Category: Tài Liệu Lớp 12

  • [Soạn văn] Đò lèn (Nguyễn Duy)

    [Soạn văn] Đò lèn (Nguyễn Duy)

    Soạn văn lớp 12: Đò lèn (Nguyễn Duy)

    Câu 1: Kí ức tuổi thơ hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ?

    Kí ức tuổi thơ hiện lên trong tâm tưởng nhà thơ vừa sinh động hồn nhiên vừa đầy suy tư day dứt. Bài thơ có 6 khổ thơ thì đến 5 khổ là kí ức tuổi thơ. Kí ức hiện lên với hai mảng hình ảnh tương phản, ngầm thể hiện sự ân hận, day dứt của nhân vật tôi trong quá trình nhận thức.

    – Hai khổ thơ đầu: Đó là kí ức tuổi thơ hồn nhiên, vô tư với những trò chơi nghịch ngợm của trẻ con (câu cá, bắt chim, hái trộm nhãn, níu váy theo bà đi chợ, …). Đó là niềm say mê, mơ mộng thế giới hư ảo của tiên Phật, thánh thần (chơi đền Cây Thị, xem lễ đền Sòng, tâm hồn trẻ thơ ngây ngất trước mùi thơm của hương trầm, hoa huệ, trước điệu hát văn của cô đồng, …)

    – Ba khổ thơ tiếp: Hiện lên hình ảnh người bà trong cuộc đời thực với bao vất vả, khổ cực, gian nan. Cuộc sống nghèo khó nên phải “mò cua xúc tép“, “gánh chè xanh” trĩu nặng trên vai cùng bà con xuôi ngược buôn bán khắp nơi; ăn “củ dong riềng luộc sượng” để cầm hơn qua cơn đói khát; thời chiến tranh ác liệt, nhà bà bị bom Mĩ dội bà phải đi “bán trứng ở ga Lèn

    – Đứa cháu vô tư đến mức vô tâm không nhận ra nỗi vất vả cơ cực của bà.

    Câu 2: Tình cảm sâu nặng đối với người bà được biểu hiện qua hình ảnh nào?

    – Hình ảnh người bà: mò cua xúc tép, gánh chè xanh những đêm lạnh ,bán trứng ga Lèn ngày bom Mỹ dội, năm đói củ dong riềng luộc sượng … . Đó là những hình ảnh thể hiện sự cơ cực, tần tảo, yêu thương.

    – Tình cảm của nhà thơ khi nghĩ về bà ngoại:

    + Thấu hiểu nỗi cơ cực, tần tảo, tình yêu thương của bà .Thể hiện tình yêu thương, sự tôn kính, lòng tri ân sâu sắc đối với bà.

    + Sự ân hận, ngậm ngùi, xót đau muộn màng:

    Khi tôi biết thương bà thì đã muộn

    Bà chỉ còn một nấm cỏ thôi

    Câu 3: Nét độc đáo trong cách thể hiện tình cảm đối với người bà của Nguyễn Duy

    Trong Bếp lửa, nhà thơ Bằng Việt thể hiện tình cảm dành cho bà bằng việc tái hiện những hồi ức thiêng liêng, cảm động về tình bà cháu. Tình cảm ấy được thể hiện qua tiếng tu hú tha thiết, qua hình ảnh bếp lửa bập bùng.

    Nét độc đáo trong cách thể hiện tình cảm đối với người bà của Nguyễn Duy là bộc lộ tình cảm trực tiếp, những kí ức ùa về dạt dào rất chân thành, không che đậy dưới bất kì hình ảnh, biểu tượng nào. Mặt khác, nhà thơ còn bày tỏ tình cảm đối với bà bằng những lời thơ tự trách mình, như ăn năn hối lỗi khi nhớ về một thời vô tâm, vụng dại đã qua, chưa kịp làm gì để thương và đền đáp công ơn của bà.

  • [Soạn văn] Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

    [Soạn văn] Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

    Soạn văn lớp 12: Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

    Câu 1: Ý nghĩa biểu tượng của hình tượng con tàu và địa danh Tây Bắc, giải thích nhan đề bài thơ và bốn câu thơ đề từ.

    Thực tế lúc đó chưa có đường tàu và con tàu lên Tây Bắc. Hình ảnh “con tàu” trong bài thơ chủ yếu mang ý nghĩa biểu tượng cho khát vọng đi xa đến những vùng đất xa xôi hòa vào cuộc sống rộng lớn của nhân dân, đất nước. Đó là con tàu của tâm hồn nhà thơ khao khát về với ngọn nguồn sáng tạo nghệ thuật.

    – “Tây Bắc” ngoài ý nghĩa cụ thể chỉ miền đất vùng cao phía Tây Bắc của tổ quốc, nó còn biểu tượng cho mọi miền xa xôi của đất nước, nơi có cuộc sống gian lao mà sâu nặng tình nghĩa, khắc ghi kỉ niệm một thời kháng chiến. Tây Bắc chính là Tổ quốc.

    – Tiếng hát con tàu là tiếng hát của tâm hồn nhà thơ, hăm hở, sôi nổi làm cuộc hành trình đến với Tây Bắc, đến với cuộc sống lớn của nhân dân, cũng là đến với chân trời nghệ thuật mới.

    – Bốn câu thơ đề từ là những cuộc hóa thân kì diệu trong tâm hồn nhà thơ, nói lên được sự gắn bó máu thịt giữa thi sĩ với Tổ quốc, với cuộc đời – nơi tạo ra nguồn cảm hứng vô tận cho thi ca.

    Câu 2: Bố cục bài thơ Tiếng hát con tàu (Chế Lan Viên)

    • 2 khổ đầu: Sự trăn trở, lời mời gọi lên đường.
    • 9 khổ giữa: Khát vọng về với nhân dân, nơi khắc ghi nhiều kỉ niệm nghĩa tình trong kháng chiến.
    • 4 khổ cuối: khúc hát lên đường say mê, tin tưởng.

    Bố cục 3 phần đã thể hiện sự vận động tâm trạng chủ thể trữ tình: phần đầu có sự day dứt, trăn trở. Đoạn giữa là dòng hoài niệm với cảm xúc thiết tha, biết ơn. Đoạn cuối sôi nổi, háo hức.

    Câu 3: Niềm hạnh phúc lớn lao khi gặp lại nhân dân được nhà thơ thể hiện trong khổ thơ:

    Con gặp lại nhân dân như nai về suối cũ

    Cỏ đón giêng hai chim én gặp mùa

    Như đứa trẻ thơ đói lòng gặp sữa

    Chiếc nôi ngừng bỗng gặp cánh tay đưa.

    Tác giả đã tạo ra những cặp hình ảnh giàu tính tượng trưng, mỗi cặp một sắc thái khác nhau để so sánh làm nổi bật niềm hạnh phúc lớn lao của mình khi từ bỏ thế giới nhỏ hẹp của cá nhân để về với nhân dân. Đối với người con ở đây, nhân dân là nơi chan chứa tình yêu thương, che chở, cưu mang, là nguồn sống, là bầu sinh khí, tiếp sức cho anh.

    Hình ảnh so sánh phong phú chắt lọc từ đời sống thiên nhiên và con người nên rất bình dị, gần gũi. Cách sắp xếp hàng loạt hình ảnh so sánh cùng hướng tới một ý nghĩa tạo sự nồng nàn, tha thiết.

