Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • 2 bài văn mẫu Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngất ngưởng

    2 bài văn mẫu Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngất ngưởng

    2 bài văn mẫu Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngất ngưởng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát

    [toc]

    Đề bài: Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu những nét tiêu biểu về Nguyễn Công Trứ: một nhân vật lịch sử nổi tiếng in đậm dấu ấn không chỉ trong văn chương mà còn trong nhiều lĩnh vực khác, thơ văn ông phản ánh nhân sinh và thế sự sâu sắc

    – Giới thiệu vấn đề nghị luận: Bài ca ngất ngưởng là một trong số những bài hát nói tiêu biểu thể hiện tài năng, chí khí và ý thức cá nhân của Nguyễn Công Trứ – đó chính là nhân cách nhà nho chân chính

    II. Thân bài
    1. Làm rõ vấn đề “nhân cách nhà nho chân chính”

    – Nhân cách: phẩm cách, phẩm đức, phẩm hạnh con người

    – Nhà nho chân chính: Nhà nho sống với những nguyên tắc, chuẩn mực, của bản thân, không làm trái với lương tâm, dám khẳng định tài năng và bản lĩnh của mình

    2. Nhà nho chân chính là người dám thể hiện bản lĩnh, đem tài năng cống hiến chốn quan trường

    – Sự xuất hiện của nhà nho với tài năng, bản lĩnh và cá tính phóng khoáng

    + “ Vũ trụ nội mạc phi phận sự”: thái độ tự tin khẳng định mọi việc trong trời đất đều là phận sự của tác giả ⇒ Tuyên ngôn về chí làm trai của nhà thơ.

    + “Ông Hi Văn…vào lồng”: Coi nhập thế là việc làm trói buộc nhưng đó cũng là điều kiện để bộc lộ tài năng của nhà nho chân chính

    – Tác giả điểm lại việc mình đã làm ở chốn quan trường và tài năng của mình ⇒ Những việc làm mà nhà nho chân chính nên làm, cần làm

    + Tài năng: Giỏi văn chương (khi thủ khoa), Tài dùng binh (thao lược) ⇒ Tài năng lỗi lạc xuất chúng

    + Khoe danh vị, xã hội hơn người: Tham tán, Tổng đốc, Đại tướng (bình định Trấn Tây), Phủ doãn Thừa Thiên

    ⇒ khẳng định tài năng và lí tưởng phóng khoáng của một nhà nho với tài năng xuất chúng

    3. Nhà nho chân chính còn là người có phong cách lối sống tự nhiên, ung dung tự tại

    – Nhà nho chân chính theo Nguyễn Công Trứ có cách sống theo ý chí và sở thích cá nhân

    + Cưỡi bò đeo đạc ngựa.

    + Đi chùa có gót tiên theo sau.

    + Bụt cũng nực cười: thể hiện hành động của tác giả là những hành động khác thường (lưu ý nhân cách nhà nho chân chính ở đây được chứng minh theo quan điểm nhà nho của Nguyễn Công Trứ)

    ⇒ Cá tính người nghệ sĩ mong muốn sống theo cách riêng

    – Nhà nho với triết lí tự nhiên , ung dung tự tại, lấy tận hưởng lạc thú làm lẽ tồn tại

    + “ Được mất … ngọn đông phong”: Tự tin đặt mình sánh với “thái thượng”, tức sống ung dung tự tại, không quan tâm đến chuyện khen chê được mất của thế gian

    + “Khi ca… khi tùng” : tạo cảm giác cuộc sống phong phú, thú vị, từ “khi” lặp đi lặp lại tạo cảm giác vui vẻ triền miên .

    + “ Không …tục”: Khẳng định lối sống riêng độc nhất của bản thân mình

    ⇒ Nhà nho chân chính theo Nguyễn Công Trứ là con người thoát mình khỏi những tư tưởng phong kiến siêu hình, bảo thủ

    4. Nhà nho chân chính theo quan niệm của Nguyễn Công Trứ còn là người mang trong mình đạo lí trung quân

    + “ Chẳng trái Nhạc.. Nghĩa vua tôi cho trọn đạo sơ chung”: Sử dụng điển cố , ví mình sánh ngang với những người nổi tiếng có sự nghiệp hiển hách như Trái Tuân, Hàn Kì, Phú Bật…

    ⇒ khẳng định bản lĩnh, khẳng định tài năng sánh ngang bậc danh tướng. Tự khẳng định mình là bề tôi trung thành.

    + “Trong triều ai ngất ngưởng như ông”: vừa hỏi vừa khẳng định vị trí đầu triều về cách sống “ngất ngưởng”

    ⇒ Nhà nho chân chính không phải là người khuôn mình vào những quy tắc, nguyên tắc bảo thủ lạc hậu mà là sống chân chính với tài năng và quan niệm của mình

    III. Kết bài
    – Khái lược một số nét đặc sắc trên phương diện nghệ thuật thể hiện thành công nhân cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngất ngưởng của Nguyễn Công Trứ

    – Suy nghĩ bản thân về nhân cách nhà nho chân chính

    Bài văn mẫu 1

    Nguyễn Công Trứ là người học rộng, tài cao, làm nhiều chức quan lớn trong triều đình. Nhưng cuộc đời ông cũng gặp rất nhiều khó khăn, trắc trở trên con đường hoạn lộ, khi đang làm chức quan lớn trong triều, ông đột ngột bị giáng chức, nhưng khí chất của một nhà nho chân chính thì không gì có thể lay chuyển được. Ông vẫn giữ lối sống “ngất ngưởng” khác thường. Vẻ đẹp của nhà nho chân chính đã được thể hiện trọn vẹn trong tác phẩm Bài ca ngất ngưởng của ông.

    Nhân cách để nói về tư cách, phẩm chất đạo đức của con người, nhà nho là cách gọi những người tri thức xưa, theo lối Nho học. Như vậy, nhân cách của một nhà nho chân chính tức là phải biết “tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ”. Nhân cách nhà nho chân chính đối với Nguyễn Công Trứ được thể hiện khi ông còn làm quan trong triều, có đến khi ông cáo quan về hưu.

    “Vũ trụ nội mạc phi phận sự

    Ông Hi Văn tài bộ đã vào lồng

    Khi Thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc đông

    Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

    Lúc Bình Tây cờ đại tướng

    Có khi về phủ doãn Thừa Thiên.”

    Mở đầu tác phẩm ông đã khẳng định mọi việc trong trời đất này đều thuộc phận sự của chính tác giả. Và quả thật trong cuộc đời mình, ông thi đỗ đạt và giữ những chức vụ quan trọng trong triều đình, nhưng đồng thời ông cùng bộc lộ nỗi buồn vì bản thân bị “vào lồng” sống cuộc đời gò bó, chật hẹp. Các chức vụ ông được giữ đều là những chức vụ quan trọng: Tham tán, Tổng đốc đông, Bình Tây đại tướng, Phủ doãn Thừa Thiên. Bản thân Nguyễn Công Trứ là người có ý thức rất rõ ràng trách nhiệm của một kẻ sĩ với đời. Dù biết rõ ra làm quan sẽ mất đi sự tự do, nhưng ông vẫn sẵn sàng vào cái lồng đó, bởi ở đấy ông mới có cơ hội đem tài năng cống hiến cho đất nước, làm tròn chí làm trai của một nam nhi: “Chí làm trai Nam, Bắc, Đông, Tây/ Cho phỉ sức vẫy vùng trong bốn biển”. Nếu như các nhà Nho luôn sống theo lối khiêm nhường dù bản thân có tài giỏi đến đâu cũng không bao giờ bộc lộ, thì ngược lại ông Hi Văn lại sẵn sàng bộc lộ, dám thể hiện mình và khẳng định bản lĩnh cá nhân: “Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng”. Dường như sau lời thơ của ông ta còn thấy được thái độ coi thường của tác giả với những loại người bất tài nhưng hám danh lợi, sống cuộc đời luồn cúi, trong khuôn khổ. Nhưng con đường làm quan của ông cũng đầy thăng trầm, một cá nhân khi có những biểu hiện khác thường, cách tân so với đám đông thường sẽ bị mọi người ghét bỏ, tìm mọi cách hãm hại. Bởi vậy con đường hoạn lộ của ông mới thăng giáng bất thường như vậy. Có lẽ, lối sống “ngất ngưởng” của ông không phù hợp với khuôn khổ chật hẹp, gò bó của xã hội phong kiến.

    Khi ông từ quan, chính là khoảnh khắc cái tôi ngất ngưởng có cơ hội được thể hiện rõ nhất:

    Đô môn giải tổ chi niên

    Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng

    Kìa núi nọ phau phau mây trắng

    Tay kiếm cung mà nên dạng từ bi

    Gót tiên theo đủng định một đôi dì

    Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng.

    Nguyễn Công Trứ đã thực sự được sống cuộc đời tự do, tự tại, như con chim được tháo cũ sổ lồng. Những hành động lời nói của ông là biểu hiện của lối sống rất “ngông” đây cũng là nét phẩm chất làm nên cốt cách Nguyễn Công Trứ. Ông Hi Văn cưỡi bò vàng có đeo nhạc ngựa, ông làm biết bao con mắt dõi theo. Về hưu ông dựng nhà ở núi Đại, với mây trắng phau phau bao phủ bốn phía, như chốn bồng lai tiên cảnh. Đồng thời ông cũng thường xuyên đi viếng, thăm thú cảnh chùa nhưng lúc nào cũng dắt theo các cô hầu con. Điều này thật trái với quy tắc của nhà chùa. Nguyễn Công Trứ đã bất chấp mọi luật lệ, sống cuộc đời phá cách, ngang tàng, ngất ngưởng khiến cho bụt “cũng phải cười ông ngất ngưởng”.

    Không chỉ vậy, ông còn bày tỏ quan điểm về lẽ sống: “Được mất dương dương người thái thượng/ Khen chê phơi phới ngọn đông phong”. Ông đưa ra quan niệm giữa được – mất trong cuộc đời này là chuyện bình thường và mỗi người cần bình thản đón nhận những biến đổi của cuộc sống. Đồng thời ông cùng khẳng định ông bỏ ngoài tai những lời khen – chê của thiên hạ đối với mình, thỏa thích vui chơi bất cứ những điều mình muốn: “Khi ca khi tửu, khi cắc, khi tùng/ Không Phật, không Tiên, không vướng tục”.

    Khổ thơ cuối, như một lời tổng kết của Nguyễn Công Trứ: “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú/ Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung/ Trong triều ai ngất ngưởng như ông”. Dù có thể ông không phải một danh tướng, danh nho nhưng trước sau lòng trung với vua ông vẫn vẹn đạo, đây chính là phẩm chất cao quý của nhà nho, thật đáng trân trọng. Ông đã dành cả cuộc đời cống hiến cho đất nước, làm trọn đạo vua tôi, ở đời ai có thể ngất ngưởng được như ông?

    Qua bài Bài ca nhất ngưởng, ta có thể thấy rằng, lối sống ngất ngưởng của ông đều được xuất phát từ quan niệm Nho giáo đó là đề cao lòng trung quân, đây cũng chính là nhân cách của một nhà nho chân chính. Nhân cách ấy thật đặc biệt, khác lạ, ông không khuôn mình, trói buộc theo những tư tưởng Nho học, mà “ngất ngưởng” theo cách của riêng mình nhưng vẫn vẹn đạo với vua, với nước. Đây cũng chính là điểm nhấn tạo nên dấu ấn riêng biệt cho Nguyễn Công Trứ.

    Bài văn mẫu 2

    Nguyễn Công Trứ là người có tài có chí có đức. Xuất thân dòng dõi Nho gia, ngay từ nhỏ đã học vỡ lẽ sách thánh hiền, thi cử đỗ đạt và ra làm quan lớn dưới các triều đại của nhà Nguyễn. Ông không chỉ là nhà quân sự, chính trị tài ba mà còn là một nhà thơ tài năng dùng thơ ca để “tỏ chí” và khẳng định bản thân. Trong các tác phẩm văn chương của ông tiêu biểu nhất là “Bài ca ngất ngưởng” thể hiện nhân cách nhà Nho chân chính nhưng có nhiều nét khác biệt vượt lên lễ giáo nho gia làm nên một nhân cách mới mang đặc trưng riêng của Nguyễn Công Trứ.

    “Bài ca ngất ngưởng” có thể coi là bản tự thuật ngắn gọn, tóm tắt lại cuộc đời và tính cách ông Hi Văn (tên hiệu của tác giả). Ông phô bày giá trị bản thân với thái độ ngang tàn, lối sống thật thà và “ngông” của mình. Qua đó hiện lên nhân cách nhà Nho chân chính có quan điểm sống tiến bộ xứng đáng được người đời ca tụng và học tập.

    Vậy nhà Nho họ là ai? Nhà Nho chính là người trí thức thời xưa theo học Nho giáo_ đó là hệ thống đạo đức, triết lí và tôn giáo do Khổng Tử đề ra để xây dựng một xã hội tốt đẹp. Những con người ấy đi theo chuẩn mực luân thường đạo lí thì được gọi là các nho sĩ, nho sinh hay nhà nho. Nhân cách là gì? Nhân cách là tư cách, phẩm chất đạo đức làm người có trong mỗi chúng ta. Nhân cách ấy làm nên giá trị con người và những điều tốt đẹp trong cuộc sống. Vậy nhân cách nhà Nho chân chính được hiểu như thế nào? Tìm hiểu chi tiết qua tác phẩm “Bài ca ngất ngưởng” được Nguyễn Công Trứ thể hiện nhân cách của mình.

    Trước hết, nhân cách của một nhà Nho chân chính phải là người có “Chí làm trai”. Ngay từ những câu thơ mở đầu ông đã khẳng định: “Vũ trụ nội mạc phi phận sự” nghĩa là mọi việc trong vũ trụ chẳng có việc nào không phải phận sự của ta. Tư tưởng ấy rất nhiều lần được ông thể hiện trong các tác phẩm như “Gánh trung hiếu” với câu thơ “Vũ trụ chức phận nội”, hay trong bài “Luận kẻ sĩ” có câu “Vũ trụ giao ngô phận sự” tức đều có nghĩa là mọi việc trong vũ trụ là phận sự của ta. Ý nói đến trách nhiệm của kẻ sĩ đối với cuộc đời. Tư tưởng nhập thế cống hiến cho đời được tiếp nối truyền thống của cha ông như: Phạm Ngũ Lão, Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm… đều là các nhà Nho chân chính từ xưa.

    Thứ hai, nhân cách nhà Nho chân chính được biểu hiện là con người biết “tu thân” bởi theo quan niệm của nho gia có ba việc “tu thân, trị quốc, bình thiên hạ” mà người nho sĩ phải làm được. Trong “tu thân” thì việc học có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Học tập là theo đuổi con đường hoạn lộ công danh. Cũng như bao các nhà nho khác Nguyễn Công Trứ luôn cố gắng thi đỗ để ra làm quan cống hiến tài đức củ mình cho nước cho dân. Điều đó được minhg chứng bằng việc ông đã từng giữ nhiều chức quan trong triều được tóm tắt lại bằng bốn câu thơ:

    “Khi thủ khoa, khi Tham tán, khi Tổng đốc Đông

    Gồm thao lược đã nên tay ngất ngưởng

    Lúc bình Tây, cờ đại tướng

    Có khi về Phủ doãn Thừa Thiên”.

    Ông đã từng nắm giữ các vị trí quan trọng như Thủ khoa đứng đầu khoa thi Hương tức Giải nguyên, Tham tán đại thần chỉ huy quân sự ở vùng Tây Nam Bộ, Tổng đốc Đông đứng đầu một tỉnh hoặc vài ba tỉnh, Đại tướng tức là người cầm đầu đội quân bình Trấn Tây, phủ doãn đứng đầu ở kinh đô. Ngoài ra, ông còn có đóng góp khác như: khai hoang ở Kim Sơn và Tiền Hải, trị thủy ở đê sông Hồng; đấu tranh với tệ cường hào ở nông thôn… Tất cả công việc ấy đều được Nguyễn Công Trứ thực hiện với tinh thần trách nhiệm, có hiệu quả cao. Con đường công danh của ông thênh thang rộng mở cho đến khi ông được ‘Giải tố chi niên”. Ông tự tin khẳng định mình là người “Tài bộ” tức là kẻ có “tài năng lỗi lạc xuất chúng” trong vũ trụ. Theo quan niệm của nho giáo thì dù có tài giỏi đến đâu cũng cần phải khiêm tốn giữ mình nhưng Nguyễn Công Trứ đi ngược lại điều ấy tự tin, mạnh dạn đề cao vai trò của bản thân, thể hiện tài năng của mình phá vỡ bức tường thành của nho gia.

    Nhà nho chân chính là những người coi thường danh lợi, không màng vinh hoa phú quý. Lập thân cốt chỉ để giúp vua giúp nước. Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy khi triều chính rối ren bao kẻ tranh giành chức tước, hơn thua nhau nhưng họ lựa cho mình con đường cáo quan về ở ẩn. Nguyễn Công Trứ cũng vậy khi nói về các chức vị của mình ông chỉ dùng những từ cộc lộc, ngắn gọn chứng tỏ ông không phải là người coi trọng công danh, mà tất cả chỉ là phận sự của đấng nam nhi đứng trong vũ trụ. Nguyễn Công Trứ đã từng có một câu nói nổi tiếng: “Làm tổng đốc tôi không lấy làm vinh, làm lính tôi cũng không coi là nhục”. Dù đã giữ nhiều chức quan lớn trong triều nhưng đối với ông cũng thật nhẹ tênh, không có gì quan trọng. Chính điều ấy khiến ông thể hiện mình với cái tôi “Ngất ngưởng” trong toàn bài.

    Nhân cách nhà nho chân chính của Nguyễn Công Trứ thật khác thường, khác người làm nên nét độc đáo riêng. Nếu như những nhà nho khác khi đã thi đỗ làm quan thì suốt một đời cố gắng cho hoạn lộ công danh nhưng với ông khi đã làm trọn bổn phận “bề tôi”, trọn phận sự của mình với đất nước ông cho phép mình được hưởng thú tiêu dao, hành lạc. Ông quan niệm “cuộc đời hành lạc chơi đâu là lãi đấy”, ông hành động ngất ngưởng xưa nay chưa từng có. Ngày xưa các quan lớn đi đâu thường đi bằng ngựa hoặc có kiệu rước nhưng Nguyễn Công Trứ lại ngất ngưởng trên con bò vàng đeo đạc ngựa: “Đạc ngựa bò vàng đeo ngất ngưởng” là thế. Người đời có kẻ bảo ông ngông nghênh, lập dị, kẻ lại cho rằng ông cao ngạo coi thường dư luận nhưng đây là một lối chơi ngông khẳng định cái tôi của mình, cho thiên hạ thấy ông đã được “giải tố chi niên”, được tự do thoát khỏi “cái lồng” làm quan tù túng, giam hãm tâm hồn cá nhân tác giả.

