Author: Đức Trong

  • Dàn ý Vào đại học có phải con đường tiến thân duy nhất của tuổi trẻ ngày nay hay nhất

    Dàn ý Vào đại học có phải con đường tiến thân duy nhất của tuổi trẻ ngày nay hay nhất

    Dàn ý Vào đại học có phải con đường tiến thân duy nhất của tuổi trẻ ngày nay hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Dàn ý Quan niệm của anh chị về vấn đề sống vô cảm hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Nêu suy nghĩ của anh (chị) về vấn đề: “ Vào đại học có phải con đường tiến thân duy nhất của tuổi trẻ ngày nay.

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Dẫn dắt vào vấn đề: Theo thống kê của bộ Lao động và xã hội, quý 4 năm 2017 cả nước có 1.071,2 nghìn lao động trong độ tuổi thất nghiệp, trong đó có 215,3 nghìn người có trình độ đại học trở lên bị thất nghiệp. Câu hỏi đặt ra là: “Vào đại học có phải con đường tiến thân duy nhất của tuổi trẻ ngày nay”.

    1. Thân bài
    2. Vào đại học là con đường đáng mơ ước, mở ra nhiều cơ hội

    – Khi vào đại học, nếu thực sự có năng lực, khi ra trường sẽ có nhiều cơ hội việc làm hơn.

    – Học đại học sẽ tạo nền tảng kiến thức vững chắc để sau này có thể tiến xa hơn, vận dụng nó vào trong công việc hiệu quả.

    1. Nhưng vào đại học không phải con đường tiến thân duy nhất

    – Tuy nhiên tấm bằng đại học không phải tấm vé bước vào đời để bạn muốn đến đâu tùy thích, đó chỉ là yếu tố nhỏ góp phần tạo cơ hội cho bạn trong cuộc sống.

    – Sự thành công không phụ thuộc hoàn toàn vào thành tích học tập ở đại học mà phụ thuộc vào năng lực thực tế của mỗi người khi bước vào đời.

    – Trên thực tế, ở một số ngành, cơ cấu đào tạo chưa căn cứ vào cơ cấu sử dụng nhân lực thực tiễn, dẫn đến tình trạng thừa thầy thiếu thợ.

    – Trên thực tế, cuộc sống cũng chính là một trường đại học rộng lớn, dạy cho con người biết nhiều vấn đề thực tiễn, ở đó con người không học thông qua lí thuyết mà qua trải nghiệm.

    – Nhiều người đã thực sự thành công mà không cần bước chân vào con đường đại học. VD:

    1. Bài học nhận thức

    – Cần lựa chọn con đường phù hợp với năng lực, nguyện vọng của mình và điều kiện gia đình.

    – Dù học đại học hay đi theo những con đường khác thì luôn phải nỗ lực hết mình với con đường mình đã chọn.

    – Không ngừng trau dồi kiến thức để hoàn thiện bản thân, trở thành người có ích cho xã hội.

    III. Kết bài

    – Nêu suy nghĩ của bản thân về vấn đề.

    – Là những người trẻ hãy luôn chủ động và sáng suốt trong sự lựa chọ của mình, hãy luôn làm chủ tương lai của mình.

     

  • Dàn ý Quan niệm của anh chị về vấn đề sống vô cảm hay nhất

    Dàn ý Quan niệm của anh chị về vấn đề sống vô cảm hay nhất

    Dàn ý Quan niệm của anh chị về vấn đề sống vô cảm hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 8 bài nghị luận xã hội, dàn ý Viết bài làm văn số 2 lớp 12 hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Trình bày quan niệm của anh chị về vấn đề sống vô cảm

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Đặt vấn đề: Bạn đã bao giờ đi qua người gặp mà bỏ đi lạnh lùng? Đã bao giờ dừng chân trò chuyện với bà cụ ăn xin? Có bao giờ thương xót cho một đứa trẻ tật nguyền? Bạn có cảm xúc trước những vấn đề xung quanh không?

    – Lối sống vô cảm đang dần ăn sâu vào đời sống con người. Liệu bạn đang có một lối sống vô cảm? Đừng nhìn từ bên ngoài mà phán xét lối sống ấy hãy tự mình suy ngẫm lại.

    1. Thân bài
    2. Giải thích

    – Vô cảm là một trạng thái tinh thần mà khi đó con người không có một tình cảm mang tính nhân bản nào đối với sự vật sự việc diễn ra xung quanh, chỉ quan tâm đến quyền lợi bản thân.

    1. Biểu hiện

    – Thờ ơ, lạnh nhạt trước những nỗi đau của người khác, tàn nhẫn gây tổn thương đến người khác. VD: bắt gặp cảnh tai nạn ngoài đường không giúp đỡ mà chỉ quay video; có những kẻ máu lạnh sát hại cả gia đình vì tiền, vì dục vọng, …

    – Không phẫn nộ trước cái xấu, cái ác và cũng không rung động trước cái đẹp, cái tốt. VD: Nhìn thấy cảnh bạo lực học đường không can ngăn hay giúp đỡ; bắt gặp kẻ móc túi trên xe buýt không lên tiếng…Không rung động trước những cái đẹp mục đích sống duy nhất chỉ là vật chất.

    – Không quan tâm, tham gia hoạt động nào của đoàn thể, cộng đồng, ghét phải làm việc, giao tiếp trong môi trường tập thể.

    – Không quan tâm đến những người thân của mình. VD: mọi người trong gia đình chỉ chú tâm vào trang mạng xã hội, con cái không biết yêu thương cha mẹ, chỉ đòi hỏi mọi thứ từ cha mẹ một cách thụ động

    – Thờ ơ với chính bản thân mình. VD: sống không có ước mơ, không nỗ lực để đạt những điều mình muốn; không quan tâm đến sức khỏe của bản thân mình: thức khuya, sử dụng các loại chất kích thích; …

    1. Nguyên nhân

    – Sự phát triển nhanh chóng của xã hội khiến con người phải sống gấp hơn, xem nhẹ việc vun đắp những giá trị tinh thần, có ít cơ hội hơn để chia sẻ với nhau.

    – Sự bùng nổ của khoa học công nghệ làm giảm sự tương tác giữa người với người.

    – Do cách giáo dục chỉ thiên về lí thuyết, giáo điều, không thực sự tác động đến tư tưởng tình cảm của người học.

    – Do cách giáo dục con cái không phù hợp của mỗi gia đình

    – Do lối sống vị kỉ của mỗi con người, chỉ biết theo đuổi những giá trị vật chất mà quên đi những giá trị tinh thần.

    1. Hậu quả

    – Đối với mỗi cá nhân nó sẽ khiến họ giống như một cỗ máy không có tâm hồn, thành kẻ vô trách nhiệm, vô nhân tính.

    – Cuộc sống mất đi những giá trị đích thực của nó, chỉ là sự tồn tại

    – Đối với toàn xã hội, nó làm mất đi những giá trị đạo đức tốt đẹp của ông cha ta từ ngàn đời nay

    – Nếu tình trạng này lan rộng ra phạm vi toàn nhân loại thì hành tinh này sẽ trở thành hành tinh của các cỗ máy

    1. Giải pháp

    – Có ý thức phê phán lên án những người có thái độ, hành động vô cảm trong xã hội.

    – Mỗi người hãy mở lòng mình sống yêu thương, quan tâm đến gia đình, những người xung và chính bản thân mình

    – Hạn chế sự phụ thuộc vào các thiết bị công nghệ hiện đại, sử dụng chúng một cách hiệu quả.

    – Nhà trường cần tăng cường giáo dục về đạo đức lối sống cho học sinh, chú ý vào thực hành, trải nghiệm để bồi dưỡng tình cảm cho học sinh.

    – Tuyên truyền rộng rãi, tổ chức các hoạt động xã hội với mục đích xóa bỏ “căn bệnh vô cảm”.

    III. Kết bài

    – Bạn có đang là người sống vô cảm? Hãy nhận thức lại bản thân, hãy thức tỉnh chính mình và những người xung quanh bởi lối sống vô cảm sẽ giết chết tâm hồn mỗi người một cách từ từ, đáng sợ.

     

  • Top 8 bài nghị luận xã hội, dàn ý Viết bài làm văn số 2 lớp 12 hay nhất

    Top 8 bài nghị luận xã hội, dàn ý Viết bài làm văn số 2 lớp 12 hay nhất

    Top 8 bài nghị luận xã hội, dàn ý Viết bài làm văn số 2 lớp 12 hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích tác phẩm Đô-Xtôi-Ép-Xki của Xvai-Go hay nhất

    [toc]

    Phần Viết bài làm văn số 2: Nghị luận xã hội Ngữ văn lớp 12 gồm các bài văn mẫu: nghị luận xã hội, dàn ý, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 12 và tự tin bước vào kì thi THPT Quốc gia môn Văn.

    1. Dàn ý Quan niệm của anh chị về vấn đề sống vô cảm
    2. Dàn ý Vào đại học có phải con đường tiến thân duy nhất của tuổi trẻ ngày nay
    3. Dàn ý Nghị luận xã hội về giá trị của thời gian
    4. Dàn ý Nghị luận xã hội về giá trị của bản thân
    5. Dàn ý Nghị luận xã hội về vấn đề thực phẩm bẩn
    6. Nghị luận: Tuổi trẻ học đường suy nghĩ và hành động để góp phần giảm thiểu tai nạn giao thông
    7. Nghị luận: Hiện nay, ở nước ta có nhiều cá nhân, gia đình, …
    8. Nghị luận: Nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục

     

  • Phân tích tác phẩm Đô-Xtôi-Ép-Xki của Xvai-Go hay nhất

    Phân tích tác phẩm Đô-Xtôi-Ép-Xki của Xvai-Go hay nhất

    Phân tích tác phẩm Đô-Xtôi-Ép-Xki của Xvai-Go hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích và cảm nhận về chân dung Đô-xtôi-ép-ki hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tác phẩm Đô-Xtôi-Ép-Xki của Xvai-Go.

