Category: Tài Liệu Lớp 12

  • Bình bài thơ Tự do của Ê-Luy-a hay nhất

    Bình bài thơ Tự do của Ê-Luy-a hay nhất

    Bình bài thơ Tự do của Ê-Luy-a hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích bài thơ Tự do của Ê-luy-a hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Bình bài thơ Tự Do của Ê-Luy-a.

    Bài văn mẫu

       Ê luy a là một nhà thơ nổi tiếng, với khao khát tự do nên cả cuộc đời của ông luôn góp phần và đi tìm cái mới mẻ và điều đó đã tạo nên cho ông những đóng góp rất tuyệt vời qua tác phẩm Tự Do.

       Cả cuộc đời đam mê và muốn đi tìm cái tự do nên ông luôn cố gang theo đuổi và góp phần vào công cuộc đi tìm cái đẹp cái tự do trong chính cuộc sống nơi mình sinh ra, nó đã tạo nên cho chúng ta những điều hoàn toàn khác và cũng đưa chúng ta có thể phát triển lên trên mọt hoàn toàn khác, mỗi chúng ta đều có thể thấy rằng tụ do là một điều cực kì quan trọng nó góp phần tạo nên những yếu tố quan trọng hơn, cả những yếu tố khác cũng có thể phát triển nhờ bản thân luôn mong chờ và chờ đợi những điều tự do và hạnh phúc cho mỗi con người. Chúng ta có thể thấy khát vọng tự do đã xuất hiện ngày càng được bày tỏ một cách hoàn toàn sáng suốt trong con mắt của tác giả, những khát vọng đó đã đưa con người đến những tầm hiểu biết và có những điều thật tốt đẹp và xảy ra với thế giới này, nó đã tạo nên cho chúng ta những điều diệu kì hơn. Trong bài thơ tác giả đã thể hiện khát vọng đó được thể hiện qua nhân vật em, nhân vật em được tác giả nói để thể hiện những nỗi khát khao của chính bản thân mình, những nỗi niềm tự do đó đã đưa đến cho chúng ta những điều tốt đẹp và muốn thể hiện khát vọng cho chính bản thân mình.

       Âm hưởng nhẹ nhàng của bài thơ đã tạo nên những âm điệu nhẹ nhàng và có những điều thật tuyệt vời khi khát khao tự do của tác giả ngày càng được nâng cao và nó thể hiện qua những bài thơ của tác giả, bài thơ tự do là nổi bật lên với khát vọng tự do, và ngày càng thể hiện một cách chi tiết và hoàn hảo hơn. Cuộc sống tự do đó đã chi phối con người và khát vọng đó đã đưa cho chúng ta những hiểu biết và tầm quan trọng của con người và đó đã tạo nên những yếu tố ngày càng có những yếu tố phát triển trong nhân cách của tác giả, muốn được tụ do và khao khát được sống cuộc sống tự do, họ ngày càng viết lên những suy nghĩ và phẩm giá của mình, mỗi người đều tạo nên cho chính chúng ta những điều đó là thể hiện sự tự do và khao khát tự do hơn.

       Khi tác giả viết lên và dùng những tự do để nói lên chính cho bản thân mình những điều tự do và hạnh phúc, nó đã tạo nên những điều thật hạnh phúc và khao khát tự do không chỉ tạo nên những cung bậc và những nốt nhạc du dương trong tâm hồn của tác giả, ông đang mong muốn sống một cuốc ống tự do và hạnh phúc chính vì vậy cuốc ống của chính ông là đang không muốn sống vào những giây phút bị kìm hãm và nó cũng đã đưa con người vào những tầm cao mới và ngày càng phát triển hơn, đó không phải là trường phái của những phái siêu thực khác, nó đã tạo nên những điều cực kì rõ rệt trong không gian. Trong hình ảnh về nhân vật em đó là những hình ảnh mà tác giả muốn thể hiện niềm khao khát cho chính bản thân mình, ông đang khao khát một cuộc sống tự do và nó chiếm lĩnh một vị trí đặc biệt hơn trong lòng của tác giả, tôi viết lên cho nhân vật em đó là hiện lên trong lí tưởng cả tuổi thơ lẫn trong tâm hồn của tác giả, nó hiện lên trong mọi không gian.

       Những khát khao tự do trong con người của tác giả đã thể hiện một cách chân thành và nó chiếm lĩnh trong một vị trí đặc biệt và có ý nghĩa sâu rộng hơn trong một khoảng không gian rộng lớn này, mỗi ngày tác giả đều thể hiện được sự tự do trong tâm hồn nó đã hiện lên một hữu hiệu trong từng vần thơ của tác giả và đang thể hiện nó một cách sâu rộng và chiếm lĩnh một ví trí vô cùng đặc biệt trong tâm hồn của tác giả. Hình ảnh em chiếm lĩnh một vị trí đặc biệt ở đây em chính là sự tự do, tác giả không nó thẳng về những điều tự do mà tác giả nói về nhân vật em ở đó ẩn dụ nói về những điều đó, chúng ta đều có thể thấy một điều rằng sự tự do đã xuất hiện trong tâm trí của tác giả sâu rộng hơn, mang một nỗi nhớ thương và mong đợi một cách hợp lý và tạo nên những dấu ấn mạnh mẽ trong tâm hồn và con người của tác giả.

       Ở đây nhân vật trữ tình là nhân vật em, đã thể hiện một cách sâu rộng và có ý nghĩa lớn lao hơn, mang trong tâm hồn của tác giả những tình yêu thương đối với sự tự do cho chính bản thân mình, hơn cả những điều đó tác giả đã nhấn mạnh sâu sắc được những điều cực kì quan trọng trong tâm hồn của mình, nhân vật em được hiện diện trong tác phẩm này với một tần số rất lớn nó đã tạo nên những điều hoàn toàn có thể phục vụ cho một đất nước tươi đẹp khi khát vọng tự do được nâng cao như thế này. Với những khát khao đó tác giả đã vẽ ra một không gian rộng lớn về những mong ước của sự tự do, chúng ta cần phải có những niềm tin ước về sự tự do.