    Câu 4: Hoài niệm của tác giả Chế Lan Viên về nhân dân Tây Bắc

    Nhân dân Tây Bắc trong hoài niệm của tác giả là những người dân lao động nghèo nhưng giàu lòng yêu nước, gắn bó nghĩa tình với kháng chiến. Đó là “người anh du kích“, đã hi sinh trong một trận công đồn, trước lúc ra đi còn nhường lại chiếc áo đang mặc cho người kháng chiến. Chỉ là “chiếc áo nâu suốt một đời vá rách” nhưng nghĩa tình trong cử chỉ nhường áo đó mãi không thể quên. “Nhường cơm sẻ áo” đã trở thành những cử chỉ đẹp trong môi trường kháng chiến thiếu thốn. Trong bài “Việt Bắc“, Tố Hữu đã viết:

    Thương nhau chia củ sắn lùi

    Bát cơm sẻ nửa, chăn sui đắp cùng.

    Đó là hình ảnh “em liên lạc“, một em thiếu nhi Tây Bắc sớm có lòng yêu nước, tận tụy, đầy ý thức trách nhiện với công việc “Mười năm tròn chưa mất một phong thư“. Tình cảm của em đối với người kháng chiến rất đáng trân trọng, yêu thương, bảo vệ người kháng chiến hết mình (Rừng thưa em băng, rừng rậm em chờ).

    Hình ảnh “mế“, người mẹ Tây Bắc ân cần chăm sóc người kháng chiến khi họ bị bệnh không phải một ngày, một tháng mà cả “mùa dài“. Tình mẹ đối với người kháng chiến chẳng khác tình ruột thịt. Hình ảnh mẹ càng đẹp hơn trong sự phản chiếu lung linh của “lửa hồng soi tóc bạc“.

    Hình ảnh cô gái Tây Bắc đọng lại trong cử chỉ ấm áp “Anh nắm tay em cuối mùa chiến dịch“, trong hương thơm của “vắt xôi nuôi quân em giấu giữa rừng“. Tình quân dân lâu dần thành tình đôi lứa. Nỗi nhớ được so sánh bằng những hình ảnh gợi bất ngờ, mới lạ, gợi được những tưởng tượng phong phú. (Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét, Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng …)

    – Cách xưng hô thân tình, ruột thịt (anh con, em con, mế …) hình ảnh chân thực, từ ngữ gợi cảm, so sánh độc đáo … Đoạn thơ thể hiện lòng biết ơn, tình yêu thương sâu nặng đối với Tây Bắc. Nhân dân Tây Bắc như một đại gia đình ruột thịt của người kháng chiến.

    – Khổ thơ:

    Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ

    Nơi nào qua lòng lại chẳng yêu thương

    Khi ta ở chỉ là nơi đất ở

    Khi ta đi đất đã hóa tâm hồn

    Thể hiện niềm thương nhớ đằm thắm, sâu nặng với những mạnh đất mình đã đi qua. Những câu thơ triết lí nhưng không khô khan bởi vì nó dựa vào quy luật của tình cảm. Những miền đất lạ theo thời gian và nghĩa tình sẽ âm thầm bồi đắp tình yêu cho con người. Để rồi khi đi xa, những mảnh đất đó vẫn mãi theo người.

    Từ những cảm xúc suy tư về những chuyển hóa kì diệu của tâm hồn của người đúc kết thành triết lí đó chính là nét độc đáo trong phong cách thơ Chế Lan Viên.

    Câu 5: Những câu thơ thể hiện rõ nhất chất suy tưởng và triết lí của Chế Lan Viên là gì?

    Nhớ bản sương giăng nhớ đèo mây phủ

        ….

    Tình yêu làm đất lạ hóa quê hương.

    Câu 6: Nghệ thuật sáng tạo hình ảnh của Chế Lan Viên trong bài thơ Tiếng hát con tàu

    Bài thơ Tiếng hát con tàu của Chế Lan Viên hấp dẫn người đọc một phần là ở nghệ thuật sáng tạo hình ảnh. Biểu hiện ở:

    – Sự phong phú, đa dạng các loại hình ảnh:

    + Hình ảnh thực với chi tiết cụ thể (hình ảnh “mế“, hình ảnh người du kích, em liên lạc, …)

    + Hình ảnh biểu tượng (con tàu, vầng trăng, mặt hồng em, suối lớn mùa xuân, …)

    + Hình ảnh tượng tưởng (con tàu mộng tưởng, mỗi đêm khuya uống một vầng trăng, …)

    – Sử dụng đa dạng các phương thức sáng tạo hình ảnh:

    + Tả thực (khổ 6, 7, 8)

    + So sánh (khổ 5 và 10)

    + Ẩn dụ (con tàu, vầng trăng, …)

    – Hình ảnh thường được tổ chức thành từng chuỗi liên kết, tiếp nối, bổ sung nhằm khắc sâu ý tưởng, cảm xúc.

  • [Soạn văn] Đất nước (Nguyễn Đình Thi)

    [Soạn văn] Đất nước (Nguyễn Đình Thi)

    Soạn văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Đình Thi)

    Câu 1: Bố Cục bài thơ và mối quan hệ giữa các phần trong tác phẩm Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)?

    a. Bố cục bài thơ gồm 2 phần.

    – Phần 1: Từ đầu đến câu “Những buổi ngày xưa vọng nói về“.

    + Ý chính: Hình ảnh đất nước vươn dậy từ trong máu lửa, đau thương.

    – Phần 2: Đoạn còn lại.

    + Ý chính: Hình ảnh đất nước vươn dậy từ trong máu lửa, đau thương

    b. Mối quan hệ giữa các phần:

    Đó là quan hệ bổ sung cho cảm hứng tổng hợp về đất nước thêm đầy đủ và phong phú hơn.

    + Đoạn 1 gồm các khổ thơ, ý thơ đã được hình thành từ trước (1948-1949), nhưng tác giả cảm thấy chưa đầy đủ, chưa phong phú.

    + Đoạn 2 là những cảm nhận bổ sung, giàu tính khái quát, cho ta thấy hình ảnh đất nước Việt Nam không chỉ có cộng đồng, những con đường hay “Những dòng sông chảy nặng phù sa“… mà còn là một đất nước vươn lên từ trong gian khổ chiến tranh:

    Nước Việt Nam từ máu lửa

    Rũ bùn đứng dậy sáng lòa

    Câu 2: Mùa Thu trong tác phẩm Đất Nước (Nguyễn Đình Thi)?

    – Mùa thu hiện lên trong nỗi nhớ của nhà thơ: buổi sáng mùa thu trong lành mát mẻ, gió thổi nhẹ nhẹ thoảng mùi hương cốm trong gió, gợi cảm xúc cho nhà thơ nhớ Hà Nội.

    – Trong hoài niệm của nhà thơ Hà Nội hiện lên với cảnh vật thiên nhiên và con người.

    + Thiên nhiên: thời gian buổi sớm chớm lạnh, không gian: phố dài xao xác hơi may, hương vị cốm, … cảnh hiện lên đẹp nhưng buồn và vắng lặng.

    + Con người: ra đi đầu không ngoảnh lại đó là tư thế thể hiện sự ra đi vì lí tưởng cứu nước quyết tâm, dứt khoát nhưng vẫn biết sau lưng thềm nắng lá rơi đầy, vẫn có gì đó khiến cho chiến sĩ bịn rịn bâng khuâng.

    Tóm lại: đoạn thơ đã diễn tả thành công hình ảnh mùi hương của mùa thu Hà Nội. Đó là một bức tranh đẹp nhưng phảng phất nỗi buồn.

    Câu 3: Phân tích đoạn thơ “Mùa thu nay đã khác rồi” đến “Những buổi ngày xưa vọng nói về”

    – Đoạn thơ từ “Mùa thu nay đã khác rồi” đến “Những buổi ngày xưa vọng nói về” thể hiện những thay đổi biến chuyển.

