố Hữu)

    Bố cục bài thơ Bác ơi! (Tố Hữu)

    – 4 khổ thơ đầu: Nỗi đau thương lớn lao, đột ngột trước sự qua đời của Bác.

    – 4 khổ thơ đầu: Nỗi đau thương lớn lao, đột ngột trước sự qua đời của Bác.

    – 3 khổ cuối: Nỗi tiếc thương, niềm tin và ước nguyện đi theo con đường của Bác.

    Câu 1: Nỗi đau xót lớn lao trước sự kiện Bác Hồ qua đời được diễn tả qua bốn khổ thơ đầu:

    – Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa: không gian hoà điệu với tâm trạng con người.

    – Con lại lần theo lối sỏi quen: đau đớn, bàng hoàng đến thẩn thờ, ngơ ngác.

    –> Mọi vật xung quanh trở nên hoang vắng lạnh lẽo, ngơ ngác hệt như lấy mất linh hồn.

    – Bác đã đi rồi sao Bác ơi?: Tang tóc quá lớn gần như không thật, không thể tin được.

    – Nỗi đau lớn được thể hiện qua tiếng khóc trực tiếp của tác giả: những câu hỏi tu từ, câu cảm thán liên tiếp dùng để khóc thương, bày tỏ niềm thương xót của nhà thơ, cũng là nỗi đau của triệu người…

    Câu 2: Hình tượng Bác Hồ được thể hiện nhiều khía cạnh, phương diện:

    a. Về lí tưởng và lẽ sống.

    Suốt cả cuộc đời không lúc nào bác thảnh thơi vì “nỗi thường đời“. Đó là lí tưởng sống cao đẹp, là lẽ sống quên mình vì mọi người của bậc “đại nhân, đại trí, đại dũng“. Bác hi sinh cả hạnh phúc cá nhân để lo cho cả dân tộc, lo cho mỗi sinh linh bé nhỏ được tự do hạnh phúc, yên vui.

    b. Niềm vui và tình thương của Người được thể hiện ở nhiều cung bậc, góc độ:

    – Bác đau: dân nước, năm châu; lo: muôn mối; yêu: ngọn lúa, cành hoa; nhớ: miền Nam; vui: mỗi mầm non trái chín, tiếng ca chung…

    – Bác nghe từng bước ra tiền tuyến: lắng mỗi tin mừng…

    Tất cả những động từ biểu thị tâm trạng trong các khổ thơ đã tác lên động lên chân dung của Bác. Người dành cả trái tim, tấm lòng trí óc, bầu nhiệt huyết cho nhân dân. Tất cả điều mà người quan tâm tới không có gì dành cho cá nhân, cho riêng bản thân Người mà đều vì dân tộc, Tổ quốc. Thế mới thấy hết được trái tim của người Cha, người Mẹ, người Bác, người Anh trong trái tim vĩ đại Hồ Chí Minh.

    c. Di sản Người để lại.

    – Bác để tình thương cho chúng con

    – Một đời thanh bạch, áo vải hồn muôn trượng …

    Những gì mà người để lại cho dân tộc đã vượt lên trên giá trị vật chất tầm thường, món quà vô giá Người để lại là di sản tinh thần, đó là tình yêu thương, là một trái tim chỉ biết quên mình; đó là một cuộc đời đơn giản thanh bạch, cao quý. Chính sự giản dị, thanh bạch trong lối sống đã tạo nên một hình ảnh Hồ Chí Minh vĩ đại, khắc sâu trong mỗi trái tim Việt Nam hơn mọi bức tượng đồng được xây dựng công phu. Lời thơ là lời ngợi ca sự tồn tại vĩnh hằng của một cuộc đời rất đỗi giản dị, thanh cao đã hi sinh cho giống nòi, dân tộc này.

    Câu 3: Cảm nghĩ của mọi người dân Việt Nam qua ba khổ thơ cuối như thế nào?

