Author: Kỳ Duyên

  • Bình giảng đoạn trích Tình yêu và thù hận

    Bình giảng đoạn trích Tình yêu và thù hận

    Bình giảng đoạn trích Tình yêu và thù hận

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Tóm tắt tác phẩm Rô-mê-ô và Giu-li-ét

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng đoạn trích “Tình yêu và thù hận” của Uy-li-am Sếch-xpia.

    Bài văn mẫu

    Rô-mê-ô và Giu-li-ét là vở bi kịch nổi tiếng gồm 5 hồi bằng thơ xen lẫn văn xuôi, nội dung dựa trên một câu chuyện có thật về mối hận thù truyền kiếp giữa hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét ở thành phố Vê-rô-na nước Ý thời trung cổ. Bi kịch bắt đầu từ tình yêu sét đánh giữa chàng Rô-mê-ô và nàng Giu-li-ét, hai đứa con của hai dòng họ thù nghịch. Bất chấp mọi trở lực, họ đến với nhau bằng trái tim nồng nhiệt, đắm say. Để có thể chạy trốn cùng người yêu, Giu-li-ét đã chấp nhận làm theo kếhoạch của tu sĩ Lâu-rân là uống thuốc ngủ giả chết để chờ Rô-mô-ô đến đón tại hầm mộ nhà nàng. Vì sự chậm trễ của người báo tin và sự hiểu lầm của người nhà Rô-mê-ô nên chàng tưởng là nàng đã chết. Đau đớn khôn cùng, Rô-mê-ô đã uống thuốc độc tự tử bên cạnh người yêu. Tỉnh dậy, thấy Rô-mê-ô đã chết, Giu-li-ét tiền rút con dao mà chàng luôn mang theo bên người để quyên sinh. Cái chết bi thảm của đôi trai tài gái sắc đã làm cho mọi người rung động và thức tỉnh. Mối thù dai dẳng tưởng không bao giờ có thể hoà giải được giữa hai dòng họ đã bị xoá bỏ. Họ cùng nhau dựng một tượng đài bằng vàng để mãi mãi ca ngợi tình yêu trong sáng, thuỷ chung của cặp tình nhân nổi tiếng này.

    Đoạn trích Tình yêu và thù hận kể về cảnh Rô-mê-ô sau cuộc gặp gỡ với Giu-li-ét ở dạ hội hoá trang tại nhà nàng, chờ lúc đêm khuya đã quay trở lại, leo lên bức tường đối diện với phòng ngủ của Giu-li-ét để thổ lộ lòng mình. Sếch-xpia đã miêu tả tuyệt vời tâm trạng của hai người trẻ tuổi vừa bị trúng mũi tên của thần Ái tình Cupid. Mối thù truyền kiếp của hai dòng họ không thể ngăn cản tình yêu mãnh liệt ấy. Thái độ của tác giả là đồng tình và ca ngợi, bởi: Ca ngợi tình yêu chân chính của con người cũng chính là khẳng định con người.
    Rô-mê-ô choáng váng trước vẻ đẹp thánh thiện của Giu-li-ét nên trái tim đã thôi thúc chàng quay trở lại khu vườn nhà nàng, dẫu biết rằng điều đó là vô cùng nguy hiểm. Đúng lúc ấy, Giu-li-ét cũng đến bên cửa sổ trông xuống khu vườn để thổ lộ lòng mình. Chúng ta hãy nghe Rô-mê-ô bày tỏ cảm xúc thật lãng mạn mà cũng thật chân thành khi nhìn thấy Giu-li-ét. Trước đôi mắt của kẻ si tình thì vẻ đẹp của cô gái mình yêu là tuyệt vời hơn tất thảy: … Ánh sáng nào vừa loé trên cửa sổ kia? Đấy là phương đông, và nàng Giu-li-ét là mặt trời! –Vừng dương đẹp tươi ơi, hãy hiện lên đi… Đấy là người ta quý. Ôi! Đấy là người ta yêu! Ôi, giá nàng biết nhỉ!… Vẻ rực rỡ của đôi gò má nàng sẽ làm cho các vì tinh tú ấy phải hổ ngươi, như ánh sáng ban ngày làm cho đèn nến phải thẹn thùng; còn cặp mắt nàng trên bầu trời sẽ rọi khắp không gian một làn ánh sáng tưng bừng đến nỗi chim chóc sẽ lên tiếng hót vang… Hỡi nàng tiên lộng lẫy, hãy nói nữa đi! Bởi đêm nay, nàng toả ánh hào quang, trên đầu ta, như một sứ giả nhà trời có cánh, đang cưỡi những áng mây lững lờlướt nhẹ trên không trung, khiến những kẻ trần tục phải cố ngước đôi mắt… lên mà chiêm ngưỡng.

    Khi Giu-li-ét nghĩ đến Rô-mê-ô thì điều đầu tiên khiến nàng băn khoăn là mối thù lâu đời giữa hai dòng họ, nhưng mối thù ấy không thể ngăn cản nàng đến với tình yêu, với người yêu: Ôi, Rô-mê-ô, chàng Rô-mê-ô! Sao chàng lại là Rô-mê-ô nhỉ? Chàng hãy khước từ cha chàng và từ chối dòng họ của chàng đi; hoặc nếu không thì chàng hãy thề là yêu em đi, và em sẽ không còn là con cháu nhà Ca-piu-lét nữa.
    Tình yêu sét đánh khiến hai người sống trong tâm trạng bay bổng, say đắm, tuy nhiên ở họ vẫn còn sự dẫn dắt sáng suốt của lí trí. Những diễn biến trong tâm trạng Giu-li-ét chứng tỏ Sếch-xpia đã miêu tả tuyệt vời người thiếu nữ đang yêu: Chỉ có tên họ chàng là thù địch của em thôi. Nếu chẳng phải là người họ Môn-ta-ghiu thì chàng cũng vẫn cứ là chàng. Môn-ta-ghiu là cái gì nhỉ? Đó đâu phải là bàn tay, hay bàn chân, hay cánh tay, hay mặt mũi, hay một bộ phận nào đấy của cơ thể con người. Chàng ơi! Hãy mang tên họ nào khác đi! Cái tên đó có nghĩa gì đâu? Bông hồng kia, giá chúng ta gọi bằng một tên khác thì hương thơm cũng vẫn ngọt ngào. Vậy nếu chàng Rô-mê-ô chẳng mang tên Rô-mê-ô nữa, thì mười phân chàng vẫn vẹn mười… Rô-mê-ô chàng ơi, chàng hãy vứt bỏ tên họ của chàng đi; chàng hãy đem tên họ ấy, nó đâu phải xương thịt của chàng, đổi lấy em đây! Trong câu nói ấy của Giu-li-ét chứa đựng quyết tâm vượt qua mọi trở lực ghê gớm và mong muốn Rô-mê-ô hãy quên đi mối hận thù truyền kiếp giữa hai dòng họ để đến với mình.

    Giữa hai tâm hồn có một sự đồng điệu kì diệu. Nghe Giu-li-ét nói như vậy, Rô-mê-ô mừng vui khôn xiết, chàng tiếp tục bày tỏ: Đúng là miệng em nói thế đấy nhé! Chi cần em gọi tôi là người yêu, tôi sẽ thay tên đổi họ; từ nay, tôi sẽ không bao giờ còn là Rô-mê-ô nữa… Khi Giu-li-ét thắc mắc: Người là ai, mà khuất trong đêm tối, chợt biết được điều tôi ấp ủ trong lòng? Thì Rồ-mê-ô vội vàng lên tiếng: Tôi không biết xưng danh cùng em thế nào. Nàng tiên yêu quý của tôi ơi, tôi thù ghét cái tên tôi, vì nó là kẻ thù của em. Nếu chính tay tôi đã viết tên đó, thì tôi xé nát nó ra.
    Nhận ra giọng nói của Rô-mê-ô, Giu-li-ét vừa sung sướng lại vừa lo lắng: Tai tôi nghe chưa trọn một trăm tiếng thốt từ miệng đó ra mà tôi đã nhận ra tiếng ai rồi. Chẳng phải anh Rô-mê-ô, và là họ nhà Môn-ta-ghiu đấy ư?… Anh làm thế nào tới được chốn này, anh ơi, và tới làm gì thế? Tường vườn này cao, rất khó trèo qua; và nơi tử địa, anh biết mình là ai rồi đấy, nếu anh bị họ hàng nhà em bắt gặp nơi đây. Nghe lời cảnh báo về mối nguy hiểm chết người ấy mà chàng Rô-mê-ô si tình vẫn khăng khăng khẳng định và thách thức: Tôi vượt được tường này là nhờ đôi cánh nhẹ nhàng của tình yêu; mấy bức tường đá ngăn sao được tình yêu; mà cái gì tình yêu có thể làm là tình yêu dám làm; vậy người nhà em ngăn sao nổi tôi. Như vậy là tình cờ mà cả chàng và nàng đều cho rằng tình yêu của họ chỉ diễn ra trong hoàn cảnh hai dòng họ thù địch chứ không xung đột với hận thù truyền kiếp. Tình yêu nồng nàn, mãnh liệt ấy là hoàn toàn tự nhiên, chính đáng. Rừng rực như lửa cháy, nó thiêu rụi mọi định kiến nghiệt ngã, mọi ngăn trở phi lí để những người đang yêu đến được với nhau.
    Sếch-xpia ca ngợi tình yêu vì tình yêu là thứ tình cảm tốt đẹp và kì diệu nhất của con người. Có một thi sĩ đã nói: Không có tình yêu hoa không nở. Nhà thơ lãng mạn Xuân Diệu say đắm thốt lên: Từ lúc yêu nhau hoa nở mãi, Trong vườn thơm ngát của hồn tôi. Nhà thơ cách mạng Tố Hữu cũng sáng tác những vần thơ bất hủ ca ngợi tình yêu: Có gì đẹp trên đời hơn thế, Người yêu người sống để yêu nhau. Tình yêu đã, đang và sẽ mãi mãi tồn tại vì nó là nền tảng của cuộc sống nhân loại trên Trái Đất này.

  • Tóm tắt tác phẩm Rô-mê-ô và Giu-li-ét

    Tóm tắt tác phẩm Rô-mê-ô và Giu-li-ét

    Tóm tắt tác phẩm Rô-mê-ô và Giu-li-ét

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Tình yêu và thù hận (Uy-li-am Sếch-xpia)

    [toc]

    Đề bài: Tóm tắt tác phẩm “Rô-mê-ô và Giu-li-ét”

    Bài văn mẫu

    Nhân dịp tiểu thư Giu-li-ét tròn 14 tuổi, gia đình Ca-piu-lét tổ chức dạ hội hoá trang. Rô-mê-ô đang mang nỗi buồn vì bị nàng Rô-da-lin khước từ, mặc dù hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét đang nung nấu thù hận, nhưng chàng vẫn cùng bạn bè hoá trang đi đến nhà Ca-piu-lét dự hội. Giu-li-ét và Rô-mê-ô găp nhau, tình yêu bốc lên mãnh liệt trong lòng.