    + Nhân vật “tôi” thay đổi từ trạng thái buồn, bâng khuâng, lưu luyến, đến vui sướng, tự hào.

    + Cái nhìn thay đổi từ đường phố, thềm nhà sang núi đồi, rừng tre, trời xanh, cánh đồng, dòng sông.

    + Cảm xúc của tác giả hân hoan, hả hê trước cảnh đất nước rộng lớn:

    Trời thu thay áo mới

    Trong biếc nói cười thiết tha

    + Tác giả chuyển sang cảm xúc tự hào về chủ quyền đất nước và truyền thống bất khuất của ông.

    Trời xanh đây là của chúng ta

    Núi rừng đây là của chúng ta

    ….

    Những buổi ngày xưa vọng nói về

    – Cảm hứng vui sướng và tự hào sở dĩ có được là do tình hình thực tế năm 1948: sau chiến thắng Việt Bắc thu – đông năm 1947, cả một vùng đất rộng lớn thuộc sáu tỉnh biên giới phía Bắc được giải phóng. Điều này đem lại cảm hứng tin tưởng, tự hào của các nhà thơ đi theo kháng chiến (đoạn thơ này được hình thành từ năm 1948 trong bài Sáng mát trong như sáng năm xưa).

    Khi thể hiện cảm hứng tự hào, tác giả đã có những khám phá sâu sắc về truyền thống Đất nước với Nguyễn Đình Thi nổi bật lên ở truyền thống bất khuất.

    Nước chúng ta

    Nước những người chưa bao giờ khuất

    Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

    Những buổi ngày xưa vọng nói về

    Đó là hai đặc tính quý báu của dân tộc ta: anh hùng bất khuất và giản dị chất phác.

    Câu 4: Nguyễn Đình Thi đã cảm nhận và suy tư như thế nào về quê hương đất nước trong phần 2.

    a. Đất nước đau thương

    – Nhà thơ nêu lên tội ác của giặc bằng những hình ảnh giàu tính khái quát như đồng quê chảy máu, bát cơm chan đầy nước mắt…

    – Bằng thủ pháp nghệ thuật nhân hóa cánh đồng quê chảy máu đã tố cáo tội ác của giặc.

    – Kẻ thù đã hủy hoại cả đời sống vật chất lẫn tinh thần của nhân dân ta.

    –> Chính tội ác ấy đã làm cho nhân dân ta căm hờn mà quyết tâm đứng dậy đánh cho chúng tan hoang, đánh cho chúng không còn đường chạy.

    b. Đất nước quật khởi huy hoàng

    – Nghệ thuật đối có sức gợi cảm mạnh mẽ, một bên là sự tàn bạo của quân xâm lược, một bên là quyền sống chính đáng của nhân dân ta.

    – Tất cả những hình ảnh trên kết hợp lại thành một biểu tượng của đất nước.

    – Những câu thơ cuối lấy chất liệu hiện thực từ trận đánh Điện Biên Phủ.

    –> Khổ thơ là một sự khám phá về chủ nghĩa anh hùng của đất nước, từ bùn lầy của nô lệ, từ đau thương quật khởi chiến thắng vang dội.

    Câu 5: Nghệ thuật

    Bài thơ được làm theo thể thơ tự do với các đặc điểm: câu thơ dài ngắn khác nhau, nhịp điệu khi nhanh, khi chậm. Kết hợp với việc lựa chọn sử dụng những hình ảnh có tính khái quát cao phù hợp với việc diễn tả nội dung tư tưởng và mạch cảm xúc của tác giả.

    Tác dụng:

    + Giúp tác giả dựng được một bức tưởng đài đẹp đẽ, sống động về hình ảnh đất nước trong chiến đấu và chiến thắng.

    + Gợi được cảm nhận rõ ràng về sự chiến thắng của dân tộc: chiến thắng ấy là kết quả của bao nhiêu máu đổ, bao nhiêu mồ hôi và nỗi đau vò xé ; chiến thắng ấy cũng là kết tinh cao nhất của tình yêu, của tinh thần chiến đấu và khát vọng hòa bình sâu thẳm.

    + Tạo được cảm hứng hào hùng cho khúc tráng ca của dân tộc từ nô lệ đến tự do, từ buồn thương đến mừng vui, hạnh phúc. Đây chính là sự vận động đẹp đẽ, sâu sắc trong tứ thơ của Nguyễn Đình Thi.

  • [Soạn văn] Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

    [Soạn văn] Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

    Soạn văn lớp 12: Đất nước (Nguyễn Khoa Điềm)

    Câu 1: Đoạn Trích Đất Nước của Nguyễn Khoa Điềm có thể chia thành bao nhiêu phần?

    Phần 1(Từ đầu đến “Làm nên Đất Nước muôn đời“): đoạn này nói về vẻ đẹp của đất nước được tác giả so sánh và đánh giá trên nhiều phương diện: văn hóa, phong tục, truyền thống, địa lí, lịch sử, ….

    Phần 2 (còn lại): tác giả tập trung làm nổi bật tư tưởng của nhân dân, đất nước là của nhân dân.

    Câu 2: Cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm?

    – Cảm nhận về đất nước của Nguyễn Khoa Điềm thật đa dạng, trên nhiều bình diện, từ chiều dài lịch sử (quá khứ – hiện tại – tương lai), đến chiều rộng của không gian – địa lí và nhất là trong bề dày văn hóa – phong tục, lối sống, tâm hồn, tính cách dân tộc. Cả ba bình diện ấy đều có sự gắn bó, thống nhất với nhau.

    – Nhà thơ đã khai thác các thành tố Đất và Nước trong mối quan hệ với không gian – thời gian, với lịch sử và hiện tại. Chiều sâu của lịch sử, truyền thống, phong tục và văn hóa đất nước được gợi lên từ huyền thoại Lạc Long Quân và Âu Cơ, từ truyền thống Hùng Vương, từ những câu ca dao quen thuộc. Đất nước là không gian sinh tồn của con người (Đất là nơi anh đến trường – Nước là nơi em tắm – Đất Nước là nơi ta hò hẹn …). Nhưng sự trường tồn của Đất Nước lại chính là sự trường tồn của con người, qua con người (Nhưng ai đã khuất – Những ai bây giờ – Yêu nhau và sinh con đẻ cái – Gánh vấc phần người đi trước để lại – Dặn dò con cháu chuyện mai sau …).

    Câu 3: Tư tưởng đất nước của nhân dân trong đoạn trích?

    Đất nước là một nhân chứng đáng quý của mỗi người dân việt nam, ở phần 1 đất nước được cảm nhận qua rất nhiều những phương diện như lịch sử, văn hóa, hay chiều dài lịch sử… đất nước hiện lên với những vẻ thân thương gần gũi bởi cốt lõi đất nước mang tư tưởng nhân dân, những hình ảnh quen thuộc của đất nước như hòn trống mái, hay núi vọng phu đây là những hình ảnh của địa danh ở việt nam,đất nước Việt Nam là một đất nước giàu tình yêu thiên nhiên quê hương đất nước có nhiều danh lam thắng cảnh nổi tiếng, đất nước là nơi vô cùng thiếng liêng những nó lại rất đỗi gần gũi với con người:

    Gót ngựa của Thánh Gióng đi qua còn trăm ao đầm để lại

    Chín mươi chín con voi góp mình dựng đất Tổ Hùng Vương

    ….

    Hãy nhìn rất xa

    Vào 4.000 năm Đất Nước

    Đất nước là một vị anh hùng: một minh chứng cho những vị anh hùng đã xả thân vì nghiệp lớn, đât nước là nơi đoàn kết gắn bó của nhân dân trong lao động sản xuất, hình ảnh đất nước được hiện lên trong ca dao tục ngữ mang đậm tính dân tộc sâu sắc, đất nước từ nhân dân do nhân dân và vì nhân dân mà ra tất cả đều phục vụ cho nhân dân, tư tưởng đất nước của dân là tư tưởng cốt yếu trong bài đất nước của Nguyễn Đình Thi.

