Author: Kỳ Duyên

  • 3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Người trong bao của Sê-khốp

    3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Người trong bao của Sê-khốp

    3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Người trong bao của Sê-khốp

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Người trong bao (Sê-khốp)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích truyện ngắn “Người trong bao” của Sê-khốp

    Bài văn mẫu 1

    A.P.Sê-khốp là nhà văn kiệt xuất, đại biểu cuối cùng về văn học hiện thực Nga nửa cuối thế kỉ XIX, nhà cách tân thiên tài về truyện ngắn và kịch nói đã để lại hơn 500 truyện ngắn và truyện vừa trong đó tác phẩm “Người trong bao” câu chuyện cười ra nước mắt về cuộc đời một con người mắc chứng bệnh sợ hãi không chỉ để phản ánh thực trạng xã hội mà còn ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

    Nhan đề “Người trong bao” đã mang một dụng ý nghệ thuật đặc sắc. Cái bao theo nghĩa gốc là vật dùng để bọc, gói và đựng đồ vật có thể là hình túi hay hình hộp. Theo lớp nghĩa chuyển là để chỉ lối sống và tính cách của những con người luôn khép kín, luôn bao bọc, bảo vệ mình bằng một lớp vỏ như nhân vật Bê-li-cốp. Mặt khác theo lớp nghĩa biểu trưng để chỉ kiểu người bị vây hãm, tù túng. Xã hội là một cái bao khổng lồ, trói buộc, bủa vây con người không có tự do, không có lối thoát. Đó là hiện thực xã hội Nga cuối thế kỉ XIX được nhà văn tái hiện lại qua hình tượng nhân vật Bê-li-cốp_hắn chính là con người luôn khao khát mình và mọi đồ vật của bản thân được chui rúc trong cái bao chật hẹp đến ngạt thở.

    Tác phẩm được sáng tác năm 1898 khi Sê-khốp đang trong thời gian dưỡng bệnh, xã hội Nga lúc ấy đang ngạt thở trong bầu không khí chuyên chế nặng nề, cuộc sống con người bị bó hẹp. Câu chuyện được kể theo ngôi thứ ba từ lời của nhân vật Bu-rơ-kin là đồng nghiệp Bê-li-cốp, dạy cùng trường, sống cùng nhà với hai phòng đối diện nhau. Người giáo viên kể lại cho bác sĩ I-van I-va- nứt nghe về con người của Bê-li-cốp từ ngoại hình đến suy nghĩ, tính cách, hành động. Nhân vật hiện lên chủ yếu qua lời của người kể chuyện, người nghe và phần lời tác giả rất ít nên câu chuyện được khách quan, mang tính chân thực, gần gũi.

    Bê-li-cốp hiện lên qua lời kể và giọng kể mỉa mai của đồng nghiệp là một kẻ rất khác thường, giống như một bức tranh biếm họa giữa cuộc đời. Hắn là kẻ sống trong bao nhưng một câu hỏi đặt ra là hắn bị người ta nhét vào bao hay tự mình chui vào? Có lẽ là cả hai, nguyên nhân sâu xa là ngoại cảnh tác động, xô đẩy con người vào lối sống ấy. Nguyên nhân trực tiếp là do con người không thực sự có ý thức hay chính là nhận thức sai vấn đề nên để cuộc sống bên ngoài ảnh hưởng. Nghe chừng có vẻ phi lí vì Bê-li-cốp luôn che đậy mình bằng vỏ bọc kín đáo. Hắn nổi tiếng khi mùa nào cũng vậy, quanh năm suốt tháng chỉ có áo bành tô ấm cốt bông, đôi giày cao su và cầm theo cái ô. Tất cả mọi vật dụng của hắn đều được đựng trong bao từ đồng hồ quả quýt, con dao gọt bút chì, cả bộ mặt bị dấu đi sau cổ áo bành tô, đeo kính râm, bông nhét lỗ tai, đi xe ngựa phải cho mui lên, luôn giấu đi suy nghĩ bản thân hay trong căn phòng chật hẹp như một cái hộp tù túng đến ngạt thở và còn biết bao nhiêu điều nữa. Tóm lại cả cuộc đời hắn dường như chỉ có một “khao khát mãnh liệt thu mình vào trong một cái vỏ, tạo ra cho mình một thứ bao có thể ngăn cách, bảo vệ hắn khỏi những ảnh hưởng bên ngoài”. Hắn luôn sống trong nỗi sợ hãi, lo âu lúc nào cũng nơm nớp lo sợ “nhỡ ra có chuyện gì”, đi ngủ trùm chăn kín mít nhưng “vẫn thấy rợn rợn, sợ kẻ trộm chui vào nhà”.

    Chỉ với vài chi tiết đặc tả ngoại hình và tính cách nhân vật ta có thể thấy được hiện thực xã hội Nga lúc bấy giờ vô cùng rối ren, con người luôn sống trong nỗi sợ hãi dù là điều nhỏ nhặt nhất. Nỗi sợ của ông thầy giáo có thể cho ta thấy bộ mặt thật sự của tầng lớp trí thức Nga lúc bấy giờ rất hèn nhát, bạc nhược không dám đối diện trực tiếp với thế giới bên ngoài. Những con người ấy lúc nào cũng chỉ biết và chỉ thích làm theo thông tư, chỉ thị những thứ mang tính bắt buộc cứng nhắc, ở một mặt nào đó cho thấy điều ấy là chấp hành, mẫu mực nhưng xét trong bối cảnh hiện tại thì lại là sự bảo thủ, ích kỉ. Con người ấy mù quáng tôn thờ chính quyền, sợ hãi quyền lực, quyền uy nên tất cả những hành động của hắn như là để bào chữa cho thái độ nhút nhát, ghê tởm với hiện tại.

    Cái chết của hắn do tiếng cười haha của cô-va-ren-ca khi hắn bị em trai cô đẩy xuống ngã cầu thang đã chấm dứt tất cả. Chấm dứt chuyện cưới xin, chấm dứt cuộc đời hắn. Tiếng cười ấy như là sự châm biếm, mỉa mai đả kích tột cùng hành động “sờ lên mũi xem cặp kính có còn vẹn nguyên không”, với con người ấy sĩ diện cao hơn cả sự nguy hiểm của tính mạng. Từ sự kiện đó hắn có thể tưởng tượng ra biết bao câu chuyện phía sau: nào là hắn sẽ biến thành trò cười cho thiên hạ, cả thành phố biết chuyện, rồi đến tai hiệu trưởng, thanh tra dẫn đến chuyện người ta ép hắn về hưu non…một tháng sau hắn chết. Như vậy là khao khát, ước nguyện được bọc bởi cái bao kín, vững chắc, bền bỉ không còn gì tốt hơn chiếc quan tài. Cái chết ấy đến thật bất ngờ đối với những người trong thành phố, mọi người đều cảm thấy nhẹ nhõm và thoải mái, mừng thầm vì không phải sợ hắn. Nhưng cuộc sống ngay sau đó lại diễn ra như cũ vẫn nặng nề ngột ngạt. Chi tiết ấy khiến ta nhớ tới cái lò gạch cũ hiện ra cuối tác phẩm “Chí Phèo” của Nam Cao phản ánh hiện thực xã hội nếu không thay đổi thì không biết còn có nhiêu người như Bê-li-cốp trong tương lai. Qua hình tượng nhân vật điển hình Bê-li-cốp nhà văn đã trực tiếp lên án tố cáo xã hội hiện thực phong kiến Nga cuối thế kỉ XIX mục ruỗng, thối nát với những tư tưởng bảo thủ, lạc hậu kém tiến bộ chính điều đó đã đẩy cuộc sống con người vào sự bế tắc, tăm tối, mịt mờ. Đồng thời cũng cho ta thấy thái độ khinh bỉ, coi thường những kẻ có lối sống thấp hèn, vị kỉ cá nhân. Kết thúc truyện bằng ấn tượng mạnh mẽ về câu nói “Không thể sống như thế này mãi được” thể hiện sự day dứt muốn bứt phá, muốn thay đổi xã hội, canh tân đất nước, giải phóng con người ra khỏi những ràng buộc vô hình hay muốn bầu xóa tan bầu không khí ngột ngạt để cho dân tộc Nga phát triển tiến bộ hơn.

    Về đặc sắc nghệ thuật trong tác phẩm được thể hiện qua cách chọn ngôi kể thứ nhất và ngôi kể thứ ba đan xen nhau tạo nên cấu trúc kể chuyện lồng trong truyện, giọng kể mỉa mai, châm biếm mà điềm tĩnh, thâm trầm ẩn giấu đằng sau đó là cảm xúc buồn đau, bức xúc, trăn trở của tác giả khi chứng kiến hiện thực xã hội. Nghệ thuật đối trong tính cách và lối sống giữa Bê-li-cốp và chị em Va-ren-ca, các đồng nghiệp giáo viên trường trung học, những người trong thành phố. Đặc biệt nhất là nghệ thuật xây dựng hình tượng về “cái bao”, lời nói “sợ nhỡ lại xảy ra chuyện gì” và câu nói kết luận của I-va-nứt ở cuối truyện.

    Dù Bê-li-cốp đã khuất bóng trong trang văn nhưng ở đâu đó trong xã hội này vẫn còn có biết bao Bê-li-cốp thời hiện đại bằng xương bằng thịt tồn tại hằng ngày, những con người ấy luôn mang trong mình thái độ sống vô cảm, thờ ơ không quan tâm đến người khác chỉ biết lợi ích cá nhân. Lối sống ấy cần được xóa bỏ đừng để những trái tim yêu thương bỗng trở nên lạnh tanh, hóa đá. Tác phẩm “Người trong bao” của Sê-khốp có ý nghĩa phổ quát và sâu sắc với xã hội đương thời, không những thế kiểu người sống trong bao còn có ý nghĩa lâu dài đối với vọi thời đại, mọi quốc gia trên thế giới. Tác phẩm đáng cho ta suy ngẫm về bài học làm người đúng nghĩa trong cuộc sống hữu hạn này.

    Bài văn mẫu 2

    Sê-khốp cây bút hiện thực xuất sắc của Nga cuối thế kỉ XIX. Ông sáng tác trên nhiều thể loại, nhưng thành công nhất là ở mảng truyện ngắn. Với nội dung hàm súc, giản dị đã vạch trần, lên án xã hội, tầng lớp cầm quyền đương thời, đồng thời phê phán sự sa đọa về một tinh thần của một bộ phận trí thức ở Nga lúc bấy giờ. Người trong bao là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của ông mang tinh thần phê phán sâu sắc.

    Người trong bao được sáng tác khi Sê-khốp đang được điều trị bệnh tại thành phố Ianta, lúc này chế độ chuyên chế ở Nga đi vào giai đoạn khủng hoảng trầm trọng. Các tầng lớp trong xã hội đều bộc lộ những ung nhọt, thối nát, và ngòi bút của ông trong tác phẩm này hướng đến lối sống “trong bao” của họ.

    Nổi bật nhất trong đoạn trích này là nhân vật Bê-li-cốp. Hắn ta quả là một cái bao khổng lồ của xã hội bấy giờ. Mọi đồ dùng của hắn đều được cất giấu trong bao một cách cẩn trọng, kĩ lưỡng: cái ô, dao gọt bút chì, đồng hồ quả quýt. Không chỉ đồ dùng mà cả con người Bê-li-cốp cũng được gói gém trong những chiếc bao. Trang phục của ông ta là đôi giày cao su, cầm ô, và mặc áo bành tô trần bông, cổ cao luôn được dựng đứng để khuôn mặt được giấu kín, khiến không ai có thể nhìn thấy, nực cười hơn là tai ông ta cũng luôn được nhét bông, như sợ trúng gió. Đi xe ngựa hắn cũng phải che mui cho kín. Trong căn phòng ngủ, nơi hết sức riêng tư, nhưng hắn dường như vẫn sợ người ta nhòm ngó nên cửa lúc nào cũng được đóng kín, khi ngủ đắp chăn kín đầu bất kể thời tiết hôm đó ra sao. Bê-li-cốp luôn cố gắng thu mình vào vỏ ốc hết sức có thể, tạo một chiếc bao tự ngăn cách bản thân với thế giới bên ngoài. Bê-li-cốp quả là một kẻ lập dị, khác người.

    Không chỉ ở hành động, mà tính cách của Bê-li-cốp cũng hết sức khác thường. Hắn là người nhút nhát, lo âu, sợ hãi, ghê tởm hiện tại, trong đầu hắn luôn hiển hiện câu nói: “Nhỡ lại xảy ra chuyện gì”. Bởi vì ghê tởm hiện tại, sợ hãi tương nên Bê-li-cốp chọn dạy tiếng Hi Lạp cổ, một thứ tiếng lỗi thời mà ít người muốn học. Mọi ý nghĩ của hắn cũng đều giấu trong bao, luôn tuân thủ theo thông tư, chỉ định của cấp trên, coi đó như là một thiên lệnh, không dám chống lại, không dám làm khác. Bê-li-cốp là con người thảm hại, yếu đuối, hắn ta là đại diện điển hình cho lối sống của một bộ phận không nhỏ ở Nga lúc bấy giờ, đó là sản phẩm của chế độ nông nô chuyên chế đương thời, đẩy mỗi người vào một cái bao do mình tự tạo ra.

    Trong mối quan hệ với mọi người, Bê-li-cốp cũng tỏ ra mình là người cực kì dị thường. Cái cách mà hắn tạo nên mối quan hệ thân mật, gần gũi với người khác cũng khiến người ta vô cùng bực mình. Hắn đi hết nhà này đến nhà khác, kéo ghế ngồi và chẳng nói điều gì, hắn chỉ đưa con mắt vô hồn của mình nhìn mọi vật xung quanh trong khoảng một giờ rồi ra về. Hắn tưởng đó là cách duy trì quan hệ với mọi người nhưng thực chất đều khiến đồng nghiệp sợ hãi, xa lánh. Hắn sợ tất cả, sợ lối sống thiếu lạnh mành, sợ cả những hành vi tích cực: đọc sách, giúp đỡ người nghèo,… Nỗi sợ hãi của hắn dị thường như chính tính cách của hắn.