    Bài văn mẫu

       Xtê-phan Xvai-gơ là một nhà văn người Áo, ngoài tác phẩm văn học, ông còn viết những phác thảo chân dung các nhà văn bậc thầy của thế giới. Nhờ sự giới thiệu của ông mà những chân dung và phong cách của các nhà văn này đến với người đọc một cách rõ ràng, gần gũi và thấu đáo. Bức chân dung Đô-xtôi-ép-xki được ông phác thảo, đã cho chúng ta hiểu rõ thêm số phận một nhà văn khốn khổ nhưng cũng đầy vinh quang của nước Nga.

       Đô-xtôi-ép-xki là một nghệ sĩ lớn, một nhà tâm lí thiên tài, một nhà nhân văn sâu sắc. Đô-xtôi-ép-xki đã để lại những tác phẩm được coi là di sản văn hoá nhân loại. Câu nói nổi tiếng của ông: “Cái đẹp cứu rỗi thế giới”, đã khẳng định giá trị của nghệ thuật trên con đường nhân đạo hoá đời sống con người.

       Bài viết của Xvai-gơ đã phác hoạ khá rõ nét chân dung Đô-xtôi-ép-xki và những chấn động lớn lao mà ông đã đem đến cho thời đại mình: Tiếng sấm của sự nổi dậy rền vang.

       Cuộc sống vật chất cùng quẫn

       Phần mở đầu bài viết, Xvai-gơ đã miêu tả cuộc sống cùng quẫn vì đói nghèo của Đô-xtôi-ép-xki ở nước ngoài. Đô-xtôi-ép-xki từng bị Nga hoàng kết án tử hình vì những tư tưởng tự do, dân chủ và sau đó buộc phải sống lưu vong. Đó là một cuộc sống leo lét, cô đơn, đầy tủi nhục. Một cuộc sống vô danh, không ai biết, không ai trò chuyện: “Không một nhà văn Đức, Pháp hoặc I-ta-li-a nào nhớ lại là đã gặp ông, đã nói với ông”. Một cuộc sống tuyột vọng vì thiếu thốn: Ngày lại ngày chờ đợi ở ngân hàng cái tờ séc một trăm rúp; ông đã là người khách chuyên cần của hiệu cầm đồ. Một cuộc sống luôn bị chế nhạo, giễu cợt: Các nhân viên ngân hàng ra mặt chế nhạo lão điên nghèo và sự chờ đợi vĩnh viễn của lão. Một cuộc sống đầy tủi nhục vì phải cúi mình, nhịn nhục, xin xỏ, kêu van, than thở: tiếng kêu tuyệt vọng xé ruột. Một cuộc sống luôn trong tình thế bất trắc : ốm đau, vợ con nheo nhóc, hết tiền,… Những thiếu thốn đã uốn còng lưng ông ; những quá chuỳ của bệnh tật càng giáng thường xuyên hơn xuống não cân ông : nhiều ngày dài ông nằm trong một sự đờ đẫn hoàn toàn…

       Đúng là kiếp sống của kẻ bị đoạ đày ở những xứ sở xa lạ, giữa giống người chấy rận. Chỉ bằng một vài nét phác hoạ, kvai-gơ đã diễn tả được cuộc sống cùng quẫn của Đô-xtôi-ép-xki giữa một thế giới châu Âu xa lạ, ngạt thở như trong một nhà ngục.

       Những thành công đầy vinh quang

       Sau tất cả những đớn đau, khốn khổ và tuyệt vọng, Đô-xtôi-ép-xki đã đạt được tột đỉnh của vinh quang.

       Cội nguồn của sự vinh quang ấy, đầu tiên là vì tình yêu Tổ quốc. Như Xvai-gơ khẳng định: trái tim ông chỉ đập vì nước Nga, nhờ có lao động mà ông sống trong Tổ quốc mình. Ông luôn mong mỏi cố ngày trở về. Nước Nga, đó là tiếng gọi vĩnh cửu của niềm tuyệt vọng của ông.

       Tiếp đến là một nỗ lực lao động không cùng trong nỗi thống khổ: Suốt đêm ông làm việc trong khi ở phòng bên vợ ông rên rỉ trong những cơn đau đẻ. Cơn động kinh chộp họng ông; chủ nhà không được trả tiền để doạ gọi canh sát,… Nhưng lao động đối với ông là sự giải thoát, giải thoát khỏi những dằn vặt về vật chất, giải thoát khỏi số phận lưu đày, là con đường quay về Tổ quốc, dù trước đây chính vì tác phẩm và những tư tưởng tự do của mình mà ông bị kết án và doạ đày ở nơi xa lạ như thế này. Lao động đã đem lại cho ông niềm vui sướng, mê say: Đó là rượu ngọt làm ông ngây nẹất, là niềm hoan lạc lớn lao nhất của ông

       Kết quả của sức lao động kiên trì và mãnh liệt ấy, là một khối lượng tác phẩm văn học lớn, mà theo đánh giá của Xvai-gơ, là những tấc phẩm đồ sộ của thế kỉ XIX. Đó là những tác phẩm như: Tội ác và trừng phạt, Thằng ngốc, Lũ người quỷ ám, Con bạc, Nhật kí của một nhà văn, Anh em nhà Ka-ra-ma-dốp,… mà trong đó Anh em nhà Ka-ra-ma-dốp là cuốn sách nghệ thuật hoàn hảo nhất.

       Đô-xtôi-ép-xki đã được trở về nước Nga năm ông năm mươi hai tuổi. Cuối cùng, sự nghiệp và giá trị của các tác phẩm Đô-xtôi-ép-xki đã được toàn nước Nga công nhận: các sách của ông đã biện hộ cho sự nghiệp của ông ; Tuốc-ghê-nhép, Tôn-xtôi (những nhà văn lớn của nước Nga) bị lu mờ. Nước Nga chỉ còn đổ dồn mắt vào ông. Ông đã vươn lên ánh sáng rực rỡ của niềm vinh quang đời dời.

       Thắng lợi của ông rực sáng như những tia chớp. Sự đón nhận ông ở nước Nga mới nồng nhiệt làm sao. Trong buổi lễ nhân dịp một trăm năm ngày sinh Pu-skin, Đô-xtôi-ép-xki đã phát biểu những lời như sấm sét, báo trước sứ mệnh thiêng liêng của sự tổng hoà giải của nước Nga. Những lời tiên đoán ấy được đám đông đón nhận nồng nhiệt, hứng khởi và kích động: đám đông quỳ xuống; căn phòng rung lên sự bùng nổ hoan hỉ; các bà hôn bàn tay ông, một sinh viên ngất xỉu dưới chân ông; tất cả những diễn giả khác từ chối không nói nữa.

       Để nói về niềm vinh quang của Đô-xtôi-ép-xki khi được nước Nga đón nhận, Xvai-gơ sử dụng một loạt các điển tích tôn giáo, nhằm thiêng liêng hoá sứ mệnh và niềm vinh quang của Đô-xtôi-ép-xki: Đức Chúa Trời quay nhìn về phía Giốp (một người chịu nhiều bất hạnh nhưng cuối cùng đã được Chúa ban phúc lành); Đức Chúa Trời ném cho ông một tia chớp, soi sáng một cỗ xe rực lửa để đưa các tông đồ (người giúp việc của Chúa) vào cõi vĩnh hằng ; vòng hào quang chói lọi bao quanh cái đầu của người bị hành khổ này. Hình ảnh hạt đã gieo xuống, mùa gặt là vô tận. Thậm chí, buổi nói chuyện của Đô-xtôi-ép-xki cũng hột như buổi thuyết giáo của một nhà truyền giáo vĩ đại: Trong niềm ngất ngây của quỷ dữ, ông vung lời như sấm sét; Như bị hạ gục, đám dông quỳ xuống,…

       Niềm vinh quang mà Đô-xtôi-ép-xki được đón nhận chính là vì các tác phẩm của ông đã tạo hình được thế giới tinh thần của chúng ta – con người.

       Đám tang Đô-xtôi-ép-xki và sự đoàn kết dân tộc

       Giây phút Đô-xtôi-ép-xki được chào đón và ngưỡng mộ cũng qua đi rất nhanh bởi ông đã nhanh chóng đi về nơi vĩnh hằng. Điểu đó đã được Xvai-gơ gọi một cách trang trọng, đầy hình ảnh: một phút ánh sáng rực rỡ để chứng tỏ rằng sứ mệnh đã hoàn thành, tác phẩm đã thắng lợi; rồi khi quả dã được cứu thoát, vỏ khô rụng xuống.

       Khắp nước Nga, người người đều tiếc thương ông: Một cơn run rẩy lay dộng toàn nước Nga ; một phút đau đớn câm lặng, từ các thành phố xa xôi nhất, các đoàn đại biểu kéo đến để viếng ông; một làn sóng yêu thương cuồng nhiệt dâng lên từ mọi nơi của thành phố ngàn tháp chuông. Mọi người lấy đi hết các bông hoa trong tang lễ ông để làm kỉ niệm.

       Đám tang của Đô-xtôi-ép-xki được tiến hành trọng thể. Chính tại đám tang, trong một tiếng đồng hổ, giấc mơ thiêng liêng của Đô-xtôi-ép-xki đã được thực hiện: sự đoàn kết của tất cả những người Nga. Đi sau quan tài ông là đủ mọi tầng lớp: các vương tôn trẻ, các giáp trưởng, công nhân, sinh viên, sĩ quan, người hầu và người hành khất. Dù theo đảng phái, tôn giáo, chính kiến gì đi nữa, nhưng họ đều gắn kết với nhau trong sự yêu thương và cảm phục con người đã suốt đời vì nước Nga, đã vẽ nên bộ mặt tinh thần Nga, đã đề cao tư tưởng tự do, dân chủ và đoàn kết, với mong muốn nước Nga của thế kỉ XIX thoát khỏi đói nghèo, bần cùng và lạc hậu. Đây chính là sự hoà giải của cả đất nước, dù trong chốc lát.