    Đất nước của Nguyễn Đình Thi đã mang đậm tính chất lịch sử những bề dày lịch sử lâu dài gắn bó từ xưa đến nay, nó mang đậm vẻ đẹp của một dân tộc giàu truyền thống.

    Câu 4: Nghệ thuật trong đoạn trích Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm

    – Đoạn thơ sử dụng nhiều chất liệu văn học và văn hóa dân gian: ca dao, tục ngữ, truyền thuyết, phong tục, lối sống, …

    – Tác giả sử dụng sáng tạo các yếu tố dân gian:

    + Có khi lấy lại từng phần của câu ca dao: “yêu em từ thủa trong nôi

    + Chủ yếu là sử dụng ý, hình ảnh ca dao, truyền thuyết để tạo lên hình tượng thơ mới, gần gũi và mới mẻ.

  • [Soạn văn] Dọn về làng (Nông Quốc Chấn)

    [Soạn văn] Dọn về làng (Nông Quốc Chấn)

    Soạn văn lớp 12: Dọn về làng (Nông Quốc Chấn)

    Câu 1: Tác phẩm miêu tả cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao-Bắc-Lạng và Tội ác của giặc Pháp như thế nào?

    – Cuộc sống gian khổ của nhân dân Cao-Bắc-Lạng được miêu tả qua các từ ngữ và hình ảnh:

    + Mấy năm: thời gian kéo dài

    + Quên tết… quên rằm …

    + Chạy hết núi khe, cay đắng …

    + Lán sụp; nát cửa; vắt bám

    + Mẹ địu em chạy; con sau lưng tay dắt bà; vai đầy tay nải…

    + Cuộc sống yên ấm bị đảo lộn, nhà cửa tan hoang, gia đình li tán, cơ cực.

    – Tội ác của giặc Pháp:

    + Lán đốt trơ trụi, súng nổ, Tây lùng.

    + Áo quần bị vơ vét.

    + Cha bị bắt, bị đánh chết.

    + Chôn cất cha; bằng khăn của mẹ; liệm bằng áo của con

    + Máu đầy tay, nước tràn đầy mặt …

    Câu 2: Niềm vui của nhân dân khi quê hương giải phóng như thế nào?

    Niềm vui của nhân dân khi quê hương được giải phóng được diễn tả độc đóa qua hình ảnh, từ ngữ: Cười vang, Xuống làng, Người nói cỏ lay, Ô tô kêu vang đường cái, Ríu rít tiếng cười con trẻ …. Mật độ động từ dày đặc diễn tả xúc cảm mừng vui, hân hoan khi quê hương đã trở lại cuộc sống thanh bình.

    Với ngôn ngữ mộc mạc, lối thơ giản dị, ý thơ chân thực, tác giả đã diễn tả niềm vui với đủ cung bậc, ở các đối tượng, vui nhất là niềm vui của nhân vật trữ tình.

    Câu 3: Màu sắc dân tộc qua cách sử dụng hình ảnh từ ngữ của nhà thơ.

    – Hình ánh so sánh: Người đông như kiến, súng đầy như củi; Người nói cỏ lay trong rừng rậm; Hổ không dám đến đẻ con trong vườn chuối; …

    – Từ ngữ: hàng đàn; quên tết tháng giêng, quên rằm tháng bảy; mày; tao …

    Cách diễn tả nỗi đau cũng như niềm vui sướng của tác giả sinh động giàu hình ảnh mà rất cụ thể thuần phác, hồn nhiên như chính tâm hồn của người dân miền núi.

  • [Soạn văn] Việt Bắc (Tố Hữu) – Về Tác Phẩm

    [Soạn văn] Việt Bắc (Tố Hữu) – Về Tác Phẩm

    Soạn văn lớp 12: Việt Bắc (Tố Hữu) – Về Tác phẩm

    Phần 2: Về Tác phẩm

    Xem thêm bài soạn Việt Bắc phần 1: Về tác giả

    I. Soạn bài

    1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ và trữ tình trong đoạn trích

    Bài thơ Việt Bắc được Tố Hữu sáng tác vào tháng 10 năm 1954, ông viết bài thơ nhân một sự kiện quân ta đã đánh tan chiến dịch Điện Biện Phủ của Pháp.các chiến sĩ rời chiến khi về thủ đô, thấy được tình cảm quyến luyến, yêu quý của nhân dân Việt Bắc dành cho chiến sĩ, Tố Hữu đã sáng tác ra bài thơ Việt Bắc này.

    Sắc thái tâm trạng của nhân vật trữ tình trong đoạn trích

    Tâm trạng, lối đối đáp của nhân vật trữ tình:

    – Tâm trạng: lưu luyến, bịn rịn giữa người đi – kẻ ở. Không khí ân tình của hồi tưởng, hoài niệm, của ước vọng và tin tưởng.

    – Lối đối đáp: kết cấu quen thuộc của ca dao, cách xưng hô mình – ta thể hiện tình cảm, sự hô ứng.

    2. Qua hồi tưởng của Tố Hữu, vẻ đẹp của cảnh và người Việt Bắc hiện lên như thế nào?

    a. Cảnh Việt Bắc mang vẻ đẹp đa dạng, đầy ấn tượng khiến người về xuôi nhớ “như nhớ người yêu”.

    – Thiên nhiên có vẻ khắc nghiệt “Mưa nguồn suối lũ những mây cùng mù” nhưng đó là vẻ riêng của núi rừng Tây Bắc. Có những khoảnh khắc gợi cảm: “Trăng lên đầu núi, nắng chiều lưng nương“; những hình ảnh khó quên: Khói bếp nhà sàn hòa cùng sương núi, cảm giác bản mường bồng bềnh, mờ ảo trong sương khói, những âm thanh gợi lên cảnh thanh bình, yên ả: tiếng mõ rừng chiều, chày đêm nện cối, …

    – Cảnh sắc thiên nhiên Việt Bắc bốn mùa tuyệt đẹp: hoa lá đủ màu sắc tươi thắm.

    – Cảnh Việt Bắc đẹp hơn trong sự hòa quyện với không khí kháng chiến: Vất vả, gian khổ, thiếu thốn, nhưng hào hùng lạc quan:

    Nhớ sao lớp học i tờ

         …

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    – Hình ảnh người dân Việt Bắc đã khắc tạc vào lòng người kháng chiến những nét khó quên. Đó là hình ảnh người mẹ “địu con lên rẫy” trong cái nắng cháy lưng, người lao động tự tin chủ động với hình ảnh “dao gài thắt lưng“; những người đan nón, cần mẫn, khéo léo “chuốt từng sợ giang“; gợi cảm nhất là hình ảnh “cô gái hái măng một mình” giữa rừng hoa vàng.

    – Đẹp nhất và đáng nhớ nhất ở người Việt Bắc là cái nghĩa, cái tình. Kháng chiến thiếu thốn “miếng cơm chấm muối” nhưng “đắng cay ngọt bùi” cùng chia sẻ, gánh vác.

    Tóm lại: Việt Bắc chính là cội nguồn của nghĩa tình, cội nguồn của chiến thắng.

    3. Khung cảnh hùng tráng của Việt Bắc trong chiến đấu và vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến được khắc họa thật sinh động mang âm hưởng của những khúc tráng ca.

