Category: Tài Liệu Lớp 11

  • 5 bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    5 bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    5 bài văn mẫu Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

    Bài văn mẫu 1

    Nhận xét về văn Thạch Lam, Nguyễn Tuân đã nhận định: “Xúc cảm của nhà văn Thạch Lam thường bắt nguồn từ những chân cảm đối với con người ở tầng lớp dân nghèo. Thạch Lam là nhà văn luôn quý mến cuộc sống, trân trọng sự sống của mọi người xung quanh”. Mạch cảm xúc của Thạch Lam thường bắt nguồn từ con người bình dị, cuộc sống bình dị. Ông tinh tế nắm bắt những rung cảm, những xúc cảm trong tâm hồn họ. Nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ đã thể hiện rõ biệt tài này của ông, đồng thời qua nhân vật còn thấy được tấm lòng trân trọng của nhà văn đối với con người.

    Hai đứa trẻ là câu chuyện mà dường như lại chẳng phải truyện của ông. Tác phẩm lấy lát cắt của một buổi chiều tà như bao buổi chiều ta khác nơi phố huyện nghèo nàn, tù túng. Chân dung từ con người, từng số phận đều được chiếc máy quay của Thạch Lam nắm bắt. Nổi bật trong bức tranh đó là Liên, cô gái độ mười bốn, mười lăm tuổi với tâm hồn nhạy cảm, tinh tế trước thiên nhiên, trước cuộc sống, đằng sau đó còn bừng lên những khát vọng, những mơ ước đẹp đẽ của nhân vật.

    Trong khung cảnh buổi chiều tà, là một cô gái nhạy cảm Liên đã nhanh chóng năm bắt những khoảnh khắc, những chuyển động nhỏ bé nhất của thiên nhiên. Đó là tiếng trông thu không điểm vang từng nhịp báo hiệu chiều về, đó là phương Tây đỏ rực như lửa cháy với những đám mây như ngọn lửa sắp tàn, hay những âm thanh rất đỗi đồng quê là tiếng ếch nhái vẳng từ xa đưa vào. Cô gái nhỏ nắm bắt chọn vẹn từng khoảnh khắc, từng chuyển động, và “đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị” “thấy lòng buồn man mác trước cái thời khắc của ngày tàn”. Không chỉ vậy, Liên còn cảm nhận được mùi vị riêng biệt của quê hương, của phiên chợ ngày tàn: “một mùi ẩm ẩm bốc lên trộn lẫn với mùi cát bụ quen thuộc quá” mùi của quê hương thấm vào tâm hồn Liên, nó trở nên tha thiết sâu nặng trong lòng mỗi người. Trong khoảnh khắc chiều tà, ta không chỉ thấy sự tinh tế nhạy cảm của Liên trước biến chuyển của thiên nhiên mà còn thấy được tấm lòng nhân hậu, giàu lòng thương người của chị. Thấy những đứa trẻ lao động nghèo đang cố nhặt nhạnh những thứ còn sót lại sau buổi chợ, chị cảm thấ thương chúng nhưng bản thân mình lại không có tiền để cho. Thấy chị Tí xuất hiện, Liên ân cần hỏi han, lời kể về gia cảnh của chị Tí trong đó chứa dựng cả tình yêu, sự xót thương và ái ngại cho hoàn cảnh của chị. Từ xa nghe tiếng cười khanh khách của cụ Thi điên, Liên lẳng lặng rót một chén rượu đưa cho cụ và đứng sững nhìn theo cho đến khi cụ đi khuất hẳn. Đối với mỗi người Liên có những nỗi niềm và cảm xúc riêng, chị cảm thông cho bất hạnh của người này, ái ngại cho hoàn cảnh của người khác, bởi Liên thấu hiếu hoàn cảnh của họ, thấu hiểu nỗi cơ cực, sự cô đơn mà họ phải trải qua.

    Khi bóng tối đã bao trùm hết cảnh vật, Liên thích thú ngắm nhìn cuộc sống xung quanh, chị đưa mắt hướng lên để cảm nhận vẻ đẹp của bầu trời đêm: “Vòm trời hàng ngàn ngôi sao lấp lánh, lẫn với các vệt sáng của những con đom đóm bay là là trên mặt đất len vào những cành cây” và tưởng tượng ra dòng sông ngân hà với hai con vịt đi theo chân ông thần nông.

    Thế giới truyện cổ tích với kỉ niệm tuổi thơ lại ùa về trong Liên, đó là những năm tháng còn sung túc, Liên được hưởng cuộc sống êm đềm hạnh phúc. Rồi Liên nhanh chóng cúi nhìn về mặt đất, để tìm thấy những luồng sáng khác xung quanh mình: đó là quầng sáng trên chõng hàng chị Tí, xa xa phía huyện là chấm lửa nhỏ và vang lơ lửng,… Trong bóng tối ngập đầy nhưng vẫn le lói đâu đây hình ảnh của ánh sáng và Liên là người cố công tìm ra chúng. Đó chỉ là những đốm sáng, vệt sáng tuy nhỏ bé, nhưng lại có ý nghĩa đặc biệt khơi dậy trong Liên những mơ ước, niềm tin vào tương lai. Cái tinh tế trong tâm hồn Liên còn thể hiện trong cảm nhận về những bông hoa bàng nhỏ bé, mỏng manh khẽ khàng rơi trên vai. Phải là người có tâm hồn vô cùng tinh tế mới có thể cảm nhận đầy đủ những chuyển động nhẹ nhàng đó của thiên nhiên, vạn vật. Cảnh vật dưới con mắt cảm nhận của Liên tuy buồn nhưng thân quen, gần gũi, lặng lẽ quan sát những gì xảy ra ở phố huyện, Liên cảm thương, xót xa và chia sẻ với những kiếp người sống trong bóng tối cơ cực, bế tắc.

    Nỗi buồn cùng bóng tối đã ngập đầy trong Liên, nhưng tâm hồn của chị vẫn luôn khắc khoải một mơ ước, một hi vọng đổi đời. Cô đi tìm nguồn sáng xua tan đi bóng tối: khe sáng, hột sáng, quầng sáng… Nhưng những nguồn sáng ấy dù phong phú nhưng nhỏ bé, mong manh, yếu ớt, không đủ để xua đi bóng đêm. Liên hoài niệm về quá khứ, để thấy một Hà Nội rực rỡ ánh đèn, nhưng đó chỉ là ánh sáng của hoài niệm. Cô tìm đến nguồn ánh sáng thứ ba chính là ánh sáng của đoàn tàu. Liên cố đợi đoàn tàu, bởi đây chính là khoảnh khắc cô vui sướng và náo nức nhất trong ngày. Đoàn tàu đi qua đã mang đến một thế giới khác, thế giới của ánh sáng, của âm thanh náo nức, ồn ã, … đối lập với nhịp sống nhàm chán, buồn tẻ ở phố huyện. Chuyến tàu này từ Hà Nội về còn mang theo biết bao kí ức tuổi thơ đẹp đẽ, êm đềm. Hơn thế nữa, sự xuất hiện của đoàn tàu còn giúp Liên thấy rõ sự ngưng đọng, tù túng của cuộc sống nghèo nàn, phủ đầy bóng tối nơi phố huyện.

    Khắc họa tâm trạng nhân vật Liên, Thạch Lam đã cho người đọc thấy hiện thực cuộc sống nông thôn Việt Nam trước cách mạng tháng tám, từ đó cảm thương số phận và nâng niu, trân trọng những ước mơ của họ. Đồng thời, cũng gióng lên hồi chuông báo động về nguy cơ chết mòn trong cuộc sống đói khổ, tù túng của những kiếp người nhỏ bé. Qua đây thể hiện giá trị nhân đạo sâu sắc của ông.

    Nhân vật được khắc họa qua nghệ thuật miêu tả tâm lí nhân vật đặc sắc. Ngôn ngữ giàu chất trữ tình, giàu hình ảnh biểu tượng. Giọng điệu thủ thỉ, tâm tình, thấm đượm chất thơ. Cốt truyện đơn giản, đi sâu vào mạch cảm xúc, diễn biến tâm trạng của nhân vật.
    Bằng bút pháp miêu tả tâm lí nhân vật tinh tế, đã cho ta thấy một nhân vật Liên tinh tế, nhạy cảm và giàu lòng trắc ẩn với cuộc sống xung quanh. Không chỉ vậy trong cô còn khơi dậy những mơ ước, hi vọng vào một cuộc sống mới tốt đẹp hơn. Tấm lòng của Liên cũng chính là tám lòng của tác giả trân trọng, nâng niu những kiếp người nghèo khổ nhưng có lòng hướng đến tương lai.

    Bài văn mẫu 2

    Văn học trung đại Việt Nam khép lại ở cuối thế kỉ XIX nhường lối cho văn học hiện đại phát triển. Thời kì này thể loại văn xuôi thành công nhất được kết tinh ở tiểu thuyết và truyện ngắn. Nhắc đến truyện ngắn ta phải nhắc đến Thạch Lam_ “Cây bút có biệt tài về truyện ngắn”. Đặc trưng truyện ngắn của Thạch Lam là truyện không có chuyện song vẫn có sức lôi cuốn riêng, con người hiện thực dưới cái nhìn và ngòi bút của ông “không dữ dội như Chí Phèo, Lão Hạc của Nam Cao hay bị đày đọa như chị Dậu của Ngô Tất Tố” nhưng vẫn để lại cho người đọc ấn tượng sâu sắc. Và nhân vật Liên trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là con người như thế. Một con người có một tâm hồn tinh tế và nhạy cảm được nhà văn quan sát và thể hiện qua diễn biến tâm trạng của cô từ lúc chiều tối cho đến đêm khuya với hai trạng thái cơ bản là nỗi buồn triền miên và niềm vui thoáng chốc khi đoàn tàu đến.

    Liên và An hai nhân vật chính của câu chuyện đã một thời từng sống ở Hà Nội với biết bao điều vui tươi, mới mẻ kể từ khi cha cô bị mất việc cả nhà lâm vào hoàn cảnh khó khăn phải chuyển về quê_ nơi phố huyện nghèo để sinh sống. Hai chị em được mẹ giao cho việc trông nom cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu có dán giấy nhật trình. Hàng bán là mấy thứ vặt vạnh như: bánh xà phòng, bao diêm hay gói thuốc … để mong kiếm ít thu nhập phụ giúp gia đình nhưng chẳng đáng là bao.

    Liên là một cô gái mới lớn luôn mang trong mình một tâm hồn nhạy cảm trước cảnh vật xung quanh và những con người nghèo khó. Trong truyện tác giả đi sâu vào khai thác thế giới nội tâm nhân vật, được thể hiện rõ nét qua diễn biến tâm trạng của cô ở tại mỗi thời điểm.

    Trước tiên là nỗi buồn. Cô buồn khi nào? Ngay từ khi vào truyện tác giả đã gợi nhắc nỗi buồn của cô gái có tâm hồn tinh tế qua việc tả cảnh chiều tà. Cô buồn khi một ngày sắp qua đi được báo hiệu bằng tiếng trống thu không vang vọng rời rạc từng tiếng một. Buồn khi nghe tiếng muỗi vo ve, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào. Buồn khi bóng tối lan dần bởi “dãy tre làng trước mặt đen lại” trên bầu trời là ánh hoàng hôn rực rỡ ở phía Tây như lửa cháy và đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn điểm thời khắc của màn đêm buông xuống có mùi của ẩm mốc và hơi nóng ban ngày bốc lên hòa quện vào nhau tạo thành mùi của cát bụi, mùi của quê hương. Không chỉ vậy cô buồn khi phải chứng kiến những mảnh đời nghèo khó sống đơn điệu xung quanh mình. Đó là mẹ con chị Tí với công việc của ban ngày là mò cua bắt tép, tối thì trông chờ vào gánh nước chè. Đó là những đứa trẻ con nhà nghèo “lom khom” nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ thứ gì còn dùng được của người bán hàng bỏ lại. Rồi cả bà cụ Thi “một bà già hơi điên” hay ra chỗ Liên mua rượu đi ra từ bóng tối và cũng trở về với bóng tối trong tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng. Tất cả những cảnh vật ấy, con người ấy đều gợi lên cảm giác về sự tàn lụi, khơi sâu vào nỗi buồn thăm thẳm khiến cho Liên ngồi yên lặng để quan sát “đôi mắt chị bóng tối gập dần dần và cái buồn của buổi chiều quê thâm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị. Liên không hiểu sao nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”. Nỗi buồn man mác ấy thật khó diễn tả thành lời. Liên cảm nhận nỗi buồn xa xăm, sâu sắc đang lan tỏa khắp không gian cho thấy một tâm hồn nhạy cảm, ánh lên vẻ đẹp tình yêu quê hương đất nước và tình thương của tác giả dành cho những người nông dân nghèo khổ.

    Nỗi buồn của Liên không chỉ dừng lại ở đó mà còn nhân lên gấp bội lần khi bóng đen bao phủ không gian trong đêm tối “Tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”. Trên trời hàng ngàn ngôi sao lấp lánh. Dưới mặt đất, những con đom đóm bay là là. Không gian vắng lặng, bình yên đến tĩnh mịch, u buồn bởi “Các nhà đều đóng cửa im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức chỉ hé ra một khe sáng”. Liên thu vào trong tầm mắt của mình tất cả cảnh vật nơi đây để rồi cô nhận ra những đốm sáng leo lét, yếu ớt không những không làm cho bầu trời thêm sáng mà càng trở nên tăm tối hơn cũng giống như những kiếp người sống lay lắt của cư dân nơi phố huyện. Là ánh sáng leo lét của bác phở Siêu, ngọn đèn vặn nhỏ thưa thớt từng hột sáng của chị em Liên, và “tất cả phố xá trong huyện đều thu nhỏ lại nơi hàng nước của chị Tí”. Những con người ấy cứ lặp đi lặp lại một cuộc sống đơn điệu, nhàm chán ngày qua ngày để cầm cự, chống chọi với thời gian. Đúng như Huy Cận đã từng viết: “Quẩn quanh mãi cũng vài ba dáng điệu/ Tới hay lui vẫn chừng ấy mặt người”. Vẫn là mẹ con chị Tí ngồi dưới gốc bàng với bát nước chè xanh, vẫn là chị em Liên hay những đứa trẻ con nhà nghèo không được hưởng tuổi thơ trọn vẹn, vẫn là gia đình bác Siêu trông chờ vào gánh phở ế ẩm gánh đi rồi lại gánh về như “một chấm lửa nhỏ và vàng lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi rồi lại hiện ra” bởi món hàng của bác cũng là một thứ quà xa xỉ của những người dân cơ cực. Vẫn là gia đình bác xẩm một mảnh đời vất vả với manh chiếu rách, cái thau trắng trước mặt để chờ đợi những giọt hạnh phúc hi hữu rơi xuống. Những kiếp người lay lắt, tội nghiệp với cuộc sống tẻ nhạt không tương lai, không lối thoát. Liên ngậm ngùi cảm thương cho số phận của họ, cô cũng thương cho chính mình phải chịu cảnh buồn tẻ.