       Hình ảnh của sự tự do được tác giả mong muốn viết lên, nó đã thể hiện được những nỗi niềm lớn lao, qua đó ngoài những mong đợi về một sự tự do chúng ta cần tạo niềm tin cho chính người dân của chúng ta để phát triển bản thân tính tự do độc lập và mỗi ngày ông đều thể hiện những nỗi niềm mong ước đó qua trang thơ của mình, hình ảnh của sự khao khát đó trong tâm hồn của tác giả một cách chủ động và nó trở nên linh hoạt hơn trong thơ văn của ông, mỗi câu thơ đều mang đậm những sự mong ước đó, niềm tin yêu về một đất nước hòa bình tự do được thể hiện qua những vần thơ của người.

       Những lời mà tác giả đã thoát lên là thể hiện niềm tự do và hạnh phúc cho chính bản thân mình, đó là những điều quan trọng và sự nhân hóa về nhân vật em đã thể hiện những điều đó một cách chân thành và tuyệt vời hơn, nghệ thuật nhân hóa em với ý nghĩa này sự tự dó đó đã hiện hữu trong tâm hồn của nhân vật, những cách gọi một cách gần gũi và tạo nên những niềm tin yêu về một đất nước hoàn hảo và những nỗi lòng sâu xa mà tác giả thể hiện cùng rất chân thành và mang đậm cảm xúc sâu sắc. Khi tác giả gọi tên em cũng chính là những giây phút tác giả gọi tên tự do, qua đây chúng ta thấy được niềm tự do và khao khát của tác giả đã được thể hiện một cách sinh động, và tình yêu với sự tự do đã được tác giả thể hiện sâu rộng trong bài viết này.

       Trong hoàn cảnh đất nước đang bị xâm lược thì khát khao tự do ngày càng được thể hiện sinh động hơn, chúng ta có những niềm tự hào riêng về một đất nước tự do đó khát vọng đó đã ăn sâu vào trong tâm trí của tác giả, mỗi người đều có những yếu tố dịu kì hơn trong cách suy nghĩ và hoàn toàn có thể chiếm lĩnh những khoảng không gian vô tận hơn trong tâm hồn của tác giả, nó chiếm lĩnh nhân vật em trong những khoảng không gian rộng lớn và ngày càng có nhiều khoảng không gian hiện đại và có ý nghĩa vô tận trong khoảng không gian hoàn hảo hơn, niềm tin về những điều đó.

       Bài thơ “Tự do” đã thể hiện sâu sắc trong bài thơ và đó là những nỗi niềm cao cả và những mong ước cho cả một dân tộc rộng lớn.

     

  • Phân tích bài thơ Tự do của Ê-luy-a hay nhất

    Phân tích bài thơ Tự do của Ê-luy-a hay nhất

    Phân tích bài thơ Tự do của Ê-luy-a hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 2 bài phân tích bài thơ Tự do hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ “Tự do” của Ê-luy-a.

    Bài văn mẫu

       Pôn Ê-luy-a (1895-1952) là nhà thơ lớn nước Pháp. Ông từng tham gia vào trào lưu siêu thực. Trong chiến tranh thế giới thứ II, ông thoát ly chủ nghĩa siêu thực, cùng nhân dân Pháp tham gia nhiều hoạt động chính trị: chống chiến tranh, chống đế quốc, chống phát xít.

       Ông đã tạo ra một hình thức thơ mới mẻ, giàu trí tuệ và tràn đầy khát vọng nhân văn. Thơ ông hàm chứa suy luận trữ tình triết lý. Trong thơ ông, dấu ấn chủ nghĩa siêu thực khá đậm nét và mang đậm chất trữ tình chính trị, hơi thở của thời đại.

       Tự do được sáng tác vào mùa hè năm 1941, lúc Pháp đang bị phát xít Đức xâm lược. Bài thơ được in trong tập “Thơ ca và chân lý, 1942”. Bài thơ được coi là thánh ca của thơ ca kháng chiến chống Pháp. Bài thơ gồm 21 khổ thơ, không kể dòng cuối cùng chỉ là chữ TỰ DO. Mỗi khổ 4 dòng trong đó 3 dòng đầu viết theo thể thơ 7 âm tiết, 1 dòng cuối (cũng là điệp khúc của toàn bài) chỉ có 4 âm tiết. Nguyên bản bài thơ không có vần, không có các dấu ấn chấm câu, chấm hết cuối bài.

       Với chủ đều thể hiện khát vọng tự do cũng là lời kêu gọi hành động vì tự do của nhà thơ (và của cả dân tộc Pháp) khi đất nước bị phát xít đức xâm lăng. Không thể sống trong nô lệ, Tự Do trở thành mệnh lệnh của cuộc sống, là lương tâm của thời đại.

       “Tôi viết tên em” – TỰ DO nổi bật lên hình thức lắp kết cấu, điệp từ “trên…trên” theo kiểu “xoáy tròn”; câu thứ tư mỗi khổ như một điệp khúc. Từ “trên” thể hiện cả không gian và thời gian: chỉ địa điểm – không gian (tôi viết Tự Do ở đâu), chỉ thời gian (tôi viết Tự Do khi nào). “Tôi viết tên em” lên mọi không gian, thời gian.

       Cụ thể: viết lên trang vở, trên bàn học, trên cây xanh, trên đất cát, trên tuyết, trên gươm đao người lính, trên mũ áo các vua quan.

       Trừu tượng: Viết trên thời thơ ấu âm vang, viết trên những mảnh đời trong xanh, trên ao mặt trời ẩm mốc, viết trên hồ vầng trăng lung linh…

       Tự do hiện diện trong mọi không gian cụ thể và cả trong giấc mơ, trí tưởng tượng, hồi ức và cả những gì không thể cảm nhận bằng trực giác thông thường. Trường phái siêu thực không phân biệt ranh giới rõ rệt giữa không gian, thời gian. “Tôi viết tên em” khi đang tuổi ấu thơ; ban đêm, ban ngày, lúc hửng đông, lúc đêm tối, khi ở ngoài đại dương, trên núi cao; lúc bão giông; khi bình yên,. Như vậy, dù ở đâu, theo nghĩa nào thì tôi đều biểu hiện tự do cháy bỏng, mãnh liệt…”Em” – TỰ DO đã chiếm trọn không gian của “tôi”; chiếm hết thời gian của “tôi” và suy nghĩ hành động của “tôi” luôn hướng về “em”.

        Tôi “gọi tên em” – TỰ DO

                    (khổ cuối)

       Nghệ thuật nhân hóa “em” (chính là TỰ DO), làm cho Tự do trở thành một nhân vật có hồn và “em” trở thành những gì đáng yêu, đáng trọng nhất. “Gọi tên em”: cảm xúc đã bật thành tiếng, đã thốt nên lời, tình yêu tự do đã đẩy lên đỉnh điểm. Tự do là sức mạnh nhiệm màu tái sinh những cuộc đời. Tình yêu tự do cũng là lời kêu gọi hy sinh vì tự do.