    – Cả dân tộc chất chứa căm thù thực dân đế quốc:

    Miếng cơm chấm muối, mối thù nặng vai

    – Thiếu thốn gian khổ nhưng vẫn đầy lạc quan:

    Gian nan đời vẫn ca vang núi đèo

    – Không khí chuẩn bị cho các chiến dịch thật khẩn trương, sôi nổi, thể hiện sức mạnh tổng hợp của quân và dân. Chiến thắng vang dội “khắp trăm miền” khẳng định sức mạnh và bản lĩnh kiên cường quyết thắng của dân tộc.

    – Vai trò của Việt Bắc trong cách mạng và kháng chiến: Việt Bắc là quê hương cách mạng, đầu não của cuộc kháng chiến, nơi đặt niềm tin tưởng và hi vọng của con người Việt Nam từ mọi miền đất nước, đặc biệt là những nơi còn “u ám quân thù“.

    4. Nghệ thuật đậm đà tính dân tộc của bài thơ (qua trích đoạn này).

    Được thể hiện qua các mặt sau đây:

    – Thể thơ dân tộc: Thể thơ lục bát được Tố Hữu sử dụng nhuần nhuyễn, uyển chuyển và sáng tạo.

    – Hình ảnh dân tộc: Nhìn cây nhớ núi, nhìn sông nhớ nguồn; Nhớ người mẹ nắng cháy lưng…

    – Lối phô diễn dân tộc: Nguồn bao nhiêu nước, nghĩa tình bấy nhiêu; Mình về mình có nhớ ta…

    – Ngôn ngữ dân tộc: Tiêu biểu là cặp đại từ xưng hô ta – mình dùng rất sáng tạo trong bài thơ.

    – Nhịp điệu, nhạc điệu dân tộc: khi nhẹ nhàng, thơ mộng, khi đằm thắm, ân tình; khi mạnh mẽ, hùng tráng.

    II. Luyện tập

    Nét tài hoa của Tố Hữu trong việc sử dụng cặp đại từ xưng hô ta – mình ở bài thơ Việt Bắc

    Cách sử dụng cặp đại từ xưng hô mình – ta:

    – Trong đoạn trích bài thơ “Việt Bắc“, từ mình được dùng để chỉ bản thân người nói – ngôi thứ nhất, nhưng cũng còn dùng ở ngôi thứ hai. Từ ta là ngôi thứ nhất, chỉ người phát ngôn, nhưng có khi ta chỉ chúng ta.

    – Cặp đại từ này được sử dụng rất sáng tạo, biến hóa linh hoạt:

    + Có trường hợp: mình chỉ những người cán bộ, ta chỉ người Việt Bắc (Mình về mình có nhớ ta/ Mười lăm năm ấy thiết tha mặn nồng).

    + Có trường hợp: mình chỉ người Việt Bắc, ta chỉ người cán bộ (Ta về, mình có nhớ ta/ Ta về, ta nhớ những hoa cùng người).

    + Có trường hợp: mình chỉ cả người cán bộ và người Việt Bắc (như chữ mình thứ ba trong câu: Mình đi mình lại nhớ mình).

    Ý nghĩa của cách sử dụng cặp đại từ ¬mình – ta:

    – Mang lại cho bài thơ phong vị ca dao, tính dân tộc đậm đà và một giọng điệu tâm tình ngọt ngào, sâu lắng.

    – Góp phần làm cho tình cảm giữa người ra đi và người ở lại, giữa cán bộ với nhân dân Việt Bắc thêm thân mật, gần gũi, tự nhiên, gắn bó khăng khít tuy hai mà một.

  • [Soạn văn] Việt Bắc (Tố Hữu) – Về Tác Giả

    [Soạn văn] Việt Bắc (Tố Hữu) – Về Tác Giả

    Soạn văn lớp 12: Việt Bắc (Tố Hữu) – Về Tác Giả

    Phần 1: Về Tác Giả Tố Hữu

    Xem thêm bài soạn Việt Bắc phần 2: Về tác phẩm

    Câu 1: Vài nét về tiểu sử tác giả Tố Hữu

    Tố Hữu (1920-2002 ) tên khai sinh là Nguyễn Kim Thành. Quê quán ở Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên – Huế

    – Thân sinh là nho nghèo, thân mẫu là con một nhà nho, thuộc và hát dân ca rất hay. Cả hai truyền cho nhà thơ tình yêu văn học dân gian.

    – Năm 13 tuổi: Học trường Quốc học Huế, tham gia phong trào đấu tranh cách mạng.

    – 1938 ông được kết nạp Đảng.

    – Cuối tháng 4-1939 bị thực dân Pháp bắt giam.

    – Tháng 3-1942: vượt ngục ra Thanh Hoá tiếp tục hoạt động.

    – Cách mạng tháng Tám 1945: Chủ tịch Uỷ ban khởi nghĩa Huế.

    – 1947: Ra Thanh Hoá, lên Việt Bắc công tác ở cơ quan Trung ương Đảng, phụ trách văn hoá văn nghệ.

    – Trong hai cuộc kháng chiến đến năm 1986: Giữ nhiều chức vụ trọng yếu trong bộ máy của Đảng và Nhà nước.

    – Năm 1996: Được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật.

    – Năm 2002: Qua đời

    Câu 2: Đường cách mạng, đường thơ

    1. Tập thơ “Từ ấy” (1937-1946), chặng đường đầu tiên của đời thơ Tố Hữu đánh dấu bước trưởng thành của người thanh niên quyết tâm theo Đảng. Tập thơ 72 bài chia thành làm ba phần:

    + “Máu lửa” sáng tác trong thời kỳ Mặt trận Dân chủ. Cảm thông sâu sắc những người nghèo trong xã hội, khơi dậy ý chí đấu tranh.

    + “Xiềng xích” sáng tác trong nhà lao. Thể hiện tâm tư tha thiết yêu đời, yêu tự do, ý chí kiên cường, quyết tâm chiến đấu của người chiến sỹ.

    + “Giải phóng” sáng tác khi vượt ngục đến những ngày giải phóng –> Ca ngợi thắng lợi của cách mạng, độc lập tự do của Tổ quốc, tin tưởng vào chế độ mới.

    2. “Việt Bắc”(1946-1954): Ra đời trong cuộc kháng chiến chống Pháp gian khó, anh dũng của dân tộc. Gồm 27 bài

    – Tiếng ca hùng tráng thiết tha về cuộc kháng chiến chống Pháp và con người kháng chiến: 9 anh vệ quốc quân, người mẹ, chị phụ nữ, em liên lạc …

    – Thể hiện những tình cảm lớn: tình quân dân, tiền tuyến – hậu phương, miền xuôi – miền ngược, cán bộ – quần chúng, nhân dân – lãnh tụ, tình yêu thiên nhiên đất nước, tình cảm quốc tế vô sản …

    3. “Gió lộng” (1955-1961): Sáng tác trong hoàn cảnh Miền Bắc xây dựng chủ nghĩa xã hội và đấu tranh thống nhất nước nhà . Gồm 25 bài

    – Hướng về quá khứ để ghi sâu ân tình cách mạng.

    – Ngợi ca cuộc sống trên miền Bắc.

    – Tình cảm thiết tha, sâu đậm vối miền Nam ruột thịt.

    4. “Ra trận” (1962-1971), gồm 34 bài, “Máu và hoa” (1972-1977), gồm 13 bài, ra đời trong cuộc kháng chiến chống Mỹ

    – “Ra trận” bản hùmg ca về “Miền Nam trong lửa đạn sáng ngời“.

    – “Máu và hoa” ghi lại chặng đường cách mạng đầy gian khổ, hy sinh, khẳng định niềm tin, niềm tự hào phơi phới khi toàn thắng về ta.