    Ông cáo quan về ở ẩn với cái cách sống khác, tận hưởng thú vui của mình. Nếu người ta đến chùa là để lễ Phật, cầu may cầu lộc cầu tài thì ông lại đến bày tiệc ca hát, có cả ả đào đàn trống theo sau:

    “Kìa núi nọ phau phau mây trắng

    Tay Kiếm tay cung mà nên dạng từ bi

    Gót tiên đủng đỉnh một đôi dì

    Bụt cũng nực cười ông ngất ngưởng”

    Chỉ với bốn câu thơ cho thấy nhân cách đối lập của nhà nho. Kiếm cung, binh đao mà lại từ bi được sao? Viếng chùa chay tịnh, thanh tục mà lại đem theo ả hầu? Những điều đó tưởng chừng là bất kính, vô lễ nhưng lại khiến Bụt cũng phải cười độ lượng trước ông quan già tính khí khác người.

    Ông coi thường danh lợi, chẳng bận tâm đến được mất khen chê ở trên đời mà:

    “Được mất dương dương người thái thượng

    Khen chê phơi phới ngọn đông phong

    Khi ca, khi tửu, khi cắc, khi tùng

    Không Phật, không tiên, không vướng tục”

    Còn người ông ở nơi trần tục mà tâm hồn thoát tục bay vút lên trên cao với âm điệu rộn rã của giọng ca, tiếng đàn. Đối với ông thú vui của bản thân mới là hạnh phúc đáng được quan tâm mọi sự cái được, cái mất, tiếng khen, tiếng chê không còn quan trọng, coi nó không tồn tại ở trên đời. Dù cho cuộc vui chơi của ông đang được thực hiện ở nơi cửa Phật, có cả đôi dì theo sau nhưng ông thấy mình vẫn thanh sạch và thoát tục không vướng bận Phật tiên. Những câu thơ trải dài nhịp điệu thênh thang, thanh thoát với cách ngắt nhịp 2/2/2/2 linh hoạt thể hiện được tâm hồn, tấm lòng mênh mông rộng mở, phóng khoáng theo kiểu khác thường của con người đã ngoài vòng cương tỏa.

    Ông ngông ghênh tự đặt mình ngang hàng với những danh tài lỗi lạc bên Trung Hoa:

    “Chẳng Trái, Nhạc cũng vào phường Hàn, Phú

    Nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chung

    Trong triều ai ngất ngưởng như ông”

    Ông hành lạc vui chơi với đời nhưng vẫn tự tin khẳng định mình là nhà nho chân chính đã trọn vẹn đạo sơ chung. Ông sống, làm việc và cống hiến hết mình đồng thời cũng biết hưởng lạc, tận hưởng niềm vui mà cuộc đời ban tặng. Câu thơ cuối ông tự tin khẳng định trong triều không có ai được như ông.

    Tuy là ngất ngưởng, là ngông nghênh nhưng ông vẫn luôn là một nhà nho chân chính với những phẩm chất tốt đẹp của mình. Cùng với suy nghĩ khác người và có tầm nhìn xa trông rộng như ông là Cao Bá Quát nhân cách nhà nho chân chính cũng được thể hiện trong tác phẩm “Sa hành đoản ca” Thánh Quát coi thường danh lợi, công danh trong bối cảnh thời đại phong kiến thối nát đang bước vào “cơn hấp hối”, ông coi những kẻ ham danh lợi xưa nay tất tả ngược xuôi bon chen cũng giống như người đời thấy quán rượu ngon tranh nhau đổ xô đến có mấy ai tỉnh táo để thoát ra được sự cám dỗ. Ông đi trên cát mà cứ nghĩ như mình đang bước trên con đường công danh bị sa lầy, khổ cực. Để rồi nhà nho ấy phải cất lên câu hỏi cuối cùng “Anh đứng làm chi trên bãi cát?” điều ấy đã lí giải phần nào nguyên nhân tại sao Cao Bá Quát đứng về phía nông dân khởi nghĩa chống lại triều đình phong kiến nhà Nguyễn.

    Bài ca ngất ngưởng” thể hiện cái tôi ngất ngưởng độc đáo trong tính cách khác thường của Uy Viễn đại nhân. Ông không cột chặt mình vào lễ giáo nho gia, luôn tự do phóng khoáng với thú vui của bản thân. Những gương mặt tiêu biểu của nhân cách nhà nho chân chính như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát đã góp phần làm nên bộ mặt mới cho các nho sĩ lúc bấy giờ.

  • Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát

    Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát

    Nhân cách nhà nho chân chính trong bài thơ Bài ca ngắn đi trên bãi cát

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Hình ảnh người phụ nữ xưa qua 2 bài thơ Bánh trôi nước và Thương vợ

    [toc]

    Đề bài: Nhân cách nhà nho chân chính trong Bài ca ngắn đi trên bãi cát của Cao Bá Quát (hoặc Bài ca ngất ngưởng của Nguyễ Công Trứ).

    Bài văn mẫu

    Ta vẫn thường nghe: “Tài cao phận thấp, chí khí uất”. Dường như cái tài năng vẫn chưa đủ để con người ta tỏa sáng những còn bởi một chữ “phận”. Đó cũng chính là bi kịch cuộc đời của một con người tài hoa bậc nhất Cao Bá Quát. Ông hiện ra là một nhà nho giỏi, đức độ với một tâm hồn văn chương và cốt cách thanh cao. Được nhân dân tôn lên hàng thánh – thánh Quát. Vậy nhưng đương thời Chu Thẩn lại phải trải qua biết bao khổ ải, gian truân của một chế độ phong kiến thối nát suy tàn. Những nỗi niềm xót xa, phẫn uất của một đấng nam nhi đã được ông gửi gắm kín đáo trong tác phẩm Sa hành đoản ca.

    Là một nhà nho chân chính, Cao Bá Quát vốn chịu ảnh hưởng rất lớn của quan niệm “chí làm trai”. Cũng như Nguyễn Công Trứ và bao bậc trượng phu đương thời, ông luôn tâm niệm va khao khát lập nên công danh sự nghiệp vẻ vang hiển hách cho đời, coi đó là lý tưởng sống, là trách nhiệm trọn đời và là món nợ phải trả – “nợ tang bồng”. Ông vố đã sớm được coi như một tài năng xuất chúng khi mới chỉ ít tuổi và càng trưởng thành, ông lại càng chứng tỏ rõ khí phách hiên ngang và hoài bão lớn lao của mình. Tuy nhiên đứng trước một xã hội phong kiến bảo thủ, trì trệ và khủng hoảng, con người ấy đã không thể thỏa mãn khát vọng của mình.

    Bãi cát dài lại bãi cát dài,

    Đi một bước như lùi một bước.

    “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” là một khúc ca ngắn, vậy mà bản thân nó lại vẽ nên một con đường rất dài. Bức tranh sa mạc mênh mông cát trắng với bóng người nhỏ bé đang bước đi từng bước khó nhọc. Đi mà như lùi, vậy ra đi mà thực ra không đi. Đó là một hình ảnh rất thực và cũng bao hàm ý nghĩa ẩn dụ. Đây thực ra là con đường thi cử của chính tác giả, cái tủi nhục của bãi cát cũng là cái nhọc nhằn ông đang phải gánh chịu vì con đường ấy – khó nhọc mà xa vời. Đối với trí thức nho sĩ ngày xưa, con đường học – thi – làm quan ấy đầy gian nan vất vả, càng khó khăn hơn trong những buổi cuối của nho học và đây cũng là cách duy nhất để họ thực hiện chí làm trai lập công danh của mình. Suốt những năm từ lúc 14 tuổi cho đến khi 31 tuổi, Cao Bá Quát đã vào Huế đi thi không biết bao nhiêu lần nhưng lần nào ông cũng bị đánh hỏng. Không phải vì ông không có tài mà vì lẽ cái tính cách ngông nghênh của ông vốn đã quá nổi tiếng và không được lòng các vị quan triều thần. Đến đây lời thơ như những tiếng thở dài của chính tác giả, ta thấy được trướng nhất là sự chán ngán của Chu Thần trước thời cuộc. Bản thân ông ngày càng nhận thức được sự lạc hậu, thoái hóa của chế độ học hành thi cử truyền thống trong cái chuyển mình của thời thế.

    Mặt trời đã lặn chưa dừng được,

    Lữ khách trên đường nước mắt rơi.

    “Mặt trời lặn” là hình ảnh chuyển giao của thời gian, khi thiên nhiên đã chìm dần vào giấc nghỉ ngơi, thì đối lập với nó là hình ảnh người lữ khách “chưa dừng được”. Vì sao chưa dừng được? Bởi lữ đường còn dài mà đích thì chẳng thấy đâu. Con đường cuộc đời ông đi mãi mà ông vẫn chưa tìm được cho mình chỗ đứng trong xã họi, chưa thỏa mãn ý chí lập nên công danh. Vậy nên bản thân ông không cho phép mình dừng lại. Nếu ở câu đầu mở ra là sự rộng lớn của không gian thì đến lúc này, Cao Bá Quát lại nói đến sự chảy trôi liên tục của thời gian, tất cả những yếu tố thiên nhiên vũ trụ ấy dường như đều là lực cản đường, cản trở những bước đi vốn đã đầy khó nhọc trên cát. Do đó, ông thấy mình trơ trọi cô đơn trước bãi cát hoang vu ấy và tự khóc cho số phận dai dẳng của mình. Có thể những giọt nước mắt ấy ban đầu chỉ đơn thuần do tác động của ngoại cảnh (gió, cát, bụi) nhưng chúng trở nên đắng hơn, mặn hơn và xót xa hơn bởi tâm sự của tác giả. Để rồi từ đây, những cung bậc cảm xúc của Chu Thần được đưa lên một vị trí mới:

    Không học được tiên ông phép ngủ,

    Trèo non, lội suối giận khôn vơi.

    Chu Thần đang giận ai hay giận cái gì vậy? Ông đang giận chính bản thân ông bởi nhiều lẽ. Thứ nhất, ta có thể hiểu: trước những cảnh đời khổ cực của nhân dân và thời thế thay đổi, ông dù một lòng trung quân ái quốc, hết mực thương dân nhưng vẫn chưa thể làm để đem tài năng ra giúp dân giúp nước. Ngay cả Nguyễn Công Trứ “ngất ngưởng” là thế mà con luôn tâm niệm “nghĩa vua tôi cho vẹn đạo sơ chúng”. Vậy nên ông tự trách bản thân vẫn chưa làm tròn nhiệm vụ với giang sơn xã tắc: “Không có lấy một sách lược gì làm cho đời được thái bình, thẹn mình là nhà nho mà lại tầm thường đến thế”. Tâm sự này của ông khiến ta cảm thấy trân trọng một con người có tấm lòng đức độ và tâm hồn thanh cao trong thơ văn: “Nhất sinh đê thủ bái mao hoa”.

    Thứ hai, ông vô cùng hổ thẹn vì dù đã đeo đuổi con đường thi cử rất lâu mà vẫn chưa có được chức danh xứng đáng, vẫn chưa đạt được công danh để cho người đời thán phục. Thế nên lòng người càng trở nên bế tắc, oán hận và bi phẫn. Ông đã từng dùng hình ảnh tượng trưng để nói lên khí chất cao vời của mình”

    “Ta ngẩng đầu lên nhìn tận ngoài trời

    Những muốn vịn mây mà lên cao mãi.”

    Ông mong muốn có được phép thần tiên kì diệu để có tiếp tục đi trên con đường chông gai mặc cho đói khát, mệt mỏi hay buồn ngủ. Hy vọng có thể mau chóng tìm ra cho mình một cái đích rõ ràng.

    Cách hiểu cuối cùng rất sâu sắc: đó chính là sự thoát li khỏi thực tại tầm thường. Đến như Nguyễn Công Trứ lỗi lạc là thế mà còn tìm kiếm lối thoát bằng cách cáo quan ở ẩn. Ở đây, Cao Bá Quát giá như bản thân có thể nhắm mắt làm ngơ, mặc cho sự đời biến đổi và mong muốn vất bỏ phiền muộn. Nhưng không! Với lý tưởng cao cả, chí khí ngoan cường, Chu Thần không thể thực hiện điều trái với đạo lý của bản thân. Do đó, cái “giận khôn vơi” ở đây, càng chiếu soi, làm tỏ hiện cho ta thấy được một Chu Thần với nhân cách cao cả, quý giá biết bao. Ông không muốn trốn tránh khó khăn nhưng luôn biết đối đầu và khắc phục khó khăn. Thật là nhân cách đáng ngưỡng mộ.

    Những câu thơ tiếp theo lại đem đến cho người đọc về cái nhìn của Cao Bá Quát trước cảnh xã hội mưu cầu danh lợi:

    Xưa nay, phường danh lợi,

    Tất cả trên đường đời.

    Đầu gió hơi men thơm quán rượu,

    Người say vô số, tỉnh bao người?

    Con đường danh lợi cũng là một thứ rất đường đời thật gập ghềnh, trắc trở. Công danh được ví như một thứ rượu cám dỗ đời người, khiến con người phải bon chen, phải gạt đi mọi giá trị đạo đức luân lí đểm thảm hại chạy theo vật chất. Học hành, độ đạt rồi vào chốn quan trường để phú quý vinh hoa, con đường lập thân, sự nghiêp ấy sao quá đỗi tầm thường. Lòng nhủ phải làm cái gì đó lớn lao hơn, cao cả hơn. Nhưng tiếc thay, chẳng mấy kẻ thắng được cái sức lôi cuốn của tiền tài. Họ chẳng khác nào những con thiêu thân, lao đầu vào nơi có ánh sáng và đông không kể. Qua đây, Cao Bá Quát cho thấy được điểm nhìn tuyệt vời của mình. Đó là cái nhìn bao quát thực tại bình thường, vượt ra cả không gian và vượt lên trên thời gian. Những suy nghĩ ấy đã đi trước thời cuộc của ông và minh chứng cho trí tuệ uyên bác vượt bậc của danh sĩ họ Cao. Cũng có thể thấy được thái độ khinh miệt, chán ghét của ông với lối quan niệm của các sĩ tử bấy giờ và ông tự hào là kẻ tỉnh hiếm hoi giữa rừng người say ấy. Song đáng buồn thay, ông vẫn đang đi theo con đường này. Trong tâm trí đang tự hỏi mình “tỉnh” hay “say”? Để rồi lại trút tiếng thở dài vô vọng:

    Bãi cát dài, bãi cát dài ơi!

    Tính sao đây? Đường bằng mờ mịt,

    Đường ghê sợ còn nhiều đâu ít.

    Hãy nghe ta hát khúc “đường cùng”,

    Phía Bắc núi Bắc, núi muôn trùng,

    Phía Nam núi Nam, sóng dào dạt.

    Tiếng thở dài chán ngán, mệt mỏi của Cao Bá Quát khi gặp phải sự bế tắc, lòng luôn thao thức câu hỏi: “tính sao đây?”. Khó khăn tiếp nối khó khăn, nhìn bốn bể, đâu đâu cũng chỉ thấy những trắc trở, gian lao muôn trùng. Lúc này, Chu Thần đã bị đẩy vào “đường cùng”. Dường như, trongong đang có sự đấu tranh quyết liệt, ông dậm chân tại chỗ. Cao Bá Quát không muốn đi tiếp vì biết đường gian khổ mà vô định. Nhưng có một tiếng gọi vang lên từ tấm lòng thương dân sâu sắc, đó là cái nợ nước nhà chưa thể trả, nợ công danh cuộc đời. Vì không còn một con đường nào khác cho bất cứ một ai, kể ra những người có chí lớn vượt ra ngoài sự nghiêp công danh. Bi kịch của Chu Thần không chỉ là của riêng Chu Thần, nhưng còn là bi kịch của thời đại, một thời đại sắp đi đến phút cáo chung.

    Anh đứng làm chi trên bãi cát?

    Câu hỏi vang lên vô vọng giữa bãi cát mênh mông. Nhưng có vẻ kín đáo trả lời cho mâu thuân nội tâm của Cao Bá Quát. Một lần nữa, ông khẳng định tính chất vô nghĩa của con đường “bãi cát” ấy để làm tiền đề cho cái nhìn của mình: cái nhìn sáng suốt và đầy đạo đức: từ bỏ cái cũ lỗi thời để đến với cái mới. Đến đây, ta chợt nhớ đến triết lí của Lỗ Tấn: “Trên thế gian làm gì có đường, người ta đi mãi thì thành đường thôi.” Quả thật vậy, câu hỏi tu từ: “Anh đứng làm chi trên bãi cát?” như là lời thúc giục, là tiếng gọi lên đường, khai phá lối đi mới tiến bộ. Đó cũng là nguyên nhân chính và động cơ thúc đẩy Chu Thần đứng ra lãnh đạo nhân dân khởi nghĩa Mỹ Lương, chống lại triều đình nhà Nguyễn – việc làm để lại tiếng danh muôn đời và khiến thế hệ sau nể phục khôn nguôi.

    “Bài ca ngắn đi trên bãi cát” là bài thơ ngắn mà dài, hiện thực mà đầy tượng trưng, trữ tình mà đầy bi phẫn với ý thơ hàm súc, đa nghĩa. Ẩn chứ trong tác phẩm là những suy nghĩ kín đáo của tác giả, là tâm tình da diết với đất nước, là khí phách hiên ngang của chí làm trai, là trí tuệ thông thái, là cái nhìn vượt thời gian, là ước muốn cải cách xã hội và cũng là nhân cách cao đẹp của nhà nho chân chính Cao Bá Quát.

