Category: Văn Mẫu Lớp 12

  • Bài văn Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả cực hay

    Bài văn Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả cực hay

    Bài văn Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả cực hay

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan:Bài Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Anh chị hãy Phân tích đoạn trích Ông già và Biển cả của nhà văn Hê-minh-uê

    Bài văn mẫu

       Hê-minh-uê là một trong những nhà văn vĩ đại nhất nước Mĩ thế kỉ XX. ông là người khai sinh ra nguyên lí sáng tác: coi tác phẩm nghệ thuật như một tảng băng trôi, người đọc tự khám phá phần chìm để thấy được ý nghĩa và giá trị đích thực của tác phẩm, ông vinh dự được nhận Giải Pu-lit-dơ (1953) – giải thưởng văn chương cao quý nhất của Hoa Kì và Giải thưởng Nô-ben về văn học (1954). Hê-minh-uê đã để lại một khối lượng tác phẩm đổ sộ gồm nhiều thể loại: truyện ngắn, tiểu thuyết, thơ, hồi kí, ghi chép… Năm 1952, sau gần 10 năm sống ở Cu-ba, Hê-minh-uê cho ra đời tác phẩm Ông già và biển cả. Đây là cuốn tiểu thuyết tuy chỉ có tầm cỡ của một truyện vừa nhưng lại là tác phẩm nổi bật nhất trong sự nghiệp sáng tác của Hê-minh-uê bởi nó đã chứa dựng thông điệp quan trọng được coi là tuyên ngôn nghệ thuật của nhà văn : Con người được sinh ra không phải để dành cho thất bại. Con người có thể bị hủy diệt nhưng không thể bị đánh bại.

       Bối cảnh của truyện là ngôi làng chài yên ả gần bến cảng La-ha-ba-na. Nhân vật chính là ông lão ngư phủ Xan-ti-a-gô với mơ ước cháy bỏng là sẽ đánh bắt được một con cá lớn nhất trong đời. Một mình trên con thuyền nhỏ bé ra khơi, ông lão quyết lập chiến công. Trải qua nhiều ngày lênh đênh trên biển cả đầy vất vả, hiểm nguy, cuối cùng ông lão đã đánh bắt dược một con cá kiếm khổng lồ, buộc nó cặp mạn thuyền rồi dong vào bờ. Nhưng con cá kiếm đã bị đàn cá mập tấn công, ông lão dùng hết sức lực để chống chọi với lũ cá mập hung dữ. Khi đuổi được lũ cá mập ra xa thì con cá kiếm chỉ còn lại bộ xương, ông lão buồn bã trở về túp lều của mình, nhưng trong lòng ông vẫn chưa tắt những ước mơ tốt đẹp.

       Thông qua hình ảnh ông lão Xan-ti-a-gô đơn độc, quật cường đã chiến thắng con cá kiếm khổng lồ bằng ý chí phi thường và kĩ năng nghề nghiệp điêu luyện, Hê-minh-uê ca ngợi phẩm chất đáng quý của con người lao động.

       Ông già và biển cả được đánh giá là bài ca ca ngợi con người. Đây là tác phẩm hay nhất, nhiều ý nghĩa nhất, vì thế nôn đọc bất cứ đoạn nào chúng ta cũng thấy sự thể hiện sinh động của nguyên lí tảng băng trôi trong sảng tác của Hô-minh-uê.

       Đoạn trích kể về việc sau khi con cá kiếm mắc câu, ông lão Xan-ti-a-gô đã vật lộn với nó gần hai ngày đêm, sức lực cạn kiệt nhưng ông lão vẫn quyết tâm giết bằng được nó. Cuộc chiến để thu hồi thành quả lao động của ông lão Xan-ti-a-gô quả là vất vả và khó nhọc.

       Nhà văn miêu tả con cá kiếm như một “nhân vật đặc biệt” với những nét khác thường. Ở đầu đoạn trích, con cá chưa xuất hiện ngay mà chỉ tạo ấn tượng bằng những vòng lượn tròn rất lớn. Nhà văn có dụng ý để ông lão cảm nhận gián tiếp về con cá qua những vòng lượn của nó. Từ lúc mắc câu, con cá kiếm không nổi lên mặt nước mà cứ kéo sợi dây câu bơi ra xa. Sau đêm thứ hai, khi đã kéo chiếc thuyền của ông lão đi khắp các hướng thì con cá bắt đầu lượn vòng. Những vòng lượn gợi lên từng thời điểm và mức độ căng thẳng của cuộc đấu sức giữa ông lão và con cá kiếm. Lần thứ nhất, con cá còn khỏe nên nó lượn một vòng tròn rất lớn. Hai giờ sau, các vòng tròn hẹp hơn. Đến lần thứ hai, sau khi quật mạnh sợi dây vài lần, con cá không quật dây đáy nữa mà bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm, tức là nó đã dần dần đuối sức. Hai lần đầu, ông lão phán đoán độ lớn của con cá nhờ cảm giác từ đôi tay đang níu giữ sợi dây. Những vòng lượn tiếp theo, con cá đã nhô mình lên khỏi mặt nước và ông lão lần đầu tiên thấy con cá.

       Xảy ra đồng thời với những vòng lượn để thoát khỏi lưỡi câu của con cá kiếm là hành động dùng hết sức níu sợi dây để kéo con cá vào gần thuyền của ông lão. Cứ mỗi lần con cá lượn vòng là mỗi lần ông lão phải gắng sức, đến nỗi cảm thấy choáng váng. Sau mỗi lần như thế, ông lão lại tự nhủ : Hãy cố lên chút nữa, hãy giữ đầu óc tỉnh táo! Những chi tiết này cứ lặp đi lặp tại cho đến khi ông lão phóng ngọn lao vào trúng tim con cá.

       Kiểu kết cấu trên nhằm đặc tả sức mạnh và sự khôn ngoan của con cá kiếm và cho thấy mức độ gay go, quyết liệt của cuộc chiến giữa ông lão Xan-ti-a-gô với con cá kiếm. Vòng lượn của con cá càng nhiều và thay đổi liên tục chứng tỏ nó khôn ngoan, dũng cảm, kiên cường chống đỡ không kém gì đối thủ. Con cá cố gắng thoát khỏi sự níu kéo quyết liệt của lão ngư phủ. Cả hai bên đều đã kiệt sức nhưng đều cố giành phần thắng về mình.

       Sự lặp lại những vòng lượn của con cá kiếm còn gợi lên hình ảnh một ngư phủ từng trải và lành nghề. Chỉ bằng mắt nhìn và cảm giác đau đớn nơi bàn tay, ông lão đã ước lượng được độ lớn của con cá qua những vòng lượn từ rộng tới hẹp, từ xa tới gần. Xan-ti-a-gô đã khéo léo điểu khiển sợi dây vì nếu để chùng dây thì không thể kéo con cá lại gần, còn nếu căng dây quá thì con cá sẽ nhảy vọt lên, có thể làm tuột lưỡi câu. Lúc đầu, ông lão thu ngắn dây để con cá không thể quay vòng : Lão lách vai và đầu ra khỏi sợi dây và bắt đầu liên tục kéo nhẹ nhàng.

       Diễn biến cuộc chinh phục con cá kiếm của ông lão Xan-ti-a-gô được tác giả miêu tả như một trận chiến đấu thực sự. Suốt hai giờ đồng hổ, ông lão mệt nhoài, người đẫm mồ hôi vì cứ phải ra sức kéo sợi dây để cho con cá khỏi quay vòng. Sức lực của ông lão suy kiệt nhanh chóng, ông lão thấy hoa mắt…, mồ hôi xát muối vào mắt lão và xát muối lên vết cắt phía trên mắt và trán. Ông lão tự nhủ : Chúa sẽ giúp ta chịu đựng. Ta sẽ đọc một trăm lần kinh Lạy Cha và một trăm lần kinh Mừng Đức Mẹ. Nhưng lúc này thì ta chưa thể đọc.

       Đến vòng lượn thứ ba, khi đã thấm mệt, con cá không quật dây nữa và bắt đầu lại lượn vòng chầm chậm… Rồi ông lão nhìn thấy : Cài đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm. Nó lại lặn xuống và khi con cá hãy còn mấp mé mặt nước, ông lão có thể nhìn thấy thân hình đồ sộ và những sọc tỉa trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng.

       Ông lão phân tích tình hình, tìm mọi cách kéo con cá lại gần thuyền và tự động viên : Hãy bình, tĩnh và giữ sức, lão già ạ. Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Hãy tỉnh táo vì tao, đầu à… Nhưng đó cũng là lúc sức cùng lực kiệt : Miệng lão khô khốc không thể nói nổi, hoặc nếu có thì cũng bằng giọng thì thảo, yếu ớt.

       Khi ông lão chuẩn bị phóng mũi lao vào con cá, như trêu ngươi, nó rướn thẳng mình, lại chầm chậm bơi xa, cái đuôi đồ sộ lắc lư trong không trung. Thời điểm quyết định đã tới: ông lão nhấc cao ngọn lao hết mức, vận hết sức bình sinh… phóng xuống sườn con cá ngay sau cái vây ngực đồ sộ, vươn cao trong không trung ngang ngực ông lão… Con cá phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trong không trung phía trên ông lão và chiếc thuyền. Thoáng chốc nó rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm lên cả ông lão lẫn con thuyền.

       Cách kể chuyện và miêu tả hấp dẫn của tác giả giúp người đọc hình dung ra diễn biến trận đánh càng về sau càng gay go, căng thẳng. Sức lực của ông lão cứ yếu dần đi theo từng vòng lượn của con cá kiếm.