    5. “Một tiếng đờn” (1992), “Ta với ta” (1999), sáng tác khi đất nước hàn gắn vết thương chiến tranh , xây dựng ,đổi mới .

    – Những suy tư, chiêm nghiệm mang tính phổ quát về con người, cuộc đời.

    – Niềm tin vào lý tưởng và con đường cách mạng, tin vào chữ “nhân” luôn toả sáng trong tâm hồn mỗi con người .

    Câu 3: Tố Hữu là nhà thơ cách mạng, nhà thơ của lí tưởng cộng sản

    – Thơ Tố Hữu chủ yếu khai thác cảm hứng từ đời sống chính trị của đất nước, từ hoạt động cách mạng và tình cảm chính trị của bản thân tác giả.

    – Lí tưởng cách mạng là ngọn nguồn mọi cảm hứng nghệ thuật của Tố Hữu. Lí tưởng thực tiễn cách mạng ở mỗi thời kỳ là đề tài, chủ đề sáng tác của nhà thơ.

    Ví dụ: Việt Bắc gắn liền với cuộc kháng chiến chín năm chống Pháp.

    Tố Hữu là nhà thơ cách mạng, nhà thơ của lí tưởng cộng sản. Con đường thơ bắt đầu cùng lúc với sự giác ngộ lí tưởng cộng sản, quá trình sáng tác gắn dưới sự lãnh đạo của Đảng.

    Câu 4: Nghệ thuật

    Về nghệ thuật: đậm đà tính dân tộc

    + Về thể thơ: Tố Hữu sử dụng thành công các thể thơ thuần dân tộc (thơ lục bát, thơ bảy chữ) ngôn ngữ thơ gần với lối nói quen thuộc của dân tộc, thơ giàu nhạc điệu.

    + Về ngôn ngữ: dùng những từ ngữ và cach nói quen thuộc với dân tộc, phát huy tính nhạc phong phú của tiếng Việt.

  • [Soạn văn] Tây tiến (Quang Dũng)

    [Soạn văn] Tây tiến (Quang Dũng)

    Soạn văn lớp 12: Tây tiến (Quang Dũng)

    Câu 1: Bố cục bài thơ Tây Tiến (Quang Dũng)

    Bài thơ chia làm 4 đoạn sau:

    + Đoạn 1 (14 câu thơ đầu): Nói về những cuộc hành quân vất vả của những người chiến sĩ cách mạng và khung cảnh nơi các chiến sĩ hành quân.

    + Đoạn 2 (8 câu thơ tiếp theo): đây là đoạn thơ nói về những kỉ niệm của những người chiến sĩ cách mạng.

    + Đoạn 3 (Tiếp đến khúc độc hành): đây là đoạn nói về nỗi nhớ đồng đội da diết của tác giả đối với những người chiến sĩ đồng đội của mình.

    + Đoạn 4: Còn lại là lời thề gắn bó với Tây tiến.

    – Mạch cảm xúc của bài thơ: mở đầu là nỗi nhớ, tiếp theo là những kỉ niệm của nhà thơ về Tây Tiến và kết thúc là lời khẳng định sẽ mãi gắn bó lòng mình với Tây Tiến.

    Câu 2: Nét đặc sắc của bức tranh thiên nhiên và hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên trong đoạn thơ như thế nào?

    Hình ảnh thiên nhiên hùng vĩ, dữ dội là biểu tượng của chặng đường hành quân đầy gian khổ: các địa danh hành quân được nhắc đến như Sài Khao, Mường Lát. Đoàn quân Tây Tiến phải đi từ rất sớm khi trời vẫn còn sương và về khi đêm đã buông kín lối. Con đường gập ghềnh, hiểm trở, cuộc hành quân gian khổ của người lính vẫn tiếp tục. Bức tranh thiên nhiên Tây Bắc hiện lên hùng vĩ và thơ mộng. Bốn câu thơ mà trong đó đa số là vần trắc kết hợp với các từ láy như “khúc khuỷu“, “thăm thẳm” tạo nên sự trắc trở gian khó của thiên nhiên mà hàng ngày người lính phải đi qua.

    Giữa những hiểm trở ấy, hình tượng hành quân của đoàn quân Tây Tiến càng trở nên hào hùng. Hình ảnh bi tráng của người lính Tây Tiến trên chiến trường, nhà thơ sử dụng biện pháp nói giảm nói tránh để giảm đi sự mất mát của đồng đội. Không những thế nó còn thể hiện ý chí của người lính Tây Tiến coi cái chết nhẹ tựa một giấc ngủ, mỏi rồi không muốn đi nữa mà “gục lên mũ súng“. Mặc dù bom đạn nổ lửa nhưng tinh thần chiến đấu của các chiến sĩ không hề suy giảm.

    Tác giả đã thể hiện nó mang một nỗi mất mát lớn lao, số lượng những người chiến sĩ nằm lại nơi chiến trường rất nhiều. Nó cướp đi tuổi thanh xuân cũng như gia đình của những người chiến sĩ một lòng phục vụ cho đất nước.

    Câu 3: Bức tranh thiên nhiên ở đoạn 2 trong bài Tây Tiến (Quang Dũng)

    Bức tranh thiên nhiên và con người ở đây lại mang những vẻ đẹp mới khác với bức tranh trên, nhưng lại bổ sung cho bức tranh Tây Tiến thêm hoàn mĩ với những sắc màu đầy ấn tượng, khó quên. Đó là bức tranh mĩ lệ, duyên dáng và đặc biệt là rất thanh bình ngỡ như không còn tiếng súng, không còn chiến tranh, chết chóc của những nơi các anh đã đi qua in rõ tâm hồn người lính Tây Tiến lãng mạn, hào hoa, yêu đời. Có vẻ đẹp rực rỡ, mĩ lệ mang màu sắc của xứ lạ, phương xa trong một đêm liên hoan quân dân nơi biên giới Lào – Việt; có vẻ đẹp thơ mộng, huyền ảo của “thi trung hữu họa” trên sông nước Châu Mộc như một bức tranh thủy mặc phương Đông. Có thể xem đây là những nét bút rất tài hoa của Quang Dũng biểu hiện một hồn thơ lãng mạn, hào hoa, tinh tế:

    Doanh trại bừng lên hội đuốc hoa

    Kìa em xiêm áo tự bao giờ

    Khèn lèn man điệu nàng e ấp

    Nhạc về Viên Chăn xẩy hồn thơ

    Chiến tranh không còn nữa, ở đây chỉ có đuốc hoa, xiêm áo rực rỡ và tiếng khèn, điệu nhạc, hồn thơ quấn quýt với tình người, tình quân dân kháng chiến và tình nghĩa Việt – Lào gắn bó thủy chung. Cái đẹp ở đây là của xứ lạ phương xa, có nét man dại nên càng thêm đậm đà, hấp dẫn.

    Vẻ đẹp của bốn câu sau là vẻ đẹp của một bức tranh có gam màu nhạt với những đường nét uyển chuyển, những hình ảnh chấm phá mà đầy sức khơi gợi:

    Người đi Mộc Châu chiều sương ấy

    Có thấy hồn lau nẻo bến bờ

    Có nhớ dáng người trên độc mộc

    Trôi dòng nước lũ hoa đong đưa

    Một cảnh sông nước huyền ảo, lung linh, đầy chất thơ của Tây Bắc nổi bật lên hình ảnh cô gái Thái chèo thuyền độc mộc uyển chuyển với bông hoa “đong đưa” như làm duyên trên dòng nước lũ.