  • 2 bài văn mẫu Hình ảnh người phụ nữ xưa qua 2 bài thơ Bánh trôi nước và Thương vợ

    2 bài văn mẫu Hình ảnh người phụ nữ xưa qua 2 bài thơ Bánh trôi nước và Thương vợ

    2 bài văn mẫu Hình ảnh người phụ nữ xưa qua 2 bài thơ Bánh trôi nước và Thương vợ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua bài Tự tình 2 và Thương vợ

    [toc]

    Đề bài: Hình ảnh người phụ nữ thời xưa qua các bài Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương và Thương vợ và Trần Tế Xương

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu hình tượng người phụ nữ xưa đã đi vào thơ văn của rất nhiều tác giả trung đại …Trong đó nổi bật là hình tượng người phụ nữ trong thơ của hai tác giả: Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương
    – Hai bài thơ Bánh trôi nước của Hồ Xuân Hương và Thương vợ của Trần Tế Xương đã thể hiện rõ nét vẻ đẹp và số phận của hình tượng người phụ nữ trong xã hội xưa

    II. Thân bài
    1. Nhưng người phụ nữ trong xã hội xưa phải chịu số phận vất vả, lênh đênh lận đận
    a. Số phận của một người vợ vất vả lam lũ nuôi chồng nuôi con (Thương vợ)
    – Hoàn cảnh bà Tú: mang gánh nặng gia đình, quanh năm lặn lội “mom sông”
    ⇒ Công việc và hoàn cảnh làm ăn vất vả, ngược xuôi, không vững vàng, ổn định, bà không những phỉ nuôi còn mà phải nuôi chồng
    – Sự vất vả, lam lũ được thể hiện trong sự bươn chải khi làm việc:
    +”Lặn lội thân cò”: Sự lam lũ, cực nhọc, nỗi gian truân, lo lắng
    + Eo sèo… buổi đò đông: gợi cảnh chen lấn, xô đẩy, giành giật ẩn chứa sự bất trắc
    ⇒ Thực cảnh mưu sinh của bà Tú : Không gian, thời gian rợn ngợp, nguy hiểm đồng thời thể hiện lòng xót thương da diết của ông Tú.
    – Năm nắng mười mưa: số từ phiếm chỉ số nhiều
    ⇒ Sự vất vả lam lũ, cực nhọc của Bà Tú
    b. Số phận của người phụ nữ với số phận lênh đênh không tự quyết định số phận mình( Bánh trôi nước)
    – “Bảy nổi ba chìm” : Thành ngữ phản ánh cuộc đời lênh đênh, sóng gió của người phụ nữ trong xã hội phong kiến
    – Số phận phải chịu một lần chìm nổi đã đủ lận đận, ở đây sử dụng “bảy”, “ba” càng làm tăng sự éo le trong số phận của những người phụ nữ
    – “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”: Thể hiện rõ nét nhất việc không thể tự quyết định số phận mình của những người phụ nữ, số phận họ phải phụ thuộc vào những người đàn ông, vào lễ giáo phong kiến
    ⇒ Thân phận bị phụ thuộc, không có quyền tự quyết định số phận của mình
    2. Tuy phải chịu số phận éo le nhưng ở họ toát lên những vẻ đẹp đáng quý, đáng trọng
    a. Vẻ đẹp về hình thức
    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”: Vẻ đẹp hình thức đáng trân trọng
    + Hai vế tiểu đối (trắng-tròn) vẻ đẹp tạo hóa đáng trân trọng, vẻ đẹp duyên dáng
    ⇒ Làm nên cái nữ tính đáng yêu của người phụ nữ: vẻ đẹp đáng được nâng niu.
    – Câu thơ ánh lên niềm tự hào muôn thửa của phái đẹp qua cách sử dụng cặp quan hệ từ: Vừa- vừa.
    – Thân em: cách nói quen thuộc trong ca dao, đậm đà màu sắc dân gian.
    b. Vẻ đẹp về phẩm chất
    • Phẩm chất của một người vợ, người mẹ trong Thương vợ
    – Tuy hoàn cảnh éo le vất vả, nhưng bà Tú vẫn chu đáo với chồng con :
    + “nuôi đủ năm con với một chồng”: một mình bà Tú phải nuôi cả gia đình, không thiếu
    ⇒ Bà Tú là người đảm đang, chu đáo với chồng con.
    + “Một duyên hai nợ”: ý thức được việc lấy chồng là duyên nợ nên “âu đành phận”, không than vẫn
    + “dám quản công”: Đức hy sinh thầm lặng cao quý vì chồng con, ở bà hội tụ cả sự tần tảo, đảm đang, nhẫn nại.
    ⇒ Cuộc sống vất vả gian truân nhưng càng làm nổi bật phẩm chất cao đẹp của bà Tú: đức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì con của bà Tú
    ⇒ Đó cũng là vẻ đẹp chung cho nhiều phụ nữ trong xã hội phong kiến
    • Phẩm chất thủy chung của người phụ nữ trong Bánh trôi nước
    – “Mà em vẫn giữ tấm lòng son”: Phẩm chất thủy chung son sắt
    + “Tấm lòng son”: Tấm lòng son sắt, thủy chung trước sau như một của người phụ nữ
    + “vẫn”: dù số phận ra sao vẫn luôn giữ tấm lòng trinh tiết
    3. Nghệ thuật thể hiện thành công hình tượng người phụ nữ trong hai tác phẩm
    – Ngôn ngữ thơ bình dị
    – Lấy ý tứ từ ca dao tục ngữ, vận dụng sáng tạo hình ảnh, ngôn ngữ của văn học dân gian.
    – Hình tượng nghệ thuật độc đáo.
    – Việt hóa thơ Đường

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại: Thông qua hai tác phẩm, những người phụ nữ trong xã hội xưa hiện với số phận dù lận đận những vẫn mang trong mình vẻ đẹp đáng quý
    – Trình bày cảm nghĩ bản thân và liên hệ tới hình tượng người phụ nữ trong xã hội ngày nay

    Bài văn mẫu 1

    Viết về người phụ nữ trong kho tàng văn học Việt Nam đặc biệt xuất hiện nhiều vào khoảng thế kỉ XVIII. Những tác phẩm là tiếng nói để khẳng định vẻ đẹp phẩm chất cũng như những nỗi truân chuyên bất hạnh trong cuộc đời họ. Hồ Xuân Hương và Trần Tế Xương, hơn ai hết là người thấu hiểu những nỗi cơ cực mà người phụ nữ phải gánh chịu, những điều đó đã được hai tác giả thể hiện xuất sắc qua hai tác phẩm Bánh trôi nước (Hồ Xuân Hương), Thương vợ (Trần Tế Xương).
    Dưới chế độ phong kiến phụ nữ luôn là đối tượng bị áp bức, đè nén, họ phải chịu cảnh Tam tòng “tại gia tòng phụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử”. Cả cuộc đời người phụ nữ phải lệ thuộc vào người khác, họ không được quyết định số phận, hạnh phúc của đời mình. Mặc dùng phải chịu nhiều uất ức, bất công nhưng ở họ vẫn ánh lên vẻ đẹp của sức sống mãnh liệt, của sự tảo tần chịu thương chịu khó.
    Hồ xuân Hương là một người phụ nữ gặp nhiều trắc trở trong chuyện tình duyên. Lấy chồng bà chỉ được làm lẽ, cô đơn, chăn đơn gối chiếc. Nhưng đồng thời bà cũng là một phụ nữ hết sức mạnh mẽ, dám lên tiếng khẳng định vẻ đẹp, giá trị của bản thân:
    Thân em vừa trắng lại vừa tròn;
    Mà em vẫn giữ tấm lòng son
    Người phụ nữ tự khẳng định vẻ đẹp của chính mình. Đó là vẻ đẹp ở hình thức bề ngoài: trắng, tròn. Hình ảnh một người con gái tràn đầy sức sống và hết sức phúc hậu. Đồng thời họ còn mang trong mình tấm lòng thủy chung, son sắt dù cuộc đời kia đối với họ có nhiều bất công, ngang trái.
    Trong tác phẩm Thương vợ, vẻ đẹp của người phụ nữ lại hiện lên ở sự tảo tần, chịu thương, chịu khó:
    “Quanh năm buôn bán ở mom sông
    Nuôi đủ năm con với một chồng”.
    Câu thơ đã cho thấy khung cảnh buôn bán, làm ăn tần tảo của bà Tú để trang trải cho gia đình. Bà gánh vác không chỉ là con cái mà con là cả chồng. Tú Xương đã tự tách mình riêng ra một vế, cho thấy rõ sự tự ý thức về cái bất tài của bản thân, đồng thời ngợi ca, trân trọng sự hi sinh thầm lặng của bà Tú. Dù phải gánh vác cả gia đình nhưng bà Tú không có một lời oán trách: “Một duyên hai nợ âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám quản công”. Lấy ông duyên thì ít mà nợ thì nhiều, ấy vậy mà bà chẳng hề kêu ca, oán thán, bà chấp nhận số phận của mình. Qua đó cho thấy đức hi sinh thầm lặng và cao cả của bà Tú đối với gia đình.
    Mặc dù mang trong mình những phẩm chất đẹp đẽ, xứng đáng được hưởng cuộc sống hạnh phúc, nhưng cuộc đời người phụ nữ lại gặp phải rất nhiều bất hạnh, ngang trái. Đó là người phụ nữ không thể tự quyết định số phận của mình:
    “Bảy nổi ba chìm với nước non
    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”
    Cuộc đời họ, nổi nênh, vô định, họ đi đâu về đâu họ không thể biết, chữ “mặc dầu” thể hiện thái độ buông xuôi, đó cũng là lời than não nùng cho số phận nổi trôi. Không chỉ vậy, họ còn đau khổ trong cô đơn lạnh lẽo trong cảnh “kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng” của kiếp lấy chồng chung. Có lẽ hơn ai hết, Hồ Xuân Hương là người thấu hiểu nhất của cảnh lấy chồng chồng, bởi vậy mà đã từng có lần mà cất tiếng chửi thật đanh thép mà cũng đầy đau đớn: “Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”.
    Bài thơ Thương vợ của Trần Tế Xương lại đậm tô vào sự vất vả, cực nhọc của người phụ nữ khi phải gánh vác công việc gia đình, khi phải làm trụ cột trong nhà:
    “Quanh năm buôn bán ở mom sông
    Nuôi đủ năm con với một chồng
    Lặn lội thân cò khi quãng vắng
    Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.
    Không gian buôn bán của bà Tú thật chật trội và nguy hiểm đó “mom sông” phần đất nhô ra ở bờ sông, gợi lên tư thế chênh vênh, có thể ngã nhào bất cứ lúc nào. Đêm hôm phải lặn lội nơi “quãng vắng”, hoặc phải chen chúc trong những “buổi đò đông” đầy bất trắc, nguy hiểm, đó là nơi người ta chen nhau, tranh cướp, giành giật nhau. Câu thơ đã tái hiện cuộc sống đầy gian truân, vất vả của bà Tú, đồng thời cũng khẳng định phẩm chất đẹp đẽ của bà: tảo tần, tháo vát để trang trải cuộc sống gia đình.
    Qua những bài thơ trên, người đọc cảm thể cảm nhận đầy đủ, sâu sắc nhất những vẻ đẹp phẩm chất, cũng như nỗi bất hạnh trong cuộc đời họ. Từ đó càng trân trọng, cảm thông sâu sắc cho thân phận người phụ nữ xưa. Ngày nay, người phụ nữ đã được sống trong một xã hội bình đẳng, được tôn trọng, nhưng những vẻ đẹp phẩm chất của họ thì còn trường tồn mãi cùng thời gian.

    Bài văn mẫu 2

    Đề tài viết về người phụ nữ luôn là mảnh đất màu mỡ cho cho chủ nghĩa nhân đạo trong thơ ca trung đại phát triển. Nếu thơ Hồ Xuân Hương là “Tiếng nói tâm tình của người phụ nữ” thì sau bà có Tú Xương_nhà thơ trào phúng luôn dành tình cảm sâu đậm cho người vợ của mình. Tiêu biểu cho hình ảnh người phụ nữ trong thơ của hai thi sĩ là bài “Bánh trôi nước” và “Thương vợ”, qua đó người phụ nữ thời xưa hiện lên là những con người mang trong mình vẻ đẹp về nhan sắc, phẩm hạnh nhưng lại phải chịu số phận bất hạnh, đáng thương.
    Mỗi một nhà thơ có một cách thể hiện tình cảm của mình đối với người phụ nữ nhưng nhìn chung trong hai bài thơ “Bánh trôi nước” và “Thương vợ” hình ảnh người họ hiện lên có những nét tương đồng là thân phận chung của người phụ nữ trong xã hội phong kiến.
    Trước tiên họ là những con người có nhan sắc-vẻ đẹp bên ngoài. Điều đó được thể hiện rõ nét trong bài “Bánh trôi nước”. Chiếc bánh trôi nước được làm từ bột gạo nếp tinh khiết, trắng trẻo, mịn màng và tròn trịa rất dễ dàng cho người ta liên tưởng đến dung nhan xinh đẹp, hồn nhiên, đầy đặn của người con gái đang độ xuân thì. Vẻ đẹp ấy được bà so sánh trong câu thơ “Thân em vừa trắng lại vừa tròn”. Điều đó khiến cho ta nhớ tới vẻ đẹp của người phụ nữ trong ca dao dân gian. Họ mang nét đẹp của “Tấm lụa đào”, “Cây quế giữa rừng”… tỏa hương thơm ngát với đời. Trong thơ Hồ Xuân Hương bà miêu tả vẻ đẹp hình thức của người phụ nữ rất tài tình tiêu biểu là bài “Thiếu nữ ngủ ngày” ca ngợi vẻ đẹp trên cơ thể của cô gái trẻ tuổi với các chi tiết gợi hình gợi cảm:
    “Lược trúc chải dài trên mái tóc,
    Yếm đào trễ xuống dưới nương long
    Ðôi gò bồng đảo sương còn ngậm
    Một lạch đào nguyên suối chửa thông”
    Cách miêu tả chân thực không một chút bỡn cợt trái lại còn rất nâng niu, trân trọng khác xa với lối viết ước lệ tượng trưng mà không chú ý đến nhan sắc người phụ nữ của các tác gia trước bà. Hồ Xuân Hương xứng đáng là nhà thơ của phụ nữ Việt.
    Trong bài “Thương vợ” nhan sắc của bà Tú tuy không được Tú Xương nhắc đến nhưng mở rộng vốn văn học ta cũng phải ngẫm bà Tú ngoài phẩm hạnh tốt đẹp bên trong thì vẻ đẹp nhan sắc của bà cũng không kém ai nên mới có thể lấy được ông Tú-người học rộng và am hiểu bởi tiêu chuẩn chọn vợ trong xã hội thời xưa là con người hội tụ vẻ đẹp của “Công dung ngôn hạnh”.
    Không chỉ có vẻ đẹp về nhan sắc qua hai bài thơ người phụ nữ còn có mang trong mình nét đẹp về phẩm hạnh đáng quý luôn son sắt, chung thủy và chịu thương chịu khó, biết hi sinh vì chồng con. Trong bài “Bánh trôi nước” Hồ Xuân Hương ngợi ca “tấm lòng son”-giá trị nhân phẩm của người phụ nữ luôn vẹn nguyên trước mọi hoàn cảnh. Thơ của Hồ Xuân Hương là tiếng nói táo bạo dám tự tin khẳng định giá trị của bản thân nói riêng và nhân phẩm người phụ nữ nói chung. Còn bà Tú được Tú Xương ca ngợi bởi tấm lòng nhân hậu của bà luôn cố gắng và hết lòng hi sinh cho gia đình. Bà Tú phải vất vả ngược xuôi “Quanh năm buôn bán ở mom sông” để “Nuôi đủ năm con với một chồng” gánh nặng cơm áo gạo tiền đổ lên đôi vai người phụ nữ, “một chồng” được đặt ngang hàng với “năm con” để cho thấy số tiền phải chi tiêu cho ông Tú bằng miệng ăn, áo mặc của năm đứa con cộng lại. Nuôi một ông chồng tài hoa như ông Tú không chỉ là lo miếng cơm manh áo mà còn phải chuẩn bị sẵn cho ông ít rượu ít trà, ít tiền bỏ túi khi đi thi… Vậy mà bà Tú đã toan lo tất cả nhưng nào dám quản công, kể lể bà cho đó là duyên nợ “Một duyên hai nợ âu đành phận/ Năm nắng mười mưa dám quản công” là vậy. Bà sẵn sàng chấp nhận điều đó. Suy nghĩ và tâm trạng của bà Tú cũng là tâm trạng chung, suy nghĩ chung của người phụ nữ xưa. Trong xã hội hiện đại ngày nay với cuộc sống văn minh, phát triển nhưng liệu còn có bao nhiêu người phụ nữ có thể làm được điều đó cho gia đình?
    Tuy hội tụ cả vẻ đẹp bên ngoài lẫn phẩm chất bên trong nhưng hình ảnh người phụ nữ thời xưa hiện lên là những con người với số phận bé nhỏ, bất hạnh. Đại thi hào Nguyễn Du đã từng cất lên tiếng khóc thương cảm, xót xa cho thân phận của họ. Không phải vô duyên vô cớ mà ông cất lên tiếng nấc thay lòng cho người phụ nữ trong “Văn chiêu hồn” với câu thơ:
    “Đau đớn thay phận đàn bà
    Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu?”
    Hay trong kiệt tác “Truyện Kiều” là lời than vãn:
    Đau đớn thay phận đàn bà
    Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
    Trong xã hội phong kiến với những quan niệm, tư tưởng khắt khe về người phụ nữ như “Tam tòng tứ đức”, “Nhất nam viết hữu thập nữ viết vô” rồi “Nữ nhân ngoại tộc” vô tình đã trở thành sợi dây vô hình trói buộc con người vào lề thói cổ hủ lạc hậu khiến cho họ không có tiếng nói, không có quyền quyết định cho số phận cuộc đời mình. Trong bài “Bánh trôi nước” người phụ nữ là những chiếc bánh trôi để “Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn” để cho số phận long đong lận đận “Bảy nổi ba chìm với nước non”. Chi tiết ấy khiến cho ta nhớ tới hình ảnh chiếc bách nổi lênh đênh tượng trưng cho số kiếp nổi nênh của người phụ nữ:
    “Chiếc bách buồn vì phận nổi nênh
    Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh”
    Quan niệm phong kiến đã tước đoạt đi quyền làm người và đáng sợ hơn là nó biến người phụ nữ thành cái bóng mờ nhạt trong cuộc đời, sự sống là sự tồn tại vô nghĩa chứ không được trọn vẹn đúng nghĩa với từ “Sống”.
    Trong bài “Thương vợ” đó là hình ảnh người phụ nữ của gia đình-bà Tú người đã khổ về gánh nặng vật chất miếng cơm manh áo cho bảy miệng ăn lại còn khổ về mặt tinh thần. Bà hết lòng vì chồng vì con nhưng chồng nào có thấu hiểu hay không? Ông Tú tự nhận mình là một người chồng vừa bất tài vô dụng không giúp được gì lại còn “hờ hững” thờ ơ trước nỗi khổ của vợ. Nỗi khổ ấy là “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc”, là “Có chồng hờ hững cũng như không”. Ông Tú đã nhập vai, hóa thân vào bà Tú để cảm thông, thấu hiểu và cất lên lời than vãn, tiếng chửi của bà một mặt thể hiện tình cảm của ông dành cho vợ, một mặt tự trào phúng bản thân mình.
    Hai bài thơ cùng một đề tài cùng làm nổi bật lên hình ảnh người phụ nữ thời xưa với vẻ đẹp dung nhan bên ngoài và tâm hồn nhân cách bên trong nhưng toát lên là thân phận bé nhỏ, phụ thuộc rất đáng thương. Họ cũng là tấm gương tiêu biểu cho vẻ đẹp phẩm chất người phụ nữ Việt. “Bánh trôi nước” của Hồ Xuân Hương, “Thương vợ” của Trần Tế Xương đã góp vào tiếng nói chung bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ-những con người gánh vác trọng trách duy trì sự sống, sự sinh tồn trên trái đất.

  • Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua bài Tự tình 2 và Thương vợ

    Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua bài Tự tình 2 và Thương vợ

    Hình ảnh người phụ nữ Việt Nam qua bài Tự tình 2 và Thương vợ

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Viết bài làm văn số 2: Nghị luận văn học

    [toc]

    Đề bài: Hình ảnh người phụ nữ Việt nam thời xưa qua các bài “Bánh trôi nước”, “Tự tình” (bài II) của Hồ Xuân Hương và “Thương vợ” của Trần Tế Xương.

    Bài văn mẫu

    Văn thơ trung đại Việt Nam, nhất là các tác phẩm viết bằng chữ Nôm nói nhiều đến tình yêu và số phận người phụ nữ trong cuộc đời. Hồ Xuân Hương và Tú Xương, qua “Bánh trôi nước”, “Tự tình” – Bài II, “Thương vợ” đã làm hiện lên hình ảnh người phụ nữ Việt Nam thời xưa với bao ấn tượng sâu xa, với bao cảm thương man mác.

    Bài thơ “Bánh trôi nước” có hai lớp nghĩa: tả thực chiếc bánh trôi, một món ăn dân tộc và tượng trưng cho phẩm chất tốt đẹp của người con gái quê ta. Chữ “trắng” và chữ “tròn”, hình ảnh nhân hoá “thân em” đã thể hiện vẻ đẹp khiêm nhường, dịu dàng, trinh trắng và duyên dáng của “em”. Tuy tình yêu và số phận bị phụ thuộc vào lễ giáo phong kiến, và đạo tam tòng, vào “tay kẻ nặn”, dù “rắn nát”, dù vất vả, lận đận, long đong, trải qua “bảy nổi ba chìm”, nhưng em vẫn kiên trinh, sắt son. Hình ảnh ẩn dụ “tấm lòng son” và hai tiếng “vẫn giữ” đã ngợi ca đức hạnh kiên nhẫn, lòng chung thủy sắt son của người phụ nữ ngày xưa trong mọi gia đình Việt Nam. “Bánh trôi nước” là bức chân dung nghệ thuật với hai gam màu “trắng” và “son” tuyệt đẹp:

    “Thân em vừa trắng lại vừa tròn,

    Bảy nổi ba chìm với nước non.

    Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

    Mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

    Chùm thơ “Tự tình” ba bài của Bà chúa thơ Nôm, đặc biệt biệt bài thơ thứ hai, đã nói lên một cách cảm động về bi kịch tình duyên của người phụ nữ phận hẩm duyên ôi!

    Người phụ nữ ấy thao thức giữa đêm khuya, một mình một bóng đang lắng nghe tiếng trống dồn “văng vẳng” từ một chòi canh xa đưa lại. Thao thức vì cô đơn, vì lẻ bóng. Rượu và trăng cũng không làm vợi đi bao nỗi buồn chồng chất, đang đè nát cõi lòng. “Chén rượu hương đưa” cứ ngỡ có thể làm say để quên đi bao nỗi buồn chứa chất tâm hồn, cố uống cho say, nhưng “say lại tỉnh” để mà thêm buồn; buồn cho tình duyên lẽ mọn! Trơ trọi ngắm “vầng trăng bóng xế”, ngắm mãi ngắm hoài mà trăng kia vẫn “khuyết chưa tròn”, Hạnh phúc mà nàng mong đợi chỉ là “Một tháng đôi lần có cũng không!”. Số phận và bi kịch ấy thật đáng thương!

    Trong bi kịch tình duyên, người đàn bà lẽ mọn cố vùng vẫy bươn ra nhưng thoát sao được. Dù có “xiên ngang mặt đất”, dù có “đâm toạc chân mây”, nhưng đám rêu kia, mấy hòn đá nọ cũng không thể nào thay đổi được cảnh ngộ đáng buồn, đáng thương, đáng tủi, đáng hận:

    “Xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

    Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”.

    Phép đảo ngữ trong hai câu thơ không chỉ làm nổi bật cái dữ dội tiềm ẩn của thiên nhiên mà còn tô đậm sự phản kháng duyên số, phản kháng đến tuyệt vọng của người đàn bà “lấy chồng chung”.

    Thời gian chẳng mang lại hạnh phúc cho nàng. Mùa xuân cũng chẳng đem lại niềm vui gì cho nàng, mà nỗi chán ngán, đau khổ cứ chồng chất mãi thêm. Mùa xuân đi qua rồi mùa xuân lại trở lại, tuổi mỗi ngày một cao, nhan sắc ngày một phai tàn, nhưng tình yêu và hạnh phúc chỉ được “san sẻ tí con con” mà thôi! Thật đáng thương! Thật tội nghiệp. Tổng Cóc và ông phủ Vĩnh Tường cũng chẳng mang lại cho nàng chút hạnh phúc nào! Hai câu kết đã cực tả nỗi đau khổ trong bi kịch tình yêu của Hồ Xuân Hương:

    “Ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

    Mảnh tình san sẻ tí con con!”

    “Tự tình” — Bài II không chỉ nói lên nỗi đau khổ cô đơn mà còn thể hiện niềm khao khát tình yêu hạnh phúc của người đàn bà trong cảnh ngộ “lấy chồng chung”, Giá trị nhân bản của bài thơ thật sâu sắc.

    Tú Xương có bài “Văn tế sống vợ”; ông còn có bài “Thương vợ” Cảm hứng chủ đạo là tình thương, lòng quý trọng, biết ơn của ông đối với người vợ hiền thục của mình.

    Bà Tú là hiện thân cho bao đức tính tốt đẹp của người phụ nữ Việt Nam. Bà buôn bán tần tảo ở mom sông suốt quanh năm, không có một ngày ngơi nghỉ. Một gánh nặng gia đình được bà “nuôi đủ”:

    “Quanh năm buôn bán ở mom sông,

    Nuôi đủ năm con với một chồng”.

    Nhờ sự đảm đang, tháo vát của vợ mà ông Tú tuy “ăn lương vợ” nhưng khá phong lưu:

    “Cho hay công nợ âu là thế,

    Mà vẫn phong lưu suốt cả đời.

    Tiền bạc phó cho con mụ kiếm,

    Ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi”

    (Tự cười mình)

    Hình ảnh “thân cò” là một sáng tạo của Tú Xương để nói vể sự làm ăn vất vả, khó nhọc của bà Tú. Cặp từ láy: “lặn lội” và “eo sèo” đã cực tả nỗi gieo neo, đức tính chịu thương chịu khó của người vợ, người mẹ trong gia đình đông con:

    “Lặn lội thân cò khi quãng vắng,

    Eo sèo mặt nước buổi đò đông”.

    Bà Tú còn là hiện thân của đức hi sinh thầm lặng. Bà cam chịu, kiên nhẫn về duyên phận. Các thành ngữ “một duyên hai nợ”, “\”năm nắng mười mưa” kết hợp với các từ ngữ “âu đành phận”, “dám quản công” cho thấy đức hạnh, tâm hồn của bà Tú thật cao quý. Bà đã sống hết mình vì cuộc sống và hạnh phúc của chồng con:

    “Một duyên hai nợ âu đành phận,

    Năm nắng mười mưa dám quản công”,

    Hai câu kết là lời nhiếc của bà Tú cũng là lời tự trách mình của nhà thơ:

    “Cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

    Có chồng hờ hững cũng như không”.

    “Không” là không giàu sang phú quý, không được “Võng anh đi trước, võng nàng theo sau” như các bà nghè khác. “Không” là không được sống trong cảnh vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” như vợ của các thầy kí, thầy phán khác thời bấy giờ.

    Tú Xương tuy tự trách mình, nhưng ông đã nói lên tất cả tấm lòng quý trọng và biết ơn đối với người vợ hiền thục thương yêu.

    Hình ảnh bà Tú trong bài thơ “Thương vợ” là hình ảnh của một người phụ nữ Việt Nam với bao phẩm chất tốt đẹp như đảm đang, tần tảo, chịu thương chịu khó và giàu đức hi sinh.

    Qua các bài thơ “Bánh trôi nước”, “Tự tình” – Bài II, “Thương vợ” người đọc thấy được phẩm chất của người phụ nữ Việt Nam, càng biết ơn và tự hào về người mẹ, người chị, người vợ trong mỗi gia đình chúng ta. Đúng như Huy Cận đã viết:

    “Chị em tôi toả nắng vàng lịch sử,

    Nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ”.

  • Nghị luận Học đi đôi với hành

    Nghị luận Học đi đôi với hành

    Nghị luận Học đi đôi với hành

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề hiền tài là nguyên khí của quốc gia

    [toc]

    Đề bài: Viết bài văn nghị luận bày tỏ ý kiến của mình về phương châm Học đi đôi với hành.

    Bài văn mẫu

    Trải qua quá trình sống không ngừng phần đấu từ xưa cho đến nay, nhân dân ta đã luôn rút ra được những kinh nghiệm vô cùng quý báu. Những kinh nghiệm này phần lớn đều được nhân dân ta đúc kết lại qua những mối quan hệ tương quan của hai khía cạnh, hai vấn đề cụ thể từ lao động sản xuất: đó là mối quan hệ giữa học và hành được thể hiện qua phương châm sau: “Học đi đôi với hành”.

    Trước hết, chúng ta phải tìm hiểu xem “học” là gì. “Học” là hoạt động tiếp thu những tri thức của nhân loại đã được đúc kết qua mấy ngàn năm lịch sử. Chúng ta có thể học ở trường qua sự truyền thụ của thầy cô, học ở bạn bè, tự học qua sách vở và thực tế đời sống. Học để làm giàu tri thức, nâng cao trình độ hiểu biết về nhiều mặt để có thể làm chủ bản thân, làm chủ công việc của mình góp phần hưu ích vào việc xây dựng sự nghiệp riêng và sự nghiệp chung. Người xưa nói: “ngọc không mài, không thành đồ vật tốt; người không học, không biết rõ đạo”. Đạo là lẽ đối xử hằng ngày giữa mọi người. Muốn thế thì “Lúc đầu học tiểu học để bồi lấy gốc. Tuần tự tiến lên học đến tú thư, Ngũ kinh, chư sử”.

    Còn “hành” là gì? “Hành” là quá trình vận dụng những kiến thức đã học vào thực tế công việc hàng ngày. Ví dụ những người thầy thuốc đem những hiểu biết tiếp thu được trong suốt quá trình đào tạo ở trường đại học để vận dụng vào việc chữa bệnh cho nhân dân. Những kiến trúc sư, kỹ sư xây dựng thiết kế và thi công bao công trình như nhà máy, bệnh viện, trường học, công viên … phục vụ con người. Anh công nhân trong xưởng máy vận dụng lý thuyết để cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm. Chị nông dân áp dụng khoa học kỹ thuật và đồng ruộng để có được những vụ mùa bội thu … Đó là “hành”. Theo Nguyễn Thiếp, muốn học để có thành tựu thì phải biết “học rộng rồi tóm lược cho gọn, theo điều học mà làm. Họa may kẻ nhân tài mới lập được công, nhà nước nhờ thế mà vững yên. Đó mới thực là cái đạo ngày nay có quan hệ tới lòng người, xin chớ bỏ qua”.

    “Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh”

    Vậy tại sao học phải đi đôi với hành? “Học để hành” có nghĩa là “học” để “làm” cho tốt. Thực tế cho thấy có học có hơn. Ông cha ta ngày xưa đã nói “làm” cho tốt. Thực tế cho thấy có học có hơn. Ông cha ta ngày xưa đã nói: “Nhân bất học, bất tri lí” (Không học thì không biết đâu là phải). Mục đích của việc học là nhằm phục vụ cho quá trình làm việc hiệu quả cao hơn, tốt hơn. Nếu được học lý thuyết dù cao siêu đến đâu mà không đem ra vận dụng thì việc học ấy chỉ tốn thời gian vô ích. Bao công sức, tiền bạc bỏ ra mà kết quả chẳng có gì đáng kể. Một bác sĩ chỉ học lý thuyết, không thực hành vào công việc thì sẽ gây ra những hậu quả ảnh hưởng xấu đến tính mạng con người. Một kỹ sư chưa thực hành lần nào thì khi xây nhà sẽ không kiên cố, căn nhà có thể bị sụp đổ bất cứ lúc nào.

    “Học mới chỉ có mắt, hành mới có chân. Có mắt có chân mới tiến được. Có biết mới làm, có làm mới biết. Nhưng cái biết trong làm mới là cái biết sâu sắc nhất, thiết thực nhất”.

    Ngược lại, “hành mà không học” thì hành không trôi chảy. Nếu ta chỉ làm việc theo thói quen, theo kinh nghiệm mà không có lý thuyết soi sáng thì sẽ tiến triển chậm chạp và chất lượng không cao. Cách làm việc như trên chỉ thích hợp với các công việc thủ công đơn giản, không cần nhiều đến trí tuệ. Còn đối với những công việc phức tạp có liên quan đến khoa học kỹ thuật như hiện nay thì cung cách ấy đã quá lỗi thời. Muốn đạt hiệu quả tốt trong công việc, chúng ta bắt buộc phải học, phải được đào tạo chính quy theo từng chuyên nghành và trong suốt quá trình làm việc vẫn phải học tập không ngừng bằng mọi cách. Có như vậy mới đáp ứng được nhu cầu của thời đại.

    Do đó, chúng ta phải đánh giá đúng mức mối liên quan giữa “học” và “hành”. “Học” và “hành” phải đi đôi, có tác động hai chiều với nhau. “Học” hướng dẫn “hành”, “hành” bổ sung, nâng cao và làm cho việc “học” thêm hoàn thiện. Có “học” mà không có “hành” thì chỉ là mớ lý thuyết suông. Trái lại, chỉ chú trọng “hành” mà không chịu học hỏi thì làm việc gì cũng khó khăn. “Học” và “hành” là hai mặt của một quá trình, không thể xem nhẹ mặt này hay mặt khác. Theo Nguyễn Thiếp, nếu “người ta đua nhau lối học hình thức hòng cầu danh lợi, không còn biết đến tam cương, ngũ thường” thì “nước mất, nhà tan đều do những điều tệ hại ấy”.

    Tóm lại, học phải đi đôi với hành: giữa học và hành có mối quan hệ với nhau chặt chẽ. Học đóng vai trò chủ đạo soi sáng cho hành. Hành giúp con người vận dụng, củng cố, bổ sung và hoàn chỉnh lý thuyết đã được học vào thực tế cuộc sống. Có như vậy thì hiệu quả học tập và lao động sản xuất mới được nâng cao, đúng như Chủ tịch Hồ Chí Minh nói:

    “Học phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy”. “Học phải đi đôi với hành. Học mà không hành thì học vô ích, hành mà không học thì hành không trôi chảy”.

  • Bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề hiền tài là nguyên khí của quốc gia

    Bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề hiền tài là nguyên khí của quốc gia

    Bày tỏ ý kiến của mình về vấn đề hiền tài là nguyên khí của quốc gia

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Nghị luận về lòng tự trọng

    [toc]

    “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp.

    Bài văn mẫu

    “Hiền tài là nguyên khí quốc gia”, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Đó là nhận định đúng đắn của Thân Nhân Trung trong Bài kí đề danh tiến sĩ khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Đại Bảo thứ ba-1442.

    Từ xưa ông cha ta đã từng quan niệm nguyên khí của quốc gia vừa là khát vọng, vừa là sức sống của dân tộc. Nhân tài đóng vai trò trong sáng tạo ra các giá trị văn hóa, các công nghệ hiện đại. Có thể nói đó là yếu tố cốt lõi làm nên sự sống còn của mỗi quốc gia. Vậy hiền tài chính là phần cốt lõi, bản chất ban đầu để làm nên sự sống còn và phát triển của đất nước.

    Quốc gia có hiền tài và biết sử dụng hiền tài thì sẽ phát triển vững mạnh. Thịnh suy của mỗi triều đại, quốc gia không thể tách rời khỏi yếu tố con người. Các triều đại Trung Hoa như nhà Hán có Trương Lương, Hàn Tín, Tiêu Hà giúp sức đã đánh bại Hạng Vũ thống nhất Trung Hoa. Ở nước ta cũng có triều Trần có các danh tướng như Trần Hưng Đạo, Trần Nhật Duật, Phạm Ngũ Lão, đã khắc ghi vào những trang sử vẻ vang của dân tộc qua 3 lần chống Nguyên Mông. Nhưng đến triều Hồ rồi triều Nguyễn mặc dù đã cố gắng hết sức nhưng vẫn không đưa đất nước thoát khỏi nạn ngoại xâm vì không có nhân tài phò trợ.

    Lịch sử nhân loại, việc dùng người mỗi thời khác nhau tuỳ theo hoàn cảnh lịch sử, thời thế và vai trò, nhiệm vụ. Người có tài thật là hiếm, cần phải biết tìm, biết trân trọng. Người có học vấn thường có khả năng phán đoán và nhận định tốt hơn người thường. Thời phong kiến, ở nước ta đã có biết bao bài học khi biết trọng dụng trí thức thì công cuộc bảo vệ tổ quốc và xây dựng đất nước phát triển hiệu quả hơn nhờ tầng lớp trí thức, hoà đồng với nhân dân, xả thân vì nghiệp lớn. Hịch tướng sĩ của Trần Quốc Tuấn, Nam quốc sơn hà của Lý Thường Kiệt, Nguyễn Trãi với bản hùng văn lịch sử “Bình Ngô đại cáo” là minh chứng cho sự sáng suốt của các bậc tiền nhân biết chú trọng và sử dụng tri thức trong các cuộc chiến.

    Cố nhân đã dạy: “Quốc gia hưng vong,thất phu hữu trách” nghĩa là 1 người dân thường ắt cũng phải chịu trách nhiệm trước sự hưng vong của đất nước. Trí thức lại càng phải hơn thế! Ngày nay, tiếp nối truyền thống của cha ông, trí thức cần được rèn luyện để trở thành nhân tài có trách nhiệm cống hiến tài năng vào cho đất nước. Tri thức thời nay là tầng lớp tinh hoa của xã hội, tạo ra các giá trị tinh thần, tôn trọng chân lý và được nâng lên tầm cao mới của xã hội và phù hợp với thời đại toàn cầu hóa của nền tri thức nước nhà. Vậy nên, các vua thời xưa đã hết sức để khuyến khích, tìm kiếm nhân tài. Ban mũ áo, tước vị, cho vinh quy bái tổ và khắc lên đá để lưu danh ngàn đời. Văn Miếu Quốc Tử Giám là một minh chứng sống động cho điều ấy.