    – Lời thơ không chỉ dừng lại là lời của một cá nhân mà là tiếng lòng cảm xúc của cả dân tộc Việt Nam.

    Tác giả khẳng định nỗi nhớ Bác Hồ thường trực trong trái tim hàng triệu người con Việt Nam, nỗi nhớ ấy đã nghìn thu, muôn thuở như cuộc đời Bác, sự nghiệp của Bác, nhưng lời thơ không bi lụy. Vì tác giả đã khẳng định về sự bất diệt và sức sống vĩnh hằng của trái tim Hồ Chí Minh. Sự ra đi của Bác cũng chỉ là cuộc hành trình về với tổ tiên.

    Bác đã lên đường theo tổ tiên

    Mác, Lê-nin thế giới người hiền

    Đó cũng chính là động lực thúc đẩy cả dân tộc tiếp tục con đường mà Bác đã lựa chọn và theo đuổi.

    – Lời thơ là lời biết ơn sâu nặng công lao của Hồ Chí Minh, đồng thời trước cái chết của Người, nhiều đứa con của Người đã tìm thấy được thanh lọc tâm hồn, được trong sáng hơn, đẹp đẽ hơn. Đó là sức mạnh tinh thần mà Bác đã tạo ra, nhân cách của cuộc đời Bác đã là một tấm gương sáng mà mỗi người có thể tự soi chiếu để mình được trong sáng hơn.

    – Cuối bài thơ là lời hứa, lời nguyện ước của cả dân tộc trước Bác.

    + Không dám khóc nhiều …

    + Chúng con cùng nhau tiến lên …

    + Nguyện cùng Người vươn tới mãi …

    Lời thơ là lời thề hứa, bởi vậy giọng điệu câu thơ khỏe khoắn, rắn rỏi. Lời thề hứa cùng là lời đáp lại những mong mỏi của Người, đáp lại những lời băn khoăn trăn trở mà Người đang thực hiện dang dở. Bởi vậy có thể thấy tình cảm thiết tha sâu nặng ân tình mà hàng triệu trái tim Việt Nam cùng dâng lên Người. Tinh thần nhân văn của bài thơ cũng chính là ở đó.

  • [Soạn văn] Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

    [Soạn văn] Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

    Soạn văn lớp 12: Đàn ghi ta của Lor-ca (Thanh Thảo)

    Bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca chia làm 3 phần:

    + Phần 1: (6 dòng đầu) Lor-ca một nghệ sĩ tự do và cô đơn, một nghệ sĩ cách tân trong khung cảnh chính trị và nghệ thuật TBN.

    + Phần 2 (tiếp đó đến “không ai chôn cất tiếng đàn“): Một cái chết oan khuất gây ra bởi thế lực tàn ác.

    + Phần 3 (còn lại): Niềm xót thương Lor-ca những suy tư về cuộc giải thoát và giã từ của Lor-ca.

    Câu 1: Những hình ảnh nổi bật trong bài Đàn Ghi Ta của Lor-ca

    Các hình ảnh: tiếng đàn bọt nước, áo choàng đỏ gắt, vầng trăng chếnh choáng, yên ngựa mỏi mòn đều mang tính biểu tượng. Các dòng thơ không hề có hình ảnh về con người nhưng bóng dáng con người vẫn hiện lên rõ nét qua hình ảnh và âm thanh (tiếng đàn) màu sắc (áo choàng đỏ gắt), trạng thái (chếnh choáng, mỏi mòn).

    Ngay ở khổ thơ đầu, người đọc đã được bước vào một không gian đậm chất Tây Ban Nha, với tiếng đàn ghi ta- niềm tự hào của người Tây Ban Nha, với hình ảnh áo choàng đỏ gắt – áo choàng khoác trên mình những võ sĩ đấu bò tót – một biểu tượng của Tây Ban Nha.