    Những tưởng cuộc đời Bê-li-cốp sẽ được rẽ sang một trang mới, bước ra khỏi chiếc bao khổng lồ của mình khi gặp gỡ Va-ren-ca. Tình yêu nảy nở trong tim một kẻ dường như không biết đến tình yêu là gì. Hắn trân trọng đặt bức ảnh của Va-ren-ca lên bàn, ý nghĩa lấy vợ choán ngợp trong đầu hắn. Nhưng bức tranh biếm họa về hắn và Ve-ren-ca xuất hiện, nó được gửi đến tất cả các giáo viên trong trường, điều đó làm Bê-li-cốp giận tím người, “một ấn tượng nặng nề cho hắn”. Và điều làm cho y sốc nhất chính là hình ảnh hai chị em Va-ren-ca cưỡi xe đạp, cười nói ồn ào: “Trời hôm nay đẹp thật, đẹp tuyệt, đẹp gớm”, trước cảnh tượng đó Bê-li-cốp “ngẩn người ra” “mặt mày đang từ xanh mét chuyển sang trắng bệnh” và hắn nghĩ: “Chẳng lẽ giáo viên và đàn bà, con gái lại có thể cưỡi xe đạp, làm như thế coi sao tiện”. Điều mà mọi người coi là hết sức bình thường, là hành động tán dương cuộc sống thì hắn lại cho “coi sao tiện”, một điều bất bình thường. Bởi những hành động đó đã vượt ra khỏi cái bao chật hẹp, đầy kín những luật lệ của hắn. Suốt ngày hôm sau hắn sống trong dằn vặt, đau khổ, toàn thân run lên, giận đến tím người. Và hắn đã đến gặp Cô-va-len-cô với thiện chí để giãi bày nỗi buồn bực về bức tranh một người si tình mà một kẻ nào đó đã vẽ để chế nhạo hắn. Không chỉ vậy hắn còn đến để nhắc nhở, khuyên Cô-va-len-cô không nên đi xe đạp, không nên mặc áo thêu ra đường,… Điều đó làm Cô-va-len-cô một người bình thường, ưa tự do cảm thấy khó chịu: “Nhưng mà ông muốn cái gì mới được” và yêu cầu Bê-li-cốp không được thò mũi vào chuyện của gia đình anh. Kết thúc cuộc đấu khẩu là màn ẩu đả, Bê-li-cốp luống cuống, hoảng hốt khi bị Cô-va-len-cô túm cổ và ấn nhào xuống cầu thang. Hắn nhận lấy kết cục thảm hại dẫn đến cái chết đầy bi hài.

    Cái chết của Bê-li-cốp trực tiếp là do tiếng cười của Va-ren-ca, tiếng cười đó đã đẩy nỗi sợ hãi của Bê-li-cốp lên đến đỉnh điểm, khi giờ đây hắn sẽ trở thành trò cười cho toàn thành phố, và có thể là nhân vật chính cho bức tranh biếm họa khác, không chị vậy hắn còn sợ các cấp chính quyền. Nỗi sợ bủa vây, khiến hắn trở về nhà, nằm đắp chăn suốt một tháng và chết. Cái chết của Bê-li-cốp là một điều tất yếu, bởi thực chất hắn đã chết từ mười lăm năm trước, hắn chỉ tồn tại chứ không hề sống. Cái chết của hắn đã hoàn thiện ước nguyện cuộc đời, được chui vào cái bao an toàn nhất, chắc chắn nhất mà không bao giờ phải chui ra nữa. Cũng bởi vậy, từ lúc đó gương mặt hắn trở nên hiền lành, dễ chịu và có phần tươi tỉnh hơn nữa.

    Cái chết của hắn ban đầu cũng có ảnh hưởng đến mọi người, cuộc sống trở nên thoải mái, vui vẻ vì được giải thoát. Nhưng chỉ một tuần sau đó mọi thứ lại trở về như cũ, không có gì thay đổi. Kết thúc truyện Sê-khốp đã để lại bài học lớn cho người đọc, cái chết của một người không thể thay đổi xã hội, mà cần phải có một cuộc cách mạng, chỉ khi ấy mọi việc mới được thay đổi triệt để nhất.

    Để tạo nên thành công cho tác phẩm không thể không nhắc đến những đóng góp về nghệ thuật. Cấu trúc truyện lồng trong truyện khiến câu chuyện trở nên chân thực, khách quan. Giọng điệu linh hoạt, khi mỉa mai châm biếm, khi điềm tĩnh trầm buồn. Nghệ thuật xây dựng nhân vật đặc sắc, với việc lựa chọn chi tiết điển hình để xây dựng nhân vật điển hình. Xây dựng biểu tượng đặc sắc, giàu ý nghĩa: cái bao – lối sống trong bao kìm hãm, đè nén và giết chết con người.

    Với nghệ thuật kể chuyện và xây dựng nhân vật đặc sắc, Sê-khốp đã xây dựng thành công hình tượng người trong bao xuất sắc nhất của văn học. Bê-li-cốp không chết bởi trong mỗi chúng ta đều có một phần, một mảnh nhỏ Bê-li-cốp đang sống. Tác phẩm lên án, phê phán kiểu người và lối sống trong bao, đồng thời thức tỉnh mọi người cần thay đổi suy nghĩ, cách sống để bước ra khỏi những cái bao đó.

    Bài văn mẫu 3

    A.P.Sê-khốp (1860 – 1904) xuất thân từ một gia đình buôn bán nhỏ bên bờ biển A-dốp, miền Nam nước Nga. Ông tốt nghiệp Đại học Y khoa, vừa làm bác sĩ nông thôn vừa viết văn, viết báo và tham gia các hoạt động giáo dục, văn hóa, xã hội. Sê-khốp đã có những đổi mới táo bạo về nghệ thuật viết truyện ngắn và kịch, ông đã để lại cho đời hơn 500 tác phẩm mà nội dung thường xoay quanh những vấn đề có ý nghĩa xã hội và ý nghĩa nhân đạo sâu sắc. Sê-khốp được trao Giải thưởng Pu-skin năm 1887 và được bầu làm Viện sĩ Viện Hàn lâm khoa học Nga năm 1890. Ông được tôn vinh là nhà văn lớn của nền văn học Nga thế kỉ XIX.

    Truyện ngắn Người trong bao sáng tác năm 1898, trong thời gian Sê-khốp an dưỡng ở thành phố l-an-ta. Xã hội Nga đương thời đang ở tình trạng bế tắc và ngạt thở bởi bầu không khí chuyên chế nặng nề. Môi trường ấy đã đẻ ra những kiểu người kì quái mà Bê-li-cốp là một nhân vật điển hình đặc sắc của nhà văn sê-khốp trong tác phẩm Người trong bao.

    Qua truyện ngắn này, Sê-khốp phô phán mạnh mẽ kiểu “người trong bao”, “lối sống trong bao” cùng tác hại của nó đối với hiện tại và tương lai nước Nga; đồng thời cảnh báo và kêu gọi mọi người cần phải thay đổi cách sống, không thể sống tầm thường, hèn nhát, ích kỉ, vô vị và hủ lậu mãi như thế.

    Truyện kể về Bê-li-cốp, một giáo viên trung học dạy tiếng Hi Lạp có có cuộc sống và tính cách dị thường. Anh ta luôn sợ hãi cho nên không bao giờ dám bộc lộ ý nghĩ của mình trước người khác. Để tạo cảm giác an toàn, Bê- li-cốp đi giày cao su, che ô, mặc áo bành tô cốt bông, đeo kính đen, kéo cổ áo lên cao giấu kín mặt. Trong cái vỏ bọc linh kỉnh đó, anh ta thấy yên tâm.

    Bê-li-cốp say mê và tôn sùng quá khứ đến mức cực đoan. Theo anh ta thì tiếng Hi Lạp cổ là một ngôn ngữ tuyệt vời hơn hết thảy, nhờ nó mà anh ta có thể trốn tránh hiện thực. Thói quen của Bê-li-cốp là đến nhà những giáo viên cùng trường, tự kéo ghế và ngồi im lặng khoảng một tiếng rồi về. Đó là cách anh ta duy trì quan hệ đồng nghiệp. Khi đi ngủ, anh ta thường đóng cửa kín mít rồi kéo chăn trùm đầu mặc dù trời rất nóng, vì sợ nhỡ có việc gì xảy ra thì sao ?

    Bê-li-cốp định ngỏ lời cầu hôn với Va-ren-ca, chị gái của một giáo viên trẻ mới về trường. Có kẻ nào đó đã vẽ bức tranh châm biếm dề dòng chữ Một kẻ si tình rồi gửi cho Bê-li-cốp. Hôm sau, anh ta ngạc nhiên khi nhìn thấy hai chị em Va-ren-ca và Cô-va-len-cô phóng xe đạp rất nhanh ngoài đường nên quyết định sẽ góp ý với họ. Cô-va-len-cô nổi nóng cự lại và đẩy Bê-li-cốp ngã lộn nhào xuống cầu thang, đúng lúc Va-ren-ca đi đâu về. Va-ren-ca nhìn thấy cảnh đó và cất tiếng cười nhạo báng.

    Trở về nhà, Bê-li-cốp vừa buồn bực vừa nhục nhã. Anh ta trùm chăn kín mít và nằm im lặng trên giường, ai hỏi gì thì chi đáp không hay có. Một tháng sau thì anh ta chết.

    Cái bao thường dược dùng để gói, đựng đồ vật, hàng hóa, có hình túi hoặc hình hộp. Sê-khốp đã biến nó thành một biểu tượng nghệ thuật giàu ý nghĩa ngụ ngôn trong tác phẩm của mình. Cái bao được tác giả nhắc đến nhiều lần và gắn chặt với nhân vật Bê-li-cốp. Nhà văn đã dùng hình ảnh cái bao để nói về lối sống, tính cách của Bê-li-cốp và hơn thế, ông đề cập đến kiểu “người trong bao”, “lối sống trong bao”, một kiểu người và lối sống phổ biến trong tầng lớp trí thức Nga cuối thế kỉ XIX. Đây là vấn đề có ý nghĩa xã hội sâu sắc của tác phẩm.

    Có thể khái quát con người và tính cách cửa Bê-li-cốp bằng những hình ảnh, từ ngữ như hèn nhát, cô độc, máy móc, giáo điều, thu mình trong “bao”, trong vỏ ốc và cảm thấy yên tâm, mãn nguyện về lối sống đó.

    Chân dung Bê-li-cốp được tác giả miêu tả và thể hiện bằng những nét vẽ thần tình. Chân dung kì quái ấy dần dần được bổ sung, tô đậm thêm, về hình thức, Bê-li-cốp “nổi tiếng” vì cách phục sức khác người: cặp kính đen to tướng che gần hết khuôn mặt nhợt nhạt, choắt như mặt chồn, chiếc áo bành tô cốt bông bẻ cổ đứng lên, lỗ tai nhét bông, chân đi giày cao su… Tất cả các vật dụng lúc không dùng đến anh ta đều để trong bao.

    Bê-li-cốp luôn tự tin và tự hào về cách sống “đúng mực” của mình. Anh ta kinh ngạc và không thể chấp nhận lối sống tự nhiên của chị em Va-ren-ca; thực sự hoảng hốt khi có người dám vẽ bức tranh châm biếm chế giễu tình yêu của mình. Bê-li-cốp càng không hiểu nổi vì sao anh chàng giáo viên Cô- va-len-cô lại có thể đối xử thô bạo, bất nhã với mình đến như vậy?!

    Quả thật, Bê-li-cốp không hiểu gì về đồng nghiệp, về xã hội và cuộc sống xung quanh. Anh ta luôn đắm chìm trong quá khứ, trong những giáo điều cũ kĩ, lạc hậu, giống như cặp kính đen luôn che kín đôi mắt nhỏ. Bê-li-cốp quả thật là một con người lạc lõng, cô độc và kì quái, chẳng thể nào hòa hợp với mọi người.

    Bê-li-cốp luôn trốn tránh cuộc sống hiện tại nhưng lại tôn thờ và ngợi ca quá khứ. Anh ta say mê tiếng Hi Lạp cổ mà rất ít người biết và cho đó là thứ tiếng tuyệt vời. Anh ta sống một cách rập khuôn, cứng nhắc theo những thông tư, chỉ thị của cấp trên, của chính quyền như một người máy vô hồn và cho rằng chỉ những bài báo cấm đoán điều này điều nọ mới là những cái rõ ràng. Bê-li-cốp sống trong tình trạng cô độc và luôn luôn lo lắng, sợ hãi, sợ tất cả. Lời nói cửa miệng: …sợ nhỡ lại xảy ra chuyện gì thì sao ? góp phần khắc họa tính cách nhút nhát đến mức lập dị của Bê-li-cốp.

    Tính nết kì quặc của Bê-li-cốp còn được tô đậm qua thói quen đến nhà đồng nghiệp ngồi im như phỗng độ một giờ rồi cáo từ. Anh ta cho rằng đó là cách để duy trì mối quan hệ tốt với đồng nghiệp. Buồng ngủ của Bê-li-cốp cũng là một cái bao lớn mang hình dáng của một cái hộp. Đêm đêm, anh ta đóng chặt tất cả cửa lớn cửa nhỏ rồi trùm chăn kín đầu mà ngủ, mặc dù trời nóng bức, ngột ngạt.

    Bê-li-cốp tự coi lối sống của mình là “chuẩn mực” nên thỏa mãn, hài lòng với những gì cổ lỗ, lạc hậu. Anh ta tuân thủ “lối sống trong bao” và khẳng định như thế mới là công dân tốt, là viên chức mẫn cán.Trên cơ sở triết lí sống “chui trong vỏ ốc” đó, Bê-li-cốp không thể nào chịu đựng và hiểu nổi cách sống cùng thái độ của mọi người xung quanh, cho nên anh ta hay phán xét và khuyên giải theo ý mình.

    Lối sống “trong bao” của Bê-li-cốp đã ảnh hưởng không nhỏ đến cái xã hội nhỏ bé nơi anh ta dạy học. Ai cũng chán ghét và sợ hãi khi gặp anh ta, không muốn dây vào làrn gì. Cũng có người muốn thử thay đổi cách sống của Bê-li-cốp, song chẳng ăn thua. Lối sống “trong bao” ấy ám ảnh và tác động tiêu cực tới mọi người bởi suốt mười lăm năm trời, họ phải hít thở bầu không khí ô nhiễm do Bê-li-cốp tạo ra. Anh ta đã trùm một cái bóng nặng nề u ám lên bầu không gian của họ, khiến họ có cảm giác nghẹt thở. Mọi người sợ hãi, căm ghét và bị ám ảnh sâu sắc khi Bê-li-cốp còn sống. Bởi vậy khi Bê- li-cốp chết, mọi người nhẹ nhõm như trút đi được gánh nặng, cuộc sống thoải mái, dễ chịu hẳn ra.

    Với Bê-li-cốp, cái chết này là một lôgic tất yếu trong sự phát triển của tính cách nhân vật. Lối sống “trong bao” bản thân nó đã là một cái chết, chết trong khi đang sống. Hơn thế, ngay trong lúc sống, khát vọng mãnh liệt nhất của Bê-li-cốp là được chui vào bao. Kể cả ý nghĩ, vốn là sở hữu của riêng mình anh ta cũng giấu kín, cho vào bao tuốt! Niềm hạnh phúc lớn lao của Bê- li-cốp là từ nay (sau khi chết), anh ta sẽ được nằm trong cái bao vĩnh viễn, không còn phải lo lắng nhỡ lại xảy ra việc gì thì sao?

    Hình ảnh cái chết của Bê-li-Cốp là một trong những chi tiết quan trọng của tác phẩm. Bằng cái chết khá lạ lùng này, nhà văn đã tô đậm và đẩy tính cách của nhân vật lên tới điểm đỉnh. Cái chết của nhân vật Bê-li-cốp chỉ ra cho mọi người thấy thực chất lối sống “trong bao” và tính cách ấy đâu phải chi có ở một mình anh ta. Anh ta chết nhưng rồi mọi thứ lại đâu vào đấy, vẫn y nguyên. Cuộc sống vẫn nặng nề, mệt nhọc, vô vị, tù túng y như khi Bê-li-cốp còn sống và kiểu người như anh ta vẫn nhan nhản trên đời. Qua chi tiết ấy, nhà văn Sê-khốp nhấn mạnh rằng Bê-li-cốp chính là điển hình cho một kiểu người, một hiện tượng xã hội đáng báo động trong tầng lớp trí thức Nga cuối thế kỉ XIX. Nó chỉ chấm dứt khi có một cuộc cách mạng xã hội thay đổi tận gốc rễ quan niệm sống, nếu không thì cũng giống như cái xác Bê-li-cốp nằm trong quan tài kia thôi. Mặc dù Bê-li-cốp chết nhưng lối sống “trong bao” của anh ta vẫn tồn tại.