    Tuy nhiên cuộc sống không chỉ toàn là nỗi buồn mà còn có những niềm vui ánh lên ước mơ, cho ta hy vọng ở một ngày mai tươi sáng. Tâm trạng của Liên được thay đổi trở nên tươi mới hơn khi đoàn tàu đến. Đoàn tàu mang một thế giới khác, một trạng thái cảm xúc khác cho chị em Liên và những cư dân phố huyện. Liên và An đợi tàu trong tâm trạng háo hức, chờ đợi mòn mỏi đêm nào cũng để ngắm nhìn đoàn tàu đi qua rồi mới ngủ. Thằng bé An dù đã buồn ngủ ríu mắt vẫn nhắc “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé”. Trong lòng chúng luôn mong chờ một điều gì đó chứ không phải là mong bán được hàng như lời mẹ dặn. Cũng như lũ trẻ người dân phố huyện cũng mong muốn được nhìn thấy đoàn tàu bởi nó mang một thế giới khác hẳn với ánh sáng của ngọn đèn chị Tí, ngọn lửa bác Siêu hay hột sáng thưa thớt của đèn chị em Liên. Những ánh sáng ấy rực rỡ, kiêu xa xua đi màn đêm tăm tối. Có làn khói bừng trắng lên đằng xa, các toa đèn sáng trưng, đồng và kền lấp lánh và các cửa kính sáng, rồi những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt. Thứ ánh sáng ấy khiến cả phố huyện sáng rực, cả vũ trụ như được hồi sinh sống lại bởi những âm thanh nhộn nhịp tiếng còi từ xa vọng lại, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tiếng tàu rầm rộ đi tới, tiếng hành khách nói chuyện… làm tan đi cái không khí ảm đạm, vắng vẻ của phố huyện. Liên cũng như bao người dân vui mừng và hạnh phúc, hi vọng cũng đưa cô mơ về một Hà Nội xa xăm, hồi tưởng lại quá khứ tươi đẹp khi gia đình cô còn dư giả ở thị thành nhộn nhịp. Chuyến tàu như một giấc mơ, một vệt sao băng sáng lóe trên bầu trời tăm tối và lặng im nơi cô đang sống. Chuyến tàu cho cô và những con người nơi đây một ước mơ, một niềm vui, một khát vọng ở tương lai tốt đẹp hơn.

    Chi tiết đó đã thể hiện cho tuyên ngôn của Thạch Lam về văn chương mà ông đã từng phát biểu: “Đối với tôi, văn chương không phải một cách đem đến cho người đọc sự thoát ly hay sự quên, trái lại, văn chương là một thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có, để vừa tố cáo và thay đổi một cái thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng người đọc thêm trong sạch và phong phú hơn”. Giá trị nhân đạo của truyện cũng nằm ở đây trong cái tăm tối cùng cực, bế tắc con người vẫn phải không ngừng vươn lên, không ngừng hy vọng, ước mơ để có một cuộc sống tươi sáng hơn ở tương lai.

    Niềm vui trong phút chốc thoáng qua nhưng để lại biết bao dấu ấn, kỉ niệm trong tâm hồn Liên. Khi chuyến tàu qua đi tâm trạng của Liên là nuối tiếc “hai chị em còn nhìn theo cái chấm nhỏ của chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre” cũng là lúc cô trở về với nỗi buồn của bóng đêm “cảm giác ban ngày lắng đi trong tâm hồn Liên và hình ảnh thế giới quanh mờ mờ đi trong mắt chị” khi đã chìm vào giấc ngủ trong đêm khuya.

    Diễn biến tâm trạng nhân vật Liên được nhà văn đi sâu lột tả, khám phá thật sâu sắc tỉ mỉ qua từng thời điểm khi buồn man mác, khi ngậm ngùi chua xót, khi háo hức mong chờ, khi hạnh phúc và hy vọng. “Ông tả nội tâm nhân vật tài tình, nhuần nhị, tinh tế” với văn phong lãng mạn, giàu chất thơ những câu văn mềm mại, êm dịu mà không thoát li hiện thực. “Về bút pháp, có thể nói Thạch Lam mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn” nhân vật Liên với những xúc cảm mong manh đã minh chứng cho tài năng của ông.

    Bài văn mẫu 3

    Thạch Lam là một nét chấm phá khác biệt của văn học lãng mạn. Giữa thời điểm người ta tìm cái lãng mạn ở cuộc sống thị thành thì Thạch Lam lại hướng ngòi bút của mình để trân trọng nâng niu những mơ ước khát khao đẹp đẽ của những con người nghèo khổ. Tình cảm nhân văn ấy được thể hiện rất rõ trong truyện ngắn Hai đứa trẻ khi Liên đang chờ chuyến tàu đêm đi qua phố huyện.

    Liên và An vốn là những đứa trẻ từng được sống ở Hà Nội, nơi thị thành ngập tràn ánh sáng và mơ ước. Nhưng gia đình sa sút, nên các em phải chuyển về nơi phố huyện nghèo nàn sinh sống. Xung quanh họ là những kiếp người nhỏ bé đáng thương, sống trong bóng tối: chị Tí ngày mò cua bắt ốc, đêm bán nước; bác Siêu với gánh phở luôn ế hàng, bà cụ Thi điên với tiếng cười khanh khách đầy ám ánh,… “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ của họ”. Và mong ước ấy được thể hiện rõ nhất trong cảnh Liên chờ đoàn tàu cuối cùng đi qua phố huyện.

    Liên đã từng sống cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, được sống ở nơi tràn đầy ánh sáng, bởi vậy khi chuyển về đầy mặc dù đã quen với cái bóng tối ngập đầy khắp ngõ làng nhưng ở trong Liên vẫn dấy lên khát khao, hi vọng được hướng về Hà Nội xa xăm mà rực sáng. Liên đợi đoàn tàu đi qua không phải chỉ đến bán được thêm phong diêm hay điếu thuốc mà để thoát khỏi thực tại nhàm chán buồn tẻ, đơn điệu dù chỉ trong khoảnh khắc. Trong hành động tưởng như vô thức ấy lại chứa đựng những ước mơ, những khao khát cao đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế đang trong tuổi mới lớn.

    Nghe tiếng bác Siêu: “Đèn ghi đã ra kia rồi” cùng lúc đó Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc như ma trơi xuất hiện. Liên lắng tai nghe, lắng lòng mình để nắm bắt trọn vẹn khoảnh khắc con tàu đi qua. Những làn khói trắng sáng từ đằng xa rồi tiếp đến những tiếng hành khách ồn ã vọng tới, Liên ngay lập tức gọi em dậy để có thể nhìn thấy đoàn tàu rõ hơn. Vẫn như mọi khi cô nhận ngay ra “các toa đèn sáng trưng, chiếu sáng cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, dồng và kền vàng lấp lánh, và các cửa kính sáng”. Một không gian rực rỡ, sang trọng hiện ra trước mắt cô bé, đó là hình ảnh của cuộc sống sung túc, đẹp đẽ, của một Hà Nội rực sáng mà cô đã từng được sống. Nhưng nhanh chóng Liên cũng nhận ra những thay đổi của chuyến tàu đêm nay: “Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn”.

    Cô cố nhìn theo đóm lửa xanh cho đến khi nó xa dần và khuất vào bóng đêm, đoàn tàu đi để lại niềm tiếc nuối trong lòng. Liên đợi tàu đây không phải lần đầu tiên, có lẽ từ ngày sống ở phố huyện đêm nào Liên cũng lặng lẽ chờ tàu đi qua, và có lẽ đêm nào trong cô cũng dâng lên những tiếc nuối như vậy. Qua đó ta mới thấy được khao khát thay đổi cuộc sống, khát khao đổi đời trong cô mãnh liệt đến thế nào. Khi đoàn tàu qua đến cả không gian bừng lên rực rỡ bao nhiêu thì lúc nó đi khỏi phố huyện đen tối, lắng lẽ bấy nhiều, cả không gian bị bao bọc bởi bóng tối, và những âm thanh ảm đạm: “Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng”.

    Hình ảnh đoàn tàu mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Đó là hình ảnh của quá khứ đẹp đẽ, của thế giới thần tiên mà Liên đã từng được chung sống. Nó còn là biểu tượng của thế giới hạnh phúc mà Liên, An cũng như người dân phố huyện đang khao khát hướng đến. Thông qua hình ảnh đoàn tàu Thạch Lam đã thể hiện niềm xót thương cho số phận những đứa trẻ và người dân phố huyện. Đồng thời ông cũng trân trọng những mơ ước đổi đời tha thiết của họ.
    Tác giả đã sử dụng thành công bút pháp miêu tả: miêu tả đoàn tàu khi qua lồng vào đó là sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối; miêu tả tâm trạng nhân vật Liên với những nắm bắt tinh tế, nhanh nhạy khi đoàn tàu đi qua phố huyện và mơ ước đổi đời của em cũng như biết bao người. Hình ảnh giàu tính biểu tượng (đoàn tàu) chứa đựng nhiều thông điệp giàu ý nghĩa.
    Qua tâm trạng của nhân vật Liên khi chờ tàu, Thạch Lam đã gửi để thông điệp sâu sắc và ý nghĩa đến với người đọc: phải vượt thoát cuộc sống nghèo nàn, tù túng đơn điệu để vươn đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây mới là cuộc sống thực sự của con người. Đồng thời qua đoạn trích cũng thể hiện tài năng bậc thầy của tác giả trong năm bắt và miêu tả tâm lí nhân vật.

    Bài văn mẫu 4

    “Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn. Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái “tôi”, với sự phân tích cảm giác tinh tế”. Thạch Lam – nhà văn thành công với nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm nhân vật. Liên – cô gái mới lớn mang tâm hồn nhạy cảm với cuộc sống khi buồn man mác trong cảnh chiều tà, buồn sâu thăm thẳm lúc về đêm đặc biệt là điểm nhấn tâm trạng “mơ hồ khó hiểu” và háo hức, hồi hộp, vui mừng lúc chờ tàu trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã minh chứng cho tài năng của ông.

    “Hai đứa trẻ” là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam được in trong tập “Nắng trong vườn”_tập truyện ngắn viết về hiện thực cảm động với văn phong lãng mạn, nội dung sâu sắc và đầy tính nhân văn của ông được nhiều độc giả đón nhận.

    Truyện không có chuyện – đặc trưng cho thể loại truyện ngắn của Thạch Lam kể về cuộc sống của những kiếp người lay lắt nơi phố huyện, đặc tả đi sâu vào thế giới nội tâm của Liên.

    Nếu như ở khỏang thời gian lúc chiều tà và đêm tối bóng đen bao phủ lên cảnh vật với những kiếp người nghèo khổ khiến cho Liên – một cô bé có tâm hồn tinh tế và nhạy cảm luôn mnag trong mình cảm giác buồn man mác thì khi về khuya khoảnh khắc đoàn tàu từ Hà Nội về sắp chạy qua khiến cho tâm trạng cô thay đổi hẳn đó là sự cộng hưởng của quá khứ, hiện tại và tương lai.

    Liên mang trong mình cảm giác mơ hồ khó hiểu khi nào? Đó là lúc chờ tàu đến Cô thả hồn mình quan sát cảnh vật thiên nhiên trên trời những ngôi sao sáng lấp lánh, dưới mặt đất là con đom đóm bám dưới mặt lá sang nhấp nháy, cô lắng mình cảm nhận từng đợt hoa bàng rơi trên vai thật nhẹ nhàng, dịu êm. Rồi cô quan sát tất cả những con người nơi đây. An buồn ngủ mí mắt sắp rơi xuống vấn cố nhắc chị “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé”, mẹ con chị Tí vẫn “phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng”, vợ chồng bác xẩm góp chuyện bằng khúc đàn bầu, thằng con thì bò cả ra đất, bác Siêu vẫn với gánh phở mong có người mua hàng… họ vẫn cố thức đợi tàu “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Những con người ấy họ sống vất vả cực nhọc trong tăm tối được Liên thu vào trong tầm mắt của mình. Liên thương cảm cho số phận của họ, cô cũng thương cho chính mình. Sự lãng mạn của cảnh vật và cái hiện thực của cuộc sống con người đan xen vào nhau không chỉ khiến cho Liên mơ hồ khó hiểu mà còn làm cho người đọc người nghe cảm thấy băn khoăn, trăn trở về cuộc sống của những kiếp người nghèo khó.

    Tâm trạng thứ hai của Liên khi chờ tàu là sự háo hức mong đợi. Liên dù buồn ngủ ríu cả mắt lại nhưng vẫn cố thức để chờ chuyến tàu đi qua ngày nào cũng vậy, không phải như lời mẹ dặn là để bán được ít hàng mà tại vì lí do khác. Đó là chuyến tàu của khát vọng tương lai. Chuyến tàu đem đến một thế giới khác với ánh sáng trưng của các toa đèn, ánh sáng lấp lánh của đồng và kền, đốm than đỏ rực bay lung lung xé toạc bầu trời tăm tối. Âm thanh của đoàn tàu ồn ào, náo nhiệt với tiếng còi vọng, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tiếng huyên náo của hành khách phá tan sự tĩnh lặng, u sầu của không gian. Liên háo hức, mong chờ nhìn thấy sự đổi thay mà đoàn tàu mang đến. Chuyến tàu còn đưa Liên trở về với kí ức xưa với “Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”_nơi mà gia đình cô còn khá giả, hai chị em còn được vui chơi. Đoàn tàu vừa là kỉ niệm đẹp của tuổi thơ vừa là hy vọng ở ngày mai. Thạch Lam thật là tinh tế và sâu sắc khi phát hiện ra khao khát vừa đáng thương vừa đáng trân trọng ấy để cho nhân vật của ông dù sống trong nghèo khó nhưng không tuyệt vọng mà vẫn không ngừng hy vọng, ước mơ. Dù chỉ xuất hiện trong thoáng chốc nhưng có còn hơn không, nó mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc đúng như Xuân Diệu đã từng viết “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.

    Liên cùng biết bao người dân huyện nghèo háo hức, mong chờ đoàn tàu là bởi lí do ấy. Nhà văn Thạch Lam phải là một con người có lòng thương cảm đối với những số phận nghèo mới có thể viết nên những câu chuyện, khắc họa những mảnh đời và lột tả được nội tâm sâu thẳm của nhân vật với những câu văn trữ tình đặc sắc. Tâm trạng của liên khi chờ tàu khiến cho người đọc có nhiều sự cảm thông, thương xót mà cũng rất đáng trân trọng với bài học nhân sinh sâu sắc.

    Bài văn mẫu 5

    Hai đứa trẻ là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của Thạch Lam. Đó là một truyện ngắn trữ tình. Truyện không có truyện. Nhân vật là nhân vật trữ tình. Tất cả nội dung của chuyện đều xoay quanh tâm trạng cửa chị em một cô gái tên Liên, nhân vật chủ yếu của tác phẩm. Nhân vật của Thạch Lam nói chung là thế; không có suy nghĩ sâu sắc, thường chỉ thể hiện những cảm giác, những vui buồn nào đấy. Họ thường ngồi yên lặng lắng nghe tiếng nối thầm kín của lòng mình, ít phân tích lí giải đề xuất những khái quát triết lí như thường thấy ở nhân vật Nam Cao.

    Nhưng đằng sau thế giới nhân vật với những tâm trạng như thế, người ta thấy thấp thoáng nhân vật tác giả, người kể chuyện. Nhân vật này thì giàu suy tư, thường phát biểu bằng một giọng nói dịu dàng nhỏ nhẹ những tư tưởng có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.

    Tác phẩm tự nó chia làm ba đoạn:
    Đoạn một: Tâm trạng Liên trước cảnh chiều muộn nơi phố huyện.
    Đoạn hai: Tâm trạng Liên trước cảnh đêm tối nơi phố huyện.
    Đoạn ba: Tâm trạng chị em Liên khao khát được thấy chuyến tàu đi qua phố huyện. Chính ở đoạn ba này, chủ đề của tác phẩm đã được phát biểu một cách sâu sắc và thấm thía. Chủ đề đấy chính là lời giải đáp cho câu hỏi: “Tại sao chị em Liên đêm nào cũng cố thức để được nhìn chuyến tàu qua?”.

    Nhưng tác phẩm văn học là một chỉnh thể. Vậy muốn giải đáp câu hỏi trên, nhất thiết phải gắn đoạn ba với đoạn một, đoạn hai của thiên truyện.
    Ba đoạn gắn bó với nhau theo logic tâm trạng của nhân vật Liên để cuối cùng tô đậm tư tưởng của truyện ở đoạn kết thúc.

    Đoạn một thể hiện tâm trạng buồn của Liên trước quan cảnh tàn lụi của cảnh thiên nhiên và những cảnh đời nơi phố huyện lúc chiều muộn.

    Tâm trạng này tác giả đà ghi rõ trong đoạn văn: “Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.

    Ngày tàn trước hết báo hiệu bằng tiếng trống thu không như gọi buổi chiều về. Phương tây tuy đỏ rực như lửa cháy nhưng cũng chỉ là ánh hồng của “hòn than sắp tán”. Bóng tối lấn dần, lấn dần… Nhìn xuống mặt đất là cảnh chợ tàn, không có gi vui bằng lúc chợ đông, nhưng cũng không có gì buồn hơn cảnh chợ tàn.

