Tag: Văn nghị luận mẫu

  • Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay

    Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay

    Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề thi Đại học môn Văn năm 2011


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ôn thi đại học môn văn – Trình bày suy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay

    Ôn thi đại học môn văn

    Đề 23: Trong tác phẩm ” nhìn về vốn văn hoá dân tộc” của Trần Đình Hượu viết “con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá không chỉ trông cậy vào sự sáng tạo mà còn trong cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên mình.” Anh chị trình bày uy nghĩ của mình về hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay.

    Bài làm

    Vượt hành trình gian nan để đổ về đại dương, dòng sông luôn khởi khởi nguồn từ đất liền, chảy qua bao vùng miền để hoà vào biển lớn. Dòng sông văn hoá Việt Nam cũng khởi nguồn từ quá khứ 4000 năm lịch sử, chảy trong thời gian qua các miền văn hoá kế thừa và sáng tạo kết tụ lại thành những giá trị văn hoá Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc.Nhưng “ con đường hình thành bản sắc dân tộc của văn hoá ko chỉ trông cậy vào sự tạo tác của chính dân tộc đó mà còn trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh,khả

    năng đồng hoá các giá trị văn hoá bên ngoài”- quan điểm đó của Trần Đình Hượu đã đặt ra trong lòng độc giả những trăn trở, đặc biệt trong hiện tượng tiếp nhận văn hoá ngoại lai của giới trẻ hiện nay.

    Văn hoá Việt Nam hình thành sớm, xuất hiện từ những ngày công xã nguyên thuỷ, phát triển qua nền văn minh lúa nước, hình thành những loại hình văn hoá dân gian từ sự chạm khắc của miền truyền thuyết ,ca dao, cổ tích với những tập tục ăn trầu, búi tóc từ thủa cổ xưa.

    “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi

    Đất nước có trong cái ngày xửa ngày xưa mẹ thường hay kể

    Đất nước bắt đầu với miếng trầu bây giờ bà ăn

    Đất nước lớn lên khi dân mình biết trồng tre mà đánh giặc

    Tóc mẹ thì bới sau đầu….”

    Và cùng với sự ra đời của nhà nước quân chủ chuyên chế, xã hội phong kiến đã mang đến cho nền văn hoá Việt nam những dấu

    ấn đặc sắc mang đậm tính chất Á Đông. Người Việt Nam có quyền tự hào về vốn văn hoá đậm đà thuần Việt cả trong những lĩnh vực Văn học, nghệ thuật, kiến trúc, hội hoạ , điêu khắc…Với nền văn học dân gian phong phú thể loại (truyền thuyết, cổ tích, ngụ ngôn, truyện cười, thơ nôm, sử thi….) mà đỉnh cao là thể thơ

    lục bát, vẫn được sử dụng đến ngày nay. Kiến trúc Việt Nam với những mái đình cổ kính, thấp thoáng ẩn hiện dưới những gốc đa, sau những rặng tre xanh, bến nước, sân đình…Các làn điệu dân ca như ca trù, quan họ, cải lương….hay những nghệ thuật hội

    hoạ dân gian Đông Hồ….có thể coi là những thành quả đã có làm

    cơ sở xây dựng một nền văn hoá phong phú đa dạng đậm đà bản sắc dân tộc VN.

    Nhưng “con đường hình thành bản sắc dân tộc đâu chỉ trông cậy vào khả năng tạo tác ” tức là sáng tác,kế thừa và phát huy những gì đã có mà còn phải “ trông cậy vào khả năng chiếm lĩnh, sự đồng hoá những giá trị văn hoá bên ngoài”. Phải chăng, hành trình phát triển văn hoá từ sông ra biển chính là sự đồng hành của quá trình giao lưu và tiếp biến văn hoá- cũng chính là khả

    năng đồng biến và chiếm lĩnh những giá trị văn hoá bên ngoài? Khả năng chiếm lĩnh và đồng hoá phải chăng là khả năng tiếp thu hội nhập nhiều nền văn hoá, khả năng đón nhận những ảnh hưởng của nền văn minh văn hoá lớn, khả năng tiếp thu chủ động, biến những cái ngoại lai thành cái của mình và có sàng lọc. Do bối cảnh của lịch sử với bao thăng trầm, trwocs những dòng chủ lưu về văn hoá ồ ạt theo con đường cai trị của phong kiến thực dân xâm nhập vào văn hoá Việt Nam một cách có hệ thống thì việc “chiếm lĩnh” và” đồng hoá” để ko bị chiếm lĩnh và đồng hoá lại là vô cùng cần thiết, nó quyết định tới sự tồn tại riêng rẽ của một nền Văn hoá Việt ko thể hoà lẫn. “Truyện Kiều” của Nguyễn Du cũng là một cách tiếp thu có chọn lọc những giá trị của văn học trung hoa từ “Kim Vân Kiều truyện” của Thanh Tâm Tài Nhân để trở thành đỉnh cao của văn học dân tộc, sự chuyển thể từ thể loại truyện sang truyện thơ ( Nôm) là một sự đồng hóa hết sức sáng tạo và tích cực của đại thi hào Nguyễn Du. Các thể thơ nôm đường luật cũng là hệ quả của quá trình tiếp thu và lĩnh hội có chọn lọc như thế. Kiến truc văn hoá đình chùa ảnh hưởng