    Tài năng của Sê-khốp thể hiện rất rõ qua nghệ thuật kể chuyện hấp dẫn, qua cách chọn ngôi kể, cách xây dựng nhân vật điển hình. Vì thế nến truyện ngắn Người trong bao đã để lại ấn tượng khó quên trong lòng người đọc. Nhân vật điển hình Bê-li-cốp tuy có nét riêng kì quái không giống bất cứ ai nhưng lại tiêu biểu cho một kiểu người, một lối sống khá phổ biến trong xã hội Nga đương thời. Bê-li-cốp đã vĩnh viễn nằm trong bao cách đây hơn thế kỉ, nhưng kiểu “người trong bao” và lối sống “trong bao” cùng những biến thể của nó vẫn tồn tại đây đó trong xã hội hiện đại. Chẳng hạn vẫn có không ít người chẳng bao giờ dám sống thật, nói thật những điều mình nghĩ, hoặc chỉ lo vun vén cho cuộc sống cá nhân, trang bị đầy đủ cho cái bao của mình mà không cần biết đến những người xung quanh. Vì thế mà ý nghĩa thời sự của truyện ngắn Người trong bao cho đến nay vẫn còn nguyên vẹn.

  • 2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Bài thơ số 28 của Tago

    2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Bài thơ số 28 của Tago

    2 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Bài thơ số 28 của Tago

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích tình yêu đôi lứa trong Bài thơ số 28

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ Bài thơ số 28 của Ta-go.

    Bài văn mẫu 1

    Ta-go (1861 – 1941) là đại thi hào của Ấn Độ. Năm 1913, Ta-go được giải Nô-ben về văn chương với tập “Thơ dâng”‘. Ông là “nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại”, một nghệ sĩ toàn tài để lại một sự nghiệp văn nghệ đồ sộ: 52 tập thơ, 42 vở kịch, 12 bộ tiểu thuyết, trên 3.000 bức hoạ. 

    Sau tập “Thơ dâng” được giải thưởng Nô-ben, năm 1914, Ta-go xuất bản tập thơ “Người làm vườn ” — tập thơ tình, gồm 85 bài thơ, chỉ đánh số, không có nhan đề. Bài thơ số “28” này rút trong tập “Người làm vườn được truyền tụng và ngợi ca là “một trong những bài thơ tình hay nhất thế giới”.

    Toàn bài thơ là lời tỏ tình của người cơn trai, của “anh”. Còn người con gái chỉ “lặng nghe lời nói như ru” và qua “đôi mắt”, qua cái nhìn “băn khoăn… buồn “- được nói đến mà thôi.

    Sáu câu thơ đầu cho thấy một mối tình đầu rất đẹp và thơ mộng. Cồ gái duyên dáng, ngỡ ngàng và “băn khoăn”. Vẻ đẹp dịu hiền được thể hiện qua đôi mắt và cái nhìn chan chứa yêu thương: “muốn nhìn vào tâm tưởng của anh”. Rụt rè và thăm dò.

    Tình yêu đến, “thẩn ái tình đã gõ cửa trái tim” nhưng em nào đã hay, đã biết gì nhiều về anh. Em là ánh trăng, anh là mặt biển (trong xanh) — Hai hình ảnh so sánh này diễn tả rất hay một tình yêu trong sáng, chân thành, dào dạt và sự khao khát yêu thương. Cô gái có đôi mắt huyền mới có cái nhìn lung linh của ánh trăng kia. Và chàng trai có tình yêu nồng nàn, chân thành, trong sáng thì ánh trăng kia mới có thể soi vào tận đáy biển cả. Hình ảnh ánh trăng và biển cả đã thể hiện tài tình men say ái tình: niềm khao khát hạnh phúc và sự hoà hợp tâm hồn lứa đôi trong”cái thuở ban đầu lưu luyến ấy”. Lời tỏ tình nồng nàn và yêu thương, đàng hoàng và tin cậy. Tình yêu đâu chỉ là “tìm kiếm” mà còn là “phát hiện” những vẻ đẹp tiềm ẩn trong tâm hồn, trong tính cách người tình của em. Như một lời nhắc khẽ mà rung động:

    “… Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh

    “… Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh

    Như trăng kia muốn vào sâu biển cá.

    Anh đa để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em,

    Anh không giấu em một điều gì

    Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh”

    Bảy dòng thơ tiếp theo là lời tỏ tình rất đẹp. Sử dụng hình ảnh ẩn dụ về “ngọc”, về “hoa” và giả định: “nếụ ạnh sẽ.ỵ để biểu lộ một tình yêu nồng cháy, mãnh liệt và dâng hiến. Có gì quý hơn ngọc, giá trị bằng ngọc? Nếu đời anh là viên ngọc thì anh sẽ đập vỡ làm trăm mảnh, xâu thành chuỗi quàng vào cổ em yêu. Có gì đẹp và thơm bằng hoa? Nếu đời anh chỉ là bông hoa nhỏ bé, tròn xinh, thơm tho, anh sẽ ngắt nó ra cài lên mái tóc em. Các động từ: “đập ra”, “xâu thành”quàng vào”, “ngắt ra”, “cài lên diễn tả một “tấm lòng”, một sự trân trọng và dâng hiến trong tình yêu. Ta-gờ viết bài thơ này cách chúng ta ngày nay ngót một thế kỉ mà hình ảnh thơ vẫn mới mẻ, thú vị vô cùng:

    “Nếu đời anh chỉ là viên ngọc

    anh sẽ đập nó ra làm trăm mảnh

    và xâu thành một chuỗi

    quàng vào cổ em.

    Nếu đời anh chỉ là một đoá hoa

    tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng

    anh sẽ hái nó ra để đặt lên mái tóc em”.

    Lời dịch thơ khá sát và hay. Có điều trong nguyên tác chữ “cài” (cài lên mái tóc em), dịch giả đã chuyển thành “đặt lên mái tóc em”, làm cho lời thơ thô, làm giảm đi phong cách tao nhã, phong tình của chàng trai!

    Đoạn thơ thứ ba, chàng trai khẳng định tình yêu của mình qua hình ảnh so sánh: “trái tim”. Ba tiếng “Nhưng em ơi!” vang lên tha thiết, đắm say. Lời tỏ tình được nâng lên một tầm cao mới, một chiều sâu thăm thẳm. Tình yêu ấy sâu sắc và mênh mông. Em là thần tượng, là nữ hoàng đang ngự trị vương quốc tình yêu – đời anh. Lại một lời nhắc nhở khẽ em yêu! Nhẹ nhàng và tế nhị. Gần mà xa, xa mà gần. Phải biết trân trọng và phát hiện mọi điều cao quý tiềm ẩn trong tâm hồn người yêu. Lời tỏ tình sang trọng quá, chứng tỏ chàng trái có một trái tim rất đẹp! Cả đời anh, tâm hồn anh, tình yêu của anh đã thuộc về em:

    “Nhưng em ơi, đời anh là một trái tim

    Nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó,

    Em là nữ hoàng của vương quốc đó

    Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu!”

    Đầu bài thơ, thi sĩ đã dùng hình ảnh “biển cả”, đến khổ thơ này, ông lại tạo ra những khái niệm bổ sung: “bến bờ”, “vương quốc”, “biên giới” – tạo ra một hệ thống ngôn ngữ diễn tả một không gian nghệ thuật để nói lên niềm tự hào của người con trai có một tình yêu trong sáng mênh mông.

    Tình yêu không thể tầm thường và đơn giản. Đâu chỉ là “một phút giây lạc thú” để làm “nở ra thành một nụ cười nhẹ nhõm”, thoảng qua. Tình yêu cũng không phải là sự hèn hạ, van xin, cầu mong một sự “ban ơn” một sự yếu mềm. Giọt lệ trong, nỗi thương đau, nỗi sầu u ẩn mà người con trai mang lại trong mỗi cuộc tình chỉ là sự hèn hạ, đáng khinh. Đoạn thơ này mang tính chất “phản đề” nhiều người đã hiểu không đúng. Chàng trai muốn tâm tình với người yêu là trái tim anh không phải như thế này đâu :

    “Nếu trái tim anh chỉ là phút giây sướng vui, nó sẽ nở thành nụ cười dịu hiền và em sẽ thấu hiểu nó rất nhanh – Nếu trái tim anh chỉ là nỗi thương đau, nó sẽ tan thành lệ trong, phản ánh nỗi sầu thầm kín” (dịch nghĩa)

    Hai đoạn thơ thứ 4 và thứ 5 tương phản đối lập. Từ phủ định đi đến khẳng định. Không nên như thế kia mà phải như thế này. Người con trai đã mang đến cho ngưòi con gái một tình yêu tuyệt đẹp. Anh tự hào thổ lộ:

    “Nhưng em ơi, trái tim anh lại là tình yêu,

    Nỗi vui sướng khổ đau của nó là vô biên.

    Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu

    Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy

    Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu!”

    Trong nguyên tác: “những gì tình yêu cầu mong” được người dịch thơ viết rằng: “những đòi hỏi ” dễ làm nhiều độc giả hiểu không đẹp ý thơ. Chàng trai tự hào trái tim của mình “lại là tình yêu”, tình yêu đích thực, đâu phải là thứ “trái tim chỉ là một phút giây lạc thú”. Tình yêu của em đã và đang mang đến cho anh bao cảm xúc kì diệu, lúc thì vui sướng, lúc thì khổ đau… Tình yêu đâu chỉ toàn vị ngọt? Vui sướng và khổ đau mà tình yêu mang đến là mênh mông, là vô biên. Những cầu mong và sự giàu có mà tình yêu, mà trái tim của chàng trai là bất tận, là trường cửu. Chàng trai cầu mong ở người tình một tình yêu đằm thắm, chân thành và thủy chung. Cầu mong con thuyền tình của anh sẽ cập bến bờ hạnh phúc giữa mùa trăng. Nhẹ nhàng thổ lộ và trách móc: gần đấy sao mà xa xôi. Hình như em vẫn chưa hiểu tình yêu của anh đã dành cho em. Phải biết phát hiện sự vô biên và giàu sang trong tình yêu. Năm dòng cuối là một “tuyên ngôn” đẹp về tình yêu. Thơ tình mang thêm màu sắc triết lí. Có biết chiếm lĩnh trái tim người yêu mới thật sự có và được sống trong một tình yêu đẹp, trọn vẹn.

    Bài thơ tình số 28 của Ta-go rất đẹp và giàu tính sáng tạo trong hình tượng: “đôi mắt buồn, băn khoăn” – “ánh trăng soi vào biển cả” – “viên ngọc và chuỗi ngọc”, “đóa hoa thơm và vòng hoa” – trái tim yêu thương mênh mông… Ý tưởng phong phú và sâu sắc: cái ngần ngại, băn khoăn của thiếu nữ trong mối tình đầu; sự chân thành, say đắm, nồng nàn, khát khao trong tình yêu của chàng trai. Như một lời nhắc khẽ: Không thể tầm thường, đơn giản trong tình yêu. Bài thơ tình còn là sự đúc kết, chiêm nghiệm: Yêu là tìm kiếm, là phát hiện và chiếm lĩnh. Tình yêu là sung sướng và khổ đau, là thiếu thốn và giàu sang, gần mà xa, xa mà gần. Phải biết phát hiện và chiếm lĩnh tình yêu, có thế mới thật sự đi tới mái ấm hạnh phúc trong tình yêu đôi lứa.

    Cũng như “Biển” của Xuân Diệu, “Sóng” của Xuân Quỳnh, “Tôi yêu em” của Pu- skin, bài thơ này của Ta-go không thể thiếu trong hành trang – tâm hồn “tuổi áo trắng” mộng mơ.

    Bài văn mẫu 2

    Ta-go (1861-1941) là nhà thơ lớn của Ấn Độ, ông đã có nhiều cống hiến quan trọng cho sự nghiệp phục hưng văn hóa Ấn Độ, giải phóng nhân dân Ấn Độ khỏi ách thực dân, góp phần vào cuộc đấu tranh của nhân loại vì độc lập, hòa bình và tình hữu nghị giữa các dân tộc. Ta-go để lại một gia tài khổng lồ các tác phẩm thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó đặc sắc là số lượng 52 tập thơ. Một trong số đó là tập thơ “Người làm vườn” tiêu biểu cho giọng thơ giàu chất trữ tình và triết lí, vừa thể hiện tâm hồn Ấn Độ vừa bao quát tinh thần nhân loại. Các bài trong tập thơ “Người làm vườn” không có nhan đề mà chỉ được đánh số thứ tự, bài thơ số 28 là một trong những bài thơ hay nhất của Ta-go và bài thơ này đã xuất hiện trong nhiều tuyển tập thơ tình của thế giới.

    Tình yêu luôn là đề tài muôn thuở không bao giờ vơi cạn khơi nguồn cảm hứng cho biết bao tâm hồn thi sĩ,bài thơ là lời tỏ tình của một chàng trai muốn gửi đến cô gái mà chàng trai yêu, qua lời tỏ tình của chàng trai ta nhận ra rằng tình yêu là sự vô tận, mãi mãi không có giới hạn trong trái tim của những ai đang yêu, và như một lời nhắn nhủ đối với những ai đã, đang và sẽ chìm đắm trong men say tình ái rằng: muốn có được hạnh phúc trong tình yêu thì luôn luôn phải tìm hiểu, khám phá và thấu hiểu sâu sắc về nhau. Có như vậy thì tình yêu mới bền đẹp được.

    Mở đầu bài thơ là tâm trạng băn khoăn, bồn chồn, lo lắng và thoáng có chút buồn của cô gái ẩn chứa một khát khao cháy bỏng muốn nhìn vào sâu tận trong tâm tưởng của chàng trai:

    “Đôi mắt băn khoăn của em buồn

    Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh

    Như trăng kia muốn vào sâu biển cả”

    Trong tình yêu, thì sự tin tưởng lẫn nhau là một yếu tố rất quan trọng, nhưng dường như ở đây cô gái chưa thật sự tin tưởng chàng trai nên muốn nhìn sâu vào tâm tưởng của anh để tìm hiểu, khám phá mọi bí mật. Đôi mắt được ví như lăng kính của cuộc sống mà qua đó ta có thể nhìn thấy mọi vật, nhưng ở đây đã có một sự cường điệu hóa, đôi mắt chỉ có thể nhìn được những vật thuộc phạm vi về hình ảnh bên ngoài, nhưng trong câu thơ, cô gái muốn dùng đôi mắt của mình để nhìn thấu trái tim chàng trai, muốn biết anh đang nghĩ gì, điều lẽ ra mà chỉ có con tim mới cảm nhận được. Tác giả sử dụng hình ảnh so sánh khát khao của cô gái như “trăng” muốn vào sâu “biển cả”. Đây là một hình ảnh ẩn dụ rất lãng mạn, trăng chìm xuống biển như hòa nhập vào mặt biển vô tận mênh mông, đem ánh sáng của mình làm lấp lánh mặt nước biển, qua hình ảnh này cô gái thể hiện rõ khát khao của mình , muốn tâm hồn của mình hòa nhập vào tâm hồn của chàng trai.