    Đâu tiếng làng xa vắng chợ chiểu.
    Câu thơ trong bài Tràng giang của Huy Cận thật buồn.
    Buồn vì người ta về hết cả, tiếng ồn náo nhiệt cũng tắt. Sự sống như tàn lụi Cái nghèo phô bày không che đậy ở những rác rưởi bỏ lại, ò mấy đứa trẻ nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh những cái vặt vãnh còn có thể dùng được cửa những người bán hàng để lại…
    Những con người quen thuộc với chị em Liên nơi phố huyện cũng vậy, đều là những cuộc đời tàn lụi: cái hàng nước lèo tèo của chị Tí thì ế khách (“Ôi chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì”), cửa hàng của chị em Liên cũng vậy (“Hôm nay ngày phiên mà bán ĩung chẳng ăn thua gì”). Hình ảnh cụ Thi điên lảo đảo bước đi càng tô đậm một cảnh ngộ bế tắc: “Cụ đi lần vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dẩn vè phía làng”.

    Đoạn hai thể hiện tâm trạng buồn và chán nản của Liên trước những cuộc đời tối tăm quẩn quanh đơn điệu của những cư dân nơi phố huyện.

    Tất cả đều diễn ra như đúng đêm trước, như hàng trăm đêm trước. Đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng cửa im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, chi hé một khe ánh sáng. Sau cửa hàng nước chị Tí là gánh hàng bác phở Siêu mà chị em Liên đã biết chắc chắn ngay khi còn ở xa như một chấm lừa nhỏ và vàng “lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi rồi lại hiện rõ. Rồi đến gia đình bác Xẩm với cái thau sắt trắng chỏng trơ và thằng con bò ra đất nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát. Đúng là những kiếp người không bao giờ biết đến hạnh phúc. Hiện tại thì cực khổ, tương lai thì mù mịt. Sự tồn tại của họ dường như chỉ là để chờ đợi vu vơ một cái gì may mắn không bao giờ xảy đến: “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày.

    Được tô đậm nhất ở đoạn này là hình ảnh những kiếp sống tối tăm. Điều đáng chú ý ở đây là cái tối tăm lại được diễn tả bằng ánh sáng, thứ ánh sáng leo lét của ngọn đèn con nơi chõng hàng nước của chị Tí, đối chọi một cách yếu ớt đến thảm hại trước “vũ trụ thăm thẳm bao la” trùm lên cái phố huyện nghèo; không phải ngầu nhiên mà thiên truyện ngắn vẻn vẹn chỉ có mấy trang mà hình ảnh ngọn đèn hàng nước chị Tý được nhắc đi nhắc lại tới bảy lần. Nó trở thành một biểu tượng về những kiếp sống mù tối, lắt lay của những cư dân nghèo khổ tường chừng bị chôn vùi đến cùng đời màn kiếp trong bóng tối của phố huyện tiêu điều bị cuộc sống bỏ quên này.

    Hai đoạn trên chuẩn bị cho đoạn ba. Buồn chán trước cảnh đời phố huyện, chị em Liên cuối cùng cũng tìm ra được một lối thoát: trông đợi để thấy được một chuyến tàu đi qua phố huyện.

    Một lối thoát không phải trong thực tế mà trong tưởng tượng. Bởi vì con tàu đi qua đem theo nó một thế giới khác hẳn với cái thế giới của cái phố huyện: “Một thể giới sáng rực, huyên náo, vui vẻ và sang trọng. Đó là thế giới họ hằng mơ tường” Bỗng chốc họ sống với thế giới ấy nghĩa là được thoát ra khỏi cuộc sống tối tăm, vắng lặng xơ xác, nhàm chán và bế tắc của cái phố huyện nghèo. Nhưng cuộc thoát li, dù chỉ bằng tưởng tượng cũng chỉ diễn ra trong chốc lát. Đêm tối và sự im lặng mênh mông lại bao bọc lấy tất cả. Nỗi buồn chán lại trở về cùng với ngọn đèn con của chị Tí leo lét giữa đêm đen. “Liên đến bên em nằm xuống. Chị gối đầu lên tay nhăm mắt lại (…) Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xối không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”

    Qua diễn biến tâm trạng của Liên, tác giả muốn nói gì với người đọc? Lời phát biểu của Thạch Lam, như đã nói, bao giờ cùng thầm kín, dịu dàng nhưng cứ thấm thía mãi trong lòng người mà ám ảnh mãi tâm trí người đọc: ấy là tiếng nói đầy xót thương với những kiếp người nhỏ bé, cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không hạnh phúc, không tương lai, những con người như bị chốn vùi trong kiếp sống vô danh, vô nghĩa trong xã hội cũ. Trong xã hội ý có biết bao người đã phải sống như thế: không bao giờ biết ánh sáng và hạnh phúc. Đến trong giấc mơ cũng không biết ước mơ gì hơn một chuyến tàu đêm vụt đi qua một phố huyện tiêu điều xơ xác của cuộc đời mình.

    Đây là một khía cạnh mới của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam từ khoảng 1930 – 1945, khi xuất hiện những nhà văn thức tỉnh về ý thức cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời. Họ hết sức nhạy cảm đối với thân phận những con người, không biết sống là vui, những kiếp sống tù mù, dật dờ trong bóng tối.

  • Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    Dàn ý Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích diễn biến tâm trạng nhân vật Liên

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Giới thiệu truyện ngắn Hai đứa trẻ: Một truyện ngắn tiêu biểu của cấy bút truyện ngắn xuất sắc- Thạch Lam
    – Nêu vấn đề nghị luận: Liên trong tác phẩm là một nhân vật để lại nhiều sự trân trọng nơi bạn đọc bởi những suy nghĩ, cảm nhận rất tinh tế. Nhà văn đã hướng ngòi bút khắc họa tâm trạng nhân vật để làm nổi bật điều đó

    II. Thân bài
    1. Hoàn cảnh nhân vật Liên
    + Trước ở Hà Nội, từ khi bố mất việc, hai chị em về quê.
    + Mẹ giao trông coi một gian hàng tạp hoá nhỏ xíu.
    + Chiều nào cũng dọn hàng, đếm hàng, tính tiền, ngồi trên cái chõng sắp gãy nhìn cảnh và người phố huyện.
    + Ngày chợ phiên mà chỉ bán được 2,5 bánh xà phòng, một cút rượu ti nhỏ
    ⇒ Hoàn cảnh khó khăn, sa sút, mức sống eo hẹp
    2. Tâm trạng của Liên trước bức tranh phố huyện lúc chiều tàn
    – Cảm nhận rất rõ: “mùi riêng của đất, của quê hương này” từ tâm hồn nhạy cảm
    – Cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn tạ: gợi cho Liên nỗi buồn thậm thía
    – Động lòng thương những đứa trẻ nhà nghèo nhưng chính chị cũng không có tiền mà cho chúng.
    – Xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu.
    ⇒ Liên là một cô bé có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người. Đây cũng là nhân vật mà Thạch Lam gửi gắm tâm tư của mình
    3. Tâm trạng nhân vật Liên trước khi tàu đến
    – Liên cùng em trai dù đã rất buồn ngủ nhưng vẫn cố thức để đợi tàu bởi:
    + Cô được mẹ dặn chờ tàu đến để bán hàng
    + Nhưng Liên không mong chờ ai đến nữa
    + Cô thức vì muốn được nhìn thấy chuyến tàu như một hoạt động cuối cùng của đêm khuya
    + Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu
    + Liên chăm chú để ý từng đèn ghi, ngọn lửa xanh biếc…
    – Tiếng Liên gọi em một cách cuống quýt, giục giã như thể nếu chậm một chút sẽ mất đi điều gì đó quý giá
    ⇒ Niềm háo hức, mong ngóng chuyến tàu đêm như mong ngóng một điều gì đó tươi sáng hơn cho cuộc sống vốn tẻ nhạt thường ngày
    4. Tâm trạng nhân vật Liên khi tàu đến
    – Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vượt qua
    – Dù chỉ trong chốc lát, Liên cũng thấy “những toa hạng trên sang trọng lố nhố ngời, đồng và kền lấp lánh” ⇒ Liên thấy một thế giới khác với cuộc sống thường ngày của chị
    – Đứng lặng ngắm đoàn tàu đi qua, Liên không trả lời cau hỏi của em, trong tâm hồn cô cơn xúc động vẫn chưa lắng xuống
    – Liên mơ tưởng về Hà Nội, một Hà Nội sáng rực và xa xăm, một Hn đẹp, giàu sang và sung sướng… Sự hồi tưởng ấy càng khiến Liên thêm tiếc nuối và ngán ngẩm cho cuộc sống hiện tại.
    ⇒ Tâm trạng xúc động, vui sướng, hạnh phúc, mơ mộng
    5. Tâm trạng nhân vật Liên khi tàu đi
    – Như bao con người khác, Liên cũng “mong đợi một cái gì đó tươi sáng cho cuộc sống hằng ngày”
    – Khi tàu đi qua, Liên trở về với tâm trạng buồn như cuộc sống thường ngày nơi phố huyện
    – Con tàu như niềm vui lóe lên trong chốc lát làm con người mơ tưởng rồi lại chìm vào trong bóng đen dày đặc
    – Tất cả chìm trong màn đêm với ngọn đèn tù mù chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ đi vào giấc ngủ chập chờn của Liên
    ⇒ Tâm trạng nuối tiếc, niềm suy tư thao thức về cuộc sống hằng ngày nơi phố huyện nghèo
    6. Nghệ thuật xây dựng nhân vật
    – Nghệ thuật miêu tả nội tâm
    – Bút pháp hiện thực kết hợp lãng mạn

    III. Kết bài
    – Khái quát lại sự chuyển biến tâm trạng nhân vật Liên
    – Đây là nhân vật Thạch Lam gửi gắm niềm xót thương cho những con người bé nhỏ và trân trọng niềm ước mong một cuộc sống tươi sáng hơn

  • 3 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất

    3 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất

    3 bài văn mẫu Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tâm trạng Liên khi chờ tàu trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam.

    Bài văn mẫu 1

    Hai đứa trẻ là một trong những tác phẩm xuất sắc và tiêu biểu nhất của Thạch Lam. Đó là một truyện ngắn trữ tình. Truyện không có truyện. Nhân vật là nhân vật trữ tình. Tất cả nội dung của chuyện đều xoay quanh tâm trạng cửa chị em một cô gái tên Liên, nhân vật chủ yếu của tác phẩm. Nhân vật của Thạch Lam nói chung là thế; không có suy nghĩ sâu sắc, thường chỉ thể hiện những cảm giác, những vui buồn nào đấy. Họ thường ngồi yên lặng lắng nghe tiếng nối thầm kín của lòng mình, ít phân tích lí giải đề xuất những khái quát triết lí như thường thấy ở nhân vật Nam Cao.

    Nhưng đằng sau thế giới nhân vật với những tâm trạng như thế, người ta thấy thấp thoáng nhân vật tác giả, người kể chuyện. Nhân vật này thì giàu suy tư, thường phát biểu bằng một giọng nói dịu dàng nhỏ nhẹ những tư tưởng có ý nghĩa nhân đạo sâu sắc.
    Tác phẩm tự nó chia làm ba đoạn:
    Đoạn một: Tâm trạng Liên trước cảnh chiều muộn nơi phố huyện.
    Đoạn hai: Tâm trạng Liên trước cảnh đêm tối nơi phố huyện.
    Đoạn ba: Tâm trạng chị em Liên khao khát được thấy chuyến tàu đi qua phố huyện. Chính ở đoạn ba này, chủ đề của tác phẩm đã được phát biểu một cách sâu sắc và thấm thía. Chủ đề đấy chính là lời giải đáp cho câu hỏi: “Tại sao chị em Liên đêm nào cũng cố thức để được nhìn chuyến tàu qua?”.

    Nhưng tác phẩm văn học là một chỉnh thể. Vậy muốn giải đáp câu hỏi trên, nhất thiết phải gắn đoạn ba với đoạn một, đoạn hai của thiên truyện.
    Ba đoạn gắn bó với nhau theo logic tâm trạng của nhân vật Liên để cuối cùng tô đậm tư tưởng của truyện ở đoạn kết thúc.

    Đoạn một thể hiện tâm trạng buồn của Liên trước quan cảnh tàn lụi của cảnh thiên nhiên và những cảnh đời nơi phố huyện lúc chiều muộn.

    Tâm trạng này tác giả đà ghi rõ trong đoạn văn: “Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập đầy dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị; Liên không hiểu sao, nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”.

    Ngày tàn trước hết báo hiệu bằng tiếng trống thu không như gọi buổi chiều về. Phương tây tuy đỏ rực như lửa cháy nhưng cũng chỉ là ánh hồng của “hòn than sắp tán”. Bóng tối lấn dần, lấn dần… Nhìn xuống mặt đất là cảnh chợ tàn, không có gi vui bằng lúc chợ đông, nhưng cũng không có gì buồn hơn cảnh chợ tàn.
    Đâu tiếng làng xa vắng chợ chiểu.

    Câu thơ trong bài Tràng giang của Huy Cận thật buồn.

    Buồn vì người ta về hết cả, tiếng ồn náo nhiệt cũng tắt. Sự sống như tàn lụi Cái nghèo phô bày không che đậy ở những rác rưởi bỏ lại, ò mấy đứa trẻ nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh những cái vặt vãnh còn có thể dùng được cửa những người bán hàng để lại…
    Những con người quen thuộc với chị em Liên nơi phố huyện cũng vậy, đều là những cuộc đời tàn lụi: cái hàng nước lèo tèo của chị Tí thì ế khách (“Ôi chao, sớm với muộn mà có ăn thua gì”), cửa hàng của chị em Liên cũng vậy (“Hôm nay ngày phiên mà bán ĩung chẳng ăn thua gì”). Hình ảnh cụ Thi điên lảo đảo bước đi càng tô đậm một cảnh ngộ bế tắc: “Cụ đi lần vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dẩn vè phía làng”.

    Đoạn hai thể hiện tâm trạng buồn và chán nản của Liên trước những cuộc đời tối tăm quẩn quanh đơn điệu của những cư dân nơi phố huyện.

    Tất cả đều diễn ra như đúng đêm trước, như hàng trăm đêm trước. Đường phố và các ngõ chứa đầy bóng tối. Các nhà đã đóng cửa im ỉm, trừ một vài cửa hàng còn thức, chi hé một khe ánh sáng. Sau cửa hàng nước chị Tí là gánh hàng bác phở Siêu mà chị em Liên đã biết chắc chắn ngay khi còn ở xa như một chấm lừa nhỏ và vàng “lơ lửng đi trong đêm tối, mất đi rồi lại hiện rõ. Rồi đến gia đình bác Xẩm với cái thau sắt trắng chỏng trơ và thằng con bò ra đất nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong cát. Đúng là những kiếp người không bao giờ biết đến hạnh phúc. Hiện tại thì cực khổ, tương lai thì mù mịt. Sự tồn tại của họ dường như chỉ là để chờ đợi vu vơ một cái gì may mắn không bao giờ xảy đến: “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hàng ngày.

    Được tô đậm nhất ở đoạn này là hình ảnh những kiếp sống tối tăm. Điều đáng chú ý ở đây là cái tối tăm lại được diễn tả bằng ánh sáng, thứ ánh sáng leo lét của ngọn đèn con nơi chõng hàng nước của chị Tí, đối chọi một cách yếu ớt đến thảm hại trước “vũ trụ thăm thẳm bao la” trùm lên cái phố huyện nghèo; không phải ngầu nhiên mà thiên truyện ngắn vẻn vẹn chỉ có mấy trang mà hình ảnh ngọn đèn hàng nước chị Tý được nhắc đi nhắc lại tới bảy lần. Nó trở thành một biểu tượng về những kiếp sống mù tối, lắt lay của những cư dân nghèo khổ tường chừng bị chôn vùi đến cùng đời màn kiếp trong bóng tối của phố huyện tiêu điều bị cuộc sống bỏ quên này.

    Hai đoạn trên chuẩn bị cho đoạn ba. Buồn chán trước cảnh đời phố huyện, chị em Liên cuối cùng cũng tìm ra được một lối thoát: trông đợi để thấy được một chuyến tàu đi qua phố huyện.

