Category: Soạn Văn Lớp 12

  • [Soạn văn] Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)

    [Soạn văn] Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)

    Soạn văn lớp 12: Hồn Trương Ba, da hàng thịt (Lưu Quang Vũ)

    Bố cục: chia làm 3 phần chính:

    – Phần 1: Cuộc đổi xác của hồn Trương Ba với hàng thịt.

    – Phần 2: Những hành động sau khi bị tráo đổi.

    – Phần 3: Trở về con người cũ.

    Câu 1: Qua đoạn đối thoại giữa Trương Ba và hàng thịt, tác giả muốn gửi gắm một bức thông điệp quan trọng tới người đọc:

    – Ở đây bi kịch của con người khi phải hoán đổi thân xác cho nhau, cứ phải sống nhờ lương tựa vào người khác, những mỗi người một khác nên sẽ rất bị ảnh hưởng trong tâm hồn của tác giả.

    – Ở đây tác giả đã thể hiện những chi tiết rất đặc sắc trong tâm hồn của tác giả, hình ảnh về mượn thể xác sẽ làm cho con người cảm thấy khó chịu khi mình phải trú ngụ và lương tựa vào cái không phải là của mình.

    – Một con người hiền lành lịch sử của Trương Ba nay bị hoán đổi sang với xác của hàng thịt một người cục cằn thô lỗ, ở đây sự hoán đổi không hợp lý để làm nổi bật ý nghĩa sâu xa mà tác giả muốn để lại cho người đọc.

    – Trương Ba hội thoại với hàng thịt, ông ta đang chán cái thể xác kềnh càng khó chịu này, ông ta muốn thoát khỏi chúng, nhưng nay chỉ còn là thể xác và những hình đó thật mờ nhạt khi linh hồn của ông mãi trong xác hàng thịt và không thể thay đổi.

    – Hình ảnh của Trương Ba và Xác hàng thịt tác giả muốn để lại một ý nghĩa giáo dục sâu sắc không nên hoán đổi thể xác và trú ngụ vào những nơi không phải là của mình.

    – Cuộc hội thoại trên chỉ làm tăng ý nghĩa của tác giả qua bài viết, tâm hồn của mình không thể bị hoán đổi cho người khác.

    Câu 2: Hồn Trương Ba khi ngụ trong xác anh hàng thịt: Có những thay đổi rõ rệt.

    – Không còn chăm chỉ – hết lòng yêu thương vợ con. Không con quan tâm đến chuyện của bà con hàng xóm.

    – Vụng về, thô lỗ, phũ phàng.

    – Con dâu: xót xa – ngỡ ngàng bởi không còn được thấy hình ảnh con người “hiền hậu, vui vẻ, tốt lanh như thầy của chúng con xưa kia“.

    => Những thay đổi này người thân Trương Ba phải chứng kiến và chịu đựng. Chính Trương Ba cũng không còn nhận ra chính mình nữa, ông rất đau khổ nhưng sự thật không thể thay đổi, hình ảnh của ông mờ nhạt trong thể xác của hàng thịt. Đây là một sự thật về sự lấn át của xác đối với hồn. Cái tốt nếu không biết gìn giữ sẽ dần mai một rồi có ngày bị tận diệt. Lúc này, nỗi đau khổ của hồn Trương Ba tạm thời lắng xuống nhường chỗ cho một sự tính toán quan trọng. Sống là để xác chiến thắng ngĩa là tự đánh mất mình mà muốn giữ được linh hồn thì chỉ có cách … Hồn đã đứng dậy trong xung khắc căng thẳng với xác và bình tình đi đến quyết định: Hồn Trương Ba thắp hương gọi Đế Thích.

    Câu 3:

    – Quan niệm sống của Trương Ba và Đế Thích rất khác nhau, Trương Ba thì cho rằng mượn thân xác của người khác để trú ngụ là một điều không nên, sống trong người khác làm cho bản tính của ta sẽ bị mờ nhạt đi, còn Đế Thích thì lại cho rằng mượn thân xác để sống cũng là điều bình thường, chỉ cần được sống là tốt. Hai quan điểm hoàn toàn khác nhau.

    – Những lời trách móc của Trương Ba đối với Đế Thích: “ông chỉ đơn giản là cho tôi sống, nhưng sống như thế nào thì ông chẳng cần biết“. Mượn thân xác để sống con người sống nhưng tính cách của chính mình bị mờ nhạt trong cái xác thịt của hàng thịt, linh hồn và thể xác của ông hoàn toàn không muốn sống trong thân xác của kẻ khác.Ở đây ông đang nói về những trải nghiệm mà ông đang phải trải qua.

    – Ý nghĩa:

    + Con người là một thể thống nhất, hồn và xác phải hài hoà, không thể có một tâm hồn thanh cao trong một thân xác tội lỗi. Khi con người bị chi phối bởi những nhu cầu bản năng thì không nên chỉ đổ tội cho xác và không thể an ủi, vỗ về bằng vẻ đẹp siêu hình của tâm hồn.

    + Sống nhờ, sống gởi, sống chắp vá, khong được là mình thì cuộc sống ấy thật là vô nghĩa.

    – Qua lời thoại, nhân vật ý thức rõ hoàn cảnh của mình: đầy trớ trêu và bi hài.

    Câu 4:

    Khi Trương Ba kiên quyết đòi trả lại xác hàng thịt, Đế Thích định cho Trương Ba vào xác của cu Tý nhưng Trương Ba không đồng ý lý do vì:

    – Hồn Trương Ba ngày càng thấm thía nỗi đau xót trớ trêu: bên trong một đằng, bên ngoài một nẻo.

    – Không thể trú ngụ nhờ thân xác khác, nó sẽ làm cho tâm hồn của ông mờ nhạt hơn, đó là những điều mà Trương Ba đang nghĩ và nó có tác dụng đối với ông cả sau này ông không phải sống trong những ngày dằn vặt.

    => Có nhận thức tỉnh táo + tình thương cu Tị nên ông đã dứt khoát quyết định nhường lại sự sống cho cu Tị còn mình thì chết hẳn.

    Câu 5:

    Đoạn kết có ý nghĩa rất to lớn nó có tác dụng thúc đẩy ý chí nhận thức của con người về cách sống để tránh làm cho tâm hồn của mình bị tổn thương, không hoán đổi thân xác và sống nhờ vào thân xác của người khác.Được sống làm người quý giá thật nhưng được sống đúng mình, sống trọn vẹn những giá trị mình vốn có và theo đuổi còn quý giá hơn.

    Phần Luyện tập

    Đề bài: Giả định Đế Thích cho Trương Ba được quyền sống (không phải mượn xác anh hàng thịt, hoặc hồn Trương Ba nhập vào xác cu Tị và Trường Ba đồng ý) thì cuộc sống của Trương Ba sau đó sẽ như thế nào? Anh (chị) hãy trình bày ý tưởng về những rắc rối sẽ xảy ra qua một lớp kịch ngắn về điều đó.

    Nội dung vở kịch

    Đế Thích: Này ông Trương Ba, nếu ông có thương cảnh mẹ góa con côi của nhà chị Lụa thì ông hãy để tôi hóa phép cho hồn ông nhập vào xác thằng cu Tị nhé! Như thế là ông vẫn sống, mà chị Lụa thì ngày ngày vẫn được thấy mặt con.

    Hồn Trương Ba (băn khoăn, nghĩ ngợi): ông cho tôi suy nghĩ một lát đã. Thời gian qua, tôi gặp biết bao nhiêu là rắc rối vì chuyện mượn thân xác anh hàng thịt. Khổ quá ông ạ! Nhiều lúc tôi nghĩ thà chết thật có khi lại sướng hơn; chứ cứ dơi chẳng ra dơi, chuột chẳng ra chuột thế này đúng là dở sống dở chết.

    Đế Thích: Ông với anh hàng thịt vốn là người xa lạ; còn ông với thằng cu Tị đã từng quý mến, quấn quýt với nhau. Hồn ông sống trong thân thể thằng bẻ chắc sẽ ổn thổi.

    Hồn Trương Ba: Tôi là một lão già sáu mươi tuổi; còn thằng cu Tị đang tuổi ăn tuổi lớn, mới bắt đầu cuộc đời. Nhập vào thân xác nó, suốt ngày tôi sẽ nghịch ngợm, chạy nhảy với cái lốt cháu nội tôi. Tôi sẽ giải thích với bà nhà tôi sao đây? Còn chị Lụa nữa. Nếu chị ta nhớ thương con, bắt tôi về ở hẳn bên ấy thì sao? Rồi bà con làng xóm sẽ xì xám to nhỏ và đám lý trưởng, Trương tuần sẽ lại gây khó dễ cho tôi … Phiền phức quá ông ạ! Thôi, ông cứ để cho tôi chết. Tôi chỉ cầu xin ông tìm cách cứu thằng.

    Đế Thích: Tôi chẳng có cách nào hay hơn cả. ông hãy nghe lời tôi đi ông có nghe thấy tiếng khóc con xé ruột của mẹ thằng cu Tị không?

    Hồn Trương Ba (miễn cưỡng thở dài): Thôi đành vậy, tùy ông!

    (Đế Thích hóa phép, hồn Trương Ba rời khỏi thân xác hàng thịt, nhập vào thân xác cu Tị. Cu Tị ngồi dậy dụi mắt Chị Lụa bàng hoàng, sửng sốt rồi reo lên sung sướng.)