       Trong tình huống đơn độc và gay cấn, ông lão biết rằng tốt hơn cả là tự cứu mình. Vì thế nên ông lão củng cố tinh thần và sức chịu đựng để tồn tại và chiến thắng, luôn luôn tự nhủ : Hãy giữ cho đầu óc tĩnh táo và biết cách chịu đựng như một con người.

       Ý chí, nghị lực của ông lão Xan-ti-a-gô còn thể hiện ở quyết tâm bắt bằng được con cá. Sức lực cạn kiệt nhưng lão vẫn cố gượng dậy để tiếp tục chiến đấu : Lão cảm thấy hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, lão cảm thấy choáng váng, đau đớn…

       Ông lão phán đoán, phân tích tình thế rồi đưa ra giải pháp hành động hợp lí, chính xác, đồng thời kiên trì chịu đựng và tin rằng mình sẽ giết được con cá: Chỉ hai ba vòng nữa thôi thì ta sẽ có nó… Tao sẽ tóm mày ở đường lượn… Ta đã di chuyển được nó.

       Sức mạnh mà Tạo hóa ban tặng cho con cá kiếm là để nó chiến đấu giành lại sự sống từ bàn tay con người. Sức lực của ông lão Xan-ti-a-gô là sức lực của con người. Ý chí, trí tuệ và kinh nghiệm đã giúp lão khắc phục hoàn cảnh, tuổi tác để cuối cùng giành được chiến thắng, ông lão thú vị rút ra bài học: Ta chỉ thạo hơn cu cậu ở mỗi cái trò mánh lới.

       Thái độ đối với con cá kiếm phản ánh diễn biến phức tạp trong tâm trạng ông lão lúc này. Ông lão vừa yêu quý, khâm phục con cá vừa quyết tâm phải hạ gục nó. Lão thân mật gọi nó là người anh em và chân thành bày tỏ : Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người anh em ạ.

       Nguyên do là vì Xan-ti-a-gô suốt đời làm nghề đánh cá mà đã lâu không bắt được con cá nào, có nghĩa là ông lão không còn tồn tại với tư cách của một ngư phủ. Ông lão đặt ra cho mình nhiệm vụ là bằng mọi giá phải bắt được con cá kiếm. Trong cuộc săn đuổi đó, con cá kiếm đã bộc lộ phẩm chất cao quý như một con người chân chính. Nó không lồng lên làm đắm thuyền, không lặn sâu xuống bứt đứt dây câu mà chấp nhận cuộc đấu tay đôi một cách sòng phẳng. Nó mải miết kéo chiếc thuyền của ông lão ra khơi xa. Những lời trò chuyện với con cá kiếm và độc thoại nội tâm cho thấy ông lão có cảm nhận rất khác lạ về con cá mà mình đang săn đuổi. Con cá kiếm khổng lồ vừa là đối tượng chinh phục vừa là bằng hữu của ông lão. Điều đó cho thấy hành trình tìm kiếm ước mơ của con người là vô cùng vất vả và hành trình thực hiện ước mơ lại càng gian nan hơn, đòi hỏi con người phải tập trung trí lực cao độ.

       Hình ảnh con cá kiếm ở phần nổi là thành quả của nhiều ngày lao động vất vả trên biển của ông lão Xan-ti-a-gô. Ở phần chìm, nó tượng trưng cho ước mơ, khát vọng lớn lao của con người, là vẻ đẹp kì diệu của thiên nhiên. Trong quan hệ với con người, thiên nhiên vừa là bạn bè vừa là đối thủ.

       Hình ảnh con cá kiếm khổng lồ trong tác phẩm được tác giả miêu tả từ xa tới gần, từ bộ phận tới toàn thể thông qua cảm nhận từ gián tiếp đến trực tiếp của ông lão Xan-ti-a-gô. Lúc đầu, ông lão chỉ thấy cái bóng đen dài vượt qua dưới con thuyền và cảm nhận rằng nó dài đến mức không thể tin nổi. Sau đó, ông lão nhìn thấy cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẳm. Sau vòng lượn thứ ba, ông lão đã ngạc nhiên đến bàng hoàng khi nhìn thấy tận mắt hình dáng tuyệt đẹp và độ lớn chưa từng có của con cá kiếm.

       Con cá kiếm có một vẻ đẹp kiêu hùng, kì vĩ. Lúc bị ngọn lao của ông lão phóng trúng tim, con cá kiếm vẫn đẹp một vẻ đẹp tuyệt vời: Khi ấy con cá mang cái chết trong mình, sực tỉnh, phóng vút lên khỏi mặt nước phô hết tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực. Nó dường như treo lơ lửng trong không trung phía trên ông lão và chiếc thuyền.

       Sau khi ông lão đã buộc nó cặp mạn thuyền để đưa vào bờ thì: Da cá chuyển từ màu gốc, màu tía ánh bạc sang màu trắng bạc và những cái sọc phô cùng màu tía nhạt như đuôi nó. Những đường sọc ấy lớn hơn cả bàn tay người xòe rộng còn mắt nó trông dửng dưng như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như vị thánh trong đám rước. Vẻ đẹp sống động không còn nữa mà thay vào đó là sắc màu nhợt nhạt của một sinh vật đã bị tước đoạt sự sống.

       Sự khác biệt đó hàm chứa một ý nghĩa sâu xa: Con cá kiếm không chỉ là một con cá do ông lão săn được mà là hình ảnh của ước mơ, lí tưởng mỗi con người theo đuổi trong suốt cuộc đời. Sự khác biệt đó còn gợi cho người đọc suy nghĩ: Phải chăng đó là khoảng cách xa vời giữa ước mơ và hiện thực. Khi ước mơ đã trong tầm tay hoặc đã trở thành hiện thực thì nó không còn giữ được vẻ đẹp đẽ, huy hoàng như trước nữa.

       Hình ảnh con cá kiếm còn tượng trưng cho khát vọng nghệ thuật và quá trình sáng tạo của nhà văn. Sự xuất hiện lần đầu của con cá kiếm ám chỉ cơ hội cho nhà văn khám phá cuộc sống. Hành trình theo đuổi con cá của ông lão Xan-ti-a-gô cũng là hành trình lao động nghệ thuật của nhà văn. Con cá kiếm vừa xuất hiện cũng giống như tác phẩm mới hình thành ở ý đồ sáng tác, nhà văn chỉ mới cảm nhận được ý nghĩa tiềm ẩn của nó. Đến khi tác phẩm đã hoàn thành thì nó phô ra vẻ đẹp để mọi người có thể nhìn thấy, cũng giống như con cá kiếm lúc phóng vút lên khỏi mặt nước. Đến khi đã có đời sống riêng thì chính tác phẩm đưa tác giả đến bến bờ vinh quang. Con cá kiếm là đối tượng để ông lão chinh phục và chiến thắng, là người anh em để lão so tài và thử sức, là mục đích, lí tưởng mà ông lão hướng đến. Như vậy, khuất phục được đối thủ vừa thể hiện trí tuệ và lòng dũng cảm, niềm kiêu hãnh của con người và là cơ sở để giúp con người đánh giá khả năng chinh phục thiên nhiên.

       Đoạn trích trên tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của Hê-minh-uê : ngôn ngữ trong sáng, giản dị, lối kể chuyện thông qua việc sử dụng đối thoại, độc thoại nội tâm của nhân vật cùng với những hình ảnh có ý nghĩa biểu tượng. Sự lặp đi, lặp lại những chi tiết theo kiểu kết cấu vòng tròn xoắn trôn ốc giúp người đọc có thể bóc dần từng lớp vỏ ngôn ngữ để khám phá ra ý nghĩa và giá trị thực sự của tác phẩm. Đoạn trích còn cho thấy khả năng quan sát nhạy bén và trí tưởng tượng phong phú của Hê-minh-uê – nhà văn bậc thầy về tiểu thuyết.

       Tác phẩm Ông già và biển cả cũng thể hiện tình cảm yêu mến, khâm phục của nhà văn đối với những con người lao động nghèo khổ. Tác giả muốn chuyển đến người đọc một thông điệp quan trọng : Trong cuộc đấu tranh vật lộn mưu sinh hay để lập chiến công, con người có thể chấp nhận cái chết, nhưng không bao giờ chấp nhận lùi bước. Câu chuyện về ông lão đánh cá già nua, đơn độc nhưng vô cùng dũng cảm đã cổ vũ biết bao người trên thế giới dám dấn thân vào sự nghiệp đấu tranh vì hạnh phúc của nhân loại.

     

  • Bài Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả hay nhất

    Bài Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả hay nhất

    Bài Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan:Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hê-minh-uê hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả của nhà văn Hê-minh-uê

    Bài văn mẫu

       Ông già và biển cả là một trong những tác phẩm đặc sác, thể hiện rõ phong cách sáng tác “tảng băng trôi” của nhà văn tài năng người Mĩ Hê-minh-uê. Tác phẩm là câu chuyện giữa ông lão và một con cá kiếm khổ lồ. Đó là một cuộc đọ sức kiên gan và đẹp đẽ, để từ đó thể hiện nhiều ý nghĩa nhân sinh đẹp đẽ.

       Đoạn trích gồm hai phân cảnh chính: thứ nhất là khi con cá kiếm bị mắc câu và cố sức vũng vầy để mong thoát khỏi lưỡi câu của ông lão; cảnh thứ hai là khi ông lão đánh cá đưa con thuyền và chiếc xác trở về bến.