    từ Phật giáo từ Trung Quốc hay Ấn Độ nhưng vẫn mang dáng vẻ

    kiến trúc Việt Nam cũng là một tminh chứng diệu kì cho khả

    năng” chiếm lĩnh” và” đồng hoá” những giá trị Văn hoá bên ngoài.

    Cùng với sự đổi thay của lịch sử, bước sang kỉ nguyên hội nhập

    với bao thay đổi của nền kinh tế thị trường, trước ngưỡng cửa

    của sự xâm nhập văn hoá với quy mô toàn cầu thì nhận định của

    Giáo sư Trần Đình Hượu đặt ra bao suy tư cho giới trẻ về trách

    nhiệm của bản thân trong thời đại mới. Trước dòng chảy xâm

    nhập ào ạt của nền văn hoá ngoại lai từ các nền văn minh trên

    thế giới, một bộ phận thanh niên Việt Nam đã biết nắm bắt lấy

    thời cơ, phát triển nền văn hoá dân tộc vốn đã giàu đẹp ngày

    càng văn minh và tiến bộ hơn, Sự tiếp thu có hệ thống các hệ tư

    tưởng văn hoá tây phương với những phong cách nghệ thuật thơ

    văn của Pháp, Italia, Anh, hay Đức, các công trình kiến trúc đậm

    dấu ấn cổ điển hay hiện đại của những quốc gia này cũng được

    tiếp thu và thiết kế bài bản. Chính sự năng động và sáng tạo đó

    đã góp phần làm văn minh hơn, giàu có hơn cho bản sắc văn hoá

    Việt Nam, tạo nên sự phối trộn hài hoà giữa cũ và mới, cổ điển và

    hiện đại, truyền thống và cách tân. Sự giao lưu và tiếp biến được coi là “nguồn gen tiến hoá” cho sự phát triển của văn hoá dân tộc trong giai đoạn giao lưu và hội nhập. Nền văn hoá Internet, văn hoá Online, văn hoá Game, hay sự thay đổi của trào trào lưu thời trang trên thế giới góp phần lột xác hình ảnh đất nước Việt Nam vốn vẫn được biết đến là nền văn hoá nông nghiệp với hình ảnh “con trâu đi trước cái cày theo sau”. Để làm đwocj điều đó, không chỉ đòi hỏi người thanh niên Việt Nam ph ải năng động sáng tạo biết nắm bắt du nhập một cách có chọn lọc mà còn đặt ra vấn đề về sự bảo tồn những nét văn hoá truyền thống cũ, hoà nhập nhưng ko hoà tan- đó cũng là một thách thức đầy khó khăn, là những chướng ngại vật trong hành trình dòng chảy tiếp biến, hội nhập. Bởi bên cạnh những cá nhân, tập thể tích cực cũng tồn tại không ít những thanh niên sống thiếu lí tưởng, ko có MĐ rõ ràng, du nhập văn hoá một cách tràn lan máy móc, cả những nền văn hoá vốn ko mang nhiều giá trị nhân văn thẩm mĩ chỉ để thoả mãn nhu cầu sống gấp, sống sành điệu của một bộ phận giơí trẻ ngày nay. Đó là bộ phận có biểu hiện sống ngoại lai mất gốc, xa rời

    văn hoá truyền thống dân tộc, bị hoà tan một cách hoàn toàn trong dòng lũ hội nhập mà tự đánh mất chính mình. Một số khác lại có tư tưởng bảo thủ, không chiêm slĩnh, đồng hoá văn hoá ngoại lai, chỉ khư khư chăm chút cho cái vốn văn hoá xưa của dân tộc, không chịu du nhập, đổi mới, Bất giác, ở họ gợi lên hình ảnh về biển Chết, suốt đời chỉ khư khư khép mình, ko nhận nước từ bất kì dòng chảy nào nên chưa ở đâu sự sống của các loài sinh vật lại nghèo nàn đến thế.Có thể nói, cả 2 đối tượng trên đều có ảnh hưởng tiêu cực, là bước cản trở trên con đường xây dựng một nền văn hoá tiến tiến đậm đà bản sắc dân tộc.