    Đêm ấy, một đêm trăng sáng, Rô-mê-ô dám vượt tường lẻn vào vườn gia đình Ca-piu-lét để gặp người yêu. Rô-mê-ô và Giu-li-ét đã tình tự và thề nguyền. Sáng ngày hôm sau, họ nhờ tu sĩ Lâu-rân làm phép cưới bí mật.
    Lại xảy ra một chuyện kinh hoàng giữa hai dòng họ. Ti-bân, người anh họ Giu-li-ét đã giết chết Mơ-kiu-xi-ô, người nhà Môn-ta-ghiu. Rô-mê-ô đã giết chết Ti-bân để trả thù. Chàng phải đi đày tới thành Man-tua. Giu-li-ét vô cùng đau buồn. 

    Gia đình Ca-piu-lét bắt Giu-li-ét phải kết duyên cùng Pa-rít, cháu của Vương chủ thành Vê-rô-na. Nàng giả vờ ưng thuận nhưng đã đến cầu cứu tu sĩ Lâu-rân, Tu sĩ đã đưa cho nàng một lọ thuốc ngủ có công hiệu 42 giờ; đồng thời cho người đi vội đến Man-tua mật báo cho Rô-mê-ô gấp trở về đưa người yêu đi trốn. Nhưng lúc bây giờ thành Man-tua đang bị bệnh dịch hạch hoành hành, người đưa tin đành quay về. Cùng lúc đó; Rô-mê-ô nhận tin báo Giu-li-ét đã chết. Chàng lập tức phi ngựa trở về, còn mang theo một lọ thuốc độc.
    Tại khu hầm mộ của gia đình Ca-piu-lét, Rô-mê-ô bất ngờ gặp Pa-rít. Hai người xông vào đánh nhau, Rô-mê-ô đã đâm chết Pa-rít. Tưởng người yêu đã chết, Rô-mê-ô uống thuốc độc tự tử. Khi Giu-li-ét hồi tỉnh, đau đớn nhìn thấy người yêu đã chết, nàng bèn lấy kiếm của Rô-mê-ô đâm vào mình tự sát.
    Trước cái chết bi thương ấy của cặp tình nhân, hai dòng họ Môn-ta-ghiu và Ca-piu-lét nghe lời Vương chủ đã tự nguyện xoá đi mối thù truyền kiếp; dựng cho Rô-mê-ô và Giu-li-ét bức tượng bằng vàng.

  • Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành của Nguyễn Ái Quốc

    Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành của Nguyễn Ái Quốc

    Phân tích Nghệ thuật châm biếm đả kích trong tác phẩm Vi Hành của Nguyễn Ái Quốc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Cảm nghĩ về tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nội dung nghệ thuật châm biếm, đả kích trong truyện ngắn Vi (Nguyễn Ái Quốc)

    Bài văn mẫu

    “Vi hành” là một truyện ngắn trào phúng phản phong, phản đế thuộc loại sớm nhất của văn học Việt Nam hiện đại. Truyện ngắn được sáng tác vì mục đích tố cáo chân tướng tên vua bù nhìn Khải Định khi y sang Pháp dự cuộc đấu xảo thuộc địa ở Mác xây năm 1922 đồng thời nhằm phơi bày bộ mặt xấu xa của thực dân Pháp. “Vi hành” là tác phẩm tiêu biểu cho nghệ thuật châm biếm, đả kích của Nguyễn Ái Quốc.

    “Vi hành” được sáng tác vì mục đích Cách mạng, vì tinh thần chiến đấu. Nó nằm trong hệ thống những bài văn, bài báo mà Nguyễn Ái Quốc viết để tố cáo chân tướng của tên vua bù nhìn Khải Định. Tên vua ấy không khác gì một tên hề lố lăng, vi hành lén lút mà mờ ám. Qua truyện, Nguyễn Ái Quốc cũng muốn tố cáo bọn thực dân Pháp đê hèn, lừa bịp, đồng thời bộc lộ một cách kín đáo nỗi tủi nhục của người dân bản xứ. Tên vua bù nhìn Khải Định và bọn thực dân Pháp hiện lên dưới ngòi bút châm biếm, đả kích của Nguyễn Ái Quốc vừa nực cười, vừa xấu xa.
    Nghệ thuật châm biếm cũng đã có trong văn học Việt Nam, như Hồ Xuân Hương, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… thế nhưng, tiếng cười mỉa mai ở Nguyễn Ái Quốc lại có sắc điệu riêng với niềm tin, niềm lạc quan của một người chiến sĩ cộng sản. “Vi hành” là biểu hiện của một ngòi bút châm biếm vừa sâu sắc, đầy tính chiến đấu, vừa tươi tắn và hóm hỉnh.

    Nếu Nguyễn Đăng Mạnh từng cho rằng “tình huống truyện như một tứ thơ. Nó giống như một thứ nước rửa sạch sẽ làm nổi hình nổi sắc nhân vật, làm nổi bật vấn đề, tư tưởng tác giả” thì ở Vi hành, Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo ra những tình huống oái oăm, vui nhưng lại tạo được nhưng hiệu quả châm biếm sâu cay. Đó là tình huống nhầm lẫn đơn giản mà vô cùng hợp lý, lung linh nhiều ánh sáng bất ngờ, tác động mạnh vào ấn tượng người đọc. Từ sự nhầm lẫn của đôi trai gái người Pháp đến sự nhầm lẫn của cả quần chúng nhân dân, chính phủ Pháp tưởng người da vàng nào cùng là Khải Định. Tên vua bù nhìn Khải Định tuy không xuất hiện trực tiếp trong truyện nhưng chân tướng vẫn hiện lên rất rõ ràng thông qua câu chuyện và cái nhìn của đôi trai gái người Pháp. Trong con mắt người Pháp, Khải Định có một trang phục nực cười như một thằng hề, “cái chụp đèn chụp lên cái đầu quấn khăn” với những thứ trang sức màu mè vô cùng lố bịch “Đeo lên người đủ bộ hạt cườm” và có giá trị rẻ tiền hơn cả những trò giải trí rẻ tiền nhất. Khải Định bị coi như một hiện tượng lạ. Một “anh vua” mũi tẹt, mắt xếch, nước da vàng bưng như vỏ chanh, đeo lên người những bộ lụa là, hạt cườm, các ngón tay đeo đầy những nhẫn lúng ta lúng túng đi giữa Pa-ri hoa lệ. Vậy mà hắn đã đi đến những đâu? Nào trường đua, các tụ điểm ăn chơi phóng túng nhất Pa-ri. Cái dáng vẽ nhút nhát, lúng túng của Khải Định trông thật thảm hại. Phải chăng ” ngài muốn biết dân Pháp, dưới quyền ngự trị của bạn ngài là Alếchxang đệ nhất có được sung sướng, có được uống nhiều rượu và hút nhiều thuốc phiện bằng dân nước Nam, dưới quyền ngự trị của ngày hay không?… Hay là, chán cảnh làm một ông vua to, giờ ngài lại muốn nếm thử cuộc đời của các cậu công tử bé?”. Ngài vi hành lén lút hay để thực hiện một hành vi ám muội? Khải Định đã tự lột mặt nạ của mình, hoá ra hắn chỉ là một kẻ chơi bời vô độ, hắn không có phong thái đàng hoàng, sang trọng của một bậc quân vương. Phụ hoạ thêm những lời lẽ mỉa mai khinh miệt ấy là thái độ đà phả trực tiếp của tác giả trong những lời nghi vấn giả thiết, so sánh, liên hệ Khải Định khi hiện lên trong sự đối lập, tương phản với vua Thuấn, vua Pie càng trở nên đáng khinh, càng tầm thường và hèn mạt. Tác phẩm liên tục xuất hiện những câu hỏi đặt ra những giả thiết về mục đích vi hành “không cao thượng” của Khải Định. Các từ ngữ “phải chăng”, “hay là”, “hay không”… luyến láy, nối tiếp nhau như thể Nguyễn Ái Quốc đang đảo trộn, soi xét, lật đủ mặt này mặt kia để phơi bày trần trụi mọi cái xấu của Khải Định.
    Không chỉ có vậy, trong mắt người Pháp, hắn không chi là một kẻ ăn chơi lố bịch, không chỉ giống một mụ đàn bà “đeo lên người đủ thứ lụa là, hạt cườm” mà còn như một trò vui không mất tiên, một thằng hề. Qua câu chuyện của đôi trai gái trên chuyến xe: “Thế em còn nhớ buổi dạ hội thuộc địa ở nhà hát ca vũ đấy chứ? Phải trả nhũng nghìn rưỡi phrăng để xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò nhào lộn của sứ thánh Công-gô. Hôm nay chúng mình có mất tí tiền nào đâu mà được xem vua đang ngay cạnh. Nghe nói ông bầu nhà hát múa rối có định kí giao kèo thuê đấy”. Thật không còn lời lẽ nào hơn dành cho tên vua bù nhìn ấy. Thế mà tác giả, người đang bị tưởng lầm là Hoàng đế đã phải chịu đựng tất cả sự mỉa mai, khinh bỉ qua cái nhìn cua đôi trai gái Pháp. Nhưng đâu chi đôi trai gái ấy lầm tưởng “tất cả những ai có màu da vàng đều trở thành Hoàng Đế ở Pháp” mà đến chính phủ Pháp, quần chúng Pháp đều lầm. Để rồi mỉa mai thay, “quần chúng cứ là tự phát biểu nhiệt tình khi vừa thoáng thấy đồng bào ta” với những lời chào mừng kín đáo “Hắn đấy! Xem hắn kìa”. Ông vua nước Nam được gọi là “hắn”, được nhìn với những cái nhìn ngấu nghiến, tò mò như vật lạ, một trò hề. Ý nghĩa phê phán của tác phẩm càng lúc càng mạnh mẽ. Qua câu chuyện được tác giả kể lại trong bức thư viết cho cô em họ chân dung độc đáo, đầy ấn tượng mang sức tố cáo mạnh mẽ được thể hiện qua hình thức tâm tình riêng tư – một sự sáng tạo độc đáo của Nguyễn Ái Quốc. Tác giả đã liên hệ, so sánh tạt ngang, chuyển giọng, chuyển cảnh một cách linh hoạt. Sự mỉa mai nhưng thực ra lại thật chua chát, Khải Định ăn chơi xa xỉ trên mồ hôi nước mắt của nhân dân. Bằng sự tài tình của mình, Nguyễn Ái Quốc đã khắc hoạ chân dung tên vua bù nhìn thật sự sinh động, ấn tượng với vẻ ngoài lố bịch và những hành động lúng túng. Bên ngoài câu chuyện có vẻ bông đùa nhưng bên trong tác giả lại ngầm thể hiện thái độ khinh bỉ, đau xót – đau xót cho đất nước khi có một ông vua như Khải Định.
    Sự sắc sảo của nghệ thuật châm biếm không chỉ được thể hiện ở cách miêu tả chân dung và hành động của tên vua bù nhìn – Khải Định mà còn được bộc lộ ở cách miêu tả bọn thực dân Pháp, đặc biệt là bọn mật thám và chính phủ Pháp. Ngay đến chính phủ Pháp còn không thể nhận ra được khách thật của mình thế nên “bèn đối đãi tất cả mọi người An Nam vào hàng vua chúa và phái tuỳ tùng đi hộ giá tuốt”. Cái cười của Nguyễn Ái Quốc ở đây chính là cái cười mỉa mai, bóng gió, là lối nói cứ thấp thoáng ý xa, ý gần, nghĩa đen nghĩa bóng với hệ thống ngôn ngữ vô cùng phong phú: “Đón tiếp tốt đẹp”, “dành cho”, “nhiệt tình”, “tận tuỵ”, “âu yếm”,:”tự hào”… bên cạnh những câu văn đậm vẻ mỉa mai và cả lối ví von so sánh sắc nét: “Các vị chẳng nề hà chút công sức nào bảo vệ bọn tôi, và giá cô được trông thấy các vị ân cần theo dõi tôi chẳng khác nào bà mẹ hiền rình con thơ chập chững bước đi thứ nhất, thì hẳn cô phải phát ghen lên được vì nỗi âu yếm của các vị đối với tôi”. Nguyễn Ái Quốc đã tố cáo sự xảo trá, bịp bợm của bọn thực dân Pháp đối với Đông Dương đồng thời đả kích chế độ mật thám Pháp xâm hại quyền tự do cá nhân của người dân thuộc địa. Bên cạnh đó, Người còn sử dụng biện pháp song hành “tất cả những ai có màu da vàng đều là Hoàng đế – tất cả những ai ở Đông Dương đều là bậc khai hoá” và biện pháp liên hệ nhằm phê phán chính sách ngu dân, đầu độc dân thuộc địa của bọn thực dân Pháp. Tiếng cười của Bác là một tiếng cười trí tuệ, đó không phải là một tiếng cười giòn giả ngay trên bề mặt, mà là tiếng cười thâm trầm ở bề sâu. Cái cười chỉ hiện ra chua chát, mỉa mai như kết quả cuối cùng của một quá trình suy nghĩ để nhận ra cái trái tự nhiên của bản thân sự vật, sự việc. Ông vua – một danh nghĩa sang trọng nhưng thực ra lại đáng khinh, chính sách bảo hộ – cái tên thì nhân nghĩa nhưng thực ra lại là sự bóc lột vô cùng tàn ác, ngòi bút châm biếm sâu sắc của tác giả đã chú ý khai thác những điều trái ngược trong một sự thống nhất bên cạnh việc phát hiện sự thống nhất trong những hiện tượng trái ngược nhau. Tiếng cười với nhiều sắc điệu, có cả sự khinh bỉ của một người cách mạng lẫn nỗi đau của một người dân mất nước, có cả chất thâm thuý của người thông thuộc lịch sử lẫn vẻ tinh nghịch, trẻ trung của tuổi thanh niên.