       Chính vì vậy mà sau đám tang Đô-xtôi-ép-xki, cách mạng đã nổ ra: chế độ phong kiến đến lúc phải xoá bỏ. Tiếng sấm của sự nổi dậy rền vang: Nga hoàng bị ám sát. Cơn dông bão của cách mạng Nga đang đến. Phải chăng, tư tướng tự do, dân chủ và đoàn kết của Đô-xtôi-ép-xki cũng góp phần vào cuộc cách mạng ấy?

       Một loạt hình ảnh: tiếng sấm rền vang, những tia chớp báo thù rạch dọc ngang khắp đất nước, cơn dông bão dữ dội,… đã khắc hoạ một cách trọn vẹn và ấn tượng những chấn động lớn lao mà Đô-xtôi-ép-xki đã đem lại cho thời đại mình.

       Qua bài viết của Xvai-gơ, chúng ta hiểu được thế nào là một nhà văn vĩ đại. Đó là con người mà cuộc sống có thể khổ đau đến cùng cực, nhưng trái tim vẫn luôn đập vì Tổ quốc mình, vì số phận con người, và có những tác phẩm nghệ thuật có khả năng đoàn kết, tập hợp được mọi người dù chính kiến và tư tưởng có khác nhau, thậm chí mâu thuẫn. Có nghĩa là, tác phẩm và tư tưởng của nhà văn đó phải đụng chạm được đến những vấn để của con người, của nhân loại, những vấn đề chung mà ai cũng có thể đồng cảm và chia sẻ.

     

  • Phân tích và cảm nhận về chân dung Đô-xtôi-ép-ki hay nhất

    Phân tích và cảm nhận về chân dung Đô-xtôi-ép-ki hay nhất

    Phân tích và cảm nhận về chân dung Đô-xtôi-ép-ki hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 2 bài phân tích Đô-xtôi-ép-xki hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích và nêu cảm nhận về phác thảo chân dung Đô-xtôi-ép-ki của nhà văn Áo Xvai-gơ

    Bài văn mẫu

        Xvai-gơ (1881-1942) là nhà văn Áo, rất nổi tiếng với những phác thảo chân dung các nhà văn bậc thầy của thế giới như Ban-dắc, Tôn-xtôi, Đô-xtôi-ép-xki, Xtãng-đan, Đích-ken, v.v…

        Mỗi bức chân dung văn học của ông để lại óng ánh sắc màu với bao hoạ tiết mang vẻ đẹp nhân văn kì diệu. “Đô-xtôi-ép-xki” là một bức chân dung văn học mang vẻ đẹp nhân văn kì diệu đó, mà màu thời gian không thể phủ mờ.

        Năm Đô-xtôi-ép-xki bước sang thế giới bcn kia (1821-1881) thì cũng là năm Xvai-gơ cất tiếng chào đời (1881-1942), thế nhưng khi đọc Xvai-gơ, ta cứ ngỡ hai nhà vãn này đang đồng hành, đang lầm lũi trên những neo đường từ Anh sang Pháp, từ Ý sang Đức, rồi trở về Pê-téc-bua nước Nga…. Cả hai đã và đang “sống giữa giống người chấy rận trước khi vươn lên ánh sáng rực rỡ của niềm vinh quang đời đời”.

        Xvai-gơ đã dùng những lời tốt đẹp nhất, những gam màu đậm nhất, những đường nét sắc sảo nhất khi phác hoạ chân dung Đô-xtôi-ép-xki.

        Như nhiều độc giả đã biết, Đô-xtôi-ép-xki đã cùng vợ trốn sang Đức, Pháp, Anh, Ý…, sống “leo lét” trong một thế giới xa lạ. Sống trong bần cùng cơ cực, lúc thì đứng chực, “đứng chờ” ở cửa tò vò ngân hàng, “ngày lại ngày và với một gióng nói cảm động ông hỏi xem từ nước Nga tờ séc của ông cuối cùng đã đến chưa”..một trăm rúp. cái món tiền nhỏ nhoi bán bản thảo, mà ông đã “bao nhiêu lần quỳ gối trước những người xa lạ và thấp hèn”. Nhiều nhà xuất bản vụ lợi đã lừa ông; các nhân viên ngân hàng thì chế nhạo ông là “lão điên nghèo”. Để có tiền đánh một cái điện về Xanh Pê-téc-bua, ông phải đến hiệu cầm đồ để cầm cố “cái quần đùi cuối cùng”. Còn trong thư từ của ông gửi đi, người ta tìm thấy “một tiếng kêu tuyệt vọng xé ruột”.

        Sự khốn cùng và hoạn nạn có lúc đã dồn Đô-xtôi-ép-xki đến bên bờ vực thẳm của địa ngục. Ông trằn lưng ra, vắt óc ra làm việc suốt đêm khi vợ rên ri trong cơn đau đẻ, khi cơn động kinh “chộp họng ông”; chủ nhà không được trả tiền đe doạ gọi cảnh sát; bà đỡ đòi tiền nợ… “Hoạ vô đơn chí”, đứa con gái sinh ra chỉ được vài ngày thì qua đời, Đô-xtôi-ép-xki gần như phát điên lên.

        Xvai-gơ chỉ chấm phá một vài nét mà làm nổi bật lên một màn đen u ám cứ cuộn tròn lấy, bám riết lấy chân dung ĐcVxtôi-ép-xki, làm cho người xem, người đọc cảm thấy tức thờ, nước mắt cứ trào ra. Xvai-gơ đã khéo léo chọn chi tiết điển hình để “điểm nhãn” bức chân dung nhà văn Nga mà ông đang phác hoạ.

        Hô-ra-xơ xa xưa đã nói: “Sự khốn khó có tác dụng khơi năng mà trong hoàn cảnh giàu sang nó đã ngủ yên”. Đô-xtôi-ép-xki đã không gục ngã trước mọi éo le và sự khốn cùng; chính trong bóng đêm cuộc đời, tài năng ông đã thắp sáng, “đã tạo hình cho tất cả thế giới tinh thần của chúng ta” với bao kiệt tác văn chương tác phẩm đồ sộ của thế kỉ XIX”, chỉ nhắc lại tên, bao thế hệ độc giả gần xa trên trái đất đã cúi đầu ngưỡng mộ: Tội ác và trừng phạt, . Lũ người quỷ ám, Con bạc…. Văn nghiệp của Đô-xtôi-ép-xki gồm 30 tác phẩm “chồng cao quá đầu người”.

        Xvai-gơ đã viết nên những dòng văn cô đọng, chất triết lí toả sáng một tâm hồn thơ: “Lao động là sự giải thoát và là nỗi thống khổ của ông; nhờ nó mà ông sống trong Tổ quốc mình”. Kẻ li hương nghèo khổ, nguồn vui duy nhất là sáng tạo, sáng tạo không ngừng, sáng tạo là hạnh phúc: “Đó là rượu ngọt làm ông ngây ngất; đó là niềm hoan lạc lớn nhất của ông” khi mỗi trang văn, mỗi tác phẩm ra đời.

        Xvai-gơ đã thấu hiểu tâm trạng đầy bi kịch của Đô-xtôi-ép-xki.

        Đô-xtôi-ép-xki yêu Tổ quốc, ông nhớ nước Nga, ông muốn trở về nhưng chưa thể trở về. “Cái cọc của trại giam” năm xưa vẫn ám ảnh ông: bị án tử hình, rồi hơn mười năm lưu đày khổ sai (1848 – 1959) trong đọa đày đói rét.

        Năm mươi tuổi rồi, nơi xa xứ, Đô-xtôi-ép-xki “vẫn là người không tên, kẻ bị đọa đày”, vẫn phải “tiếp tục sống giữa giống người chấy rận trước khi vươn lên ánh sáng của niềm vinh quang đời đời”. Phải có một nghị lực phi thường, ông mới vượt qua được, dù có lúc “những thiếu thốn đã uốn còng lưng ông”, dù nhiều năm tháng “những quả chùy của bệnh tật càng giáng thường xuyên hơn xuống cân não ông”. Đúng Đô-xtôi-ép-xki là một người khổng lồ trong bể khổ: “Năm mươi tuổi, nhưng ông đã chịu hàng thế kỉ dằn vặt”.

        Phần tiếp theo, bức chân dung của Đô-xtôi-ép-xki được Xvai-gơvex bằng gam màu sáng trong. Năm mươi hai tuổi, Đô-xtôi-ép-xki “được quyền trở về Tổ quốc”. Cũng như Giốp, con người đức hạnh trong Kinh thánh, Chúa Trời đã “ban phước lành” cho ông, “sứ mệnh phán bảo thế là kết thúc”. Trở về Xanh Pê-téc-bua, ông trở thành “sứ giả của xứ sở mình”. Và khi “Nhật kí của một nhà văn”, tiểu thuyết “Anh em nhà Ka-ra-ma-dốp”, kiệt tác văn chương của ông chào đời, thì Tuốc-ghê-nhép, Tôn-xtoi “bị lu mờ”, cả nước Nga “đổ dồn mắt vào ông”.

        Qua cơn bĩ cực tất sẽ đến ngày thái lai, Đô-xtôi-ép-xki cũng vậy, “sau tất cả những thử thách ông đã chịu, một giây hạnh phúc tuyệt đỉnh đã được ban cho ông”; đúng như vậy, ông càng thấm thía cái lẽ đời “hạt đã gieo xuống, mùa gặt sẽ vô tận”. Xvai-gơ đã dùng hình ảnh “Đức Chúa Trời ném cho ông một tia chớp” đưa Đô-xtôi-ép-xki “vào cõi vĩnh hằng”. Thật không có cách nói nào hay hơn, ý vị hơn.

        Tác giả nhắc lại cái giây phủt hạnh phúc nhất, vinh quang nhất trong lễ kỉ niệm ngày sinh của Pu-skin, Đô-xtôi-ép-xki “trong niềm ngây ngất của quỷ dữ, ông vung lời như sấm sét”, ông báo trước “sứ mệnh thiêng liêng”của sự tổng hoà giải của nước Nga. Lời phát biểu của ông đã làm cho căn phòng “rung lên trong bùng nổ của hoan hỉ” đám đông cử toạ “quỳ xuống”, các bà “hôn bàn tay ông” một sinh viên “ngất xỉu dưới chân ông”,… Đó là giây phút hạnh phúc nhất của Đô-xtôi-ép-xki: “một vòng hào quang chói lọi bao quanh cái đầu của người bị hành khổ này.