       Tác phẩm được mở ra bằng hình ảnh mặt trời rạng rỡ, ngày thứ ba sau khi con cá kiếm bị mắc câu. Cả hai đối tượng đều không chịu lùi bước. Con cá vẫn lượn vòng , làm căng sợi dây tạo nên “vòng tròn lớn”. Đáp lại nó, ông lão Xan-ti-a-gô phải “dùng cả hai tay, lắc người, dốc hết sức lực của cả cơ thể, của trụ chân ra mà kéo” nhằm khuất phục con mồi. Sau hai giờ bơi, con cá cũng dẫn đuối sức, đường bơi đã hẹp đi nhiều, con cá dần dần ngoi lên mặt nước, ông lão lúc này cũng đã mệt thấm xương, mô hôi thấm đẫm. Cuộc đấu tranh, giằng co giữa cá và người cứ thế tiếp tục. Con cá mặc dù càng đuối sức nhưng nõ vẫn cố gắng vùng vẫy, khi thì đột ngột quật lên, làm căng sợi dây mảnh, khi thì nó khẽ nghiêng mình kéo chiếc chiếc thuyền đi. Ông lão cũng kiên quyết không bỏ cuộc, khi nhìn thấy cái bóng đen của con cá dần dần nổi lên, ông kinh ngạc: “cái đuôi lớn hơn cả chiếc lưỡi hái lớn, màu tím hồng dựng trên mặt đại dương xanh thẫm” “thân hình đồ sộ và những sọc màu tía trên mình nó. Cánh vi trên lưng xếp lại, còn bộ vây to sụ bên sườn xòe rộng” . Con cá khổng lồ và đẹp ngoài sức tưởng tượng của ông. Điều đó càng khiến ông phải bình tĩnh để chinh phục được nó. lão Xan-ti-a-gô phải tự động viên mình “Kéo đi, tay ơi… Hãy đứng vững, đôi chân kia. Tỉnh táo vì tao, đầu à. Hãy tỉnh táo vì tao. Bọn mày chưa bao giờ bại trận. Lần này ta sẽ lật được nó”.

       Đối với ông lão lão Xan-ti-a-gô con cá không chỉ đơn thuần là đối tượng để săn bắt mà còn là người bạn, người anh em đối với lão. Trong cuộc chiến đó, ông còn trò chuyện, thủ thỉ với nó: “Mày đang giết tao, cá à… Tao chưa bao giờ thấy bất kì ai hùng dũng, duyên dáng, bình tĩnh, cao thượng hơn mày, người an hem ạ. Hãy đến và giết ta đi. Ta không quan tâm chuyện ai giết ai”. Lão Xan-ti-a-gô đã dùng những chữ đẹp đẽ nhất, tình cảm chân thành nhất để tâm tình với con cá.

       Cuộc chiến cuối cùng cũng dần đi vào hồi kết, con cá đuối sức hơn, lúc nó rướn hẳn mình, lúc nó lại chầm chậm bơi ra xa. Lão Xan-ti-a-gô vẫn hết sự khéo léo, và sức lực của mình, lấy lao phóng vào cái ngực đồ sộ của nó. Con cá bị trúng lao “rơi sầm xuống làm nước bắn tung trùm cả lên ông lão và con thuyền”. Bằng sự lao động bền bỉ của mình ông lão đã chiến thắng, dù bị xây xát, nhưng con cá đã “nằm ngửa phơi cái bụng ánh bạc của nó lên trời” “con cá trắng bạc và thẳng đơ và bồng bềnh theo sau”.

       Trận chiến suốt mấy ngày qua cuối cùng đã kết thúc. Đói và mệt rã rời, nhưng trong lòng ông lão cũng tràn đầy phấn chấn. Ông quyết địn lập tức going thuyền trở về. Giờ đây trong cơ thể lão tràn trề nhựa sống, lão thất người khoe hơn lúc náo hết, đầu óc trở nên tình táo, lão lặng ngắm con cá: “da cá chuyển từ màu gốc, màu tía ánh bạc, sang màu trắng bạc và những cái sọc phô cùng màu tím nhạt… còn mắt nó dửng dung như những tấm kính trong kính viễn vọng hay như một vị Thánh trong đám rước”. Ông lão nhìn con cá bằng sự ngưỡng mộ, tôn sung. Thành quả sau bao nỗ lực đã được đền đáp “Đi Ma-giô vĩ đạu sẽ tự hào về ta hôm nay”.

       Tác phẩm sử dụng đan cài giữa ời độc thoại và độc thoại nội tâm giúp dễ dàng bộc lộ tâm trạng của nhân vật. Không chỉ ấn tượng về nghệ thuật kể chuyện, mà tác phẩm còn gây ấn tượng cho người đọc bởi tinh thần lao động, sự kiên nhẫn và dũng cảm của con người trong công cuộc chinh phục thiên nhiên.

     

  • Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hê-minh-uê hay nhất

    Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hê-minh-uê hay nhất

    Phân tích tác phẩm Ông già và biển cả của Hê-minh-uê hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả của Hê–minh–uê hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tác phẩm “Ông già và biển cả” của Hê-minh-uê.

    Bài văn mẫu

        Hê-minh-uê sinh ra trong một gia đình trí thức. Có thể coi ông là một trong những nhà văn xuất sắc nhất của văn học Mỹ. Ông sáng tác dựa trên nguyên lí tảng băng trôi, ba phần nổi, bảy phần chìm, bởi vậy các tác phẩm của ông rất giàu ý nghĩa biểu tượng. Ông già và biển cả là tác phẩm thể hiện chính xác và đầy đủ nhất phong cách của ông. Tác phẩm ngay từ khi ra đời đã gây được tiếng vang lớn trong giới văn nghệ sĩ. Đoạn trích được trích ở phần cuối của tác phẩm.

        Tác phẩm nổi bật lên với hai hình tượng chính là con cá kiếm và ông già đánh cá. Mỗi hình tượng mang những vẻ đẹp riêng, vừa bổ sung, vừa làm nổi bật vẻ đẹp của đối phương.

        Trước hết hình tượng con cá kiếm đã được tác giả khắc họa vô cùng lớn và đẹp. Tác giả đã dung hàng loạt câu văn để miêu tả về vẻ đẹp của nó: Một cái bóng đen vượt dài qua dưới con thuyền, không dừng lại ở đó nó còn có một “Cái đuôi lớn hơn cả một chiếc lưỡi hái lớn màu tím hồng dựng trên đại dương xanh thẳm”. Thân hình của nó đồ sộ và những dọc màu tía trên mình và Cánh vi trên lưng xếp lại, bộ vây to sụ ên sườn xòe rộng. Chỉ với từng ấy câu văn thôi, nhưng Hê-minh-uê đã cho người đọc hình dung đầy đủ về vẻ đẹp của con cá kiếm và đằng sau vẻ đẹp kì vĩ, to lớn ấy chắc chẵn sẽ ẩn chứa những sức mạnh khủng khiếp. Sau khi mắc vào lưỡi câu của ông lão đánh cá, dù đã bị thương nhưng con cá vẫn có những vòng bơi lớn, liên tục, dường như vết thương đó không hề hấn gì với bề ngoài khổng lồ của nó. Chính những vòng bơi khổng lồ đó khiến cho ông lão hoa mắt, chóng mắt, và choáng váng. Quả thực đây là màn đấu lực không hề cân sức.

        Nhưng không dừng lại ở đó, khắc họa hình tượng con cá kiếm tác giả còn cho thấy một vẻ đẹp khác của nó đó chính là vẻ đẹp của sự kiêu hùng và bất khuất. Khi bị ông lão phóng mũi lao trúng tim, bị kết liễu sinh mạng nhưng nó vẫn dùng hết những sức lực cuối cùng để tung người lên. Quả là một cái chết cách oai hùng, mạnh mẽ, kiêu ngạo, đầy khí phách. Tác giả không chỉ đơn thuần miêu tả con cá kiếm, mà đằng sau những câu văn miêu tả đó cũng chính là cách để tác giả tôn vinh ông lão đánh cá. Tác giả muốn con cá phải là đối thủ ngang sức, ngang tài của ông lão đánh cá, xứng đáng là con ác mà ông lão chờ đợi. Tôn vinh con cá cũng là tôn vinh chiến thắng vinh quang và tầm vóc của con người.

        Đúng như nguyên lí tảng băng trôi, xây dựng hình tượng con cá kiếm, Hê-minh-uê cũng gửi gắm những ý nghĩa biểu tượng khác nhau. Trước hết dưới góc nhìn thiên nhiên, con cá kiếm là biểu tượng cho vẻ đẹp và sức mạnh của tự nhiên. Còn dưới góc nhìn từ cuộc sống con người, thì hình tượng con cá kiếm lại chính là biểu tượng cho những thử thách, chông gai trong cuộc đời mà con người cần phải vượt qua. Cuối cùng dưới góc nhìn nghệ thuật, con cá kiếm lại chính là biểu tượng của những mơ ước và sáng tạo.

        Nhưng đẹp đẽ nhất, gửi gắm nhiều ý nghĩa nhất chính là hình tượng của ông lão đánh cá. Ông lão đánh cá được đặt trong cuộc chiến không hề cân sức, ông lão đã tuổi cao sức yếu, lại mấy ngày lênh đênh trên biển, đói khát và mệt mỏi. Ông đã bị suy kiệt nghiêm trọng về thể lực. Trong khi đó con cá kiếm lại to lớn, đầy sức mạnh, kiêu hùng bất khuất. Hơn nữa, biển cả là nhà, là thế mạnh thuộc về con cá kiếm. Đặt ông lão ông trong cuộc chiến không cân sức, tác giả nhằm tôn vinh, ngợi ca ông lão với những phẩm chất làm nên chiến thắng.