    Một lối thoát không phải trong thực tế mà trong tưởng tượng. Bởi vì con tàu đi qua đem theo nó một thế giới khác hẳn với cái thế giới của cái phố huyện: “Một thể giới sáng rực, huyên náo, vui vẻ và sang trọng. Đó là thế giới họ hằng mơ tường” Bỗng chốc họ sống với thế giới ấy nghĩa là được thoát ra khỏi cuộc sống tối tăm, vắng lặng xơ xác, nhàm chán và bế tắc của cái phố huyện nghèo. Nhưng cuộc thoát li, dù chỉ bằng tưởng tượng cũng chỉ diễn ra trong chốc lát. Đêm tối và sự im lặng mênh mông lại bao bọc lấy tất cả. Nỗi buồn chán lại trở về cùng với ngọn đèn con của chị Tí leo lét giữa đêm đen. “Liên đến bên em nằm xuống. Chị gối đầu lên tay nhăm mắt lại (…) Liên thấy mình sống giữa bao nhiêu sự xa xối không biết như chiếc đèn con của chị Tí chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ”

    Qua diễn biến tâm trạng của Liên, tác giả muốn nói gì với người đọc? Lời phát biểu của Thạch Lam, như đã nói, bao giờ cùng thầm kín, dịu dàng nhưng cứ thấm thía mãi trong lòng người mà ám ảnh mãi tâm trí người đọc: ấy là tiếng nói đầy xót thương với những kiếp người nhỏ bé, cơ cực, sống quẩn quanh bế tắc, không hạnh phúc, không tương lai, những con người như bị chốn vùi trong kiếp sống vô danh, vô nghĩa trong xã hội cũ. Trong xã hội ý có biết bao người đã phải sống như thế: không bao giờ biết ánh sáng và hạnh phúc. Đến trong giấc mơ cũng không biết ước mơ gì hơn một chuyến tàu đêm vụt đi qua một phố huyện tiêu điều xơ xác của cuộc đời mình.

    Đây là một khía cạnh mới của chủ nghĩa nhân đạo trong văn học Việt Nam từ khoảng 1930 – 1945, khi xuất hiện những nhà văn thức tỉnh về ý thức cá nhân, về sự tồn tại có ý nghĩa của mỗi cá nhân trên đời. Họ hết sức nhạy cảm đối với thân phận những con người, không biết sống là vui, những kiếp sống tù mù, dật dờ trong bóng tối.

    Bài văn mẫu 2

    Thạch Lam là một nét chấm phá khác biệt của văn học lãng mạn. Giữa thời điểm người ta tìm cái lãng mạn ở cuộc sống thị thành thì Thạch Lam lại hướng ngòi bút của mình để trân trọng nâng niu những mơ ước khát khao đẹp đẽ của những con người nghèo khổ. Tình cảm nhân văn ấy được thể hiện rất rõ trong truyện ngắn Hai đứa trẻ khi Liên đang chờ chuyến tàu đêm đi qua phố huyện.

    Liên và An vốn là những đứa trẻ từng được sống ở Hà Nội, nơi thị thành ngập tràn ánh sáng và mơ ước. Nhưng gia đình sa sút, nên các em phải chuyển về nơi phố huyện nghèo nàn sinh sống. Xung quanh họ là những kiếp người nhỏ bé đáng thương, sống trong bóng tối: chị Tí ngày mò cua bắt ốc, đêm bán nước; bác Siêu với gánh phở luôn ế hàng, bà cụ Thi điên với tiếng cười khanh khách đầy ám ánh,… “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ của họ”. Và mong ước ấy được thể hiện rõ nhất trong cảnh Liên chờ đoàn tàu cuối cùng đi qua phố huyện.

    Liên đã từng sống cuộc sống sung sướng, hạnh phúc, được sống ở nơi tràn đầy ánh sáng, bởi vậy khi chuyển về đầy mặc dù đã quen với cái bóng tối ngập đầy khắp ngõ làng nhưng ở trong Liên vẫn dấy lên khát khao, hi vọng được hướng về Hà Nội xa xăm mà rực sáng. Liên đợi đoàn tàu đi qua không phải chỉ đến bán được thêm phong diêm hay điếu thuốc mà để thoát khỏi thực tại nhàm chán buồn tẻ, đơn điệu dù chỉ trong khoảnh khắc. Trong hành động tưởng như vô thức ấy lại chứa đựng những ước mơ, những khao khát cao đẹp của một tâm hồn nhạy cảm, tinh tế đang trong tuổi mới lớn.

    Nghe tiếng bác Siêu: “Đèn ghi đã ra kia rồi” cùng lúc đó Liên cũng trông thấy ngọn lửa xanh biếc như ma trơi xuất hiện. Liên lắng tai nghe, lắng lòng mình để nắm bắt trọn vẹn khoảnh khắc con tàu đi qua. Những làn khói trắng sáng từ đằng xa rồi tiếp đến những tiếng hành khách ồn ã vọng tới, Liên ngay lập tức gọi em dậy để có thể nhìn thấy đoàn tàu rõ hơn. Vẫn như mọi khi cô nhận ngay ra “các toa đèn sáng trưng, chiếu sáng cả xuống đường. Liên chỉ thoáng trông thấy những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, dồng và kền vàng lấp lánh, và các cửa kính sáng”. Một không gian rực rỡ, sang trọng hiện ra trước mắt cô bé, đó là hình ảnh của cuộc sống sung túc, đẹp đẽ, của một Hà Nội rực sáng mà cô đã từng được sống. Nhưng nhanh chóng Liên cũng nhận ra những thay đổi của chuyến tàu đêm nay: “Chuyến tàu đêm nay không đông như mọi khi, thưa vắng người và hình như kém sáng hơn”. Cô cố nhìn theo đóm lửa xanh cho đến khi nó xa dần và khuất vào bóng đêm, đoàn tàu đi để lại niềm tiếc nuối trong lòng. Liên đợi tàu đây không phải lần đầu tiên, có lẽ từ ngày sống ở phố huyện đêm nào Liên cũng lặng lẽ chờ tàu đi qua, và có lẽ đêm nào trong cô cũng dâng lên những tiếc nuối như vậy. Qua đó ta mới thấy được khao khát thay đổi cuộc sống, khát khao đổi đời trong cô mãnh liệt đến thế nào. Khi đoàn tàu qua đến cả không gian bừng lên rực rỡ bao nhiêu thì lúc nó đi khỏi phố huyện đen tối, lắng lẽ bấy nhiều, cả không gian bị bao bọc bởi bóng tối, và những âm thanh ảm đạm: “Đêm tối vẫn bao bọc chung quanh, đêm của đất quê, và ngoài kia, đồng ruộng mênh mang và yên lặng”.

    Hình ảnh đoàn tàu mang nhiều ý nghĩa biểu tượng. Đó là hình ảnh của quá khứ đẹp đẽ, của thế giới thần tiên mà Liên đã từng được chung sống. Nó còn là biểu tượng của thế giới hạnh phúc mà Liên, An cũng như người dân phố huyện đang khao khát hướng đến. Thông qua hình ảnh đoàn tàu Thạch Lam đã thể hiện niềm xót thương cho số phận những đứa trẻ và người dân phố huyện. Đồng thời ông cũng trân trọng những mơ ước đổi đời tha thiết của họ.

    Tác giả đã sử dụng thành công bút pháp miêu tả: miêu tả đoàn tàu khi qua lồng vào đó là sự đối lập giữa ánh sáng và bóng tối; miêu tả tâm trạng nhân vật Liên với những nắm bắt tinh tế, nhanh nhạy khi đoàn tàu đi qua phố huyện và mơ ước đổi đời của em cũng như biết bao người. Hình ảnh giàu tính biểu tượng (đoàn tàu) chứa đựng nhiều thông điệp giàu ý nghĩa.

    Qua tâm trạng của nhân vật Liên khi chờ tàu, Thạch Lam đã gửi để thông điệp sâu sắc và ý nghĩa đến với người đọc: phải vượt thoát cuộc sống nghèo nàn, tù túng đơn điệu để vươn đến cuộc sống tốt đẹp hơn. Đây mới là cuộc sống thực sự của con người. Đồng thời qua đoạn trích cũng thể hiện tài năng bậc thầy của tác giả trong năm bắt và miêu tả tâm lí nhân vật.

    Bài văn mẫu 3

    “Thạch Lam là nhà văn mở đầu cho một giọng điệu riêng: trữ tình hướng nội trong truyện ngắn. Ngòi bút của ông thường khơi sâu vào thế giới bên trong của cái “tôi”, với sự phân tích cảm giác tinh tế”. Thạch Lam – nhà văn thành công với nghệ thuật miêu tả thế giới nội tâm nhân vật. Liên – cô gái mới lớn mang tâm hồn nhạy cảm với cuộc sống khi buồn man mác trong cảnh chiều tà, buồn sâu thăm thẳm lúc về đêm đặc biệt là điểm nhấn tâm trạng “mơ hồ khó hiểu” và háo hức, hồi hộp, vui mừng lúc chờ tàu trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” đã minh chứng cho tài năng của ông.

    “Hai đứa trẻ” là một trong những truyện ngắn đặc sắc của Thạch Lam được in trong tập “Nắng trong vườn”_tập truyện ngắn viết về hiện thực cảm động với văn phong lãng mạn, nội dung sâu sắc và đầy tính nhân văn của ông được nhiều độc giả đón nhận.

    Truyện không có chuyện – đặc trưng cho thể loại truyện ngắn của Thạch Lam kể về cuộc sống của những kiếp người lay lắt nơi phố huyện, đặc tả đi sâu vào thế giới nội tâm của Liên. Nếu như ở khỏang thời gian lúc chiều tà và đêm tối bóng đen bao phủ lên cảnh vật với những kiếp người nghèo khổ khiến cho Liên – một cô bé có tâm hồn tinh tế và nhạy cảm luôn mnag trong mình cảm giác buồn man mác thì khi về khuya khoảnh khắc đoàn tàu từ Hà Nội về sắp chạy qua khiến cho tâm trạng cô thay đổi hẳn đó là sự cộng hưởng của quá khứ, hiện tại và tương lai.

    Liên mang trong mình cảm giác mơ hồ khó hiểu khi nào? Đó là lúc chờ tàu đến Cô thả hồn mình quan sát cảnh vật thiên nhiên trên trời những ngôi sao sáng lấp lánh, dưới mặt đất là con đom đóm bám dưới mặt lá sang nhấp nháy, cô lắng mình cảm nhận từng đợt hoa bàng rơi trên vai thật nhẹ nhàng, dịu êm. Rồi cô quan sát tất cả những con người nơi đây. An buồn ngủ mí mắt sắp rơi xuống vấn cố nhắc chị “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé”, mẹ con chị Tí vẫn “phe phẩy cành chuối khô đuổi ruồi bò trên mấy thức hàng”, vợ chồng bác xẩm góp chuyện bằng khúc đàn bầu, thằng con thì bò cả ra đất, bác Siêu vẫn với gánh phở mong có người mua hàng… họ vẫn cố thức đợi tàu “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Những con người ấy họ sống vất vả cực nhọc trong tăm tối được Liên thu vào trong tầm mắt của mình. Liên thương cảm cho số phận của họ, cô cũng thương cho chính mình. Sự lãng mạn của cảnh vật và cái hiện thực của cuộc sống con người đan xen vào nhau không chỉ khiến cho Liên mơ hồ khó hiểu mà còn làm cho người đọc người nghe cảm thấy băn khoăn, trăn trở về cuộc sống của những kiếp người nghèo khó.

    Tâm trạng thứ hai của Liên khi chờ tàu là sự háo hức mong đợi. Liên dù buồn ngủ ríu cả mắt lại nhưng vẫn cố thức để chờ chuyến tàu đi qua ngày nào cũng vậy, không phải như lời mẹ dặn là để bán được ít hàng mà tại vì lí do khác. Đó là chuyến tàu của khát vọng tương lai. Chuyến tàu đem đến một thế giới khác với ánh sáng trưng của các toa đèn, ánh sáng lấp lánh của đồng và kền, đốm than đỏ rực bay lung lung xé toạc bầu trời tăm tối. Âm thanh của đoàn tàu ồn ào, náo nhiệt với tiếng còi vọng, tiếng xe rít mạnh vào ghi, tiếng huyên náo của hành khách phá tan sự tĩnh lặng, u sầu của không gian. Liên háo hức, mong chờ nhìn thấy sự đổi thay mà đoàn tàu mang đến. Chuyến tàu còn đưa Liên trở về với kí ức xưa với “Hà Nội xa xăm, Hà Nội sáng rực vui vẻ và huyên náo”_nơi mà gia đình cô còn khá giả, hai chị em còn được vui chơi. Đoàn tàu vừa là kỉ niệm đẹp của tuổi thơ vừa là hy vọng ở ngày mai.

    Thạch Lam thật là tinh tế và sâu sắc khi phát hiện ra khao khát vừa đáng thương vừa đáng trân trọng ấy để cho nhân vật của ông dù sống trong nghèo khó nhưng không tuyệt vọng mà vẫn không ngừng hy vọng, ước mơ. Dù chỉ xuất hiện trong thoáng chốc nhưng có còn hơn không, nó mang ý nghĩa nhân văn sâu sắc đúng như Xuân Diệu đã từng viết “Thà một phút huy hoàng rồi chợt tắt/ Còn hơn buồn le lói suốt trăm năm”.

    Liên cùng biết bao người dân huyện nghèo háo hức, mong chờ đoàn tàu là bởi lí do ấy. Nhà văn Thạch Lam phải là một con người có lòng thương cảm đối với những số phận nghèo mới có thể viết nên những câu chuyện, khắc họa những mảnh đời và lột tả được nội tâm sâu thẳm của nhân vật với những câu văn trữ tình đặc sắc. Tâm trạng của liên khi chờ tàu khiến cho người đọc có nhiều sự cảm thông, thương xót mà cũng rất đáng trân trọng với bài học nhân sinh sâu sắc.