    • thức được trách nhiệm và sứ mệnh của bản thân đòi hỏi mỗi

    thanh niên của thời đại mới cần có thái độ và nhận thức đúng đắn về trách nhiệm, xác định lập trường tư tưởng vững vàng, để phát huy mặt mạnh, hạn chế mặt còn thiếu sót củavăn hoá dân tộc, tích cực quảng bá văn hoá dân tộc tới bạn bè quốc tế, có thái độ tôn trọng đúng mực và chiếm lĩnh đồng hoá hiệu quả nền văn hoá ngoại lai, Điều đó là một ẩn số chỉ được giải quyết bằng bất đẳng thức hành động của mỗi con người.

    Có một câu hỏi khá phổ biến khi ta đặt chân lên xứ người” Bạn

    đến từ đâu”. Hãy tự hào trả lời 2 tiếng” Việt Nam” và giới thiệu

    cho họ về đất nước hình chữ S- khi bạn đã tự tin về nền văn hoá

    đậm đà bản sắc của mình!

  • Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các đề cương đại học hiện có của Đại Học Hàng HảiĐề Cương VIMARU 

    Kéo xuống để Tải ngay đề cương bản PDF đầy đủ: Sau “mục lục” và “bản xem trước”

    (Nếu là đề cương nhiều công thức nên mọi người nên tải về để xem tránh mất công thức)

    Đề cương liên quan: Đề luyện thi đại học môn văn 2019 khối D


    [toc]

    Tải ngay đề cương bản PDF tại đây: Ôn thi đại học môn văn – Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh

    Ôn thi đại học môn văn

    Phân tích Tuyên ngôn Độc lập của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

    BÀI LÀM

    Người đọc bản tuyên ngôn độc lập (cũng là tác giả) cất lời là vào

    ngay vấn đề, nhằm thẳng mục tiêu; xác định một chân lý, nghĩa là

    khẳng định một chủ quyền.

    Nước Việt Nam là của người Việt Nam. Chân lý bao giờ cũng

    giản dị đối với người sáng suốt, có thiện chí muốn tiếp thu nó.

    Còn đối với những kẻ có tà tâm bị lợi lộc ích kỷ làm cho mù, cho

    điếc, không còn muốn thấy sự thật, muốn nghe lẽ phải thì rất khó

    tiếp thu. Phải giải thích. Tốt nhất là dựa vào những lý lẽ có uy thế

    từ lâu.

    Đối tượng được nghe trước hết là một triệu đồng bào trong cuộc

    biểu tình, là hai mươi lăm triệu nhân dân cả nước đang hướng về

    Thủ đô Cách mạng…Tất nhiên chúng ta hiểu được nước ta là

    của ta. Ta hiểu từ lâu rồi, từ bốn nghìn năm dựng nước và giữ

    nước. Ta đã khẳng định như thế nhiều lần, “Nam quốc sơn hà

    Nam đế cư” hoặc:

    “Như nước Đại Việt ta từ trước

    Vốn xưng nền văn hiến đã lâu

    Núi sông bờ cõi đã chia

    Phong tục Bắc Nam cũng khác.”

    (Bình Ngô đại cáo)

     

    Nhưng trong hai mươi lăm triệu tất cũng có người còn ngơ ngác

    bàng hoàng vì cuộc khởi nghĩa đã thắng lợi quá nhanh, chưa kịp

    tĩnh tâm để xóa được ngay những luận điệu xảo trá tung ra liên

    tục tám chục năm qua. Và, có hiểu rồi, nhắc lại cũng không sao.

    Có những sự thật nghe hàng nghìn lần vẫn thấy sảng khoái.

    Mặt khác, đối tượng nghe đâu phải chỉ có Việt Nam.

    Còn có “Đồng Minh”, có Mỹ, tên trùm tư bản quốc tế, đã trở thành

    tên đế quốc đầu sỏ sau đại chiến. Có Pháp đang hí hửng giơ

    vuốt, nhe nanh. Hồ Chí Minh hôm nay, Nguyễn Ái Quốc hôm qua

    còn lạ gì bụng dạ chúng. Lấy ngay lời nói của chính các bậc tiền

    bối của chúng, những lời tuyên bố trịnh trọng trong những hoàn

    cảnh lịch sử vĩ đại mà chúng không thể biết. Chúng cố tình quên

    thì nhắc lại. Nhắc lại những lời chí lý của những người Mỹ cách

    đấy chỉ gần hai trăm năm cũng có hoàn cảnh bị áp bức, bị làm

    nhục như Việt Nam. Câu nói của tên thủ tướng Anh Uy – Liêm

    như còn văng vẳng bên tai: “Hễ Mỹ làm ra dù chỉ một sợi len, một

    miếng sắt móng ngựa là bản chức sẽ cho lính sang đóng đầy xứ

    ngay lập tức.”