    Biết rõ khát khao của cô gái, chàng trai bày tỏ hết lòng mình mong rằng cô gái sẽ hiểu:

    “Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em

    Anh không giấu em một điều gì

    Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh”

    Chàng trai đã giãi bày tất cả thể hiện ở hành động “không giấu em một điều gì”, thế nhưng nghịch lí là chàng trai đã giãi bày tất cả nhưng cô gái lại “không biết gì tất cả về anh”. Đây chính là sự bí ẩn và tính khó lí giải trong tình yêu.

    Chàng trai thể hiện sự chân thành của mình để cô gái tin tưởng bằng một loạt các hình ảnh so sánh, qua đây anh muốn nói với cô gái rằng: Anh có thể sẵn sàng dâng hiến cả cuộc đời mình cho em.

    “Nếu đời anh chỉ là viên ngọc

    anh sẽ đập nó ra làm trăm mảnh

    và xâu thành một chuỗi

    quàng vào cổ em.

    Nếu đời anh chỉ là một đóa hoa,

    tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng

    anh sẽ hái nó đặt lên mái tóc của em”

    Ví cuộc đời anh với “viên ngọc” thể hiện sự trang trọng, cao quý còn “đóa hoa” tượng trưng cho vẻ đẹp, nhưng anh sẵn sàng “đập” viên ngọc làm trăm mảnh và “hái” bông hoa để dành tặng cho cô gái, thể hiện sự dâng hiến của anh dành cho em.

    “Nhưng em ơi, đời anh là một trái tim

    Nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó

    Em là nữ hoàng của vương quốc đó

    Ấy thế mà em có biết gì về biên giới của nó đâu”

    Chàng trai tiếp tục thể hiện sự dâng hiến, dâng hiến cả trái tim của mình. Trái tim là vô tận, cũng như đại dương mênh mông không ai biết được chiều sâu và bến bờ của nó. Nhưng cũng có khi chỉ là một vương quốc nhỏ bé mà cho dù em là nữ hoàng, chủ của vương quốc trái tim anh mà cũng không thể biết biên giới của nó kéo dài đến đâu.

    Khoảng cách của tình yêu là rất lớn vì vậy cần phải thu hẹp rút ngắn khoảng cách đó lại bằng sự hòa hợp đồng cảm lẫn nhau:

    “Nếu trái tim anh chỉ là một phút giây lạc thú

    Nó sẽ nở ra thành một nụ cười nhẹ nhõm

    Và em thấu suốt rất nhanh

    Nếu trái tim anh chỉ là khổ đau

    Nó sẽ tan thành lệ trong

    Và lặng im phản chiếu nỗi niềm u uẩn”

    Hãy đồng cảm, chia sẻ với nhau. Nếu chàng trai vui thì cô gái cũng nở nụ cười trên môi, chàng trai buồn, cô gái cũng rơi những giọt nước mắt.

    Tình yêu thật phức tạp, nó ẩn chứa nhiều mâu thuẫn như chàng trai nói:

    “Nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên

    Những đòi hỏi của sự giàu sang là trường cửu

    Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy

    Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu”

    Trong tình yêu có rất nhiều cảm xúc, lúc thì vui sướng lúc thì khổ đau và những cảm xúc này là vô tận không biết đâu là giới hạn. Trong tình yêu cũng rất nghịch lí và mâu thuẫn, mặc dù anh luôn ở bên em, gắn bó khăng khít với em, cùng nhau chia sẻ mọi niềm vui nỗi buồn nhưng anh vẫn khẳng định không bao giờ em có thể hiểu hết được trái tim anh.

    Bài thơ sử dụng rất nhiều hình ảnh so sánh, ví von và cách nói nghịch lí cho thấy trong tình yêu còn nhiều điều khó hiểu, không thể lí giải được. Cần phải thấu hiểu, hòa nhập vào nhau, như vậy mới có được tình yêu vĩnh cửu.

  • Phân tích tình yêu đôi lứa trong Bài thơ số 28

    Phân tích tình yêu đôi lứa trong Bài thơ số 28

    Phân tích tình yêu đôi lứa trong Bài thơ số 28

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Cảm nhận về Bài thơ số 28 của Ta-go

    [toc]

    Đề bài: Tình yêu lứa đôi trong bài thơ số 28 của tập Người làm vườn (TAGO)

    Bài văn mẫu

    Đất nước Ấn Độ – ai mà không nghe, không biết dù chỉ một lần về xứ sở thiêng liêng đầy huyền bí ấy. Mỗi chúng ta, ai đã từng thường thức những cuốn phim Ần Độ? Có lẽ khi xem bộ phim “Truyền thuyết tình yêu” chúng ta sẽ thấy được xứ sở lạ lùng ấy. Đó chỉ dừng lại ở một lĩnh vực điện ảnh nhưng khi bạn ngâm nga đôi vần thơ của thi sĩ vĩ đại Tago – vị thánh sư trong trái tim người Ấn – thì cuộc sống, tình yêu đã trở thành một giai điệu tuyệt vời – một thứ “tôn giáo con người” kì diệu nhất! Tình yêu lứa đôi trong thơ Tago đã vượt lên trên mọi bờ cõi đời thường, nó dã nhuộm màu linh thiêng huyền bí mang đậm sắc thái, phong vị của riêng con người Ấn Độ. Bài thơ số 28 thực sự là khúc ca ngân vang, êm dịu nhất cho tình yêu đôi lứa cho tinh yêu rộng mở, bao la trong trái tim thiên tài Tago.

    Mở đầu bài thơ, Tago đã để ngòi bút thiên tài của mình như sống dậy, tràn tuôn với lời thơ tình tứ nhất:

    Đôi mắt băn khoăn của em buồn

    Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh

    Ở khúc dạo đầu, “đôi mắt” tình yêu đã hiện diện ra. Phải chăng, Tago muốn lấy “hằng số chung” của tâm hồn thay ngôn ngữ? Không là “đôi mắt sáng ngời, để nhìn đời và để làm duyên”, đôi mắt em lại băn khoăn muốn nhìn vào “tâm tưởng của anh”. Cái buồn từ đôi mắt ấy nói hộ em biết bao điều. Em muốn tin anh lắm, nhưng em rất sợ anh dối gian em. Em muốn được hiểu hết ngõ ngách hồn anh, tâm tưởng anh. Điều đó có được chăng? Em cố gắng kiểm soát cái biên giới vô hình ấy:

    Như trăng kia muốn vào sâu biển cả

    Cái khát vọng cùng được hòa nhập tâm hồn, được sống trong anh cứ quấn quýt, ràng buộc lấy em. Sự khát vọng hòa nhập tình yêu ấy được tác giả nâng lên tầm cao vũ trụ. Như vầng trăng lặn sâu và biển cả, đại dương với muôn ngàn con sóng yêu thương rì rào vô tận. Trăng như ghì lấy đại dương, dù rất nhỏ bé trước đại dương nhưng sức lay động kết dính thật kìdiệu. Nhưng cái trăn trở của đôi lứa yêu nhau không chỉ là những trách móc, hờn ghen, những băn khoăn ấy mà dường nhưcó sự nghịch lí lạ lùng.

    Anh khống giấu em một điều gì

    Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh

    Chính vì quá yêu em, yêu em mãnh liệt mà em nghi ngờ anh. Cái nghịch lí này phải chăng chỉ có ở tình yêu? Làm thế nào để em hiểu anh đây? Đọc câu thơ trên tạc hình dung ra ngay người con trai đang thì thầm tâm sự. Tình yêu có ngôn ngữ riêng của nó. Dẫu em không nói ra nhưng đâu cần phải nói mà: Ánh mắt là ngôn ngữ chân thành nhất trong tình yêu (Sêxpia) thì anh cũng đọc được ở đáy mắt em một đôi lời thầm thì, ánh mắt ấy như rực sáng trong anh một ngọn lửa khát vọng yêu đương, hòa hợp tâm hồn. Anh sẽ là biển cả trùng dương cơn sóng vỗ, ru hồn mảnh trăng bằng đợt sóng ngân nga, êm dịu. Như để phơi bày cả tâm hồn mình cho người yêu, nhân vật “anh” trữ tình này ví mình như viên ngọc, đóa hoa, và khát vọng được dàng tặng cho nữ thần tình yêu, vị giáo chủ nhỏ bé của mình:

    Nếu đời anh chỉ là viên ngọc

    Anh sẽ đập nổ ra làm trăm mảnh

    Và xâu thành một chuỗi quàng vào cổ em

    Nếu đời anh chỉ là một đóa hoa

    Tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng

    Anh sẽ hái nó ra để đặt lên mái tóc em

    Anh nguyện là con chiên ngoan đạo của riêng em. Từ “chỉ” ở đây như xưng tôn giá trị của viên ngọc, của đóa hoa. Em là tác phẩm quý đẹp của thượng đế nhưng anh xin làm ngọc được “quàng vào cổ em “, được là đóa hoa cài lên mái tóc như mây suối ấy, được điểm trang em lên, và tuyệt vời hơn. Đó là ước mơ khao khát trong trái tim anh. Có lẽ chỉ có đôi lứa yêu nhau, yêu nhau với tình yêu cháy bỏng, trung thành mới có được những lời thì thầm chân thành ấy. Nét tâm lí chung chăng? Ta có lần bắt gặp trong lời hát của nhạc sĩ Trịnh Công Sơn.

    Anh xin làm quán trọ để dừng chân, em ghé chơi … Anh xin làm đá cuội và lăn theo gót hài

    Nhưng lời hát này kín đáo, phảng phất tình yêu thầm lặng đơn phương. Tiếp theo lời thơ Tago như đàn, như đệm cho lời tỏ tình của chàng trai. Nhưng lúc này tâm hồn anh như bị xáo động, anh kêu vang khe khẽ:

    Nhưng em ơi đời anh là một trái tim

    Nào ai biết chiều sâu và bến bờ của nó

    Em là nữ hoàng của vương quốc đó

    Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu

    Có những chiến công ta có thể lập, có những biên giới ta có thể kiểm soát, nhưng chiều sâu và bờ bến tâm hồn mấy ai đo được. Tình yêu của anh trao em là tình “không biên giới”. Trong vương quốc ấy, anh xưng tôn em là nữ hoàng đầy quyền lực. Điều đó hơn ai hết em là người hiểu được nó, và thấu suốt tình yêu của anh, nhưng… em đã làm anh thất vọng… Chỉ có riêng anh mới hiểu được tình yêu của anh sao? Và duy chỉ có anh mới hiểu em muốn nói gì với anh cơ à?

    Tiếp theo sau, “anh” thiết tha bày tỏ?

    Nếu trái tim anh chỉ là một phút giây lạc thú.

    Nó sẽ nở ra thành một nụ cười nhẹ nhõm và em thấu suốt rất nhanh

    Nếu trái tim anh chi là khổ đau

    Nó sẽ tan ra thành lệ trong

    Và lặng im phản chiểu nỗi niềm u ẩn

    Em là tất cả tình yêu của anh. Anh không gian dối. Và anh biết em rất tinh tường. Làm sao anh có thể dối gian em. Những nỗi niềm u ẩn của tình yêu đơn phương hay những phút giây thỏa mãn của thứ tình yêu không đúng nghĩa sẽ một giây phút nào sẽ được lộ diện. Nhưng cả em và anh, chúng ta cùng dạo bước trong thế giới tình yêu kì diệu thiêng liêng, tình yêu song phương tuyệt đỉnh thì có thể nào chứ? Anh muốn van vỉ em như con chiên trước đấng cứu thế.

    Nhưng em ơi, trái tim anh lại là tình yêu

    Nỗi vui sướng khổ đau của nó là vô biên

    Những đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu

    Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy

    Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu.

    Tình yêu thánh thiện, tinh nguyên anh đã trao tặng về em, nó vượt lên trên khái niệm của vũ trụ bao la, và anh đã tôn thờ nó, tôn thờ tuyệt đối. Tự bao giờ, trái tim anh “hướng về em một phương”. Nhưng có lẽ, em sẽ chẳng bao giờ “hiểu được tình yêu của anh đâu”. Phải chăng đây là điều nghịch lí cứ đeo đẳng hai ta? Lời thơ mỗi lúc như thiết tha, cháy bỏng, và kết thúc một giai điệu ái tình, nhưng âm vang hãy còn ngân đọng. Tình yêu ấy như cốc rượu tràn đầy, càng rót càng say, càng tràn đầy và càng quyến luyến, ngất ngây trong tâm hồn.

    Tình yêu có những lí lẽ nông tư, vi diệu được dệt bằng ánh mắt nụ cười Tago đã thực sự sống trong tình yêu, tôn xưng tình yêu lên thành thứ tôn giáo kì diệu thiêng “Tôn giáo con người”. Những tiếng nói riêng, rất riêng ấy được ngòi bút tác giả thấu suốt, phơi bày. Lời nói của em và anh là những nốt nhạc bổng trầm tạo nên giai điệu riêng của tình yêu đôi lứa. Thiên nhiên cứ như xoắn xít từng lời thơ, câu chữ, cả vũ trụ, đại dương như nới rộng ra và lặng im, ngừng thở, để đôi lứa yêu nhau thầm thì, trách hờn. Nét hờn ghét vô cớ, cái nét băn khoăn từ ánh mắt là những ngôn ngữ vô thanh nhưng nên vần nên điệu, như những cánh cửa thần kì soi thấu tâm hồn họ. Tago thực sự nắm bắt những biến động của thế giới ấy. Ta đã có lần gặp “đôi mắt” ấy xuất hiện ở thơ của ông như thế:

    Anh là con chim quen sống cảnh hoang vu

    Đã tìm nơi mắt em khung trời của nó

    Đôi mắt em là chiếc nôi buổi sáng là vương quốc của trời sao

    Tiếng hát anh bay lượn lọt vào chiều sâu của đôi mắt ấy

    Trên khung trời này rộng rãi cô đơn và tung cánh bay lên trong ánh mặt trời

    Trong thơ Tago, tình yêu lứa đôi là âm chủ vút cao còn dàn nhạc đệm là thiên nhiên hoa cỏ, là chiều cao không gian là chiều sâu biển cả. Tất cả đã hòa kết lại thành. “Ca khúc giao duyên bất hủ. Có lẽ qua đó ta hiểu phần nào tựa đề Nguời làm vườn cho cả tập thơ này chăng?

    Đọc bài thơ Tago, mở ra trước mắt cả một thế giới diệu kì, nâng tâm hồn ta bay bổng. Bài thơ được tạo ra từ cả một tình yêu. Có câu danh ngôn:

    Tác phẩm nghệ thuật là kết quá tình yêu con người đối với cuộc sống.

    Muôn thuở, tình yêu lửa đôi này sẽ sống mãi như một phép tiên, trở thành cây đời. Đọc bài thơ ấy, chúng ta có nghe chăng lời hát du dương.