        Trong cuộc chiến không cân sức ấy,những phẩm chất, vẻ đẹp của ông lão đánh cá đã được bộc lộ đầy đủ nhất. Trước hết ông là người thạo nghề, mưu trí và kinh nghiệm. Ông chỉ cần nhìn độ nghiêng, độ chếch của sợi dây có thể biết được con cá đang bơi tròn hay đang liên tục ngoi lê trong lúc bơi. Và ông chỉ cần dựa vào độ căng trùng của sợi dây có thể đoán biết được con cá đang làm gì. Nếu không phải là người đánh cá lành nghề, chắc chắn ông không thể có những phán đoán chính xác đến vậy. Đặc biệt ông có cách xử lí là kéo vào hay nới ra để con cá dần trở nên kiệt sức mà không bị đau đớn đến phát cuồng lên. Cuối cùng chính là cách ông lựa chọn thời điểm đưa ra đòn quyết định, phóng lao trúng tim con cá một cách dứt khoát, quyết đoán và đầy điêu luyện để chấm dứt cuộc chiến không cân sức này.

        Để hạ gục được con cá, không chỉ cần sự điêu luyện, thành thạo mà còn cần cả niềm tin vào chính mình. Trong quá trình chiến đấu với con cá ông liên tục nhắc đi nhắc lại những lời động viên, khuyến khích bản thâ, tin tưởng vào chiến thắng: “tao sẽ tóm được mày”… Và hơn hết ông có ý chí và nghị lực phi thường. Nhiều lúc ông tưởng rằng mình có thể sẽ gục ngã: hoa mắt suốt cả tiếng đồng hồ, chóng mặt và choáng váng, có cảm giác đổ sụp xuống bất cứ lúc nào… Tuy nhiên sức mạnh tinh thần đã nâng đỡ ông lão đánh cá gượng dậy tiếp tục chiến đấu và giành chiến thắng. Chiến thắng của ông đã gửi gắm những bài học ý nghĩa, phải luôn tin tưởng vào bản thân, không ngừng nỗ lực, phấn đấu. Đồng thời qua chiến thắng này, tác giả cũng nhằm khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp và sức mạnh của con người.

        Mặc dù chiến thắng con cá kiếm, nhưng ông lão cũng vô cùng thương xót nó, ngợi ca vẻ đẹp anh dũng, hào hùng của nó. Qua những suy nghĩ của ông lão về con cá kiếm tác giả cũng gửi gắm thông điệp: Con người và thiên nhiên có mối quan hệ anh em, dù rằng đôi khi thiên nhiên đột nhiên trở thành kẻ thù số một của con người. Con người dù phải chinh phục tự nhiên nhưng cũng không quên phải yêu mến và sống hài hòa với tự nhiên. Con người cần biết tôn trọng tự nhiên, cũng như tôn trọng kẻ thù nếu muốn giành chiến thắng. Và thừa nhận vẻ đẹp và những hành động không thể khác của đối thủ, của những người xung quanh mình là thái độ cần thiết để giữ thăng bằng trong cuộc sống, tránh nhìn người, nhìn đời một cách phiến diện và để biết cảm thông, chia sẻ với người khác.

        Tác phẩm với tính biểu tượng cao, ngôn ngữ cô đọng hàm súc đã đem đến nhiều thong điệp ý nghĩa. Câu chuyện về ông lão đánh cá không đơn thuần chỉ là câu chuyện của sự mưu sinh mà nó còn là biểu tượng cho vẻ đẹp của ước mơ và biểu tượng cho hành trình gian khổ của con người để biến ước mơ thành hiện thực.

     

  • Dàn ý Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả của Hê–minh–uê hay nhất

    Dàn ý Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả của Hê–minh–uê hay nhất

    Dàn ý Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả của Hê–minh–uê hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 10 bài phân tích, dàn ý tác phẩm Ông già và biển cả hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích truyện ngắn Ông già và biển cả của Hê–minh–uê.

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Hê–minh–uê là nhà văn nổi tiền của Mĩ và thế giới, được xem là một trong những người đã khai sinh ra nền văn chương Mĩ, ông là người đề xướng sáng tác van chương theo nguyên lí “tảng băng trôi” (một phần nổi, bảy phần chìm).

    – “Ông già và biển cả” là một trong những sáng tác hay nhất của ông, tác phẩm thể hiện rõ nguyên lí “tảng băng trôi”.

    1. Thân bài
    2. Hình tượng con cá kiếm

    – Đó là một con cá lớn và đẹp: “cái đuôi lớn hơn cả chiếc hái lớn màu tím hồng dựng lên trên mặt đại dương xanh thẫm”, “một cái bóng đen vượt qua dưới con thuyền”, bộ vây to sụ nặng hơn mười tấn.

    – Có sức mạnh ghê gớm: “những vòng bơi của nó khiến ông lão hoa mắt chóng mặt”, “ ông cảm nhận được cú nẩy mạnh đột ngột ở sợi dây do con cá gây ra”.

    – Dù cận kề cái chết vẫn luôn kiên cường, bất khuất: “nó phóng lên khỏi mặt nước phô tầm vóc khổng lồ, vẻ đẹp và sức lực”.

    – Nhận xét: Tầm vóc của con cá khiến chiến thắng của ông lão trở nên vinh quang hơn.

        + Con cá là đại diện cho sức mạnh và vẻ đẹp của thiên nhiên.

        + Đại diện cho những khó khăn thử thách trong cuộc sống con người phải vượt qua.

        + Đó còn là cái đẹp, những ước mơ, sáng tạo nghệ thuật của người nghệ sĩ.

    1. Hình tượng ông lão đánh cá

    – Sau 84 ngày đêm thất bại, ông lão vẫn cố gắng tìm kiếm và cuối cùng đã tìm được con cá kiếm lớn:

        + Ông là một lão ngư kiên trì.

        + Đó còn là biểu tượng cho người nghệ sĩ không ngừng sáng tạo, tìm kiếm cái mới trong nghệ thuật.

    – Khi chiến đấu với con cá khổng lồ, ông đã chiến thắng nó, ông là một lão đánh ca lành nghề:

        + Chỉ cần nhìn độ nghiêng, độ chếch của sợi dây ông có thể biết con cá đang bơi vòng tròn hay liên tục ngoi lên trong lúc bơi.

        + Dựa trên sự căng chùng của sợi dây có thể đoán được con cá đang làm gì.

        + Điêu luyện trong hành động phóng lao trúng tim con cá.

    – Ông có sức mạnh ý chí phi thường, chiến thắng con cá kiếm:

        + Luôn tin tưởng vào khả năng của bản thân: “tao sẽ tóm được mày ở đường lượn, ta sẽ di chuyển được nó”.

        + Dù đã rất mệt mỏi sau chuỗi ngày dài trên biển, ông vẫn cố gắng chiến đấu với con cá kiếm khổng lồ.

    – Nhận xét: Sau cuộc chiến, ông đã chiến thắng con cá lớn, điều này khẳng định:

        + Khát vọng của ông lão chính là khát vọng muốn chinh phục thiên nhiên của con người.

        + Sức mạnh phi thường, khả năng của con người không hề giới hạn.

        + Nhà văn thể hiện sự tin tưởng vào sức mạnh của con người.

        + Người nghệ sĩ sau quá trình lao động nghệ thuật đã đạt được thành quả mình mong muốn.

    III. Kết bài

    – Khái quát giá trị nghệ thuật: xây dựng hình tượng bằng bút pháp miêu tả sống động, chuyển hóa bức tranh với những đường nét trần trụi, chân thực sang một lớp nghĩa hàm ẩn, rộng lớn.

    – Tác phẩm phản ánh hành trình khám phá, chinh phục thiên nhiên và nghệ thuật của con người. Con đường dẫn đến thành công phải trải qua bao khó khăn, cần phải có sự kiên trì.

     

  • Cảm nhận về tác phẩm Số phận con người của Sôlôkhôp hay nhất

    Cảm nhận về tác phẩm Số phận con người của Sôlôkhôp hay nhất

    Cảm nhận về tác phẩm Số phận con người của Sôlôkhôp hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong Số phận con người hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về tác phẩm Số phận con người của Solokhop

    Bài văn mẫu

       Tác phẩm là lời tự sự của nhân vật trung tâm –anh lính hồng quân Xôcôlôp, người đàn ông đã chịu bao giông tố khắc nghiệt của cuộc đời đổ ập lên số phận. Đó là cuộc đời gắn liền với một trang sử bi tránghào hùng của nhân dân Nga, với chế độ Xô-viết đã tạo thành phẩm chất của những con người Nga kiên cường.

       M.Sôlôkhôp đã dựng lên chân dung một con người Nga bình thường nhất, một người xô viết chân chính. Số phận ấy tiêu biểu cho bao người con ưu tú đã viết nên trang sử thời đại hào hùng của đất nước Liên Xô cũ.

       Cuộc sống hiện lên trần trụi như nó vốn có –không khoa trương hào nhoáng, không bi kịch hoá mà cứ đều đều như giọng kể của người đàn ông Nga có cái họ bình thường như bao người Nga: Xôcôlôp. Nhưng trong số phận anh có sức nặng của nỗi đau dân tộc Nga qua các thời kỳ khốc liệt nhất. Không tránh né sự thật –đó là phẩm chất hàng đầu của các cây bút Nga –xô viết mà M. Sôlôkhôp chính là một tấm gương. Sự thật đó không phải được kể bằng giọng lạnh lùng thản nhiên mà còn hằn nguyên nỗi đau trong giọng văn thấm thía, trong những ám ảnh kí ức hằn sâu trong tâm trí của người cựu binh xô viết –chính là phản chiếu một mảng hiện thực rộng lớn và xuyên suốt các chặng đường của nhân dân Nga.