    Chị Lụa (ôm cu Tị vào lòng, âu yếm): Ôi, con trai yêu quý của mẹ! Mẹ cám ơn Trời Phật đã cho con sống lại! Từ nay trở đi, mẹ con ta sẽ sống bên nhau mãi mãi.

    Hồn Trương Ba (vùng ra khỏi vòng tay chị Lụa): Tôi là Trương Ba, hàng xóm nhà chị đây mà!

    Chị Lụa: Ối cu Tị ơi, con là con trai của mẹ mà! Lại đây với mẹ nào!

    Hồn Trương Ba (bực bội gắt): Tôi đã bảo tôi là Trương Ba chứ không phải là thằng cu Tị!

    Chị Lụa (hoảng hốt gào khóc): Trời ơi! Con tôi bị làm sao thế này? Con nói lảm nhảm gì thế? Ôi con ơi là con ơi!

    (Hồn Trương Ba đi về nhà mình, mặc cho chị Lụa chạy theo khóc lóc.) Vợ Trương Ba (nhìn thấy cu Tị xăm xăm đi vào, kinh hãi thét lên): Ma ….. Ma … ….! ối trời đất ơi!

    Hồn Trương Ba: Tôi đây mà! Trương Ba đây, bà đừng sợ!

    Vợ Trương Ba: Trời ơi! Lại trò gì nữa đây hả trời?! Tôi chưa đủ khổ hay sao mà ông còn …?!

    Hồn Trương Ba (nắm lấy tay vợ): Thì bà cứ bình tĩnh nghe tôi nói đã! Đầu đuôi câu chuyện là thế này: Tôi chán sống trong thân xác anh hàng thịt bởi nó gây ra cho tôi và mọi người nhiều điều phiền toái nên yêu cầu ông Đế Thích hãy để cho tôi chết hẳn. Nhưng ông ấy bảo tôi nếu thương thằng cu Tị thì hãy nhập vào xác nó để cho má nó ngày ngày còn được thấy mặt con …

    Vợ Trương Ba: ông lại tiếp tục sống nhờ vào thân xác người khác ư?! Thôi, lần này thì tôi đành phải bỏ nhà mà ra đi thật rồi! Làm sao tôi chấp nhận được ông chồng sáu mươi trong thân xác đứa trẻ lên mười? Bao nhiêu rắc rối sẽ lại xảy ra trong gia đình này …

    (Chị Lụa vừa chạy vào vừa mếu máo gọi con.)

    Chị Lụa: Ối cu Tị ơi, về nhà với mạ nào! Con đừng bỏ mẹ con ơi!

    Vợ Trương Ba: Đấy, Ông thấy tôi nói có đúng không nào? Mọi chuyện lôi thôi lại bắt đầu rồi!

    Chi Lụa (bế thốc “cu tí” chạy đi): về nhà mình con nhé! Hôm nào con khỏe, mẹ sẽ cho con sang đây chơi với cái Gái.

    Hồn Trương Ba (giãy giụa): Ơ hay cái nhà chị này! Chị có buông tôi ra không thì bảo! Tôi đã nói tôi là Trương Ba chứ không phải cu Tị con chị.

    (Bất chợt, lý trưởng và Trương tuần đi ngang qua, thấy ồn ào liền đứng lại.)

    Lý trưởng (trợn mắt ra oai): Hừm! Chuyện gì thế hử?

    Chị Lụa: Bẩm ông lý, tôi chỉ bắt thằng con tôi về nhà thôi ạ! Cháu nó cứ đòi ở bên nhà ông Trương Ba!

    Hồn Trương Ba (phân trần): Tôi không phải là con chị ta. Tôi là Trương Ba.

    Lý trưởng (tức giận quát): A, thằng nhãi ranh láo toét! Tao bảo Trương tuần phết cho mày mấy gậy bây giờ! Đi về nhà mau!

    Hồn Trương Ba: Tôi về nhà tôi!

    Lý trưởng: Trương tuần đâu! Lôi cổ thằng nhãi ranh này ra đình rồi trói nó lại! Nó dám cãi lệnh ta sao?!

    Hồn Trương Ba: Buông tôi ra! Tôi chẳng làm gì nên tội!

    Trương tuần (quật cho “cu Tị” một gậy vào mông rồi túm cổ lôi đi): Này thì cãi! Này thì cãi! Tối nay tao cho mày đánh tổ tôm với muỗi, con ạ!

    Chị Lụa (chạy theo năn nỉ): Trăm lạy ông lý, ngàn lạy ông lý! Xin ông tha cho cháu! Dạ, thôi thì có chút tiền trà thuốc xin ông lý nhận cho!

    Lý trưởng (đút nhanh tiền vào túi): Chị đã biết điều như thế thì ta tha cho nó! Liệu mà dạy con cẩn thận, nghe chưa?!

    (Lý trưởng, Trương tuần bỏ đi.)

    Hồn Trương Ba: Chị Lụa này, tôi phải nói cho chị rõ là ông tiên Đế Thích đã hóa phép cho hổn tôi nhập vào xác cu Tị. Cho nên tôi vẫn là Trương Ba chứ không phải là con chị. Chị đừng ép tôi. Tôi hứa sẽ qua lại bên nhà cho chị đỡ buồn. Thôi, tôi về nhà tôi đây! Chào chị!

    (Hồn Trương Ba gặp cái Gái ở ngay cửa.)

    Cái Gái (hoảng hốt lùi lại): ối! Cu Tị! Bà nội ơi, bà nội! Cu Tị chết rồi cớ mà?! Hu hu …

    Hồn Trương Ba (tiến lại gần): Đừng sợi Ta là ông nội cháu đây mà!

    Cái Gái (hét lên): Không phải! Đừng động vào tôi! Bố ơi! Cứu con!

    Con trai Trương Ba (chạy ra ôm lấy con): Bố đây! Bố đây! Sao thế con?

    Cái Gái (sợ hãi): Cu Tị, cu Tị dám xưng là ông nội! Hu hu …

    Con trai Trương Ba (ngạc nhiên): Ơ! Thế này là thế nào?

    Hồn Trương Ba (rầu rĩ): Thầy đây, anh cả ạ! ông Đế Thích cho hồn thầy nhập vào xác thằng cu Tị đấy mà!

    Con trai Trương Ba (vò đầu bứt tai): Lại thế nữa! Thầy còn chưa đủ khổ sở hay sao cơ chứ?! Cà nhà ta chưa đủ khổ sở vì những điểu rắc rối đã xảy ra ư?! Trời ơi!

    Hồn Trương Ba (xua tay): Thôi! thôi! Chẳng qua là thầy thương thằng cu Tị. Thầy không muốn chị Lụa mất con, cái Gái mất bạn. Nếu rắc rối quá thì để thầy nghĩ lại.

    (Đến đêm, Hồn Trương Ba thắp mấy nén nhang, khấn vái. Đế Thích xuất hiện)

    Đế Thích (vui vẻ): Chào ông Trương Ba! Sao? Ngụ trong thân xác cu Tị, ông cổ thấy thoải mái hơn chút nào không?

    Hồn Trương Ba (lắc đầu tỏ vẻ không hài lòng): Bất ổn rồi ông ơi! Mới từ sáng tới giờ mà bao nhiêu chuyện rắc rối đã xảy ra. Suýt nữa thì tôi bị lý trưởng với Trương tuần lôi ra đình trói lại đấy! Còn vợ con tôi, cháu tôi, chẳng ai muốn tôi sống trong hình hài này cả. Tôi nghĩ kĩ rồi. Xin ông cho tôi chết hẳn đi!

    Đế Thích (băn khoăn, phân vân): Chà, khó nhỉ! Tôi thì tôi không muốn mất bạn đánh cờ. Nói thật nhé, dưới trần gian chỉ có một mình ông là ngang tài ngang sức với tôi thôi. Đánh cờ với ông thú vị lắm!

    Hồn Trương Ba: Tôi cũng biết thế nhưng tôi không chiều theo ý ông mãi được. Ai mà chẳng thích sống, nhưng sống kiểu như tôi bây giờ thì có lẽ chết lại đỡ khổ hơn, ông ạ!

    Đế Thích: Ông nghĩ kĩ chưa? ông có yêu cầu gì không?

    Hồn Trương Ba: Tôi chẳng ân hận điều gì cả. Chỉ xin ông nghĩ cách cứu lấy thằng cu Tị! Cảnh mẹ góa con côi khổ sở trăm bề. Nay nó chết đi thì mẹ nó chắc cũng không sống nổi. Đối với người mẹ, chẳng có gì quý bằng đứa con đâu, ông ạ! Mong ông giữ lời hứa để tôi chết cũng vui lòng.

    Đế Thích (ngẫm nghĩ hồi lâu rồi cả quyết gật đầu): Tôi hứa là sẽ cứu bằng được thằng cu Tị, dù một lần nữa vi phạm luật Trời! Ông cứ yên tâm nhắm mắt!

    Hồn Trương Ba (mỉm cười thanh thản): Xin cảm ơn ông! Xin đa tạ, đa tại (Một làn khói trắng nhẹ nhàng bay lên khỏi mái nhà, tan hòa vào màn sương mỏng. Bên nhà chị Lụa bỗng nổi lên tiếng reo sung sướng: Ôi, con trai tôi sống lại rồi! Xin tạ ơn Trời Phật!)

  • [Soạn văn] Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê)

    [Soạn văn] Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê)

    Soạn văn lớp 12: Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê)

    Bố cục: gồm 2 phần

    – Phần 1 (từ Mặt trời đang mọc lên đến nước bắn tung trùm lên cả ông lão và con thuyền): Cuộc chiến của Xan-ti-a-gô.