    Đi vào thế giới nghệ thuật của “Vi hành” ta bắt gặp sự phong phú của nhiều yếu tố giọng điệu, hình ảnh… Tác phẩm còn lôi cuốn người đọc bởi lối dẫn chuyện vô cùng độc đáo lạ thường. “Vi hành” là sự luân chuyển, đan xen của nhiều giọng nói, nhiều giọng kể. Mở đầu câu chuyện là giọng bông đùa bỡn cợt, của người ngoài cuộc, tiếp theo là giọng tâm tình thân mật giữa tác giả và cô em họ, tiếp theo nữa là giọng hồi tưởng của các vị vua vĩ đại để mỉa mai Khải Định vi hành với những lí do không cao thượng. Và đặc biệt, khi tác giả cất tiếng hỏi “Phải chăng là ngài muốn biết dân Pháp dưới quyền ngự trị của bạn ngài liệu có được sung sướng?”… thì giọng điệu lại càng châm chọc trực diện tên vua bán nước.
    Truyện ngắn “Vi hành” không chỉ là tiếng cười châm biếm mà còn là tâm trạng, cảm xúc của tác giả. Tâm trạng ấy không chỉ xuôi chiều trong sự đùa vui, mỉa mai, giễu cợt mà còn có cả lòng căm ghét kẻ thù và nỗi đau mất nước. Lòng yêu nước đôi khi còn được bộc lộ một cách chua chát trong giọng văn như là một nghịch lý” Ngày nay, cứ mỗi lần ra khỏi cửa, thật tôi không hiểu sao che dấu nổi niềm tự hào được là một người An Nam và sự kiêu hãnh được có một vị hoàng đế”.
    Sự sáng tạo tài tình của Nguyễn Ái Quốc đã được kết tinh trong một nghệ thuật châm biếm bậc thầy – nghệ thuật quen thuộc để đả kích những đối tượng đáng phê phán. Nhưng với “Vi hành” Nguyễn Ái Quốc đã mang đến một tiếng cười mới mẻ mang chiều sâu trí tuệ. Tiếng cười thâm thuý được bật ra từ cách sử dụng câu chữ, xây dựng tình huống, xây dựng chân dung nhân vật. Tiếng cười đó là tiếng cười trí tuệ – càng nghĩ càng thấm, càng thấm càng đau.

  • Cảm nghĩ về tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Cảm nghĩ về tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Cảm nghĩ về tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Cảm nhận về tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    [toc]

    Đề bài: Cảm nghĩ về truyện Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Bài văn mẫu

    Truyện ngắn “Vi hành” của Nguyễn Ái Quốc được viết trong dịp vua Khải Định “Vi hành” sang Pháp để tham dự triển lãm ở Maxay. Tuy nhiên những hành động mờ ám của vua Khải Định lại khiến nhiều người bất bình, không đồng lòng. Nguyễn Ái Quốc đã lấy bối cảnh đó để mỉa mai, châm biếm hành vi lén lút của một ông vua triều đại phong kiến.

    Ngay từ nhan đề, người đọc đã nhận ra giọng mỉa mai, châm biếm rất sâu cay. “Vi hành” được hiểu là hành vi đi du ngoạn để quan sát tình hình dân chúng một cách bí mật, không công khai nhưng vua Khải Định lại làm trò lố, lợi dụng việc chung để làm việc cá nhân của mình. Giọng văn nhẹ nhàng nhưng đầy hàm ý đã khiến cho người đọc hình dung được sự thối nát của một ông vua.
    Điều đặc biệt chính là Nguyễn Ái Quốc đã chuyển thể nội dung bằng cách viết thư cho cô em gái. “Bức thư đặc biệt” đó đã vạch trần ra được sự lố lăng, kệch cỡm, ngây ngô của vua Khải Định trên đất bạn xa xôi. Câu chuyện được xâu chuỗi bằng những sự việc, hiện tượng diễn ra hằng ngày trong suốt chuyến đi của Khải Định. Cuộc trò chuyện của cặp trai gái trẻ người Pháp về vua Khải ĐỊnh khiến tác giả vỡ ra rất nhiều điều.

    Dân chúng Pháp đều cho rằng ai da vàng, mũi tẹt, mắt xếch thì đó chính là vua An Nam. Và bọn thực dân đã nhầm lân vua Khải ĐỊnh với Nguyễn Ái Quốc nên đối đãi rất tốt với ông.
    Nguyễn Ái Quốc đã khéo lẹo bịa ra những tình huống hay ho, nhưng là bịa như thật, khiến cho người nghe bị cuốn hút vào mạch kể đó. Qua lời của đôi trai gái thì chúng ta có thể nhận ra được Khải ĐỊnh là ông vua “mặt mũi ngây ngô, điệu bộ lúng ta lúng túng, mũ mãng lố lăng”. Thực ra trong mắt của người dân Pháp thì vua Khải Định thật đáng khinh và bị xem thường ở khắp mọi nơi.
    Lối dẫn dắt câu chuyện tự nhiên khi kể mọi việc cho cô em gái nghe, Nguyễn Ái Quốc đã làm tăng tính chân thực và hấp dẫn của sự thật. Tác giả đã tố cáo tội ác của Khải Đinh đối với nhân dân ta, đất nước ta. Đớ chính là việc đầu độc nhân dân ta bằng thuốc phiện và rượu độc đầy nham hiểm, hăn chỉ quan tâm đến lợi ích của hắn còn lợi ích của quốc gia thì bỏ mặc.

    Giọng điệu đầy mỉa mai, sâu cay khiến cho người dân vô cùng căm phẫn trước tội ác, sự lố lăng của một ông vua đáng khinh bỉ.
    Với cách viết giản dị, chân thực và những tình huống hay ho Nguyễn Ái Quốc đã vạch ra bộ mặt thật của một ông vua đáng trách, đẩy nhân dân vào bước đường cùng.

  • Cảm nhận về tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Cảm nhận về tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Cảm nhận về tác phẩm Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về truyện ngắn Vi Hành của Nguyễn Ái Quốc

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Ái Quốc viết “Vi hành” vào đầu năm 1923 cùng với các tác phẩm khác như vở kịch Con rồng tre, truyện ngắn Lời than văn của bà Trưng Trắc, bài báo châm biếm Sở thích đặc biệt (tất cả được viết năm 1922) để lật tẩy âm mưu nổi trên. Nghĩa là vạch trần bản chất bù nhìn tay sai dơ dáy nhất của Khải Định, nhân tiện tố cáo luôn tính chất điêu trá, bịp bợm của những danh từ “văn minh, khai hoá” nơi cửa miệng của bọn thực dân ở thuộc địa.

    Viết “Vi hành”, Nguyễn Ái Quốc nhằm chủ yếu vào độc giả người Pháp, trước hết là dân Pa-ri. Vì thế phải viết bằng tiếng Pháp theo phong cách Âu châu hiện đại. Và phải viết sao cho hấp dẫn đối tượng này, nghĩa là có những sáng tạo độc đáo về nghệ thuật, đồng thời phải cài vào được những chuyện thời sự nóng hổi đang được chú ý trong sinh hoạt giải trí của người Pa-ri.
    Để có sức thuyết phục cao nhất đối với người Pháp, người viết phải giữ thái độ khách quan, tránh lối thoá mạ trực tiếp và lời lẽ mạt sát đao to búa lớn.