    Mười lăm năm sau bản Tuyên ngôn của Mỹ là bản Tuyên ngôn

    của Pháp, của những người Pháp không chịu được cái phải cõng

    trên lưng, đội trên đầu mấy chú quý tộc, mấy anh tăng lữ, không

    chịu được câu nói hống hách vô nghĩa của mấy tên vua: “Trẫm

    muốn, ấy là pháp luật”.

    Hồ Chủ Tịch khổng chỉ lấy lại lời nói hay của người xưa mà còn

    giải thích, bình luận, khái quát, nâng lên một tầm vóc cao hơn,

    rộng hơn, mới hơn. Từ hạnh phúc cá nhân, người nâng lên vấn

    đề “quyền sống quyền sung sướng và quyền tự do” của các dân

    tộc. Không chỉ một cá nhân có quyền bình đẳng về quyền lợi với

    một cá nhân khác mà các dân tộc đều sinh ra bình đẳng với nhau

    về mọi mặt, nghĩa là một dân tộc dù nhỏ bé, dù thuộc chủng tộc

    da đen, da vàng cũng có quyền bình đẳng với một dân tộc lớn

    thuộc chủng tộc da trắng của nước tiên tiến nhất Âu, Mĩ. Cuộc

    tranh đấu ấy cũng là mục tiêu lớn, nội dung lớn của thời đại

    chúng ta, thời đại mở cửa đầu của Cách mạng tháng Mười, thời

    đại mà tính chất sẽ được khẳng định trong hội nghị 81 họp năm

    1960 tại Ma-xcơ-va. Thực tế cách mạng đã xác định tính thiên tài

    trong cách nhìn, cách nghĩ của vị lãnh tụ đã từng là đại biểu của

    các dân tộc thuộc địa và bênh vực họ không biết mệt mỏi trong

    các hội nghị quốc tế.

    Đoạn văn mở đầu hết sức gọn, súc tích. Hai câu trích bổ sung

    cho nhau. Một lời bình luận, một câu kết thúc, gói lại thật chặt,

    thật vững.

    “Thế mà…”

    Chỉ một lớp chuyển tiếp là đủ mở ra hết nội dung của đoạn sau.

    Nó như một tiếng thở dài uất hận, một lời phê phán nghiêm khắc

    những kẻ muối mặt, cố tình làm bậy. Và thế là Bản án chế độ

    thực dân Pháp đã từng được đưa ra trước tòa án lịch sử cách

    đấy hai mươi năm lại được tóm tắt đưa ra lần nữa trước công

    luận Việt Nam và thế giới.

    Vẫn là lập trường dân tộc rộng rãi của người viết, vẫn là lòng căm

    giận quân cướp nước thể hiện bằng những lời lẽ súc tích, đanh

    thép. Những động từ, tính từ, trạng từ đều hết sức nặng để miêu

    tả bản chất bọn chúng (thẳng tay chém giết, ràng buộc dư luận,

    cướp không ruộng đất, hàng trăm thứ thuế vô lý…) Vẫn lòng xót

    xa đối với đất nước lầm than ở tính trữ tình và câu văn giàu hình

    ảnh (khiến dân ta nghèo nàn thiếu thốn, nước ta xơ xác tiêu điều,

    chúng tắm các cuộc khởi nghĩa của ta trong bể máu). Vẫn cái

    giọng châm biếm, đả kích sắc sảo, trí tuệ (thế là chẳng những

    chúng không “bảo hộ” được ta, trái lại trong năm năm, chúng bán

    nước ta hai lần cho Nhật).

    Bản tuyên ngôn này chỉ khái quát hai loại tội ác về chính trị và

    kinh tế, đủ nhắc nhở đồng bào tăng cường cảnh giác và để dùng

    làm một luận cứ cho lí lẽ của bản Tuyên ngôn: Pháp không có

    quyền nói đến chuyện “bảo hộ” Việt Nam.

    Hết tội xa đến tội gần.

    Bọn thực dân Pháp cũng như mọi kẻ áp bức, lúc còn quyền hành

    thì hống hách, hung bạo, lúc thất thế thì đê hèn, mất hết, mất hết

    liêm sỉ, giẫm lên nhân phẩm để bám lấy chút sống thừa. Quỳ gối

    đầu hàng Nhật, chúng gây bao nhiêu tội ác. Đối với nhân dân Việt

    Nam mà chúng vẫn rêu rao được chúng “bảo hộ”, “khai hóa”,

    chúng quàng thêm một ách lên đầu. Kết quả thảm hại, cụ thể mà

    lịch sử Việt Nam và nhân loại ghi bằng chữ máu không thể phai

    mờ với thời gian là hai triệu người đã chết đói “chỉ riêng từ Quảng

    Trị đến Bắc Kì”.

    Đối với Đồng minh là phe của chúng, chúng phản bội, chúng biến

    Việt Minh là những người đứng về phe Đồng Minh thành kẻ thù

    chính, và “thẳng tay khủng bố”.