    – Phần 2 (còn lại): Xan-ti-a-gô đưa con cá về bến.

    Câu 1:

    Hình ảnh những vòng lượn của con cá kiếm được miêu tả lặp đi lặp lại mang nhiều hàm ý. Trước hết cho thấy, mặc dù đã ba ngày hai đêm đuổi theo con cá kiếm nhưng ông lão cũng chưa nhìn thấy con cá. Ông chỉ cảm nhận tình trạng của con cá qua sợi dây, qua vòng lượn từ rộng tới hẹp, từ xa tới gần của nó và điều đó cũng cho thấy ông lão rất giàu kinh nghiệm. Mặc khác từ những vòng lượn đó mà ta hiểu được sự cố gắng của con cá, mặc dù đã mắc câu nhưng nó vẫn muốn thoát khỏi sự bủa vây của người ngư phủ. Con cá kiếm rất kiên cường.

    Câu 2:

    Cảm nhận về con cá được niêu tả từ xa đến gần, từ bộ phận đến toàn thể chủ yếu qua xúc giác và thị giác của ông lão. “Đến vòng lượn thứ ba” ông lão mới nhìn thấy con cá nhưng cũng chỉ thấy từng bộ phận: Cái bóng của nó rất dài, cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, cánh vi trên lưng xếp lại, bộ vây to sụ, … từ những bộ phận ấy mà cảm nhận con cá thật lớn. Chỉ đến khi con cá bị ông lão đâm trúng tim, nó “phóng vút lên khỏi mặt nước“, lúc đó nó mới “phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và còn sức lực” của nó. Con cá không những lớn mà còn rất đẹp. Tính cách của nó mạnh mẽ, bình tĩnh, kiêu hùng.

    Câu 3:

    – Trong đoạn trích: ông lão không chỉ cảm nhận con cá với cảm xúc của kẻ đi săn, muốn giết đối thủ mà còn coi nó như đối thủ xứng tầm người bạn, người anh em, cảm phục nó.

    – Chi tiết:

    + Lời đối thoại với con cá kiếm: đừng nhảy, cá ơi, tao chưa từng thấy … anh em ạ. => coi con cá như con người.

    + Chiêm ngưỡng con cá kiếm, thưởng thức vẻ đẹp của nó.

    + Thán phục hành động chấp nhận cuộc chiến của nó (con cá có thể lặn xuống làm đứt dây câu hoặc lật thuyền …)

    + …

    – Mối liên hệ giữa ông lão và con cá: đa diện, phức tạp.

    + Người đi câu – con mồi được câu.

    + Hai kì phùng địch thủ, cân sức cân tài.

    + Hai người bạn cảm thông, chia sẻ.

    + Mối quan hệ giữa cái đẹp và người thưởng thức, hướng tới cái đẹp.

    + Ứng xử giữa con người và môi trường.

    Câu 4:

    Ông già và biển cả (Hê-Minh-Uê)

    – Hình ảnh con cá kiếm mang ý nghĩa biểu tượng:

    + Thiên nhiên => thể hiện vẻ đẹp, sức mạnh, tính chất kiêu hùng, kì vĩ của tự nhiên.

    + Cuộc sống => những chông gai, thử thách của cuộc đời.

    + Con người: ước mơ về thành quả lao động.

    + Nghệ thuật: ước mơ sáng tạo.

    Đặc điểm của nghệ thuật tảng băng trôi qua đoạn trích:

    – Phần nổi của “tảng băng trôi“: hành trình theo đuổi, chiến đấu để bắt được con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô.

    – Phần chìm của “tảng băng trôi“:

    + Hành trình theo đuổi và thực hiện ước mơ giản dị nhưng lớn lao của con người.

    + Hành trình khám phá vẻ đẹp và chinh phục thiên nhiên của con người.

    + Hành trình vượt qua thử thách để đến với thành công.

    + Con đường đến với thành công hiếm khi bằng phẳng.

    + Cần phải chinh phục tự nhiên để phục vụ cho cuộc sống của con người nhưng cũng chớ coi thường thiên nhiên. Thiên nhiên là kẻ thù nhưng cũng là bạn của con người. Chiến đấu hết mình để giành thắng lợi trước các lực lượng của tự nhiên nhưng cũng phải biết sống hoà hợp với thiên nhiên.

    + Bài học về niềm tin vào bản thân, vào sức mạnh và khả năng tồn tại của con người trong cuộc sống.

  • [Soạn văn] Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)

    [Soạn văn] Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)

    Soạn văn lớp 12: Số phận con người (M. Sô-lô-khốp)

    Bố cục: chia làm 3 phần

    – Phần 1 (từ đầu đến đang nghịch cát đấy): giới thiệu nhân vật.

    – Phần 2 (tiếp đó đến chợt lóe lên như thế): niềm hạnh phúc của bé Va-ni-a.

    – Phần 3 (còn lại): Số phẩn hẩm hiu của Xô-cô-lốp và niềm tin vào sức mạnh của con người Nga.

    Câu 1: Hoàn cảnh đáng thương của An-đrây Xô-cô-lốp sau chiến tranh kết thúc và trước khi gặp bé Va-ni-a là:

    – Chiến tranh đã kết thúc và giành được hòa bình, nhưng thật xót xa khi anh nhận được tin người vợ thân yêu và người con gái của anh đã bị bọn phát xít bắn chết, niềm vui chiến thắng chưa bao lâu thì nỗi buồn lại xảy ra, sự đau xót của anh thật tột cùng biết bao. Những nỗi đau mất mát đi người thân, những người thân yêu nhất đã bị chiến tranh cướp đi và giờ đây lòng căm thù phát xít trong anh ngày càng được nâng cao.

    – Bước ra khỏi cuộc chiến không biết đi về đâu, đành về tá túc nhờ nhà người bạn và làm nghề lái xe cho nông trường.

    – Hay uống rượu để dịu bớt nỗi đau, anh căm ghét chiến tranh, nó đã cướp đi không biết bao nhiêu số phận con người vô tội và giờ đây là vợ và con gái của anh, nỗi buồn tinh thần đó anh không thể nào nguôi được những giọt nước mắt của anh rơi xuống minh chứng một điều rằng anh đang có một nỗi buồn tới tận cùng của con người. Anh đã khóc trước mặt của bé Va-ni-a (mồ côi cha mẹ, cũng là nạn nhân của chiến tranh, lang thang, vất vưởng, đói rách, ăn xin, nhưng chú bé vẫn thật hồn nhiên, trong sáng). Nỗi đau của anh không diễn tả được bằng lời mà nó nuốt đắng trong tim nghẹn ngào thành những giọt nước mắt.

    => Hai số phận đau thương nghiệt ngã đặt cạnh nhau, bổ sung cho nhau làm rõ những mất mát không gì bù đắp nổi do chiến tranh gây ra. Ý nghĩa tố cáo chiến tranh toát ra từ đây.

    Câu 2:

    – Việc An-đrây nhận Va-ni-a làm con nuôi đã làm thay đổi cả cuộc đời hai cha con:

    + Bé Va ni a có được người chở che, mái ấm gia đình.

    + An-đrây tìm lại được ý nghĩa cuộc sống, tìm được tình yêu thương để xóa mờ nỗi đau chiến tranh.

    – Tâm hồn thơ ngây của bé Va-ni-a:

    + Mặt mũi lấm lem, quần áo bẩn thỉu nhưng đôi mắt rất sáng.

    + Khi được Xô-cô-lốp gọi, leo lên xe hỏi, chờ trả lời.

    + Ngồi trên xe lặng thinh, tư lự, chốc chố nhìn Xô-cô-lốp …

    + Trả lời những câu hỏi một cách hồn nhiên.

    + Nồng nhiệt thể hiện tình cảm, sự ước ao, hi vọng khi được nhận làm con.

    – Lòng nhân hậu của Xô cô lốp:

    + Khi gặp Va-ni-a: thấy quý và nhớ.

    + Trước hoàn cảnh đáng thương và tâm hồn ngây thơ của Va-ni-a nên đã nhận bé làm con nuôi => quyết định đột nhiên, xuất phát từ đáy lòng.

    + Khi nghe thấy tiếng thở dài của bé: dùng những hình ảnh nhỏ bé, đáng thương để so sánh với Va ni a tội nghiệp.

    + Chăm sóc Vania như con đẻ.

    + Âm thầm chịu đựng những đau khổ vì sợ Vania đau khổ.

    => Giàu tình yêu thương, nhân hậu, giàu trách nhiệm.

    – Điểm nhìn nhân vật trùng với điểm nhìn tác giả: Cái chính ở đây … trên má anh.

    => Điểm nhìn chan chứa tình yêu thương, hướng tới cuộc sống bình yên, tâm hồn trong sáng của trẻ thơ,đầy giá trị nhân đạo.

    Câu 3: An-đrây Xo-cô-lốp đã vượt lên nỗi đau và sự cô đơn như thế nào (khó khăn trong đời thường, chiêm bao ám ảnh và nỗi đau không nguôi)?

    – Khi Xô-cô-lốp đi làm thì không ai chăm sóc bé Va-ni-a, mà nó thì không chịu rời bố nửa bước.