    Lấy việc tố cáo, đả kích làm mục đích, truyện phải mài sắc vũ khí châm biếm. Bút pháp châm biếm độc đáo, linh hoạt, phong phú, đó là nét chủ đạo và là sức mạnh chủ yếu của nghệ thuật “Vi hành”.
    Một trong những khâu then chốt của nghệ thuật truyện ngắn là xây dựng tình huống truyện sao cho độc đáo, hấp dẫn, đồng thời làm bật nổi chủ đề tác phẩm và tính cách nhân vật truyện. Đây là một trong những sáng tạo đặc sắc của tác giả “Vi hành”.
    Tình huống truyện của “Vi hành” là gì ? Ấy là một tình huống oái ăm, vừa vui, vừa tạo được hiệu quả châm biếm sâu cay : tình huống nhầm lẩn. Đôi trai gái Pháp trên tàu điện ngầm đã nhầm lẫn nhân vật người dẫn truyện với Khải Định. Sự nhầm lẫn tuy là do tác giá tạo ra với dụng ý hẳn hoi, nhưng không tỏ ra khiên cưỡng, vô lí. Vì đối với người Tây, thật khó phân biệt được những bộ mặt khác nhau của người da vàng. Đối với họ “vẫn cái mũi tẹt ấy, vẫn đôi mắt xếch ấy, vẫn cái mặt bủng như vỏ chanh ấy” có gì khác nhau đâu (cũng như người Việt Nam ta rất khó phân biệt được những nét khác nhau của người Tây: cũng da trắng, mũi lõ, mắt xanh như nhau cả).
    Sự nhầm lẫn ấy khiến nhân vật “tôi” có thể nghe lỏm được cuộc trò chuyện thầm lén và tinh quái của đôi trai gái Pháp về Khải Định. Vậy là Khải Định không hề xuất hiện trong tác phẩm mà chân dung hắn lại được vẽ ra hết sức cụ thể và ngộ nghĩnh. Cách lố bịch hoá tên vua bù nhìn như thế vừa giữ được tính khách quan : không phải Nguyễn Ái Quốc – một người cộng sản – cố tình mạt sát Khải Định như một kẻ thù giai cấp. Đây là người Pháp họ nghĩ và nói về hắn như thế đấy chứ !
    Mà chí có trong con mắt người Pháp thì Khải Định mới trở thành hài hước đến thế. Vì là người dân một nước dân chủ, họ mới nhìn ông vua – nhất lại là ông vua một nước phương Đông – như một thứ đồ cổ, một vật lạ đến từ một đất nước xa xãm còn mông muội. Và vì là người Tây nên họ mới nhìn cái nón ra cái chụp đèn, nhìn y phục và dồ trang sức của vị hoàng đế thành những lụa là đeo trên người với những bộ hạt cườm,…
    Vậy là qua cuộc trò chuyện của đôi tình nhân Pháp, liên hệ người khách An Nam ngồi bên với tên vua bù nhìn họ đã thấy ở trường đua, Khải Định hiện ra như một anh mũi tẹt, mặt bủng, đội chụp đèn lên cái đầu quấn khăn, đeo lên người rất nhiều lụa là và hạt cườm, vẻ nhút nhứt, lúng ta lúng túng,… Nhưng hắn đến đây để làm gì trên xe điện ngầm, mà sao không có tuỳ tùng hộ giá ? Họ đặt cho nhau những câu hỏi như thế và tự giải đáp cho nhau : “Thế hay là hắn đã đem tất cả các thứ đó đến tiệm cầm đổ rồi ?” ; “Có khi đã gửi tuốt ở kho hành lí nhà ga để đi chơi vi hành đấy”.
    Cuộc trò chuyện cứ thế tiếp diễn, và vị “quốc vương An Nam” không còn ra thể thống gì nữa, chỉ là một kẻ tiêu xài bừa bãi, chơi bời lén lút trên đất Pa-ri.
    Cái giá của Khải Định còn bị hạ thấp hơn nữa, khi đôi trai gái coi y không hơn gì một tiết mục giải trí rẻ tiền, thậm chí không mất tiền – khác với những trò giải trí khác ít nhiều đều phải mất tiền như xem hề Sác-lô hay xem vợ lẽ nàng hầu của vua Cao Miên,…
    Như vậy là sáng tạo ra tình huống nhầm lẫn, tác giả đã đem đến cho tác phẩm hiệu quả nghệ thuật vể nhiều mặt :

    – Làm cho câu chuyện trở nên vui và thú vị.
    – Giúp thái độ trần thuật có vẻ khách quan mà đòn đả kích lại mạnh mẽ hơn.
    – Nhân vật chính không có mặt mà lại được khắc hoạ đầy đủ và cụ thể hơn : phối hợp chân dung Khải Định trong y phục hoàng đế và chân dung của y trong bộ dạng “vi hành”.
    “Vi hành” được thuật kể dưới hình thức một bức thư gửi cô em họ ở quê nhà (dịch ra tiếng Pháp).
    Viết truyện dưới hình thức thư từ thực ra không có gì mới mẻ, độc đáo cả. Vấn đề là tác giả sử dụng hình thức này có thích hợp hay không và đạt được hiệu quả nghệ thuật như thế nào.
    Thư là thể văn hết sức tự do phóng túng, nghĩa là tha hồ bắt chuyển nọ sang chuyện kia, chuyển cảnh này sang cảnh khác, đổi giọng này sang giọng nọ. Trong thư, người ta có thể thông báo sự việc, thông tin, nhắn tin, có thể bộc lộ tâm tình hoặc trao đổi suy nghĩ thầm kín của mình. Thư riêng viết cho người thân thì có thể thực hiện đủ mọi chức năng như vậy. Bức thư “Vi hành” thuộc loại này.
    Chuyển giọng, chuyển cảnh linh hoạt
    Nhờ hình thức viết thư, tác giả đang từ giọng tự sự khách quan (tường thuật cuộc trò chuyện của đôi trai gái Pháp trên tàu điện ngầm ở Pa-ri) chuyển ngay sang giọng trữ tình thân mật khi tâm sự với cô em họ ở quê nhà. Có thể tìm thấy trong “Vi hành” nhiều giọng điệu khác nhau, khi nghiêm trang, khi lạnh lùng sắc sảo, khi thân mật tâm tình,… Tuy nhiên, giọng điệu chi phối tất cả vẫn là giọng mỉa mai, châm biếm, bề ngoài nhiều khi có vẻ nhẹ nhàng và vui nữa, nhưng thực ra đều là những đòn đả kích sâu cay, mãnh liệt :
    “- Đổi xe ở đây chứ, anh yêu ơi ?
    – Không, ga sau. Đúng lúc đó thì có một anh vua đến với chúng ta.
    – Em thì thích Sác-lô hơn. Với lại, vua, thì tốn lắm !
    – Đâu có ! Thế em còn nhớ buổi dạ hội thuộc địa ở Nhà hát Ca vũ đấy chứ ? Phải trả những nghìn rưỡi phơ-răng để xem vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên, xem tụi làm trò leo trèo nhào lộn của sư thánh xứ Công-gô ; hôm nay chúng mình có mất tí tiền nào đâu mà được xem vua đang ngay cạnh ? Nghe nói ông bầu Nhà hát Múa rối có ý định kí giao kèo thuê đấy,…”.
    Nhờ hình thức viết thư, tác phẩm cũng có thể chuyển cảnh một cách thoải mái : từ cảnh đi xe điện ngầm ở Pa-ri chuyển thẳng tới cảnh quê nhà thời thơ ấu của tác giả khi còn ngồi vắt vẻo trên đầu gối của ông bác để nghe kể chuyên cổ tích ; từ chuyện cải trang của vua Thuấn bên Tàu, vua Pi-e bên Nga, đến chuyện “vi hành” của những ông hoàng bà chúa vì những lí do “không cao thượng bằng”,…
    Liên hệ tạt ngang, so sánh thoải mái nhằm châm hiếm nhiều đối tượng một lúc.
    Thứ nhất là thư riêng, là một thể văn rất chủ quan, người viết có thể đưa ra đủ mọi cảm nghĩ tự do của mình, đồng thời liên tưởng tạt ngang từ đối tượng này đến đối tượng khác, nhiều khi chẳng có quan hệ dính dáng gì với nhau. Tác giả “Vi hành” đã làm như thế. Chẳng hạn từ câu chuyện “vi hành” của Khải Định, người viết đưa ra đủ thứ phán đoán giả định về hành vi bất chính và tư cách dơ dáy của y, với những “phải chăng ngài muốn”, “hay là… ngài muốn”. Ai cấm được người viết thư riêng cho người thân có thể suy luận thoải mái như thế. Đặc biệt, từ sự nhầm lẫn của đôi trai gái người Pháp, tác giả liên hệ một cách mỉa mai và bất ngờ đến bọn mật thám ở Pa-ri luôn luôn bám theo gót những người cách mạng Việt Nam theo lệnh của chính quyền phản động : “Cái vui nhất là ngay đến Chính phủ cũng chẳng nhận ra được khách thật của mình nữa, và để chắc chắn khỏi thất thố trong nhiệm vụ tiếp tân, Chính phủ bèn đối đãi với tất cả mọi người An Nam vào hàng vua chúa và phái tuỳ tùng đi hộ giá tuốt ! […] Có thể nói là các vị bám lấy đế giày tôi, dính chặt với tôi như hình với bóng. Và thật tình là các vị cuống cuồng cả lên nếu mất hút tôi chỉ trong dăm phút !”.
    “Vi hành” là một bằng chứng cho thấy, Nguyễn Ái Quốc – Hồ Chí Minh, tuy không bao giờ tự nhận là một nghệ sĩ, nhưng thật sự là một tài năng nghệ thuật. Tác phẩm đầy tính chiến đấu, nghệ thuật châm biếm độc đáo, linh hoạt và đa dạng, dường như mỗi chi tiết, mỗi câu, mỗi chữ đều mài sắc như những lưỡi dao phóng vào kẻ địch.

  • Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Vi hành (Nguyễn Ái Quốc)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích truyện ngắn Vi hành của Nguyễn Ái Quốc

    Bài văn mẫu

    Trong sáng tạo văn học của Nguyễn Ái Quốc nghệ thuật trào phúng chiếm một vị trí đặc biệt. Với nghệ thuật trào phúng Nguyễn Ái Quốc đã phơi bày bản chất tàn bạo, giả dối của chế độ thực dân Pháp. Cũng với nghệ thuật ấy. Người bày tỏ thái độ khinh bỉ đối với bọn vua quan bù nhìn bán nước cầu vinh, chỉ riêng đối với sự kiện Khải Định sang Pháp dự cuộc Đấu xảo thuộc địa. Nguyễn Ái Quốc đã sáng tác truyện ngắn Lời than vãn của bà Trưng Trắc và vở kịch Con rồng tre lên án và chế giễu sâu cay ông vua bù nhìn. Nhân kỉ niệm một năm chuyến đi ô nhục ấy, Nguyễn Ái Quốc viết truyện ngắn Vi Hành, biến Khải Định thành đối tượng của những cuộc đàm tiếu khinh bỉ. Vấn đề đặt ra cho tác giả là phải sáng tạo một hình thức nghệ thuật mới để không lập lại chính mình. Sự thành công của tác phẩm Vi hành đã chứng tỏ tài năng nghệ thuật dồi dào, sắc bén của nhà văn Nguyễn Ái Quốc.