  • Dàn ý Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất

    Dàn ý Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất

    Dàn ý Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Những nét chính về Thạch Lam và truyện ngắn Hai đứa trẻ: Thạch Lam là một gương mặt nhà văn không thể lẫn, không thể quên trong lịch sử văn chương dân tộc. Hai đưa trẻ là một trong số những truyện ngắn tiêu biểu của ông
    – Truyện ngắn đã xây dựng thành công hình tượng nhân vật Liên, trong đó một trong những khía cạnh làm nên sự thành công của hình tượng này chính là tâm trạng của cô bé khi đợi tàu

    II. Thân bài
    1. Sơ lược tâm trạng nhân vật Liên trước thời khắc ngày tàn (đây cũng là tâm trạng của Liên trước khi tàu đến nên cần khái lược)
    – Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen, lòng buồn man mác.
    – Liên thấy động lòng thương những đứa trẻ nhà nghèo
    – Tinh ý nhận ra hương vị quen thuộc – mùi riêng của đất của quê hương
    ⇒ Tâm hồn nhạy cảm
    2. Tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu
    a. Trước khi tàu đến
    – Liên cùng em trai dù đã rất buồn ngủ nhưng vẫn cố thức để đợi tàu bởi:
    + Cô được mẹ dặn chờ tàu đến để bán hàng
    + Nhưng Liên không mong chờ ai đến nữa
    + Cô thức vì muốn được nhìn thấy chuyến tàu như một hoạt động cuối cùng của đêm khuya
    + Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu
    + Liên chăm chú để ý từng đèn ghi, ngọn lửa xanh biếc…
    – Tiếng Liên gọi em một cách cuống quýt, giục giã như thể nếu chậm một chút sẽ mất đi điều gì đó quý giá
    ⇒ Niềm háo hức, mong ngóng chuyến tàu đêm như mong ngóng một điều gì đó tươi sáng hơn cho cuộc sống vốn tẻ nhạt thường ngày
    b. Khi tàu đến
    – Liên dắt em đứng dậy để nhìn đoàn xe vượt qua
    – Dù chỉ trong chốc lát, Liên cũng thấy “những toa hạng trên sang trọng lố nhố người, đồng và kền lấp lánh” ⇒ Liên thấy một thế giới khác với cuộc sống thường ngày của chị
    – Đứng lặng ngắm đoàn tàu đi qua, Liên không trả lời cau hỏi của em, trong tâm hồn cô cơn xúc động vẫn chưa lắng xuống
    – Liên mơ tưởng về Hà Nội, một Hà Nội sáng rực và xa xăm, một Hn đẹp, giàu sang và sung sướng… Sự hồi tưởng ấy càng khiến Liên thêm tiếc nuối và ngán ngẩm cho cuộc sống hiện tại.
    ⇒ Tâm trạng xúc động, vui sướng, hạnh phúc, mơ mộng
    c. Khi tàu đi
    – Như bao con người khác, Liên cũng “mong đợi một cái gì đó tươi sáng cho cuộc sống hằng ngày”
    – Khi tàu đi qua, Liên trở về với tâm trạng buồn như cuộc sống thường ngày nơi phố huyện
    – Con tàu như niềm vui lóe lên trong chốc lát làm con người mơ tưởng rồi lại chìm vào trong bóng đen dày đặc
    – Tất cả chìm trong màn đêm với ngọn đèn tù mù chỉ chiếu sáng một vùng đất nhỏ đi vào giấc ngủ chập chờn của Liên
    ⇒ Tâm trạng nuối tiếc, niềm suy tư thao thức về cuộc sống hằng ngày nơi phố huyện nghèo

    III. Kết bài
    – Khái quát những nét đặc sắc nghệ thuật khắc họa tâm trạng nhân vật Liên khi chờ tàu
    – Cảm nhận vầ nhân vật Liên, người duy nhất trong tác phẩm ý thức được đầy đủ và sâu sắc nhất cuộc sống tù đọng của mình

  • 2 bài văn mẫu Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    2 bài văn mẫu Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    2 bài văn mẫu Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài Dàn ý Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Bài văn mẫu 1

    Thạch Lam một trong những cây bút chủ lực của Tự lực văn đoàn. Các tác phẩm của ông thiên về những cảm xúc trong trẻo, nhẹ nhàng mà vô cùng sâu lắng. Đằng sau những trang văn thấm đẫm chất thơ là niềm cảm thương, tấm lòng nhân đạo với những kiếp người nghèo khổ trong xã hội. Truyện ngắn Hai đứa trẻ là một trong những truyện nổi bật nhất của ông. Nắm bắt khoảnh khắc ngày tàn, Thạch Lam đã vẽ nên cuộc sống đầy ảm đảm mà cũng ngập tràn mơ ước của con người nơi đây.

    Thạch Lam lựa chọn thời điểm hoàng hôn, khi mọi vật bắt đầu chuẩn bị đi vào trạng thái nghỉ ngơi. Bằng ngòi bút tinh tế, nhạy cảm ông không chỉ nắm bắt cái thần thái của cuộc sống con người mà đó còn là bức tranh thiên nhiên. Qua hai bức tranh đó thể hiện những quan điểm, cảm xúc của tác giả trước hiện thực cuộc sống.

    Bức tranh thiên nhiên mơ mộng mà đượm buồn, âm thanh còn vương lại chỉ là “tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều”, xa xa là tiếng ếch nhái kêu ran theo tiếng gió đưa vào. Âm thanh tưởng là náo động, rộn rã mà hóa ra lại da diết, khắc khoải, ảm đạm. Có lẽ không gian phải vắng lặng, tĩnh mịch lắm mới có thể nắm bắt trọn vẹn từng âm thanh ngoài kia đến vậy. Lúc này, mặt trời cũng dần dần đi vào trạng thái nghỉ ngơi: “Phương Tây đỏ rực như lửa cháy”, “Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”, gam màu sáng, màu nóng nhưng tất cả đều gợi lên sự lụi tàn. Những dãy tre làng trước mặt đen lại cắt hình rõ rệt trên nền trời khiến cho sự ảm đạo bao trùm lên cảnh vật khi bóng tối dần bủa vây xung quanh. Với nhịp điệu chậm, những câu văn giàu tính nhạc tựa như một câu thơ đã vẽ nên khung cảnh yên bình, êm dịu của bức tranh thiên nhiên. Bức tranh hoàng hôn đẹp, mơ mộng, yên ả nhưng đậm nỗi u buồn, ảm đạm.

    Bên cạnh bức tranh thiên nhiên, Thạch Lam còn đưa những nét vẽ của mình hướng đến bức tranh sinh hoạt của con người. Ông nắm lấy khung cảnh của một buổi chợ đã tàn. Người ta thường nói rằng, muốn biết cuộc sống nơi đó ra sao, chỉ cần đến chợ là sẽ biết. Và Thạch Lam cũng làm như vậy. Khung cảnh khu chợ sau buổi họp hiện lên tiêu điều, xơ xác. Âm thanh náo nhiệt, ồn ã đã biến mất, giờ chỉ còn lại cái tĩnh lặng bao trùm. Chỉ còn một vài người bán hàng về muộn ở lại dọn hàng, họ trò chuyện vội vã với nhau vài câu. Trên nền chợ chỉ còn lại rác rưởi, vỏ thị, vỏ bưởi,… Những đứa trẻ con nhà nghèo ở ven chợ cúi lom khom trên mặt đất, đi tìm tòi, nhặt nhạnh những thanh nứa thanh tre hay bất cứ những gì còn sót lại… cảnh tình của chúng thật đáng thương, tội nghiệp. Mẹ con chị Tí ngày mò cua, bắt ốc, đêm lại dọn hàng nước bán, dù đã chăm chỉ làm lụng nhưng vẫn không đủ sống. Bà cụ Thi điên nghiện rượu, lúc nào cũng chìm trong hơi men, xuất hiện cùng tiếng cười khanh khách,… Còn chị em Liên cũng coi giữ một cửa hàng tạp hóa nhỏ, bán những vật dụng đơn giản cho những khách hàng quen thuộc. Liên, An mới chỉ là những đứa trẻ nhưng chúng đã tham gia vào công cuộc mưu sinh. Cuộc sống của những người dân nơi đây quẩn quanh, nhàm chán, họ đại diện cho những kiếp sống mòn, sống mỏi. Trong sâu thẳm họ vẫn luôn khao khát, đợi chờ một điều gì đó tươi sáng hơn cho cuộc sống, nhưng còn mơ hồ, không rõ ràng.

    Nổi bật nhất trong bức tranh đó chính là tâm hồn tinh tế, nhạy cảm của nhân vật Liên. Cô tinh tế, nhạy cảm trước sự biến chuyển của thiên nhiên trong khoảnh khắc ngày tàn, cảm nhận từng chi tiết bé nhỏ mà quen thuộc với cuộc sống nơi đây: “một mùi âm ẩm bốc lên trộn lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá…”, mùi hương thân quen, đã gắn bó với cuộc sống của cô nhiều nằm. “Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen…” ngắm nhìn khung cảnh, dường như cái trầm buồn, yên tĩnh của thiên nhiên thấm sâu vào tâm hồn non nơi, đầy nhạy cảm của cô. Liên còn là một cô bé có tâm lòng nhân hậu, giàu lòng yêu thương. Đó là sự quan tâm với mẹ con chị Tí, những câu hỏi han ân cần, chứa đựng tình yêu thương, xót xa và ái ngại cho hoàn cảnh gia đình chị. Nghe tiếng cười biết đó là cụ Thi đi, Liên “lẳng lặng rót đầy một cút rượu ty đưa cho cụ” và “đứng sững nhìn theo”¬. Trước hình ảnh những đứa trẻ con nghèo nhặt rác chị động lòng thương nhưng bản thân lại không có tiền cho chúng.

    Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn là đoạn văn giàu chất trữ tình. Chất thơ ấy tỏa ra từ thiên nhiên, từ cảnh vật quê hương bình dị, rất đỗi thân thuộc là tiếng trống thu không, là tiếng ếch kêu ran ngoài đồng,… Chất thơ còn thể hiện trong tâm hồn đầy nhạy cảm, tinh tế của Liên khi cảm nhận về cuộc sống xung quanh. Không chỉ vậy chất thơ còn thấm đượm trong từ câu chữ, những câu văn nhịp nhàng, có tiết tấu, giàu chất nhạc: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào” đã tăng thêm chất trữ tình cho tác phẩm.

    Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn vừa khắc họa được bức tranh thiên nhiên đẹp mà đượm buồn, vừa cho thấy cuộc sống quẩn quanh, bế tắc, nghèo nàn của những con người nơi đây. Đằng sau bức tranh phố huyện ta còn thấy được tình yêu thiên nhiên, cũng như tấm lòng nhân đạo sâu sắc của tác giả: trân trọng nâng niu những số phận và ước mơ đổi đời của họ. Nghệ thuật miêu tả đặc sắc, chất trữ tình thấm đượm cũng là những yếu tố tạo nên sự thành công cho tác phẩm.

    Bài văn mẫu 2

    “Cây bút có biệt tài về truyện ngắn” không ai khác là Thạch Lam. Truyện ngắn của ông hài hòa giữa hai yếu tố hiện thực và lãng mạn “mà vẫn nồng nàn tình quê, nặng lòng với dân tộc”. Bức tranh phố huyện lúc chiều tà trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” là một bức tranh hòa quện giữa hai chất liệu ấy. Lãng mạn bởi cái nhìn tinh tế, hiện thực bởi ngòi bút đặc tả khung cảnh thiên nhiên và con người ở nơi đây.

    Ngay từ khi còn nhỏ Thạch Lam sống ở quê ngoại là phố huyện Cẩm Giàng- Hải Dương, có điều kiện tiếp xúc với nơi thôn dã nên trong tác phẩm của ông luôn chất chứa cảnh làng quê có hình bóng những con người nghèo khổ.

    Bức tranh phố huyện lúc chiều tà trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ” được nhà văn như đứng từ xa quan sát bao trùm lên tất cả để khắc họa lại một cách chân thực về cuộc sống nơi đây từ cảnh vật hắt hiu lúc hoàng hôn với âm thanh, không khí, ánh sáng cho đến những con người nhỏ bé mưu sinh. “Ông có một ngòi bút lặng lẽ, điềm tĩnh vô cùng, ngòi bút chuyên tả tỉ mỉ những cái rất nhỏ và đẹp”.

    Nhà văn miêu tả khung cảnh hoàng hôn của phố huyện bắt đầu bằng tiếng trống thu không, vang vọng rời rạc từng tiếng một báo hiệu giờ khắc của ngày tàn, điểm khắc cho trời sắp tối. Câu văn mở đầu dịu dàng như lời bài thơ gợi ra không khí ảm đạm nơi phố huyện nhỏ. Không chỉ vậy len lỏi là tiếng động của làng quê: “văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”, tiếng “muỗi đã bắt đầu vo ve” khi chập choạng chiều tối. Những âm thanh ấy gợi cảm giác buồn tẻ, tĩnh lặng mang đậm chất dân dã nông thôn. Phải là một con người nhạy cảm, yêu quê hương và có cái nhìn tinh tế, sâu sắc mới có thể lắng mình cảm nhận những điều bình dị như thế.

    Màu sắc của bầu trời, của cảnh vật nơi đây là màu đỏ rực như lửa cháy, màu hồng như hòn than sắp tàn của đám mây cho thấy một ngày đã qua đi bóng tối bắt đầu lan dần bởi màu đen của dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời. Cách so sánh độc đáo với hình ảnh so sánh cụ thể, nổi bật đặc tả màn đêm buông xuống bao trùm lên tất cả.

    Bóng đêm bao phủ “Các nhà đã lên đèn” những ánh sáng chẳng phải rực rỡ, chói lóa như chốn thị thành, nó là cái “đèn treo trong nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu, và đèn dây sáng xanh trong hiệu khách…” những ánh sáng ấy thật yếu ớt như đưa con người ta vào thế giới hư hư thực thực một bên sáng một bên tối.

    Mùi vị thì sao? Một mùi ẩm mốc bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với của cát bụi quen thuộc quá cái mùi của quê hương, của đất mẹ nghèo khó. Ống kính của nhà văn lia gần xuống dưới mặt đất là những rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía. Tất cả đều được nhà văn thu vào ống kính quay phim.

    Bức tranh thiên nhiên lúc phố huyện hoang vắng, hiu hắt nhưng cũng rất gợi cảm, thơ mộng được nhà văn khắc họa bởi những câu văn êm dịu, giọng điệu chậm rãi, nhẹ nhàng mà thấm đẫm nỗi buồn của con người trước cảnh ngày tàn.

    Thiên nhiên buồn nhưng đượm chất trữ tình còn bức tranh cuộc sống con người lúc chiều tà như thế nào? Họ là những kiếp người tàn. Những con người nhỏ bé và nghèo khó như chị em Liên. Liên và An_hai con người đầu tiên xuất hiện trong cảnh chiều muộn với một tâm trạng “buồn man mác” bởi cảnh vãn chợ chiều cô quạnh. Chị em cô được mẹ giao cho trông nom cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu bán mấy đồ vặt vạnh, thu nhập cũng chẳng đáng là bao chỉ mong giúp chút ít gia đình qua đi lúc khó khăn khi cha cô bị mất việc, cả nhà phải bỏ Hà Nội về quê sống. Thạch Lam đã mạnh dạn đi sâu vào thế giới nội tâm của nhân vật Liên_trung tâm của truyện. Cái buồn của cô gái mới lớn “thấm thía vào tâm hồn ngây thơ”, lòng buồn man mác trước giờ khắc ngày tàn. Cậu bé An vẫn hồn nhiên như cái tuổi đời của trẻ thơ. Ngòi bút ông đã khơi sâu vào thế giới bên trong của nhân vật.

    Những con người quen thuộc của chị em Liên cũng được nhà văn để tâm khắc họa. Họ cũng khổvà nghèo như Liên. Đó là mẹ con chị Tí ngày mò cua bắt tép trong bùn lầy nước đục, tối đến trông chờ vào gánh nước chè dưới gốc cây bàng để bán cho những người phu gạo, phu xe, mấy chú lính lệ hay người nhà thầy thừa thi thoảng cao hứng vào uống chén nước, hút điếu thuốc lào. Họ cũng chẳng dư giả hơn chị là bao. Thực sự đó không phải là sống mà là cầm cự để duy trì sự tồn tại trong vô vọng. Bởi con người ta quá vất vả cho miếng cơm manh áo.

    Ngòi bút nhân đạo của Thạch Lam đã góp thêm cho số phận một mảnh đời tàn tạ với hình ảnh bà cụ Thi_ “một bà già hơi điên vẫn mua rượu ở hàng Liên”. Con người ấy nửa tỉnh nửa say, nửa lành nửa bệnh bà từ bóng tối đi vào cửa hàng Liên để uống rượu rồi lại “đi lần vào bóng tối, tiếng cười khanh khách nhỏ dần về phía làng”. Dù chỉ xuất hiện qua vài câu văn nhưng con người ấy để lại cho ta nhiều ám ảnh. Hình ảnh đó đã gieo vào sâu thẳm trong lòng người đọc một sự băn khoăn, sự thương cảm xót xa về một cảnh đời lầm lũi trong bóng tối, bế tắc và tuyệt vọng.

    Đó còn là hình ảnh của mấy đứa trẻ con nhà nghèo, chúng cũng chạc tuổi như Liên và An vậy nhưng đã phải “lom khom” nhặt nhạnh thanh nứa, thanh tre hay bất cứ thứ gì còn dùng được của người bán hàng bỏ lại. Từ láy lom khom cho thấy sự cơ cực của trẻ con nơi này đáng lẽ ở cái tuổi ấy chúng phải được vui chơi, được nô đùa thì lại phải đầu tắt mặt tối vất vả. Tuổi thơ của chúng chỉ toàn là sự nghèo khó. Thạch Lam qua các hình ảnh ấy đã lên án xã hội hiện thực chưa thực sự quan tâm đến đời sống của nhân dân đặc biệt là về quyền trẻ em. Ông cũng như biết bao độc giả luôn mong muốn cho các em có được một cuộc sống ấm no, được học hành và được vui chơi. Trong xã hội ngày nay dù đất nước đã phát triển hơn rất nhiều nhưng ở đâu đó vẫn có những đứa trẻ bất hạnh phải chịu nhiều thiệt thòi mong được sự quan tâm, giúp đỡ của cộng đồng.