    – Kí ức về người cha cũ lâu lâu chợt lóe lên, một hôm nó chợt hỏi: Cái áo bành tô bằng da của bố đâu rồi? Xô-cô-lốp lúng túng nhưng tìm ra cách nói dối trơn tru. Nhưng không thể nói dỗi với cháu mãi được. Đến khi nó biết được sự thật thì nó sẽ tổn thương như thế nào. Vấn đề tưởng nhỏ nhưng không đơn giản.

    – Rồi bệnh tim của Xô-cô-lốp tái phát. Nếu không may, thằng nhỏ lại mất cha một lần nữa thì Xô-cô-lốp sẽ đau khổ biết chừng nào.

    – Còn một nỗi khổ tâm nữa, hằng đêm Xô-cô-lốp chiêm bao thấy vợ con … thức giấc thì gối đậm nước mắt => Bé Va-ni-a mang lại niềm vui và hạnh phúc nhưng chỉ xoa dịu vết thương lòng chứ không thể thay thế vợ con, không thể bù đắp nỗi mất mát lớn lao, những tình cảm thiêng liêng đã mất. Trong sâu thẳm tâm hồn, Xô-cô-lốp vẫn âm thầm chịu đựng nỗi đau – vết thương chiến tranh dai dẳng. Quy luật tâm lí được thể hiện chân thực tự nhiên, thuyết phục.

    – Khi lái xe, Xô-cô-lốp lỡ gây ra tai nạn, chuyện không đâu nhưng anh bị tước bằng lái. Thế là mất việc. Hai cha con lại lang thang đi tìm việc. Hình ảnh con người bé nhỏ côi cút giữa nước Nga mênh mông đã gây xúc động lớn.

    – Cuối cùng là cảm nghĩ của tác giả về những con người Nga đó, tác giả tin rằng, với nghị lực và sức mạnh, họ sẽ đương đầu và vượt qua mọi thử thách.

    Câu 4: Thái độ người kể chuyện

    – Thể hiện lòng khâm phục, sự quý mến với bản lĩnh kiên cường, lòng nhân hậu của con người Xô viết.

    – Tin tưởng vào tương lai qua hình ảnh chú bé Vania.

    – Tin tưởng vào sức mạnh tiềm ẩn và những cống hiến thầm lặng mà to lớn của những thế hệ con người Nga trong cuộc xây dựng và bảo vệ tổ quốc.

    – Đoạn cuối: lời kêu gọi, nhắc nhở sự quan tâm, trách nhiệm của toàn xã hội đối với những con người bất hạnh.

    Câu 5:

    Với Sô lô khốp: trong cuộc sống, mỗi người có thể sẽ có những số phận khác nhau,con người có thể gặp nhiều nỗi đau, bất hạnh, mất mát, nhưng nhà văn vẫn không đánh mất hi vọng vào niềm tin, niềm hạnh phúc con người. Ông tin tưởng, con người biết dựa vào nhau, chia sẻ, đùm bọc, yêu thương nhau sẽ tạo nên hạnh phúc.

  • [Soạn văn] Thuốc (Lỗ Tấn)

    [Soạn văn] Thuốc (Lỗ Tấn)

    Soạn văn lớp 12: Thuốc (Lỗ Tấn)

    I. Tóm tắt truyện ngắn Thuốc

    – Một đêm thu gần về sáng, theo lời bác Cả Khang, lão Hoa trở dậy đi đến pháp trường để mua “thuốc” chữa bệnh cho thằng Thuyên – con trai lão, đang bị mắc bệnh lao. Bị chém hôm đó ở pháp trường là Hạ Du, một người làm cách mạng, do bị cụ Ba tố giác cháu với chính quyền để kiếm hai mươi lạng bạc mà bị bắt và hành hình. Nghe mọi người kể lại trong quán trà của gia đình lão Hoa, vào trong ngục, Hạ Du vẫn không sợ chết, còn dám cả gan rủ cả lão Nghĩa “làm giặc”. Mặc dù được chữa bằng bánh bao tẩm máu người nhưng cuối cùng thằng Thuyên vẫn không khỏi.

    – Một buổi sớm mùa xuân, trong tiết thanh minh, tại nghĩa địa mẹ của Thuyên và mẹ của Hạ Du đều đến thăm mộ con. Hai người rất ngạc nhiên, băn khoăn tự hỏi “Thế này là thế nào?” khi nhìn thấy một vòng hoa đặt trên mộ người cách mạng. Bà mẹ của Thuyên đã bước qua con đường mòn cố hữu ngăn cách giữa nghĩa địa của người chết nghèo và nghĩa địa của người chết chém hoặc chết tù để sang an ủi mẹ Hạ Du.

    II. Ý nghĩa nhan đề “Thuốc” và hình tượng chiếc bánh bao tẩm máu người

    Nhan đề thiên truyện là Thuốc (nguyên văn là Dược). Thuốc ở đây chính là chiếc bánh bao tẩm máu người mà lão Hoa đã mua về cho thằng Thuyên ăn để chữa bệnh lao. Nhan đề này có nhiều nghĩa.

    – Tầng nghĩa thứ nhất của Thuốc là nghĩa tường minh: chỉ phương thuốc chữa bệnh lao bằng chiếc bánh bao tẩm máu người. Đây là một phương thuốc mê tín lạc hậu tương tự như hai vị thuốc mà ông thầy lang đã bốc cho cho bố Lỗ Tấn để chữa bệnh phù thủng là rễ cây mía đã kinh sương ba năm và một đôi dế đủ con đực, con cái dẫn đến cái chết của ông cụ.

    – Tầng nghĩa thứ hai của Thuốc là nghĩa hàm ẩn: đó là phương thuốc để chữa bệnh tinh thần: căn bệnh gia trưởng, căn bệnh u mê lạc hậu về mặt khoa học của người dân Trung Quốc. Bố mẹ thằng Thuyên vì lạc hậu và gia trưởng đã áp đặt cho nó một phương thuốc là chiếc bánh bao tẩm máu người dẫn đến cái chết của nó. Rồi tất cả đám người trong quán trà cũng sai lầm như vậy. Chiếc bánh bao tẩm máu vô hại kia đã trở thành một thứ thuốc độc vì người ta quá tin vào nó mà không lo tìm một thứ thuốc khác.Người dân Trung Quốc phải tỉnh giấc, không được “ngủ mê trong cái nhà hộp bằng sắt không có cửa sổ”.

    – Tầng nghĩa thứ ba của Thuốc, của chiếc bánh bao tẩm máu người: là phương thuốc nhằm chữa căn bệnh u mê lạc hậu về mặt chính trị của người dân Trung Quốc và căn bệnh xa rời quần chúng của người cách mạng Trung Quốc thời bấy giờ . Máu để tẩm chiếc bánh bao là dòng máu người chiến sĩ cánh mạng Hạ Du đã đổ xuống để giải phóng cho nhân dân. Thế mà nhân dân lại u mê cho anh là làm giặc, là thằng điên và mua máu anh để tẩm bánh bánh bao. Còn Hạ Du làm cách mạng cứu nước,cứu dân mà lại quá xa rời quần chúng để nhân dân không hiểu anh đã đành mà mẹ anh cũng không hiểu (đỏ mặt xấu hổ khi thăm mộ con gặp bà Hoa) còn chú anh thì tố cáo cháu để lấy tiền thưởng.

    Câu 1: Hình tượng chiếc bánh bao

    – Nghĩa thực: là một phương thuốc chữa bệnh => độc hại, gợi liên tưởng đến việc người ăn thịt người.

    => chiếc bánh bao là biểu tượng cho sự u mê, tăm tối và mê tín, dị đoan của những người Trung Quốc giai đoạn đó.

    Câu 2: Hình tượng Hạ Du

    – Hạ du là một người chiến sĩ cách mạng nhưng khi trong tù ngục Hạ Du được coi như một kẻ điên không ai biết đến hắn hoặc biết đến thì cũng không biết hắn con nhà ai.. Một người anh hùng đã sớm giác ngộ lý tưởng cách mạng nhưng khi ra đến pháp trường hắn chỉ là một con người rất tầm thường, và cái chết của Hạ Du vẫn không làm cho căn bệnh u mê của người dân bị tiêu giảm. Họ vẫn tin rằng con của Lão Hoa Thuyên ăn chiếc bánh bao có tẩm máu của người cách mạng sẽ khỏi bệnh những rồi bệnh tật cũng không khỏi, một căn bệnh thật khó chữa và nan y ở trung quốc lúc biến những người dân nơi đây thành những kẻ mê muội và lầm than.

    => Bi kịch của người làm cách mạnh: xa rời quần chúng, quần chúng u mê, tăm tối, chưa giác ngộ (bị chú ruột tố giác, mẹ xấu hổ, đao phủ dùng máu trục lợi, bị miệt thị …)

    Lỗ Tấn vừa nhắc nhở, vừa nghiêm khắc phê bình những người làm cách mạng xa rời quần chúng,không làm được công tác dân vận, giác ngộ tư tưởng cho nhân dân.

    Câu 3: Quan hệ giữa cái chết và nội dung ý nghĩa toát ra từ nghệ thuật chơi chữ của nhà văn.

    – Thời gian: mùa thu trảm quyết => mùa xuân năm sau.

    => Ý nghĩa: thể hiện mạch suy tư lạc quan, tin tưởng của tác giả.

    – Hình ảnh vòng hoa:

    + Thể hiện tấm lòng ưu ái của Lỗ Tấn đối với cuộc đời, sự nghiệp, sự hi sinh của Hạ Du.

    + Thể hiện niềm lạc quan, tin tưởng vào một tương lai tươi sáng của cách mạng Trung Quốc: có người đã thấu hiểu cho họ.