    Thật vậy, nếu trong hai tác phẩm Lời than vãn của bà Trưng Trắc và Con rồng tre, Khải Định trực tiếp xuất hiện, thì ở đây, trong tác phẩm Vi hành, vua Khải Định vắng mặt. Vậy làm thế nào để cho Khải Định xuất hiện, đặng nhận lấy lời đàm tiếu nhục nhã và lời tố cáo sắc bén? Nguyễn Ái Quốc đã dùng biện pháp hóa không thành có- biện pháp hiểu lầm, nhận lầm một người An Nam là nhà vua đi “vi hành”, để tố cáo, chế giễu một cách cay độc. Ai là người có thể nhận lầm như vậy? Đó không thể là người An Nam, thần dân của ngài. Đó chỉ có thể là người dân Pháp hiếu kì và từ lâu đã không xem vua chúa như một đấng bề trên. Nguyễn Ái Quốc đã sáng tạo nên một đôi nam nữ người Pháp nhận lầm vua An Nam trên xe điện, và truyện ngắn mở đầu bằng cuộc tranh luận của họ. Chàng trai quả quyết đó chính là nhà vua, còn cô gái, người đã thấy nhà vua ở trường đua thì quả quyết là không phải, vì thấy thiếu mũ măng, nhẫn vàng, hạt cườm. Từ hai cách hiểu ấy mở ra hai hướng đàm tiếu: đàm tiếu về trang phục nhà vua và đàm tiếu về việc “vi hành” của ông.
    Việc đàm tiếu về trang phục nhà vua do đôi thanh niên nam nữ người Pháp thực hiện. Lợi dụng cách cảm nhận ngộ nghĩnh của họ đối với cách ăn mặc xa lạ. Nguyễn Ái Quốc đã biến ông vua thành một trò cười rẻ tiền: đầu đội chụp đèn, quấn khăn, tay đeo đầy nhẫn, mũi tẹt, mắt xếch, mặt bủng như quả chanh, không một chút uy nghi, đường bệ. Hơn thế, người bạn gái đã trông thấy nhà vua, hình dung vua là người “đeo lên người hắn đủ cả bộ lụa là, đủ cả bộ hạt cườm”, y như một mụ đàn bà. Còn người thanh niên thì xem vua như một trò vui mắt không phải mất tiền như xem “vợ lẽ nàng hầu vua Cao Miên”, hoặc “trò leo trèo, nhào lộn của sư thánh xứ Công Gô”. Thậm chí còn tung tin Nhà hát Múa rối định ký hợp đồng thuê nhà vua biểu diễn! Thật không còn lời báng bổ, khinh miệt nào hơn đối với một đức Hoàng Thượng! Nhưng đó là sự thật: Khải Định chỉ đóng được một vai hề rẻ tiền trong lịch sử!

    Việc đàm tiếu về truyện “vi hành” do kẻ bị nhận lầm – tác giả bức thư gửi cho cô em họ – thực hiện qua lời tâm sự trong thư. Đây là lời của một người An Nam, am hiểu nội tình nước Nam. Ở đây Nguyễn Ái Quốc dùng biện pháp “quá mù ra mưa” – nhân có người nói nhà vua “vi hành”, thế là người anh họ trong thư liền liên hệ với các cuộc “vi hành” của các vị vua vĩ đại như vua Thuấn, vua Pie, và bình luận nhạo báng về cuộc “vi hành” tưởng tượng của vua Nam. Đây là một đoạn văn nữa mỉa mai sắc bén, từ nào cũng nhằm phơi trần thân phận và nhân cách hèn hạ của tên vua.

  • Cảm nhận truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

    Cảm nhận truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

    Cảm nhận truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận của em về truyện ngắn “Tinh thần thể dục” của Nguyễn Công Hoan.

    Bài văn mẫu

    Cái duyên văn tự của Nguyên Công Hoan là ở những nụ cười trào phúng qua hàng loạt truyện ngắn đặc sắc, nhất là những tác phẩm được ông viết trong thời kì Mặt trận dân chủ Đông Dương (1936-1939). Tiếng cười trong tác phẩm của Nguyên Công Hoan mang tính chất chiến đấu và ý nghĩa phê phán sâu sắc.

    Truyện ngắn “Tinh thần thể dục” là một truyện ngắn đặc sắc, khác nào một truyện cười dân gian, một màn hài kịch có sáu lớp, lớp nào cũng đầy mâu thuẫn, đầy nghịch lí 1 đến tức cười, buồn cười!

    Lí trưởng lo sốt vó khi nhận được trát của quan huyện Lê Thăng. Lo “bị cữu” nếu không bắt đủ 100 người đưa lên sân vận động huyện đúng 12 giờ xem cuộc đá bóng 1 thi. Làng Ngũ Vọng lại phải có năm lá cờ (cờ phướn, cờ thần?) sẵn sàng từ 10 giờ 1 sáng. Trát quan chứ phải lời nói vu vơ đâu? Dưới chính sách khai hoá của ông Tây, 1 đám dân ngu khu đen của làng Ngũ Vọng lại phải ăn mặc tử tế, đi đứng nghiêm chỉnh, và phải vổ tay luôn luôn, nghe trát quan mà thầy lí không bứt tai vò đầu sao được? Cái hạn ngày 19 mars này đã đến rồi!

    Lí trưởng và bọn người tuần như lũ đầu trâu mặt ngựa – chạy như cờ lông công! Đám dân đen sẽ mở mày mỏ mặt, sẽ hạnh phúc phúc biết bao vì được xem cuộc đá bóng thi “nhiều chiến tướng đá rất hay mọi nhẽ

    Với anh Mịch, đi xem đá bóng sẽ mất một ngày công, “phải đi làm trừ nợ cho ông Nghị”, nếu không sẽ bị ông Nghị “đánh chết”, ông ấy “ghét”, vợ con sẽ “chết đói”. Cái mặt “nhăn nhó” đến thảm hại, tiếng van xin nghe thật ai oán: “Lạy ông, ông làm phúc tha cho con…”, “cấn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy…”, Lí trưởng “giơ roi song to bằng ngón chân cái lên trời” dậm doạ: “chết đói hay chết no tao đây không biết… Hôm ấy, mà mày không đi, tao sai tuần đến gô cổ lại, đừng kêu”. Người dân khốn nạn như anh Mịch thì bị bắt đi xem đá bóng khác nào bị bắt đi phu. Cái tinh thần thể dục của anh ta là như thế đó!

    Bác Phô trai cũng được thầy lí “ưu ái” cho đi xem đá bóng. Nhưng bác ta đang ốm, làm sao đi bộ được “những chín cây lô mếch”. Dù vợ con cố van xin, nhưng với thầy lí thì không thể hoãn được: “Ôm gần chết cũng phải đi. Lệnh quan như thế. Ai cũng lấy cớ ốm yếu mà không đi, thì người ta đá bóng cho chó xem à?ụ Thầy lí ác khẩu hay nhà văn ác khẩu? Ai nghe được câu nói ấy cũng phải bật cười về sự thô lỗ cửa thầy lí, bật cười về cái tinh thần thể dục của đám dân đen nô lệ! Đã có một thời vua cấm đàn bà mặc váy đi ra ngoài đường:

    Chiếu từ trong nớ ban ra,

    Cấm quần không đáy người ta hãi hùng.

    Không đi thì chợ không đông,

    Đi thì phải mượn quần chồng sao đang.

    Có quần ra quán bán hàng,

    Không quần ra đứng đầu làng trông vua.

    Ca dao

    Bác Phô gái thật “sáng kiến” xin nghỉ buổi chợ để đi xem đá bóng thay chồng, nhưng không thể được. Thầy lí cho biết: “Phải là đàn ông kia. Chứ nữ nhân ngoại tộc, ai kể”, Chi tiết này cũng rất hóm hỉnh phản ánh tinh thần thể dục của dân ta!

    Kẻ có máu mạt như bà cụ phó Bính thì phải thuê thằng Sang đi thay con mình, nhưng đã phải biện một cái lễ “ba hào” dâng cho thầy lí. Ông ta “nhăn mặt, nhặt ba hào, bỏ túi” rồi nói một cách khó đễ: “Tôi nhận lễ của con bà mà tôi lo lắm. Việc quan nào phải việc chơi”. Đây cũng là một chi tiết trào phúng không chỉ có giá trị châm biếm cái tinh thần thể dục của dân An Nam mà cộn đả kích thói ăn bẩn của bọn quan lại, hào ĩí ngày xưa. Người đọc lại nhớ đến hình ảnh quan phụ mẫu vừa đòi tiền anh Pha vừa đưa tay vét cái đĩa không để trước mặt ba bốn lần, nhớ tới chuyện huyện Hình ăn bẩn đồng hào của con mẹ Nuôi. Những đòn đả kích của Nguyễn Công Hoan lúc nào cũng sắc nhọn, hóm hỉnh.

    Thằng Cò cũng được ông lí bắt đi xem đá bóng. Hắn đi xem đá bóng thì sẽ mất một buổi làm, con hắn sẽ chịu đói. Vả lại, hắn “không mượn đâu được quần áo” để đi! Hắn phải trốn trong đống rơm khi nghe tiếng ông lí quát, ông lí nói oang oang, khi tiếng dạ râm ran của bọn tuần cất lên “giữa những tiếng chó rống dậy”. Hình ảnh cha con thằng Cò thật thảm hại: thằng bé con nhắm nghiền mắt, ôm chặt lấy bố, sợ quá không khóc được; còn thằng Cò bị bọn tuần “ỉôỉ xềnh xệch” điệu ra đinh. Với thằng Cò thì việc phải đi xem đá bóng là một tai hoạ. Không đi cũng không được, trốn tránh cũng không xong. Hắn sẽ bị ông lí “đánh sặc tiết”.

    Đoạn thứ sáu, ông lí xuất hiện trên sân khấu hề. Ông đã “săn”, đã “tróc”, đã quát tháo om sòm mấy ngày liền thế mà cũng chỉ bắt được 94 người. Ồng bắt “94 thằng” phải xếp hàng năm đi lên huyện xem đá bóng. Bọn tuần phải đi kèm, còn ông thì “lo lắng, đi cuối cùng, mắt nhanh nhẹn để coi cẩn thận như coi tù binh”. Thiếu những sáu người, sao thầy lí chẳng lo, thầy đã “tuân cứ’ nhưng khổ vì nỗi cái tinh thần thể dục của đám dân ngu khu đen Ngũ Vọng chỉ có rứa! Không khéo thầy lí sẽ “bị cữu”, bị mất triện đồng! Ở cái lớp thứ sáu của màn kịch, ta được nghe hai lần ông lí “nghiến răng” nói, trợn mắt chửi:

    Chúng nó ngu như lợn. Người ta cho xem đá bóng chứ ai làm gì mà cũng phải bắt. Rồi quan thấy không đủ số, lại chửi ông không tận tâm.