       Cấu kết vòng tròn: như chưa hề kết thúc – mở ra một kết cấu mới, cảm xúc mới. Tự do như là điều không có điểm dừng, bất diệt. Đặt vào hoàn cảnh nước Pháp lúc bấy giờ đang mất tự do, nhiều vùng bị phát xít Đức chiếm đóng, bài thơ trở thành bài thánh ca, nêu cao tinh thần đấu tranh vì tự do.

       Như vậy, có thể nói giá trị nội dung của bài thơ ” Tự do” thể hiện tình yêu tự do tha thiết tuôn trào trong trái tim nhà thơ đã đồng vọng trong tâm hồn cả dân tộc. Khát khao tự do biến thành khát khao hành động để giành lấy tự do cho tất cả mọi người. Bài thơ vẫn còn nguyên giá trị vì đến giờ này nhiều nước trên thế giới còn bị xâm lược, nhiều con người còn mấy tự do.

       Về giá trị nghệ thuật bài thể sử dụng các biện pháp nghệ thuật như: trùng điệp, thủ pháp liệt kê hình ảnh, nhân hóa, lặp từ ngữ, cấu trúc…qua các khổ thơ. Mạch cảm xúc hướng tuôn trào, triền miên, mạnh mẽ. Hình thức thể hiện đặc biệt với tầng lớp hình ảnh lặp lại, chồng lên nhau, nối tiếp nhau. Hình thức nhân hóa TỰ DO thành một nhân vật có linh hồn thực sự, giàu biểu cảm “em”, tạo cách nói gần gũi nhưng cũng thiêng liêng, sâu sa.

     

  • Top 2 bài phân tích bài thơ Tự do hay nhất

    Top 2 bài phân tích bài thơ Tự do hay nhất

    Top 2 bài phân tích bài thơ Tự do hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích nỗi đau xót, tiếc thương Bác qua bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    [toc]

    Phần Tự do (P.Ê-luy-a) Ngữ văn lớp 12 gồm các bài văn mẫu: phân tích, bình giảng, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 12 và tự tin bước vào kì thi THPT Quốc gia môn Văn.

    1. Phân tích bài thơ Tự do
    2. Bình bài thơ Tự do
  • Phân tích nỗi đau xót, tiếc thương Bác qua bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Phân tích nỗi đau xót, tiếc thương Bác qua bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Phân tích nỗi đau xót, tiếc thương Bác qua bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bình giảng khổ 7 bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nỗi đau xót, tiếc thương vô hạn của tác giả và mọi người khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời trong phần đầu của bài thơ “Bác ơi!” (Tố Hữu)?

    Bài văn mẫu

       Nỗi đau xót, tiếc thương vô hạn của tác giả và mọi người khi Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời đã được diễn tả hết sức chân thực, cảm động trong bốn khổ thơ đầu tiên:

     

        Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

     

        Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa

     

        Chiều nay con chạy về thăm Bác

     

        Ướt lạnh vườn cau, mấy gốc dừa!

     

     

       Những câu thơ đầu tiên là lời xót thương, tiếc nuối được bộc lộ trực tiếp, giống như tiếng nức nở tuôn trào trước sự ra đi của Bác. Tác giả đặt hai vế: “đời tuôn nước mắt” và “trời tuôn mưa” trong cùng một câu thơ đã làm nổi bật nỗi đau đớn của lòng người. Lấy mưa của đất trời, lấy nước của thiên nhiên để sánh đôi với nước mắt, nỗi đau của con người, câu thơ đã khái quát được những cảm xúc tiếc thương của con người và cuộc đời trước sự mất mát lớn lao này. Cách xưng hô “con – Bác” tạo nên một sự thân thương, gần gũi, càng làm câu thơ thêm lắng sâu, nghẹn ngào.

     

        Con lại lần theo lối sỏi quen

     

        Đến bèn thang gác, đứng nhìn lên

     

        Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa

     

        Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

     

       Con người như không tin vào nỗi mất mát, sự xót đau này, lần theo những kí ức, kỉ vật, không gian quen thuộc để như hồi tưởng, để như kiếm tìm bóng dáng thân quen ấy. Cảnh sắc, đồ vật, không gian vẫn còn đây, nhưng đã không còn sự hiện hữu của Người. Bởi thế mà “lối sỏi quen, thang gác, chuông nhỏ, phòng, rèm, đèn” đều như trống rỗng, lặng câm, vô hồn. Những câu thơ không chỉ dừng nên những cảnh sắc, không gian, đồ vật quen thuộc của Người mà còn diễn tả được sự im lặng, nỗi trống trải của không gian, cảnh sắc ấy khi Bác ra đi.

     

     

     

        Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!

     

        Mùa thu đang đẹp, nắng xanh trời

     

        Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội

     

        Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười

     

       Con người khó có thể tin và chấp nhận sự thật này, nỗi mất mát này, nên lần theo sỏi quen, đến bên thang gác,… mà vẫn thảng thốt cất lên tiếng hỏi. Câu hỏi đưa ra mà không có câu trả lời, giống như một lời nghẹn đắng, một nỗi nức nở trào dâng trong xúc cảm của người nghệ sĩ: “Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!” Những câu thơ tiếp theo mở ra một không gian tươi sáng của mùa thu, sự náo nức chiến thắng của miền Nam và ước vọng được “rước Bác vào thăm, thấy Bác cười” càng nhấn mạnh, khẳng định sự mất mát, nhói đau khi không còn Bác.

     

        Trái bưởi kia vàng ngọt với cà

     

        Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài

     

        Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm

     

        Quanh mặt hồ in mây trắng bay…

     

       Tố Hữu gợi nhắc đến trái bưởi, đến hoa nhài, là những thứ cỏ cây, hoa trái gần gũi bên Bác trong những câu hỏi tu từ đầy xót xa. Sự vàng ngọt của trái bưởi, hương thơm, của hoa nhài, dường như đã trở thành vô nghĩa khi Bác ra đi. “Còn đâu” là một sự kiếm tìm đầy tiếc nuối hình ảnh đẹp đẽ, thân quen: “bóng Bác đi hôm sớm. Quanh mặt hồ in mây trắng bay”. Hình ảnh càng rõ nét, các sự vật càng thân thuộc thì nỗi xót xa, mất mát càng được đẩy cao. Những câu thơ là tiếng lòng nức nở, dâng trào, nỗi đau xót, ngẩn ngơ, tiếc nuối của Tố Hữu trước sự ra đi của Bác.