    + Thể hiện dấu hiệu tốt lành: khẳng định sẽ có những người tiếp tục làm cách mạng, tiếp bước Hạ Du.

    + Là chi tiết nghệ thuật độc đáo, thể hiện chủ để tư tưởng tác phẩm, mang nhiều ý nghĩa biểu tượng => đối lập hẳn với hình ảnh chiếc bánh bao: nó thể hiện tấm lòng nhân ái, nỗi niềm trăn trở và nhiềm tin son sắt của Lỗ Tấn vào tiền đồ Cách mạng.

    – Hình tượng con đường xuất hiện nhiều lần trong tác phẩm của Lỗ Tấn. Nó trở thành hình tượng ẩn dụ thể hiện mối quan tâm đặc biệt của nhà văn về vận mệnh của quốc gia. Trong tác phẩm này, nó mang nhiều ý nghĩa.

    => Con đường mòn tượng trưng cho tập quán xấu, nếp nghĩ cũ. Và đây là con đường đã cũ không thể đưa Trung Hoa đi đến tương lai. Do đó cần phá bỏ con đường, xóa bỏ ranh giới ngăn cách của lòng người.

    Trung Hoa cần phải tìm ra con đường mới. Lỗ Tấn nói: Đường là cái gì? Chính là chỗ chưa có đường đi mà ra, từ chỗ chỉ có gai góc mở ra. Nhà thơ Tây Ban Nha là An-tô-ni-ô Ma-ca-đô cũng nói: Đầu tiên nào có đường! Cứ đi sẽ thành đường.

    – Mẹ Hạ Du viếng mộ nhưng xấu hổ không dám bước, sau đánh liều bước tới nấm mộ bên trái => Chứng tỏ bà chưa hiểu con.

    Nhưng khi nhìn thấy hoa trên mộ thì bà khóc than: Oan con lắm, Du ơi! => Bà mẹ đã bắt đầu hiểu.

    – Mẹ Hoa Thuyên động lòng trắc ẩn đứng dậy, niềm đồng cảm của người mẹ mất con thúc đẩy bà bước qua bên kia đường mòn => lòng người sẽ không còn cô đơn chia cắt, trong quần chúng đã bắt đầu có sự đồng cảm và nhận thức về thế giới xung quanh.

    – Cuối cùng là câu hỏi: Thế này là thế nào nhỉ? Hứa hẹn sẽ có câu trả lời, sẽ có sự giác ngộ trong quần chúng.

    – Vòng hoa trên mộ Hạ Du => đã có người hiểu Hạ Du, đã có quần chúng được giác ngộ và tiếp bước theo con đường của Hạ Du, con đường cách mạng sẽ lạc quan. Vòng hoa cũng là tấm lòng tri ân kính cẩn của nhà văn đối với các liệt sĩ đã hi sinh vì Tổ quốc.

  • [Soạn văn] Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)

    [Soạn văn] Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)

    Soạn văn lớp 12: Một người Hà Nội (Nguyễn Khải)

    Câu 1: Nhân vật cô Hiền

    – Xuất thân trong một gia đình giàu có lương thiện:

    + Mẹ buôn nước mắm.

    + Cha đậu tú tài, mê văn thơ và dạu cho con những khuôn phép nhà quan.

    – Ngoại hình: xinh đẹp, khuôn mặt tư sản, thông minh và rất yêu thơ văn. Được gia đình mở phòng tiếp khách văn chương.

    – Tính cách và phẩm chất của cô Hiền:

    + Cô cùng Hà Nội cùng đất nước trải qua biết bao nhiêu thăng trầm nhưng vẫn giữ được cốt cách con người Hà Nội. Cô sống chân thành không dấu giếm quan điểm với mọi người xung quanh.

    + Với hôn nhân: cô chọn chồng là một ông giáo tiểu học chăm chỉ (gia đình ổn định, chồng hiền lành).

    + Việc sinh con: dừng lại ở tuổi 40 sau khi sinh được 5 đứa con để mai này có thể chăm lo cho con chu đáo.

    + Việc dạy con:dạy từ cái nhỏ nhất, dạy từ cái ăn uống hằng ngày, cô dạy con cách sống làm người Hà Nội lịch sự tế nhị, hào hoa, biết giữ gìn phẩm chất của con người Hà Nội.

    + Quan điểm về gia đình: là nội tướng trong gia đình.

    + Chiêm nghiệm lẽ đời: vui hơi nhiều, nói hơi nhiều.

    => Cô Hiền quả là một người thức thời khi có những cư xử hợp với tình hình của xã hội của đất nước. Hòa bình ở Miền Bắc cô tính toán mọi việc rất khôn khéo mà đã làm là làm chứ không bận tâm để ý đến những lời đàm tiếu xung quanh. Miến Bắc chống chiến tranh phá hoại cô dạy con cách sống cho không phải xấu hổ, cô khuyên con lên đường nhập ngũ. Sau đó đất nước thống nhất cô lại mở một cửa hàng lưu niệm tự tay làm những sản phẩm đi bán. Chồng đòi mua máy in nhưng cô đã phân tích và không cho. Cô nghĩ cô chỉ làm những gì có lợi cho đất nước.

    => Cô Hiền quả là một hạt bụi vàng của Hà Nội sau bao thăng trầm vẫn cứ sống có nghĩa cho đất nước cho gia đình, hạt bụi ấy tuy là bé nhưng lại vô cùng quý giá.

    Câu 2: Nhân vật khác

    a. Nhân vật tôi: Thấp thoáng sau những dòng chữ là nhân vật “tôi” – đó là một người đã chứng kiến và tham gia vào nhiều chặng đường lịch sử của dân tộc. Trên những chặng đường ấy, nhân vật “tôi” đã có những quan sát tinh tế, cảm nhận nhạy bén, sắc sảo, đặc biệt là về nhân vật cô Hiền, về Hà Nội và người Hà Nội. Ẩn sâu trong giọng điệu vừa vui đùa, khôi hài, vừa khôn ngoan, trải đời là hình ảnh một người gắn bó thiết tha với vận mệnh đất nước, trân trọng những giá trị văn hóa của dân tộc. Nhân vật “tôi” mang hình bóng Nguyễn Khải, là người kể chuyện, một sáng tạo nghệ thuật sắc nét đem đến cho tác phẩm một điểm nhìn trầm thuật chân thật, khách quan và đúng đắn, sâu sắc.

    b. Nhân vật Dũng

    – Anh đã sống đúng với những lời mẹ dạy, anh đã cùng hơn 660 thanh niên anh dũng lên đường cứu lấy Tổ Quốc cứu lấy Hà Nội.

    – Có thể nói Dũng và Tuất đều thể hiện được cốt cách của con người Hà Nội.

    c. Bên cạnh sự thật về những người Hà Nội có phẩm cách cao đẹp, còn có những người tạo nên “nhận xét không mấy vui vẻ” của nhân vật “tôi” về Hà Nội. Đó là “ông bạn trẻ đạp xe như gió” đã làm xe người ta suýt đổ lại còn phóng xe vượt qua rồi quay mặt lại chửi “tiên sư cái anh già” …, là những người mà nhân vật “tôi” quên đường phải hỏi thăm … . Đó là những “hạt sạn của Hà Nội“, làm mờ đi nét đẹp tế nhị, thanh lịch của người Tràng An. Cuộc sống của người Hà Nội nay cần phải làm rất nhiều điểm để giữ gìn và phát huy cái đẹp trong tính cách người Hà Nội.

    Câu 3: Ý nghĩa cây si cổ thụ

    – Hình ảnh cây si bị bão đánh bật rễ thể hiện sự khắc nghiệt của thiên nhiên đồng thời nó cũng là quy luật của xã hội.

    – Cây si cổ thụ bị bão đánh bật rễ rồi lại hồi sinh nói lên quy luật bất diệt của sự sống. Quy luật này được khẳng định bằng niềm tin của con người thành phố đã kiên trì cứu sống được cây si.

    – Cây si cũng là một biểu tượng nghệ thuật, một hình ảnh ẩn dụ về vẻ đẹp của Hà Nội: có thể bị tàn phá, bị nhiễm bệnh nhưng vẫn là một người Hà Nội với truyền thống văn hóa đã được nuôi dưỡng suốt trường kì lịch sử, là cốt cách, tinh hoa, linh hồn của đất nước.

    Câu 4: Nghệ thuật trong tác phẩm

    – Giọng điệu trần thuật: một giọng điệu rất trải đời, vừa tự nhiên, dân dã vừa trĩu nặng suy tư, vừa giàu chất khía quát, triết lí. Vừa đậm tính đa thanh. Cai tự nhiên, dân dã tạo nên phong vị hài hước rất có duyên trong giọng kể của nhân vật “tôi“; tính chất đa thanh thể hiện trong lời kể: nhiều giọng (tự tin xen lẫn hoài nghi, tự hào xen lẫn tự trào …). Giọng điệu trần thuật đã làm cho truyện ngắn đậm đặc chất tự sự rất đời thường mà hiện đại.

    – Nghệ thuật xây dựng nhân vật:

    + Tạo tình huống gặp gỡ giữa nhân vật “tôi” và nhân vật khác.

    + Ngôn ngữ nhân vật góp phần khắc họa tính cách (ngôn ngữ nhân vật “tôi” đậm vẻ suy tư, chiêm nghiệm, lại pha chút hài hước, tự trào; ngôn ngữ của cô Hiền ngắn gọn, rõ ràng, dứt khoát …).