       Trước hết là kí ức những ngày nội chiến, khi chính quyền xô viết non trẻ phải đối mặt với lũ bạch vệ, thổ phỉ và can thiệp. Người đọc có thể nhận ra những dấu ấn quen thuộc làm nên tên tuổi của M.Sôlôkhôp trong Sông Đông êm đềm. Nạn đói, cuộc sống cùng cực không quật ngã nổi ý chí của người dân xô viết. Xôcôlôp từng trải qua cuộc đời làm thuê, từng chứng kiến gia đình gục chết trong cái đói, nhưng chính sự tàn khốc ấy là một sự lý giải vì sao anh trở thành chiến sĩ hồng quân, vì sao anh lại có một hạnh phúc từ đau thương bất hạnh. Đó là hạnh phúc của những người nghèo khổ được xây lên từ bất hạnh để họ khẳng định tư thế làm chủ cuộc đời.

       Có lẽ kí ức nhân loại mãi mãi không phai mờ bao ám ảnh khủng khiếp của Chiến tranh thế giới lần thứ II. Nhưng nhà văn không theo cách thông thường để ca ngợi vào những đóng góp xương máu của hơn hai mươi triệu người xô viết làm nên thắng lợi của cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. bi kịch chiến tranh hiện hữu ngay trong từng số phận, từng gia đình. Sức hủy diệt của nó khiến cho Xôcôlôp mất vợ và hai con; bé Vania mồ côi cả cha lẫn mẹ. Mất mát là điều không tránh khỏi nhưng với người trong cuộc còn kinh khủng hơn rất nhiều, khi sức ám ảnh của nó vẫn trở về trong những giấc ngủ nặng nề, để Xôcôlôp mỗi lần tỉnh giấc lại đầm đìa nước mắt. Nhưng vào thời điểm đối mặt quyết liệt với kẻ thù, nước mắt không thể rơi! Chỉ có thể là ánh mắt rực lửa căm hờn và khinh bỉ với kẻ thù, với những tên phản bội. Anh đã sống đúng với tư cách người lính ngay cả khi “chiến bại”, bị bắt làm tù binh. Cảm hứng về cuộc chiến tranh của M.Sôlôkhôp có phần gần gũi với Alêcxây Tônxtôi với “Tính cách Nga”, với “Người xô viết chúng tôi”… Nhưng người đọc hiểu đó chính là lúc con người đang chiến đấu vì danh dự dân tộc, vì những niềm hy vọng không tắt về tương lai. Xôcôlôp đã là người chiến thắng, ngẩng cao đầu trong trại tập trung của kẻ thù, mưu trí dũng cảm trở về đội ngũ, chiến đấu bằng tất cả lòng căm thù sục sôi với kẻ đã hủy hoại hạnh phúc gia đình, và cả “niềm hy vọng cuối cùng” -người con trai đã thành đại úy pháo binh Anđrây Xôcôlôp. Trớ trêu thay, vào ngày cờ đỏ thắm trên nóc nhà Quốc hội Đức , anh đã phải tiễn đưa con mình. Dẫubiết sự hy sinh ấy là anh hùng, là cần thiết, nhưng quả thật đó là một cú đập phũ phàng của định mệnh khiến bất cứ ai yếu lòng cũng có thể quị ngã. Có lẽ đó cũng là những trang viết gợi nhắc cho chúng ta nhiều nhất về ý nghĩa tàn khốc của chiến tranh, vinh quang và cay đắng, hạnh phú và bất hạnh, niềm vui chung và nỗi đau riêng để từ đó suy ngẫm và hiểu sâu sắc hơn về ý nghĩa của từ “hy sinh”.

       Thế nhưng tuyệt nhiên ta không nhận thấy tâm trạng của những con người –nhân dân Nga trở về sau chiến tranh lại nặng nề bi thảm như của “thế hệ vứt đi” trở về sau Đại chiến I ở Mỹ hay châu Âu. Bởi lẽ hy sinh sẽ là vô ích nếu như sự sống sẽ tê liệt sau bao mất mát. Bởi thế, Xôcôlôp đã sống, làm việc như bao người lính xô viết trở về sau chiến trận. Nỗi đau lắng vào trong và chỉ thật sự hiện hữu khi Xôcôlôp tìm quên trong men rượu. Áp lực đời thường và hậu quả chiến tranh quá nặng nề tưởng chừng có thể làm cho con người gục ngã. Sự tình cờ, ngỡ như ngẫu nhiên mà tất yếu đã gắn chặt cuộc đời Xôcôlôp với bé Vania. Chú bé Vania –đôi mắt đen lay láy, cuộc sống vất vưởng là một hình tượng nghệ thuật có thể làm mềm những trái tim sắt đá nhất. Chú bé chính là hiện thân của thế hệ tương lai nước Nga, là vẻ đẹp của sự thơ ngây thánh thiện cần phải chở che, bảo bọc. Cuộc gặp gỡ của hai con người ấy là tất yếu. Không chỉ cảm động vì khoảnh khắc thì thầm của Xôcôlôp với bé Vania: “Ta là bố của con”, lúc nhận bố con cũng là lúc người đọc chứng kiến sự trở lại của những giọt nước mắt ở con người tưởng như trái tim đã khô héo vì đau khổ. Nước mắt -hạnh phúc và xót xa cứ đan quyện vào nhau, thấm vào lòng tất cả mọi người.

       Ngỡ rằng hạnh phúc đã thật sự trở lại, ngỡ rằng từ đây đầy ắp tiếng cười và những tiếng ríu rít như chim của bé Vania, nhưng kí ức vẫn hiện về đấy ám ảnh. Người đọc phải chứng kiến những lời nói dối –nhưng lạ thay đó lại là lời đẹp hơn trăm lần sự thật. Bởi sự đồng cảm số phận và tình thương yêu đã gắn chặt cuộc đời hai bố con -một người đang cần nén chặt nỗi đau quá khứ và một người cần được bảo đảm tương lai tốt đẹp. Vậy mà định mệnh lại trêu cợt để cho bố con Xôcôlôp lại tiếp tục hành trình giữa đời thường với bao thử thách đón chờ phía trước.

       Số phận con người là câu chuyện kể chân thực về một con người bình thường. Nhưng cuộc sống bao dồn đẩy sóng gió đã tôi luyện cho anh một phẩm chất kiên cường, một tình thương yêu bao la. Gương mặt người đàn ông ấy đã sắt lại vì đau khổ, nhưng trái tim tổn thương ấy vẫn đập những nhịp thương yêu nồng nàn với con người. Nhà văn đã lên tiếng thay nhân vật ở cuối tác phẩm, bằng tất cả niềm xúc động sâu xa và lòng cảm phục vô hạn trước nhân cách một Con Người chân chính. Bức thông điệp của nhà văn giúp ta nhận ra rõ hơn chân dung của nhân dân Nga, vẻ đẹp của tâm hồn Nga và sức mạnh của con người vượt lên bao bi kịch bất hạnh. Đó làsự khẳng định tuyệt đối của nhà văn thể hiện niềm tin tưởng vào Con người Nhân dân và tương lai của đất nước. Nỗi buồn kết lại tác phẩm lại khiến ta nhận ra tầm vóc vĩ đại của đất nước và con người Nga xô viết quả cảm, kiên cường, nhân hậu.

     

  • Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong Số phận con người hay nhất

    Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong Số phận con người hay nhất

    Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong Số phận con người hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bài tóm tắt truyện Số phận con người hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích nhân vật Xô-cô-lốp trong truyện “Số phận con người” của nhà văn Sô-lô-khốp nước Nga.

    Bài văn mẫu

        Hê-minh-uê (1899 – 1961) văn hào Mỹ, được giải thưởng Nô-ben về văn chương năm 1954 đã từng viết: “Tôi rất thích văn học Nga… Trong các nhà văn hiện đại, tôi thích Sô-lô-khốp”. Là nhà văn Xô Viết được giải thưởng Nô-ben về văn học năm 1965, Sô-lô-khốp được ca ngợi là “một trong những nhà văn xuôi lớn thế kỉ XX”.

        “Đất vỡ hoang”, “Sông Đông êm đềm”,… “Số phận con người” đã đem đến vinh quang cho Sô-lô-khốp. Truyện “Số phận con người” xuất hiện trên báo vào cuối năm 1956. Hình ảnh nhân vật Xô-cô-lốp để lại trong lòng ta bao ám ảnh về số phận con người đầy bất hạnh thương đau. Qua số phận nhân vật này, ta cảm nhận sâu sác nhiệt tình tố cáo thảm hoạ chiến tranh, mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật nó, biểu dương khí phách anh hùng của người Xô viết, khám phá chiều sâu tính cách Nga bình dị, nhân ái – được thể hiện một bút pháp nghệ thuật điêu luyện, độc đáo của nhà văn Sô-lô-khốp.