  • Bình giảng khổ 7 bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Bình giảng khổ 7 bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Bình giảng khổ 7 bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Cảm nhận về bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng khổ thơ sau trong bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu:

        “Bác sống như trời đất của ta

        Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa

        Tự do cho mỗi đời nô lệ

        Sữa để em thơ, lụa tặng già”.

    Bài văn mẫu

        Ngày 2-9-1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh qua đời. Trong dịp lễ quốc tang lãnh tụ vĩ đại, bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu được giới thiệu trên báo “Nhân dân”, sau này in trong tập thơ “Ra trận”. Bài thơ gồm có 52 câu thơ thất ngôn, chia đều thành 13 khổ thơ. Bốn khổ đầu thể hiện nỗi đau thương bao trùm sông núi và lòng người. Sáu khổ thơ giữa ca ngợi công đức to lớn của Bác Hồ. Ba khổ thơ cuối nói lên nổi thương tiếc Người và nguyện thực hiện lời Bác dặn. Đây là khổ thơ thứ 7 nằm trong phần 2 bài thơ “Bác ơi!”:

        “Bác sống như trời đất của ta

        Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa

        Tự do cho mỗi dời nô lệ

        Sữa để em thơ, lụa tặng già”.

        Đoạn thơ đã ca ngợi tầm vóc và tâm hồn cao cả, lớn lao; tình yêu thương mênh mông của Bác Hổ kính yêu. Mỗi câu thơ là một khám phá, một nét vẽ tuyệt đẹp tâm hồn của Bác. Giọng thơ trang trọng, trang nghiêm.

        Câu thơ thứ nhất là một so sánh, một lời ngợi ca khẳng định:

        “Bác sống như trời đất của ta”.

        “Trời đất của ta” là quê hương đất nước, là xứ sở thân yêu cửa ta vô cùng tươi đẹp, rộng lớn và vĩnh hằng. Cuộc đời “79 mùa xuân” và đời sống tinh thần của Bác được so sánh với “trời đất của ta” nhằm ca ngợi tầm vóc lớn lao và cao cả của Người. Đó là sự nghiệp cách mạng cứu nước cứu dân, là lí tưởng và đạo đức cách mạng của Bác Hồ. Đó là một tâm hồn trong sáng, thanh cao, thoát khỏi mọi ràng buộc của danh lợi vươn tới cái vô cùng, cái cao cả. Là một chiến sĩ “Mong manh áo vải, hồn muôn trượng”. Là một con người Việt Nam mang cái tên đẹp “Ái Quốc” đã “Ôm cả non sông, mọi kiếp người”. Lấy thiên nhiên để so sánh với con người là một cách nói quen thuộc của nhân dân ta. Ca ngợi công cha nghĩa mẹ, ca dao có câu:

        “Công cha như núi ngất trời

        Nghĩa mẹ như nước ngời ngời biển Đông”.

        Trong nhiều bài thơ viết về Bác Hồ, với lối nói ấy, Tố Hữu đã sáng tạo nên nhiều câu thơ tuyệt đẹp:

        “Bác ngồi đó lớn mênh mông

        Trời xanh biển rộng ruộng đồng nước non”.

               (Sáng tháng năm)

        “Bác ơi!

        Thôi đập rồi chăng? một trái tim

        Đỏ như sao Hỏa, sáng sao Kim!”.

               (Theo chân Bác)

        Ba câu thơ tiếp theo nói lên lẽ sống cao đẹp và trái tim yêu thương mênh mông của Hồ Chủ tịch hướng tới năm đối tượng đều vì cuộc sống con người. Bác “yêu từng ngọn lúa, mối cành hoa”. Hai vế tiểu đối: “từng ngọn lúa // mỗi cành hoa” là biểu tượng vể mỗi nét đẹp của thiên nhiên, vế mỗi thành quả của cuộc sống cần lao, về cái đẹp trong cuộc đời. Tất cả đều được Bác chăm chút, quan tâm. Đó là cách nói ẩn dụ về tình yêu sâu sắc của Bác đối với Đất nước, nhân dân. Câu thơ thứ ba “Tự do cho mối đời nô lệ” nói lên lẽ sống cao đẹp của Người. Yêu tự do và chiến đâu cho tự do: “Tự do cho đồng bào tồi, tự do cho Tổ quốc tôi” là ý nguyện suốt đời của Bác. Câu thơ của Tố Hữu đã nói lên sâu sắc cái gốc nhân ái, cái “ham muốn tột bực” của Người “là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, nhân dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ta, ai cũng có cơm ăn, áo mặc, ai cũng được học hành”. Tự do là lí tưởng cao đẹp của Hồ Chủ tịch. Trong “Tuyên ngôn độc lập”, Người đã viết: “Tất cả các dân tộc trên thế giới đêu sình ra hình đẳng, dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do”. Sự thật, Người không chỉ mang lại tự do cho dân tộc Việt Nam ta, mà còn góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh giành lại tự do cho các dân tộc bị áp bức trên thế giới. Vì thế, câu thơ của Tố Hữu còn mang tẩm khái quát: “Hồ Chí Minh là lương tâm của thời đại”.

        Câu thơ cuối đoạn cũng có hai vế tiểu đối thể hiện tình yêu thương mênh mông của Bác Hồ hướng tới hai lứa tuổi cần được quan tâm đặc biệt trong xã hội là em thơ và các cụ già Việt Nam:

        “Sữa để em thơ, lụa tặng già”.

        Chữ “để” có nghĩa là “để giành cho”. Chữ “tặng” thể hiện một tấm lòng, một cách ứng xử vô cùng trân trọng quý mến. Với tuổi thơ Việt Nam, Bác đã dành cho tất cả tình thân yêu. San sẻ một ánh trăng thu sáng ngời. Nhiều cái hôn Bác dành cho các cháu gần xa. Các vị lão giả cao niên “xưa nay hiếm” chắc đều đã về cõi thiên thu, nhưng những chiếc áo lụa Bác Hồ tặng các cụ, vẫn mãi mai là kỉ vật thiêng liêng mà con cháu gìn giữ đến muôn đời mai sau? Cả ba câu thơ đều viết dưới hình thức liệt kê và đối xứng, tựa như những trang đời của Bác Hồ được dần mở rộng ra. Và mỗi chúng ta tưởng như đang mở rộng tầm mắt và tâm hồn chiếm lĩnh dần “hương nhân ái” Hồ Chí Minh, như nhà thơ Chế Lan Viên đã viết:

        “Đoá hoa sen mặt đất tỏa hương trời

        Hương nhân ái thấm vào hồn ta mãi”.