    Nhiều động từ miêu tả được dùng để vẽ lên hình ảnh thảm bại

    của chúng: quỳ gối đầu hàng, mở cửa rước Nhật, bỏ

    chạy…Trong sự việc nêu ở câu cuối của đoạn văn mỗi chữ dùng,

    mỗi nét phác họa đều có ý nghĩa (thậm chí, nhẫn tâm, giết nốt số

    đông tù chính trị…).

    Đối lập với cái ti tiện, cái dã man của chúng là lượng hải hà, là

    những hành động văn minh của nhân dân ta. Cũng chỉ là những

    hiện tượng lịch sử. Nhưng đặt vào đây nó có tác dụng như một

    thủ pháp nghệ thuật làm nổi bật lên cái khác nhau về bản chất

    giữa ta và địch, khẳng định thêm về chất nhân đạo của dân ta.

    Đối với kẻ tay còn đẫm máu Việt Nam, nhân dân và cách mạng

    Việt Nam vẫn giúp họ, cứu họ, bảo vệ họ. Ba động từ biểu hiện

    ba hình thái tương quan với kẻ thù, ba trạng thái cụ thể của lòng

    nhân đạo Việt Nam. Giúp là đối với kẻ còn chủ động, muốn vượt

    biên giới tránh cái họa của chủ nghĩa phát xít Nhật. Ta thêm cho

    họ một cái đẩy tay giúp họ vượt được ranh giới giữa mong muốn

    và hiện thực. Cứu là đối với những kẻ bất lực, trong một tình thế

    nguy nan tuyệt vọng, những kẻ bị giam trong nhà tù Nhật, chỉ chờ

    ngày tận số…Ta phá cũi sổ lồng, cứu những con mồi của thần

    chết. Bảo vệ là đối với những con người đang còn bị đe dọa. Ta

    cứu họ rồi lại còn tiếp tục bảo vệ, không chỉ tính mạng mà còn cả

    tài sản nữa. Cái chu đáo của lòng nhân đạo Việt Nam là như thế.

    Vậy thì giữa những người Việt Nam như thế và những người

    Pháp như trên, ai bảo hộ ai? Và người Pháp có quyền gì đối với

    Việt Nam nữa không?

    Việc tính sổ trên đã có thể giải đáp rõ ràng.

    Thêm vào đó là một sự thực rành rành: từ tháng 9 – 1940 khi

    Nhật tràn qua Lạng Sơn vào Việt Nam, Pháp đã đầu hàng Nhật,

    đã bán chủ quyền nước ta cho Nhật. Về mặt pháp lý, một vật đã

    bán cho người khác tất thuộc quyền sở hữu của người đó. Và ta

    đã lấy lại vật ta đã mất từ tay Nhật. Như thế là về mọi mặt, dứt

    khoát Pháp không còn quan hệ gì với Việt Nam nữa. Bản tuyên

    ngôn có thể dõng dạc tuyên bố “thoát li hẳn quan hệ với Pháp”.

    Những từ, những ý lập lại (Sự thật là mùa thu…Sự thật là dân

    ta…) những ý phủ định thèm vào song song tạ các vế để nhấn

    mạnh (của Nhật, chứ không phải của Pháp) như chồng chất thêm

    những tầng lớp cản, ngăn cách dứt khoát mọi thứ bắt mối ảo

    tưởng về chủ quyền của người Pháp trên đất Việt Nam. Những

    trạng từ dùng trong quan hệ với Pháp: thoát li hẳn, xóa bỏ hết,

    xóa bỏ tất cả, như những nhát gươm sắc chém ngọt vào sợi dây

    dợ còn dính díu.

    Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời không phải là một sự

    thật ngẫu nhiên. Đó là bước phát triển của chủ nghĩa anh hùng

    Việt Nam vĩ đại. Chủ nghĩa anh hùng đó đã “đánh đổ chế độ quân

    chủ mấy mươi thế kỷ” bằng vô vàn những cuộc khởi nghĩa quật

    đổ những ngai vàng mà cuối cùng là của vương triều nhà Nguyễn

    mục nát. Bảo Đại buộc phải thoái vị để làm một người nông dân.

    Chủ nghĩa anh hùng đó đã “đánh đổ các xiềng xích thực dân gần

    một trăm năm nay “bằng gươm súng, bằng máu xương của

    những Trương Định, Phan Đình Phùng, Hoàng Hoa Thám và của

    những chiến sỹ vô sản bất khuất kiên cường.

    “Pháp chạy, Nhật hàng, vua Bảo Đại thoái vị”. Một câu trong

    những câu hiếm của văn chương, cô đúc bao sự kiện lịch sử.