    Chúng ta tin vào sức năng động tự thân của dân tộc, sự sáng tạo và bền bỉ của giới trí thức như ngọn lửa bùng lên để những người có trọng trách biết suy nghĩ, trọng dụng đội ngũ trí thức,nhất là các bậc trí thức lão thành có kinh nghiệm cho tiến trình xây dựng đất nước. Ở các nước tiên tiến, họ bỏ tiền mua bảo hiểm y tế, nhà cửa, kể cả đôi chân cầu thủ hay vòng một của người đẹp. Còn đối với quốc gia thì càng có nhiều nhân tài thì đất nước ấy càng tỏa sáng. Nước ta tuy là một nước nhỏ nhưng cũng không ít nhân tài. Người Việt có mặt ở các lĩnh vực khoa học và đứng đầu ở những nơi mang tầm cỡ thế giới.

    Ngẫm về tình hình hiện tại của đất nước, dễ dàng nhận thấy những nhân tài hay nhận đc ưu đãi là du học, nhưng liệu bao nhiêu trong số họ sẽ trở về nước, hay sẽ ở lại cống hiến cho nước sở tại? Nhìn xa hơn, hiền tài phải được hướng tới lớp người trẻ tuổi bởi vì họ mới là lớp người có khả năng tiếp thu cái mới,sáng tạo hơn. Cần tạo môi trường cho họ làm việc,phát huy năng lực, đãi ngộ xứng đáng cho thành quả họ mang lại. Để chiêu dụ nhân tài, các nơi thường đưa ra các tiêu chí về học hàm học vị, nhưng thực chất của các học hàm học vị đó ra sao thì không ai kiểm chứng được. Họ vấp phải một môi trường làm việc cũ kỹ, không phát huy được năng lực của bản thân. Họ không muốn bị biến thành một công chức sáng vác ô đi, tối vác về. Họ lại ra đi! Vì tiền bạc, chức vụ không phải là cái mà nhân tài bận tâm.Nếu chúng ta hiểu một cách sâu xa chân lý “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia” không cần phải đốt đuốc lên mới thấy được người có thực tài mà chỉ cần có kế sách cụ thể, thực sự trân trọng tài năng, mời gọi nhân tài để rồi khơi dậy họ.

    “Hiền tài là nguyên khí quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp. Đó không chỉ là một triết lí đúng của cố nhân mà còn chính xác đối với thời nay. Vì vậy mỗi cá nhân, gia đình, nhà trường cần có biện pháp giáo dục để thế hệ trẻ phát huy hết tiềm năng phục vụ cho đất nước. Trước kia, bây giờ và sau này hiền tài luôn là nguyên khí của quốc gia, là nguồn tài nguyên và động lực to lớn để đất nước đi lên. Ngày nay có thể hiểu hiền tài không chỉ là trí thức, mà là tất cả những ai có năng lực và khát vọng cống hiến cho đất nước, cho dân tộc!

  • 2 bài văn mẫu Nghị luận về lòng tự trọng

    2 bài văn mẫu Nghị luận về lòng tự trọng

    2 bài văn mẫu Nghị luận về lòng tự trọng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về tác hại của tệ nạn với cuộc sống của con người

    [toc]

    Đề bài: Nghị luận xã hội về lòng tự trọng

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề: Bản thân mỗi người không ai hoàn hảo một cách tuyệt đối, tuy nhiên luôn hướng tới những phẩm chất tốt đẹp là cách để mỗi người hoàn thiện nhân cách

    – Nêu vấn đề nghị luận: Lòng tự trọng là một phẩm chất tốt đẹp mà mỗi người cần có để hoàn thiện nhân cách

    II. Thân bài
    1. Giải thích lòng tự trọng là gì và tại sao phải có lòng tự trọng?

    – Tự trọng: Là ý thức được bản thân, coi trọng danh dự, phẩm giá của chính mình. Tự trọng là biết mình biết mình biết người, không gây ra những việc làm xấu xa khiến bản thân hổ thẹn

    – Tại sao cần phải có lòng tự trọng?

    + Tự trọng giúp bản thân mỗi người nhìn nhận đúng cái sai, những điểm chưa hoàn thiện

    + Tự trọng giúp chúng ta thành công trong học tập và công việc bởi: Người tự trọng sẽ làm việc bằng thực lực của chính bản thân mình

    + Tự trọng giúp chúng ta sống đẹp sống có ích ⇒ Xã hội lành mạnh hơn

    + Lòng tự trọng khơi nguồn các đức tính tốt đẹp khác

    + Có tự trọng chúng ta mới có thể học được cách tôn trọng người khác

    2. Biểu hiện của những người có lòng tự trọng
    – Lòng tự trọng thể hiện ở việc con người cố gắng làm bài tập về nhà bằng chính khả năng của mình, không coi cóp, gian lận

    – Tự trọng là khi chúng ta sống và làm việc một cách nghiêm túc không để bị nhắc nhở, phàn nàn

    – – Tự trọng là khi nhận ra cái sai của mình và lắng nghe những lời góp ý để sửa chữa một cách vui vẻ, chân thành, cởi mở

    – Có thái độ sống hòa nhã với mọi người, tôn trọng người già, nhường nhịn trẻ em

    – Lòng tự trọng còn thể hiện ở việc con người ý thức được mình, không bị tha hóa bởi các yếu tố tiêu cực

    3. Bàn luận mở rộng

    – Bên cạnh những con người giàu lòng tự trọng, vẫn tồn tại những người đánh mất lòng tự trọng của bản thân:

    + Làm những việc trái đạo lí, vô lương tâm

    + Nói năng ứng xử thiếu văn hóa

    + Học sinh vô lễ với thầy cô

    ⇒ Tất cả những hành động việc làm đó cần bị phê phán. Những người ngay cả bản thân mình không tôn trọng được thì làm sao có thể thì sao có thể mong được người khác tôn trọng

    4. Bài học nhận thức và hành động

    – Mỗi con người cần ý thức và suy nghĩ đúng đắnvề bản thân và trang bị cho bản thân lòng tự trọng

    – Luôn sống một cách chan hòa, làm những điều tốt đẹp tránh xa cái xấu

    – Nhận thức những điểm mạnh, điểm yếu của bản thân để phát huy và sửa chữa

    – Liên hệ bản thân: Chúng ta là học sinh cần cố gắng học tập, tiếp thu điều tốt đẹp từ thầy cô bạn bè

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề: Lòng tự trọng là một đức tính tốt đẹp mà mỗi người cần có để hoàn thiện bản thân mình

    – Lời nhắn nhủ: Mỗi chúng ta hãy luôn sống giàu lòng tự trọng để xã hội trở nên tốt đẹp

    Bài văn mẫu 1

    Thomas Szass đã từng nói rằng: “Người sáng suốt coi lòng tự trọng là không thể thương lượng, và sẽ không đổi nó lấy sức khỏe, sự giàu sang, hay bất cứ thứ gì khác”. Quả thực đúng như vậy, lòng tự trọng đối với con người còn quan trọng hơn cả ngọc quý. Ở bất cứ thời điểm nào con người cũng cần nâng niu, trân trọng lòng tự trọng của bản thân, không vì chút lợi ích mà đánh mất phẩm giá của chính mình.

    Lòng tự trọng tức là sự coi trọng, giữ gìn nhân cách, danh dự của bản thân. Lòng tự trọng là lòng yêu quý những giá trị bản thân, không vì những tác động xung quanh mà đánh mất phẩm giá của chính mình. Lòng tự trọng đối với mỗi con người là hết sức quan trọng.

    Người có lòng tự trọng là những người luôn sống trung thực. Sự trung thực được biểu hiện dưới rất nhiều hình thức khác nhau, đối với học sinh là tự học, tự làm bài, không quay cóp, xem bài của những bạn xung quanh. Trong công việc đó là sự nỗ lực cố gắng làm việc của mình, không đổ thừa cho người khác, không tranh giành những thứ không phải của mình. Người có lòng tự trọng là luôn biết ngồi đúng chỗ, luôn ý thức được giá trị của bản thân. Không chỉ vậy, người có lòng tự trọng là người dám nhận lỗi sai khi mình mắc sai phạm và biết khắc phục những khuyết điểm sai lầm ấy. Họ là những người sống có trách nhiệm, bản lĩnh tự tin, không đổ thừa cho hoàn cảnh, sẵn sàng nhận trách nhiệm về bản thân để thay đổi nó theo chiều hướng tích cực. Người có lòng tự trọng còn là người luôn biết giữ lời hứa, không sai hẹn. Đối với họ một lời nói ra “tứ mã nan truy”, lời nói có trọng lượng và có ý nghĩa. Họ đồng thời cũng là những người hết sức tự giác, tự giác học tập, tự giác hoàn thành công việc của bản thân mà không cần ai nhắc nhở.

    Những người có lòng tự trọng sẽ luôn được mọi người yêu quý, kính trọng. Không chỉ vậy bản thân họ còn cảm thấy được sống cuộc sống thanh thản, hạnh phúc. Lòng tự trọng luôn đi liền với sự tự giác, nỗ lực, bởi vậy đó cũng là nhân tố thúc dẩu sự thành công với con người. Không chỉ vậy, lòng tự trọng còn là nhân tố làm nên giá trị của mỗi con người, là nền tảng của mọi suy nghĩ hành động. Người có lòng tự trọng sẽ luôn có suy nghĩ đúng đắn, điều đó dẫn đến những hành động tích cực. Lòng tự trọng là điều cần thiết đối với tất cả mọi người, bởi chỉ khi chúng ta biết tôn trọng chính mình thì khi ấy ta mới biết tôn trọng người khác. Lòng tự trọng còn giúp ta sống đúng lương tâm, trách nhiệm, không làm những việc sai trái, vi phạm đạo đức, pháp luật,… Lòng tự trọng giúp ta nhận ra phần hạn chế của chính mình, để không ngừng nỗ lực, cố gắng vươn lên, giúp bản thân hoàn thiện hơn. Đối với xã hội, nếu tất cả mọi người đều sống trong sạch liêm khiết, xã hội sẽ trở nên tốt đẹp, tạo điều kiện cho đất nước phát triển.

    Thực tế đã chứng minh rằng, những con người có lòng tự trong thường đạt được thành công lớn và luôn được mọi người nể phục, kính trọng. Người Nhật Bản nổi tiếng là những người có lòng tự trọng và kỉ luật cao, điều đó đã khiến họ trở thành một quốc gia hùng mạnh như ngày hôm nay. Kĩ sư Nhật Bản Kishi Ryoichi trong quá trình xây dựng một cây cầu ở Thổ Nhĩ Kì đã bị đứt cáp. Ông đau đớn và suy sụp nặng nề, không lâu sau ông tự sát và viết thư để lại nhận trách nhiệm về mình. Có lẽ ông không phải là người chịu trách nhiệm hoàn toàn cho sự cố đó, nhưng với lòng tự trọng sâu sắc ông không thể tiếp tục sống mà lựa chọn cái chết. Cái chết của ông đã gây tiếc thương trong lòng nhiều người và người ta cũng càng kính nể hơn nữa lòng tự trọng của ông và của đất nước Nhật Bản.

    Bên cạnh những người có lòng tự trọng lại có những kẻ không hề có lòng tự trọng. Họ tranh giành với người khác, sẵn sàng làm những việc xấu mà không hề ăn năn, hối lỗi. Đó quả là những hành vi cần phải lên án mạnh mẽ. Đồng thời ta cũng cần phải phân biệt lòng tự trọng với sự tự cao, luôn cho mình là quan trọng nhất, là đúng, không coi trọng ý kiến của người khác; phân biệt với tự ti luôn rụt rè, sợ hãi không dám bày tỏ những quan điểm cá nhân.

    Vậy làm thế nào để chúng ta có được lòng tự trọng? Mỗi người cần sống ngay thẳng, trung thực, không gian dối. Luôn hoàn thành những nhiệm vụ được giao, mà không cần đến sự nhắc nhở bảo ban. Trung thực từ những điểu nhỏ bé nhất,khi ấy ta mới có thể có lòng tự trọng thực thụ.

    Lòng tự trọng là một phẩm chất tốt đẹp mà mỗi chúng ta cần có, nó la thước đó, là tiêu chí làm nên giá trị bản thân con người. Lòng tự trọng giúp ta hướng đến những chuẩn mực, quy tắc chung của xã hội, làm việc tốt, nói điều hay, suy nghĩ lành mạnh, tích cực. Hãy bồi đắp lòng tự trọng từ những điều nhỏ nhất để hoàn thiện nhân cách của chính mình.

    Bài văn mẫu 2

    Trong kho tàng những phẩm chất quý báu của truyền thống dân tộc, lòng tự trọng là một giá trị đạo đức sáng ngời cần có ở mỗi con người. Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Ai cũng có lòng tự trọng, tự tin. Không có lòng tự trọng, tự tin là người vô dụng”.

    Lòng tự trọng là ý thức luôn biết gìn giữ phẩm chất, nhân cách của mình ở trong mọi hoàn cảnh và biết coi trọng giá trị của bản thân. Người có lòng tự trọng có biểu hiện rất tích cực trong cuộc sống, họ luôn là những người góp phần cho xã hội thêm tốt đẹp.

    Cha ông ta đã từng dạy “Giấy rách phải giữ lấy lề”, người có lòng tự trọng biểu hiện trước tiên là họ luôn làm chủ được bản thân không bị cám dỗ vật chất mua chuộc. Người có lòng tự trọng sẽ không vì tiền bạc, địa vị mà bất chấp mọi thủ đoạn đê tiện để giành lấy thứ không thuộc về mình. Họ biết nhận khuyết điểm của bản thân trước mọi người thay vì né tránh hay đùn đẩy trách nhiệm. Họ ý thức được mình là ai, mình có thể làm được điều gì bằng chính năng lực của bản thân.

    Ngay từ xa xưa cha ông ta đã là những tấm gương sáng về lòng tự trọng. Đó là Hưng Đạo Đại vương Trần Quốc Tuấn yêu nước căm thù giặc sâu sắc “Ta thường tới bữa quên ăn, nửa đêm vỗ gối, ruột đau như cắt, nước mắt đầm đìa; chỉ giận chưa thể xả thịt, lột da, ăn gan, uống máu quân thù; dẫu cho trăm thân ta phơi ngoài nội cỏ, nghìn thây ta bọc trong da ngựa, cũng nguyện xin làm”. Ông không chịu khuất phục trước kẻ thù, không chấp nhận để lòng tự tôn dân tộc, lòng tự trọng của một tướng võ triều đại nhà Trần bị chà đạp. Đó là Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm lui về ở ẩn để giữ gìn khí tiết, không vướng danh lợi và đồng tiền khi sống trong xã hội “Còn tiền còn bạc còn đệ tử/ Hết cơm, hết rượu hết ông tôi”.

    Trong cuộc sống hằng ngày ta bắt gặp không ít những có người có tấm lòng tự trọng cao đẹp dù chỉ là hành động nhỏ. Con người ấy có thể là cậu bé nghèo ăn xin, nhặt nhạnh ve chai hay đánh giày nhưng không trộm cắp. Đó là câu chuyện bác nông dân Lê Hảo ở Quảng Ngãi đem trả lại 152 triệu tiền huyện bồi thường nhầm cho gia đình ông với lí do “Không phải của mình thì trả lại”. Liệu rằng trong xã hội đồng tiền như hiện nay có bao nhiêu người làm được như bác. Ta khoan bàn đến việc tắc trách của cán bộ mà hãy lấy việc làm của bác Hảo làm tấm gương cho mình. Đó còn là cô sinh viên Nguyễn Chúc Ly trường Cao đẳng Cộng đồng Cà Mau từ chối nhận học bổng mỗi tháng 500 ngàn đồng vì lí do cô đang là sinh viên năm cuối, ra trường sẽ xin đi làm ngay vì nhà quá khó khăn nhưng cô muốn dành xuất học bổng đó cho các bạn còn tiếp tục học và hoàn cảnh gia đình khó khăn hơn. Chính tấm lòng ấy làm sáng ngời lên nhân cách đáng quý.

    Lòng tư trọng làm nên giá trị của mỗi con người. Lòng tự trọng giúp chúng ta biết tiếp nhận thông tin theo đúng hướng, nó là động lực để ta đương đầu với thử thách, đạp lên khó khăn vươn tới thành công. Người biết tư trọng sẽ được mọi người kính nể, tin yêu để từ đó có những bước tiến quan trọng trong công việc và có được thành tựu nhất định trong cuộc sống.

    Tuy nhiên ngày nay có một số người đã để lòng tự trọng ngủ quên trong sâu thẳm hay đánh mất đi từ bao giờ. Họ quên mất lời dặn của cha ông rằng “Đói cho sạch, rách cho thơm” họ vô cảm trước khó khăn của người khác, chà đạp lên lòng tự trọng của chính mình mà hôi bia, hay vụ hôi tiền 500 nghìn, trộm điện thoại của người bị tai nạn xe máy ở Đồng Nai vào năm 2013. Thực sự những con người đó, việc làm đó đã đánh mất đi nét đẹp truyền thống, lòng tự trọng ngày càng suy thoái khiến cho chúng ta có nhiều trăn trở về nhân cách làm người.

    Một số học sinh-những con người đang được cắp sách tới trường, được giáo dục về đạo đức cũng đang dần đánh mất đi lòng tự trọng của mình bằng hành động gian lận trong thi cử. Học là để làm người tốt hơn ấy vậy mà sự học trở nên thật tầm thường đối với một bộ phận học sinh. Các em cần phải nhìn lại mình, kiểm điểm và tự giáo dục lòng tự trọng của chính mình.

    Không có lòng tự trọng thật đáng xấu hổ và nguy hại nó làm xấu hình ảnh người Việt trong mắt bạn bè quốc tế, nó khiến cho xã hội ta kém văn minh, con người sống trong đó cũng thật đáng sợ. Chính vì vậy ngay từ khi còn nhỏ hãy giáo dục cho trẻ em giá trị về lòng tự trọng, bản thân mỗi con người khi lớn lên cũng không ngừng tự trau dồi, rèn luyện bản thân cho thật tốt.

    Tuy nhiên cũng có không ít người nhầm lẫn lòng tự trọng với tự ái. Bởi tự trọng mang trong mình nét đẹp, sự nhân nghĩa vốn có trong chữ “Tự”, còn tự ái là sự ích kỉ chỉ biết lấy bản thân mình không quan tâm đến những người xung quanh, tự ái là không dám đối mặt với khuyết điểm khi được bị người khác phê bình, nhận xét. Tự trọng cũng khác hẳn với tự kiêu tự đại. Bởi tự kiêu tự đại là tự cho mình hơn người, là thùng rỗng mà thích kêu to.