    Trong một bài thơ viết về một chiến trường ác liệt nhất, về những người lính phi thường, một thời đánh giặc anh hùng rực lửa mà có cả một đoạn thơ tám câu mĩ lệ, thanh bình, êm ả như vậy – thì đó chính là niềm lạc quan, yêu đời, tâm hồn lãng mạn, hào hoa, và trên hết, đó chính là bản lĩnh của nhà thơ – chiến sĩ Quang Dũng.

    Câu 4: Hình ảnh người lính Tây Tiến hiện lên ở đoạn thơ thứ ba như thế nào?

    Bằng ngôn từ linh hoạt, tác giả cho người đọc thấy được hiện thực trần trụi về hình ảnh người lính:

    – “không mọc tóc“: có thể hiểu là sốt rét làm cho các chiến sĩ rụng hết tóc, cũng có thể hiểu là cắt tóc đi để tiện những trận đánh giáp lá cà.

    – “xanh màu lá“: có thể hiểu là quân thiếu thốn nên da xanh xao, hoặc người lính phải dùng lá cây để ngụy trang tránh kẻ địch phát hiện.

    – “dữ oai hùm“: Tuy “xanh màu lá” nhưng có sức khỏe như hổ báo.

    – “dáng kiều thơm“: đây là hình ảnh những người con gái Hà Thành xinh đẹo. Ngày chiến đấu ngoan cường, tối về, người chiến sĩ vẫn một lòng hướng về hậu phương.

    Câu 5: Nỗi nhớ Tây Tiến (đoạn 4)

    Sông Mã xa rồi. Tây Tiến xa rồi. Ngồi ở Phù Lưu Chanh, Quang Dũng nhớ về chiến trường xưa và những người đồng đội cũ một thời chiến đấu vô cùng gian khổ mà rực lửa anh hùng. Giữa nhà thơ và những ngày Tây Tiến có cả một khoảng cách thời gian và không gian thăm thẳm (Đường lên thăm thẳm một chia phôi). Nhưng hồn người Tây Tiến thì vẫn gắn với “Tây Tiến mùa xuân ấy“: “Hồn về Sầm Nứa chẳng về xuôi“, có nghĩa là gắn với những ngày tháng đẹp nhất của đoàn quân Tây Tiến, một đoàn quân đã đi vào lịch sử của dân tộc như một chứng tích không thể nào quên.

    Phần Luyện tập

    Câu 1: Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ

    Bút pháp của Quang Dũng trong bài thơ là bút pháp lãng mạn (khác với Chính Hữu dùng bút pháp tả thực trong bài Đồng chí). Bút pháp lãng mạn là vượt lên trên thực tại (thường là khắc nghiệt) để vươn tới cái đẹp của lý tưởng, tìm cảm giác ở những nơi xứ lạ, phương xa hoặc thiên nhiên hùng vĩ, mĩ lệ, thơ mộng. Nhà thơ thường dùng các thủ pháp phóng đại, cường điệu, đối lập để tô đậm cái phi thường, gây ấn tượng mạnh về cái hùng vĩ, dữ dội và cái thơ mộng, tuyệt mĩ. Có thể so sánh với bút pháp tả thực trong bài Đồng chí của Chính Hữu như sau:

    ĐỒNG CHÍ TÂY TIẾN
    – Áo anh rách vai – Áo bào thay chiếu anh về đất
    – Anh với tôi biết từng cơn ớn lạnh – Tây tiến đoàn binh không mọc tóc
    – Sốt run người vầng trán ướt mồ hôi – Quân xanh màu lá dữ oai hùm
    – Đêm rét chung chăn, thành đôi tri kỉ – Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm

    Với bút pháp lãng mạn, Quang Dũng mới phát huy được sở trường, hồn thơ của mình để đạt được thành công trong Tây Tiến, để lại cho đời một bài thơ bay bổng, say người, tràn đầy cảm hứng lãng mạn về hình ảnh một người lính đẹp và một chiến trường lịch sử hồi đầu cuộc kháng chiến chống Pháp của dân tộc.

    Câu 2: Chân dung người lính Tây Tiến

    * Vẻ đẹp lãng mạn của người lính Tây Tiến:

    – Qua ngòi bút của Quang Dũng, những người lính Tây Tiến hiện ra đầy oai phong và dữ dội khác thường. Thực tế gian khổ thiếu thốn đã làm cho người lính da dẻ xanh xao, sốt rét làm họ trụi cả tóc. Song, cái nhìn lãng mạn của ông đã thấy họ ốm mà không yếu, đã nhìn thấy bên trong cái hình hài tiều tụy của họ chứa đựng một sức mạnh phi thường.

    * Chất bi tráng của hình tượng người lính Tây Tiến :

    – Khi viết về những người lính Tây Tiến, Quang Dũng đã nói tới cái chết, sự hi sinh nhưng không gây cảm giác bi lụy, tang thương. Chính vì vậy mà hình ảnh những nấm mồ chiến sĩ rải rác nơi rừng hoang biên giới xa xôi đã bị mờ đi trước lí tưởng quên mình vì Tổ quốc của người lính Tây Tiến. Cái sự thật bi thảm những người lính Tây Tiến gục ngã bên đường không có đến cả mảnh chiếu che thân, qua cái nhìn của nhà thơ, lại được bọc trong những tấm ào bào sang trọng. Và rồi, cái bi thương ấy bị át hẳn đi trong tiếng gầm thét dữ dội của dòng sông Mã:

    Áo bào thay chiếu anh về đất

    Sông Mã gầm lên khúc độc hành

    – Cái chết, sự hi sinh của những người lính Tây Tiến được nhà thơ miêu tả thật trang trọng. Cái chết ấy đã tạo được sự cảm thương sâu sắc ở thiên nhiên. Và dòng sông Mã đã trân trọng đưa tiễn linh hồn người lính bằng cách tấu lên khúc nhạc trầm hùng.

    – Tóm lại, hình ảnh những người lính Tây Tiến trong đoạn thơ này thấm đẫm tính chất bi tráng, chói ngời vẻ đẹp lí tưởng, mang dáng vẻ của những anh hùng kiểu chinh phu thuở xưa một đi không trở lại.

    – Tây Tiến là sự kết tinh những sắc thái vừa độc đáo vừa đa dạng của ngòi bút Quang Dũng. Nhà thơ đã sáng tạo được hình tượng tập thể những người lính Tây Tiến, miêu tả được vẻ đẹp tinh thần của những con người tiêu biểu cho một thời kì lịch sử một đi không trở lại.

    – Thơ ca kháng chiến chống Pháp đã miêu tả thành công hình ảnh người lính. Và Quang Dũng, qua bài thơ Tây Tiến nổi tiếng của mình, đã góp vào viện bảo tàng hình ảnh những người lính đó bức chân dung người lính Tây Tiến rất độc đáo của mình.

  • [Soạn văn] Phong cách ngôn ngữ khoa học

    [Soạn văn] Phong cách ngôn ngữ khoa học

    Soạn văn lớp 12: Phong cách ngôn ngữ khoa học

    I. Văn bản khoa học và ngôn ngữ khoa học

    1. Văn bản khoa học

    Các văn bản khoa học có thể phân chia thành ba loại:

    a. Các văn bản chuyên sâu: bao gồm chuyên khảo, luận án, luận văn, tiểu luận, báo cáo khoa học, dự án… Những văn bản này đòi hỏi phải chính xác về thông tin, logic trong lập luận, chặt chẽ nghiêm ngặt trong kiến giải.

    b. Các văn bản văn bản dùng để giảng dạy các môn khoa học, bao gồm: giáo trình, giáo án… giảng dạy các môn khoa học tự nhiên và khoa học xã hội nhân văn. Những văn bản này ngoài yêu cầu về khoa học còn có yêu cầu về sư phạm, tức là phải trình bày nội dung dễ đến khó, từ thấp đến cao, phù hợp với trình độ học sinh theo từng cấp, từng lớp, cố định lượng kiến thức từng tiết, từng bài

    c. Các văn bản phố biến khoa học (khoa học đại chúng), bao gồm: sách phổ biến khoa học, các bài báo, bút kí khoa học, phê bình, điểm sách, nhằm phổ biến rộng rãi kiến thức khoa học đến đông đảo bạn đọc. Loại văn bản này yêu cầu viết cho dễ hiểu, hấp dẫn.