    Cảnh về chiều của các tầng lớp thống trị thật buồn, mà những

    động tác gợi ra ở những điên viên lịch sử trên sân khấu Việt Nam

    thì thật ngoạn mục. Một kẻ chạy thục mạng đâm đầu xuống hố

    diệt vong. Một kẻ giơ tay nhận lấy phận đầu hàng. Một kẻ tụt từ

    trên ngai xuống, hai tay run rẩy nộp ấn, kiếm.

    Động từ từ nhanh đến chậm. Nhịp câu văn từ nhanh, chậm lại, rồi

    ngừng như một chuyến tàu vét lịch sử lao từ xa tới, chậm lại để

    ngừng vĩnh viễn.

    Ách thực dân, họa phát xít, tệ quân quyền, những rác rưởi ấy bị

    quét sạch, dọn chỗ đón một quốc gia mới, một chế độ mới. Nước

    Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, nước Cộng hòa dân chủ nhân dân

    đầu tiên ở Đông Nam Á ra đời.

    Những lẽ phải không ai chống cãi được, những lẽ phải mà Đồng

    minh đã công nhận trong các văn kiện còn chưa ráo mực ở hội

    nghị quốc tế Tê-hê-ran và Cự Kim Sơn, những hành động gan

    góc mấy năm qua cũng nhằm mục tiêu như Đồng minh: tiêu diệt

    chủ nghĩa phát xít, củng cố cái quyền tồn tại của nước Việt Nam

    mới.

    Nhưng trên hết và cơ bản nhất là quyết tâm vững như bàn thạch

    của cả một dân tộc có bốn nghìn năm bất khuất nói lên qua tiếng

    nói của vị Chủ tịch đâu tiên của mình: “Nước Việt Nam có quyền

    hưởng tự do độc lập”.

    Ba đoạn cuối của bản tuyên ngôn độc lập là những đoạn văn

    thép: chất thép của ý chí Hồ Chí Minh, của ý chí Việt Nam.

    Chất thép trong lập luận buộc Đồng minh phải công nhận quyền

    độc lập của dân Việt Nam, lấy lời của họ để ràng buộc họ.

    “Chúng tôi tin rằng…”. Tin có ý nghĩa tu từ. Mềm đấy, mà rắn đấy.

    Tin là tỏ vẻ tôn trọng họ, giá định phẩm chất tốt đẹp của họ. Đó là

    cách buộc họ phải tự trọng, nghĩa là buộc họ không được có sự

    bất nhất giữa lời nói và việc làm, “Không thể khong công nhận”

    quyền độc lập của dân tộc Việt Nam. “Không thể không” hai phủ

    định nghe vẫn chắc chắn hơn một khẳng định.

    Chất thép trong câu tiếp ở cái kết luận tất yếu của một thứ tam

    đoạn luận độc đáo vì có một vế ẩn mà lại rất rõ. Một dân tộc

    không chịu khuất phục, đã liên tục chiến đấu chống mọi ách nô lệ

    Pháp cũng như Nhật, dân tộc đó phải được độc lập. Phe Đồng

    minh gồm toàn những nước tự do. Một nước đứng về phe Đồng

    minh, cùng lí tưởng, cùng chiến đấu. Nước đó phải được tự do.

    Dân tộc đó là dân tộc Việt Nam. Vậy dân tộc Việt Nam phải được

    độc lập, nước Việt Nam phải được tự do.

    Dân tộc, tự do, độc lập. Những từ thiêng liêng đó trở lại cùng với

    những tính từ gan góc, những trạng ngữ: 80 năm nay, mấy năm

    nay, những khẳng định: phải được nhưng hùng dũng gõ nhịp

    trong một điệp khúc của một bài hùng ca đòi quyền sống.

    Chất thép trong đoạn cuối cùng là ở tính chất trịnh trọng của bản

    tuyên bố về một sự thực, về quyết tâm bảo vệ bằng bất cứ giá

    nào sự thực đó. “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc

    lập…Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực

    lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập

    ấy”. Mỗi từ, mỗi từ đều có sức nặng và sau đó những lời thề

    thiêng liêng thét lên từ cửa miệng của một triệu người, trên cái

    âm vang của làn sóng bốn nghìn năm bất khuất càng thêm vững

    chắc. Bản tuyên ngôn kết thúc dứt khoát ngoan cường như một

    lời thách thức. Những kẻ thù của Việt nam mù quáng vì lòng

    tham, không đủ khôn ngoan sáng suốt lần lượt lao đầu vào chất

    thép Việt Nam và sẽ nghiệm thấy thấm thía cái ghê gớm trong lời

    cảnh báo của một Hồ Chí Minh, cảu một Việt Nam dân chủ cộng

    hòa.

  • [Văn Nghị luận Mẫu] Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!

    [Văn Nghị luận Mẫu] Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!

       Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tài liệu chuyên mục Văn Nghị Luận Mẫu liên quan: 


    DÀN Ý:

    Mở bài: Giới thiệu về triết lý sống của mình.