    – Mẹ bố chúng nó, cho đi xem đá bóng chứ ai giết chết mà phải trốn như trốn giặc!

    Miệng ông lí quả là sang “cố gang cố thép”. Ông đã nói lên sự thật đến đau lòng và buồn cười về cái tinh thần thể dục của dân An Nam dưới sự bảo hộ và khai hoá của thực dân Pháp.

    Nguyên Công Hoan đã vạch trần những nghịch những mâu thuẫn để châm biếm và đả kích tính chất bịp bợm của “phong trào thể dục thể thao” mà thực dân Pháp cổ động rầm rộ nhằm đánh lạc hướng thanh niên ta hồi đó. Khi dân đói khổ, cơm không có mà ăn, áo không có mà mặc, ốm đau không có thuốc thì ai dở hơi mới đi xem đá bóng!

    “Tinh thần thể dục là một truyện ngắn đặc sắc và độc đáo thể hiện bút pháp nghệ thuật trào phúng sắc nhọn của Nguyễn Công Hoan. Nó còn chứa đựng một ý vị triết lí sâu xa để mọi người cùng nghĩ về mọi cái phù phiếm trong xã hội.

  • Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

    Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

    Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Tinh thần thể dục (Nguyễn Công Hoan)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích truyện ngắn Tinh thần thể dục của Nguyễn Công Hoan

    Bài văn mẫu

    Nguyễn Công Hoan là nhà văn hiện thực trước Cách mạng tháng tám. Ông thường viết các thể loại truyện ngắn, truyện dài nhưng sở trường là truyện ngắn trào phúng. Ngôn ngữ truyện của ông gần gũi, đời thường, tự nhiên, linh hoạt. Tinh thần thể dục được Nguyễn Công Hoan cho in báo năm 1939, nội dung đả kích phong trào thể thao do thực dân Pháp bày ra để đánh lạc hướng thanh niên.

    Nhan đề truyện ngắn chứa tương phản trào phúng cơ bản của truyện và ý nghĩa phê phán toát ra từ sự tương phản ấy. Tinh thần thể dục thể thao bình thường luôn đem lại sự hào hứng, hăng say, phấn chấn ; thể hiện tinh thần tự nguyện, tranh đua, mang đến niềm vui lành mạnh. Nhưng trong truyện thì ngược lại hoàn toàn, chỉ thấy ép buộc, răn đe, không khí căng thẳng, điêu đứng, là nỗi đau khổ, là thứ tai họa giáng xuống, xóm làng bị một phen náo loạn, tan tác.

    Vì sao dân làng Ngũ Vọng đón tin thể thao như vậy?

    Dân tình đói khổ, đang chạy ăn từng bữa còn tâm trí đâu mà nghĩ đến chuyện thể thao. Bọn thực dân bày ra, bọn tay sai mẫn cán thực hiện, ép buộc dân chúng đi xem bóng đá, khiến họ rơi vào tình cảnh dở khóc, dở cười. Nhan đề truyện toát lên ý nghĩa tố cáo trò lừa bịp bợm của thực dân và bọn quan lại tay sai cố làm vừa lòng quan thầy chúng, mặc tình nhân dân phê phán thứ thể thao xa lạ làm nguy hại đến mạng sống người dân nghèo.

    Mở đầu truyện, tác giả trích nguyên văn tờ trát của quan tri huyện Lê Thăng đầy tính hài hước, bịp bợm. Cách mở truyện tự nhiên, đột ngột, gây chú ý cho người đọc (yếu tố hiện đại trong văn xuôi). Ngôn ngữ hành chín của tờ trát rất cổ lỗ : sức, tuân cứ, cữu. Lời lẽ nghiêm trang đầy vẻ hăm dọa : … đúng 12 giờ trưa đến xem, không được khiếm diện,… nếu không tuân lệnh sẽ bị cữu (bị kết tội), xen vào là những lời quảng cáo rất buồn cười : … có cuộc đá bóng thi, nhiều chiến tướng đã rất hay, mọi nhẽ.

    Tờ trát đã làm hiện lên bóng dáng trên tri huyện Lê Thăng : vừa hô hào, vừa hăm dọa với thái độ tay sai mẫn cán, lộ rõ tính chất bịp bợm. Ý nghĩa phê phán nhờ đó mà được thể hiện. Tờ trát bay về làng như mang theo dịch bệnh. Dân tình nghèo đói bị một phen náo động.

    Xem cảnh nhà lí trưởng sẽ thấy rõ tình cảnh khốn đốn của nhân dân. Đây là màn kịch giàu kịch tính.

    Cảnh 1 : Anh Mịch đến tận nhà ông Lí cố xin nghỉ đi xem đá bóng, ông Lí thì cố bắt. Lí do anh ta đưa ra rất chính đáng : nghỉ làm cho ông Nghị thì sẽ bị ông ấy đánh chết. Mà không đi làm thì vợ con chết đói. Anh Mịch van : “Cắn cỏ con lạy ông trăm nghìn mớ lạy… Ông thương phận nào con nhờ phận ấy”. Ngôn ngữ an Mịch tự nhiên còn điệu bộ thật bi hài. Đi xem bóng đá là một tình thế nguy hiểm, tai họa này lôi thêm tai họa khác : ông Nghị giận là chết. Người nông dân đang mang hai cái ách trên cổ : bọn nhà giàu và bọn quan lại.

    Ông Lí lạnh lùng : “Kệ mày! Theo lện quan, tao chiếu sổ đinh, thì lần này đến lượt mày rồi… không đi, tao sai tuần đến gô cổ lại”. Hỗ trợ cho lời nói, ông giơ cái roi song to bằng ngón chân lên trời hăm dọa, ép buộc. Bản chất việc đi xem bóng đá là một thứ đi phu nặng nề, còn ông Lí là một tên tay sai u tối.

    Cảnh 2 : Bác Phô đến van nài xin cho chồng nghỉ xem đá bóng. Lí trưởng thẳng thừng từ chối. Lí do bác đưa ra rất thiết tha : Chồng bác ốm, ra nắng sẽ chết ốm. Thấy tình thế không xuôi, bác Phô xin đi xem đá bóng thay cho chồng cũng không được. Đây là chi tiết hài. Ngôn ngữ bác Phô bình dân tự nhiên, dáng ngồi xổm rất nhà quê, chất phác.

    Lí trưởng bác bỏ : Không được, theo lệnh quan ốm gần chết cũng phải đi, “Không đi, thì người ta đá bóng cho chó xem à ?”. Bác gái đi thay cũng không được vì phận nữ nhi. Ngôn ngữ lí trưởng thô tục, hài hước nhưng lột tả được bản chất vấn đề.

    Bác Phô lâm vào tình thế cùng đường. Xem đá bóng quả là tai họa, nguy ại đến tính mạng.

    Cảnh 3. Người tương đối khá giả trong làng là cụ phó Bính thì giải quyết bằng cách thuê người đi xem đá bóng thay co con trai nhưng cũng phải lo đút lót cho ông lí để che giấu sự phạm pháp. Thậ bi hài.

    Ông Lí chấp thuận, nhưng… nhăn mặt, nhặt ba hào, bỏ túi còn rên rỉ: “Làm việc mà gặp phải những người như con bà, thì tôi chết mất”. Ông đa đang đóng kịch, bộ mặt rất kịch, hài hước. Cẩn thẩn, ông còn dặn thêm phải bảo thằng Sang nắm cơm từ chiều hôm trước. Tai họa vì đi xem đá bóng cứ phình to.

    Mẫn cán đến thế mà sáng hôm sau vẫn không đủ một trăm người đi xem đá bóng. Tờ mờ sáng, cảnh lùng sục, bắt bớ náo động : tiếng ông lí quát giữa sân đình, tiếng bọn tuần dạ rạn, những ngọn đuốc kéo đi các ngả, tiếng chó rống dậy. Nghệ thuật miêu tả âm than, ánh sáng… đã dựng lên khung cảnh sống động, tạo không khí căng thẳng, náo loạn mang tính chất khủng bố (giống nạn bắt người trốn sưu thuế).

    Đêm trước người ta tản cư sang làng bên để lánh nạn cả, may mắn bắt sống được anh Cò đang ôm con trốn trong đống rơm. Người ta moi anh ra rồi đi xềnh xệch. Một cảnh tượng bi hài. Lí do trốn : anh không mượn được quần áo để mặc, với lại không đi làm thuê thì chết đói cả nhà.

    Cảnh đoàn người được dẫn đi xem đá bóng thất thểu, thảm hại như cảnh đi phu nhưng bên ngoài thì giống như đi giễu hành : “xếp hàng năm lại, đi cho đều bước”. Bọn tuần và lí trưởng đi theo cánh giữ cẩn thận chẳng khác gì giữ đám tù nhân. Thật bi hài.

    Kết thúc là tiếng chửi đổng của ông Lí, khi vừa đi kèm canh gác đoàn người: “Mẹ bố chúng nó, cho đi xem đá bóng chứ ai giết chết mà phải trốn như trốn giặc”. Chi tiết này là đỉnh cao của màn cao trào phúng bộc lộ bản chất sự kiện : thể thao là một thứ giặc và làm toát lên chủ đề của truyện.

    Truyện thành công trong nghệ thuật trào phúng: tạo tình huống tương phản trào phúng ; cách dẫn truyện, dựng cảnh ; nhiều chi tiết gây cười ; ngôn ngữ trào phúng sử dụng đắc địa.

    Truyện Tinh thần thể dục đả kích phong trào thể thao bịp bợm do thực dân chủ trương, bọn tay sai mẫn cán ra sức thực hiện trở thành tai họa khốn khô cho nông dân.

  • Phân tích tình cha con trong tác phẩm Cha con nghĩa nặng

    Phân tích tình cha con trong tác phẩm Cha con nghĩa nặng

    Phân tích tình cha con trong tác phẩm Cha con nghĩa nặng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Phân tích và nêu cảm nghĩ về tác phẩm Cha con nghĩa nặng

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tình cha con qua hai nhân vật Sửu (người cha) và Tí (người con) trong đoạn trích tác phẩm “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh

    Bài văn mẫu

    Hồ Biểu Chánh là một nhà văn rất quen thuộc của nhân dân Nam bộ. Ông là tác giả của hơn 60 cuốn tiểu thuyết, ông được xem là một trong số ít người tiên phong đặt nền móng cho tiểu thuyết Việt Nam hiện đại. Tiểu thuyết của ông chẳng những đã phản ánh một phong cách phong phú và chân thật cuộc sống của nhân dân Nam bộ mà còn thể hiện đạo đức tốt đẹp của con người giữa cuộc đời. Tiểu thuyết Cha con nghĩa nặng đã nêu bật tình cảm sâu sắc xúc động của nhân vật cha Sửu và nhân vật con Tí mà đoạn hiện in trong sách Văn 11 là một trường hợp tiêu biểu.