    Các hình ảnh đi lang thang về miền đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn có ý nghĩa chỉ cuộc hành trình của con người: đi lang thang về niềm đơn độc với vầng trăng chếnh choáng trên yên ngựa mỏi mòn. Đó là cuộc độc hành của con người – cuộc độc hành của Lor-ca (một anh hùng của Tây Ban Nha).

    Câu 2: Cảm nhận của anh chị về đoạn thơ:

    Không ai chôn cất tiếng đàn

    Tiếng đàn như cỏ mọc hoang

    Giọt nước mắt vầng trăng

    Long lanh trong đáy giếng

    Khổ thơ đầy ắp những hình ảnh biểu tưởng và siêu thực, với hình ảnh hoán dụ “Không ai chôn cất tiếng đàn“, hình ảnh so sánh “tiếng đàn như cỏ mọc hoang” gợi thương cảm về cái chết bi thảm của nhà thơ. Đặc biệt hình ảnh “Giọt nước mắt vầng trăng” là một hình ảnh siêu thực, đa nghĩa, bắt nguồn từ sự việc có thực: kẻ thù bắn nhà thơ và vứt xác ông xuống giếng để phi tang. “Nước mắt vầng trăng” còn là tình thương, sự cao khiết, tỏa sáng. Với Thanh Thảo, đó là nước mắt sáng đẹp và vĩnh cửu như vầng trăng, những giọt nước mắt anh hùng. Vầng trăng là sự hóa thân, sự thăng hoa của tâm hồn liệt sĩ.

    Tiếng đàn đã trở thành một nhân vật có linh hồn: “không ai chôn cất tiếng đàn“, “tiếng đàn như cỏ mọc hoang“.

    Ở đây Lor-ca không hiện diện mà chỉ có sự hiện diện của tiếng đàn. Nó đã trở thành biểu tượng của tâm hồn Lor-ca, trái tim Lor-ca. Cuộc đời của ông sống tự do, thanh thản trong suốt như giọt nước mắt vầng trăng long lanh trong đáy giếng. Lor-ca đã chết (về thể xác) nhưng dư âm vang vọng của cuộc đời ông thì còn mãi.

    Câu 3: Ý nghĩa ẩn dụ của hình tượng tiếng đàn trong bài thơ?

    – Hình tượng tiếng đàn được xuất hiện nhiều lần trong bài thơ: tiếng đàn bọt nước, tiếng ghi ta nâu, tiếng ghi ta lá xanh, tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan, tiếng ghi ta ròng ròng, tiếng đàn như cỏ mọc hoang…

    + Tiếng đàn ghi ta ở đây được thể hiện với vô vàn cung bậc khác nhau: khi là âm thanh vui tươi, khi là âm thanh chia cắt, tan vỡ, khi là âm thanh của cái chết, khi là giai điệu của tình yêu.

    + Tiếng đàn ghi ta là sự hài hòa của rất nhiều trạng thái cảm xúc. Trước hết đó là cảm xúc của Lor-ca. Cuộc đời Lor-ca như tiếng ghi ta, những âm thanh, cung bậc của nó khi réo rắt về niềm yêu đời thiết tha, khi hùng tráng, mạnh mẽ về những ngày tháng chiến đấu sôi nổi, khi trầm lặng, đau buồn về khoảnh khắc phải chia lìa sự sống.

    Những âm thanh ấy cũng là âm thanh biểu hiện dòng cảm xúc mãnh liệt của tác giả. Tác giả đã sống cùng với khoảnh khắc cận kề cái chết của Lor-ca, niềm tiếc thương đau đớn, chua xót, sự ngưỡng mộ tôn vinh được cam kết hài hòa vào những cung bậc thanh âm của tiếng ghi ta.

    + Tiếng ghi ta là ẩn dụ hay nói đúng hơn là bài ca về cuộc đời, số phận và cái chết của Lor-ca. Cuộc đời của con người ấy như tiếng đàn ghi ta với thanh âm trong trẻo làm lay động lòng người.