  • [Soạn văn] Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng)

    [Soạn văn] Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng)

    Soạn văn lớp 12: Mùa lá rụng trong vườn (Ma Văn Kháng)

    Câu 1: Nhân vật chị Hoài

    – Chị Hoài mang vẻ đẹp đằm thắm của người phụ nữ nông thôn: “người thon gọn trong cái áo lông chần hạt lựu. Chiếc khăn len nâu thắt ôm khuôn mặt rộng có cặp mắt hai mí đằm thắm và cái miệng cười rất tươi“.

    – Nét đằm thắm, mặn mà toát lên từ tâm hồn chị, từ tình cảm đôn hậu, từ cách ứng xử, quan hệ với mọi người. Từng là dâu trưởng trong gia đình ông Bằng, bây giờ chị đã có một gia đình riêng với những quan hệ riêng, lo toan riêng, mọi thứ vẫn nhớ, vẫn quý, vẫn yêu chị. Bởi vì “người phụ nữ tưởng đã cắt hết mối dây liên hệ với gia đình này, vẫn giao cảm, vẫn chia sẻ buồn vui và cùng tham dự cuộc sống của gia đình này” (biết chuyện cô Phượng đã chuyển công tác, nhận được thư bố chồng cũ, sợ ông buồn nên phải lên ngay; chu đáo xởi lởi chuẩn bị quà, hỏi thăm tất cả mọi người lớn, bé; sự thành tâm của chị trước bàn thờ tổ tiên chiều 30 tết…). Trong tiềm thức mỗi người “vẫn sống động một chị Hoài đẹp người đẹp nết“.

    – Nhân vật chị Hoài là mấu người phụ nữ vẫn giữ được nét đẹp truyền thống quý giá trước những “cơn địa chấn” xã hội.

    Câu 2: Diễn biến tâm lí của chị Hoài và ông Bằng

    – Tâm trạng xúc động mãnh liệt:

    + Ông Bằng: “nghe thấy xôn xao tin Hoài lên“, “ông sững khi nhìn thấy Hoài, mặt thoáng một chút ngơ ngẩn. Rồi mắt ông chớp liên hồi, môi ông bật không thành tiếng, có cảm giác ông sắp khóc oà“, “giọng ông bỗng khê đặc, khàn rè: Hoài đấy ư, con?” Nỗi vui mừng, xúc động không giấu giếm của ông khi gặp lại người đã từng là con dâu trưởng mà ông rất mực quý mến.

    + Chị Hoài: “gần như không chủ động được mình lao về phía ông Bằng, quên cả đôi dép, đôi chân to bản… kịp hãm lại khi còn cách ông già hai hàng gạch hoa“. Tiếng gọi của chị nghẹ ngào trong tiếng nấc “ông!“.

    => Sự xúc động của hai người thể hiện tình cảm chân thành giữa những người trong gia đình, dự cảm những điều tốt đẹp trong truyền thống gia đình.

    – Trước sự có mặt của chị Hoài, ông Bằng như có thêm niềm tin trong cuộc đấu tranh âm thầm nhằm giành lại những gì tốt đẹp trong truyền thống gia đình mà giờ đây, trước bao tác động của thời cuộc, đang có nguy cơ bị băng hoại.

    Câu 3: Ý nghĩa của khung cảnh ngày tết và dòng tâm tư cùng với lời khấn của ông Bằng trước bàn thờ:v

    – Hướng về nguồn cội.

    – Bảo vệ các giá trị truyền thống cũng như việc phải giữ gìn bao giá trị tốt đẹp trong quá khứ.

  • [Soạn bài] Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

    [Soạn bài] Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

    Soạn văn lớp 12: Chiếc thuyền ngoài xa (Nguyễn Minh Châu)

    Bố cục : Truyện chia làm 2 đoạn lớn:

    – Đoạn 1 (Từ đầu đến “chiếc thuyền lới vó đã biết mất“): Hai phát hiện của người nghệ sĩ nhiếp ảnh.

    – Đoạn 2 (Còn lại): Câu chuyện của người đàn bà làng chài.

    Câu 1:

    – Phát hiện thứ nhất: bức tranh tuyệt mĩ của cảnh biển mờ sương lúc bình minh.

    + Đó là vẻ đẹp “trời cho“, vẻ đẹp mà cả đời bấm máy anh chỉ thấy một lần: bức tranh mực tàu, mũi thuyền in một nét mơ hồ, vài bóng người lớn lẫn trẻ con ngồi im phăng phắc …

    => Cảnh tượng tuyệt đẹp. một bức họa diệu kì của thiên nhiên và cuộc sống, là quà tặng của hóa công.

    – Cảm thấy bối rối, tim thắt lại => cảm nhận của người nghệ sĩ khi bắt gặp cái đẹp đỉnh cao, cái tận Chân, Thiện, Mĩ, tâm hồn được thanh lọc.

    Câu 2:

    Khi chiếc thuyền vào bờ, Phùng thấy hai vợ chồng hàng chài bước xuống. Anh chứng kiến cảnh người chồng đánh vợ, đứa con ngăn bố. Những ngày sau đó lại tiếp diễn. Phùng không ngờ sau cảnh đẹp tuyệt đỉnh là bao sự ngang trái, nghịch lí của đời thường. Anh nhận ra sự xa cách giữa cái đẹp của ngoại cảnh với số phận cực nhọc, tăm tối của con người.

    Câu 3: Câu chuyện ở tòa án huyện

    Câu chuyện ở tòa án huyện: là câu chuyện về sự thật cuộc đời, giúp những người như Phùng, Đẩu hiểu được nguyên do của những điều tưởng như vô lí: rằng người đàn bà chịu bạo hành, khuất nhục nhưng không li hôn.Nhưng tất cả đều xuất phát từ tình thương vô bờ đối với những đứa con. Trong đau khổ triền miên, người đàn bà ấy vẫn chắt lọc những niềm hạnh phúc nhỏ nhoi…

    => Khẳng định một cách nhìn của người nghệ sĩ về cuộc đời và con người: không thể nhìn nhận dễ dãi, đơn giản về những sự việc trong cuộc sống.

    Câu 4: Phân tích các nhân vật

    a. Nhân vật người đàn bà

    – Ngoại hình: xấu xí, thô kệch

    – Số phận, cuộc đời: kém may mắn, lam lũ, vất vả

    – Tính cách:

    + Cam chịu, nhẫn nhục: người đàn ông thô lỗ, đánh đập => im lặng, không trả đũa, không chạy trốn.

    + Giàu lòng tự trọng: chồng đánh – không khóc, nhưng sau khi biết hành động vũ phu đã bị thằng Phác và người khách lạ phát hiện: đau đớn, xấu hổ và nhục nhã.

    – Sống rất sâu sắc, thấu hiểu lẽ đời, hiểu chồng, thương con => người phụ nữ vị tha, giàu đức hi sinh.

    b. Nhân vật người chồng

    – Vốn là một anh con trai cục tính nhưng hiền lành.

    – Do cuộc sống khắc nghiệt: biến thành một người vũ phu, tàn bạo, ích kỉ.

    => Vừa là nạn nhân của cuộc sống khốn khổ, vừa là thủ phạm gây nên đau khổ cho người thân của mình.

    c. Chị em thằng Phác

    + Người chị: yếu ớt nhưng can đảm, vật lộn để tước con dao trên tay em => là điểm tựa cho người mẹ, hành động đúng khi cản được việc làm dại dột của đứa em, lo toan cho mẹ khi phải đến Tòa án.

    + Thắng Phác: thương mẹ, nhưng chỉ nhìn thấy cha nó ở khía cạnh độc ác, tàn nhẫn mà chưa hiểu được “lẽ đời” bên trong.

    => Hình ảnh tiêu biểu của những đứa trẻ lớn lên trong bạo lực, bạo hành.

    d. Người nghệ sĩ

    – Là người có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm (phát hiện cảnh đẹp …)

    – Người lính từng vào sinh ra tử => cảm ghét mọi áp bức bất công, sẵn sàng làm mọi điều vì cái thiện, công bằng.

    – Thấu hiểu, thông cảm được những buồn vui, cay đắng ở đời (cảm xúc vỡ òa khi phát hiện sự thật sau cái đẹp, khi nghe người đàn bà nói chuyện …)

    Câu 5: Cách xây dựng cốt truyện độc đáo

    Trong tác phẩm, đó là sự kiện Phùng chứng kiến lão đàn ông đánh vợ một cách tàn bạo. Trước đó, anh nhìn đời bằng con mắt của người nghệ sĩ rung động, say mê trước vẻ đẹp huyền ảo – thơ mộng của thuyền biển. Trong giây phút tâm hồn thăng hoa những cảm xúc lãng mạn, Phùng phát hiện ra hiện thực nghiệt ngã của đôi vợ chồng bước ra từ con thuyền “thơ mộng” đó.

    Tình huống đó được lặp lại lần nữa: bên cạnh hình ảnh người đàn bà nhẫn nhục chịu đựng “đòn chồng“, Phùng còn được chứng kiến phản ứng của chị em thằng Phác trước sự hung bạo của cha đối với mẹ. Từ đó, trong người nghệ sĩ đã có sự thay đổi cách nhìn đời. Anh thấy rõ những cái ngang trái trong gia đình thuyền chài, hiểu sâu thêm tính chất người đàn bà, chị em thằng Phác, hiểu thêm người đồng đội (Đầu) và hiểu thêm chính mình.