        Đoạn thơ trên đây của Tố Hữu không có hình tượng mĩ lệ, nhưng đọc lên, “tình thơ, hương thơ, hồn thơ” cứ quyện lấy lòng ta mãi. Tố Hữu đã dùng cách nói bình dị, hồn nhiên để thể hiện cái cao cả vĩ đại, đó là tâm hồn và nhân cách cao đẹp Hồ Chí Minh. Các vị ngữ được sử dụng: “sống”, “yêu”, “cho”, “tặng” – đã cho thấy ngòi bút nhuần nhị, tinh tế của Tố Hữu khi viết về Bác Hồ kính yêu. Đoạn thơ trên đã trở thành câu hát của mỗi chúng ta khi nhắc đến tên Người với niềm tự hào và lòng biết ơn vô hạn.

     

  • Cảm nhận về bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Cảm nhận về bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Cảm nhận về bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích, nêu cảm nghĩ về bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    [toc]

    Đề bài: : Cảm nhận về bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu.

    Bài văn mẫu

        Ngày 2 – 9 – 1969, Hồ Chủ Tịch tạ thế. Cả một rừng thơ khóc Bác xuất hiện, trong đó nổi bật lên cây đại thụ Tố Hữu với bài thơ “Bác ơi!”

        Bốn khổ thơ đầu nói cái đau xót tột cùng của thi sĩ trước sự kiện Bác ra đi:

        Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

        Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa.

        Trời mưa tầm tã cộng với nước mắt hàng triệu người khóc vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc đã làm cho cả không gian ướt lạnh, đau buồn.

        Khi Bác đi xa, Tố Hữu đang nằm điều trị ở bệnh viện. Nghe tin, nhà thơ hoảng hốt chạy về phủ Chủ tịch, nơi nhà sàn của Người:

        Chiều nay con chạy về thăm Bác

        Từ “chạy” được dùng rất tài, nói lên sự nóng gan nóng ruột của người con khi nghe tin cha mất.

        Con lại lần theo lối sỏi quen

        Đến bên thang gác đứng nhìn lên

        Chuông ôi, chuông nhỏ còn reo nữa

        Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

        Ta thấy tác giả rất ý tứ cho nên “đến bên thang gác đứng nhìn lên” mà chưa vào nhà vội. Vì sao vậy? Vì đến thăm một người tạ thế là thăm vợ góa, con côi. Còn Bác không có gia đình thì xử lí như Tố Hữu là rất tinh tế. Nhà Bác hôm nay đã khác xưa rồi: Chuông không còn reo để báo tin với Người có khách đến. Đặc biệt câu thơ: “Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn”, bị cắt ra làm ba nhịp như muốn diễn tả nỗi nghẹn ngào của Tố Hữu.

        Nhìn vườn cây Bác từng vun trồng, tác giả bâng khuâng:

        Trái bưởi kia vàng, ngọt với ai

        Thơm cho ai nữa hỡi hoa nhài!

        Hai câu này làm cho một số độc giả thắc mắc: Chẳng lẽ Bác trồng cây chỉ cho một mình Bác thôi ư? Tôi đã có dịp hỏi nhà thơ Xuân Diệu; thi sĩ bảo: Ai lại đi thẩm định văn chương như vậy! Đây chỉ là một cách nói của thi ca để biểu lộ tình thương sâu sắc của con đối với Cha mà thôi. Cha chết không thương Cha hay sao?

        Nhìn ao cá, nhà thơ bỗng tiếc nuối:

        Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm

        Quanh mặt hồ in mây trắng bay…

        Bác hiện lên trong kí ức đẹp như một ông Tiên trong thần thoại. Đúng! Trong tâm trí nhà thơ cũng như trong tâm trí dân tộc ta, Bác là một “Ông tiên Mác – xít”.

        Sau những ngày bàng hoàng đau xót, nhà thơ bình tâm lại, khắc họa hình tượng Bác. Tố Hữu đã viết nhiều bài thơ về Bác nhưng bài này hay hơn cả vì đây là thơ tổng kết một cuộc đời.

        Hình ảnh bao trùm là: “Bác ơi tim Bác mênh mông thế”. Đó là một trái tim giàu tình thương: “Ôm cả non sông, mọi kiếp người”.

        Một trái tim thương nước, thương dân bao la, mênh mông. Từ “ôm” được dùng rất gợi cảm: ôm là nâng niu, che chở, giữ gìn.

        Thương bao nhiêu thì đau bấy nhiêu:

        Bác chẳng buồn đâu, Bác chỉ đau

        Nỗi đau dân nước, nỗi năm châu

        Từ “đau” là lấy lại chữ dùng của Bác trong di chúc. Đau dân nước vì dân nước đang bị đế quốc xâm lược; đau năm châu vì có sự bất hoà trong phong trào cộng sản quốc tế. Chỉ con người vĩ đại mới có nỗi đau đớn lớn lao như thế.

        Có một câu thơ tuyệt hay nói về cuộc đời của lãnh tụ:

        Bác sống như trời đất của ta

        Câu thơ giản dị mà hàm chứa một nội dung sâu sắc: Cuộc đời Bác đã hoà làm một với thiên nhiên, sẽ vĩnh hằng như thiên nhiên. Đó là nguồn gốc tinh thần lạc quan của Người:

        Bác vui như ánh buổi bình minh

        Vui mỗi mầm non, trái chín cành

        Vui tiếng ca chung hoà bốn biển

        Nâng niu tất cả, chỉ quên mình

        Vì sao vậy? Vì giải phóng miền Nam là trung tâm của cách mạng Việt Nam lúc bấy giờ. Nhiều người gặp Bác đều kể lại mỗi khi trò chuyện, thế nào Người cũng nhắc đến miền Nam. Trong phòng của Bác có treo bản đồ miền Nam về sự bố trí binh lực của địch. Có lần phát biểu trước Quốc hội, Người nói: “Miền Nam luôn trong trái tim tôi”.