    Trước hết ta thấy đoạn trích hiện lên trước mặt người đọc hình ảnh của ba nhân vật, song điều đáng quan tâm thì chỉ có hai (Sửu và Tí). Mặc dù chỉ qua một đoạn trích nhưng số phận của nhân vật Sửu hiện lên khá đầy đủ. Trần Văn Sửu sống trong hoàn cảnh thật éo le. Do vô tình, ông mang tiếng là người giết vợ. Sợ pháp luật săn đuổi trừng trị, Trần Văn Sửu phải sống chui lủi, đến tên tuổi tung tích của mình cũng phải tìm cách xóa sạch. Trên mười năm trời, Trần Văn Sửu phải chịu đau khổ về thể xác, tâm hồn, chịu cảnh cắn rứt dằn vặt của lương tâm. Những điều này được thể hiện qua lời nói của nhân vật khi gặp lại bố vợ và đứa con trai yêu quý của mình. Tác giả chưa miêu tả chiều sâu của nội tâm nhân vật chủ yếu dùng hành động và lời nói để thể hiện phẩm chất đạo đức của Trần Văn Sửu. Trong hoàn cảnh cuộc sống không đáng sống, thậm chí Trần Văn Sửu đã sống những ngày không ra cuộc sống của con người nhưng ông đã không chết được vì lòng thương con, vì sự cắn rứt của lương tâm. Ông vốn là người lương thiện, hiền lành chất phác, thương vợ, thương con mà vợ ông lại là con người đàng điếm lăng loàn. Ông sợ là khi mình chết đi mà các con ông không hiểu được cha của nó một cách đúng đắn, chúng sẽ sống trong đau khổ vì là con của người cha tàn bạo. Rõ ràng Trần Văn Sửu có cõi tâm cao thượng chỉ muốn riêng mình nhận lấy nỗi khổ đau cùng với người vợ bất hạnh, không muốn những đứa con ngây thơ trong trắng của mình phải chịu vạ lây, không muốn cho tâm hồn chúng vẩn lên những nỗi đau u uất. Thì ra những năm tháng sống đau khổ về thể xác, về tâm hồn, ông Sửu đã không chết, vì thương con, vì ý muốn tốt đẹp cho con.

    Ông Sửu bươn bả về làng tìm gặp lại những đứa con sau bao năm tháng chờ đợi con khôn lớn để có thể giãi bày cùng chúng. Đây là lúc ông có thể thực hiện điều tâm niệm ấy. Gặp lại bố vợ, ông Sửu chấp nhận tất cả những lời mắng nhiếc, sỉ nhục để đạt được mục đích của mình. Trần Văn Sửu đã nói với cha vợ những lời chứa chan nước mắt đau khổ, làm hiện lên nguyên vẹn tấm lòng thương con vô hạn của người cha. Nỗi nhớ thương con cháy lòng khiến ông trở thành người kiên quyết: “xăm xăm bước đi về cửa”, “lột nón xuống mà cầm trên tay”. Mặt khác cũng chính vì lòng thương con, khao khát được gặp mặt con khiến ông trở thành người mềm yếu một cách chân thực: “… cúi mặt ngó xuống đất, hai hàng nước mắt chảy ròng ròng… Trần Văn Sửu nói tới đó rồi khóc rấm rứt”. Trần Văn Sửu than rằng: “Mười một năm nay cực khổ hết sức, song ráng mà sống, là vì trông mong có ngày thấy được mặt con. Nay về đến đây, chưa gặp con được mà phải đi, thì làm sao được, trời đất ơi!”. Chỉ bằng một lời than thế thôi mà cũng gợi ra trước mắt ta cuộc đời khổ ải của Trần Văn Sửu và nỗi lòng yêu thương con da diết, muốn gặp mặt con dù một chút mà cũng không được. Nỗi nhớ thương con cháy lòng khiến Sửu không kiềm giữ được đã thốt thành lời: (3 lần với Hương Thị Tào):

    “… Con thương sắp nhỏ quá”

    “… Con thương nhớ chúng nó quá tía ơi!”

    “… Con nhớ sắp nhỏ quá”.

    Chính tấm lòng yêu thương con của ông Sửu đã lay thức và làm bừng tỉnh những tình cảm tốt lành trong Hương Thị Tào. Từ chỗ ông nhiếc mắng ban đầu “Mày thiệt là đồ khốn nạn lắm. Đi liền bây giờ đi… đừng có về đây nữa” đến chỗ ông già cũng nghẹn ngào xúc động cùng Sửu: “Hương Thị Tào nghe mấy lời thảm thiết ấy thì cảm động quá, chịu không nổi, nên ông cũng khóc”. Sau khi nghe Hương Thị Tào cho biết là các con vẫn thương mình, Trần Văn Sửu chỉ muốn được nhìn thấy mặt chúng dù phải dấu mình dưới dạng người Thổ. Chi tiết đó thể hiện rất rõ nỗi lòng thương con của người cha bất hạnh. Sửu trở về nhà khao khát gặp con bao nhiêu thì sẵn sàng lặng lẽ ra đi bấy nhiêu khi biết được các con đã hiểu đúng mình và chúng sắp sửa được sống sung sướng hạnh phúc. Vì sợ liên lụy đến con, ông Sửu sẵn sàng từ bỏ khát vọng cháy bỏng trong lòng mình là được gặp lại chúng. Trần Văn Sửu vui lòng “lãnh các sự đau đớn cực khổ, buồn rầu đó, miễn là con được giàu có, sung sướng thì thôi”. Vĩnh biệt người bố vợ hiền từ nhân ái, ông Sửu ra đi quyết tâm không về nữa.

    Bằng một đoạn văn đọc thoại nội tâm: “Bây giờ mình còn sống nữa làm gì! Bấy lâu mình lăn lóc chịu cực khổ mà sống, ấy là vì mình thương con, mình sợ nó không hiểu việc xưa rồi nó trở oán mình, mình sợ nó bơ vơ, đói rách, mà tội nghiệp thân nó. Bây giờ mình biết rõ nó thương mình, nó còn kính trọng mình, mà nó lại gần được giàu có sung sướng hết thảy nữa, vậy thì mình nên chết rồi, chết mới quên hết việc cũ được, chết đặng hết buồn rầu, cực khổ nữa”, một đoạn văn rất mới so với văn học trung đại, Hồ Biểu Chánh đã tái hiện được vẻ đẹp tâm hồn của người cha: Sửu trở về cũng là vì muốn gặp được con, lầm lũi ra đi vĩnh viễn cũng là vì con. Hai thái cực đó làm hiện lên tấm lòng nhân ái của người cha bất hạnh một tình huống éo le. Và bây giờ ông muốn chết đi, nên chết để “quên hết việc cũ”, “hết buồn rầu, cực khổ”, chết để khỏi liên lụy đến con! Tiếp đó, Hồ Biểu Chánh đã để cho nhân vật hồi tưởng lại quá khứ sống vì con, chết vì con của đời mình (“Anh ta nghĩ như vậy rồi nhắm mắt lại”…). Trong trí tưởng tượng của ông Sửu, hình ảnh của người vợ khi chết như là nỗi ám ảnh về tội lỗi dai dẳng, giày vò tâm can ông. Điều đó làm ông muốn chết và quên đi chuyện cũ để hết nỗi đau khổ. Mặt khác hình ảnh thơ ngây của những đứa con ngoan ngoãn làm cho ông đau đớn trong lòng, trong tận cùng của nỗi đau ấy, cái đẹp của lòng lương thiện và tình thương con cũng ngời sáng. Nhân vật Trần Văn Sửu trong đoạn trích Cha con nghĩa nặng như là hiện thân của những phẩm chất đạo đức truyền thống giàu tính nhân bản. Con người hiền lành lương thiện ấy đã phải sống một cuộc đời bất hạnh, song lòng lương thiện, đức vị tha bao dung, tình thương con của người cha đó vừa có tác dụng truyền cảm vừa có ý nghĩa giáo dục sâu sắc. Câu chuyện được kết cấu theo trật tự thời gian, nhân vật được khắc họa chủ yếu qua hành trang và lời nói, mục đích sáng tác nhằm giáo huấn, tuyên truyền đạo đức. Đó là những điều chúng ta gặp trong văn học dân gian và văn học trung đại. Nhìn chung cuộc gặp gỡ giữa Sửu và bố vợ là một trường đoạn bộc lộ tâm trạng. Đó là nỗi khát khao tình cảm của một người cha đối với con, là sự giãi bày những uẩn khúc đã giấu trong lòng suốt 11 năm trời. Sở dĩ 11 năm qua Trần Văn Sửu chưa muốn kết thúc cuộc đời mình chính là mong có phút gặp gỡ cùng con. Nhưng chưa gặp con là đã gặp lại người bố vợ. Ngôn ngữ đối thoại ở đây đầy tâm trạng và rất xúc động đồng thời mang sắc thái ngôn ngữ Nam bộ đặc sắc. Sự phát triển tính cách nhân vật ở đoạn này dựa trên quy luật tâm lí và hoàn toàn hợp lí. Đó là một thành công trong xây dựng nội tâm nhân vật của tác giả. Tác giả khéo tạo tình huống để nhân vật có thể bộc lộ nội tâm của mình.

    Bên cạnh tình cảm của người cha đối với con thật sâu sắc, là tấm lòng hiếu nghĩa của đứa con khi gặp lại cha sau 11 năm xa cách. Dường như 11 năm trời hình bóng người cha không thể nào phai mờ trong đứa con hiếu nghĩa. 11 năm trôi qua. Tí (con) phải sống thiếu tình thương yêu của người cha đối với mình, chính vì thế khi gặp lại người cha, tình phụ tử trào dâng choán ngập hết tâm hồn Tí. Lúc này đây Tí chỉ biết có mình cha, khao khát được sống trong tình thương yêu của người cha.