    Tình yêu là chiếc lá xanh, là những đám mây bồng bềnh trong gam nắng

    Tình yêu là những cánh chim, là tiếng hát em trong xanh êm đềm

    Hãy giữ lấy tình yêu, giữ lấy mùa xuân

    Vì tình yêu là chiếc lá, chiếc lá trên cành mãi màu xanh

    Vì tình yêu là ánh sáng đem đến cho dời hạnh phúc mùa xuân…

    Có thể chăng lấy tiếng hát này là kết thay cho ca khúc bằng thơ của Tago?

    Tago sẽ là một “thánh sư” cả trong trái tim chúng ta, trong nền thơ ca thế giới. Tago ra đi vĩnh viễn nhưng tha thiết với đời với tình yêu vẫn còn đọng lại có bài thơ đến nay tôi không thể nào quên được về người.

    Ta không còn nữa cây ơi

    Thì xin lá mới xuân đòi thay ta

    Nhắn người lữ khách đi qua

    Rằng thi nhân ấy đã là tình nhân

    (R.Togo – Cây)

    Và mãi mãi cây xanh, cây đời,cây tình yêu sẽ tiếp nhận lời nhắn nhủ tha thiết của người thi nhân thiên tài của nhân loại.

  • Cảm nhận về Bài thơ số 28 của Ta-go

    Cảm nhận về Bài thơ số 28 của Ta-go

    Cảm nhận về Bài thơ số 28 của Ta-go

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Giới thiệu một vài nét về Ta-go và Bài thơ số 28

    Đề bài: Cảm nhận về “Bài thơ số 28” của tác giả Ra-bin-dra-nát Ta-go.

    Bài văn mẫu

    Bài thơ số 28 nói đến tình yêu là vô biên không có giới hạn. Muốn có hạnh phúc trong tình yêu, luôn luôn phải khám phá, sáng tạo, tâm hồn hòa hợp, tin yêu và hiểu biết nhau… Khát vọng đó không bao giờ tắt. Bài thơ được cấu trúc theo tư duy hướng nội, hướng vào tâm linh. Trong ba câu mở đầu bài thơ, tác giả nói về đôi mắt của người yêu có vẻ băn khoăn u buồn, hình như chưa thật tin, muốn nhìn thẳng vào tận đáy tâm tưởng của anh:

    Đôi mắt băn khoăn của em buồn

    Đôi mắt em muốn nhìn vào tâm tưởng của anh

    Như trăng kia muốn vào sâu biển cả.

    Đôi mắt có thể như ánh sáng kì diệu của trời đất chiếu rọi chốn sâu thăm thẳm của trái tim người như trăng kia muốn vào sâu biển cả.

    Trăng lặn xuống biển, hòa nhập vào cõi mênh mông tỏa ra ánh sáng lung linh diệu huyền. Chính đó là biểu hiện sự khát khao hòa hợp tâm hồn.

    Để đáp ứng khát vọng đó, chàng trai đã bày tỏ hết lòng mình không giấu điều gì trước mắt người yêu, nhưng thật nghịch lí làm sao khi chàng trai nói ngược lại rằng: chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh:

    Anh đã để cuộc đời anh trần trụi dưới mắt em,

    Anh không giấu em một điều gì

    Chính vì thế mà em không biết gì tất cả về anh.

    Nếu ở đọan trên tình cảm của chàng trai mới chỉ dùng lại ở sự giãi bày lòng chân thực, thì những câu thể hiện tình cảm của chàng trai phát triển cao hơn. Để người yêu tin tưởng, hiểu thấu, chàng trai sẵn sàng hiến dâng cuộc đời mình:

    Nếu đời anh chỉ là viên ngọc

    Anh sẽ đập nó ra làm trăm mảnh

    Và xâu thành một chuỗi

    Quàng vào cổ em.

    Nếu đời anh chi là một đoá hoa

    Tròn trịa, dịu dàng và bé bỏng

    Anh sẽ hái nó ra để đặt lên mái tóc em.

    Viên ngọc, đoá hoa là những vật vừa quý giá, vừa đẹp đẽ mà tạo hóa cho con người. Đời anh cũng đẹp và quý giá như vậy, nhưng nếu cần làm cho em xinh đẹp hơn, quý giá hơn, anh cũng nguyện ước hiến dâng cho em. Đó là tinh thần hi sinh, tấm lòng hiến dâng đến như vậy, nhưng vẫn chưa đủ sức đáp ứng sự đòi hỏi của người yêu. Điều mà người yêu cần đến là thứ khác. Tình yêu của chàng trai lại chuyển lên cung bậc cao hơn là hiến dâng trái tim.


    Em là nữ hoàng của vương quốc đó

    Ấy thế mà em có biết gì biên giới của nó đâu.

    Nếu trái tim anh chỉ là một phút giây lạc thú

    Nó sẽ nở ra thành một nụ cười nhẹ nhõm

    Và em thấu suốt rất nhanh.

    Nếu trái tim anh chỉ là khổ đau

    Nó sẽ tan thành lệ trong

    Và lặng im phản chiếu nỗi niềm u uẩn.

    Với những từ nếu, chỉ để tiếp tục khẳng định, tác giả lí giải những đòi hỏi tưởng như nghịch lí mà ngẫm ra lại rất có lí. Ông lại vận dụng thủ pháp so sánh, ví von để khám phá chiều sâu và bến bờ của trái tim.

    Trái tim con người là thế giới bí ẩn, không dễ dàng gì đo được độ nông sâu, rộng hẹp của nó. Nó cũng có một chiều sâu thăm thẳm như chiều sâu của biển cả, cũng có bến bờ vô biên như vũ trụ, nhưng có lúc nhỏ bé như một vương quốc mà nữ hoàng vì nó khó biết được biên giới của nó xa, gần, rộng, hẹp tới đâu.

    Chính vì khoảng cách đó mà tình yêu đòi hỏi rút ngắn lại bằng sự đồng cảm, hòa hợp, trái tim con người bình thường cũng dễ làm dược diều đó. Nếu trái tim chàng trai có phút giây lạc thú thì người yêu cũng dề dàng chia vui với chàng nụ cười nhẹ nhõm. Nhưng trái tim của chàng khổ đau thì người yêu cũng thông cảm với chàng rất nhanh bằng hàng lệ trong.

    Nỗi vui sướng, khổ đau của nó là vô biên

    Nhưng đòi hỏi và sự giàu sang của nó là trường cửu.

    Rõ ràng, ở đây, Tago đã chỉ ra rằng trái tim tình yêu không đơn giản, nó được cấu tạo bằng chất liệu đặc biệt, trong đó tiềm ẩn mầm mống đối lập, mâu thuẫn, vừa sung sướng, vừa khổ đau, vừa đòi hỏi, vừa giàu sang.

    Trái tim anh cũng ở gần em như chính đời em vậy

    Nhưng chẳng bao giờ em biết trọn nó đâu.

    Tình yêu giữa anh và em khăng khít như chung cuộc đời, gắn bó nhau như máu thịt, nhưng thật kì lạ em vẫn chưa hiểu hết được anh một cách trọn vẹn. Sự trọn vẹn trong tình yêu là vô hạn. Thật nghịch lí, dù khẳng định vậy, biết trước vậy nhưng tình yêu vẫn khao khát biết trọn nó. Muốn có hạnh phúc trong tình yêu không gì bằng ngày ngày cứ nhân lòng tin yêu, sự hiểu biết, sự hòa hợp lên như rót đầy cốc rượu nồng.

    Tóm lại, Bài thơ số 28 của R.Tago là bài thơ trữ tình giàu chất triết lí được phô diễn bằng lời lẽ, lập luận, hình ảnh sinh động và khúc chiết. Tác giả đặt vấn đề rồi phản đề để khẳng định chân lí, điều đó hợp với tư duy người Ấn Độ. Hướng về cái vô hạn của vũ trụ, chiêm nghiệm chiều sâu thế giới tâm linh con người. Bài thơ đã làm nổi bật được đặc trưng đó.

    Bài thơ có cấu trúc chặt chẽ, mạch lạc, thể hiện tư duy lôgic và triết học của tác giả. Vận dụng thủ pháp tượng trưng, so sánh, ví von, ẩn dụ phù hợp với nội dung, Tago tạo cho bài thơ có sức rung, sức gợi sâu xa, mạnh mẽ.

  • Giới thiệu một vài nét về Ta-go và Bài thơ số 28

    Giới thiệu một vài nét về Ta-go và Bài thơ số 28

    Giới thiệu một vài nét về Ta-go và Bài thơ số 28

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Bài thơ số 28 (Ta-go)

    [toc]

    Đề bài: Giới thiệu một vài nét về Ta-go và Bài thơ số 28

    Bài văn mẫu

    1. Vài nét về tác giả R.Ta-go (1861-1941)

    Ông là một trong những thiên tài của Ấn Độ và thế giới, là nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại của thế kỉ XX.

    Ta-go là thiên tài của Ấn Độ và thế giới bởi vì ông có nhiều tài năng mà ít người có. Ngoài tài năng về văn học ra, ông còn là nhạc sĩ, họa sĩ, nhà viết kịch, nhà giáo, nhà hiền triết, nhà hoạt động xã hội… Trong lĩnh vực nào ông cũng đạt được những thành tựu xuất sắc. Ở Bengan, quê hương ông, nhân dân gọi là Guredave (bậc thánh sư).

    Ta-go là nhà nhân đạo chủ nghĩa vĩ đại vì ngoài lòng yêu thương con người nói chung, ông còn quan tâm đến đời sống tầng lớp cùng đinh nghèo khổ (paria) ở Ấn Độ. Tinh thần nhân đạo của ông còn gắn với hành động thiết thực chứ không phải hô hào chung chung hoặc để ban ơn cho người nghèo khổ. Trong bài 36, tập Thơ Dâng ông đã viết:

    Xin hãy cho tôi sức mạnh để làm cho tình yêu của tôi phụng sự cuộc đời – cuộc đời mãi mãi tốt đẹp.


    Xin hãy cho tôi sức mạnh đề không bao giờ bỏ rơi người nghèo khổ trước cường quyền và bạo ngược.

    Tình yêu thiên nhiên có ảnh hưởng rất lớn trong các tác phẩm văn học của ông. Không có gì ngạc nhiên khi thấy các tác phẩm thơ của ông đều có hình ảnh thỉên nhiên: Mùa hái quả, Trăng non, Cánh thiên nga, Những con chim bay lạc, Người làm vườn…

    2. Vài nét về Bài thơ số 28

    Trong các bài thơ tình của Tago. Bài thơ sổ 28 trong tập Người làm vườn là hay hơn cả, được nhiều người ưa thích. Bài thơ đã được chọn in vào nhiều tập thơ tình hay của thế giới. Nhạc điệu trong thơ Tago thường du dương, êm ái, mượt mà và sâu lắng, toát lên cái thâm trầm, suy tư của con người giàu chất trí tuệ, giàu triết lí với tâm hồn đa cảm.

  • Vẻ đẹp tình yêu trong sáng trong bài thơ Tôi yêu em

    Vẻ đẹp tình yêu trong sáng trong bài thơ Tôi yêu em

    Vẻ đẹp tình yêu trong sáng trong bài thơ Tôi yêu em

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Cảm nghĩ về bài thơ Tôi yêu em

    [toc]

    Đề bài: Những cảm nhận cùa anh (chị) về vẻ đẹp tình yêu trong sáng trong bài thơ Tôi yêu em (A.x. Puskin).

    Bài văn mẫu

    Puskin không chỉ là “Mặt trời của nền thi ca Nga” ở tư cách công dân mà còn là thi sĩ ca hát về tình yêu. “Hầu như tình yêu, tình bạn luôn luôn là những tình cảm chi phối nhà thơ nhiều nhất và là ngọn nguồn trực tiếp nhất của hạnh phúc và đau khổ của cả đời ông”.

    Bài thơ Tôi yêu em của Puskin đã gây một niềm xúc động lớn lao vì đã vươn tới những giá trị tinh thần chung của loài người: những tình cảm chân thành, cao thượng, nhân ái của tình yêu chứa đựng trong những lời giản dị, trong sáng nhất.
    Nhân vật tôi chưa thân thiết với cô gái đến mức xưng anh, khi xưng tôi, quan hệ tình yêu lại mang một sắc thái trầm tĩnh, tự tin, được bộc lộ qua hai đại từ nhân xưng tôi và em này.

    Tôi yêu em, một lời bộc lộ chân thành xuất phát từ một trái tim trung thực, báo hiệu một tình yêu thực sự. Tôi yêu em, lời lẽ giản dị mà mang bao nỗi quyến rũ:
    Tôi yêu em đến nay chừng có thể
    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai
    Lời thơ chậm rãi, tình thơ thâm trầm, kín đáo. Một khẳng định pha chút cân nhắc, dè dặt với những từ có thể, chưa hẳn.

    Nhân vật trữ tình bày tỏ một tình yêu, một say mê mang dáng vẻ âm thầm, dai dẳng, dấu hiệu của những cảm xúc vững bền, của một trái tim chung thủy.

    Nhưng không để em bận lòng thêm nữa
    Hay hồn em phải gạn bóng u hoài
    Câu thơ toát lên cái điềm tĩnh của lí trí, cái dồn nén của cảm xúc. Lời thơ như một lời nhắc nhủ, một sự tự ý thức về tình yêu của mình và cũng như một lời nói bên trong dịu dàng, trân trọng với hồn em. Nhưng đằng sau những lời điềm tĩnh, đúng mực ấy là bao nỗi niềm, bao sắc thái của tình yêu: có cái chua xót của thân phận vì nếu tình yêu không đem lại hạnh phúc, niềm vui mà chỉ là nỗi băn khoăn, buồn bã cho người mình yêu thì nên chấm dứt tình yêu đó. Tình yêu có thể chấm dứt vì nhiều lí do, nhưng cái lí do đầy dịu dàng, trân trọng và cao thượng ấy đối với người phụ nữ dễ mấy ai có được.

    Tôi yêu em âm thầm không hy vọng
    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen
    Nhịp thơ nhanh hơn với những từ lúc, khi, diễn tả những trạng thái tình yêu biến đổi vô cùng, dồn dập. Nhân vật trữ tình bộc lộ thẳng thắn tâm hồn mình: một tình yêu âm thầm, không hi vọng, khẳng định lại nét âm thầm nhấn manh không chút hi vọng, như tô đậm thêm nét đặc biệt của mối tình thầm lặng này.
    Sau lớp ngôn từ bình thản, điềm tĩnh thể hiện qua cách xưng hô, qua vẻ ngoài lặng lẽ, rụt rè, qua ý thức cố ghìm nén tình cảm, chỉ cho phép nói rằng tình yêu của mình chưa lụi tắt chứ không phải là đang bùng cháy mãnh liệt.
    Nhân vật trữ tình không ngại ngần mà trung thực bày tỏ: Khi hậm hực lòng ghen, nghĩa là tôi cùng chỉ như muốn người khác, cũng bị những tình cảm khổ đau, u ám muôn thuở trong tình yêu vò xé trong tình yêu.
    Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm
    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.
    Cảm xúc dồn nén được giải tỏa, tuôn trào. Điệp khúc tôi yêu em được láy lại lần thứ ba với một lời khẳng định bản chất của mối tình này: chân thành, đằm thắm. Chính là sự chân thành, đằm thắm không bao giờ nhạt phai ấy là cái gốc của tâm lòng cao thượng trong tình yêu này. Và đến cuối bài thơ lại có một lời chúc thiêng liêng, đầy vị tha: tôi cầu mong em có được một người yêu em cũng chân thành đằm thắm như tôi.
    Đó là tình yêu của một trái tim chân thật, độ lượng, nhân hậu dù bị cự tuyệt, con người vẫn có thể có những xử sự cao thượng. Lời cầu mong cuối bài thơ cũng còn là lời nhắn nhủ của một trái tim giàu độ lượng và cao thượng.
    Tôi yêu em, bài thơ nổi tiếng của Puskin đã diễn tả một tình yêu vô vọng, thấm một sắc điệu buồn, nhưng hơn hết vẫn là sự mãnh liệt và cao thượng của ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, không có biện pháp tu từ nào ngoài điệp ngữ tôi yêu em. Chất thơ của bài thơ toát ra từ những xúc cảm chân thành, ghìm nén, từ những lời nói giản dị nhưng đầy thiết tha, tế nhị và mãnh liệt.