  • [Soạn văn] Sóng (Xuân Quỳnh)

    [Soạn văn] Sóng (Xuân Quỳnh)

    Soạn văn lớp 12: Sóng (Xuân Quỳnh)

    Bố cục bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh) gồm 3 phần:

    + Hai khổ đầu: sóng và tình yêu

    + Bốn khổ sau: tình yêu và nỗi nhớ

    + Còn lại: tình yêu và khát vọng

    Câu 1: Anh/chị có nhận xét gì về âm điệu, nhịp điệu bài thơ? Âm điệu, nhịp điệu đó được tạo nên bởi những yếu tố nào?

    Âm điệu, nhịp điệu bài thơ xao xuyến, rộn ràng, được tạo bởi:

    – Câu thơ ngắn, đều (5 chữ).

    – Nhịp thơ thường thuận, gợi dư âm sóng biển:

    Dữ dội / và êm dịu (2/3)

    Ồn ào / và lặng lẽ (2/3)

    Sông / không hiểu nổi mình (1/4)

    Sóng / tìm ra tận bể (1/4)

    – Vần thơ: vần chân, vần cách, gợi hình ảnh các lớp sóng đuổi nhau.

    Câu 2: Hình tượng bao trùm, xuyên suốt bài thơ là hình tượng sóng. Mạch liền kết các khổ thơ là những khám phá liên tục về sóng. Hãy phân tích hinh tượng này.

    – Ở lớp nghĩa tả thực, hình tượng sóng được diễn tả chân thực, sinh động. Nó như có tâm hồn, tính cách, tâm trạng. Sóng lúc thì dữ dội và dịu êm, có khi lại ồn ào và lặng lẽ. Hành trình của sóng là từ sông Sóng tìm ra tận bể.

    – Trong bài thơ tình của Xuân Quỳnh, Sóng là hình ảnh thiếu nữ đang sống trong một tình yêu nồng nàn. Sóng bể muôn trùng, tình yêu vô hạn. Sóng nhớ bờ còn em thì nhớ đến anh – “cả trong mơ còn thức“. Sóng “con nào chẳng tới bờ” cũng như tình yêu sẽ cập bến hạnh phúc. Và sóng sẽ tan ra trên đại dương, vỗ mãi đến ngàn năm, muôn đời. Cũng như tình yêu đẹp sống mãi trong lòng người và cuộc đời, đó là “biển lớn tình yêu“. Xuân Quỳnh lấy hình tượng Sóng để thể hiện một tình yêu sôi nổi, chân thành và dạt dào khát vọng.

    Câu 3: Phân tích hai hình tượng Sóng và em? Kết cấu bài thơ Sóng (Xuân Quỳnh)?

    – Có hai hình tượng luôn song hành cùng nhau đó là sóng và em. Có lúc phản ánh lẫn nhau, có lúc tách rời có lúc lại hòa vào làm một –> hình tượng này tuy hai mà một. Kết cấu song hành đó làm tăng hiệu quả của sự nhận thức và khám phá của chủ thể trữ tình về một tình yêu thủy chung, bất diệt.

    – Kết cấu bài thơ là kết cấu liền mạch của suy nghĩ và cảm xúc: cô gái nhìn ra biển cả, nhân quan sát sóng biển, suy nghĩ về tình yêu, cô nhận thấy tình yêu cũng như sóng biển, đa dạng và biến hóa, mạnh mẽ và thủy chung. Rồi cô ước ao hóa thành cong sóng nhỏ để ngàn năm hát cùng “biển lớn tình yêu“.

    Câu 4:    Bài thơ là lời tự bạch của một tâm hồn phụ nữ đang yêu. Theo cảm nhận của anh, chị, tâm hồn đó có những đặc điểm gì?

    Đó là một tâm hồn rất chân thành, sôi nổi và mạnh mẽ, hết mình trong tình yêu. Tâm hồn ấy mạnh dạn thành thực tự bộc lộ nhưng vẫn đầy nữ tính và rất thủy chung, nhạy cảm với cái hữu hạn của cuộc đời nên khát khao một tình yêu vĩnh hằng.