    Ý nghĩa: Nguyễn Minh Châu đã xây dựng được tình huống mà ở đó bộc lộ mọi mối quan hệ, bộc lộ khả năng ứng xử, thử thách phẩm chất, tính cách, tạo ra những bước ngoặt trong tư tưởng, tình cảm và cả trong cuộc đời nhân vật. Tình huống truyện mang ý nghĩa khám phá, phát hiện đời sống.

    Câu 6: Cách sử dụng ngôn ngữ

    – Ngôn ngữ người kể chuyện: thể hiện qua nhân vật Phùng => tạo điểm nhìn trần thuật sắc sảo, tăng cường khả năng khám phá đời sống, lời kể trở nên khách quan, chân thật, thuyết phục.

    – Ngôn ngữ nhân vật: phù hợp với đặc điểm tính cách từng người.

    => Ngôn ngữ được sử dụng linh hoạt.

  • [Soạn văn] Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

    [Soạn văn] Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

    Soạn văn lớp 12: Những đứa con trong gia đình (Nguyễn Thi)

    Câu 1: Cách Trần Thuật của tác phẩm

    – Truyện “Những đứa con trong gia đình” được trần thuật lại chủ yếu qua dòng hồi tưởng của nhân vật Việt, khi anh bị thương trong trận chiến, nhiều lần ngất đi rồi tỉnh lại, trong tư thế nửa tỉnh nửa mê.

    – Cách trần thuật như vậy khiến truyện được kết cấu theo diễn biến của trí nhớ và ý thức, cảm xúc của nhân vật cứ lúc bị đứt ra rồi lại nối lại qua những lần ngất đi rồi tỉnh lại ấy.

    + Tạo nên nét mới trong việc thuật lại câu chuyện, tạo nên tính hấp dẫn hơn dưới ngôn ngữ, con mắt của chính nhân vật trong truyện.

    + Tính cách nhân vật được khắc họa rõ nét, độc đáo.

    + Tình tiết của câu chuyện không chịu gò bó theo một trình tự thời gian, không gian nhất định, mà được xáo trộn linh hoạt. Nhà văn đi sâu được vào thế giới nội tâm nhân vật để dẫn dắt truyện.

    Ở đây qua dòng hồi tưởng của nhân vật Việt, hình ảnh của các nhân vật- các thành viên trong gia đình: ba, má, chị Chiến, chú Năm được lần lượt giới thiệu hiện rõ dần đồng thời bản thân Việt – người kể chuyện cũng bộc lộ ngày càng đầy đủ tư cách, tính cách, cảm xúc tình cảm của chính mình.

    Câu 2: Truyền thống của những người trong gia đình hai chị em Việt – Chiến là tình yêu thương máu mủ ruột già, yêu nước mãnh liệt căm thù giặc sâu sắc.

    – Chú Năm: đại diện cho truyền thống và lưu giữ truyền thống (trong câu hò, trong cuốn sổ …).

    – Má Việt: cũng là hiện thân của truyền thống ấn tượng sâu đậm nhất ở người phụ nữ này là khả năng ghìm nén đau thương để sống và duy trì sự sống, che chở cho đàn con và tranh đấu.

    – Việt và Chiến là hai đứa con của gia đình đã tự nguyện cầm súng chiến đấu báo thù cho ba mẹ bị giặc Pháp giết hại.

    Câu 3: Nhân vật Việt và Chiến

    a. Những nét tính cách giống nhau

    – Cùng sinh trưởng trong một gia đình, có hoàn cảnh số phận giống nhau nên hai chị em có tâm lí, tính cách giống nhau.

    + Cùng ước nguyện được cầm súng đánh giặc để trả thù cho ba má.

    + Giành nhau đi tòng quân.

    + Cùng ý nghĩ khi khiên bàn thờ sang gửi nhà chú Năm để chị em đi đánh giặc.

    – Dù còn nhỏ tuổi nhưng hành động của họ thật đáng khâm phục:

    + Chưa vào quân ngũ nhưng hai chị em đã bắn được tàu chiến của giặc trên sông Đinh Thủy.

    + Khi đi chiến đấu, Chiến là tiểu đội trưởng gương mẫu của bộ đội địa phương.

    + Việt phá được xe tăng của địch trong một trận giáp lá cà.

    + Dù bị thương nhưng khi tỉnh dậy, còn một ngón cái cử động được, Việt vẫn để tay lên cò súng, sẵn sàng chiến đấu.

    – Hai chị em đều rất trẻ: (cách nhau một tuổi, chị mười chín, em mười tám) nên tính tình ngây thơ, hồn nhiên và dễ thương.

    + Giành nhau chuyện bắt ếch, đánh tàu giặc, giành nhau đi tòng quân.

    + Hay cãi nhau.

    => Cả hai đều giống nhau ở tấm lòng thương yêu cha mẹ, từ đó mà có lòng căm thù giặc sâu sắc. Tình cảm nung nấu, hun đúc thành ý chí sắt đá, thành lòng quyết tâm cao độ. Họ đều là những chiến sĩ dũng cảm, gan góc, lập được nhiều chiến công.

    b. Những nét tính cách khác nhau

    Chiến: là kiểu nhân vật phụ nữ thường gặp trong tác phẩm của Nguyễn Thi: sinh ra để gánh vác, để chịu đựng, và để chiến đấu.

    – Sớm mất cha mẹ, Chiến đã trở thành người thay thế mẹ lo lắng cho em. Chiến có nét đảm đang tháo vát của người mẹ, tính toán thu xếp việc nhà chu đáo như người lớn.

    – Chiến là người ý thức được truyền thống gia đình. Cô có thể bỏ ăn ngồi đánh vần từng chữ cuốn sổ ghi công của chú Năm. Cô đã sớm ý thức được mối thù, ý thức được trách nhiệm của thế hệ con cháu nối tiếp truyền thống gia đình, ghi thêm những trang mới vào cuốn sổ ghi công ấy.

    Việt:

    – Tính cách hiếu động: thích bắt ếch, bắn chim, câu cá, rảnh rỗi lúc nào nà cái ná thun trong tay lội cuối vườn ngoài bãi; lúc nào đi làm về cũng có một xâu chim trên cán cuốc.

    – Tính cách hiếu thắng: đã giành với chị cái gì thì giành cho bằng được.

    – Hôn nhiên vô tư: Tranh chị đi tòng quân thì cho mình đã lớn, nhưng chuyện trong gia đình, cái gì cũng phó mặc cho chị. Trong đêm, trước lúc lên đường, Chiến nằm trong buồng đang bàn tính với Việt thì Việt nằm ngoài vẫn ậm ừ một lúc đã ngáy khò khò.

    – Tính cách trẻ con:

    + Đi bộ đội còn dắt thêm cái ná thun trong người.

    + Đi đánh giặc không sợ giặc, không sợ chết, chỉ sợ ma.

    + Muốn giữ kín chị không cho đồng đội biết vì sợ mất chị.

    Câu 4:

    Khuynh hướng sử thi là một khuynh hướng trong sáng tác nghệ thuật thiên về việc phản ánh những sự kiện có ý nghĩa lịch sử mang tính toàn dân. Tác phẩm “Những đứa con trong gia đình” được viết bằng cảm hứng sử thi. Tuy chỉ tập trung vào hình ảnh những con người trong một gia đình những đó cũng là hình ảnh tiêu biểu cho đại gia đình đất nước. Chú Năm nói “Chuyện gia đình ta nó cũng dài như sông“, dòng sông truyền thống của gia đình hòa cùng dòng chảy của lịch sử dân tộc: nhiều nỗi đau nhưng cuồn cuộn căm hờn, kết tinh thành sức mạnh tinh thần to lớn, vô tận, bất khuất trước kẻ thù. “Những đứa con trong gia đình” cách mạng. này đều hiện lên với kích cỡ của những người anh hùng với những suy nghĩ, câu nói, hành động đáng khâm phục.

    Câu 5:

    Đoạn văn cảm động nhất đó là cảnh hai chị em Việt và Chiến khiêng bàn thờ má chạy qua cánh đồng, gửi sang nhà chú Năm để hai chị em lên đường đi chiến đấu. Cảnh tượng đó khiến người đọc liên tưởng và bồi hồi xúc động bởi nhìn vào đó ta thấy được tình yêu, tình hiếu thảo, chọn nghĩa đối với cha mẹ. Dù khó khăn gian khổ hai chị em vẫn yêu thương nhau và không quên trách nhiệm nghĩa vụ trả thù cho ba má. Vẫn luôn nhớ về ba mẹ và làm theo, đi theo con đường ba mẹ đã đi, hết lòng vì tổ quốc.

  • [Soạn văn] Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam)

    [Soạn văn] Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam)

    Soạn văn lớp 12: Bắt sấu rừng U Minh Hạ (Sơn Nam)

    Câu 1: Thiên nhiên và con người vùng U Minh Hạ

    – Thiên nhiên:

    + Rừng tràm xanh biếc.

    + Những cây cỏ hoang dại: lau sậy, mốp, cóc kèn.

    + Ở ngọn rạch Cái Tàu có ao cá sấu “nhiều như trái mù u chín rụng“.

    – Con người:

    + Cần cù, mưu trí, gan góc, kiên cường.

    + Có sức sống mãnh liệt.