        Phần cuối bài viết, Xvai-gơ đã nói về đám tang của tác giả “Tội ác và trừng phạt”, đó là ngày 10 tháng 2 năm 1881, “khi quả đã được cứu thoát, vỏ khô rụng xuống”. Cả nước Nga “run rẩy lay động”, “đau đớn câm lặng tiếc thương”; “một làn sóng yêu thương cuồng nhiệt dâng lên từ mọi nơi của thành phố ngàn tháp chuông”. Phố Thợ Rèn nơi quàn linh cữu Đô-xtôi-ép-xki “đen nghịt người” cái giường ông nằm nghỉ “đầy hoa”, đám đông người “siết chặt” quan tài ông. “Giấc mơ thiêng liêng” của Đô-xtôi-ép-xki được thực hiện. Qua đám tang ông, những người Nga đã biểu thị sự đoàn kết, và họ đã “truyền sinh khí vào tác phẩm ông”. Cả một rừng cò? và đông đảo các tầng lớp nhân dân Nga, các vị vương tôn trẻ, các giáp trưởng, công nhân, sinh viên, sĩ quan, người hầu và người hành khất “đi bên nhau khóc người quá cố rất thân thiết đối với họ”, tất cả đều “đoàn kết lại trong một lời nguyền yêu thương và cảm phục”.

        Cũng như Bét-thô-ven, Đô-xtôi-ép-xki qua đời “giữa dông bão”, làm dấy lên “tiếng sấm của sự nổi dậy rền vang”, toàn nước Nga “bị kích động dữ dội”, và khắp đất nước “những tia chớp báo thù rạch dọc ngang”… báo hiệu một thời kì bão táp sôi sục diễn ra.

        Với một lối viết trang trọng và sắc sảo, ngưỡng mộ và tiếc thương, Xvai-gơ đã phác hoạ chân dung Đô-xtôi-ép-xki tuyệt đẹp, tưởng như ông đã dựng lên một bức tượng đồng kì vĩ, đã đưa nhà văn Nga lỗi lạc này vào cõi vĩnh hằng vinh quang.

        Nghị lực phi thường, tài năng lỗi lạc đã tạo nên tầm vóc vĩ đại của văn hào Đô-xtôi-ép-xki. Con người của ông, văn chương của ông mãi mãi là nguồn sáng nhân văn vô tận. Ngôi sao của Thành phố ngàn tháp chuông ngày càng lung linh toả sáng.

     

     

  • Top 2 bài phân tích Đô-xtôi-ép-xki hay nhất

    Top 2 bài phân tích Đô-xtôi-ép-xki hay nhất

    Top 2 bài phân tích Đô-xtôi-ép-xki hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích bài Mấy ý nghĩ về thơ hay nhất

    [toc]

    Phần Đô-xtôi-ép-xki Ngữ văn lớp 12 gồm các bài văn mẫu: phân tích, dàn ý, nghị luận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 12 và tự tin bước vào kì thi THPT Quốc gia môn Văn.

    1. Phân tích và cảm nhận về chân dung Đô-xtôi-ép-ki
    2. Phân tích tác phẩm Đô-Xtôi- Ép-Xki của Xvai-Go

     

  • Phân tích bài Mấy ý nghĩ về thơ hay nhất

    Phân tích bài Mấy ý nghĩ về thơ hay nhất

    Phân tích bài Mấy ý nghĩ về thơ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Cảm nhận về bài Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tác phẩm Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi.

    Bài văn mẫu

       Đã là một thi sĩ, không mấy ai không có những suy nghĩ riêng về thơ, được phát biểu dưới dạng này hay dạng khác. Nhìn trên đại thể, đó đều là những suy nghĩ đáng trân trọng. Tuy nhiên, không phải suy nghĩ nào, phát biểu nào cũng gây dược sự chú ý rộng rãi, nếu nó không đạt tới một khả năng khái quát cần thiết và không thể hiện được một định hướng sáng tạo rõ ràng, có tính cách tân. Điều đáng nói là khi tham gia phát biểu về thơ, nhiều người rất thích nêu định nghĩa, và cụm từ “thơ là”… thường được nhắc đi nhắc lại. Hẳn họ thật lòng tin rằng định nghĩa về thơ do mình đưa ra là có giá trị của chân lí phổ quát. Sự thực, mọi định nghĩa về thơ chỉ “đúng” một cách tương đối. Trước hết, hãy tạm cho rằng chúng chỉ dúng với trường hợp của người đã phát biểu quan niệm, định nghĩa đó mà thôi.

       Nguyễn Đình Thi hẳn ý thức rất rõ điều này. Bài viết của ông không hướng tới một định nghĩa khép kín, mà gợi mở những suy nghĩ mới về thơ, gợi mở chân trời sáng tạo rộng lớn ở phía trước cho những nhà thơ Việt Nam vào thời điểm những năm cuối của thập niên bốn mươi của thế kỉ XX, tức là thời điểm có những chuyển biến cách mạng lớn lao trong đời sống xã hội, và con đường hiộn đại hoá thơ ca Việt đã tiến được một bước dài. Đây là một trong những bài phát biểu quan niệm về thơ thực sự có giá trị và gần đây rất hay được nhắc tới, mỗi khi người ta đề cập đến con đường thơ cũng như khá nàng cách tân thơ của người nghẹ sĩ đa tài Nguyễn Đình Thi.

       Trong phần đầu bài viết, tác giả đối thoại với một số cách nhìn nhận về thơ đã từng chi phối hành động sáng tạo và cảm thụ thơ của một bộ phận khá lớn thi sĩ và độc giả. Có ba cách nhìn nhận đã được nêu lên: đã là thơ thì phải có “lời đẹp” ; đề tài của thơ phải là “đề tài đẹp” ; “thơ khác với các thể văn khác ở chỗ thơ in sâu vào trí nhớ”. Theo tác giả, cả ba cách nhìn nhận nêu trên đều có phần phiến diện, bởi có nhiều ví dụ trong thực tiễn thi ca chứng minh điều ngược lại. Cách đối thoại của tác giả hết sức nhẹ nhàng, nhưng điều có thể được rút ra từ đây thì rất có sức nặng: những chữ tầm thường của lời nói hằng ngày hoàn toàn có thể được đưa vào thơ và có thể vẫn đầy chất thơ ; “Nhà thơ ngày nay không đi tìm cái muôn đời viễn vông bên ngoài cuộc sống thực của con người” và những đề tài phong hoa tuyết nguyệt, nhớ mong sầu luỵ đã không còn là những đề tài thiết yếu nữa. Những điều vừa “rút ra” đó phản ánh một quan niệm mới về thơ của Nguyễn Đình Thi – cái quan niệm nếu trử thành nhận thức phổ biến thì có thể sẽ đưa thơ ca Việt Nam đi tới những bước chuyển lớn.

       Sang phần tiếp theo, để làm sáng tỏ giả định: “Đầu mối của thơ có lẽ ta đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng ?”, tác giả đã miêu tả (thông qua những hình ảnh so sánh rất ý vị) trạng thái tâm hồn con người khi có “rung động thơ” và vai trò của bài thơ trong việc thể hiện cũng như làm lan truyền sự rung động ấy. Theo tác giả, bài thơ hình thành trong tâm trí nhà thơ hay ngân lên trong nỗi nhớ của độc giả một khi ở họ xuất hiện “trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường”, “do một sự va chạm nào với thế giới bên ngoài, với thiên nhiên, với những người khác”. Chính sự “va chạm” ấy giúp tâm hồn biết “tự soi vào nó”. Và khi làm thơ, nhà thơ không phải sống với kí ức thuần tuý mà sống với sự tương tác giữa kí ức và điều đang trải nghiệm ngay lúc đó. Quá khứ và hiện tại quyện hoà vào nhau trên nền tự ý thức của nhà thơ làm nảy sinh cảm xúc thơ. Ý nghĩ này của tác giả cũng có điểm gần gũi với ý nghĩ của nhà thơ Uy-li-am Uốtx-uốt: “Tôi đã nói rằng thơ là sự tuôn trào bột phát những tình cảm mãnh liệt: nó bắt nguồn từ trong cảm xúc được nhớ lại trong sự bình tâm; cảm xúc được chiêm nghiệm cho tới lúc, do một thứ phản ứng đặc biệt, sự bình tâm dần dần bị biến mất, và một cảm xúc khác thần thuộc với cái trước đó là đối tượng của sự chiêm nghiệm lần lần nảy sinh và nó thực sự tồn tại trong tâm tưởng”.

       Tác giả quan niệm, bài thơ có một khả năng kì diộu là bảo lưu sống động trạng thái tâm hồn của nhà thơ khi anh ta làm thơ, thông qua những “chữ”, những “lời”. Chính những “chữ”, những “lời” đó lại là đầu mối đưa đến sự giao cảm giữa nhà thơ và bạn đọc. Đã có “rung động thơ”, nghĩa là một loại hình rung động khác thường như đã nói trên, độc giả dễ dàng cộng hưởng với những tần số rung động của nhà thơ “khi nhìn những chữ, khi nghe những lời”, bởi kéo theo lời, chữ ấy là “những hình ảnh, những ý nghĩ, những mong muốn, những tình cảm”, như thể một “vùng sáng xung quanh ngọn lửa”. Hình ảnh so sánh mà tác giả đưa ra ở dây vô cùng tinh tế. Nó cũng lung linh như chính bản chất thơ và đã diễn tả được một cách sống động cái gọi là sự gắn bó hữu cơ giữa nội dung và hình thức ở loại hình sáng tác này.