    2. Ngôn ngữ khoa học

    – Khái niệm : Ngôn ngữ khoa học là ngôn ngữ được dùng trong giao tiếp thuộc lĩnh vực khoa học, tiêu biểu là trong văn bản khoa học.

    – Ở dạng viết: ngoài sử dụng từ ngữ, còn dùng các kí hiệu, các công thức hay sơ đồ, bảng biểu…

    – Ở dạng nói ngôn ngữ khoa học yêu cầu ở mức độ cao về phát âm chuẩn, diễn đạt mạch lạc và phải có đề cương viết trước.

    II. Đặc trưng của phong cách ngôn ngữ khoa học

    Ngôn ngữ trong văn bản khoa học mang các đặc trưng cơ bản: tính khái quát, tính trừu tượng, tính lí trí, tính logic, tính khách quan, phi cá thể. Điều đó được thể hiện qua cách sử dụng từ ngữ, cú pháp, cách trình bày, lập luận, …

    III. Luyện tập

    Câu 1: Bài Khái quát văn học Việt Nam từ Cách mạng thán Tám 1945 đến hết thế kỉ XX là một văn bản khoa học:

    a. Văn bản đó trình bày nội dung khoa học về lịch sử văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỉ XX, cụ thể là:

    – Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 đến hết 1975:

    + Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa.

    + Các chặng đường văn học và những thành tựu chính.

    + Những đặc điểm cơ bản

    – Khái quát văn học Việt Nam từ 1945 đến hết thế kỉ XX:

    + Hoàn cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa.

    – Những chuyển biến và một số thành tựu.

    b. Văn học đó thuộc ngành khoa học xã hội.

    c. Văn bản này được viết bằng ngôn ngữ khoa học

    – Hệ thống đề mục được sắp xếp từ lớn đến nhỏ, từ khái quát đến cụ thể.

    – Sử dụng nhiều thuật ngữ khoa học xã hội, đặc biệt là thuật ngữ văn học (Ví dụ: Đường lối văn nghệ, truyện ngắn, kí, thơ, đề tài, chủ đề, khuynh hướng sử thi, xu hướng văn học, cảm hứng lãng mạn, tính nhân bản, nhân văn, …)

    – Kết cấu văn bản rõ ràng, chặt chẽ do các câu, các đoạn được sắp xếp theo trật tự mạch lạc, làm nổi bật lập luận trong từng đoạn, cả bài.

    Câu 2:

    – Đoạn thẳng:

    + Ngôn ngữ thông thường: Đoạn không cong queo, gãy khúc, không lệch về một bên nào cả.

    + Ngôn ngữ khoa học: Đoạn ngắn nhất nối hai điểm với nhau.

    – Mặt phẳng:

    + Ngôn ngữ thông thường: Bề mặt của một vật bằng phẳng, không lồi, lõm, gồ ghề.

    + Ngôn ngữ khoa học: là một khái niệm cơ bản trong toán học, là một tập hợp tất cả các điểm trong không gian ba chiều.

    – Góc:

    + Ngôn ngữ thông thường: Có thể là một phần, một phía (Ăn hết một góc; “Triều đình riêng một góc trời/ Gồm hai văn võ rạch đôi sơn hà”)

    + Ngôn ngữ khoa học: Phần mặt phẳng giới hạn bởi hai nửa đường thẳng cùng xuất phát từ một điểm

    Tương tự các từ còn lại như điểm, đường thẳng, đường tròn, góc vuông, … các bạn có thể tự giải thích và phân biệt.

    Câu 3:

    – Đoạn văn dùng nhiều thuật ngữ khoa học: khảo cổ, hạch đá, mảnh tước, di chỉ xương, …

    – Câu văn mang tính phán đoán logic: Những phát hiện của nhà khảo cổ … của người vượn. (câu 1)

    – Các câu liên kết chặt chẽ và mạch lạc:

    + Câu 1: Nêu luận điểm (một phán đoán)

    + Câu 2 + 3 + 4: Nêu 3 luận cứ, mỗi luận cứ là một chứng tích trong khảo cổ.

    –> Làm cho luận điểm có sức thuyết phục cao.

  • [Soạn văn] Đô-xtôi-ép-xki (X.Xvai-Gơ)

    [Soạn văn] Đô-xtôi-ép-xki (X.Xvai-Gơ)

    Soạn văn lớp 12: Đô-xtôi-ép-xki (X.Xvai-Gơ)

    Câu 1: Những nét đặc biệt về tính cách và số phận của nhân vật : đó là một người phải chịu nhiều nỗi khổ nhưng giàu nghị lực

    – Số phận :

    + Chịu nhiều nỗi khổ về vật chất và tình thần

    + Có hai thời điểm đối lập trong cuộc sống của ông: thời điểm thứ nhất là thời điểm của sự tuyệt vọng lớn nhất (sống lưu vong, phải cầm cố, quỳ gối trước bao nhiêu kẻ thấp hèn, tiền nợ, …) và thời điểm trở về tổ quốc –> một giây hạnh phúc tuyệt đỉnh.

    – Tính cách :

    + Giàu nghị lực : số phận vùi dập thiên tài nhưng ông vẫn không ngừng làm việc. Dù ở thời điểm sống lưu vong, tuyệt vọng nhất, ông vẫn không ngừng làm việc và nhớ về nước Nga.

    + Là con người luôn sáng bừng nghị lực và niềm đam mê nghệ thuật, lòng yêu thương con người.

    Câu 2: Hiệu quả cấu trúc tương phản trong Đô-xtôi-ép-xki (X.Xvai-Gơ)

    + Thể hiện sự đối lập giữa một bên là đời sống vật chất và tinh thần khốn khó, khổ ải với một bên là sự vĩ đại vì những đóng góp to lớn của ông cho đất nước và sự tôn sùng của nhân dân.

    –> Nổi bật cả hai đặc điểm trong cuộc đời ông: người bị hành khổ và người đạt đến đỉnh vinh quang.

    Câu 3: Biện pháp so sánh ẩn dụ Đô-xtôi-ép-xki (X.Xvai-Gơ)

    + “Tác phẩm … là rượu ngọt“, “đếm các ngày như trước đây đếm cái cọc của trại giam“, “trở về như một kẻ hành khất“, “lời như sấm sét

    – Ẩn dụ: “quả đã được cứu thoát, vỏ khô rụng xuống“, “thành phố ngàn tháp chuông“.

    –> Hình ảnh ẩn dụ, so sánh thuộc lĩnh vực tôn giáo. Mục đích muốn nâng lên thành hình ảnh vị thánh, một con người siêu phàm.

    Câu 4: Tác dụng khi gắn nhân vật với bối cảnh thời sự chính trị và văn chương:

    + Một nhà văn vĩ đại không thể tồn tại riêng lẻ mà phải đặt trong quan hệ gắn bó với bối cảnh của dân tộc, đất nước.

    –> Đặt cuộc đời nhân vật với bối cảnh chính trị văn chương –> khẳng định sự vĩ đại của nhà văn không những đối với lịch sử văn học mà còn cả lịch sử xã hội đất nước.