    + Đậm sâu, ân nghĩa. (Họ thương tiếc những bà con xóm giềng bị “hùm tha bắt sấu“, họ vượt lên gian khó hiểm nguy bằng tài trí và sức mạnh của mình, …)

    Câu 2: Tính cách và tài nghệ của Năm Hên:

    – Nhận vật ông Năm Hên là hình ảnh tiêu biểu cho người dân vùng U Minh Hạ nói riêng, người dân Nam Bộ nói chung. Ông là người tài trí khác thường, bắt sấu không cần vũ khí, không cần lưỡi câu. Ông bắt sấu trên khô “bằng hai tay không“, “chừng một giờ đồng hồ sau là xong chuyện“, nghĩa là ông sẽ bắt hết ao cá sấu trong thời gian rất ngắn. Ông bắt cả đàn cá sấu chỉ bằng mấy câu mốp tươi và nắm dây cóc kén, đó chính là mưu trí và sự am hiểu tường tận về loài cá dữ này của ông.

    – Ông là người giàu nghĩa khí, giàu tình cảm. Ông nói “Nghề bắt sấu có thể làm giàu được, ngặt tôi không màng thứ phú quới đó“.

    – Ông bắt sấu vì nghĩa. Nghe đồn có ao cá sấu khiến cho người dân bất an, ông chẳng ngại đường xa đến để trừ tai họa cho họ. Ông bắt sấu còn là để trả thù cho người em trai bị cá sấu ăn thịt và bao nhiêu người bất hạnh đã chết oan vì sấy.

    – Ông là người rất tôn kính thổ thần, có tình nghĩa nặng sâu với tổ tiên, với những người đã khuất. Điều này thể hiện qua bài hát của Năm Hên:

    Hồn ở đâu đây


    Ta thương ta tiếc

    Lập đàn giải oan

    Tiếng hát gọi hồn não nùng, bi ai theo ông hằng ngày. Tiếng hát của ông cũng là một sự hóa giải cho những linh hồn bất hạnh, những linh hồn vất vưởng nơi rừng thiêng nước độc.

    Câu 3: Đặc sắc nghệ thuật kể chuyện, sử dụng ngôn ngữ:

    – Lối dẫn truyện rất thô mộc, tự nhiên mà gọn gàng, sáng rõ.

    – Nhân vật giàu chất sống, thể hiện rõ nét tính cách con người Nam Bộ.

    – Ngôn ngữ Nam Bộ được thể hiện rõ, phương ngữ được sử dụng thích hợp, với liều lượng vừa đủ để khắc họa sâu đậm vóc dáng tâm hồn của con người, đất rừng, sông nước Cà Mau.

    Câu 4:

    Tác phẩm không chỉ đem đến cho người đọc những cảm giác khám phá đầy say mê, lý thú khi mở ra thế giới bí ẩn, độc đáo của thiên nhiên, con người vùng cực Nam của Tổ quốc mà còn khiến người ta yêu thương, gắn bó một phần đất, phần hồn của quê hương, đất nước mình. Đâu đây vẫn là vẻ đẹp giàu có và khắc nghiệt của đất Việt, vẫn hồn cốt cần cù, dũng cảm, tài trí, yêu đời của người Việt trong cuộc đấu tranh sinh tồn và mở mang, xây dựng đất nước. Sự kì thú khi khám phá những yêu thương, thân gần và một tình cảm tự hào tha thiết. Đó chính là những xúc cảm thẩm mĩ mà tác phẩm đã đem đến cho người đọc.

  • [Soạn văn] Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

    [Soạn văn] Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

    Soạn văn lớp 12Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

    Bố cục: gồm 3 phần

    – Đoạn đầu: Hình ảnh rừng xà nu

    – Phần chữ nhỏ: Câu chuyện Tnú sau ba năm đi lực lượng về thăm làng.

    – Còn lại: Câu chuyện về cuộc đời bi tráng của Tnú và câu chuyện chiến đấu của dân làng Xô Man được cụ Mết kể lại.

    Câu 1: Ý nghĩa truyện qua:

    – Nhan đề tác phẩm:

    + Rừng xà nu: ẩn chứa khí vị, Tây Nguyên, gợi nên vẻ đẹp hùng tráng, sức sống bất diệt … => Rừng xà nu mang nhiều tầng ý nghĩa bao gồm cả thực lẫn tượng trưng => chứa đựng cảm xúc nhà văn và linh hồn tác giả.

    – Cảnh rừng xà nu dưới tầm đại bác: hứng chịu mọi sự hủy diệt của đạt bác Mĩ, đầy thương tích, chết choc nhưng vẫn giàu sức sống, vươn lên => biểu tượng cho cuộc sống và phẩm chất cao đẹp của dân làng Xô Man.

    – Rừng xà nu, đồi xà nu trải dài … => sự tiếp nối, bền vững, trường tồn, không gì hủy diệt được => tượng trưng cho sức sống của đất nước và nhân dân mãi trường tồn.

    Câu 2: Nhân vật Tnú

    a. Người anh hùng mà cụ Mết kể chính là Tnú. Phẩm chất, tình cách của người anh hùng Tnú:

    – Gan góc, táo bạo, dũng cảm, trung thực (khi còn nhỏ cùng Mai vào rừng tiếp tế cho anh Quyết).

    – Lòng trung thành với cách mạng được bộc lộ qua thử thách (bị giặc bắt, tra tấn, lưng Tnú ngang dọc vết dao chém của kẻ thù nhưng anh vẫn gan góc).

    – Số phận đau thương: không cứu được vợ con, bản thân bị bắt, bị tra tấn (bị đối mười đầu ngón tay)

    – Quật khởi đứng dậy cầm vũ khí tiêu diệt bọn ác ôn.

    – Tnú may mắn hơn so với thế hệ đàn anh của mình như anh hùng Núp và A Phủ:

    + Không phải sống kiếp tội đòi cam phận, cam chịu.

    + Được thừa hưởng phong trào cách mạng từ cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

    + Được giác ngộ lí tưởng cách mạng ngay từ tuổi nhỏ.

    b. Câu chuyện bi tráng về cuộc đời Tnú: “Tnú không cứu được vợ con“. Cụ Mết nhắc tới bốn lần để nhấn mạnh: khi chưa cầm vũ khí, Tnú chỉ có hai bàn tay không thì ngay cả những người thương yêu nhất Tnú cũng không cứu được. Câu nói của cụ Mết muốn khẳng định: chỉ có cầm vũ khí đứng lên mới là con đường sống duy nhất, mới bảo vệ được những gì thân yêu, thiêng liêng nhất; chân lí cách mạng đúc rút từ chính thực tế máu xương, tính mạng của dân tộc, những con người thương yêu nên chân lí ấy phải ghi tạc vào xương cốt, tâm khảm và truyền lại cho thế hệ tiếp nối.

    c. Câu chuyện Tnú với dân làng Xô Man nói lên chân lí lớn của thời đại: “Không có gì quý hơn độc lập, tự do“. Phải chống lại mọi kẻ thù xâm lược, kể cả phải cầm vũ khí và hi sinh tính mạng.

    d. Vai trò của các nhân vật:

    – Cụ Mết, Mai, Dít, bé Heng là sự tiếp nối các thế hệ làm nổi bật tinh thần bất khuất của làng Xô Man nói riêng, của Tây Nguyên nói chung.

    – Mai, Dít là thế hệ hiện tại, trong Dít có Mai của thời trước và có Dít của hôm nay. Vẻ đẹp của Dít là vẻ đẹp của sự kiên định, vững vàng trong bão táp chiến tranh.

    – Bé Heng là thế hệ tiếp nối, kế tục cha anh để đưa cuộc chiến tới thắng lợi cuối cùng.

    Dường như cuộc chiến khốc liệt này đòi hỏi mỗi người Việt Nam phải có sức trỗi dậy của một Phù Đổng Thiên Vương.

    Câu 3: Hình ảnh rừng xà nu và nhân vật Tnú

    Hình ảnh cánh rừng xa nu và hình tượng nhân vật Tnú gắn kết khăng khít với nhau. Nhà văn muốn dùng rừng xà nu làm biểu tượng cho tinh thần gan góc, dũng cảm, dạn dày, bất khuất, trung kiên … của nhân vật Tnú và dân làng Xô Man.

    Câu 4: Nghệ thuật trong tác phẩm Rừng xà nu (Nguyễn Trung Thành)

    – Đặc sắc, đậm đà chất sử thi hùng tráng. Chất sử thi toát lên qua đề tài, chủ đề, cốt truyện, nhân vật, hình ảnh thiên nhiên, các chi tiết nghệ thuật, giọng điệu, ngôn ngữ của tác phẩm:

    – Đề tài có ý nghĩa lịch sử: sự vùng dậy của dân làng Xô man chống Mỹ Diệm.

    – Bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, hoành tráng. Rừng xà nu làm nền cho bức tranh về cuộc đấu tranh chống giặc (Cả rừng … ào ào rung động, lửa cháy khắp rừng).

    – Các nhân vật tiêu biểu được miêu tả trong bối cảnh trang nghiêm, hùng vĩ, vừa mang phong cách Tây Nguyên vừa mang phẩm chất của anh hùng thời đại.

    – Kết cấu vòng tròn: Mở đầu, kết thúc là hình ảnh của rừng xà nu, cùng với sự trở về của Tnú sau ba năm xa cách.

    – Cách trần thuật: Chuyện về sự nổi dậy của dân làng và cuộc đời Tnú được kể lại trong một đêm anh về thăm làng, qua lời cụ Mết, bên bếp lửa bập bùng – Giọng kể trang trọng như truyền cho thế hệ con cháu những trang sử bi thương và anh hùng của cộng đồng. Chuyện về thời hiện tại được kể bằng giọng điệu và ngôn ngữ sử thi.