        Đọc “Số phận con người”, ta vô cùng xúc động trước trang đời đầy nước mắt và máu của nhân vật Xô-cô-lốp. Năm 1941 phát xít Đức bất ngờ tấn công Liên Xô. Cùng với hàng triệu người Xô viết cầm vũ khí đứng lên, Xô-cô-lốp đã ra trận. Anh nếm trải những gian truân, thất bại buổi đầu. Hai lần bị thương vào chân vào tay. Rồi anh bị giặc bắt, bị đày đọa suốt hai năm trong nhiều trại tập trung. Sống bằng xúp léu bều lõng bõng, bánh mì lẫn mạt cưa. áo quần xơ xác, lao động khổ sai, người tù da bọc xương. Hàng trăm tù binh bỏ mạng. Tù binh Nga bị bọn phát xít đanh bằng thanh sắt, thanh gồ, thanh củi, đánh bằng báng súng, đấm bằng tay, đạp bằng chân vô cùng dã man. Bô chỉ huy trại đấm vào mặt vào mũi tù binh cho hộc máu ra; chúng gọi đó là trò “phòng bệnh cúm”. Chúng “sáng tạo” ra mọi cách cực kỳ man rợ để đánh đập, bắn giết tù binh. Đêm và ngày, lúc lao động khổ sai và lúc bị nhốt sau hàng rào dây thép gai, Xô-cô-lốp cũng như các tù binh khác bị cái chết bủa vây, bị tử thần rình rập.

        Sau 5 năm chiến tranh, hơn 20 triệu người Xô viết bị chết, hàng ngàn thành phố, hàng vạn làng mạc bị bom đạn phát xít biến thành tro tàn. Gia đình Xô-cô-lốp gánh chịu bao mất mát đau thương. Vợ và 2 con gái bị giặc ném bom giết hại. Con trai, đại úy pháo binh A-na-tô-ni, niổm hy vọng cuối cùng, đã ngã xuống tại Bec-lin trong ngày chiến thắng bởi viên đạn bắn lén của một tên thiện xạ phát xít! Nổi đau thương khủng khiếp làm cho Xô-cố-lôp “như người mất hồn Chiến tranh kết thúc, anh được giải ngũ nhưng không muốn vể lại Vô-rô-ne-giơ quê hương vì đâu còn gia đình nữa! Bé Va-ni-a cũng là hiện thân cho thảm hoạ chiến tranh. Cha “chết ở mặt trận”. “Mẹ bị bom chết trên tàu hỏa khi mẹ con cháu đang đi tàu”. Bé cũng không biết, không nhớ từ đâu đến. Bà con thân thuộc “không còn ai cả”. Và chỉ biết “bạ đâu ngủ đó, ai cho gì ăn nấy!”. Áo quần em thì “rách bươm xơ mướp”; “mặt mũi thì bê bết nước dưa hấu, lem luốc bụi bặm, bẩn như ma lem”…

        Hình ảnh bé Va-ni-a cũng như cuộc đời của Xô-cô-lốp được tác giả miêu tả một cách chân thật cảm động, thể hiện nhiệt tình tố cáo thảm họa chiến tranh, mô tả chiến tranh trong bộ mặt thật của nó. Cái giá của chiến thắng mà mọi dân tộc cũng như nhân dân Liên Xô trong chiến tranh thế giới thứ 2 giành được là cực kì khủng khiếp. Chỉ còn lại một phần ba số binh sĩ ra trận trở về, trong số đó có nhiều người trên mình mang đầy thương tật. Sức khỏe sa sút, cạn kiệt. Khi chiến tranh đã đi qua, một năm sau đó, Xô-cô-lốp cảm thấy quả tim mình “đã rệu rã lắm rồi”. Nhiều khi “tự nhiên nó nhói lên, thắt lại giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi”. Nhưng cái đau khổ nhất mà bão tố chiến tranh đã gieo dắt cho con người không chỉ là mất mát, tang thương, điêu tàn… mà còn là những vết thương lòng ri máu, những ám ảnh kinh hoàng còn mãi trong kí ức, cứ siết chặt tâm hồn người thời hậu chiến! Bé Va-ni-a vốn hoạt bát có lúc lại “lặng thinh, tư lự”, có lúc lại “thở dài”. Cái áo bành tồ da của bố ngày nào cứ bám riết lấy tâm hồn em như một ám ảnh không nguôi! Còn Xô-cô-lốp thì nỗi đau như vô tận “không ở lâu mãi một chỗ được “, nỗi buồn không bao giờ nguôi, “hai bố con cứ cuốc bộ khắp nước Nga”… Hầu như đêm nào anh cũng chiêm bao “thấy những người thân thuộc đã quá cố”, gặp vợ con sau hàng rào dây thép gai,… “ban ngày trấn tĩnh được, không hở ra một tiếng thở dài, một lời than nhưng đêm ướt đẫm nước mắt… “. Xô-cô-lốp và bé Va-ni-a trở thành hai cát bị phũ phàng của bão tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ…”.

        Nhân vật Xô-cô-lốp là một con người Nga chân chính, tiêu biểu cho khí phách anh hùng của người lính Xô Viết trong cuộc chiến tranh vệ quốc vĩ đại. Vốn là một nông dân rồi làm thợ mộc, lái xe. Một gia đình ổn định êm ấm: một vợ, ba con. Anh đã ra trận như hàng triệu công dân với ý thức “Tổ quốc hay là chết!”. Hai lần bị thương vào chân và tay; vết thương lành, anh lại cầm súng đánh giặc; rồi bị bắt làm tù binh, lao động trong mưa, nắng, tuyết; bị đánh bằng báng súng, bằng thanh sắt, bằng gộc. áo quần tả tơi, bánh mì lẫn mạt cưa, lưng bát súp lõng bõng. Anh đã đứng vững trước mọi thử thách ác liệt. Kien quyết trừ khử tên phản bội đốn mạt! Hiên ngang trước mũi súng tên hung thần Muyn-le, chỉ huy trại tập trung. Với đôi mắt bình thản, anh đã nhìn thẳng vào họng súng lục tôn phát xít. Tự kiềm chế đói khát khi đứng trước bàn tiệc của lũ giặc. Đàng hoàng uống rượu, không chỉ uống một cốc mà còn uống nữa để mừng cái chết của mình chứ không phải để mừng chiến thắng quân xâm lược! Khí phách lẫm liệt của Xô-cô-lốp đã làm cho tên phát xít khát máu kinh ngạc, khâm phục nói:

        “Mày là một thằng lính Nga chân chính. Tao cũng là lính và tao trọng những địch thủ có khí tiết. Tao sẽ không bắn mày nữa”. Tầm vóc của Xô-cô-lốp, của người lính Nga trong máu lửa được miêu tả một cách chân thực, làm cho truyện “Số phận con người” mang vẻ đẹp một “tiểu anh hùng ca”.

        Qua nhân vật Xô-cô-lốp, tác giả khám phá ra chiều sâu tính cách Nga bình dị và nhân ái. Sau chiến tranh, anh vẫn nhớ hoài cái giây phút từ biệt vợ để ra trận, anh đẩy I-ri-na, khi chị cứ níu lấy anh, không thả… Bình dị trước biến cố trọng đại khi lịch sử đưa số phận anh lên “điểm tựa” thử thách! Lửa chiến tranh đã tắt hơn một năm rồi, mà lòng Xô-cô-lốp mãi không nguôi đau. Anh đã tìm đến rượu, “uống một ly rượu lử người”, anh đã “quá say mê món nguy hại ấy”. Anh muốn quên đi bao mất mát đau thương và cô đơn…

        Đang sống âm thầm trong bi kịch, tưởng không có lối thoát. Nhưng rồi tình cảm người cha, tình thương đồng loại đã thức dậy, làm cho vết thương lòng rỉ máu bấy nay như được mọc lên một lớp da non. Gặp bé Va-ni-a “đầu óc rối bù, rách bươm xơ mướp” sống bơ vơ nơi hiệu giải khát, “bạ đâu ngủ đó… ai cho gì ăn nấy”, nhất là khi anh thấy cặp mắt của em “như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm”, Xô-cô-lốp thấy “thích nó” và “nhớ nó”, cố cho xe chạy thật nhanh để được về “gặp nó”. Anh đã quyết định: “không thể cho mình với nó chìm nghỉm riêng rẽ được! Mình sẽ nhận nó làm con!”. Một quyết định đầy nhân ái. Anh đã cứu bé Va-ni-a và anh đã tự cứu mình! Như có một phép thần biến cải: “ngay lúc đó tâm hồn tôi bỗng nhẹ nhõm và bừng sáng lên!”. Câu nói khẽ của Xô-cô-lốp: “là bố của con!” khi nghe bé Va-ni-a nghẹn ngào hỏi: “thế chú là ai?”, một câu nói tưởng là bình dị nhưng đầy nước mắt, chứa đựng cả một biển trời thương mến mênh mông! Trước những cái hôn vào má, vào môi, vào trán, trước những cử chỉ yêu thương và tiếng nói ríu rít, líu lo của bé Va-ni-a: “bố yêu của con ơi!… Con chờ mãi mong được gặp bố…”, Xô-cô-lốp vô cùng xúc động: “Mắt tôi thì mờ đi, cả người cũng run lên, hai bàn tay lẩy bẩy…”.

        Xô-cô-lốp đã nhận bé Va-ni-a làm con. Anh đã tắm rửa, đưa bé đi cắt tóc, may quần áo mới, săn sóc em. Hai linh hồn đau khổ tựa vào nhau làm cho nỗi mất mát, đau thương sau chiến tranh được dịu lại. Giấc ngủ được yẽn lành hơn: “Lần đầu tiên, sau bao nhiêu năm tôi được ngủ một giấc yên lành”. Còn bé Va-ni-a thì rúc vào nách bố nuôi “như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ…”. Hạnh phúc là san sẻ. Xô-cô-lốp lòng vui không tài nào tả xiết, đêm đêm thức dậy đánh diêm ngắm nhìn bé Va-ni-a ngủ ngon lành. Đời anh đã có một sự thay đổi kỳ diệu: “trái tim đã suy kiệt, đã bị chai sạn vì đau khổ, nay trở nên êm dịu hơn”.