        Đạo đức của Bác thật caọ khiết:

        Một đời thanh bạch, chẳng vàng son

        Mong manh áo vải, hồn muôn trượng

        Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

        Bác là vị lãnh tụ kiểu mới; khác với những người ưa sùng bái cá nhân. Vì tâm hồn Bác giàu quá (hồn muôn trượng) nên bề ngoài Bác rất giản dị (mong manh áo vải). Bác không cần tượng đồng vì nhân dân đã đúc cho Người hàng triệu tượng trong tim.

        Trong ba khổ cuối, nhà thơ nói lên cảm nghĩ của nhân dân ta trước sự ra đi của Bác.

        Trước hết là nhớ lời Di chúc:

        Ra đi Bác dặn: “Còn non nước…”

        Nghĩa nặng lòng không dám khóc nhiều

        Câu thơ nhắc lại lời Người:

        “Còn non còn nước còn người

        Thắng giặc Mỹ ta sẽ xây dựng hơn mười ngày nay”.

        Vậy thì thương Bác tức là phải làm theo lời Bác dặn, tập trung sức để giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc.

        Bác Hồ nay đã nhập vào một thế giới đặc biệt:

        Mác-Lê nin thế giới Người Hiền

        Hiền ở đây là hiền minh, hiền triết – tức là những vĩ nhân có trí tuệ siêu việt có đạo đức cao cả. Chính những con người đó đã dẫn dắt lịch sử tiến lên không ngừng.

        Kết thúc thi phẩm này, Tố Hữu có một câu thơ rất hay:

        Yêu Bác, lòng ta trong sáng hơn.

        Yêu Bác làm theo tấm gương trong suốt như pha lê của Người; sẽ có sức mạnh tẩy sạch những vết mờ đục trong lòng ta, nâng chúng ta lên tầm cao mới.

        Chúng ta quyết biến đau thương thành sức mạnh:

        “Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi

        Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn”.

        Bài thơ “Bác ơi” là một điếu văn bi hùng. Lối thơ thất ngôn tạo nên một nhạc điệu trang trọng, cùng với hình ảnh thơ kì vĩ đã diễn đạt rất tài tình những cảm xúc cao đẹp của toàn thể dân tộc ta trong những ngày quốc tang năm 1969.

     

  • Phân tích, nêu cảm nghĩ về bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Phân tích, nêu cảm nghĩ về bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Phân tích, nêu cảm nghĩ về bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 4 bài phân tích, cảm nhận bài thơ Bác ơi của Tố Hữu hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ “Bác ơi!” của Tố Hữu và nói lên cảm nghĩ của em.

    Bài văn mẫu

        “Bác ơi!” được Tố Hữu viết vào ngày 6-9-1969, bốn ngày sau khi vị lãnh tụ kính yêu của dân tộc qua đời. “Bác ơi!”được viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, gồm 13 khổ thơ, mỗi khổ thơ có 4 câu thơ.

        Bài “Bác ơi!” là tiếng khóc tiễn biệt, mang ý nghĩa như một bài điếu văn rất cảm động, vừa ca ngợi lòng yêu nước thương dân bao la của Bác Hồ, vừa biểu lộ lòng tiếc thương, ghi nhớ công ơn to lớn của lãnh tụ.

        Mở đầu bài thơ là tiếng khóc. Bác Hồ qua đời để lại nổi đau thương trong lòng hàng triệu đồng bào ta và bạn bè gần xa. Nỗi đau thương trùm cả cõi đời và cả vũ trụ bao la, mênh mông:

        Suốt mấy hôm rày đau tiễn đưa

        Đời tuôn nước mắt, trời tuôn mưa…

        Câu thơ thứ hai, chữ “tuôn” được điệp lại hai lần đã cực tả nỗi mất mát, đau thương của dân tộc thật vô hạn.

        Đọc hồi kí của Tố Hữu, ta biết lúc Bác Hồ mất, nhà thơ còn đi công tác xa. Nghe tin Bác mất, tác giả vội “chạy về”. Đó là một buổi chiều đau đớn, bàng hoàng. Hai chữ “ướt lạnh” diễn tả nỗi đau đớn tái tê ấy:

        Chiều nay con chạy về thăm Bác

        Ướt lạnh vườn rau, mấy gốc dừa!

        Bác ra đi, ngôi nhà sàn của Bác trở nên vắng lặng, hiu hắt buồn. Chuông chẳng còn reo nữa. Ánh đèn “tắt”, “rèm buông”, phòng của Bác ở và làm việc thì đã “lặng”. Sự sống như ngừng lại trong đau thương:

        Chuông ôi chuông nhỏ còn reo nữa

        Phòng lặng, rèm buông, tắt ánh đèn!

        Bác ra đi quá bất ngờ, đột ngột. Cả miền Nam, cả tiền tuyến lớn anh hùng đang trên đà chiến thắng. “Rước Bác vào thăm”… là ước mơ đẹp của đồng bào, chiến sĩ. Nhưng giờ đây còn đâu nữa khi Bác đã đi xa:

        Miền Nam đang thắng, mơ ngày hội

        Rước Bác vào thăm, thấy Bác cười!

        Ngày hội chiến thắng, ngày hội thống nhất non sông… thế là vắng bóng Bác.

        Bác ra đi, cỏ cây hoa lá, thiên nhiên tạo vật đều đau đớn tiếc thương. Vườn rau, gốc dừa, trái bưởi, hoa nhài, ao cá… những vật thân quen ấy của Bác được nhân hoá gợi ra bao đau đớn, cô đơn, buồn tủi, ngậm ngùi. Lấy ai để san sẻ nỗi đau buồn thương tiếc? Tố Hữu có một lối nói biểu cảm rất sâu sắc. Ông đứng lặng, tự hỏi lòng mình rồi hỏi cỏ cây hoa lá:

        Trái bưởi kia vàng ngọt với ai

        Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!

        Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm

        Quanh mặt hồ in mây bay…

        Bốn khổ thơ đầu, Tố Hữu đã mở ra một không gian nghệ thuật từ đất trời, cõi đời, niềm Nam,… đến vườn rau, ao cá, gốc dừa, ngôi nhà sàn,… đồng hiện một tâm trạng nghệ thuật, đó là nỗi đau đớn, tiếc thương đã và đang thấm sâu vào lòng người, lọng dân tộc. Đó là ngày Bác đi xa, ngày 2 tháng 9 năm 1969, ngày Quốc tang.