       Trước đoạn bàn trực tiếp về hình ảnh trong thơ, tác giả khẳng định “thơ phải có tư tưởng, có ý thức”, nhưng “thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý”, bởi nếu thế, thơ đã bị đánh đồng với đạo đức (luận lí, triết học,… Con đường của thơ hướng tới việc “lay động những chiều sâu của tâm hồn, đem cảm xúc mà đi thẳng vào sự suy nghĩ”, do vậy, nó cần phải có hình ảnh. Tuy nhiên, hình ảnh ở đây không thể là hình ảnh mang tính chất minh hoạ thuần tuý cho tư tưởng hay là sự “phiên dịch” ý tình một cách giản đơn. Nó cũng không phải là một cái gì “cầu kì”, rắc rối. Đổ diễn tả quan niệm về hình ảnh, tác giả lại đưa ra ngay một hình ảnh so sánh rất ý vị: “Hình ảnh của thơ trái lại, phải là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn khi ta sống trong một cảnh huống hoặc trạng thái nào đấy. Đụng chạm với hành động hằng ngày, tâm hồn nảy lên bao nhiêu hình ảnh như những tia lửa toé lên khi búa đập vào sắt trên đe. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy, kết nên một bó sáng, nó là hình ảnh thơ”. Phải nói rằng với hình ảnh trong đoạn văn vừa dẫn, Nguyễn Đình Thi không chỉ cho ta nắm bắt được một thông tin mang tính khoa học về thơ mà còn làm ta rung cảm để tiếp theo nhận ra một cái gì đó của thơ không dễ nói bằng ngôn từ luận lí. Chính các hình ảnh “tia lửa”, “bó sáng” mà tác giả dùng trong trường hợp này cũng thấm đẫm chất thơ, mặc dù rõ ràng chúng không phải là hình ảnh thơ. Nhằm làm sáng tỏ hơn nữa quan niệm của mình về hình ảnh thơ, tác giả còn lưu ý nhà thi sĩ về một số điểm thuộc “quy trình sáng tạo”: đừng vội “chăng lưới bắt lấy ý nghĩ hay tình cảm”, đừng “cố gắng nặn nọt”. Vấn đề là ở chỗ: hình ảnh thơ là “hình ảnh sống”, nó đến theo kiểu “bắt chợt”, nó có khả năng “truyền cảm”, nó mang tính “tự nhiên”, “tươi nguyên”, “mới mẻ”, đột ngột”, “lạ lùng”, thoát ra khỏi “thói quen”, “sự rập khuôn”. Hiểu tất cả những điều đó rồi thì việc nhà thơ cần làm là: “đi giữa cuộc đời, mở rộng cả tâm hồn mình” để “mỗi con mắt nhìn gặp trên dường, mỗi cảnh ngộ, mỗi con người cho đến mỗi tiếng nghe thấy, mỗi giọt nắng, mỗi chiếc lá tự nhiên mà vào trong lòng”, “động sâu đến tư tưởng và tình cảm”. Khi ấy, “hình ảnh tự nhiên hiện lên trước nhất”, quen mà lạ, gần gũi mà hàm chứa bao điều sâu xa !

       Bàn về “chữ”, “tiếng” trong thơ, tác giả cũng có những tư tưởng mới mẻ và dộc đáo. Người ta vẫn thường nói “chữ nào nghĩa nấy”, điều đó đúng theo một số góc nhìn nhất định. Nhưng trong thơ, theo tác giả, “chữ”, “tiếng” không chỉ có giá trị “ý niệm”. Nếu chí có thế, “Mỗi chữ và tiếng mới như một ngọn nến trắng cắt bằng giấy dán trên nền đen. Mỗi ngọn nến vẫn trắng như nền đen vẫn đen. Mỗi chữ là một nghĩa nhưng bài thơ vẫn chưa có hồn”. Tác giả viết tiếp: “Người làm thơ chọn chữ và tiếng không những vì ý nghĩa của nó, cái nghĩa thế nào là thế ấy, đóng lại trong một khung sắt. Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài cái nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi tên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của câu thơ là ở sức gợi ấy”. Ở đây, các hình ảnh được đưa ra ví von có một khả năng biểu đạt ý tưởng hết sức đắc lực. Với trường hợp Nguyễn Đình Thi, tư duy lí luận và tư duy thơ không nằm trong tương quan loại trừ mà ngược lại. Nhiều tiểu luận của ông dọc rất hấp dẫn chính nhờ đặc điểm này, cũng thế, nhiều bài thơ của ông vừa mạnh phần cảm giác (do hệ thống hình ảnh tạo nên), vừa giàu phẩm chất trí tuệ. Gây ấn tượng mạnh nhất trong đoạn văn, cũng có thể nói là trong cả bài, chính là hình ảnh sau đây: “Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp bên nhau thành một vùng sáng chung. Ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả xung quanh những ngọn nến. Ý thơ không những trong những chữ, nó vây bọc xung quanh”. Thật khó có thể chọn được một cách nói nào hay hơn về “chữ”, về mối quan hệ tương tác giữa các “chữ” trong bài thơ. Là một người được đào luyện trong môi trường Tây học, rất có thể, khi phát biểu điều này, tác giả đã có sự kế thừa những quan niệm về thơ từng được nhiều nhà thơ và nhà nghiên cứu văn học phương Tây nêu lên trong mấy thập niên đầu của thế kỉ XX. ít ra, nó cũng là một khái quát lí luận phù hợp với những tìm tòi mới trong thơ của các nhà thơ Việt Nam hậu kì thơ mới như Bích Khê hay một số nhà thơ thuộc nhóm Xuân thu nhã tập. Theo những nhà thơ này, từ, ngữ (“chữ”, “tiếng”) từ chỗ là một dấu hiệu (signe) hiểu nghĩa, hoàn toàn mang tính chất quy chiếu (có chức năng chỉ một đối tượng rất xác định nào đó), đã đoạt lấy vị trí chủ động, có giá trị tự thân, không hoàn toàn chịu sự sai khiến “độc đoán” của nhà thơ, là từ, ngữ – sự vật (mots – choses).

       Nói đến thơ, không ai không chú ý tới “yếu tố” nhịp điệu. Nguyễn Đình Thi cũng thế. Vả lại, theo lô gích của vấn đề, ông đang muốn trình bày cách hiểu của mình về nhịp điệu để cắt nghĩa “cái kì diệu của tiếng nói trong thơ” được nêu ở phần viết trên. Với ông, “nhịp điệu của thơ không những là nhịp điệu bằng bằng, trắc trắc, lên bổng xuống trầm như tiếng đàn êm tai” mà chủ yếu là “nhịp điệu bên trong, một thứ nhịp điệu của hình ảnh, tình ý, nói chung là của tâm hồn”. Ông khẳng định: nhịp điệu trong thơ “là nhịp điệu hình thành của những cảm xúc, hình ảnh, liên tiếp hoà hợp, mà những tiếng và chữ gọi ra như những ngân vang dài, ngay những khoảng lung linh giữa chữ, những khoảng im lặng cũng là nơi trú ngụ kín đáo của sự xúc động”. Trên thực tế, điều vừa được tác giả phát biểu vốn đẵ được ông vận dụng vào chính hành động sáng tác thơ của mình. Việc ông theo đuổi tạo ra một thứ thơ không vần trong những năm cuối thập niên bốn mươi và những năm đầu thập niên năm mươi của thế kỉ XX là một việc làm đầy ý thức, được thôi thúc bởi ý chí cách tân mạnh mẽ (đọc lại những bài như Sáng mát trong như sáng năm xưa (1948), Đêm mít tinh (1949), ta có thể kiểm nghiêm điều này). Như vậy, ở Nguyễn Đình Thi, việc nêu quan niệm thơ cũng là việc báo trước một chặng đường phát triển mới của thơ ca Việt, mà trong sự phát triển đó, ông có góp phần tích cực. Tất nhiên, khi đã nhận thấy giá trị của “những khoảng lung linh giữa chữ”, “những khoảng im lặng”, tác giả hoàn toàn có cơ sở để viết rằng:”Đường đi của thơ là con đường đưa thẳng vào tình cảm, không quanh co, qua những chặng, những trung gian, những cột cây số. Văn xuôi lôi cuốn người như dòng nước, đưa ta đi lần lượt, từ điểm này qua điểm khác. Thơ, trái lại, chỉ chọn một ít điểm chính, bấm vào những điểm ấy thì toàn thể động lên theo”, và: “Thơ là tổng hợp, kết tinh. Văn xuôi được phép không mười phần hoàn hảo, nhưng thơ thì luôn luôn đòi hỏi sự toàn bích”. Không phải ổng đã cực đoan khi kết luận như trên. Chẳng qua những từ “hoàn hảo”, “toàn bích” đã được hiểu theo một nghĩa riêng, do văn cảnh bài viết xác định.