        Vết thương lòng đâu dễ nguôi. Vì thế mà Xô-cô-lốp phải cõng đứa con nuôi bé bỏng đi khắp nước Nga. Chỉ đến một lúc nào đó, bé Va-ni-a lớn lên vào học một trường ổn định thì Xô-cô-lốp “mới có thể ở yên một chỗ”. Anh đang chịu đựng và vượt qua số phận bằng tình thương của người bố đối với đứa con.

        Cuộc gặp bất chợt với “hai con người côi cút” và câu chuyện đau lòng của họ đã để lại trong lòng tác giả bao nỗi buồn thấm thía, nhưng Sô-lô-khốp vẫn tin vào dũng khí và lòng nhân ái của người Nga, vẫn tin vào tương lai, dù cho bão tố chiến tranh có thổi bạt họ tới những miền xa lạ: “Cái gì đang chờ đón họ ở phía trước? Thiết nghĩ rằng con người Nga đó, con người có ý chí kiên cường, sẽ đứng vững được và sống bên cạnh bố, chú bé kia một khi lớn lên sẽ có thể đương đầu mọi thử thách, sẽ vượt qua mọi chướng ngại trên đường, nếu như Tổ quốc kêu gọi”.

        Truyện “Số phận con người” có kết cấu “truyện lồng trong truyện” – đã tô đậm những đau khổ, những phẩm chất cao đẹp của nhân vật Xô-cô-lốp, khắc hoạ đậm nét tính cách và tâm hồn Nga, đem đến cho người đọc bao xúc động thấm thía về số phận con người trong chiến tranh và thời hậu chiến.

        Với những chi tiết, tình tiết rất sống, rất điển hình và chân thực, tác giả đã mô tả bộ mặt thật của chiến tranh, ca ngợi người lao động bình thường trong cuộc đời, anh binh nhì trong máu lửa, người cha trong cuộc sống phức tạp, nhiều khó khăn thời kỳ sau chiến tranh. Qua nhân vật Xô-cô-lốp, người đọc cảm nhận được những ý tưởng sâu sắc mà Sô-lô-khốp gửi gắm qua kiệt tác này: Với lòng dũng cảm mà con người vượt qua những thử thách chiến tranh; với lòng nhân ái có thể làm dịu bớt nỗi buồn đau mà chiến tranh gieo rắc, để lại. Đoạn trữ tình ngoại đề làm cho cảm hứng nhân đạo thêm lung linh chói sáng.

        Nhân dân Việt Nam vừa trải qua 30 nãm chiến tranh. Hình ảnh Xô-cô-lốp rất gần gũi với mỗi chúng ta. Nhân vật này rất sống, rất đáng thương nhưng vô cùng cao đẹp xứng đáng được mọi người yêu mến, cảm phục. Khát vọng hòa bình, được sống yên vui trong ấm no hạnh phúc và tinh thương là khát vọng đẹp muôn đời của nhân loại.

  • Bài tóm tắt truyện Số phận con người hay nhất

    Bài tóm tắt truyện Số phận con người hay nhất

    Bài tóm tắt truyện Số phận con người hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Top 3 bài Phân tích truyện Số phận con người của Sô-lô-khốp hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Tóm tắt truyện “Số phận con người” của nhà văn Xô-cô-lốp.

    Bài văn mẫu

        Gần một năm sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, mùa xuân năm 1946, trên đường đi công tác, tác giả gặp Xô-cô-Iốp 46 tuổi và bé Va-ni-a chừng 5, 6 tuổi tại một bến đò. Trong lúc chờ đò, Xô-cô-lốp đã kể cho tác giả nghe vê cuộc đời vô cùng gian truân và đau khổ của mình. Chiến tranh bùng nổ, anh ra trận để lại quê nhà người vợ hiền và 3 con nhỏ. Sau một năm chiến đấu, hai lần anh bị thương nhẹ vào tay và chân. Tiếp đó anh bị bắt làm tù binh, bị đầy đọa suốt hai năm trời trong các trại tập trung của phát xít Đức. Lao dịch, nhục hình, đói rét, tử thần đêm ngày đe dọa. Nãm 1944, giặc bị thua to trên mặt trận Xô – Đức, bọn phát xít bắt tù binh làm lái xe. Nhân cơ hội đó, Xô-cô-lốp đã bắt sống một tên trung tá Đức, chạy thoát về phía Hồng quân. Lúc này, anh đã biết tin về vợ và 2 con gái anh bị bom giặc giết hại. A-na-tô-ni, cậu con trai giỏi toán của anh nay đã trở thành đại uý pháo binh Hồng quân. Xô-cô-lốp lại ra trận. Hai cha con cùng tham dự chiến dịch công phá Bec-lin, sào huyệt của Hit-le. Đúng ngày 9/5/1945, ngày chiến thắng, một tên thiện xạ Đức đã bắn lén giết A-na-tô-ni, niềm hi vọng cuối cùng của anh.

        Chiến tranh kết thúc, Xô-cô-lốp được giải ngũ, nhưng anh không trở về Vô-rô-ne-giơ quê hương nữa. Một đồng đội bị thương đã giải ngũ có lần mời anh về nhà chơi, Xô-cô-lốp nhớ ra và tìm đến U-riu-pin-xcơ. Anh xin được làm lái xe chở hàng hóa về các huyện và chở lúa mì về thành phố. Mỗi lần đưa xe về thành phố, anh lại tạt vào cửa hiệu giải khát uống một li rượu lử người. Anh đã gặp bé Va-ni-a đầu tóc rối bù, rách bươm xơ mướp nhưng cặp mắt như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm. Nó ăn ngay ở hiệu giải khát, ai cho gì thì nó ăn nấy. Bạ đâu ngủ đó. Xô-cô-lốp xúc động quyết định: “mình sẽ nhận nó làm con nuôi!”. Xô-cô-lốp nói với bé Va-ni-a: “Là bố con!” khi nó nghẹn ngào hỏi: “Thế chú là ai?”.

        Đưa bé Va-ni-a về nhà vợ chồng người bạn, Xô-cô-lốp tắm rửa, cắt tóc, sắm quần áo cho bé Va-ni-a. Nhìn nó ăn súp bắp cải, vợ người bạn lấy tạp dề che mặt khóc. Lần đầu tiên sau chiến tranh, Xô-cô”lốp được ngủ một giấc yên lành. Còn bé Va-ni-a rúc vào nách bố nuôi như con chim sẻ dưới mái rạ, ngáy khe khẽ. Ngày và đêm, bé Va-ni-a không chịu rời Xô-cô-lốp. Một chuyện rủi ro xảy đến, Xô-cô-ĩốp bị người ta tước mất bằng lái xe. Mất việc, anh đưa bé Va-ni-a đi bộ đến Ka-sa-rư kiếm sống.

        Nhìn 2 bố con đi xa dần với một nỗi buồn thấm thìa, chợt đứa bé quay lại nhìn nhà văn, vẫy vẫy bàn tay bé xíu hồng hồng. Như có móng sắc nhọn bóp lấy tim mình, tác giả vội quay mặt đi…

     

     

  • Top 3 bài Phân tích truyện Số phận con người của Sô-lô-khốp hay nhất

    Top 3 bài Phân tích truyện Số phận con người của Sô-lô-khốp hay nhất

    Top 3 bài Phân tích truyện Số phận con người của Sô-lô-khốp hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bài Phân tích tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Anh chị hãy viết bài văn Phân tích tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp.

    Bài văn mẫu

       Nhà văn Sô-lô-khốp (1905 – 1984), ông là một nhà văn Xô Viết lỗi lạc, vinh dự hơn khi ông được nhận giải thưởng Nô- Ben về văn học năm 1965. Đồng thời ông được liệt vào danh sách những nhà văn lớn. Tác phẩm của ông để lại gồm những tập truyện, tiểu thuyết lớn và tiêu biểu trong số đó có tác phẩm số phận con người. Qua tác phẩm ấy ta thấy được những số phận bất hạnh của con người sau chiến tranh. Từ khi ra đời có trên mặt báo Sự Thật cho đến nay tác phẩm vẫn còn nguyên những giá trị ý nghĩa của mình.

       Nhân vật chính trong truyện chính là nhân vật Xô cô lốp. Anh là một người rơi vào bi kịch sau khi chiến tranh kết thúc. Trước đó anh phải đi lính và sau khi hòa bình thì anh không còn gì cả, người thân, nhà cửa, bạn bè không còn ai hết. Đối với anh mà nói một lòng chiến đấu vì quê hương đất nước cũng chính là bảo vệ người thân của mình vậy mà giờ đây những người thân yêu của anh đều từ bỏ anh mà đi, bom đạn kia đã cướp họ khỏi anh.

       Chính vì thế mà anh phải sống một cuộc sống đau khổ. Trong chiến đấu anh cũng phải chịu những bất hạnh đó là hai lần anh bị thương và tiếp tục bị đày đọa hai năm trong trại tập trung của phát xít Nhật. Vợ và hai người con gái của anh bị bom phát xít cướp đi tính mạng. Anh chỉ còn niềm hi vọng vào người con trai cả là A- na-tô-li thì anh ấy cũng bị chết trận năm 1945.