        Sự kết hợp các câu cảm thán, câu hỏi tu từ làm cho giọng thơ như tiếng nấc cất lên, nghẹn ngào, biểu cảm:

        Bác đã đi rồi sao, Bác ơi!

        Trái bưởi kia vàng ngọt với ai

        Thơm cho ai nữa, hỡi hoa nhài!

        Còn đâu bóng Bác đi hôm sớm…

        Sáu khổ thơ tiếp theo trong phần hai bài thơ nói lên tình thương bao la và phẩm chất cao đẹp của Bác. Cách cấu trúc bài thơ giống như bài văn tế khi nhắc tới công đức của con người vừa qua đời.

        Bằng hình ảnh hoán dụ, Tố Hữu ca ngợi lòng yêu nước thương dân, tình nhân ái bao la của Hồ Chí Minh. Đây là hai câu thơ trong bốn câu thơ hay nhất trong bài thơ “Bác ơi!”:

        Bác ơi, tim Bác mênh mông thế

        Ôm cả non sông, mọi kiếp người.

        Bằng nghệ thuật liệt kê, tác giả nhắc lại tấm lòng nhân ái bao la, mênh mông, của Bác. Đó là nỗi đau và nỗi lo của Bác. Lòng Bác sâu nặng như lòng mẹ: “Chỉ lo muôn mối như lòng mẹ – Cho hôm nay và cho mai sau”. Đó là lòng Bác: Bác sống, Bác yêu, Bác cho, Bác để, Bác tặng:

        Bác sống như trời đất của ta

        Yêu từng ngọn lúa, mỗi cành hoa

        Tự do cho mỗi đời nô lệ

        Sữa để em thơ, lụa tặng già.

        Đó là Bác nhớ, Bác nghe, Bác lắng… Đó là tình cảm của lãnh tụ dành cho chiến sĩ và đồng bào nơi Thành đồng Tổ quốc:

        Bác nhớ miền Nam, nỗi nhớ nhà

        Miền Nam mong Bác, nỗi mong cha

        Bác nghe từng bước trên tiền tuyến

        Lắng mỗi tin mừng, tiếng súng xa.

        Bác đã từng nói: “Miền Nam luôn trong tim tôi”, Thơ chúc Tết năm 1969, Bác đã viết: “Năm qua thắng lợi vẻ vang – Năm nay tiền tuyến chắc càng thắng to… “, Bác là niềm vui thắng trận. Bác là chỗ dựa tinh thần để tiền tuyến xốc tới “Đánh Mỹ cút, đánh cho ngụy nhào!”, Tố Hữu vừa khóc thương Bác, vừa làm sống lại tâm hồn Bác.

        Điệp ngữ “vui” và các động từ: “nâng niu, quên” đã nói lên một cách sâu sắc tâm hồn Hồ Chí Minh: lạc quan yêu đời, giàu đức hi sinh. Hình ảnh so sánh đầy chất thơ:

        Bác vui như ánh buổi minh

        Vui mỗi mầm non, trái chín cành

        Vui tiếng ca chung hòa bốn biển

        Nâng niu tất cả, chỉ quên mình.

        Bác sống giản dị, thanh bạch. Chiếc va li nhỏ, vài ba bộ quần áo đơn sơ, đôi dép cao su…, “chẳng vàng son”,Nhiều người thường nhắc đến hai câu thơ tuyệt bút sau đây để ca ngợi đức tính giản dị của Bác Hồ:

        Mong manh áo vải, hồn muôn trượng

        Hơn tượng đồng phơi những lối mòn.

        Tư tưởng lớn, ý thơ đẹp và hay, nghệ thuật tưởng phản tài ba, Tố Hữu đã để lại câu thơ trong trí nhớ nhiều người.

        Có thể nói, đoạn thơ đã thể hiện sâu sắc cảm động tâm hồn, phong cách, đạo đức và lối sống Hồ Chí Minh.

        Ba khố thơ trong phần cuối là tiếng khóc, là sự ghi nhớ, là lòng biết ơn, là lời ước nguyện.

        Thương Bác, nhớ Bác càng thấy lòng mình bơ vơ, đau đớn: “ôi Bác xế chiều – Nghìn thu nhớ Bác biết bao nhiêu!

        Bác đã đi xa, bước vào “thế giới Người Hiền”. Sự nghiệp cách mạng, đạo đức cách mạng của Bác mãi mãi là “Ánh hào quang thêm”, là tài sản tinh thần vô giá có tác dụng động viên, cổ vu đồng bào, chiến sĩ “cùng nhau tiến lên” với niềm tin sắt đá:

        “Còn non, còn nước, còn người,

        Thắng giặc Mỹ, ta sẽ xây dựng hơn mười ngày này”.

               (Di chúc)

        Nhớ mãi công ơn của Bác, nhân dân ta nguyện ghi sâu trong lòng lời Bác dặn, quyết tâm vượt lên hoàn thành sự nghiệp cách mạng của Bác để lại. Bài thơ khép lại bằng một hình so sánh mang tượng hình sông núi kì vĩ. Tố Hữu khóc Bác bằng một lời thề chiến đấu:

        Xin nguyện cùng Người vươn tới mãi

        Vững như muôn ngọn dải Trường Sơn.

        Tố Hữu là nhà thơ viết về Bác Hồ nhiều nhất, sâu sắc nhất, hay nhất. Hình ảnh Bác Hồ: “Người là Cha, là Bác, là Anh – Quả tim lớn lọc trăm dòng máu nhỏ” đã in đậm trong nhiều trang thơ của Tố Hữu.

        “Bác ơi!” là một trong những bài thơ hay nhất viết về Hồ Chí Minh – vị lãnh tụ vĩ đại kính yêu của dân tộc.

     

  • Top 2 bài Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca hay nhất

    Top 2 bài Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca hay nhất

    Top 2 bài Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về hình tượng tiếng đàn ghi-ta trong bài thơ Đàn ghi ta của Lor-ca của nhà thơ Thanh Thảo.

    Bài văn mẫu

       Trong tác phẩm Đàn ghi ta của Lor-ca Thanh Thảo đã sử dụng chính lời thơ của Lor-ca để làm đề từ cho tác phẩm của mình: “Khi tôi chết hãy chôn tôi với cây đàn”. Chỉ với lời đề từ này cũng đã có thể khẳng định vị trí, ý nghĩa vô cùng quan trọng của hình tượng tiếng đàn trong tác phẩm này. Đây là hình tượng đầy sức hút, đầy ám thị, ám ảnh đối với người đọc, bởi nó chất chứa những ý nghĩa nhân văn vô cùng sâu sắc.