       Phần cuối của bài viết được dành để bàn riêng về thơ tự do, thơ không vần – một vấn đề có tính thời sự vào thời điểm đó. Tác giả tỏ ý ngờ vực lập luận cho rằng thơ Việt không thể thiếu vần. Trong khi thừa nhận “những luật lệ của thơ, từ âm điệu, đến vần, đều là những võ khí rất mạnh trong tay người làm thơ”, tác giả vẫn nghĩ không phải cứ hễ thiếu chúng thì người làm thơ không thể có thơ, hay nói cách khác là không thể “thắng” trong “trận đánh” của nghệ thuật. Ông nói rõ: “không có vấn để thơ tự do, thơ có vần và thơ không có vần. Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ và không thơ”. Ở đây cần phải hiểu đúng ý tác giả, rằng một nền thơ không thể chỉ có một sự lựa chọn duy nhất đối với một hình thức thơ nào đó. Thơ tự do, có vần hay không vần đều có chỗ đứng của mình. Ông láy lại ý này trong câu “Tôi cho rằng chúng ta không nên lo thơ đi vào hình thức này hay hình thức khác. Mà trước hết nên lo sao thơ phải nói lên được những tình cảm, tư tưởng mới của thời đại. Dùng bất cứ hình thức nào, miễn là thơ diễn tả được đúng tâm hồn con người mới ngày nay”. Đây hiển nhiên là một tư tưởng đúng, nhưng phải chăng nó có thể dẫn tới một sự dung hoà ít có tác dụng kích thích sự sáng tạo ra cái mới, đặc biệt là cái mới thuộc phạm trù hình thức thơ ? Sự thực không phải thế. Chẳng qua tác giả muốn tránh lối nhìn nhận vấn đề cực đoan, độc đoán, còn nếu theo chủ kiến của riêng mình, ông muốn thơ củà thời đại mới này phải thoát khỏi những “hình thức đổu dặn, cố định” để tiến đến một hình thức khác, nhịp điộu khác, phản ánh được nhịp sống trẻ trung, sôi nổi, ào ạt của cuộc đời cách mạng. Với tầm bao quát rộng rãi nhiều dữ kiện của đời sống và nghệ thuật, tác giả không quên lường tính và giải đáp trước những câu hỏi, những băn khoăn, thắc mắc có thể được đặt ra cho con đường đi tới của thơ, xuất phát từ nhiều đối tượng khác nhau. Không, hình thức mới không bao giờ là sự phế bỏ giản đơn những hình thức cũ, ngược lại, trong nó, những hình thức cũ đã được tái tạo, được nâng lcn một trình độ cao hơn so với trước. Một vấn đề khác là không nên quá lo thơ sẽ trở nên “buông thả, bừa bãi”, bởi những điều đó “chưa bao giờ đi đôi được với nghệ thuật”. Khi lường tính và giải đáp những câu hỏi này, tính chính luận của bài viết được bộc lộ rất đậm nét. Dường như một quan điểm văn nghệ đầy tính cởi mở đã được xây dựng cùng vói những dòng viết sau: “Kỉ luật của những tổ chức cách mạng chưa bao giờ dựa trên sự trừng phạt de doạ mà tồn tại được, kỉ luật ấy phải tự giác mới bền vững. Nghệ thuật có kỉ luật sắt của nó, nhưng đó không thể là những trói buộc, lề lối định sẩn bên ngoài. Nó phải là sự tự kiểm soát, tự chủ từ bên trong sự sáng tác mà ra. Bỏ những luật lệ máy móc bên ngoài, những luật lệ bản thân của nghệ thuật, những luật .lệ từ bên trong mà ra, chỉ càng quan trọng hơn. Đạp’đổ bức tường giam trước mặt rồi, giới hạn chỉ còn do sức đi xa của mình”. Ta nhận thấy ở đây vừa là một lời nhắc nhở đối với những người chịu trách nhiệm lãnh đạo văn nghệ, vừa là một lời tự nhắc của giới văn nghệ về sứ mệnh, chức năng của mình.

       Mấy ý nghĩ về thơ là bài viết rất tiêu biểu cho phong cách tiểu luận văn học Nguyên Đình Thi. Đọc nó, ta cảm thấy tiếc vì nhiều ý nghĩ độc đáo trong đó một thời chưa được đánh giá đúng mức, chưa được nhìn nhận như một sự gợi ý quý báu đối với vấn đề định hướng phát triển cho cả nền thơ, nền văn học. Tuy nhiên, những giá trị thật thì cứ còn mãi, huống chi, không ít điều được nói hôm qua dến hôm nay vẫn còn nguyên tính thời sự.

     

  • Cảm nhận về bài Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Cảm nhận về bài Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Cảm nhận về bài Mấy ý nghĩ về thơ của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 2 bài phân tích, cảm nhận tác phẩm Mấy ý nghĩ về thơ hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Nêu lên một số cảm nhận của em về thơ khi đọc “Mấy ý nghĩ về thơ” của Nguyễn Đình Thi.

    Bài văn mẫu

        Phần đầu bài tiểu luận, Nguyễn Đình Thi đã nhắc lại một số định nghĩa về thơ, một số quan niêm về thơ từng được lưu truyền như: thơ là những lơi đẹp, thơ là ở những đề tài đẹp, thơ in sâu vào trí nhớ, đầu mối của thơ là ở bên trong tâm hồn con người,…

        Tác giả vừa nhắc lại định nghĩa về thơ vừa tranh biện. Nhắc lại câu thơ Nguyễn Du tả Tú Bà, thơ Hồ Xuân Hương “nô na…” để trên cơ sở đó, tác giả bác bỏ ý kiến cho rằng “thơ là những lời đẹp”.

        Cho rằng thơ là những đề tài đẹp, Nguyên Đình Thi đưa ra bài thơ của Bô-đơ-le nhà thơ Pháp tả cái xác chó chết đầy giòi bọ, nêu lên cái ba lô, cái khẩu súng, bóng dây thép gai hung ác của đồn giặc trong thơ kháng chiến để phản bác lại.

        Bảo rằng thơ “in sâu vào trí nhớ”, tác giả nêu câu hỏi tại sao, những công thức toán học không phải là thơ mà ta lại rất nhớ.

        Phần tiếp theo, Nguyễn Đình Thi đưa ra một vài ý nghĩ về thơ: làm thơ để thể hiện một trạng thái tâm lí đang rung chuyển khác thường; làm thơ là đang sống khi tâm hồn đang rung động. Bài thơ làm sống ngay lên một tình cảm, một nỗi niém trong lòng người đọc; bài thơ là sợi dây truyền tình cảm cho người đọc. Thơ là tiếng nói thứ nhất của tâm hồn khi đụng chạm với cuộc sống. Thơ phải có tư tưởng, có ý thức, nhưng tư tưởng của thơ nằm ngay trong cảm xúc, tình tự, v.v…

        Chung quy lại: thơ là tiếng nói của tâm hồn, là tư tưởng, tình cảm của con người. Tác giả nói hơi dài và văn hoa về những điều trên đây. Có lúc người đọc cảm thấy lối diễn đạt hơi cầu kì rắc rối. Trong bài tựa Cùng bạn đọc (tác phẩm Thơ Sóng Hồng), Sóng Hồng viết một cách giản dị mà sâu sắc vể bản chất của thơ, mà trong chúng ta nhiều người đã được đọc. Mọi chân lí đều giản dị. Cần phải nói một cách giản dị mới dễ đi vào lòng người.

        Sau đó, tác giả nói về một số đặc trưng của thơ: hình ảnh trong thơ, câu chữ trong thơ, nhạc của thơ, đường đi của thơ, tín hàm súc của thơ.

        Hình ảnh thơ không phải là hình ảnh cầu kì, trái lại, phải là hình ảnh thực nảy lên trong tâm hồn. Người làm thơ lượm những tia lửa ấy (tia lửa sự sống trong tâm hồn) rồi “kết nên một bó sáng, nó là hình ảnh thơ”. “Thơ là nơi tư tưởng, tình tự quấn quýt với hình ảnh như hồn với xác để tạo ra cái biết toàn thể, biết bằng cả tâm hồn, không phải chỉ biết bằng ý niệm, bằng ý thức”.

        “Thực trong thơ là tìm được những hình ảnh sống, những hình ảnh có sức lôi cuốn và thuyết phục người đọc”; khi “mỗi giọt nắng, mỗi chiếc lá tự nhiên mà vào trong lòng, để rồi động sâu đến tư tưởng và tình cảm. Trong việc làm thơ bấy giờ, hình ảnh tự nhiên hiện lên trước nhất”. “Những hình ảnh còn tươi nguyên mà nhà thơ tìm thấy, bao giờ cũng mới mẻ, đột ngột lạ lùng”. “Hình ảnh của thơ vừa làm ta ngạc nhiên, vừa đã quen với chúng ta tự bao giờ”.

        Chữ và tiếng trong thơ phải hình tượng, hàm súc, biểu cảm và đa nghĩa.

        Nói về tính hình tượng, hàm súc, biểu cảm, đa nghĩa của ngôn ngữ thơ, tác giả viết: “Chữ và tiếng trong thơ; phải còn có một giá trị khác, ngoài giá trị ý niệm”. Điều kì diệu của thơ là mỗi tiếng, mỗi chữ, ngoài các nghĩa của nó, ngoài công dụng gọi lên sự vật, bỗng tự phá tung mở rộng ra, gọi đến xung quanh nó những cảm xúc, những hình ảnh không ngờ, toả ra xung quanh nó một vùng ánh sáng động đậy. Sức mạnh nhất của thơ là ở sức gợi ấy.

        Thi tại ngôn ngoại, thơ đa nghĩa và hàm súc là vẻ đẹp của thơ: Nguyễn Đình Thi đã dùng hình ảnh ngọn nến để nói lên đặc trưng ấy của thơ. “Mỗi chữ như một ngọn nến đang cháy, những ngọn nến ấy xếp lên nhau thành một vùng sáng chung. Ánh sáng không những ở đầu ngọn nến, nó ở tất cả xung quanh những ngọn nến. Ý thơ không những trong những chữ, nó vây bọc xung quanh”.

        Thơ mang tính biểu cảm, nên “đường đi của thơ là con đường đưa thẳng vào tình cảm, không quanh co, qua những chặng, những trung gian, những cột cây số”.

        Ngôn ngữ thơ hàm súc, “thơ là tổng hợp, kết tinh”; thơ “luôn luôn đòi hỏi sự toàn bích”.

        Thơ tự do và thơ không vần

        Nguyễn Đình Thi cho biết những luật lệ của thơ, từ âm điệu, đến vần, đều là những vũ khí rất mạnh trong tay người làm thơ. Nếu thiếu vũ khí ấy “trận đánh gay go thêm nhiều, nhưng người làm thơ vẫn có thể thắng”. (Phải là thiên tài mới có thể thắng!). Tác giả cho rằng: “không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không vần. Chỉ có thơ thực và thơ giả, thơ hay và thơ không hay, thơ không thơ”. Phải để cho nhà thơ “tìm tòi, thử thách”, “một thời đại mới của nghệ thuật thường bao giờ cũng tạo ra một hình thức thơ mới”.

        Bên cạnh những ý tưởng đúng đắn về chất lượng thơ, sự đổi mới thơ, ta còn băn khoăn về điều tác giả nói như đinh đóng cột: “Không có vấn đề thơ tự do, thơ có vần và thơ không có vần”. Đọc thơ Việt hiện nay, ta càng thấy ý kiến ấy không thuyết phục.