  • [Soạn văn] Đò lèn (Nguyễn Duy)

    [Soạn văn] Đò lèn (Nguyễn Duy)

    Soạn văn lớp 12: Đò lèn (Nguyễn Duy)

    Câu 1: Kí ức tuổi thơ hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ?

    Kí ức tuổi thơ hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ vừa sinh động hồn nhiên vừa đầy suy tư day dứt. Bài thơ có 6 khổ thơ thì đến 5 khổ là kí ức tuổi thơ. Kí ức hiện lên với hai mảng hình ảnh tương phản, ngầm thể hiện sự ân hận, day dứt của nhân vật tôi trong quá trình nhận thức.

    – Hai khổ thơ đầu: Đó là kí ức tuổi thơ hồn nhiên, vô tư với những trò chơi nghịch ngợm của trẻ con (câu cá, bắt chim, hái trộm nhãn, níu váy theo bà đi chợ, …). Đó là niềm say mê, mơ mộng thế giới hư ảo của tiên Phật, thánh thần (chơi đền Cây Thị, xem lễ đền Sòng, tâm hồn trẻ thơ ngây ngất trước mùi thơm của hương trầm, hoa huệ, trước điệu hát văn của cô đồng, …)

    – Ba khổ thơ tiếp: Hiện lên hình ảnh người bà trong cuộc đời thực với bao vất vả, khổ cực, gian nan. Cuộc sống nghèo khó nên phải “mò cua xúc tép“, “gánh chè xanh” trĩu nặng trên vai cùng bà con xuôi ngược buôn bán khắp nơi; ăn “củ dong riềng luộc sượng” để cầm hơn qua cơn đói khát; thời chiến tranh ác liệt, nhà bà bị bom Mĩ dội bà phải đi “bán trứng ở ga Lèn

    – Đứa cháu vô tư đến mức vô tâm không nhận ra nỗi vất vả cơ cực của bà.

    Câu 2: Tình cảm sâu nặng đối với người bà được biểu hiện qua hình ảnh nào?

    – Hình ảnh người bà: mò cua xúc tép, gánh chè xanh những đêm lạnh ,bán trứng ga Lèn ngày bom Mỹ dội, năm đói củ dong riềng luộc sượng … . Đó là những hình ảnh thể hiện sự cơ cực, tần tảo, yêu thương.

    – Tình cảm của nhà thơ khi nghĩ về bà ngoại:

    + Thấu hiểu nỗi cơ cực, tần tảo, tình yêu thương của bà .Thể hiện tình yêu thương, sự tôn kính, lòng tri ân sâu sắc đối với bà.

    + Sự ân hận, ngậm ngùi, xót đau muộn màng:

    Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

    Bà chỉ còn một nấm cỏ thôi

    Câu 3: Nét độc đáo trong cách thể hiện tình cảm đối với người bà của Nguyễn Duy

    Trong Bếp lửa, nhà thơ Bằng Việt thể hiện tình cảm dành cho bà bằng việc tái hiện những hồi ức thiêng liêng, cảm động về tình bà cháu. Tình cảm ấy được thể hiện qua tiếng tu hú tha thiết, qua hình ảnh bếp lửa bập bùng.

    Nét độc đáo trong cách thể hiện tình cảm đối với người bà của Nguyễn Duy là bộc lộ tình cảm trực tiếp, những kí ức ùa về dạt dào rất chân thành, không che đậy dưới bất kì hình ảnh, biểu tượng nào. Mặt khác, nhà thơ còn bày tỏ tình cảm đối với bà bằng những lời thơ tự trách mình, như ăn năn hối lỗi khi nhớ về một thời vô tâm, vụng dại đã qua, chưa kịp làm gì để thương và đền đáp công ơn của bà.