       Tiếng đàn tràn ngập tác phẩm, từ khi tác phẩm được mở ra, cho đến những câu thơ cuối cùng khép lại bài thơ nhưng dư âm vang vọng của nó thì vẫn còn mãi ván vương trong long người đọc.

            những tiếng đàn bọt nước

            Tây Ban Nha áo choàng đỏ gắt

             li-la li-la li-la

       Những câu thơ đầu tiên gợi cho chúng ta về hình ảnh của tiếng đàn tròn trịa, được vươn mình, được sống, được làm nên những áng nghệ thuật đặc sắc. Nhưng bên cạnh đó lại vô cùng mong manh, yếu ớt. Tiếng đàn kia cũng chỉ tựa như bọt nước, đẹp, tròn , lung linh đấy nhưng lại có thể dễ dàng tan vỡ bất cứ lúc nào. Đây cũng chính là thứ nghệ thuật mà Lor-ca đã dày công tạo nên. Tiếng đàn đó được sống trong không gian văn hóa đậm chất Tây Ban Nha, với những trận đấu bò, những người đấu sĩ nổi tiếng. Nhưng sắc đỏ gắt kia cũng nhưng một điềm chẳng lành dự cảm về số phận bất hạnh của nghệ thuật và người nghệ sĩ.

       Và quả thực những điềm báo đó đã trở thành hiện thực. Tiếng đàn thanh khiết, đẹp đẽ đã bị chế độ độc tài tàn sát dã man:

             tiếng ghi ta nâu

             bầu trời cô gái ấy

            tiếng ghi ta lá xanh biết mấy

           tiếng ghi ta tròn bọt nước vỡ tan

            tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy.

       Tiếng ghi ta trở thành điệp khúc trong bài thơ, đây đồng thời cũng là khổ thơ khắc họa rõ nét nhất vẻ đẹp cũng như số phận của tiếng đàn. Tiếng đàn mang trong mình những hoài bão, những mơ ước lớn lao “tiếng ghi ta nâu” “tiếng ghi ta lá xanh biết mấy”. Tiếng ghi ta đó chính là quá trình, là cả khát khao canh tân nghệ thuật của người nghệ sĩ. Nó không chỉ đong đầy niềm tin, hi vọng mà còn đong đầy khát khao,tình yêu quê hương đất nước. Nhưng cuối cùng tiếng đàn, hay chính người tạo tác ra tiếng đàn cũng không thể chống lại sự khắc nghiệt của chế độ độc tài. Người nghệ sĩ hi sinh, thứ nghệ thuật đẹp đẽ bị thiêu hủy. Tiếng ghi ta tròn mong manh ở khổ đầu đến đây vỡ tan, vỡ cả mơ ước và hi vọng. Nhịp thơ như trùng lại, lắng xuống cảm xúc xót thương, đau đớn đến tận cùng. Bởi vậy tiếng ghi ta càng trở nên đau đớn và bi phẫn hơn “tiếng ghi ta ròng ròng máu chảy”. Sự đau đớn, uất nghẹn đã không thể kìm nén trong lòng mà bật ra thành dòng máu đỏ tươi. Với nghệ thuật ẩn dụ chuyển đổi cảm giác, Thanh Thảo đã tạc rõ nỗi đau đớn, uất nghẹn đến tận cùng trước bi kịch cuộc đời của một người nghệ sĩ thiên tài.

       Liệu có phải thứ nghệ thuật trác tuyệt đó sẽ bị vĩnh viễn chôn vùi. Liệu hậu thế không bao giờ có thể thưởng thức thứ nghệ thuật đẹp đẽ đó? Nhưng không. Dù bị tàn sát, dù bị tận diệt, những tiếng đàn – nghệ thuật chân chính ấy vẫn mạnh mẽ sống, mạnh mẽ vươn lên:

             không ai chôn cất tiếng đàn

             tiếng đàn như cỏ mọc hoang

             giọt nước mắt vầng trăng

             long lanh trong đáy giếng.

       Có phải không ai bận tâm đến việc chôn cất tiếng đàn, hay không ai có thể thực hiện được việc chôn cất thứ nghệ thuật tuyệt mĩ đó. Có lẽ phải là nghĩa thứ hai mới đúng, bởi thứ nghệ thuật đó không ai có đủ khả năng để vươn lên, nó sẽ trở thành kim chỉ nam, chỉ đường dẫn lối để người nghệ sĩ thoát ra khỏi lối mòn, những công thức sáo mòn trước đây. Tiếng đàn được ví như cỏ hoang, tuy hoang dại mà sức sống vô cùng mạnh mẽ, trong bất cứ điều kiện nào dù gian nan khắc khổ cũng có thể vươn lên, hướng đến ánh sáng. Hình ảnh thơ “giọt nước mắt vầng trăng” là một hình ảnh đa nghĩa khi tác giả tối giản liên từ, cho phép người đọc có những trường liên tưởng khác nhau, từ đó làm đã dạng phong phú thêm ý nghĩa cho tác phẩm. Nhưng dù có bao nhiêu cách hiểu đi chăng nữa thì vầng trăng chính là nghệ thuật, là vẻ đẹp của nhân cách cao đẹp người nghệ sĩ. Dù ở bất cứ không gian, thời gian nào nó cũng là vầng trăng lung linh, tỏa rạng.

       Cùng với hình tượng người nghệ sĩ, tiếng đàn đã góp phần tạo nên thành công cho Thanh Thảo. Tiếng đàn cùng hình tượng người nghệ sĩ đàn cài, hòa quyện vào nhau. Tiếng đàn chính là đời sống tình thần của Lor-ca và nghệ thuật đẹp đẽ mà ông đã để lại cho hậu thế. Tiếng đàn đan cài, hòa quyệ mà vẫn vô cùng tách bạch thể hiện những quan niệm sâu sắc về nghệ thuật.

       Đàn ghita của Lor-ca đã đưa người đọc đến với thế giới nghệ thuật trác tuyệt, đem đến cho chúng ta những tình cảm nghệ thuật đẹp đẽ. Đồng thời qua tác phẩm này ta cũng có thể hiểu được những nỗ lực cách tân không ngừng của Thanh Thảo trong quá trình đổi mình, cách tân nghệ thuật.