       Như vậy có thể thấy số phân của anh rất bất hạnh, khi chiến đấu đã chịu những khổ cực về thể xác rồi mà đến khi chiến tranh kết thúc mọi nhà sống trong độc lập thì với anh lại là niềm đau khổ về tinh thần vì những người thân yêu của anh đều bị chiến tranh cướp đi mất rồi. Anh tuyệt vọng trước những đau khổ của cuộc đời. từ đó ta thấy được hậu quả của chiến tranh để lại thật sự rất đau lòng.

       Sau chiến tranh anh không còn nhà cửa, không còn người thân cho nên anh phải ở nhờ một người đồng chí cũ. Anh phải tìm đến rượu để dịu bớt nỗi đau của mình. Tóm lại sau chiến tranh anh phải sống một cảnh sống cô đơn và bế tắc.

       Và trong một lần tình cờ hay do duyên trời run rủi cho anh gặp bé Va ni a. Nhà văn miêu tả ngoại hình của chú bé bằng những lời văn chân thực nhất để từ đó thấy được hậu quả kinh khủng của chiến tranh để lại. Chú bé khoảng năm đến sáu tuổi. Chú hiện lên trong bô dạng quần áo rách bươm xơ mướp, mặt mũi thì bê bết lem luốc…duy nhất chỉ có căp mắt là sáng ngời. Cậu bé ấy cũng có một hoàn cảnh vô cùng thương tâm. Cả cha và mẹ của cậu bé đều chết trong chiến tranh. Cùng có người thân bị mất nhưng ít ra Xô cô lốp còn có sức mà lao động còn cậu bé kia làm sao có thể lao động được. Cậu còn quá nhỏ. Cậu sống vạ vật, ai cho gì ăn đấy, bạ đâu ngủ đấy. Và duyên phận như cho họ gặp nhau để bù đắp cho nhau những tình thương mà mình đã mất đi. Xô cô lốp cảm thương tình cảnh của Va ni a cho nên anh quyết định nhận cậu làm con nuôi. Cả hai người chủ nhà của xô cô lốp cũng đồng tình với hành động nhân ái ấy. Và anh như quên đi mọi đau khổ mà dành cho bé Va ni a những tình thương sự tận tình chu đáo. Anh mua quần áo cho cậu bé, một chiếc áo bành tô rất đẹp. Chính lòng nhân ái đã đem hai trái tim gần nhau sưởi ấm cho nhau.

       Thế rồi anh cố gắng kiếm sống để nuôi bé Va ni a nhưng cuộc sống hay số phận anh khổ đau. Anh vượt lên những nỗi đau, xe anh quệt nhẹ người ta mà anh bi tước bằng lái, anh mất việc nên phải đi lang bạc kiếm sống. Đã thế thể chất sức khỏe của anh cũng giảm đi trông thấy. Anh đau đến khóc thế nhưng anh vẫn cố gắng không để cho bé Va ni a biết. Trước mặt cậu anh vẫn tỏ ra bình thường. Dường như nhà văn đang nhìn anh với một ánh mắt nhân đạo, anh đã không để cho bé Va ni a phải khóc, điều đó thể hiện một sự hi sinh của người cha.

       Đến đoạn cuối tác phẩm thì nhà văn như thể hiện sự đồng cảm thương xót của mình với nhân vật. Tác giả không thể nào giấu được những cảm xúc của bản thân mình trước những tình cảnh cũng như tình cảm của hai cha con mà thốt lên: ” Với nỗi buồn thấm thía, tôi nhìn theo hai bố con…” Hai người côi cút đã tìm đến nhau chia sẻ cho nhau những niềm yêu thương trong cuộc sống. Đoạn văn thể hiện sự khâm phục những tính cách con người Nga kiên cường trước những khó khăn của cuộc sống. Trong hoàn cảnh đói nghèo đau khổ nhưng vẫn trao cho nhau những tình yêu thương nhân ái để chạm tay đến hạnh phúc.

       Như vậy có thể nói qua đây ta thấy được số phận con người sau chiến tranh đau khổ như thế nào. Người lính đã trải qua những khó khăn trên chiến trường rồi tưởng rằng chiến tranh kết thúc sẽ được đoàn tụ thì người thân cũng bị chiến tranh cướp đi. Xô cô lốp cùng bé Va ni a chính là hiện thân của những số phận bất hạnh đó. Đồng thời qua tác phẩm này nhà văn kêu gọi mọi người nên có trách nhiệm với số phận của những con người như thế.

     

  • Bài Phân tích tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp hay nhất

    Bài Phân tích tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp hay nhất

    Bài Phân tích tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích truyện ngắn Số phận con người hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tác phẩm Số phận con người của Sô-lô-khốp

    Bài văn mẫu

       Số phận con người là một trong những tác phẩm nổi bật, làm nên tên tuổi của Sô-lô-khốp. Hình ảnh Xô-cô-lốp cùng bé Va-ni-a đã khiến người đọc biết bao xúc động, về tình yêu thương, về lòng nhân đạo giữa con người với con người.

       Chiến tranh xảy ra, là một chàng thành niên trẻ tuổi, Xô-cô-lốp cũng nhưng hàng triệu thanh niên khác cũng cảm lên đường cầm vũ khí chiến đấu. Trong những năm tháng chiến tranh anh cũng phải trải qua biết bao gian truân, cực khổ thậm chí cả thất bại. Bị chiến tranh tàn phá thân thể, anh bị thương hai lần vào chân và tay, rồi bị giặc bắt và đày đọa gần hai năm ở những trại tập trung khác nhau. Xô-cô-lốp giữ được mạng sống quả là một điều thần kì khi có hàng trăm người bỏ mạng.

       Sau năm năm chiến chiến tranh, gia đình Xô-cô-lốp cũng nhưng rất nhiều gia đình khác chịu cảnh li tán và mất mát. Vợ và hai con gái bị giặc ném bom giết hại. Người con trai duy nhất, niềm hi vọng cuối cùng của anh cuối cùng cũng ngã xuống trong trận chiến cuối cùng. Chiến tranh kết thúc cũng cuốn phăng gia đình anh, cuốn phăng khao khát được trở về nhà. Bởi nhà anh đầu còn nữa. Bé Va-ni-a cũng là hiện thân tiêu biểu khác của thảm họa chiến tranh: cha chết ở mặt trận, mẹ “bị bom chết trên tài hỏa khi mẹ con cháu đang đi tài”. Cuộc sống Va-ni-a cực khổ thiếu thốn tình thương, lấm lem, bẩn thỉu

       Cuộc đời của họ được tác giả miểu tả thật sự chân thật và đầy xúc động. Đã lên án tố cáo chiến tranh phi nghĩa, lột tả bộ mặt thật của nó. Cướp đi gia đình, cướp đi tương lai của một thanh niên, cướp đi hi vọng của người bố. Chỉ để lại một khoảng trống rỗng đến vô cùng.

       Sau chiến tranh, sức khỏe của Xô-cô-lốp yếu đi rất nhiều, “tự nhiên nó nhói lên, thắt lại giữa ban ngày mà tối tăm mặt mũi”, những giấc mơ kinh hoàng cứ quẩn quanh lấy tâm trí hai con người tội nghiệp. Bé Va-ni-a đôi lúc thất thần, tư lự, rồi thở dài. Thật chẳng giống tâm tư của một đứa bé. Còn Xô-cô-lốp đêm nào cũng mo wthaays những người đã mắt, gặp lại vợ con sau hàng dây thép gai, gối đẫm nước mắt anh hàng đêm. Cả hai đều trở thành “côi cút, hai hạt cát đã bị sức mạnh phũ phàng của báo tố chiến tranh thổi bạt tới những miền xa lạ”.

       Xô-cô-lốp sống trong đau đớn, khổ sở sau chiến tranh, tưởng chừng như không có gì có thể cứu vớt anh được nữa, thì tình cờ Xô-cô-lốp gặp được bé Va-ni-a “đầu tóc rối bù, rách bươm xơ mướp” sống bơ vơ, vất vưởng. Đặc biệt là khi Xô-cô-lốp nhìn thấy cặp mặt của em “như những ngôi sao sáng ngời sau trận mưa đêm”. Xô-cô-lốp đã nảy sinh tình cảm với bé Va-ni-a đó là thích là nhớ, khi đi đâu anh cũng đi thật nhanh để về gặp nó. Và cuối cùng anh quyết định: “không thể cho nó chìm nghỉm riêng rẽ được! Mình sẽ nhận nó làm con”. Một quyết định tràn đầy tình yêu thương. Và quyết định đó đã đêm đến một cuộc sống khác cho cả hai con người tội nghiệp này.

       “Trái tim đã suy kiệt, đã bị chai sạn và đau khổ, nay mềm dịu hơn”. Và-ni-a chính là liều thuốc hữu hiệu đem đến hạnh phúc cho Xô-cô-lốp. Cậu như chú chim sẻ non khẽ rúc vào nách bố, đêm lại hạnh phúc cho con người này.

       Truyện được viết với những tình tiết chân thực, mô tả bộ mặt thật của chiến tranh. Kết cấu truyện lồng trong truyện đã tô đậm những đau khổ, bất hạnh, cũng như phẩm chất sáng ngời của nhân vật Xô-cô-lốp.

       Cuộc gặp gỡ bất ngờ giữa hai con người này đã để lại biết bao dư âm cho người đọc. Đó là tình yêu thương, là sức mạnh để vượt qua mọi khó khan trong cuộc đời. Tác phẩm cũng là bài ca ca ngợi hững người lao động sau khói lửa chiến tranh. Tác phẩm thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của tác giả.