    Tự trọng là phẩm chất tốt đẹp, quý báu như ngọc sáng trong tâm cần được gìn giữ và phát huy. Tự trọng là tài sản vô giá luôn luôn cần có ở mỗi con người, chúng ta có thể đánh mất đi tiền tài, địa vị danh vọng nhưng xin đừng đánh mất lòng tự trọng khi làm người. Ngạn ngữ Tây Ban Nha có câu “Ngay cả khi trong túi hết tiền, cái mũ trên đầu anh cũng phải đội cho ngay ngắn” đó là lời răn dạy sâu sắc về lòng tự trọng đáng để suy ngẫm.

  • 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về tác hại của tệ nạn với cuộc sống của con người

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về tác hại của tệ nạn với cuộc sống của con người

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về tác hại của tệ nạn với cuộc sống của con người

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc

    [toc]

    Đề bài: Nghị luận xã hội về tác hại của tệ nạn với cuộc sống của con người

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề: Xã hội đang phát triển từng ngày kéo theo nhiêu vấn nạn gia tăng

    – Nêu vấn đề nghị luận: Tệ nạn xã hội để lại những tác hại to lớn đối với sự phát triển nhân cách con người và xã hội

    II. Thân bài
    1. Giải thích hiện tượng

    – Tệ nạn xã hội là hiện tượng phổ biến là những hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức, bại hoại nhân cách , ảnh hưởng xấu đến đời sống xã hội, cản trở sự phát triển lành mạnh của đất nước

    – Các tệ nạn xã hội như: cờ bạc ,rượu chè ,hút thuốc lá ,ma túy, mê tín dị đoan…

    2. Thực trạng tệ nạn xã hội hiện nay

    – Bên cạnh sự phát triển từng ngày của đất nước thì các tệ nạn cũng đang lan rộng và phức tạp hơn

    – Các tệ nạn xã hội phổ biến ảnh hưởng sâu sắc đến mọi mặt đời sống

    3. Tác hại

    – Tệ nạn xã hội ảnh hưởng đến sức khỏe,về mặt tinh thần thể xác thậm trí là cả tính mạng

    – Làm cho xa hội trở nên không lành mạnh

    – Làm cho đất nước kém phát triển , xã hội không còn tốt đẹp văn minh

    – Gia đình tan nát :Vợ chồng li dị, cha mẹ mất con cái… gây nên những cảnh đau thương

    – Làm con người lương thiện trở nên mất nhân tính bấp chấp mọi thứ

    – Gây nên nhiều vụ giết người cướp của ảnh hưởng xấu đến an ninh đất nước

    4. Nguyên nhân

    – Nguyên nhân hàng đầu là do bản thân mỗi người không có ý thức , không làm chủ được bản thân trước những cám dỗ của tệ nạn xã hội

    – Do hoàn cảnh gia đình nghèo túng muốn kiếm được tiền từ các tệ nạn như cờ bạc , cá độ…

    – Mặt khác cũng là do hoàn cảnh gia đình khá giả nên sa vào các tệ nạn xã hội

    – Bản thân mỗi người lười lao động, học đòi, bắt chước…

    – Do gia đình , nhà trường quản lí con em chưa chặt chẽ , không có thời gian quan tâm con cái

    – Do pháp luật nước ta chưa thực sự nghiêm minh chưa có những biện pháp xử lí thật mạnh nên vẫn còn nhiều người sa vào tệ nạn xã hội

    – Do bạn bè rủ rê lôi kéo

    5. Giải pháp và liên hệ bản thân

    – Bản thân mỗi người cần tự ý thức, làm chủ bản thân tránh xa các tệ nạn xã hội

    – Gia đình nhà trường cần có các biện pháp giáo dục quản lí con em để không sa vào tệ nạn xã hội

    – Hạn chế cho con em sử dụng nhiều các trang mạng xã hội như Facebook, Zalo… để tránh bị bạn bè rủ rê lôi kéo…

    – Tuyên truyền cho mọi người biết được tác hại ghê gớm của các tệ nạn xã hội từ đó mà có ý thức tránh xa

    – Cơ quan nhà nước cần xử lí nghiêm các đối tượng vi phạm pháp luật

    – Liên hệ bản thân: Mỗi chúng ta , nhất là lứa tuổi học sinh tâm sinh lí đang thay đổi cần giữ mình không để bản thân sa vào các tệ nạn xã hội

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề : Tệ nạn xã hội luôn là mỗi lo ngại hàng đầu của đất nước , đó là mối nguy hại không chỉ trước mắt mà còn là lâu dài cần tháo gỡ

    – Lời nhắn đến mọi người : Nếu mỗi người sống một cách văn minh thì chắc chắn tệ nạn sẽ được đấy lùi

    Bài văn mẫu 1

    Nhờ tiến bộ của khoa học kĩ thuật, y tế những căn bệnh như dịch hạch, dịch thổ tả,… đã tìm ra vacxin khống chế. Nhưng có những căn bệnh, những tện nạn xã hội thì ngày càng lây lan mạnh mẽ, mà nếu bản thân mỗi người, xã hội không có hành động kịp thời chúng sẽ bùng phát thành đại dịch khó lòng có thể ngăn chặn nổi.

    Tệ nạn xã hội có thể hiểu là những hiện tượng xấu, hành vi không đúng chuẩn mực đạo đức,… xảy ra phổ biến trong đời sống xã hội. Những tệ nạn này gây ra hậu quả nghiêm trọng cho gia đình và toàn xã hội. Một số tệ nạn xã hội tiêu biểu như: ma túy, mại dâm, thuốc lá, mê tín, … đây đều là những căn bệnh nguy hiểm, chúng liên hệ mật thiết với nhau, tác động xấu đến đời sống xã hội.

    Hiện nay ở nước ta tệ nạn xã hội ngày một phổ biến và phát triển dưới những hình thức hết sức tinh vi, khó lường. Tệ nạn hút thuốc lá ở Việt Nam vào hàng cao nhất thế giới, với 56% nam giới và 1,8% nữ giới, và tình trạng này ngày càng gia tăng. Tính đến tháng 6/2011 cả nước có 149.900 người nghiện ma túy, tăng 2,7 lần so với cuối năm 1994. Và từ đó đến nay con số này vẫn không ngừng gia tăng, nghiện ma túy tập trung chủ yếu ở những thành phố lớn, những địa phương giáp biên giới. Thực trạng mại dâm ở nước ta cũng vô cùng đáng lo ngại, theo báo cáo trên cả nước có 11.240 người hoạt động mại dâm, nhưng con số thực tế, không kiểm soát được còn lớn hơn rất nhiều. Đây chỉ là số liệu về một trong những tệ nạn chính, ngoài ra còn rất nhiều tệ nạn khác, đang ngày ngày gặm nhấm xã hội, kéo xã hội tụt hậu.

    Tệ nạn xã hội gây ảnh hưởng trước hết là đến bản thân người sử dụng. Làm cơ thể ốm yếu, mắc những căn bệnh nghiêm trọng gây nguy hiểm đến tính mạng: ung thư, HIV/AIDS, …Không chỉ vậy còn làm băng hoại đạo đức, tinh thần, với những người nghiện ma túy họ sẵn sàng thực hiện mọi hành vi, kể cả giết người, cướp của để thỏa mãn cơn thèm của mình. Không chỉ vậy, tệ nạn xã hội còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến gia đình, những gia đình có người mắc tệ nạn thường kinh tế sa sút, bị tổn hại về tinh thần. Những gia đình có cha hoặc mẹ mắc tệ nạn sẽ trở thành hình ảnh xấu với con, khiến những đứa trẻ không được sống và phát triển trong một môi trường lành mạnh. Đây cũng là nguyên nhân khiến chúng phát triển lệch lạc về nhân cách, lối sống, suy nghĩ, ảnh hưởng tới tương lai đất nước.

    Đối với xã hội và đất nước, tệ nạn xã hội tràn làn trở thành gánh nặng kinh tế, là nguyên nhân kéo lùi nên kinh tế đất nước phát triển. tệ nạn xã hội còn làm rối loạn trật tự, an ninh xã hội, nạn trộm cắp, cướp của,… khiến người dân luôn phải sống trong nỗi bất an, lo lắng. Chúng ta hãy thử tưởng tượng một đất nước chỉ có những người mắc tệ nạn xã hội thì tương lai đất nước ấy sẽ đi về đâu?

    Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến sự hoành hành của các tệ nạn xã hội hiện nay. Do bị bạn bè rủ rê, lôi kéo. Do gia đình không có sự quan tâm, đặc biệt với các bạn trẻ bố mẹ mải mê kiếm tiền, không chăm lo cho con cái, dẫn đến tâm lí chán nản, dễ dàng bị dụ dỗ. Do thất nghiệp, lười lao động, ông cha ta vẫn thường có câu “nhàn cư vi bất thiện”, khi nhàn dỗi thường dẫn con người đến những thú ăn chơi, hưởng lạc, dễ dàng sa ngã. Nhưng quan trọng nhất vẫn là do bản thân không có lập trường vững vàng, không làm chủ được bản thân trước những cám dỗ của cuộc sống.

    Mặc dù các tệ nạn này ngày một bùng phát mạnh mẽ nhưng không có nghĩa là chúng ta bỏ mặc, chỉ cần tất cả mọi người chung tay, góp sức, tất yếu tệ nạn xã hội sẽ bị đẩy lùi. Bản thân mỗi người cần phải ý thức những tác hại nguy hiểm, khôn lường mà những tệ nạn xã hội gây ra với bản thân và gia đình, sẽ hội. Tránh xa mọi lời rủ rê, lôi kéo từ những người có lối sống không lành mạnh. Dũng cảm lên án, tố cáo những người mắc tệ nạn xã hội. Bản thân không ngừng nỗ lực, cố gắng học tập, rèn luyện đạo đức, sống có mục tiêu, lí tưởng để trở thành con người có ích, xây dựng quê hương, đất nước.

    Bên cạnh đó cũng cần sự phối hợp của gia đình, nhà trường và xã hội. Gia đình cần dành thời gian quan tâm, chăm sóc con cái, có những định hướng đúng đắn để con cái phát triển lành mạnh. Nhà trường cần tổ chức các buổi ngoại khóa, tuyên truyền để học sinh thấy được những tác hại nghiêm trọng của tệ nạn xã hội đối với bản thân. Đặc biệt, xã hội cần phải chung tay kết hợp với các cơ quan chức năng đẩy lùi tệ nạn xã hội. với những gia đình có người mắc tệ nạn xã hội còn khuyên bảo họ từ bỏ, đồng thời không có thái độ, phân biệt, kì thị, để họ dễ dàng tái hòa nhập với cộng đồng sau khi đã từ bỏ được các tệ nạn.

    Bản thân chúng ta là học sinh đang ngồi trên ghế nhà trường cần phải tích cực học tập, không ngừng nỗ lực cố gắng. Hãy nói không và tránh xa các tệ nạn xã hội, để bảo vệ chính mình và bảo vệ truyền thống đẹp đẽ của dân tộc.

    Tệ nạn xã hội luôn là vấn đề nan giải của gia đình và toàn thể xã hội, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng cuộc sống và sự phát triển của đất nước. Là mầm non tương lai của đất nước chúng ta phải cùng nhau chung tay đẩy lùi các tệ nạn xã hội, tạo môi trường trong lành để phát triển, đồng thời cũng là để thực hiện trách nhiệm của mỗi công dân đối với đất nước.

    Bài văn mẫu 2

    Thời đại 4.0 phát triển cuộc sống ngày càng văn minh, tiến bộ hơn tuy nhiên vẫn còn tồn tại thế giới của bóng tối đó là những tệ nạn xã hội đang hoành hành với biểu hiện đa dạng và tác hại nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới đời sống con người. Đây là một vấn đề nóng luôn nhận được sự quan tâm của cộng đồng từ trước đến nay.

    Vậy tệ nạn xã hội là gì? Theo định nghĩa của Luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam “Tệ nạn xã hội là hiện tượng bao gồm các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội, vi phạm đạo đức và pháp luật, gây hậu quả xấu về mọi mặt”. Muốn hiểu được như thế nào hành vi sai lệch trước tiên ta phải hiểu chuẩn mực xã hội là gì? Đó là sự yêu cầu hoặc mong đợi của cộng đồng đưa ra tạo thành khuôn mẫu cho các thành viên trong đó để tạo dựng một xã hôi tốt đẹp hơn. Chuẩn mực xã hội theo các nhà khoa học nó được chia làm hai nhóm: Thứ nhất “Chuẩn mực bắt buộc phổ biến cho toàn xã hội và gắn với nó là sự trừng phạt công khai”. Thứ hai “Chuẩn mực mong đợi phổ biến cho toàn xã hội nhưng mang tính đặc thù cho các nhóm xã hội”. Soi vào đó ta thấy các hành vi sai lệch chuẩn mực xã hội là những việc làm không nằm trong khuôn mẫu chuẩn mực, không được coi là bình thường, đi chệch hướng mà số đông mong muốn.

    Tệ nạn xã hội ngày càng đa dạng, phổ biến dưới mọi hình thức và có mặt ở mọi nơi, mọi ngành nghề dù là nơi thành thị phát triển hay nông thôn nghèo khó, dù là nhà trường văn minh hay ngay trong bộ máy cấp cao của nhà nước. Tuy nhiên ở bài viết này chúng ta sẽ điểm qua các tệ nạn nổi trội, tiêu biểu với những tác hại nghiêm trọng.

    Nguy hại hơn tất cả là tệ nạn cờ bạc, ma túy, mại dâm. Đây là loại chiếm số lượng lớn nhất, nguy hiểm nhất đặc biệt là ma túy theo số liệu thống kê năm 2017 của Bộ công an cả nước ta có 210.751 người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý tuy nhiên con số còn bỏ sót rất nhiều. Nghiện cờ bạc “là bác thằng bần. Cửa nhà bán hết, tra chân vào cùm” nghiện ma túy, mại dâm ảnh hưởng đến sức khỏe và là con đường nhanh nhất bị lây nhiễm HIV/AIDS, con đường ngắn nhất dẫn đến tội ác giết người gây ra biết bao hậu quả nghiêm trọng.

    Một tệ nạn nguy hại không kém là tham nhũng, quan liêu của các quan chức cấp cao trong bộ máy lãnh đạo. Những ngày gần đây vụ án của ông Đinh La Thăng_Bí thư thành ủy thành phố Hồ Chí Minh lĩnh bản án 18 năm tù trong vụ PVN thất thoát 800 tỉ đồng. Những người cán bộ theo Hồ Chí Minh nhận định: “Mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng mình vào Đảng là để làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan nhân dân và phải làm cho tốt”. Những con người ấy phải phục vụ cho lợi ích của quần chúng nhưng lại có những hành vi ngược với đạo đức trái với pháp luật, làm cho đất nước bị tụt hậu. Có những “Con sâu làm rầu nồi canh” và còn biết bao con sâu còn ở trong “nồi canh” ấy cần được loại trừ để cho đất nước này không còn tệ nạn tham ô, tham nhũng.

    Tệ nạn ấu dâm-xâm hại tình dục trẻ em không còn là điều quá xa lạ với vụ án của nghệ sĩ Minh Béo bị khởi tố ở Mỹ năm 2016 là một bài học đắt giá cho người Việt Nam. Gần đây nhất dư luận đang lên tiếng với bản án treo của bị cáo Nguyễn Khắc Thủy cụ già 77 tuổi dâm ô trẻ ở Vũng Tàu-vụ án có nhiều bức xúc cho cộng đồng cũng là hồi chuông cảnh báo cho nạn ấu dâm đang ngày càng nguy hại, cảnh tỉnh cho các bậc phụ huynh phải quan tâm, bảo vệ con trẻ.

    Bên cạnh đó những người trẻ-thế hệ tương lai sáng lạn của đất nước ở ngày mai không ít người đang u mê, tăm tối nghiện game, ham chơi đua đòi làm ảnh hưởng xấu đến kết quả học tập, rèn luyện và tu dưỡng đạo đức.

    Mỗi một loại tệ nạn gây ra tác hại khác nhau nhưng nhìn chung nó vô cùng nghiêm trọng trong đời sống. Trước tiên đối với bản thân người tham gia tệ nạn là ảnh hưởng xấu đến sức khỏe, tinh thần, làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, khiến cho những người thân yêu luôn lo lắng bất an. Đối với gia đình phải chịu điều tai tiếng không tốt của hàng xóm láng giềng, kinh tế bị sụt giảm nghiêm trọng, tinh thần không được vui vẻ, thoải mái. Đối với xã hội nó làm mất đi giá trị đạo đức-truyền thống tốt đẹp của dân tộc. Thay vì “Thương người như thể thương thân” thì đó là cướp của, giết người coi rẻ sinh mạng. Làm rối loạn trật tự an toàn xã hội, con người khi ra đường có thể bị đe dọa đến tính mạng bất cứ lúc nào. Sự văn minh tiến bộ của đất nước bị thụt lùi, cái nhìn của các dân tộc khác với Việt Nam không thực sự tốt đẹp…

    Vậy nguyên nhân nào dẫn tới điều đó? Biện pháp khắc phục ra sao? Nguyên nhân xuất phát từ bản thân mỗi cá nhân ý thức còn kém, thiếu hiểu biết do chưa được giáo dục tốt. Khả năng tự chủ chưa cao dễ bị lôi kéo, dụ dỗ. Tư tưởng chưa vững vàng khi đứng trước nghịch cảnh khó khăn. Chính vì vậy mà mỗi người phải nâng cao ý thức, sự hiểu biết của mình đối với tác hại của tệ nạn, luôn luôn phải có tư tưởng tránh xa chúng, tích cực sống lối sống lành mạnh, học tập và rèn luyện thật tốt. Bên cạnh đó nguyên nhân còn đến từ xã hội do chính sách của nền kinh tế thị trường, sự du nhập văn hóa phẩm đồi trụy, sự phát triển vũ bão của internet và một số lỗ hổng của kỉ cương pháp luật. Nên biện pháp phòng tránh cũng phải đến từ cộng đồng cùng nhau chung tay góp sức đẩy lùi tệ nạn.

    Là một người trẻ còn ngồi trên ghế nhà trường em ý thức được tác hại nghiêm trọng mà tệ nạn xã hội gây ra, trong tâm thức em luôn trăn trở mình phải làm gì để góp phần đẩy lùi “căn bệnh” ấy. Bản thân em trước tiên luôn không ngừng cố gắng học tập thật tốt, rèn luyện và tu dưỡng bản thân đi theo các chuẩn mực xã hội. Tích cực tham gia các hoạt đông tuyên truyền cho mọi người tránh xa các tệ nạn. Mỗi người là một mạch máu chảy trong cùng một cơ thể lớn dân tộc, “Mỗi một gia đình là một tế bào của xã hội” để cho đất Việt ngày càng văn minh tốt đẹp mỗi chúng ta hãy nói KHÔNG với tệ nạn.