  • Cảm nghĩ về bài thơ Tôi yêu em

    Cảm nghĩ về bài thơ Tôi yêu em

    Cảm nghĩ về bài thơ Tôi yêu em

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Bình giảng bài thơ Tôi yêu em

    [toc]

    Đề bài: Cảm nghĩ của em về bài thơ “Tôi yêu em” của nhà thơ Puskin

    Bài văn mẫu

    Tình yêu – dòng chảy vĩnh cửu của lịch sử văn học nhân loại – là một chủ đề lớn trong thơ trữ tình của thiên tài Puskin. Cùng với bài Gửi K., Tôi yêu em đã góp vào thơ tình nhân loại một bài thơ tình hoàn hảo tiềm ẩn những giá trị nhân văn lớn lao.

    Mở đầu bài thơ là điệp khúc tôi yêu em – cũng là giọng điệu chủ đạo của bài thơ: Tôi yêu em : đến nay chừng có thể / Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai. Lời thơ thật giản dị, dùng vài từ mang tính phủ định, không ví von, bóng gió. Nhịp thơ chậm rãi, điệu giọng trầm tĩnh. Ấy thế mà câu thơ bộc lộ thấu đạt những xúc cảm, trải nghiệm chân thành, sâu sắc trong trái tim yêu chân thực, chung thủy mà âm thầm kín đáo, da diết day dứt khôn nguôi, có pha chút dè dặt ngậm ngùi và dự cảm dang dở… của nhân vật tôi.
    Mạch cảm xúc trong hai dòng thơ tiếp theo chuyển đột ngột nhưng vẫn một giọng điệu trầm tư, điềm tĩnh bởi lí trí chế ngự : Nhưng không để em bận lòng thêm nữa, / Hay hồn em phải gợn bóng u hoài. Điệp từ không (trong nguyên tác) nhấn mạnh ý định có vẻ dứt khoát “rút lui”, chối bỏ say mê, dập tắt ngọn lửa tình vẫn âm ỉ, “chưa hoàn toàn lụi tắt” để không làm em phải băn khoăn, phiền muộn thêm nữa. Nhưng trong thẳm sâu tâm hồn dồn nén bao cảm xúc, nỗi niềm trăn trở, buồn đau của thân phận, không hề có chút gì thanh thản, khiến ta không tin rằng đây là mối tình “không hi vọng”…

    Phần cuối bài thơ, xúc cảm lại trỗi lên sự dồn nén, chế ngự của lí trí điềm tĩnh : Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng / Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen. / Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,… Nhịp thơ không chậm rãi như phần đầu mà nhanh hơn, mạnh hơn. Một loạt thủ pháp được sử dụng : điệp khúc tôi yêu em, lặp từ phủ định không và từ mang ý nghĩa thời gian, dùng câu bị động (trong nguyên tác). Nhưng trên hết là sự chân thành đã làm tỏa sáng câu thơ. Nhân vật tôi không hề che giấu, ngần ngại mà rất trung thực, thành thật bộc bạch những cung bậc, sắc thái tình yêu trong thẳm sâu tâm hồn mình, một tình yêu thầm kín, da diết, mãnh liệt, với những trăn trở day dứt, những khổ đau tuyệt vọng, những nỗi buồn và sự ghen tuông đen tối giày vò, khiến trong đáy sâu tâm linh không một chút thanh thản, yên định. Tình yêu của nhân vật tôi cũng rất đỗi bình thường, rất người như bao người khác, cũng bị nỗi ghen tuông giày vò, bóp nghẹt tâm can nhưng đã vượt lên thói ích kỉ làm hạ thấp giá trị con người để trở nên nhân ái, vị tha, cao thượng hơn : Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm, / Cầu em được người tình như tôi đã yêu em.
    Giữa hai dòng thơ là một nghịch lí, mâu thuẫn mà khối óc sáng suốt khó có thể lí giải bằng lí lẽ của nó nhưng có thể cắt nghĩa bằng lí lẽ của con tim, một con tim chân thật, độ lượng, biết nhận nỗi khổ đau, bất hạnh về mình mà không đem lòng thù hận khi tình yêu không được đền đáp, như nhà thơ đã viết trong một bài thơ khác : Nhưng nếu gặp ngày buồn rầu đau đớn / Em thầm thì hãy gọi tên lên / Và hãy tin : còn đây một kỉ niệm / Em vẫn còn sống giữa một trái tim.

    Câu thơ cuối bài là một lời chúc có vẻ nghịch lí mà thiêng liêng, đầy vị tha biết dường nào : Cầu em được người tình như tôi đã yêu em. Câu thơ rất độc đáo, đột ngột về ý nghĩa, hàm chứa nhiều ý vị… Có người tìm thấy sự đồng điệu, gặp gỡ thú vị giữa câu thơ của thiên tài Puskin với câu quan họ khiêm nhường, tế nhị mà tha thiết, mãnh liệt trong bài Giã bạn : Người về em dặn câu rằng / Đâu hơn người kết, đâu bằng đợi em.
    Tôi yêu em là một tình yêu vô vọng, thấm một sắc điệu buồn, nhưng hơn hết vẫn là một tình cảm chân thành, mãnh liệt mà vị tha, cao thượng, bộc lộ vẻ đẹp của tâm hồn và nhân cách con người nhân hậu, biết “kính trọng vô hạn đối với phẩm giá con người với tư cách là Con Người” (Biêlinxki), vì thế bài thơ chứa đựng những giá trị tinh thần nhân văn cao cả của loài người. Chất thơ của bài thơ chủ yếu toát ra từ những xúc cảm chân thành, từ những lời lẽ giản dị, từ giọng trữ tình dồn nén mà mãnh liệt, tạo được sức mạnh biểu đạt tình cảm. Sức hấp dẫn của bài thơ trước hết là bởi “Đối tượng tự nó hấp dẫn đến mức chả cần gì tới sự tô điểm nào cả” (Puskin). Có lẽ cũng vì vậy mà bài thơ không ngừng gây xúc động trong lòng bao thế hệ bạn đọc…

  • Bình giảng bài thơ Tôi yêu em

    Bình giảng bài thơ Tôi yêu em

    Bình giảng bài thơ Tôi yêu em

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Tôi yêu em 

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng bài thơ “Tôi yêu em” của Pu-skin

    Bài văn mẫu

    Pu-skin (1799 81837) là “Mặt trời của thi ca Nga”. Trong cuộc đời ngắn ngủi, bất hạnh của mình, Pu-skin đã để lại cho đất nước Nga và cho nhân loại những áng thơ văn tuyệt vời. Ngoài những trường ca nổi tiếng như “Ru-xlan và Li-út-mi-la”, “Người tù Cáp-ca”, “Những người Di-gan”, “Ep-ghê-nhi O-nhê-ghin” Pu-skin còn để lại 800 bài thơ trữ tình, trong đó có nhiều bài thơ tình nổi tiếng. Bài thơ tình “Tôi yêu em” là kiệt tác của Pu-skin:

    “Tôi yêu em; đến nay chừng có thể
    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai;
    Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,
    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.
    Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng
    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen;
    Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm
    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”.
    (Thuý Toàn dịch)
    Sự nhạy cảm là dấu hiệu của thiên tài. Dấu hiệu đó trước tiên biểu hiện ở việc mở đầu và kết thúc bài thơ. Nếu Pu-skin mở đầu bài thơ theo một cách khác thì bài thơ “Tôi yêu em” không còn là bài thơ trữ tình mà là một trường ca. Pu-skin đã cắt ngang thiên tình sử để tự sự và trữ tình. Mọi biến cố, mọi xúc cảm, thời gian và không gian đều được dồn nén lại:
    “Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai”.

    Có thể nói “Tôi yêu em…” là giai điệu chính của bài thơ. Động từ “yêu” trong nguyên tác đều dùng thì quá khứ đến hiện tại bằng hình ảnh “ngọn lửa tình”. Hình tượng ngọn lửa vừa thể hiện sự nồng nhiệt của tình cảm, vừa diễn tả sự dài lâu, đằng đẵng của nhà thơ đối với người tình. Lối cắt ngang thiên tình sử để giải bày như vậy khiến cho bài thơ cô đọng, hàm súc. Tác giả không kể lể, chừng mực trong lối biểu hiện cảm xúc, mực thước, kín đáo là những nét nổi bật của phong cách cổ điển.
    Giai điệu chính của bài thơ đã xuất hiện mà điều muốn nói chỉ mới được sửa soạn nói thôi, nghĩa là nó sẽ được nói qua những biến tấu trong giây phút thăng hoa của tâm hồn thi nhân. Pu-skin say đắm với người tình, mải mê kiếm tìm mộng đẹp, nhưng chỉ nhận được toàn cay đắng và não nề, cái mà người tình thi sĩ kiếm tìm được lại là thơ. “Tôi yêu em…” là thơ rồi; không yêu em nữa là cũng để yêu em. Thơ tình của nhân loại chưa từng thấy những lời yêu của trái tim nhân hậu như thế này:
    “Nhưng không để em bận lòng thêm nữa,
    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài”.
    Tưởng chừng như Pu-skin không dụng công làm thơ mà cấu tứ thật là mới mẻ. Tình mới mà thành thơ mới, tâm hồn cao thượng mà thành thơ cao thượng. “Tôi không muốn làm em buồn vì bất cứ lẽ gì” đó là lời thơ trong nguyên tác. Nhà thơ đã chấp nhận thất bại, nhưng không phũ phàng, hằn học. Biến đau thương thành tình yêu thì thật lạ. Tứ thơ lớn cho nên không cần những lời hoa mĩ, không cần các biện pháp tu từ. Lời thơ dung dị mà thấm thía.
    Bài thơ tình phát triển theo những biểu lộ mới mẻ của tình cảm và những nghịch lí:
    “Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng,
    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen,
    Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,
    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”.
    Sau khi giãi bày nghịch lí của tình yêu, nhà thơ sợ người đời hoài nghi về tình yêu chân thật của mình nên lại “phải nói”:
    “Phải nói yêu, trăm bận đến nghìn lần”.
    (Xuân Diệu)

    Chỉ có khác với Xuân Diệu là Pu-skin đã đẩy những lời yêu thương về quá khứ. Vì sao vậy ? Vì bây giờ “tôi yêu em” hoặc “tôi mãi mãi yêu em” thì “em băn khoăn”, “em buồn”. Pu-skin “phải nói”:
    “Tôi yêu em âm thầm không hi vọng
    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen
    Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm”.
    Nhà thơ đã chọn những chi tiết chính xác để bày tỏ lòng yêu của mình. “Tôi yêu em âm thầm”, đó là một thứ tình yêu như sóng ngầm, như than hầm, nung nấu, cháy bỏng. Nhưng “không hi vọng”, đây cũng là một sự thổ lộ thành thật. Thời đó Pu-skin có cầu hôn với một vài cô gái quý tộc thượng lưu nhưng đều bị khước từ. Pu-skin cũng là dòng dõi quý tộc nhưng đã bị sa sút, còn thiên tài thì là cái gì các nàng làm sao biết được, còn thi sĩ thì đối với các nàng coi cũng như “con hát” mua vui vậy thôi. Khốn nỗi nhà thi sĩ lại “yêu em”, “tôi đã yêu em”, làm sao cắt nghĩa được tình yêu, “tôi yêu em” thật thà đến “rụt rè”. Cử chỉ nhỏ ấy lại là thước đo của lòng thành thật trong tình yêu đấy. Và cũng tầm thường như bất cứ một chàng trai đang yêu nào trên đời này “khi hậm hực lòng ghen”.
    Đã nói rồi, nói lại:
    “Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm”.
    Nói lại như vậy là để nhấn mạnh những thanh âm cao vời sâu thẳm của tình yêu và cũng là để sửa soạn cho một “nghịch lí” mà cũng là một quan niệm tình yêu mới chưa từng có trên đời này nẩy nở:
    “Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”.
    (Nguyên văn: Cầu Thượng đế cho em được người khác yêu cũng như thế)
    Tình yêu của Pu-skin nồng nàn, chân thành, đằm thắm và giờ đây còn thiêng liêng nữa. Nhưng cũng chỉ là những tình cảm nhân bản mà thôi.
    Ví như tính chất thiêng liêng chẳng hạn, thì người bình dân ở phương Đông, trước cả Pu-skin đã biết cầu nguyện cho tình yêu:
    “Qua chùa núi Hó thắp bó nhang vàng
    Xin cho bạn cũ lại hoàn như xưa”.
    (Ca dao)
    Chỉ có tinh thần cao thượng trong tình yêu của Pu-skin là mới mẻ. Còn từ đông sang tây, trong tình yêu tâm lí thông thường là “Yêu nhau thì ném bả trầu – Ghét nhau ném đá vỡ đầu nhau ra” (Ca dao).
    Tinh thần cao thượng của Pu-skin được diễn tả theo nhịp độ tăng cấp: không yêu em nữa là cũng để yêu em và cầu cho người tình (từ chối mình) được sống hạnh phúc trong tình yêu. Minh triết tình yêu đó là điều hết sức mới mẻ và tạo ra sức hấp dẫn lạ thường. Đấy là nhân cách cao thượng của Pu-skin, đấy cũng là tinh hoa của nền văn học Nga, một nền văn học nhân đạo và lí tưởng.
    Bài thơ “Tôi yêu em” thể hiện nhiều nét nghệ thuật tinh hoa của thơ Pu-skin. Lời thơ giản dị, giản dị đến mức trong suốt; hàm súc, mực thước, ít dùng mĩ từ mà vẫn gợi cảm. Sức mạnh của nhà thơ dồn ở cấu tứ lạ lùng đã chuyển tải được tình cảm, tư tưởng mới mẻ của thi nhân. Thơ tình của nhân loại chưa bao giờ được chứng kiến một thiên tình sử trong một hình thức nhỏ bé như vậy. Và cũng chưa bao giờ thơ tình của nhân loại đạt đến sự minh triết của tình yêu sáng chói như vậy. Pu-skin xứng đáng với sự ngợi ca của nhân dân Nga là thi sĩ thiên tài và là nhà tư tưởng lỗi lạc, người mở đường cho nền văn học Nga và người đặt nền móng cho tư tưởng nhân văn cao quý trong văn học Nga.