    Thân bài:

    1. a) Giải thích:

    – Triết lý sống là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm trong cuộc sống, như một quan niệm nền tảng để con người sống tốt hơn.

    – “Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!” là triết lý sống của tôi.

    1. b) Bàn luận:

    – Sống chậm lại:

    + Để cảm nhận những gì tốt đẹp của cuộc đời này.

    + Để nghĩ về cuộc sống và những người xung quanh.

    + Để lấy lại cân bằng trong cuộc sống.

    + Con người hiện nay chỉ biết lao đầu kiếm tìm những thứ hão huyền như tiền bạc, danh lợi mà đánh mất đi nhiều thứ.

    + Sống chậm ở đây không phải là cố níu giữ thời gian mà là để ta nhìn lại cuộc sống, nhìn lại chính mình.

    – Nghĩ khác đi:

    + Là biết nhìn nhận, đánh giá, biết lựa chọn những lối đi riêng. Ta không chỉ nghĩ cho bản thân mà còn phải nghĩ cho người khác, để thấu hiểu hơn con người họ, biết lắng nghe lòng mình hơn.

    + Đó phải là những suy nghĩ đem lại lợi ích cho bản thân và những người xung quanh.

    – Yêu thương nhiều hơn là biết nghĩ, biết quan tâm tới chính mình và người khác nhiều hơn. Trao yêu thương chân thành, thật lòng và ta sẽ cảm nhận được nhiều điều tốt đẹp đến từ cuộc sống.

    – Sống chậm, suy nghĩ khác và yêu thương nhiều hơn tuy là ba mặt của một vấn đề nhưng chúng lại gắn bó mật thiết với nhau. Sống chậm thực chất là để cho con người có thời gian thảnh thơi để suy nghĩ, nhìn nhận, yêu thương cuộc sống.

    1. c) Bài học nhận thức: Mỗi ngày, từ những việc nhỏ nhất, ta hãy biết sống chậm lại, nghĩ khác đi, yêu thương nhiều hơn.

    Kết bài: Rút lại nhận xét chung và cảm nhận về triết lý sống.

    Văn nghị luận mẫu

    BÀI LÀM:

    Trong cuộc sống bộn bề hiện nay, con người đang mải lao đầu vào việc tìm kiếm những thứ xa xỉ mà quên mất điều sâu thẳm trong trái tim mình. Con người đang dần dần tự biến mình thành những cỗ máy vô cảm. Sống giữa cái xã hội xô bồ ấy, tôi cần có một nốt lặng để giúp mình tìm tất cả trong cuộc sống này những điều giản dị, để tâm hồn tôi ngập tràn yêu thương. Và đó chính là triết lý sống “Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!”

    Triết lý sống là những điều được rút tỉa bởi trải nghiệm trong cuộc sống, như một quan niệm nền tảng để con người lấy đó làm bước đệm trên con đường tiến tới một cuộc sống chân – thiện – mĩ và cũng làm cuộc sống tốt đẹp hơn.

    “Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!” là một sự lựa chọn cho tâm hồn tôi. Nó giúp tôi bình tâm lại, suy nghĩ lại mọi thứ, ngẫm lại vẻ đẹp thuần túy nhất, để trái tim nghỉ một chút, và từ đó tôi có thể nhìn đời bằng con mắt đơn giản nhất.

    Sống chậm lại để cảm nhận những gì tốt đẹp của cuộc đời này. Tâm hồn con người cần được vun trồng, cày xới bởi thế giới hình ảnh và những tâm tư, tình cảm tác động qua lại giữa ngoại cảnh và con người. Đôi lúc, tôi lắng lại để ngắm một bông hoa, lặng mình trong tiếng nhạc du dương,… chỉ thế thôi cũng đủ để tôi cảm thấy nhẹ nhõm và thoải mái trong lòng, trôi hết những bực dọc và muộn phiền đang ngự trị trong tôi. Sống chậm một chút nhưng cũng đủ để tôi, và cả bạn nữa, cảm thấy thế giới xung quanh tươi đẹp và đáng sống biết bao!

    Sống chậm lại, đó cũng là lúc để tôi nghĩ về cuộc sống và những người xung quanh nhiều hơn. Sống vội vã gây cho con người áp lực, căng thẳng và làm khô héo tâm hồn, là vội vã, lạnh lùng với những người xung quanh. Tôi nghĩ, sống chậm một chút, chúng ta có thể trao tình thương cho mọi người. Một ánh mắt nhìn, một nụ cười thân thiện, một cái siết tay trìu mến cũng đủ làm ấm lòng những trái tim đang buốt lạnh.