  • 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm

    [toc]

    Đề bài: Nghị luận xã hội về tiền bạc và hạnh phúc.

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề: Trong cuộc sống con người có những mục tiêu và đích đến khác nhau

    – Nêu vấn đề nghị luận: Tiền bạc và hạnh phúc có thể coi là hai mục tiêu, hai đích đến trong số những đích đến quan trọng của con người. Xoay quanh tiền bạc và hạnh phúc, có rất nhiều những ý kiến trái chiều khác nhau cần bàn luận

    II. Thân bài
    1. Giải thích

    – Hạnh phúc: Trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn được như ý nguyện

    ⇒ Hạnh phúc có thể coi là mục tiêu phấn đấu của tất cả mọi người.

    – Tiền bạc: Đại diện cho những giá trị vật chất, có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống con người và là mục tiêu phấn đấu của rất nhiều người

    ⇒ Tiền bạc và hạnh phúc có thể coi là hai vấn đề liên kết tương hỗ nhau

    2. Vai trò của tiền bạc đối với hạnh phúc của một con người

    – Cần khẳng định một thực tế tiền bạc đóng vai trò tương đối quan trọng trong việc tạo dựng hạnh phúc của một con người:

    – Khi con người có tiền, họ sẽ không phải lo lắng về những vấn đề cơ bản của cuộc sống ⇒ hạnh phúc

    + Có tiền, con người có thể chăm sóc những giá trị vật chất cho bản thân: ăn uống, mua sắm

    + Có tiền, con người có thể chữa bệnh ⇒ hạnh phúc

    + Khi con người có đầy đủ những giá trị vật chất, khi đó con người mới có thể chăm óc cho tinh thần, mà ngay cả việc chăm sóc những giá trị tinh thần thì tiền cũng có vai trò quan trọng: Có tiền, con người có thể tự do đi du lịch, mở mang hiểu biết ⇒ hạnh phúc

    – Dẫn chứng:

    + Các chương trình nhân đạo, từ thiện ủng hộ những hoàn cảnh khó khăn một khoản tiền để trang trải cuộc sống: Chương trình Vượt lên chính mình…

    + Các chương trình hỗ trợ trẻ em, những người mắc bệnh hiểm nghèo: Tiếp sức hồi sinh… ⇒ Nếu không có tiền, không thể đem lại hạnh phúc cho những người thiếu may mắn, không may mắc bệnh hiểm nghèo

    3. Hạnh phúc có nhất thiết phải do tiền bạc tạo nên?

    – Khẳng định tiền bạc có vai trò quan trọng đến hạnh phúc của con người, tuy nhiên không phải cứ có tiền bạc con người sẽ nắm trong tay hạnh phúc:

    + Những người có thật nhiều tiền mà sống vô ích, không có mộng tưởng, không có ý chí ⇒ Vô nghĩa, không tìm được niềm hạnh phúc thực sự

    + Niềm hạnh phúc đối với những đứa trẻ mồ côi là có được một cuộc sống gia đình đầy đủ

    + Niềm hạnh phúc của những người già chính là được sum vầy bên con cháu

    – Dẫn chứng:

    + Rất nhiều gia đình giàu có, họ vẫn li hôn khiến cuộc sống của những cậu ấm, cô chiêu rơi vào đau khổ

    + Cha đẻ của tập đoàn Apple trong bức thư cuối đời trước khi ra đi đã nhắc đến việc cuối cùng thì tiền bạc cũng không đem lại cho con người được sức khỏe, ông đúc kết chân lí con người cần biết bảo vệ sức khỏe của bản thân

    4. Làm thế nào để có được hạnh phúc trọn vẹn?

    – Hạnh phúc là khi con người cảm thấy thực sự thoải mái và hài lòng với những gì đang có

    – Sống một cách trọn vẹn: sóng đẹp, sống có ích, có lí tưởng

    – Nhìn cuộc sống bằng con mắt đầy sự lạc quan và tích cực

    – Phấn đấu vì mục tiêu hạnh phúc, dù nhỏ bé hay lớn lao

    – Can đảm sống và làm những gì mình yêu thích

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề nghị luận: Tiền bạc và hạnh phúc có quan hệ tương đối mật thiết, chúng ta không phủ nhận vai trò của tiền bạc trong việc tạo dựng hạnh phúc cho con người nhưng nhấn mạnh rằng tiền bạc không phải lúc nào cũng là tất cả

    Bài văn mẫu 1

    Cuộc sống của con người luôn mong muốn và hướng tới được thỏa mãn cả về nhu cầu vật chất và nhu cầu tinh thần. Đó là nhu cầu hết sức chính đáng của cuộc sống. Bởi vậy, giữa tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ mật thiết với nhau tạo nên sử thỏa mãn cho con người. Nhưng làm thế nào để hai yếu tố này cân bằng, hài hòa với nhau một cách trọn vẹn nhất?

    Trước hết chúng ta cần hiểu thế nào là tiền bạc và thế nào là hạnh phúc? Tiền bạc là phương tiện để con người mua bán, trao đổi mọi vật dụng trong đời sống. Tiền bạc là đại diện cho vật chất. Ngược lại, hạnh phúc lại thiên về mặt tinh thần. Nó là những cảm xúc, cảm giác sung sướng cực điểm khi được thỏa nguyện về một vấn đề nào đó. Giữa tiền bạc và hạnh phúc có mối quan hệ khăng khít với nhau, tác động qua lại với nhau.

    Tiền bạc là phương tiện để duy trì cuộc sống cho con ngươi. Mọi nhu yếu phẩm hàng ngày của chúng ta đều phải sử dụng đến tiền để duy trì cuộc sống: thực phẩm, quần áo, giáo dục, y tế,… Nếu không có tiền thì những nhu cầu tối thiểu đó con người cũng sẽ không được đáp ứng. Nếu có tiền, chúng ta sẽ được hưởng một cuộc sống thoải mái, tiện nghi, không chỉ vậy còn được hưởng những dịch vụ chăm sóc tốt nhất cho bản thân và cả gia đình. Có tiền chúng ta cũng có thể giúp đỡ người khác được nhiều hơn, tương trợ những người có hoàn cảnh éo le giúp họ vượt lên hoàn cảnh. Nếu chúng ta không có tiền, dù có gặp những người có hoàn cảnh éo le thì “lực bất tòng tâm”, tâm muốn giúp mà điều kiện, hoàn cảnh không cho phép. Chẳng phải điều đó cũng làm ta đau buồn đó sao. Bill Gates, một trong những người giàu nhất thế giới, ông đã dùng một phần tài sản của mình để giúp đỡ những trẻ em nghèo, những trẻ em lang thang cơ nhỡ ở các nước kém phát triển. Nếu Bill Gates chỉ là một người bình thường liệu ông có thể giúp đỡ và đem lại hạnh phúc cho nhiều người đến vậy không? Có tiền cũng là cơ hội giúp bạn thực hiện những mong muốn, mơ ước một cách nhanh chóng hơn. Như vậy, có tiền cũng là một phương tiện để chúng ta cảm thấy hạnh phúc. Ở phương diện này đồng tiền không hề xấu.

    Nhưng ngược lại, tiền bạc cũng gây lên những áp lực, những hệ lụy khôn lường đối với con người. Người ta hăng say kiếm tiền mà bỏ quên những giá trị hạnh phúc đích thực, bỏ quên những người luôn bên cạnh động viên, giúp đỡ họ. Ma lực của đồng tiền đôi khi làm người ta mờ mắt, sẵn sàng làm những việc xấu xa, băng hoại đạo đức để có được tiền.

    Tiền bạc còn phá vỡ mối quan hệ bình đẳng giữa con người với con người. Khoảng cách giàu nghèo quá lớn, khiến con người trở nên xa lạ với nhau, giữa những người không cùng “đẳng cấp” họ không thể tìm được tiếng nói chung. Tiền bạc còn là căn nguyên của mọi xích mích, biết bao gia đình đã tan nát vì tranh giành tiền bạc, tài sản,…

    Vậy chẳng lẽ hạnh phúc lại không có chút ý nghĩa gì, không có giá trị nào hay sao? Hoàn toàn không phải như vậy, khi chúng ta hạnh phúc, cơ thể thư giãn, thoải mái đó sẽ là điều kiện nảy nở những ý tưởng độc đáo, sáng tạo, là cơ hội biến những dự định thành hiện thực. Những người yêu đời, sống hạnh phúc bao giờ cũng dễ dàng thành công hơn những người sống u uất, trầm cảm.

    Không phải cứ có nhiều tiền chúng ta sẽ được sống hạnh phúc. Điều quan trọng với mỗi người là phải tạo nền sự cân bằng, hài hoa giữa tiền bạc và hạnh phúc, giữa nhu cầu về vật chất và những khát vọng về đời sống tinh thần. Chỉ khi ấy con người mới được hưởng một công sống thoải mái, thanh thản thực sự. Để có được điều đó, bản thân mỗi người cần nỗ lực, cố gắng không ngừng trong học tập, lao động. Hãy kiếm tiền bằng chính sức lao động của mình, dùng nó vào những mục đích chính đáng. Kiếm tiền nhưng cũng không quên quan tâm, chăm sóc những người xung quanh, không quên đem lại cho bản thân những giây phút nghỉ ngơi, thư giãn. Với những hạnh phúc đã có được phải trân trọng, gìn giữ, bởi tạo được hạnh phúc không hề đơn giản, đừng vì những lí do tiền bạc mà phũ phàng, phụ bạc nhau. Và mỗi người cần phải hiểu rằng, tiền bạc chỉ là một yếu tố nhỏ đem đến hạnh phúc cho con người không phải yếu tố quan trọng nhất. Hơn nữa, hạnh phúc có thể làm ra của cải, tiền bạc còn tiền bạc chưa chắc đã đem đến hạnh phúc thực sự cho con người.

    Trong cuộc sống hiện đại, tiền bạc và hạnh phúc đều có vị trí, ý nghĩa quan trọng. Điều quan trọng là mỗi chúng ta cần phải có thái độ, cách nhìn nhận đúng đắn giữa hai phương diện vật chất này. Không nên quá đề cao tiền bạc mà hạ thấp hạnh phúc, bởi vậy bạn sẽ rơi vào cô đơn. Cân bằng giữa hai yếu tố trên, lấy hạnh phúc là cơ sở là mục đích phấn đấu sẽ đem lại cho bạn cuộc sống đầy tốt đẹp và ý nghĩa.

    Bài văn mẫu 2

    Cuộc sống của con người được tạo nên bởi hai yếu tố vật chất và tinh thần. Đại diện cho nó là tiền bạc và hạnh phúc, giữa chúng có mối quan hệ gắn bó khăng khít với nhau, có ý nghĩa quan trọng đối với đời sống xã hội. Xã hội càng phát triển nhu cầu vật chất càng tăng cao, hạnh phúc càng thiết thực hơn, quan niệm sống, giá trị sống có nhiều nét khác biệt so với thời kì trước.

    Tiền bạc là gì? Tiền bạc là phương tiện để trao đổi hàng hóa và dịch vụ của một quốc gia hay một số các quốc gia có chung sự mã hóa với nhau về tiền bạc. Nó thuộc phạm trù vật chất. Vật chất có vai trò rất quan trọng trong đời sống. Nó cung ứng cho ta các đồ dùng, vật dụng để duy trì sự sống. Ví dụ đơn giản muốn tồn tại được thì phải ăn muốn có ăn thì phải có tiền để mua đồ về nấu hay ra ngoài mua bát phở…

    Vậy còn hạnh phúc phải hiểu như thế nào? Hạnh phúc là giá trị tinh thần, nó rất rộng và khó xác định. Hạnh phúc là trạng thái mãn nguyện và thoả mãn trong tâm hồn của con người trên mọi phương diện đời sống. Hạnh phúc đơn giản là đầy đủ cơm ăn áo mặc, được học hành đầy đủ. Hạnh phúc là khi ta sinh ra được lành lặn, đầy đủ các bộ phận. Hạnh phúc có thể là khi ta vượt qua khó khăn hay được điểm cao trong học tập… mỗi người có một cái nhìn riêng về hạnh phúc, ở tại mỗi thời điểm con người lại có những hạnh phúc khác nhau. Nhưng nhìn chung hạnh phúc có được khi cuộc sống no đủ về vật chất.

    Mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc là mối quan hệ biện chứng tác động qua lại lẫn nhau. Tiền bạc là cơ sở, tiền đề để có được hạnh phúc. Hạnh phúc là nhân tố thúc đẩy, là động lực để làm ra tiền bạc. Cuộc sống của con người nếu thiếu một trong hai sẽ không được trọn vẹn như mong đợi.

    Trước tiên, tiền bạc là điều kiện để có được hạnh phúc. Tiền bạc đáp ứng cho cuộc sống về nhu cầu vật chất như nhà ở, xe cộ, đồ ăn, quần áo… đó là những đòi hỏi tối thiểu để duy trì sự sống. Nếu thiếu chúng cuộc sống của chúng ta sẽ trở nên khó khăn hơn rất nhiều. Tiền bạc giúp cho thế giới tinh thần được thoải mái, mãn nguyện khi không quá lo lắng về gánh nặng cơm áo gạo tiền. Có tiền bạc sẽ cho ta những cuộc vui, những chuyến du lịch xa để giải tỏa stress. Có tiền bạc ta sẽ tự tin để làm điều mình muốn, thực hiện những dự định còn dang dở. Chính những điều đó là hạnh phúc đem lại khi có tiền bạc trong tay.

    Tuy nhiên chúng ta đừng bao giờ tuyệt đối hóa vai trò của tiền bạc bởi điều đó khiến cho sự sống trở thành sự tồn tại, con người mải mê chạy theo giá trị vật chất mà quên mất rằng thế giới tâm hồn của mình đang bị khô héo, quên mất đi tình người cần có để làm giàu cho sự sống. Trong xã hội ngày nay không ít những người làm cha làm mẹ vì bị cuốn xoáy trong danh vọng, địa vị, đồng tiền mà không có thời gian dành cho gia đình, quan tâm chăm sóc con cái. Họ cứ nghĩ rằng có tiền là có hạnh phúc cho con để rồi những đứa trẻ nhẹ thì bị tủi thân, thiếu thốn tình cảm nặng thì bị trầm cảm hay lao vào những cuộc chơi vô bổ. Rồi có biết bao những con người vì tiền bạc mà sẵn sàng chà đạp lên nhân phẩm, đạo đức làm người, rồi có những vụ án giết người vì tiền bạc gây chấn động dư luận như: vụ án Lê Văn Luyện cướp tiệm vàng Bích Ngọc ở Bắc Giang giết hại vợ chồng chủ tiệm, đứa con 18 tháng tuổi và đứa lớn 8 tuổi bị chém đứt tay. Hay vụ án Nguyễn Hải Dương giết gia đình sáu người vì trả thù tình và cướp tài sản. Và còn biết bao điều đáng sợ vì tiền mà con người có thể làm. Đó là những vụ án nghiêm trọng hàng đầu gây rối loạn an ninh và gây xôn xao dư luận trong suốt một thời gian dài.

    Mặt khác hạnh phúc là nhân tố để thúc đẩy ta nỗ lực làm ra nhiều tiền bạc. Bởi có hạnh phúc tinh thần thoải mái sẽ khiến ta thêm hưng phấn trong công việc, nảy sinh ra nhiều ý tưởng dự án mới để có cơ hội kiếm tiền. Hạnh phúc khiến ta đam mê với sự nghiệp mà mình theo đuổi để ta cố gắng không ngừng vì nó. Hạnh phúc cho ta động lực để vượt qua khó khăn tiến tới những điều tốt đẹp hơn.

    Tiền bạc và hạnh phúc đều rất quan trọng đối với nhau, tuy nhiên nó không phụ thuộc hoàn toàn vào nhau. Đối với những con người coi trọng thế giới tinh thần thì họ không cần quá nhiều tiền bạc, chỉ cần được theo đuổi công việc mình yêu thích, sống cuộc sống như mong muốn vậy là hạnh phúc. Trong công việc nếu chỉ làm vì tiền thì sẽ mất đi sự hứng thú, nhanh rơi vào tình trạng chán nản, tuyệt vọng. Chính vì vậy để cân bằng được mối quan hệ giữa tiền bạc và hạnh phúc không phải là điều đơn giản và không phải ai cũng có thể làm được. Để vừa có tiền vừa có hạnh phúc bắt buộc ta phải có cái nhìn thấu đáo đánh giá đúng vai trò của chúng trong cuộc sống và phải luôn luôn làm chủ bản thân trong vòng xoáy ma lực đồng tiền.

    Quan niệm về tiền bạc và hạnh phúc trong xã hội ngày nay có nhiều thay đổi, có lẽ suy nghĩ “Một túp lều tranh hai trái tim vàng” không còn phù hợp. Hãy có cái nhìn thực tế hơn về hạnh phúc, cũng đừng quá coi trọng tiền bạc bởi lòng tham là con quỷ dữ trong mỗi chúng ta cần điều chỉnh nó theo hướng tích cực. Tiền không phải là tất cả, có tiền nhưng không thể mua được hạnh phúc đúng nghĩa.

    Tiền bạc và hạnh phúc hai phạm trù quan trọng, bao trùm lên đời sống con người. Tuy mỗi người có một quan niệm, suy nghĩ, cách nhìn nhận về chúng khác nhau nhưng đừng để cuộc sống mất đi giá trị vì tiền bạc và hãy để cho hạnh phúc được thiết thực trong đời sống.

  • 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Cuộc đấu tranh giữa thiện và ác trong truyện Tấm Cám

    [toc]

    Đề bài: Nghị luận xã hội về căn bệnh vô cảm

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vào vấn đề cần nghị luận: Trong cuộc sống hiện nay tồn tại nhiều căn bệnh nguy hiểm mà cách chữa chỉ có một, đó chính là sự thay đổi suy nghĩ từ chính bản thân mỗi người.

    – Nêu vấn đề cần nghị luận đặt ra ở đề bài: Bệnh vô cảm chính là một trong những căn bệnh nguy hiểm đang ngày càng phổ biến trong xã hội hiện nay.

    II. Thân bài
    1. Giải thích khái niệm đưa ra trong đề bài:

    + “Vô cảm”: “Vô” (tức “không”), “cảm” (tình cảm, cảm xúc), “vô cảm” có thể hiểu là không có tình cảm, cảm xúc ⇒ căn bệnh này có thê hiểu là sự thờ ơ, không quan tâm đến những sự vật, sự việc xung quanh mình.