    Tình nghĩa sâu nặng giữa hai cha con Tí đem đến cho ta niềm xúc động thật thấm thía. Bởi tình nghĩa đó không hiện diện ở một phía (Sửu) mà đến từ hai phía như một sự gặp gỡ vừa tất yếu vừa thiêng liêng. Trước hết tình thương cha, hiểu cha, muốn gắn bó với cha khiến cho Tí trở nên đĩnh đạc và chủ động. Nó đĩnh đạc và chủ động hỏi ông ngoại: “Cha tôi đi đâu rồi ông ngoại?”. Đĩnh đạc và chủ động chạy theo cha khi Sửu bỏ đi. Nó đâm đầu chạy riết theo, tiếng nói cất thêm từ niềm sâu thẳm của tình nghĩa phụ tử sao mà xúc động: “Ai đó? Phải cha đó không, cha?”. Trong khi Trần Văn Sửu muốn tự tử kết thúc cuộc đời đau khổ của mình thì Tí đến với tấm lòng yêu cha chân thành, đã cứu cha trở về với cuộc sống. Cảnh cha con gặp nhau thật cảm động, sinh động và giản dị: “Thằng Tí chạy riết lại nắm lấy tay cha nó, dòm sát trong mặt rồi nhìn mà ôm cứng trong lòng mà nói: “Cha ôi! Cha! Cha chạy đi đâu giữ vậy”. Lúc ấy Trần Văn Sửu mất trí khôn, hết nghị lực, máu trong tim chảy thình thịch, nước trong con mắt tuôn ròng ròng, đứng xui xị xui lơ, không nói được một tiếng chi hết”. Khi gặp được cha rồi, Tí nhất quyết không rời cha nửa bước. Cậu ta kiên quyết: cha đi đâu con theo đó”, “Hễ cha đi thì con đi theo”, “Đi theo đặng mà làm mà nuôi cha; chừng nào cha chết rồi con sẽ về”. Mặc dù đã mười một năm không gặp cha, không được cha âu yếm, nuôi nấng, nhưng khi được gặp, mối tình phụ tử lập tức tràn đầy. Như vậy, Trần Văn Sửu trở về cũng vì con mà ra đi cũng vì con, cho nên Tí cũng vì cha mà đi theo cha để chăm sóc cha quên đi cuộc sống hiện tại mình… Ấy chính là cái “nghĩa nặng” của tình cha con thể hiện ở đây.

    Tóm lại: Đoạn trích Cha con nghĩa nặng in trong sách giáo khoa văn 11 là một cuộc gặp gỡ đầy xúc động và chứa chan nước mắt giữa cha con ông Sửu, Qua những tình huống đầy kịch tính, tác giả đã nêu bật cái đẹp nội tâm của hình tượng nhân vật cha và con. Ở đây cha nghĩ về con là hết lòng và đối với cha cũng hết nghĩa. Đoạn trích bên cạnh nghệ thuật miêu tả dựng cảnh khác, hấp dẫn phải nói đến ngôn ngữ nghệ thuật của tác giả. Cha con nghĩa nặng mang dấu ấn của thời kỳ đầu văn chương đổi mới theo xu hướng hiện đại. Trước hết nó được viết bằng chữ quốc ngữ, bằng lời ăn tiếng nói đời thường (bởi ngôn ngữ đời thường), bằng những câu văn xuôi rất mới mẻ, tuy nhiên vẫn còn rơi rớt của lối văn biền ngẫu “Trên trời trăng thanh vằng vặc, dưới sông dòng bích nao nao…”. Truyện mang dấu ấn của buổi giao thời…

  • Phân tích và nêu cảm nghĩ về tác phẩm Cha con nghĩa nặng

    Phân tích và nêu cảm nghĩ về tác phẩm Cha con nghĩa nặng

    Phân tích và nêu cảm nghĩ về tác phẩm Cha con nghĩa nặng

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Tóm tắt tác phẩm Cha con nghĩa nặng

    [toc]

    Đề bài: Phân tích và nêu cảm nghĩ của em về tác phẩm “Cha con nghĩa nặng” của Hồ Biểu Chánh.

    Bài văn mẫu

    Đoạn trích “Cha con nghĩa nặng” thuộc nửa sau Chương IX – cuốn tiểu thuyết thứ 15 của Hồ Biểu Chánh. Thật không có nhan đề nào hay hơn để thay thế. Câu chuyện kể có nhiều tình huống éo le và cảm động. Các tình tiết đan chéo vào nhau làm nổi bật những đức tính tốt đẹp của Trán Văn Sửu, của thằng Tí trước bi kịch gia đình.

    Sau mười mấy năm phải thay họ đổi tên, làm thuê làm mướn kiếm sôhg ở quê người, nỗi khổ tâm đầy ắp trong lòng Trần Văn Sửu là nỗi nhớ day dứt, triển miên hai đứa con thơ tội nghiệp, là thằng Tí và con Quyên, ở nơi đất khách quê người, người cha đau khổ vì sau ngày nhỡ tay xô vợ ngã chết, lương tâm cứ cắn rứt mãi không thôi. Sửu sợ hai con “không hiểu việc xưa rồi nó trở oán mình “, lại sợ con sống trong cảnh côi cút “hơ vơ đói rách, mà tội nghiệp”. Mẹ thì đã chết rồi, cha còn hay mất? Con không cha như nhà không nóc!

    Sau hơn mười năm trốn tránh nơi quê người, Sửu bí mật trở về Giồng Ké với ước nguyện được thăm con, được nhìn tận mặt con dù chỉ trong một lát mà cũng không được. Hình ảnh Sửu “chắp tay xá cha vợ rồi đội nón lên và bươn bá bước ra lộ” giữa đêm trăng, trông thật đáng thương. “Ông ngoại giấu tôi tàm chỉ? Sao đuổi cha tôi đi? ” — Câu hòi ấy của thằng Tí đâu chỉ là lời trách móc ông ngoại nó, mà còn biểu lộ tình cảm của đứa con khao khát được gặp lại người cha thân yêu của mình. Tình thương cha vô hạn của đứa con thơ trước bi kịch gia đình đã làm ta rơi nước mắt.


    Cảnh thằng Tí chạy vượt qua cánh đồng Phú Tiên đã cho thấy tình cha con sâu nặng biết bao!

    Ngồi trên cầu Mê Tức, Sửu ân hận nhớ lại hình ảnh vợ lúc chết “nằm ngay đơ trên bộ ván, miệng nhểu mấy giọt máu đỏ lòm, mắt hết thán mà còn mở trao tráo”. Anh quên sao được hình ảnh con Quyên, thằng Tí “đứa níu áo, đứa nắm tay mà nói dỏ dẻ” mỗi buổi chiều khi anh ở ruộng đi vể. Những kỉ niệm ấy đã làm cho Sửu “đau đớn trong lòng quá, chịu không dược “. Trưóc khi định nhảy xuống sông tự tử, Sửu cất tiếng nhản gọi con thơ: “Cha chết nhé ! Mấy con ở lại mạnh giỏi, dể cha theo mẹ con cho rỗi”. Lỗi kêu thương vĩnh biệt ấy đã thể hiện một cách sâu sắc tình cha con nghĩa nặng vô cùng.

    Tâm trạng đau đón vì nhớ thương con của Trần Văn Sửu khi ngồi trôn cầu Mê Tức đã được Hồ Biểu Chánh miêu tả một cách chân thực, tinh tế. Cảnh hai cha con Trần Vàn Sửu gặp nhau trên cầu Mê Tức sau những năm dài biệt li được ghi lại một cách cảm động. Thằng Tí đã đến kịp thời, nếu chỉ chậm vài bước chân thì cha nó đã về bên kia thế giới. Thấy người chạy lên cầu, nó vội hỏi: “ai đó? Phải cha đó không, cha? thì Trần Văn Sửu tháo đầu khỏi lan can cầu “rồi day mà ngố”. Thằng Tí xúc động đến cưc đô, hắn “chạy riết lạỉ nắm tay cha nó, dòm sát trong mắt mà nhìn rồi ôm cứng “; cha nó vào lòng. Nó kêu, nó khóc hay nó tủi cực? Nó nói, nó hỏi liên tiếp: “Cha ôi! Cha! Cha chạy đi đâu dữ vậy?”. Cử chỉ, hành động và lời nói của đứa con trai tội nghiêp đã làm cho người cha bồi hồi, bàng hoàng “mất trí khôn, hết nghi lưc, máu trong tim chảy thình thịch, nước trọng mắt tuôn ròng ròng, đứng xui xị xui lơ, không nói được một tiếng chi hết “. Hai cha con cứ “ôm nhau mà khóc “. “Đến bây giờ mới thấy đây – Mà lòng đã chắc những ngày một hai (Truyện Kiều). Con thì tưởng cha đã chết;cha lại tưởng không bao giờ được gặp lại con. Thế mà giờ đây, trên cầu Mê Tức ở quê nhà, khi “trên trời trăng thanh vằng vặc; dưới sông dòng bích nao nao “, hai cha con anh nông dân hiền lành, chất phác lại được gặp nhau, tưởng như trong mơ. Đây là một trong những đoạn văn nhiều ý vị nhất trong tác phẩm “Cha con nghĩa nặng”. Hổ Biểu Chánh đã sử dụng lời ăn tiếng nói chân quê của những người dân ấp dân lân để miêu tả tâm trạng hai cha con Trần Văn Sửu một cách khá tinh tế, xúc động. Cách chúng ta ngày nay ngót một thế kỉ mà có được những trang văn xuôi đậm đà như thế, thật đáng quý. Nhà văn Hồ Biểu Chánh đã sinh ra và lớn lên ở miệt vườn vùng đồng bằng sông Cửu Long, ngòi bút và tâm hồn ông đã gắn bó, hoà quyện với hơi thở và nhịp sống cần lao của người nông dân Nam Kì nên mới viết được chân thực như vậy.

    Trần Văn Sửu không thể vể sống lại nơi quê nhà. Làng tổng sẽ bắt, anh sẽ phải đi tù. Nếu sự việc xảy ra thì hạnh phúc và cuộc sống của hai đứa con của anh sẽ gặp nhiều khó khăn, trắc trở. Nếu lại ra đi, sống lẩn lút nơi các sóc người Thổ ở Ba Si, Láng Thó thì sẽ thương nhớ con, lòng người cha sao đành? Thằng Tí thì chỉ vì muốn theo cha, “đi theo đặng làm mà nuôi cha; chừng nào cha chết rồi con sẽ về”. Tục ngữ có câu: Trẻ cậy cha, già cậy con”. Có phụng dưỡng cha mẹ lúc ốm đau, già nua thì mới trọn đạo làm con, mới “tròn chữ hiếu”. Thằng Tí chỉ có một ý nguyện: “Bây giờ có một mình cha nghèo khổ, vậy con phải làm mà nuôi cha chứ”. Chuyện cha trở vé hay cha lại ra đi, chuyện để cha ra đi một mình, hay con đi theo cha đến tận xứ người là nỗi băn khoăn của Trần Văn Sửu và thằng Tí. Vì thế hai cha con cứ “dan díu bịn rịn cho đến sao Mai mọc” mới tìm được lối thoát hợp lí. Đọc truyện “Cha con nghĩa nặng” đến Chương X, chúng ta cảm động đến rơi lệ trước cái kết có hậu chứa chan nhân tình nhân nghĩa. Người cha được miễn truy tố, được trở lại quê hương sum họp với đàn con yêu quý.

    Trần Văn Sửu và thằng Tí, những con người chân lấm tay bùn, đầu tắt mặt tối, lam lũ quanh năm, lại mù chữ thế mà cách sống, cách ứng xử của hai cha con thật đẹp. Trước bi kịch gia đình, tình cha con vẫn sắt son sầu nặng. Đặc biệt thằng Tí là một đứa con hiếu thảo, hiếu thuận và hiếu nghĩa. Hai cha con Trần Văn Sửu là hiện thân bao phẩm chất tốt đẹp của người nông dân miền Nam nước ta xưa và nay.