    Sống chậm lại cũng là để ta lấy lại cân bằng trong cuộc sống. Sống chậm đã cho tôi những khoảng lặng lẽ, riêng tư với chính mình, để tôi biết suy nghĩ và trân trọng những gì đã qua, quý trọng hiện tại và tôi biết rõ đó là tiền đề để tôi có được một tương lai tươi sáng. Biết sống chậm lại, tâm hồn của mỗi người sẽ trở nên thâm trầm, sâu sắc, tinh tế, chín chắn và trưởng thành hơn.

    Với cuộc sống hiện đại này, chạy đua với thời gian là điều không thể tránh khỏi. Con người hối hả, giục giã trong công việc để kiếm tiền bạc, danh lợi và thành công cho bản thân. Đời người thì quay cuồng trong vòng một luẩn quẩn của thời gian, chỉ biết bước đi nhanh trên con đường kiếm tìm những thứ có vẻ hão huyền như tiền bạc, danh lợi mà đánh mất đi nhiều thứ.

    Sống chậm như tôi đã nói, không phải là lối sống cố níu giữ thời gian mà là để ta trân trọng nó hơn, để ta có thể suy nghĩ chín chắn hơn, kịp nhìn lại mình, để cảm nhận nhiều hơn và nuôi chín cảm xúc của mình. Chậm lại để lặng mình nghe nhịp chảy của cuộc sống, nghe tiếng gọi của con tim.

    Nghĩ khác đi là biết nhìn nhận, đánh giá, biết lựa chọn những lối đi riêng. Đó cũng đồng nghĩa với việc ta không chỉ nghĩ về bản thân, không chỉ nghĩ về lợi ích của chính mình mà ta còn phải nghĩ co những người xung quanh, để ta có thể thấu hiểu được con người họ, những tình cảm, cảm xúc của họ. Nói cách khác, ta không được phép dừng lại ở cái nhìn bên ngoài mà phải nhìn thấu vào bản chất đẹp đẽ bên trong những con người xung quanh ta, cũng từ đó mà ta biết lắng nghe lòng mình hơn.

    Suy nghĩ khác ở đây, chắc chắn phải là những suy nghĩ đem lại sức sống và sự thanh thản cho bản thân, tích cực và có ý nghĩa lớn lao, chứ không phải là cách suy nghĩ, cách nhìn lập dị, cổ hủ và làm bệnh hoạn một số thành phần xã hội.

    Ngày nay, con người đang sống trong một xã hội trống rỗng và vô hồn vô cảm. Vì thế cái mà cuộc sống hiện đại thiếu nhiều nhất không phải là về vật chất mà về mặt tinh thần: sống thiếu tình thương. Yêu thương là cái gốc của nhân loại. Và đó cũng là lý do để tôi muốn nói với các bạn rằng: Hãy yêu thương nhau nhiều hơn. Yêu thương nhiều hơn là biết nghĩ, biết quan tâm chăm sóc và hướng tới người khác nhiều hơn, yêu thương chính mình và cũng là yêu thương người khác. Đó chỉ đơn giản là sống chậm lại một chút, trao yêu thương mà không cần nhận lại. Tình yêu thương ấy chân thành, thật lòng và vì thế mà ta cũng cảm nhận được những điều đẹp đẽ đến từ cuộc sống, vào trong trái tim và sưởi ấm tâm hồn ta.

    Sống chậm, suy nghĩ khác và yêu thương nhiều hơn tuy là ba mặt của một vấn đề nhưng chúng lại gắn bó mật thiết và bổ sung cho nhau. Sống chậm, thực chất là thời gian để con người suy nghĩ, mài giũa tâm hồn, nhạy cảm với thế giới xung quanh. Sống chậm cũng là lúc con người được thảnh thơi, yêu thương, trân trọng, có thời gian để “suy nghĩ khác đi” và cũng là khoảng lặng để con người ta yêu thương nhau nhiều hơn. Vì vậy, tuổi trẻ chúng ta hiện nay cần phải sống chậm để rèn luyện sự trưởng thành, chín chắn nhưng cùng cần biết sống vội vã để có thể sống tận độ, sống với một cuộc sống ý nghĩa nhất.

    Triết lý sống “Sống chậm lại! Nghĩ khác đi! Yêu thương nhiều hơn!” đã cho chúng ta một cách sống đúng đắn và rất thiết thực trong cuộc sống hiện đại, xã hội xô bồ hiện nay. Với tôi, dùng một ít thời gian để hít thở không khí trong lành, một ít thời gian để đọc cuốn sách bồi bổ tâm hồn, một ít thời gian để lắng nghe những tâm sự của người thân và quan tâm hơn đến mọi người,… những giây phút thảnh thơi ấy đã khiến tôi nhận ra được nhiều điều giá trị mà cuộc sống ban tặng. Hãy hãm phanh lại, sống theo cách của riêng mình, thì tôi, và cả bạn nữa, sẽ khám phá ra những điều đáng quý và thêm yêu cuộc sống.