    Nhà văn Thạch Lam như nhà quay phim tài ba đã tái hiện lại khung cảnh phố huyện lúc chiều tà, từng câu văn của ông như ống kính lia chậm tỉ mỉ, quan sát tất cả cảnh vật và con người trong nhịp sống nơi đây. Đồng thời ông cũng giống như một họa sĩ tài năng vẽ lên bức tranh ngày tàn có những kiếp sống leo lét như ánh đèn đêm. Ông cũng là một nhà tâm lí tài giỏi am hiểu thế giới nội tâm của nhân vật. Liên một cô bé nhạy cảm có tấm lòng nhân hậu hiếm thấy cô thương cho gia đình mình, thương cho những kiếp người tàn tạ quanh mình. Qua đó cho thấy tình cảm chân thành của nhà văn dành cho những con người có số phận nghèo khổ, tội nghiệp.

    Những câu văn lãng mạn với bút pháp trữ tình đan xen chất hiện thực trong truyện ngắn, văn phong nhẹ nhàng, thanh thoát đã vẽ nên bức tranh chiều tà ở phố huyện bằng chất liệu ngôn từ gợi lên sự nghèo đói, khó khăn, tiêu điều đến thảm hại. Bức tranh ấy đã để lại cho người cảm nhận có nhiều dư vị, băn khoăn và trăn trở về cuộc sống của những người dân nghèo.

  • 2 bài Dàn ý Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    2 bài Dàn ý Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    2 bài Dàn ý Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Cảm nhận về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bức tranh phố huyện lúc chiều tàn trong tác phẩm Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Dàn ý mẫu 1

    I. Mở bài
    – Đôi nét về tác giả Thạch Lam và truyện ngắn Hai đứa trẻ: Thạch Lam là một cây bút viết truyện ngắn tài hoa xuất sắc. Hai đưa trẻ là một trong những truyện ngăn tiêu biểu của ông
    – Cảm nhận chung về bức tranh phố huyện lúc chiều tàn: Đây là bức tranh giàu ý nghĩa

    II. Thân bài
    Bức tranh Phố huyện vào thời điểm chiều tàn được vẽ nên bằng sự hòa phối giữa con người và cảnh vật, đó là khung cảnh ngày tàn, cảnh chợ tàn cùng những kiếp người nhỏ bé và đặc biệt nữa là tâm trạng của Liên trước thời khắc của ngày tàn:
    1. Khung cảnh ngày tàn
    – Âm thanh:
    + Tiếng trống thu không: Tiếng trống khép lại một buổi chiều quê lặng lẽ
    + Tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng.
    + Tiếng muỗi vo ve.
    ⇒ Âm thanh xuất hiện dường như lại càng nhấn mạnh cho sự tĩnh lặng của buổi chiều tàn
    – Hình ảnh, màu sắc:
    + “Phương tây đỏ rực như lửa cháy”,
    + “Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”.
    ⇒ Màu sắc đẹp nhưng gợi lên một buổi chiều tàn lặng lẽ ảm đạm
    – Đường nét: dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời.
    ⇒ Bức hoạ đồng quê quen thuộc, bình dị, thơ mộng, gợi cảm, mang cốt cách Việt Nam.
    – Nhịp điệu chậm, giàu hình ảnh và nhạc điệu
    ⇒ Khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, đồng thời thấy được sự cảm nhận tinh tế
    2. Cảnh chợ tàn và những kiếp người nơi phố huyện
    – Cảnh chợ tàn cộng hưởng với khung cảnh thiên nhiên ngày tàn
    + Chợ đã vãn từ lâu, người về hết và tiếng ồn ào cũng mất
    + Chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía.
    ⇒ Khung cảnh buồn, tàn tạ, trống vắng, quạnh hiu
    – Con người:
    + Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhanh những thứ còn sót lại ở chợ: dường như gánh nặng cuộc đời cũng đè lên đôi vai chúng
    + Mẹ con chị Tí: với cái hàng nước đơn sơ, vắng khách.
    + Bà cụ Thi: hơi điên đến mua rượu lúc đêm tối rồi đi lần vào bóng tối.
    + Bác Siêu với gánh hàng phở – một thứ quà xa xỉ.
    + Gia đình bác xẩm mù sống bằng lời ca tiếng đàn và lòng hảo tâm của khách qua đường.
    ⇒ Cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ: sự tàn lụi, sự nghèo đói, tiêu điều của phố huyện nghèo.
    3. Tâm trạng của Liên trước thời khắc ngày tàn
    – Cảm nhận rất rõ: “mùi riêng của đất, của quê hương này” từ tâm hồn nhạy cảm
    – Cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn tạ: gợi cho Liên nỗi buồn thậm thía
    – Động lòng thương những đứa trẻ nhà nghèo nhưng chính chị cũng không có tiền mà cho chúng.
    – Xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu.
    ⇒ Liên là một cô bé có tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người. Đây cũng là nhân vật mà Thạch Lam gửi gắm tâm tư của mình
    ⇒ Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn được Thạch Lam xây dựng trong tác phẩm mang vẻ trầm buồn hiu hắt của một vùng quê nghèo mà con người luôn quẩn quanh, tẻ nhạt nhưng đồng thời gửi gắm bao suy tư của tác giả về quê hương xứ sở

    III. Kết bài
    – Đánh giá chung về những nét đặc sắc nghệ thuật làm nên thành công trong việc xây dựng bức tranh phố huyện lúc chiều tàn nói chung và toàn truyện ngắn nói riêng
    – Trình bày một vài cảm nhận cá nhân

    Dàn ý mẫu 2

    Mở bài

    Thạch Lam là hiện tượng đặc biệt trong văn học lãng mạn 1930-1945. Ông sở trường về truyện ngắn. Văn phong của Thạch Lam trong trẻo, nhẹ nhàng, gợi cảm. Và đằng sau những trang văn tinh tế đầy cảm xúc ấy là tấm lòng trắc ẩn đối với những kiếp người nghèo khổ trong xã hội cũ.

    Hai đứa trẻ là một trong những truyện ngắn xuất sắc của Thạch Lam. Thiên truyện được in trong tập truyện ngắn Nắng trong vườn (1938). Truyện không có cốt truyện mà chỉ là thế giới tâm hồn của hai đứa trẻ Liên và An thay mẹ trông coi một gian hàng xén, đêm đêm thức đợi chuyến tàu từ Hà Nội về.

    Hiện thực cuộc đời buồn tẻ, vô vọng ở phố huyện nhỏ được thể hiện qua bức tranh cảnh vật và bức tranh nhân thế.

    Thân bài

    – Bức tranh cảnh vật lúc chiều tối
    Tác giả chọn thời khắc hoàng hôn – ngày tàn. Cảnh mỗi lúc một tối hơn. Ánh sáng lụi tàn dần. Bóng tối bắt đầu lan tỏa khắp nơi; trên cái chòi, đám mây và lũy tre làng và bao trùm lên cảnh vật, gợi lên từ âm thanh của tiếng trống thu không u vang ra từng tiếng để gọi buổi chiều, gợi lên từ màu sắc: Phương Tây đồ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn.

    Đó là cảnh vật phố huyện nghèo nàn, xơ xác tiêu điều: tiếng muỗi vo ve, tiếng ếch nhái kêu ra, cảnh chợ tàn, trên nền đất chỉ còn rác rưởi, một miền đất như đang lụi tàn trong quên lãng.

    – Bức tranh nhân thế
    Trong cảnh xơ xác, tiêu điều ngập đầy dần bóng tối là những cuộc đời đầy bóng tối: Những đứa trẻ nghèo vờ vật trong buổi chiều tàn. Mẹ con chị Tí ngày mò cua bắt tép, tối lại đội cái chõng tre tàn ra sân ga bày bán với một hi vọng còm cõi như chõng hàng của chị. Bà cụ Thi xuất hiện trong bóng tối và trở về cùng đi lần vào bóng tối… Thấp thoáng sau họ là một bà cụ mosm phải cho thuê bớt một gian hàng ọp ẹp, một người cha mất việc. Bao quanh họ là những đồ vật tàn: những tấm phên nứa dán nhật trình, cáo chõng sắp gãy…

    Tất cả những con người ấy sống đơn điệu từ ngày này qua ngày khác. Nhịp sống lặp đi không thay đổi nói lên cái mòn mỏi, vô nghĩa của kiếp người trong xã hội cũ. Con người không chỉ chịu đựng cuộc sống nghèo mà còn phải chịu đựng cuộc sống uể oải, nhàm chán.
    Nhưng nhân vật của Thạch Lam dường như còn mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ của họ. Họ chờ đợi cái gì không rõ, chỉ thấy nỗi lòng thương xót của nhà văn.

    – Nổi bật trong bức tranh phố huyện mù tối ấy là hai đứa trẻ, đặc biệt là cô bé Liên
    Nhân vật Liên trong thời khắc chiều tối gây ấn tượng cho người đọc ở sự nhạy cảm và chiều sâu tâm hồn: cảnh thiên nhiên trong ánh nắng chiều lặng trầm và u uất làm Liên buồn man mác trước thời khắc của ngày tàn. Liên thương những đứa trẻ nhặt rác ở bãi chợ.

    Nhà văn như hóa thân vào nhân vật để day dứt về kiếp sống vô nghĩa, lụi tàn.

    – Những nét đặc sắc trong nghệ thuật miêu tả của tác gỉa.
    Hai đứa trẻ là truyện ngắn giàu chất thơ:
    Chất thơ tỏa ra từ cảnh vật quê hương: không gian chiều là không gian quen thuộc, cảnh bình dị nhưng giàu sức gợi. Mùi vị quê hương hiện lên chân thực và thú vị.

    Chất thơ tỏa ra từ bức tranh đời sống u buồn, hiu hắt.

    Chất thơ còn tỏa ra trong cách tác giả miêu tả hồn người, tác giả tinh tế trong việc nắm bắt những rung cảm mơ hồ trong tâm hồn nhân vật.

    Hệ thống lời văn, hình ảnh góp phần làm ngôn ngữ miêu tả của tác phẩm đầy chất thơ

    Kết bài
    Đằng sau bức tranh phố huyện, đằng sau những kiếp người mòn mỏi là tư tưởng nhân đạo của tác giả. Đó là lòng yêu nhân ái, nỗi day dứt trước những cuộc đời đơn điệu, nặng nề. Là tâm hồn tinh tế, đồng cảm với nỗi khổ và khao khát ánh sáng của họ.
    Nghệ thuật miêu tả đặc sắc của tác giả góp phần thành công cho thiên truyện.

  • 3 bài văn mẫu Cảm nhận về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    3 bài văn mẫu Cảm nhận về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    3 bài văn mẫu Cảm nhận về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận về truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Đôi nét về tác giả Thạch Lam: Cây bút tiêu biểu trong Tự lực văn đoàn, môt cây bút xuất sắc ở mảng truyện ngắn
    – Trình bày những cảm nhận khái quát nhất về tác phẩm Hai đứa trẻ: Tác phẩm đem đến niềm xót thương và nỗi buồn man mác trước cuộc sống con người

    II. Thân bài
    1. Cảm nhận về bức tranh phố huyện
    a. Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn
    – Bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện lúc chiều tàn được khắc họa với đầy đủ âm thanh, màu sắc…
    – Cảnh chợ tàn: Chợ đã vãn, chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi vỏ thị… ⇒ Cảnh chợ tàn: sự tàn lụi, sự nghèo đói, tiêu điều của phố huyện nghèo.
    b. Bức tranh phố huyện lúc đêm khuya
    – Phố huyện về đêm ngập chìm trong bóng tối
    ⇒ Bóng tối xâm nhập, bám sát mọi sinh hoạt của những con người nơi phố huyện.
    – Ánh sáng của sự sống hiếm hoi, bé nhỏ ⇒ ánh sáng yếu ớt, le lói như những kiếp người nghèo khổ nơi phố huyện.
    – Ánh sáng và bóng tối tương phản nhau
    c. Phố huyện khi đoàn tàu đi qua
    – Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với dấu hiệu với : “ngọn lửa xanh biếc”, “tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi.”
    – Khi tàu đến: các toa đèn sáng trưng, sang trọng, của kính sáng, đem đến 1 thế giới khác
    – Khi tàu đi vào đêm tối: Để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt., xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
    ⇒ Đoàn tàu xuất hiện với âm thanh sôi động và ánh sáng rực rỡ, mang đến phố huyện nghèo một thế giới khác, đó là thế giới mà Liên luôn mong ước
    2. Cảm nhận về con người phố huyện
    a. Lúc chiều tàn
    + Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhanh những thứ còn sót lại ở chợ.
    + Mẹ con chị Tí: với cái hàng nước đơn sơ, vắng khách.
    + Bà cụ Thi: hơi điên đến mua rượu lúc đêm tối rồi đi lần vào bóng tối.
    + Bác Siêu với gánh hàng phở – một thứ quà xa xỉ.
    + Gia đình bác xẩm mù sống bằng lời ca tiếng đàn và lòng hảo tâm của khách qua đường.
    ⇒ Cuộc sống nghèo khổ lặp đi lặp lại
    b. Khi đêm xuống
    – Đời sống của những kiếp người nghèo khổ trong bóng tối:
    + Chị Tí dọn hàng nước
    + Bác Siêu hàng phở thổi lửa.
    + Gia đình Xẩm “ngồi trên manh chiếu rách, cái thau sắt để trước mặt”, “Góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong im lặng”
    + Liên, An trông coi cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu.
    ⇒ Cuộc sống nhàm chán, quẩn quanh, đơn điệu không lối thoát.
    ⇒ Giọng văn: chậm buồn, tha thiết thể hiện niềm cảm thương của Thạch Lam với những người nghèo khổ.
    3. Cảm nhận vẻ đẹp nhân vật Liên
    – Cô bé có tâm hồn nhạy cảm: Tâm trạng của Liên trước thời khắc ngày tàn
    – Cô bé có tình yêu quê hương: Cảm nhận rất rõ: “mùi riêng của đất, của quê hương này”.
    – Cô bé có tấm lòng trắc ẩn: Nỗi buồn thấm thía trước cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn tạ
    – Cô bé giàu ước mơ, mộng tưởng: Mơ về hà Nội xa xăm và ước mong một điều gì tốt đẹp hơn
    ⇒ Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người. Đây cũng là nhân vật mà Thạch Lam gửi gắm tâm tư của mình

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại những thành công về mặt nghệ thuật trong việc thể hiện nội dung văn bản
    – Tác phẩm gửi gắm nhiều nỗi niềm của Thạch Lam về quê hương xứ sở

    Bài văn mẫu 1

    Chạm đến những trang văn của Thạch Lam người đọc sẽ cảm nhận được cái tinh tế, cái dịu dàng trong từng câu chữ ở mỗi tác phẩm của ông. Truyện của Thạch Lam là như vậy, ông không tìm đến những gì siêu tục, những mâu thuẫn gay cấn, ông tìm về cuộc sống đời thương dung dị, lách sâu ngòi bút vào từng tâm hồn con người, từng cảnh ngộ để phát hiện, để trân trọng, nâu niu những khao khát bé nhỏ của họ. Đọc Hai đứa trẻ cũng đem đến cho người đọc những rung cảm như vậy, gấp trang sách ta vẫn còn bị lay động mãi không thôi bởi ước mơ đổi đời của những con người sống nơi phố huyện.

    Tác phẩm bắt đầu bằng khoảnh khắc ngày tàn khi tiếng trông thu không vang lên từng tiếng một báo hiệu một buổi chiều đã về, khi phương tây ánh mặt trời đỏ rực như lửa cháy, khoảnh khắc của ngày tàn dần bao trùm lên không gian và cảnh vật. Khung cảnh ấy thật nên thơ mà cũng đượm buồn, có điều gì đó tha thiết, khắc khoải trong từng câu chữ: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Nhịp văn êm ái như chính nhịp sống chậm rãi, trầm buồn của cuộc sống con người nơi đây. Chẳng mấy chốc bóng tối đã phủ kín lối, tối đen hết cả con đường trong ngõ, con đường ra sông. Bấy giờ là lúc ngàn vì sao lấp lánh hiện lên bầu trời. Những vì tinh tú ở trên trời, những đốm sáng lập lèo của những con đom đóm ở mặt đất hòa cùng một điệu phần nào xua đi cái tăm tối của cuộc sống nơi đây. Bức tranh nên thơ, phác những nét rất mỏng, rất nhẹ, thấm đượm nỗi buồn. Là nỗi buồn của con người sang cảnh vật, hay của cảnh vật sang con người. Có lẽ là cả hai, chúng hòa vào với nhau làm bật lên nỗi buồn, sự quạnh hiu của cuộc sống nơi đây.