        Thơ phải sáng tạo nhưng không thể buông thả, bừa bãi. Những bài thơ tục tĩu hoặc nói lãng nhăng tầm phào mà ta thường thấy trên báo chí hiện nay đã làm cho “thơ phản thơ”, làm cho độc giả quay lưng lại với thơ! Hành trình của thơ Việt còn cần rất nhiều những nhà thơ tài năng, lỗi lạc.

        Nguyễn Đình Thi đà sáng tạo ca khúc, viết kịch, viết truyện ngắn, viết tiểu thuyết, viết lí luận, phê bình và làm thơ. Thơ là thành tựu xuất sắc của ông.

        Bài “Mấy ý nghĩ về thơ” ra đời cách chúng ta đã 60 năm. Người đọc hôm nay dễ dàng nhận thấy những điều mà tác giả bàn về thơ không mới. Tác giả đã có một cách viết tài hoa, cảm xúc dào dạt. Cầu kì và lan man, sa đà là phần hạn chế, nhất là khi tác giả nói về bản chất của thơ, ngôn ngữ thơ, hình tượng thơ, tính biểu cảm, tính hàm súc, đa nghĩa của thơ. Một số so sánh của tác giả nêu lên có lúc làm cho lí lẽ thêm rối.

        Thơ Việt từ năm 1945 đến nay đã có nhiều thành tựu và đang trên đà đổi mới. Lí luận về thơ cũng không dừng lại cái hỏm qua đã có, đã bàn luận. Khiếu thẩm mỹ của độc giả ngày nay không còn đơn giản nữa; các nhà làm thơ, các nhà lí luận phê bình thơ cần biết rõ sự thực ấy. “Mấy ý nghĩ về thơ” của Nguyễn Đình Thi như một tiếng nói tâm tình, chúng ta đón đọc với tình cảm trân trọng.

     

  • Top 2 bài phân tích, cảm nhận tác phẩm: Mấy ý nghĩ về thơ hay nhất

    Top 2 bài phân tích, cảm nhận tác phẩm: Mấy ý nghĩ về thơ hay nhất

    Top 2 bài phân tích, cảm nhận tác phẩm Mấy ý nghĩ về thơ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 3 Phân tích Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc hay nhất

    [toc]

    Phần Mấy ý nghĩ về thơ Ngữ văn lớp 12 gồm các bài văn mẫu: phân tích, dàn ý, nghị luận, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 12 và tự tin bước vào kì thi THPT Quốc gia môn Văn.

    1. Cảm nhận về bài Mấy ý nghĩ về thơ
    2. Phân tích bài Mấy ý nghĩ về thơ

     

  • Top 3 Phân tích Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc hay nhất

    Top 3 Phân tích Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc hay nhất

    Top 3 Phân tích Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bài Phân tích Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng.

    Bài văn mẫu

       Thủ tướng Phạm Văn Đồng là nhà chính trị, ngoại giao tài ba đồng thời cũng là nhà văn hóa lớn. ông để lại cho đời nhiều tác phẩm có giá trị. Với những cống hiến lớn lao cho đất nước, ông đã được Nhà nước tặng thưởng Huân chương Sao vàng và nhiều Huân chương cao quý khác.

       Về văn học, Phạm Văn Đồng viết nhiều bài nghị luận đặc sắc về các danh nhân văn hóa như Nguyễn Trãi, Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Chí Mình… Trong đó có bài Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.

       Bài văn viết nhân dịp kỉ niệm 75 năm ngày mất của nhà thơ Đồ Chiểu (3-7- 1888) và đăng trên Tạp chí Văn học tháng 7 – 1963. Đây là thời kì đế quốc Mĩ quyết định tài trợ, can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến tranh ở miền Nam. Phong trào đấu tranh chống Mĩ và tay sai của nhân dân miền Nam nổi lên khắp nơi, tiêu biểu là phong trào đồng khởi của nhân dân Bến Tre. Hoàn cảnh lịch sử ấy giúp chúng ta hiểu thêm tại sao tác giả Phạm Văn Đồng lại nhấn mạnh thời điểm khi ông viết bài văn ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu.

       Nội dung sâu sắc và mới mẻ mà tác giả đặt ra trong bài viết là: Nguyễn Đình Chiểu, một nhân cách trong sáng, một nhà thơ lớn của dân tộc cần phải được đánh giá đúng đắn hơn, đầy đủ hơn.

       Bài viết có sức lôi cuốn mạnh mẽ do ngôn ngữ tác giả sử dụng vừa xúc động, thiết tha, kết hợp với nhiều hình ảnh, ngôn từ có khả năng gợi tả, gợi cảm cao, đặc biệt là phương pháp nghị luận chặt chẽ và xác đáng.

       Tác giả mở đầu bài viết bằng một nhận định khách quan có tính thời sự, chứa đựng luận đề (chủ đề) của bài viết: Ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ lớn của nước ta, đáng lẽ phải sáng tỏ hơn nữa trong bầu trời văn nghệ của dân tộc, nhất là trong lúc này. Lúc này là năm 1963, đất nước ta đang bị tạm thời chia cắt làm hai miền. Nhân dân miền Bắc vừa xây dựng xã hội chủ nghĩa vừa là hậu phương lớn tiếp sức cho nhân dân miền Nam chiến đấu chống đế quốc Mĩ xâm lược và bè lũ ngụy quyền tay sai bán nước.

       Từ năm 1954 đến 1959, đế quốc Mĩ và chính quyền Ngô Đình Diệm triển khai chính sách tố Cộng, ra sức truy nã, bức hại những người kháng chiến cũ, bắt bớ, tù đày và gây ra nhiều vụ tàn sát đẫm máu khắp miền Nam.

       Từ năm 1960, Mĩ quyết định tài trợ và can thiệp sâu hơn vào cuộc chiến. Năm 1964, chúng đưa thêm 16.000 binh lính và sĩ quan Mĩ vào miền Nam. Chỉ một năm sau, con số ấy đã tăng lên tới 543.000.

       Trước tình hình đó, phong trào đấu tranh chống Mĩ – ngụy của nhân dân miền Nam nổi lên mạnh mẽ, quyết liệt; tiêu biểu nhất là phong trào đồng khởi ở Bến Tre. Đây là thời điểm cách mạng miền Nam đứng trước nhiều khó khăn, thử thách. Hoàn cảnh lịch sử trên giúp chúng ta hiểu thêm tại sao Thủ tướng Phạm Văn Đồng lại nhấn mạnh thời điểm ông viết bài văn ca ngợi nhà thơ mù yêu nước Nguyễn Đình Chiểu nhằm khẳng định truyền thống đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, động viên nhân dân cả nước vùng lên tiêu diệt bọn bán nước và cướp nước.

       Tác giả đã sử dụng ẩn dụ nghệ thuật để khẳng định tài năng văn chương và tấm lòng yêu nước, thương dân vô cùng đáng quý của nhà thơ đất Lục tỉnh Nam Kỳ: Trên trời có những vì sao có ánh sáng khác thường, nhưng con mắt của chúng ta phải chăm chú nhìn thì mới thấy, và càng nhìn thì càng thấy sáng. Văn thơ của Nguyễn Đình Chiểu cũng vậy. Có người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của Lục Vân Tiên, và hiểu Lục Vân Tiên khá thiên lệch về nội dung và về văn, còn rất ít biết thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, khúc ca hùng tráng của phong trào yêu nước chống bọn xâm lược Pháp lúc chúng đến bờ cõi nước ta cách đây một trăm năm!

       Theo tác giả, có hai lí do khiến ngôi sao Nguyễn Đình Chiểu chưa sáng tỏ trên bầu trời văn nghệ của dân tộc. Lí do thứ nhất: Nhiều người chỉ biết Nguyễn Đình Chiểu là tác giả của truyện thơ Lục Vân Tiên và họ hiểu khá thiên lệch về nội dung, nghệ thuật của truyện. Lí do thứ hai: Phần lớn người đọc biết rất ít về thơ văn yêu nước 1 một bộ phận quan trọng trong sự nghiệp sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu.

       Từ đó, tác giả đi đến kết luận; Nguyễn Đình Chiểu là một nhà thơ yêu nước mà tác phẩm là những trang bất hũ ca ngợi cuộc chiến đấu oanh liệt của nhân dân ta chống bọn xâm lược phương Tây ngay buổi đầu lúc chúng đặt chân lên đất nước chúng ta. Những luận điểm nêu trong phần mở bài này đã được tác giả phân tích và chứng minh để làm sáng tỏ ở phần sau.

       Trong phần thân bài, trước hết tác giả giới thiệu về Nguyễn Đình Chiểu, nhấn mạnh đến khí tiết của một nhà thơ yêu nước, thương dân, trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớn: Nguyễn Đình Chiểu vốn là một nhà nho, nhưng sinh trưởng ở đất Đồng Nai hào phóng, lại sống giữa lúc nước nhà lâm nguy, vua nhà Nguyễn cam tâm bán nước để giữ ngai vàng, nhưng khắp nơi, nhân dân và sĩ phu anh dũng đứng lên đánh giặc cứu nước. Vì mù cả hai mắt, hoạt động của người chiến sĩ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu chủ yếu là thơ văn. Và những tác phẩm đó, ngoài những giá trị văn nghệ, còn quý giá ở chỗ nó soi sáng tâm hồn trong sáng và cao quý lạ thường của tác giả, và ghi lại lịch sử của một thời khổ nhục nhưng vĩ đại!