    2. Trình bày thực trạng, biểu hiện của căn bệnh vô cảm trong cuộc sống: ngày càng phổ biến, lan rộng trong xã hội (kết hợp lồng các dẫn chứng trong quá trình phân tích):

    + Thờ ơ, vô cảm với những hiện tượng trái đạo lí, những hiện tượng tiêu cực trong xã hội: Hiện tượng livestream trên mạng xã hội (hiện tượng học sinh cấp 2 tại Hải Dương), bắt gặp hiện tượng trộm cắp thì im lặng, học sinh thấy các hiện tượng tiêu cực như coi cóp, bạo lực học đường thì coi như không biết …

    + Thờ ơ, vô cảm với những nỗi buồn, nỗi đau của chính những người đồng bào: Gặp người tai nạn bị tai nạn giao thông xúm vào bàn bạc, quay phim, chụp ảnh. Bỏ qua những lời kêu gọi giúp đỡ của đồng bào miền Trung bão lũ,…

    + Thờ ơ, vô cảm với những vẻ đẹp của thiên nhiên, đất nước: Thờ ơ với những cảnh đẹp quê hương, thiếu ý thức giữ gìn vệ sinh tại các điểm du lịch…

    + Thờ ơ, vô cảm với chính cuộc sống của bản thân mình: Hiện tượng học sinh đi học muộn, không chú ý học tập. Hiện tượng sinh viên thức rất khuya sử dụng smartphone, thể hiện sự thờ cơ với chính sức khỏe của bản thân…

    3. Phân tích nguyên nhân:

    + Sự phát triển nhanh chóng của cuộc sống khiến con người phải sống nhanh hơn, không còn thời gian để ý tới những gì xung quanh

    + Sự bùng nổ mạnh mẽ của những thiết bị thông minh dẫn đến sự ra đời của các trang mạng xã hội ⇒ con người ngày càng ít giao tiếp trong đời thực

    + Sự chiều chuộng, chăm sóc, bao bọc quá kĩ lưỡng cha mẹ đối với con cái ⇒ coi mình là trung tâm, không để ý đến điều gì khác nữa

    + Sự ích kỉ của chính bản thân mỗi người

    4. Bình luận về tác hại của hiện tượng:

    + Hậu quả vô cùng to lớn: con người mất đi những chỗ dựa mỗi lúc khó khăn, xã hội tràn đầy những điều xấu, điều ác

    + Xa hơn, con người đánh mất đi những giá trị người tốt đẹp của dân tộc, ảnh hưởng, làm lệch lạc những suy nghĩ của thế hệ tương lai.

    5. Đề xuất các giải pháp phù hợp:

    + Lên án, phê phấn những hành vi tiêu cực, thờ ơ vô cảm đối với đời sống xung quanh

    + Hạn chế phụ thuộc vào các thiết bị thông minh, thế giới ảo…

    + Rèn luyện lối sống lành mạnh: Yêu thương, quan tâm, giúp đỡ mọi người…

    + Tăng cường thực hành, trải nghiệm thực tiễn trong các môn học: Đạo đức, giáo dục công dân để học sinh học cách yêu thương, chia sẻ

    6. Liên hệ bản thân:

    Cần lưu ý liên hệ những hành vi, biểu hiện của căn bệnh vô cảm trong chính môi trường học đường để hiểu và tránh

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại về hiện tượng đời sống đã bàn luận: Vô cảm là căn bệnh nguy hiểm, để lại hậu quả nghiêm trọng mà mỗi người cần tránh

    – Lời nhắn gửi đến tất cả mọi người: Mọi người cần chung tay đẩy lùi căn bệnh này.

    Bài văn mẫu 1

    Ngày nay con người phải đối mặt với rất nhiều loại bệnh tật khác nhau, những căn bệnh về thể xác, nhưng nguy hiểm hơn đó là những căn bệnh về tâm hồn. Những căn bệnh ấy ngấm ngầm phá hủy tinh thần, nhân tính trong mỗi chúng ta mà ta không hề hay biết. Đến một ngày chợt nhận ra thì mọi thứ đã trở nên quá muộn màng. Và một trong những căn bệnh nguy hiểm đó chính là căn bện vô cảm.

    Vô cảm là gì? Nếu triết tự “vô” tức là không, “cảm” là thế giới tình cảm, cảm xúc của con người. Vô cảm là căn bệnh con người không có tình cảm, cảm xúc trước những sự việc diễn ra trong cuộc sống. Họ sống cuộc đời thờ ơ, ích kỉ, làm ngơ trước cái xấu, để cho cái ác hoành hành. Đó là những con người không có trái tim.

    Căn bệnh này tồn tại dưới rất nhiều dạng khác nhau. Trước hết nó là sự thờ ơ trước những đau thương, mất mát của những người xung quanh. Niềm vui cũng không khiến họ cười, không làm trái tim họ hạnh phúc; mất mát khổ đau không làm họ nhỏ một giọt nước mắt tiếc thương. Mọi việc trước mắt họ đều trở nên “bình thường”. Trong thời gian gần đây, ta đã đọc rất nhiều bài báo phản ánh về tình trạng móc túi trên xe buýt, nhưng không một ai lên tiếng. Họ sợ hãi sẽ mang vạ vào mình, họ sợ bị trả thù, bởi vậy họ mặc kệ người bị hại.

    Họ không quan tâm đến những vấn đề lớn hay nhỏ của xã hội, của những người xung quanh. Những trận lũ lụt lớn xảy ra, khiến biết bao người lâm vào cảnh màn trời chiếu đất, những có một bộ phận chẳng hề mảy may quan tâm đến những cuộc vận động lớn nhỏ để giúp đỡ những gia đình gặp nạn. Họ thờ ơ, họ không chú ý hay để tâm đến. Họ luôn chỉ nghĩ cho mình, vì mình, họ sợ hãi khi phải hi sinh cho người khác, họ né tránh sự giúp đỡ. Đối với họ sống trong cái vỏ ốc họ gia công bao giờ cũng mang đến hạnh phúc hơn hết cả. Họ mặc kệ cuộc sống xung quanh diễn ra như thế nào, trước một phong cảnh đẹp, trước một bông hoa thơm họ không mảy may rung động hay thích thú, dường như trái tim họ đã chết. Và họ thờ ơ với cả tương lai chính mình, để mặc cuộc đời xô đẩy, không nỗ lực, không phấn đấu, không có chí tiến thủ. Đây quả là một căn bệnh ô cùng nguy hiểm, ngày càng lan rộng với tốc độ chóng mặt

    Căn bệnh này gây ra những hậu quả vô cùng xã hội. Hãy thử tưởng tượng một xã hội là tập hợp những con người vô cảm thì cuộc sống này sẽ ra sao và sẽ đi về đâu. Vô cảm cũng giúp cho cái ác, cái xấu hoành hành, lên ngôi, bởi họ đâu quan tâm đến những người xung quanh, nên dù tên trộm kia có móc túi, người kia có bị bạo hành đó cũng không phải là việc của họ. Vô cảm khiến cho tâm hồn chai sạn, tha hóa về nhân cách và đạo đức.

    Tình trạng vô cảm trong xã hội hiện đại ngày càng lan rộng và thực sự ở mức báo động đỏ. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến tình trạng vô cảm lây lan mạnh mẽ đến vậy. Trước hết, do cuộc sống khoa học hiện đại, khiến con người luôn khép mình trong những gian phòng kín, họ tiếp xúc, trò chuyện với nhau qua màn hình máy tính, qua thế giới ảo. Sự tương tác thực tế ngày càng ít đí, khiến cho tâm hồn con người ngày trở nên chai sạn. Do bố mẹ quay cuồng trong guồng quay kiếm tiền, không quan tâm đến con cái. Họ tưởng rằng có thể dùng tiền đó làm cho con hạnh phúc, nhưng nào biết rằng chính nó lại là nguồi cội của sự bất hạnh, khiến đứa trẻ trở nê vô cảm. Nhưng quan trọng nhất, dẫn đến sự vô cảm của thế hệ trẻ chính là lối sống vị kỉ, chỉ quan tâm đến lợi ích bản thân. Họ sống thiếu tình thương, trách nhiệm thiếu sự quan tâm lẫn nhau. Chính những nguyên nhân trên đã khiến căn bệnh vô cảm có cơ hội bùng phát mạnh mẽ hơn bao giờ hết.

    Căn bệnh này lây lan với tốc độ nhanh chóng, nhưng nếu có những hành động kịp thời ta vẫn có thể ngăn chặn căn bệnh này bùng phát thành đại dịch. Để ngăn chặn bệnh vô cảm mỗi người hãy bước ra khỏi thế giới ảo, bước ra khỏi bốn bức tường để cảm nhận cuộc sống quanh, để thấy cuộc đời chân thật muôn màu, muôn vẻ ngay trước mắt. Hãy dũng cảm, mạnh mẽ trước cái ác, cái xấu, dám lên án phê phán sự thờ ơ. Sống bằng trái tim yêu chân thành, nhiệt huyết, luôn quan tâm và giúp đỡ những người xung quanh. Sống là cho đi đâu chỉ nhận lại riêng mình. Thay vì ngồi trước màn hình máy tính hãy trau dồi, làm đẹp tâm hồn bằng những cuốn sách giàu giá trị nhân văn, giúp chúng ta hướng đến cái đích chân thiện mĩ.

    Bên cạnh một bộ phận có lối sống thờ ơ, vô cảm thì vẫn có những con người sống tràn đầy nhiệt huyết và sẵn sàng xả thân vì những người xung quanh. Có lẽ ta vẫn chưa quên những hiệp sĩ Sài Gòn đã hi sinh thân mình để bảo vệ người bị hại. Hay một bạn học sinh ở Nghệ An đã sẵn sàng lao xuống dòng nước lũ để cứu những người khác mà cuối cùng cậu đã anh dũng hi sinh. Những tấm gương ấy sẽ mãi mãi được mọi người ghi nhớ. Nó cũng là nguồn động lực tiếp cho ta thêm sức mạnh, niềm tin vào lối sống yêu thương, quan tâm giúp đỡ người khác. Hình ảnh của họ, tình yêu thương, sự hi sinh họ dành cho những người xung quanh sẽ lan tỏa lối sống yêu thương tình nghĩa đến toàn thể xã hội, đẩy lùi căn bệnh vô cảm.

    Căn bệnh vô cảm là căn bệnh phổ biến trong xã hội hiện đại, với tốc độ lây lan nhanh và vô cùng nguy hiểm. Nhưng nó vẫn có thể khống chế và xóa bỏ khi tôi, bạn, tất cả chúng ta chung tay, sống một cuộc sống khác, cuộc sống của tình yêu thương, quan tâm và giúp đỡ lẫn nhau.

    Bài văn mẫu 2

    Nếu như ngày nay HIV/AIDS đã được các nhà khoa học tìm ra xu hướng điều trị mới nhằm hướng tới mục tiêu cuối cùng quét sạch toàn bộ HIV ra khỏi danh sách những căn bệnh không có thuốc chữa thì vô cảm_căn bệnh tinh thần của con người vẫn chưa tìm ra vắc xin. Bệnh vô cảm là một thái độ sống chưa tốt, có nhiều biểu hiện tiêu cực đáng báo động trong xã hội. Điều đó khiến cho mỗi con người cần phải suy ngẫm, trăn trở với mong muốn tìm ra giải pháp trị liệu hiệu quả.

    Vậy bệnh vô cảm là căn bệnh như thế nào? Vô là không, cảm là cảm xúc. Vô cảm chính là không có cảm xúc. Nó đã trở thành “bệnh” nhiễm sâu vào trong suy nghĩ và hành động của mỗi người. Bệnh vô cảm là thái độ sống thờ ơ, dửng dưng, không quan tâm đến con người và sự vật, sự việc diễn ra xung quanh trong cuộc sống. Căn bệnh vô cảm khiến cho con người ta sống một “trái tim không có tình người”. Mà như Nam Cao đã nói “không có tình thương, con người chỉ là một con vật bị sai khiến bởi lòng ích kỉ” (Đời thừa).

    Chắc hẳn ngay từ khi còn thơ bé chúng ta đã được đọc truyện cổ tích. Nếu ai đã từng đọc “Cô bé bán diêm”ắ t hẳn sẽ không thể quên được cái đêm hôm ấy- đêm Giáng sinh “Trời lạnh mọi người quây quần bên chiếc lò sưởi để đón Giáng sinh…. Trên khắp phố phường một số người hối hả trở về nhà dường như không có ai để ý đến cô bé”. Mặc dù đôi mắt ngây thơ ấy nửa van xin nửa ngại ngùng, chẳng hiểu sao cô vẫn bán như mọi ngày nhưng hôm nay tuyệt nhiên không một ai hỏi đến phải chăng vì họ vô tâm hay họ quá vội vã? Chính thái độ thờ ơ đó đã để em chết vì cái đói, cái giá lạnh trong đêm Giáng sinh hạnh phúc của bao người. Cái chết ám ảnh của cô bé đã khiến cho người đọc xót xa mà day dứt sao đêm ấy mọi người lại bỏ mặc em đến vậy. Tác giả ắt hẳn rất đau lòng khi đã để em chết trong hiện thực nghiệt ngã, đau lòng khi thấy giá trị đạo đức đang đi xuống nhưng cũng là để nhắn nhủ với bạn đọc hãy biết sống có tình người, yêu thương lẫn nhau.

    Bước ra từ trang sách những con người vô cảm trong đêm Giáng sinh vẫn hiện hữu ở khắp mọi nơi trong cuộc sống. Bệnh vô cảm có ở trong mọi lứa tuổi, nghề nghiệp căn bệnh ấy đã “lây nhiễm” trong toàn xã hội. Ngay một số quan chức cấp cao_ những người mà theo Hồ Chí Minh nhận định: “Mỗi người Đảng viên, mỗi người cán bộ từ trên xuống dưới đều phải hiểu rằng mình vào Đảng là để làm đầy tớ cho nhân dân… làm đầy tớ cho nhân dân chứ không phải làm quan nhân dân… và phải làm cho tốt”. Những con người ấy phải phục vụ cho lợi ích của quần chúng nhưng một số chính quyền địa phương lại có thái độ dửng dưng, không quan tâm. Vụ án gần đây của Đặng Văn Hiến (Đăk Nông) vụ việc tranh chấp đất đai giữa dân làng và người của công ty Long Sơn. Trong tình thế nguy kịch giữa một bên là đất đai bị cướp, vợ con bị đe dọa và thái độ hung hăng của chúng đã buộc Hiến phải nổ súng. Tiếng súng ấy không phải của một tội phạm khát máu. Tiếng súng thức tỉnh lương tri. Tiếng súng gióng lên hồi chuông cảnh báo về sự vô cảm của chính quyền địa phương. Nếu có sự can thiệp của cơ quan chức năng thì có lẽ người dân lương thiện không phải dùng đến bạo lực để giải quyết để bây giờ phải lãnh án giết người.

    Ngay cả trong môi trường giáo dục_nơi ươm mầm tri thức cho đất nước nhưng căn bệnh vô cảm vẫn có mặt. Bạo lực học đường là vấn đề nổi trội lên hiện nay. Các em học sinh thấy bạn bè đánh nhau không can ngăn mà cổ súy, dửng dưng quay clip cho lên mạng xã hội. Thầy cô giáo thấy hành vi sai trái của học sinh thì lờ đi như không biết. Con người ta thật bình tâm trước cái xấu.

    Bệnh vô cảm biểu hiện ngay trong những hành động ta vô tình bắt gặp ngoài đường. Là thấy kẻ gian móc túi mà không dám lên tiếng, là thấy những số phận bất hạnh nghèo khổ ta thờ ơ ngang qua. Là những vụ tai nạn giao thông nạn nhân đang giành giật giữa sự sống và cái chết ngay trước mặt nhưng họ vẫn làm ngơ, họ bàn tán, xì xào mà sao không một ai gọi cấp cứu.

    Vô cảm không chỉ đối với mọi người mà còn đối với chính bản thân, người thân yêu nhất của mình. Hội thánh đức chúa trời đang hoạt động mạnh mẽ ở nước ta. Đây là một tà đạo hủy hoại nếp sống văn minh của con người. Những hội viên “ngây thơ” đa phần là sinh viên chính vì thờ ơ, không quan tâm theo dõi tin tức nên để mình bị lôi kéo, dụ dỗ gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng.

    Biểu hiện của bệnh vô cảm vô cùng đa dạng, đối tượng phong phú, nó lây nhiễm như một dịch bệnh có ở mọi ngóc ngách trong cuộc sống. Vậy nguyên nhân nào khiến cho căn bệnh ấy ngày càng trầm trọng? Cuộc sống ngày càng phát triển con người càng phải guồng quay hối hả chạy theo vật chất mà quên mất rằng thế giới tinh thần rất quan trọng. Vô cảm xuất phát từ tâm lí đám đông họ sợ gặp rắc rối, sợ “mua dây buộc mình”. Vô cảm bởi lối sống ích kỉ chưa được giáo dục đúng đắn…

    Chính căn bệnh ấy đã gây ra hậu quả nghiêm trọng, nó làm cho con người từ “nhân chi sơ tính bản thiện” trở thành người vô tâm, vô tình. Vô cảm làm mất đi truyền thống tốt đẹp của dân tộc với tinh thần tương thân, tương ái “lá lành đùm lá rách”. Nó làm cho văn hóa “tắt lửa tối đèn có nhau” dần mất đi trong cuộc sống nhộn nhịp nơi phố phường, khiến con người sống chạm mặt mà cách lòng…

    Tuy nhiên không phải ai cũng mắc phải căn bệnh ấy, trong xã hội còn rất nhiều người tốt dám hi sinh xả thân cứu người, nhiều hành động đẹp để ta học tập. Để đẩy lùi được căn bệnh ấy cần phải xây dựng được một lối sống văn minh, một xã hội đồng cảm, sẻ chia. Cần khơi dậy lòng nhân ái và dung khí trong mỗi con người. Cần xây dựng nền tảng đạo đức tốt đẹp, gìn giữ truyền thống nhân đạo của dân tộc.

    Là một người trẻ em nhận thức được sự nguy hiểm của bệnh vô cảm. Đây là một căn bệnh cần được điều trị kịp thời. Mỗi người chúng ta hãy cùng nhau chung tay đẩy lùi “dịch bệnh” để cuộc sống này biết yêu thương, vui buồn trước nỗi đau của mỗi con người, để xã hội này là xã hội của tình thương yêu. Một nhà văn Nga đã từng nói: “Nơi lạnh nhất không phải là Bắc cực mà là nơi không có tình thương” chính là vậy.