    Trong bầu không khí bẳng lảng bóng chiều, hay khi màn đêm đã buông xuống là những con người, là những kiếp người nhỏ bé, lay lắt sống ở phố huyện lần lượt hiện ra. Ta thấy hình bóng những đứa trẻ đang cặm cụi nhặt những thứ phế phẩm còn vương lại trên mặt đất sau buổi họp chợ. Ta thấy gia đình chị Tí bán hàng nước cặm cụi sống qua ngày, với những vị khách quá đỗi quen thuộc, dù “sớm với muộn mà có ăn thua gì”. Ta cảm nhận thấy trong câu nói cả sự bất lực, buông xuôi, nhưng chị vẫn đi vì vẫn không thôi hi vọng. Không chỉ vậy, ta còn thấy gia đình bác Siêu với gánh phở là thứ quà sa sỉ đối với đời sống nơi đây và tiếng cười khanh khách đầy ảm ảnh của bà cụ Thi điên,… Như một thước phim quay chậm, Thạch Lam đã lần lượt, từng chút một cho chúng ta thấy cuộc sống của những con người nơi đây: chậm chãi, nhàm chán và bế tắc.

    Nhưng trong khung cảnh ấy nổi bật lên là cuộc sống của hai chị em nhà Liên và An. Liên và An vốn ở thành thị, nhưng gia đình gặp biến cố nên đã chuyển về đây sinh sống. Mẹ cô thuê một cửa hàng nhỏ để hai chị em trông coi, kiếm thêm đồng ra đồng vào. Liên – cô gái mới lớn, nhạy cảm, tinh tế và mang trong mình những khao khát mãnh liệt về tương lai. Cái nhạy cảm của người con gái ấy được thể hiện ở rất nhiều cảnh huống khác nhau, khi là cái buồn man mác trước thời khắc của ngày tàn, khi là nỗi thương thầm kín với những đứa trẻ nhặt rác nhưng chị cũng không thể giúp chúng, lúc lại là niềm cảm thông với gia cảnh nghèo khó của chị Tí,… Đặc biệt tâm hồn ấy còn được tô đậm khi chị ngồi lặng im trong bóng tối, và cảm nhận những sự vận động tế vi đã diễn ra xung quanh mình: “Qua kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tầm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Trong bóng đêm ấy, Liên vẫn không ngừng đưa mắt tìm kiếm, dõi theo những luồng ánh sáng khác nhau: là ánh sáng xa xôi của những ngôi sao, là ánh sáng của những con đom đóm,… và chính cô bé cũng mơ hồ không hiểu hết những cảm xúc của mình. Phải chăng, trong vô thức, trong tận cùng tâm hồn cô vẫn luôn khao khát, vẫn luôn hướng về tương lai tươi sáng, rực rỡ phía trước. Và khát khao đó đã được Thạch Lam thể hiện rõ nhất trong cảnh chờ đoàn tàu đi qua phố huyện.

    Đoàn tàu qua phố huyện là hoạt động cuối cùng của đêm, nhưng tất cả mọi người đều chờ đợi khoảnh khắc đoàn tàu đi qua. Tiếng reo vui của bác Siêu: “đèn ghi đã ra kia rồi” hay tiếng Liên gọi em gấp gáp: “dậy đi, An. Tàu đến rồi” tất cả đều một lòng hướng đến sự chuyển động cuối cùng của đêm này. Đoàn tàu đến mang lại những điều cao cả hơn vật chất tầm thương, nó mang đến một thế giới khác, thế giới của ánh sáng, của niềm tin, hi vọng, thế giới của những giấc mơ đổi đời. Thật đáng trân trọng và nâng niu những mơ ước chân thành mà cháy bỏng của họ. Cuộc sống quẩn quanh bế tắc không làm họ mất đi niềm tìn, mong muốn về một cuộc sống khác. Họ lặng lẽ sống qua ngày và nuôi dưỡng mơ ước ấy thông qua thế hệ trẻ (chị em Liên và An). Đối với chị em Liên và An, đoàn tàu còn là biểu tượng cho quá khứ đẹp đẽ, huy hoàng. Thạch Lam đã thật tinh tế khi đã phát hiện những tình cảm cao quý và đẹp đẽ ấy, ông đã lách sâu ngòi bút của mình để phát hiện và trân trọng những mơ ước cao đẹp của con người.

    Hai đứa trẻ là tác phẩm giàu chất thơ, thẫm đẫm chất trữ tình ở khung cảnh thiên nhiên đẹp đẽ, mông mơ mà đượm buồn, ở những cung bậc cảm xúc phong phú trong thế giới nội tâm của Liên. Nghệ thuật đối lập, tương phản giữa ánh sáng và bóng tối vừa cho thây hiện thực cuộc sống của con người nơi đây, vừa cho thấy niềm tin, hi vọng nhỏ bé mà mãnh liệt vào tương lai. Ngôn ngữ giản dị, tràn đầy cảm xúc. Giọng điệu linh hoạt, nhẹ nhàng mà lắng sâu cảm xúc nơi người đọc.

    Những dòng cuối cùng kết thúc tác phẩm, người đọc dường như vẫn chìm đắm trong không gian bàng bạc chất thơ mà buồn da diết. Ta cảm thương cho số phận của những con người nghèo khổ, sống cuộc đời quẩn quanh, bế tắc nơi phố huyện. Nhưng đồng thời ta cũng trân trọng, nâng niu những ước mơ, khát vọng hướng đến tươi lai tốt đẹp của họ. Với tác phẩm này cũng như rất nhiều tác phẩm khác Thạch Lam đã thể hiện tấm lòng nhân đạo và nhân văn sâu sắc của mình đối với con người.

    Bài văn mẫu 2

    Thạch Lam là một cây bút thiên về tình cảm, ông đi sâu vào miêu tả tâm trạng nhân vật. Những truyện ngắn của ông là truyện không có cốt truyện, tiêu biểu là tác phẩm “Hai đứa trẻ” tái hiện lại khung cảnh và cuộc sống nơi phố huyện nghèo Cẩm Giàng-Hải Dương. Ngòi bút của Thạch Lam hướng đến việc khai thác sâu nội tâm nhân vật Liên trước mỗi khoảnh khắc của thời gian, không gian cho thấy tấm lòng “êm mát và sâu kín”, niềm xót thương vô hạn của ông đối với con người nơi đây nói riêng và những kiếp người nông dân nghèo trong xã hội cũ nói chung.

    Tác phẩm “Hai đứa trẻ” rất tiêu biểu cho văn phong nhẹ nhàng, sâu lắng có đan xen yếu tố hiện thực và lãng mạn. Hiện lên trên từng con chữ là bức tranh cuộc sống của những kiếp người tàn sống lay lắt, mù mịt trong bóng tối, quẩn quanh không ánh sáng không tương lai trong xã hội cũ. Nhân vật chính trong truyện là hai chị em Liên, xung quanh họ là những con người cùng cảnh ngộ như mẹ con chị Tí, gia đình bác xẩm, bác phở Siêu, bà cụ Thi điên và những đứa trẻ con nhà nghèo. Cuộc sống của họ cứ lặp đi lặp lại nhàm chán, bế tắc không lối thoát chỉ có chuyến tàu đêm khuya mang đến cho họ ánh sáng và hi vọng.

    Mở đầu là một khung cảnh ngày tàn được Liên_cô bé mang trong mình tâm hồn nhạy cảm thu vào tầm mắt và cảm nhận những âm thanh, hình ảnh báo hiệu một ngày tàn sắp qua, chuẩn bị cho một đêm tối mới cũng giống như bao đêm khác. “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều; phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”. Tất cả đã sẵn sàng cho bóng tối bao trùm. Tâm trạng của con người cũng trở nên buồn bã, hiu quạnh “Chợ họp giữa phố đã vãng từ lâu. Người về hết và tiếng ồn ào cũng mất” giờ đây trên nền đất chỉ toàn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn, lá mía, không khí bốc lên mùi ẩm mốc hòa trộn với mùi của đất mẹ quê hương. Thạch Lam như mượn cái nhìn của Liên để quan sát từ xa đến gần, từ trên cao của bầu trời xuống dưới mặt đất, cảnh chiều tà hiện lên vừa có nét giống như một bức tranh thủy mặc vừa giống như một bài thơ trữ tình nhẹ nhàng, sâu lắng.

    Con người của kiếp ngày tàn hiện lên thật buồn bã đơn điệu. Vẫn là mẹ con chị Tí hằng ngày dọn hàng dưới gốc cây bàng, ở ngoài chợ chỉ còn lại đám trẻ con nhà nghèo đang nhặt nhạnh những thứ còn dùng được mà người bán hàng bỏ lại. Bà cụ Thi điên vẫn lầm lũi đi vào trong bóng tối với tiếng cười khanh khách. Còn chị em Liên cũng chỉ là trông gian hàng tạp hóa nhỏ xíu, bán những đồ lặt vặt để phụ giúp gia đình mà chẳng đáng là bao. Biết bao những kiếp người như vậy họ đã sống trong bóng tối, tù túng từ bấy lâu. Đến đây ta chợt nhớ đến những câu thơ của Huy Cận trong bài “Quẩn quanh”:
    “Quanh quẩn mãi giữa vài ba dáng điệu
    Tới hay lui cũng chừng ấy mặt người
    Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười
    Môi nhắc lại chỉ có ngần ấy chuyện”

    Liên quan sát tất cả cảnh vật và con người để rồi giờ đây “Liên ngồi yên lặng bên mấy quả thuốc sơn đen; đôi mắt chị bóng tối ngập dần dần và cái buồn của buổi chiều quê thấm thía vào tâm hồn ngây thơ của chị. Liên không hiểu sao nhưng chị thấy lòng buồn man mác trước cái giờ khắc của ngày tàn”. Là do cảnh chiều tàn ảm đạm hiu quạnh khiến cho Liên buồn hay “Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”?

    Khi màn đêm buông xuống phố huyện nhỏ chìm trong bóng tối “Tối hết cả con đường thăm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại càng sẫm đen hơn nữa”. Cả phố huyện giờ đây thu lại ở gánh hàng chị Tí, những ánh sáng leo lét yếu ớt của vài nhà còn thức hé ra một khe sáng, ngôi sao lấp lánh trên bầu trời, hay ánh đèn gánh phở bác Siêu, hột sáng thưa thớt của chị em Liên không thể chiến thắng nổi bóng tối dày đặc. Tưởng chừng như nó làm sáng lên cho phố huyện nhưng chỉ làm làm cho đêm tối càng thêm tối hơn. Những con nghèo khổ vẫn lặp đi lặp lại hàng ngày như thế. Quẩn quanh đó là bác Siêu với gánh phở còn ế ẩm, gia đình bác xẩm vẫn ngồi đợi những giọt hạnh phúc rơi với cái thau còn trống trơ, đứa con thì bò ra khỏi manh chiếu rách nhặt những rác bẩn vùi trong cát bụi bên đường, chị Tí vẫn mong ngóng khách tới. Còn Liên mơ hồ nhớ về Hà Nội xa xưa một thời cô và gia đình còn sống ở đó, từ khi cha bị mất việc buộc phải về nơi đây sinh sống. Thể xác ở thực tại nhưng tâm hồn gửi về quá khứ tươi đẹp để rồi cái buồn càng thấm sâu vào trong tâm trí Liên.

    Về khuya là lúc con người ta chìm sâu vào giấc ngủ nhưng Liên, An cùng tất cả những người nơi phố huyện họ đều cố thức để đợi chuyến tàu đi qua. Phải chăng mẹ dặn là để bán được hàng? Thực tế Liên không hi vọng ai mua nữa có chăng chỉ là mua bao diêm hay gói thuốc lá là cùng. Không phải ngẫu nhiên mà Thạch Lam đi sâu vào tâm trạng của Liên ở khoảnh khắc chiều tà và khi về đêm, tất cả đều có lí của riêng nó. Ở đây nhà văn lấy đó làm nền và lí giải vì sao tâm trạng háo hức mong chờ tàu qua của mọi người nơi đây đến vậy. Bởi họ hi vọng ở một tương lai có ánh sáng tốt đẹp hơn, họ mong muốn thoát khỏi bóng tối mù mịt và thực tại nghèo khổ. Lời nhận xét của Thạch Lam nghe mà chua xót, buồn rầu: “chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng hơn cho sự sống ghèo khổ hằng ngày của họ”.

    Và chỉ có chuyến tàu đêm mới làm được điều đó. Khi viết những dòng này chắc hẳn Thạch Lam cũng thương cảm, xót xa vô cùng cho số phận của họ. Chính lòng nhân ái và vẻ đẹp tâm hồn ông quán xuyến chi phối mạch viết của tác phẩm.

    Liên dù đã buồn ngủ ríu cả mắt vẫn cố thức đợi tàu, An đã lim dim chìm vào giấc ngủ vẫn cố nhắc chị “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé”. Đúng là với thực tại hoàn cảnh cuộc sống nơi phố huyện con tàu đến như một giấc mộng đem lại cho những con người nghèo khổ kia ánh sáng khác hẳn nơi gánh hàng chị Tí “các toa đèn sáng trưng chiếu ánh cả xuống đường”, “đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng” rồi những đốm lửa đỏ rực đó là thế giới của thần tiên xa lạ và một ước mơ xa xôi khó trở thành hiện thực nhưng họ vẫn cố bám víu dù chỉ là chút ít hi vọng, dù cho đó chỉ là một niềm an ủi trong chốc lát cho cuộc đời cơ cực tăm tối của họ. Đối với An và Liên đoàn tàu vô cùng có ý nghĩa nó trở thành niềm say mê của hai chị em khi sống ở đây vì nó đã cuốn di tất cả sự phẳng lặng, tẻ nhạt của cuộc sống phố huyện và gợi nhớ cho hai chị em về khoảng thời gian hạnh phúc, vui tươi sống ở Hà Nội huyên náo nhộn nhịp phố phường. Liên và An đón nhận và cảm nhận đoàn tàu như rất sâu sắc và thỏa mãn tấm lòng, niềm yêu thích say mê của con trẻ. Khi đoàn tàu đi xa thì hai chị em nuối tiếc đứng nhìn mãi cho đến khi chiếc đèn treo khuất dần sau rặng tre. Mọi thứ lại trở về với nhịp điệu cũ, con người chìm vào giấc ngủ say. Chuyến tàu mang đến niềm tin hi vọng, gợi nhắc về quá khứ, xóa tan đi thực tại tăm tối vừa mang đến niềm vui niềm hạnh phúc cho Liên và nhũng người nơi phố huyện nhưng sự thoáng qua nhanh chóng ấy càng làm cho cô nhận thức rõ hơn về sự tù túng của cuộc sống phủ đầy bóng tối của phố huyện nghèo nàn.

    “Hai đứa trẻ” đúng là một truyện không có chuyện tất cả chỉ là tâm trạng của Liên được đặc tả dưới ngòi bút thân thương, trân trọng của Thạch Lam. “Cây bút biệt tài chuyên về truyện ngắn” thể hiện được tài năng của mình, trong truyện của ông vừa tái hiện được thực tại cuộc sống nghèo khổ của ở phố huyện vừa mang chất lãng mạn khi tả cảnh thiên nhiên. Qua đó nhà văn vừa lên án, tố cáo xã hội cũ vừa mang tấm lòng nhân đạo, nhân văn cao cả. Thạch Lam trân trọng những khao khát, ước mơ, hi vọng nhỏ nhoi của những người nghèo khổ. Qua đó để lại cho ta bài học về sự hi vọng và niềm tin vào một ngày mai tươi sáng.