  • 2 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Tôi yêu em 

    2 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Tôi yêu em 

    2 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong bài thơ Tôi yêu em 

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tôi yêu em của Puskin

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tâm trạng của nhân vật trữ tình trong bài “Tôi yêu em” của Puskin

    Bài văn mẫu 1

    Puskin là “Mặt trời của thi ca Nga”, Ông thành công trên nhiều thể loại văn học nhưng có lẽ thơ ca về chủ đề tình yêu là đạt được nhiều thành tựu nhất bởi “Hầu như tình yêu, tình bạn luôn luôn là những tình cảm chi phối nhà thơ nhiều nhất và là ngọn nguồn trực tiếp nhất hạnh phúc và đau khổ của cả đời ông”. Một trong những bài thơ tình nổi tiếng của Puskin là tác phẩm “Tôi yêu em” với nỗi buồn trong sáng của một tình yêu mãnh liệt, chân thành của nhân vật trữ tình cũng chính là tác giả.
    Tâm trạng của nhân vật trữ tình được thể hiện xuyên suốt bài thơ với những trạng thái, cung bậc cảm xúc khác nhau cho thấy tình yêu chân thành của thi sĩ dành cho người con gái mình yêu. Thứ nhất đó là lời thơ tự tin khẳng định tình yêu của mình:

    “Tôi yêu em đến nay chừng có thể
    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai”
    Chỉ với ba từ “tôi yêu em” giản dị, mộc mạc nhưng chất chứa biết bao tình cảm trong đó mà thi sĩ luôn ấp ủ trong lòng. Tình yêu ấy đã có từ lâu và đến bây giờ nó vẫn “chưa hẳn đã tàn phai”. Thi sĩ sử dụng hình ảnh ngọn lửa để biểu trưng cho tình yêu của mình nó luôn cháy âm ỉ chưa lụi tàn. Tuy nhiên các từ “có thể”, “chưa hẳn” như vẫn có phần dè dặt, e thẹn trong thể hiện cảm xúc vì lo sợ một điều gì đó nhưng dù sao ta vẫn có thể được tình yêu ấy là sự say mê, dai dẳng xuất phát từ tình cảm trái tim bền vững. Tình cảm ấy bị lí trí dồn nén nên càng bộc phát mạnh mẽ với điệp ngữ “Tôi yêu em” tiếp tục được nhắc lại:
    “Tôi yêu em âm thầm không hi vọng
    Lúc rụt rè khi hậm hực lòng ghen”
    Cách xưng hô tôi-em vừa xa mà vừa gần, vừa chân thành yêu thương mà cũng rất giữ chừng mực khoảng cách. Tình yêu của nhân vật trữ tình ở đây cũng rất bình thường như bao người đang yêu khác dù cho không có hi vọng nhưng vẫn âm thầm yêu em. Thi sĩ dù có giỏi kìm nén cảm xúc nhưng cũng không thể thoát khỏi các cung bậc tình yêu là lúc rụt rè, là khi hậm hực lòng ghen. Có thương, có nhớ, có ghen nhưng chỉ dám để tronng lòng giữ lấy cho riêng mình. Dường như thi sĩ đang rơi vào vực thẳm của nỗi đau đến tột cùng.

    Ta thấy có sự mâu thuẫn giữa cảm xúc trong tim và lí trí trong đầu. Yêu em nhiều như thế, say đắm đến cuồng nhiệt nhưng lại bùi ngùi tiếc nuối vì:
    “Nhưng không để em phải bận lòng thêm nữa
    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài”
    Ta thấy thi sĩ ở đây không còn chỉ là những suy nghĩ, tình cảm cá nhân mình mà có sự quan tâm nghĩ đến cho đối phương. Dù yêu rất nhiều nhưng không muốn “em” phiền muộn, không muốn em khó xử đành để lí trí dồn nén cảm xúc, buộc phải chối bỏ tình yêu của mình. Như vậy tâm trạng thứ hai của nhân vật trữ tình được thể hiện là sự buồn đau và nuối tiếc cho tình yêu vì không được “em” chấp nhận, không muốn em “u hoài”.
    Tuy nhiên dù có từ chối tình cảm bản thân đến thế nào thì trong tình yêu lí trí khó có thể thắng nổi trái tim. Dù cho không được em chấp nhận, không được em đáp lại yêu thương nhưng vẫn một mạnh mẽ khẳng định lại với điệp ngữ:
    “Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm
    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”
    Đó là ước muốn cao thượng của cá nhân “tôi” dành cho “em”, mong cho “em” cũng tìm được một người yêu em chân thành, đằm thắm như tôi. Câu thơ cuối là sự vụt sáng lên của một tình yêu cao đẹp cho thấy tấm lòng cao thượng, nhân văn của thi nhân. Tình yêu ở đây rất nồng nhiệt và vị tha, không phải ai cũng có thể chân thành chúc phúc cho người từ chối tình cảm của mình được hạnh phúc. Đó là lời chúc thiêng liêng và cao cả làm rạng rỡ lên nhân cách Puskin. “Yêu là chết ở trong lòng một ít” có lẽ là như vậy, yêu một người không phải là độc quyền chiếm hữu lấy người đó mà đôi khi chỉ cần được ngắm nhìn người phụ nữ mình yêu thương được người khác yêu thương như mình đã là mãn nguyện đối với một trái tim chân thành không vụ lợi cá nhân.
    Như vậy mạch cảm xúc bài thơ cũng là tâm trạng của nhân vật trữ tình vừa đi theo trật tự logic lí trí vừa đáp ứng được cảm xúc cá nhân. Nó là sự mâu thuẫn giữa lí trí và tình cảm nhưng được biểu hiện thống nhất trong một tình cảm duy nhất là tình yêu chân thành, tha thiết biết bao nhiêu. Vì tình yêu mà tôn trọng người yêu, vì tình yêu mà không thể kìm nén cảm xúc và cũng vì tình yêu mà chấp nhận thiệt thòi về bản thân, vì yêu quá chân thành mà mong được cho “em” được người khác yêu cũng chân thành như mình. Chỉ với những lời thơ mộc mạc xuất phát từ trái tim đã khiến cho tác phẩm trở nên có hồn, có giá trị làm nên nhân cách cao đẹp của thi sĩ có thể sống mãi với thời gian đáng để cho bao thế hệ lấy làm tấm gương sáng để học tập cho một tình yêu trong sáng, đẹp đẽ.
    Bài thơ là cảm xúc chân thành của thi sĩ mang nỗi buồn của mối tình vô vọng nhưng thật mãnh liệt, nhân hậu và rất mực vị tha. “Bài thơ hay đến mức đủ để thừa nhận tác giả của nó là nhà thơ vĩ đại” đó là lời nhận xét của nhà nghiên cứu văn học Gô-rô-đét-xki.

    Bài văn mẫu 2

    “Làm sao sống được mà không yêu
    Không nhớ, không thương một kẻ nào?”
    (Xuân Diệu)
    Tình yêu, đề tài muôn thuở trong thơ ca cổ kim đông tây. Việt Nam có một Xuân Diệu nồng nàn, cháy bỏng trong tình yêu, thì nước Nga cũng có một Pus-kin vị tha, bao dung trong chính cuộc tình của mình. Tôi yêu em là tác phẩm viết về tình yêu nổi tiếng nhất của ông. Lời thơ tha thiết, khắc khoải đã làm nổi bật tâm trạng của nhân vật trữ tình trong tình yêu.
    Hai câu thơ đầu tiên là lời tỏ bày thật chân thành, giản dị về tình yêu mà nhân vật trữ tình dành cho em:
    Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai
    Tôi yêu em đến nay chừng có thể, dường như câu thơ chưa diễn tả được hết nỗi lòng của người con trai. Tôi yêu em, trong tiếng Nga không chỉ là một trạng thái cảm giác nhất thời mà đó là một sự trải nghiệm của thời gian, là tình yêu tha thiết, lâu dài. Dường như trải qua bao nhiêu năm tháng ngọn lửa tình yêu ấy vẫn không thể lụi tàn, dù em đã đổi thay, dù cuộc sống có nhiều biến động nhưng chỉ cần ngọn lửa tình vẫn còn nhen nhóm, anh vẫn sẽ yêu em.
    Hai câu thơ tiếp theo là sự đối lập, thay đổi của cảm xúc:
    Nhưng không để em bận lòng thêm nữa
    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài
    Chữ “nhưng” như một bản lề, khép mở giữa hai dòng cảm xúc trong tâm trạng của nhân vật trữ tình. Nếu hai cầu đầu là lời tỏ bày tình yêu nồng nàn, sâu đậm được khắc ghi từ quá khứ đến hiện tại thì đến hai câu sau lại là lời nói dứt khoát của lí trí: sẽ phải kìm hãm, dập tắt tình yêu đang âm ỉ trong tim, để người mình yêu thương có được cuộc sống hạnh phúc, ấm êm. Nhân vật trữ tình yêu bằng một tình yêu sâu nặng, bền bỉ nhưng lại buộc lòng phải chôn chặt tình cảm đẹp đẽ ấy vào sâu nơi tim, chôn vùi trong quên lãng. Kìm nén tình yêu đâu phải là một điều dễ dàng, vậy mà vì người mình yêu chàng trai ấy sẵn sàng gạt đi cảm xúc cá nhân, đây chính là biểu hiện của tình yêu đích thức. Yêu không chỉ là sở hữu, đón nhận mà yêu còn là sẵn sàng chịu sự hi sinh, mất mát về phía mình để dành cho người mình yêu những điều hạnh phúc nhất. Câu thơ ấy làm ta bất giác nhớ đến sự cao thượng trong tình yêu của Xuân Diệu:
    Anh chỉ có một tình yêu thứ nhất
    Anh cho em, kèm với một lá thơ
    Em không lấy và tình anh đã mất
    Tình đã cho, không lấy lại bao giờ.
    Đoạn thơ là lời giã biệt tình yêu đau đớn, xót xa với người con gái mình yêu thương, nhưng đồng thời qua đó cũng thể hiện một tâm hồn đầy vị tha, tự trọng và chân thành của nhân vật trữ tình.
    Nhưng để từ bỏ tình yêu đâu phải là điều đơn giản, nỗi đau vẫn còn đó, vẹn nguyên, là vết thương không thể chữa lành, năm tháng đi qua vết sẹo đó vẫn còn hằn mãi trong tim. Đến đây lời thơ như hậm hực, đau đớn, tuyệt vọng:
    Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng
    Lúc rụt rè khi hậm hực lòng ghen.
    Lời thơ đến đây dồn dập, cũng như tâm trạng của nhân vật trữ tình muốn bày tỏ hết cả mọi cung bậc cảm xúc của bản thân trong những ngày tháng yêu em: yêu âm thầm để em không biết, không chút hi vọng, khi rụt rè, khi hậm hực ghen tuông. Đây chẳng phải là cung bậc tình yêu của bất cứ ai khi yêu đó sao. Đúng như những gì Xuân Diệu đã từng giãi bày:
    “Yêu là chết ở trong lòng một ít
    Vì mấy khi yêu mà đã được yêu
    Yêu rất nhiều mà nhận chẳng bao nhiêu
    Người ta phụ hoặc thờ ơ chẳng biết”
    Bởi vì là yêu nên chẳng ai có thể biết trước được điều gì, điều duy nhất mà ta biết chính là tình yêu dành cho đối phương. Tình yêu không khởi đầu, không kết thúc và hoàn toàn không có hi vọng. Hai câu thơ cuối một lần nữa điệp khúc “Tôi yêu em” được lặp lại:
    Tôi yêu em, yêu chân thành đằm thắm
    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em
    Đây có thể coi như sóng lòng dâng trào trong lòng nhân vật trữ tình. Nó như một lời nói cuối cùng tỏ bày tình yêu chân thành, đằm thắm cho người mình yêu. Nhưng không chỉ dừng lại ở tỏ bày mà còn là một lời cầu chúc cho em sẽ có một người khác yêu em chân thành, đằm thắm như tôi đã yêu em. Đây chính là lời nói của một trái tim yêu chân thành, mãnh liệt, một con người vị tha bao dung. Và sự vị tha đó không chỉ xuất hiện riêng trong bài thơ này, mà nó đã xuất hiện ở những bài thơ khác: “Nhưng nếu gặp ngày buồn rầu đau đớn/ Em thầm thì hãy gọi tên lên/ Và hãy tin: còn đây một kỉ niệm/ Em vẫn còn sống giữa một trái tim”. Đây chính là giá trị nhân văn cao cả mà thơ ca Pus-kin đã đạt đến.
    “Tôi yêu em” không chỉ là lời nói, lời giãi bày tình yêu chân thành tha thiết của chàng trai với người con gái mình yêu. Mà lời nói thổn thức ấy còn là lời nói của nhịp đập trái tim chân thành, vị tha, bao dung luôn mong muốn những điều tốt đẹp nhất đến với người con gái mình yêu thương. Bằng ngôn ngữ chân thành, nhịp điệu linh hoạt, Pus-kin đã diễn tả thành công những cung bậc cảm xúc của một con người khi yêu, và những giá trị nhân văn cao đẹp mà ông hướng đến.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tôi yêu em của Puskin

    3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tôi yêu em của Puskin

    3 bài văn mẫu Phân tích bài thơ Tôi yêu em của Puskin

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Tôi yêu em (Pu-Skin)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin

    Bài văn mẫu 1

    Nếu Việt Nam có “Ông hoàng thơ tình” là Xuân Diệu với những hồn thơ da diết, cháy bỏng, rạo rực thì “Mặt trời của thi ca Nga” là Puskin cũng là một nhà thơ tình nổi tiếng với hơn 800 bài thơ về đề tài tình yêu. Trong đó “Tôi yêu em” là tác phẩm nổi tiếng, có thể coi là bài thơ tình hay nhất, là lời giãi bày tình cảm yêu đương trong sáng, chân thành, mãnh liệt, nhân hậu và vị tha mà thấm đượm nỗi buồn đau vô vọng của thi nhân khi tình yêu chưa được trọn vẹn.

    Bài thơ được sáng tác ở thời kì Puskin sống ở Pê-téc-bua ông thường đến nhà của vị Chủ tịch Viện Hàn lâm nghệ thuật Nga để gặp gỡ, đàm đạo cùng những người làm nghệ thuật. Ông đã phải lòng người con gái xinh đẹp của vị Chủ tịch, nên mùa hè 1828 Puskin ngỏ lời cầu hôn cô gái nhưng không được chấp nhận. Năm 1829 bài thơ đã ra đời trên cơ sở mối tình có thực của thi nhân. Bài thơ vốn không có tên, nhan đề “Tôi yêu em” là do người dịch tự đặt.

    Thơ tình yêu của Puskin thường được bắt nguồn từ tình cảm chân thành có thực trong chính trải nghiệm cảm xúc của tác giả nên lời thơ rất giản dị, tinh tế thể hiện những vẻ đẹp đa dạng trong tâm hồn thi sĩ. Mở đầu bài thơ là cụm từ “Tôi yêu em” để khẳng định tình yêu của mình:
    “Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai”.