       Tác giả khẳng định: Cuộc đời Nguyễn Đình Chiểu là tấm gương chói sáng về tinh thần yêu nước thiết tha và thái độ căm thù giặc sâu sắc. Quan điểm của ông là dùng thơ văn làm vũ khí chiến đấu chống xâm lược, ca ngợi chính nghĩa và truyền thống đạo lí tốt đẹp của nhân dân lao động, phê phán những kẻ lợi dụng văn chương để làm những điều xằng bậy, xấu xa. Ý trên đã được thể hiện qua hai đoạn văn ngắn gọn và cô đúc: Cuộc đời và thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là của một chiến sĩ hi sinh phấn đấu vì một nghĩa lớn. Thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu là thơ văn chiến đấu, đánh thẳng vào giặc ngoại xâm và tôi tớ của chúng:

        Học theo ngòi bút chí công

        Trong thi cho ngụ tấm lòng Xuân thu

       Đối với Nguyễn Đình Chiểu, cầm bút, viết văn là một thiên chức. Và Nguyễn Đình Chiểu trọng chức trách của mình chừng nào thì càng khinh miệt bọn lợi dụng văn chương để làm việc phi nghĩa chừng nấy:

        Thấy nay cũng nhóm văn chương

        Vóc dê da cọp khôn lường thực hư!

       Sau khi khẳng định cuộc đời và quan điểm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu, tác giả lần lượt lấy thơ văn yêu nước và tác phẩm Lục Vân Tiên để chứng minh.

       Khi phân tích thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, Phạm Văn Đồng đã đặt vào bối cảnh lịch sử lúc bấy giờ của nhân dân Nam Bộ với phong trào chống Pháp do Trương Định, Nguyễn Hữu Huân lãnh đạo và trong dòng chảy của văn thơ yêu nước giai đoạn này để thấy rõ nguồn mạch phát sinh cảm hứng là tất yếu, đồng thời khẳng định vị trí lá cờ đầu của Nguyễn Đình Chiểu trong thơ văn yêu nước chống Pháp thời kì cận đại cuối thế kỉ XIX.

       Tác giả nhận xét về thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu bằng một luận điểm ngắn gọn, cô đúc: Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu làm sống lại trong tâm trí của chúng ta phong trào kháng Pháp oanh , liệt và bền bỉ của nhân dân Nam Bộ từ 1860 về sau, suốt hai mươi năm trời.

       Vì sao tác giả lại mở đầu phần này bằng việc tái hiện hoàn cảnh lịch sử nước ta trong giai đoạn lịch sử sau năm 1860? Bởi vì một nhà văn chỉ thực sự lớn khi tác phẩm của nhà văn ấy phản ánh một cách trung thành những đặc điểm cơ bản nhất của một giai đoạn tịch sử có ý nghĩa trọng đại đối với đời sống của đất nước, nhân dân. Riêng điểm này, Nguyễn Đình Chiểu đã xứng đáng là ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.

       Trong khi vua quan nhà Nguyễn thua trận đầu hàng cắt đất dâng cho giặc thì các tầng lớp nhân dân Nam Bộ lúc bấy giờ, nhân dân lao động và các bậc sĩ phu đều kiên quyết vùng dậy đánh giặc cứu nước. “Giặc đến nhà đàn bà phải đánh”. Phong trào bắt đầu dấy lên ở miền Đông, sau lan rộng khắp nơi ở “Lục tỉnh”, biến thành cuộc chiến tranh nhân dân rộng lớn, nhiều nơi, nhiều lúc sôi nổi và mạnh mẽ lạ thường, khiến cả kẻ thù cũng không tiếc lời tỏ lòng khâm phục…

       Tác giả gọi thời kì Nguyễn Đình Chiểu sống là một thời khổ nhục nhưng vĩ đại. Vì thế, sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu vừa là tấm gương phản chiếu một thời đại, vừa là lời kêu gọi nhân dân vùng lên đấu tranh và ngợi ca những nghĩa sĩ dũng cảm, đồng thời cũng là lời than khóc cho những anh hùng thất thế đã bỏ mình trong cuộc chiến đấu vì nước, vì dân.

       Tác giả khẳng định: Cho nên không phải ngẫu nhiên mà thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu, một phần lớn là những bài văn tế, ca ngợi những người anh hùng suốt đời tận trung với nước và than khóc những người Hệt sĩ đã trọn nghĩa với dân.

       Song, văn chương chân chính còn phải tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại. Thơ văn yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu là như thế. Phạm Văn Đồng khẳng định: Tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu lớn lao bởi sức cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu chống thực dân, bằng cách làm cho lòng người rung động trước những hình tượng sinh động và não nùng của những con người suốt đời tận trung với nước, trọn nghĩa với dân, giữ vẹn khí phách hiên ngang cho dù chiến bại.

       Mặt khác, bản chất của văn chương là sáng tạo. Văn chương đóng góp cho cuộc đời bằng những cái độc đáo, chưa từng thấy ở các tác phẩm trước đó hay cùng thời ấy. Đó là lí do khiến Phạm Văn Đồng nói đến bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc nhiều nhất và hào hứng nhất.

       Bài văn nghị luận Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc được tác giả viết nên không chỉ bằng một trí tuệ sáng suốt, sâu sắc mà còn bằng một cảm xúc mạnh mẽ khác thường. Sự kết hợp giữa con tim và khối óc đã khiến tác giả viết được những câu văn hay nhất, làm rung động lòng người. Nhưng tác giả đã không viết về Nguyễn Đình Chiểu với nỗi tiếc thương của một người hoài cổ mà tác giả luôn nhìn người xưa từ hôm nay và đặt ra vấn đề vì cuộc sống hôm nay. Chính vì thế mà những con người đang sống hết mình trong cuộc chiến đấu hào hùng chống đế quốc xâm lược ngày càng có điều kiện để thông cảm hơn với một con người cũng đã sống hết mình trong công cuộc chống thực dân Pháp oanh liệt mà đau thương thuở ban đầu. Điều ấy cũng đã khiến cho Nguyễn Đình Chiểu trở thành ngôi sao càng nhìn càng thấy sáng.

       Nghệ thuật của đoạn văn này thể hiện ở phương pháp lập luận chặt chẽ, ở bố cục rõ ràng, mạch lạc, ở ngôn ngữ trong sáng, tự nhiên với những lời bình hàm súc, sắc sảo, mới mẻ về bài Văn nổi tiếng: Ngòi bút, nghĩa là tâm hồn trung nghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã diễn tả, thật là sinh động và não nùng, cảm tình của dân tộc đối với người chiến sĩ của nghĩa quân, vốn là người nông dân, xưa kia chỉ quen cày cuốc, bỗng chốc trở thành người anh hùng cứu nước.

       Tác giả dẫn một đoạn của bài Văn tế, so sánh với Đại cáo bình Ngô của Nguyễn Trãi rồi bình: Hai bài văn, hai cảnh ngộ, hai thời buổi, nhưng một dân tộc. Bài cáo của Nguyễn Trãi là khúc ca khải hoàn, ca ngợi những chiến công oanh liệt chưa từng thấy, biểu dương chiến thắng làm rạng rỡ nước nhà. Bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc là khúc ca những người anh hùng thất thế, nhưng vẫn hiên ngang: “Sống đánh giặc thác cũng đánh giặc… muôn kiếp nguyện được trả thù kia…”. Kết thúc đoạn văn này, tác giả bày tỏ lòng tưởng nhớ đến hương hồn của nhà thơ yêu nước cùng những nghĩa quân đã anh dũng hi sinh cho nghĩa lớn: Có lẽ dưới suối vàng, linh hồn của Nguyễn Đình Chiểu và nhũng nghĩa quân lúc bấy giờ, ngày nay phần nào đã được hả dạ. Phần tiếp theo, tác giả giới thiệu truyện Lục Vân Tiên, tác phẩm lớn nhất của Nguyễn Đình Chiểu có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong dân gian, nhất là ở miền Nam và chỉ ra một số nhận xét chưa đúng về truyện Lục Vân Tiên. Ông chứng minh giá trị của tác phẩm này bằng cách phân tích cái hay, cái đẹp về cả nội dung lẫn nghệ thuật: Đúng, đây là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời, ca ngợi những người trung nghĩa! Tác giả cũng nhận xét một cách khách quan là: Tất nhiên, những giá trị luân lí mà Nguyễn Đình Chiểu ca ngợi, ở thời đại chúng ta, theo quan điểm của chúng ta thì có phần đã lỗi thời… về mặt nghệ thuật của tác phẩm Lục Vân Tiên, Thủ tướng Phạm Văn Đồng cũng chỉ ra rằng: về văn chương của Lục Vân Tiên, phải để ý đây là một chuyện “kể”, chuyện “nói”. Tác giả cố ý viết một lối văn “nôm na”, dễ hiểu, dễ nhớ, có thể truyền bá rộng rãi trong dân gian. Cho nên, dù có chỗ này chỗ khác lời thơ chưa được hay, chưa được trau chuốt thì cũng là điều khó tránh khỏi. Dẫu sao đôi chỗ sơ sót về văn chương không thể làm giảm giá trị văn nghệ của bản trường ca thật là hấp dẫn từ đầu đến cuối. Đánh giá trên đây cho thấy tác giả là người luôn giữ được sự trung thực và công bằng trong khi nghị luận.

       Bài viết kết thúc bằng những câu văn thể hiện tình cảm kính yêu và lòng biết ơn chân thành: Nhân kỉ niệm ngày mất của Nguyễn Đình Chiểu (ngày 3 tháng 7 năm 1988), trong lòng chúng ta, chúng ta hãy đốt một nén hương để tưởng nhớ người con quang vinh của dân tộc.

       Giá trị bài nghị luận văn học Nguyễn Đình Chiểu, ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc của Thủ tướng Phạm Văn Đồng không chỉ nằm ở nội dung sâu sắc, xúc động mà còn ở phương pháp lập luận khúc chiết, mạch lạc, ở ngôn ngữ trong sáng, giàu cảm xúc, có sức thuyết phục cao. Bằng hiểu biết thấu đáo, cách nhìn, cách nghĩ mới mẻ và nhiệt tình của một người gắn bó hết mình với nước, với dân, Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã làm sáng tỏ mối liên hệ khăng khít giữa thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu với hoàn cảnh lịch sử lúc bấy giờ và với thời đại hiện nay. Tác giả hết lòng ca ngợi Nguyễn Đình Chiểu, một nhà thơ trọn đời dùng cây bút làm vũ khí chiến đấu cho dân, cho nước: Nhà thơ yêu nước Nguyễn Đình Chiểu xứng đáng là một ngôi sao sáng trong văn nghệ của dân tộc.