    Lời yêu chân thành đã được thốt lên từ một trái tim trung thực, một tình cảm trong sáng. Thi sĩ đã thể hiện rằng tình yêu đó đã có từ trước và đến giờ vẫn còn, nhà thơ đã để tình cảm ấy hiện lên với hình ảnh là “Ngọn lửa tình” cháy âm ỉ, dai dẳng “chưa hẳn đã tàn phai”. Lời thơ chậm rãi, ý thơ thâm trầm, kín đáo tuy là khẳng định tình yêu chưa lụi tắt, tàn phai trong trái tim “tôi” nhưng vẫn dè dặt với cụm từ “có thể”, “chưa hẳn” biểu hiện những cảm xúc bền vững xuất phát từ trái tim yêu thương dành cho người tình. Nhưng mạch thơ đột ngột bị rẽ hướng bởi suy nghĩ của tác giả không chỉ biết nghĩ cho mình mà còn nghĩ cho đối phương nên kèm theo lời khẳng định ấy là lời giã từ vì không muốn gây phiền muộn cho cô gái:
    “Nhưng không để em bận lòng thêm nữa
    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài”

    Đó là một quyết định dứt khoát của lí trí mâu thuẫn với cảm xúc của trái tim. Yêu em tha thiết nhưng buộc lòng phải từ chối tình cảm của bản thân vì không muốn em phải “bận lòng” hay phải “gợn bóng u hoài”. Khi con người ta yêu không phải chỉ biết nghĩ cho cảm xúc của riêng mình mà muốn chiếm đoạt, muốn sở hữu đó là một tình yêu ích kỉ, còn Puskin ông chấp nhận những nỗi buồn và tổn thương để người con gái mình yêu được hạnh phúc. Ông hạnh phúc khi người ấy cũng được vui vẻ hạnh phúc, không muộn phiền. Như vậy bốn câu thơ đầu đã thể hiện tình yêu mãnh liệt, mang đẫm vẻ nhân văn của nhân vật trữ tình để lại cho ta suy ngẫm về thế nào là tình yêu chân thành nó khác xa với cách yêu của một số bạn trẻ hiện nay khi đã yêu bằng mọi giá phải có được tình cảm của đối phương.

    Điệp khúc “Tôi yêu em” một lần nữa được điệp lại ở đầu khổ thơ thứ hai để cho thấy tình cảm, cảm xúc được nâng lên ở một cung bậc cao hơn, mãnh liệt hơn:
    “Tôi yêu em âm thầm không hi vọng
    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen
    Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm
    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”.

    Dù bị từ chối, không được chấp nhận tình cảm này nhưng thi sĩ vẫn yêu “âm thầm không hi vọng”. Dù đã cố dặn lòng để em không cảm thấy buồn phiền, dù lí trí đã ngăn cản nhưng trái tim vẫn trỗi dậy mãnh liệt, vẫn tha thiết yêu thương với những cảm xúc của một người đang yêu ấy là “Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng nghen”. Nhịp thơ trở nên nhanh hơn, gấp hơn với các từ “lúc”, “khi”. Đó là rụt rè, e thẹn khi đối diện với “em”, vẫn ghen nhưng chỉ dám “hậm hực” ở trong lòng không dám nói ra, nó gợi lên tâm trạng u tối, nặng nề. Ghen tuông là mùi vị của tình yêu, tuy nhiên nó dễ khiến cho con người ta dễ hành động thấp hèn, ích kỉ, nhỏ nhen nhưng với thi sĩ vẫn là tình yêu “chân thành, đằm thắm”. Điệp khúc “tôi yêu em” lần thứ ba được nhắc lại để khẳng định lại tình yêu thêm dứt khoát và trào dâng cảm xúc như là lời giải thích cho câu thơ thứ hai ở trên, tất cả cũng chỉ là bởi một chữ yêu. Câu thơ cuối xuất hiện mang đến một ấn tượng bất ngờ hàm chứa nhiều ý vị, nó là sự vụt sáng lên của một tình yêu cao đẹp cho thấy tấm lòng cao thượng, nhân văn của thi nhân. Tôi mong cầu cho em được người khác yêu cũng chân thành, đằm thắm như tôi đã yêu em. Tình yêu ở đây rất nồng nhiệt và vị tha, không phải ai cũng có thể chân thành chúc phúc cho người từ chối tình cảm của mình được hạnh phúc. Đó là lời chúc thiêng liêng và cao cả làm rạng rỡ lên nhân cách Puskin. “Yêu là chết ở trong lòng một ít” có lẽ là như vậy, chỉ cần được ngắm nhìn người phụ nữ mình yêu thương được người khác yêu thương như mình đã là mãn nguyện đối với tình yêu chân thành không vụ lợi cá nhân. Tình yêu ấy khiến cho những ai đã đọc bài thơ “Tôi yêu em” của Puskin phải ngượng ngùng, e thẹn vì chưa làm được như thi sĩ, nó khác xa với tình yêu vị kỉ, với tư tưởng “Không ăn được thì đạp đổ” của một số người.

    Về nghệ thuật của bài thơ thật đơn giản, nhà thơ rất ít dùng thủ pháp tu từ ngoại trừ điệp ngữ “tôi yêu em” và lối so sánh “như tôi đã yêu em” thì không có gì nổi bật đúng như quan niệm của Puskin về cách viết: “Còn như về bút pháp thì càng giản dị càng tốt. Điều chủ yếu là chân lí, sự chân thành. Đối tượng tự nó hấp dẫn đến mức chả cần gì tới sự tô điểm cả. Những tô điểm đó thậm chí làm hại đối tượng” chính điều đó đã làm nên vẻ đẹp và sức hấp dẫn riêng biệt của bài thơ được nhà nghiên cứu văn học Gô-rô-đét-xki đánh giá là “bài thơ hay đến mức nó đủ để thừa nhận tác giả của nó là nhà thơ vĩ đại”.

    Những câu thơ tình yêu của thi sĩ Puskin thật chân thành, tha thiết, đằm thắm mà thấm đượm nỗi buồn của một mối tình đơn phương vô vọng, ý thơ thì giản dị, trong sáng, tinh tế cả về ngôn từ lẫn nội dung ý tưởng. Thi hào Puskin xứng đáng là nhà thơ vĩ đại “Có ý nghĩa to lớn không chỉ trong lịch sử văn chương mà cả trong lịch sử thức tỉnh của dân tộc Nga”.

    Bài văn mẫu 2

    Pus-kin “Mặt trời của thi ca Nga”. Ông là nhà thơ vĩ đại nhất của nước Nga, là người đặt nền móng cho văn học nước nhà. Ông sáng tác trên nhiều thể loại, ở thể lại nào cũng đạt được những thành tựu xuất sắc. Những vần thơ tình của ông làm say đắm biết bao thế hệ bạn đọc. Tôi yêu em là một trong những bài thơ tình nổi tiếng nhất của ông, nó được toàn thế giới ngưỡng mộ, là viên ngọc quý giá của văn học Nga.

    Tôi yêu em với người Nga không chỉ đơn thuần là câu nói thể hiện tình cảm mà nó còn là sự khẳng định bên vững của tình yêu: tôi đã yêu em và sẽ mãi mãi yêu em. Tình yêu đó bền vững, không nhạt phai theo năm tháng. Tôi yêu em không chỉ xuất hiện ở nhan đề mà nó còn được lặp lại trong bài, cho thấy tình cảm da diết, sâu nặng và luôn thường trực trong lòng nhà thơ.

    Bài thơ mở đầu bằng những lời thơ đầy mâu thuẫn, giằng xé:
    Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
    Ngọn lửa tình chưa hẳn đã tàn phai
    Nhưng không để em bận lòng thêm nữa
    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài.

    Lời giãi bày tình yêu thật chân thành, giản dị, dấu hai chấm ngắt, ngăn đôi giữa hai vế câu, phải chăng tình yêu ấy còn có điều gì bận lòng và khó nói. Có lẽ sau dấu hai chấm ấy còn nhiều điều anh muốn nói với em, muốn tỏ bày với em. Tình yêu với em “chưa hẳn đã lụi tàn” tức tình yêu này đã hình thành, có cội nguồn từ quá khứ, và kéo dài cho đến những năm tháng hiện tại. Đó là một tình yêu son sắt, thủy chung, có thể gặp những chông gai, trắc trở những nó vẫn luôn âm ỉ cháy. Nếu như hai câu đầu là sự giãi bày của cảm xúc, thì hai câu thơ sau lại là lời nói của lí trí. “Nhưng” đối lập với vế phía trước, tình cảm lên tiếng cổ vũ hãy tiếp tục yêu, hãy để ngọn lửa tình ấy bừng cháy, thì đến hai câu sau lại là sự lên tiếng mạnh mẽ, dứt khoát của lí trí, hãy dật tắt tình yêu. Vì sao vậy? Có phải vì không còn yêu nữa? Nhưng không phải, không yêu em cũng là vì em, để lòng em không gợn những bóng u hoài, những chuyện buồn trong tình cảm của chúng ta. Tình yêu đó thật cao thượng, nhân văn, không yêu em không phải vì đã hết yêu, mà bởi quá yêu nên muốn dành những gì tốt đẹp nhất cho người mình yêu thương.

    Bốn câu thơ đã diễn tả những mâu thuẫn, giằng xé trong lòng nhà thơ: dù trái tim vẫn thổn thức với nhịp đập tình yêu, vẫn khao khát yêu đương mãnh liệt, nhưng lí trí lại không cho phép, lại kiên quyết gạt bỏ tình yêu đó. Sự kìm nén, dằn lòng ấy là biểu hiện của một tình yêu đích thức. Yêu không chỉ đơn thuần là yêu, là đón nhận, hưởng thụ mà quan trọng hơn là phải biết hi sinh, dành những điều tốt đẹp nhất cho người mình yêu. Đoạn thơ là lời giãi bày đầy đau đớn, nhưng qua đó cũng thấy được tấm lòng chân thành, vị tha của nhà thơ trong tình yêu.

    Phải từ bỏ tình yêu, có ai lại không đau đớn, khổ sở, nhất là khi tình cảm ấy vẫn như ngọn lửa, trào dâng trong lòng:
    Tôi yêu em âm thầm, không hi vọng
    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen.

    “Tôi yêu em” lại một lần nữa vang lên, diễn tả tình yêu dai dẳng, bên bỉ trong lòng nhân vật trữ tình. Chỉ với một câu thơ nhưng Pus-kin đã diễn tả đầy đủ những cung bậc tình cảm của tình yêu: âm thầm, không hi vọng, hậm hực lòng ghen. Và hai câu thơ cuối cùng là biểu hiện cao nhất của tình yêu cao thượng:
    Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm,
    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em

    Điệp khúc tôi yêu em một lần nữa được lặp lại, như một đợt sóng dâng trào của cảm xúc, không thể chế ngự được. Bao nhiêu ghen tuông, hậm hực giờ nhường chỗ cho tình yêu chân thành, đắm thắm và mong ước cao thượng, cầu cho người con gái mình yêu thương sẽ có một người khác yêu thương chân thành. Trong lời câu chúc ấy ta thấy được tấm lòng cao thương, vị tha của chàng trai trong tình yêu. Ta thấy được sự thông minh của chàng, dành tình yêu lớn lao cho cô gái, sự tự tin tình yêu mình dành cho nàng là tột cùng không có bất cứ tình yêu nào lớn hơn nữa. Ẩn đằng sau đó còn là niềm hi vọng, chờ đợi dù mơ hồ, mong manh.

    Bằng ngôn ngữ thơ giản dị, trong sáng, giàu nhạc điệu, Pus-kin đã diễn tả thành công tình yêu chân thành, tha thiết dành cho người con gái mình yêu thường. Đồng thời còn cho thấy tâm hồn vị tha, bao dung lớn lao trong tình yêu của chàng trai đối với cô gái.

    Bài văn mẫu 3

    Pu-skin (1799 – 1837) là nhà thơ Nga thiên tài. Xuất thân trong một gia đình quý tộc. Mê thơ và làm thơ hay , từ thuở học sinh. Khát vọng tự do thấm đượm trong hồn thơ Pu- skin. Tình bạn, tình yêu là cảm hứng nồng nàn trong nhiều bài thơ của Pu-skin.

    Tác phẩm gồm có: Trường ca Người tù Cap-ca, Những người Xu-gan, Ép-ghê-nhi Ô-nhê-ghin. Chết trong bi kịch đau thương lúc 38 tuổi. Go-rơ-ki coi Pu-skin là “Khởi đầu của mọi khởi đầu”.

    “Tôi yêu em” là bài thơ tình hay nhất, đậm đà ý vị nhất của Pu-skin, sáng tác năm 1829. Bài thơ đã được phổ nhạc thành ca khúc, được đánh giá là tác phẩm “hoàn hảo” nâng tầm vóc Pu-skim lên đài vinh quang thi ca Nga. Chỉ có tám dòng thơ mà ba tiếng “tôi yêu em” như một điệp khúc “dịu ngọt” tha thiết vang lên ba lần:
    “Tôi yêu em: đến nay chừng có thể
    … Tôi yêu em âm thầm không hi vọng
    … Tôi yêu em, yêu chân thành, đằm thắm…”

    Mối tình ấy “chưa hoàn toàn lụi tắt trong lòng tôi” nghĩa là vẫn âm ỉ cháy, vẫn nồng nàn, vẫn thiết tha. Không tầm thường, cũng không ích kỉ. Cao thượng, vị tha, mà không thấp hèn. Sang trọng và có văn hoá, yêu nồng nàn tha thiết nhưng không bao giờ muốn đem đến sự bận lòng, nỗi u buồn cho người yêu:
    “Nhưng không để em bận lòng thêm nữa
    Hay hồn em phải gợn bóng u hoài”.

    “Bể ái lúc vơi lúc đầy” – đã có người nói như vậy. Tình yêu cũng chứa đầy nghịch lí: gần đấy mà xạ vời, xa vời mà gần đấy. Có lúc lúng túng, rụt rè khó nói nên lời. Cũng có lúc ghen tuông, giận hờn. Bến bờ của hạnh phúc đâu dễ chiếc thuyền tình nào cũng cập bến xuôi mái êm chèo? Bởi vậy mới có tâm trạng:
    “Tôi yêu em âm thầm không hi vọng
    Lúc rụt rè, khi hậm hực lòng ghen”

    Dòng thơ thứ 7 nói lên cung bậc của tình yêu: chân thành và đằm thắm. Chân thành trong tình yêu là sự hướng tới bạn đời trăm, năm. Không vụ lợi. Không dối lừa. Có chân thành thì mới có đằm thắm. Câu thứ 8 dịch nghĩa: “Cầu trời cho em được một người khác yêu” đó chỉ là một cách nói “làm duyên” mà thôi. Chỉ có tôi là yêu em đằm thắm chân thành. Tình yêu ấy là niềm tự hào của tôi – một tình yêu xứng đáng. Chẳng có ngưòi con trai nào có thể mang “đến” cho em một tình yêu như tôi đã yêu em. Đối diện với bi kịch tình yêu, người con trai vẫn tế nhị, khiêm nhường, vẫn tự hào và kiêu hãnh:
    “Tôi yêu em yêu chân thành đằm thắm
    Cầu em được người tình như tôi đã yêu em”.

    Bài thơ Tôi yêu em là sự thổ lộ tâm tình của người con trai khi đối diện người yêu. Phẩm chất tình yêu cho thấy một nhân cách sang trọng. Rất đa tình mà cũng rất đàng hoàng, tự tin.

    Tình yêu là khát vọng, nhưng bi kịch trong tình yêu cũng không hiếm trong cuộc đời:
    “Yêu là chết ở trong lòng một ít
    Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu”.
    (“Yêu” – Xuân Diệu)