  • 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về Lòng bao dung

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về Lòng bao dung

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về Lòng bao dung

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử

    [toc]

    Đề bài:Nghị luận xã hội về Lòng bao dung

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề: Tạo hóa luôn ban tặng cho con người biết bao đức tính tốt đẹp
    – Nêu vấn đề nghị luận: Lòng bao dung là một đức tính quý giá mà mỗi người cần có để hoàn thiện nhân cách bản thân

    II. Thân bài
    1. Giải thích thế nào là bao dung?
    – Bao dung là có tấm lòng rộng mở, đại lượng, luôn tha thứ cho lỗi lầm của người khác
    – Lòng bao dung là một đức tính tốt đẹp và quý bàu để con người trở nên “người” hơn

    2. Tại sao phải có lòng bao dung
    – Mỗi người ai cũng từng mắc sai lầm và chính vì lẽ đó chúng ta mới phải học cách bao dung
    – Bao dung khiến chúng ta sống đẹp hơn sống nhẹ nhàng, chân thành, cởi mở
    – Bao dung khiến cho mối quan hệ xã hội trở nên tốt đẹp
    – Bao dung còn là cách để an ủi động viên người khác và bản thân sau mỗi lần vấp ngã
    – Bao dung khiến chúng ta nhận được sự kính trọng từ người khác
    – Bao dung khơi gợi bao phẩm chất tốt đẹp khác

    3. Biểu hiện của bao dung
    – Cha mẹ luôn tha thứ cho con cái sau mỗi lần chúng mắc sai lầm, luôn bên cạnh động viên, khích lệ và ủng hộ
    – Pháp luật luôn có sự khoan hồng đối với phạm nhân khi họ cải thiện tốt và nhận ra sai lầm để sửa chữa
    – Bạn bè luôn tha thứ cho nhau khi giận hờn
    – Thầy cô bao dung tha thứ cho những lỗi lầm của học trò nếu như học trò có thiện chí sửa chữa sai lầm đó
    – Hằng năm nhà nước luôn có chính sách khoan hồng, ân xá cho những tù nhân tuy phạm sai lầm nhưng luôn có ý thức cải tạo, nỗ lực trở lại thành một con người lương thiện của đất nước

    4. Làm gì để có lòng bao dung
    – Mỗi người hãy luôn học cách tha thứ và mỉm cười trước khó khăn, bỏ qua mọi chuyện
    – Suy nghĩ mọi thứ theo hướng tích cực,nhìn cuộc đời một cách lạc quan
    – Luôn lắng nghe người khác, thấu hiểu và cảm thông với họ
    – Liên hệ bản thân : Chung ta là học sinh cần bao dung với bạn bè , tah thứ nếu có thể để xây dượng những mối quan hệ tốt đẹp

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề: bao dung là một đức tính cao thượng là cách mỗi người nâng tâm hồn mình cao đẹp hơn
    – Lời nhắn: Hãy luôn sống giàu lòng bao dung và vị tha, hiểu nhau hơn . Nếu con người biết đặt mình vào vị trí của nhau thì xã hội sẽ đẹp tươi biết mấy

    Bài văn mẫu 1

    Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng nói: “Mỗi đêm tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung, nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn chảy đời suối. Đời người cũng để sống và thả trôi đi những tị hiềm”. Đúng vậy, trong cuộc sống của chúng ta rất cần đến lòng bao dung của mọi người. Lòng bao dung là một phẩm chất, một truyền thống đáng quý của người Việt Nam. Lòng bao dung có ý nghĩa thiết thực trong đời sống, nhưng ngày nay không ít người thiếu đi tấm lòng bao dung ấy.

    Vậy lòng bao dung là gì? Theo từ điển “bao dung là tôn trọng, chấp nhận và thấu hiểu sự khác biệt của người khác đối với mình trong phong tục tập quán, quan niệm sống, niềm tin và tôn giáo, chủng tộc và cách thức hành động, chấp nhận cho người khác làm những chuyện mà bản thân mình không tán thành trong một sự giới hạn nhất định để hướng họ tự giác đến sự tốt đẹp”. Bao dung khác với khoan dung. Khoan dung là đức tính rộng lượng, cảm thông cho hoàn cảnh của người khác và tha thứ cho lỗi lầm của họ nhưng khoan dung có thể không bao dung vì những điều họ không tôn trọng, không chấp nhận. Bao dung mang nghĩa rộng hơn khoan dung vì tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt nên họ cũng dễ dàng thứ tha cho sai phạm của người khác.
    Người có lòng bao dung là luôn sống bằng tình yêu thương, sự sẻ chia với mọi người, sẵn sàng tha thứ cho lỗi lầm, sai phạm của người khác. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất trong pháp luật của nước Việt Nam có sự khoan hồng với tội phạm. Con người ta ai cũng có thể mắc sai lầm không lúc này thì lúc khác, ta chẳng biết được ngày mai nên hãy mở rộng tấm lòng bao dung khi họ biết sai, biết hối lỗi để họ có được cơ hội thay đổi và làm lại cuộc đời, hướng họ đến sự tốt đẹp.
    Bao dung có ở mọi lúc mọi nơi trong mọi hoàn cảnh. Bao dung đối với người thân yêu trong gia đình, khi con cái mắc lỗi người làm cha làm mẹ luôn bao dung thứ tha cho lỗi lầm của con, chỉ lỗi sai và hướng cho con làm đúng. Thầy cô luôn bao dung cho sự nghịch ngợm, quậy phá của lũ nhỏ bởi “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, sự bồng bột, hay vi phạm nội quy thầy cô luôn công minh xử phạt để hình thành và phát triển nhân cách đúng hướng cho học sinh. Bao dung là điều không thể thiếu trong tình yêu bởi đó là “điều tuyệt vời nhất của tình yêu. Nó tạo nên một người mạnh mẽ để có thể nói lời xin lỗi và một người mạnh mẽ hơn cả để có thể tha thứ.” Một người luôn hờn dỗi sẽ phải phải có một người bao dung cho tính cách của người ấy, một người có chút vô tâm thì một người phải hiểu và nói để họ sửa. “Sẽ không có tình yêu khi không có sự bao dung, sẽ không có sự tha thứ khi không có tình yêu đích thực”. Bao dung không phải là chỉ có khi bên nhau mà khi đã không còn là gì của nhau cũng cần bao dung tha thứ cho sai lầm của người đã từng thương, không oán trách, không đớn đau có được như vậy mới có thể bước tiến về phía trước bởi “Sự tha thứ không thể làm thay đổi quá khứ nhưng nó có thể mở rộng tương lai”.
    Người có lòng bao dung sẽ ít khi gặp giông bão trong lòng, được sống trong sự thanh thản, nhẹ nhàng bởi chẳng bị cục thù hận đè nén. Người có lòng bao dung sẽ luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn ngay cả đối với người chẳng ưa gì ta, hay hiềm khích với ta nhưng chính tấm lòng bao dung ấy đã cảm hóa những ác cảm, để lại cho họ cái nhìn tốt đẹp về mình. Vì có bao dung nên ta có nhiều mối quan hệ tốt đẹp, được mọi người kính trọng và nể phục. Khi ta gặp khó khăn họ sẵn sàng giúp đỡ như khi mình đã giúp họ. Có bao dung mới hướng ta đến cái đẹp chân, thiện, mĩ trong cuộc sống.
    Tuy nhiên, trong xã hội ngày lòng bao dung bị giá trị của đồng tiền và lối sống thực dung bào mòn và thế chỗ. Con người ta sống ích kỉ, nhỏ nhen, vô cảm hơn khi thấy người khác gặp nạn vẫn ngó mắt làm ngơ vì sợ “Mua dây buộc mình”, im lặng chấp nhận giương mắt nhìn kẻ xấu làm việc xấu mà không tố giác, hay đơn giản là kì thị với người khác vùng miền đặc biệt là người Thanh Hóa. Một số người trong xã hội họ không có thiện cảm với người Thanh Hóa chỉ vì một vài thành phần chưa tốt, ở đâu cũng có người xấu người tốt chẳng riêng đất Thanh Hóa nên đừng phân biệt đối xử bởi chúng ta cùng là người Việt Nam, cùng chung sống trên dải đất hình chữ S yêu thương.

    Người không có lòng bao dung sẽ khó có thể được hạnh phúc bởi vị kỷ cá nhân luôn trú ngụ không có lối cho bao dung tồn tại. Điều đó ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống, nếu trong một xã hội toàn những con người như vậy thì xã hội ấy sớm muộn cũng bị hủy diệt.
    Như vậy, lòng bao dung là điều xưa nay con người ta luôn hướng tới, nó thể hiện tinh thần tốt đẹp và lòng nhân ái của người Việt. Trong bất kì một xã hội nào, cộng đồng nào, thời kì nào, môi trường nào cũng cần có những tấm lòng bao dung để cuộc sống này trở nên nhân văn hướng đến giá trị của cái đẹp, cái thiện đẩy lùi cái ác, cái xấu.

    Bài văn mẫu 2

    Tyler Perry đã từng nói rằng: “Khi bạn không tha thứ cho một ai đó, tức là bạn đang quay lưng lại với tương lai của mình. Khi bạn bao dung, điều đó có nghĩa bạn đang tiến về phía trước”. Quả thật đúng như vậy, trong cuộc sống bộn bề những lo toan, với biết bao điều có thể xảy đến, bao cảm xúc phải trải qua sợ hãi, tức giận, điên cuồng,… thì lòng bao dung là điều vô cùng cần thiết để chúng ta cân bằng cuộc sống, để cho tâm hồn thanh thản và dễ chịu hơn.
    Bao dung là khi biết tha thứ những lỗi lầm của người khác với mình; bao dung là bỏ qua những sai phạm, là cho họ một cơ hội để sửa sai; bao dung không chỉ đối với người khác, mà bao dung còn đối với chính bản thân mình. Bao dung là điều cần thiết trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

    Biểu hiện của lòng bao dung thật phong phú, với muôn hình vạn trạng khác nhau. Bao dung là khi ai đó vô tình dẫm vào chân bạn trên xe buýt, thay vì cáu gắt bạn sẽ nở nụ cười thật tươi để đáp lại. Bao dung là khi bạn bị người khác hiểu nhầm nhưng không tỏ ra tức giận, mà bình tĩnh giảng giải, để cả hai tìm được tiếng nói chung. Bao dung cũng có thể là không chỉ nhìn thấy điểm hạn chế của người khác mà còn thấy cả điểm mạnh, để cổ vũ động viên họ vươn lên trong cuộc sống,…
    Vậy tại sao trong cuộc sống chúng ta cần phải bao dung với mọi người? Mỗi chúng ta là một thực thể vô cùng đa dạng, phức tạp với vô số những xấu tốt, đúng sai. Chẳng ai mãi mãi đúng và cũng không ai mãi mãi sai. Có những lúc ta sai lầm, ta vấp ngã và người khác cũng như vậy. Khoan dung với người khác cũng chính là đang khoan dung với chính mình. Bao dung với người khác còn thể hiện là một người ứng xử có văn hóa, biết nhìn nhận mọi sự việc, vấn đề trong cuộc sống. Bao dung với người khác còn cho thấy bạn là người có trái tim ấm áp, nhân hậu, rộng mở với những người xung quanh. Bởi chỉ khi con người biết mở rộng tấm lòng, nhân ái, bao dung với người khác thì khi ấy bạn mới có thể quên đi những tổn thất, thiệt hại mà người khác gây ra cho chính mình.
    Sống bằng sự bao dung với mọi người xung quanh, sẽ đem lại cho bạn một cuộc sống thoải mái, thanh thản, bởi không phải suy nghĩ về những lầm lỗi của người khác với chính mình. Khi sống trong trạng thái cảm xúc đó nó chẳng khác nào liều thuốc độc giết bạn một cách từ từ mà bạn không hề hay biết. Sống bao dung vị tha còn khiến những người xung quanh luôn yêu quý, kính trọng bạn. Lối sống lành mạnh, tích cực này sẽ lan tỏa đến những người xung quanh. Nếu cả xã hội sống trong sự bao dung vậy thì sẽ tốt biết bao, sẽ không còn chiến tranh, bạo loạn, cãi vã, chỉ còn cuộc sống thanh bình phủ kín khắp mọi nơi.
    Bên cạnh những người luôn sống bao dung, vị tha với mọi người lại có những kẻ luôn sống hẹp hòi, ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân. Khi người khác mắc sai lầm thi luôn soi mói, đay nghiến khiến họ cảm thấy càng trở nên mệt mỏi, bế tắc hơn. Đồng thời, tính hẹp hòi ấy cũng như một căn bệnh, mài mòn tâm hồn và sức khỏe của chính bản thân người đó.
    Nhưng bao dung ở đây không đồng nghĩa là chúng ta bỏ qua cho cái xấu, cái ác, để chúng mặc sức hoành hành. Khi nhìn thấy cái xấu ở xung quanh chúng ta phải ra tay trừng trị, để chúng không ảnh hưởng đến những người xung quanh và sự an toàn của xã hội.

    Trong cuộc sống đầy bộn bề, lo âu này, hơn lúc nào hết chúng ta cần sống trong sự bao dung của tất cả những người xung quanh. Bao dung như một liều thuốc tinh thần quý giá giúp hàn gắn vết thương, các mối quan hệ, giúp chúng ta sống người hơn, và sống bao dung cũng là cơ hội để ta được sống một cuộc đời thanh thản, thư thái.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử

    3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử

    3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Nghị luận: Suy nghĩ của em về truyền thống Tôn sư trọng đạo của người Việt Nam

    [toc]

    Đề bài: Hãy phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử. Đưa ra hướng khắc phục trước tình trạng đó

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề nghị luận: Thiếu trung thực trong bất kì lĩnh vực nào của cuộc sống cũng là một vấn đề phức tạp và nan giải
    – Nêu vấn đề nghị luận: Thiếu trung thực trong thi cử là một vấn đề cần quan tâm hàng đầu bởi điều này ảnh hưởng đến nhân cách của cả một con người

    II. Thân bài
    1. Giải thích
    – Trung thực: “Trung”: Trung thành, “thực”: thành thực ⇒ Trung thực: sự chân thật trong mọi việc, làm mọi thứ bằng khả năng của bản thân mình
    ⇒ Thiếu trung thực trong thi cử: Thi cử không dùng sức của bản thân mình, gian dối, không thành thực trong làm bài…
    2. Biểu hiện của thiếu trung thực trong thi cử
    – Biểu hiện phổ biến nhất là dùng “phao” chép bài trong thi cử
    – Chép bài bạn, trao đổi bài, trao đổi đáp án cho nhau
    – Sử dụng các thiết bị thông minh trong phòng thi như tai nghe bluetooth, điện thoại thông minh…
    – “Mua giám thị” để có thể ngang nhiên trao đổi bài trong thi cử
    3. Tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử
    – Ảnh hưởng đến nhân vách con người : Làm học sinh có tính lười biếng ỷ lại, không chịu tự giác học tập
    – Ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước tương lai của dân tộc khi những mầm non của nước nhà không học tập và tu dưỡng bằng chính năng lực của mình
    – Ảnh hưởng đến chất lượng học tập của bản thân, lớp học và nhà trường
    – Làm cho học sinh coi thường việc coi thi của giám thị
    4. Nguyên nhân
    – Do sự lười biếng trong học tập, không chịu tự giác học bài và làm bài
    – Do áp lực về điểm số, áp lực từ gia đình, nhà trường bắt học sinh phải được điểm cao
    – Do học sinh học trong một môi trường mà tất cả các bạn đều rất giỏi khiến học sinh bắt buộc phải được điểm cao
    – Một phần là do sự lỏng lẻo trong việc coi thi của các giám thị
    – Sự bao che của các bạn khiến việc thiếu trung thực gia tăng nhiều hơn trong thi cử
    ⇒ Những nguyên nhân đó đã làm ảnh hưởng đến sự thiếu trung thực gia tăng nhiều hơn trong thi cử
    5. Giải pháp khắc phục
    – Bản thân mỗi học sinh cần ý thức trách nhiệm và việc làm của bản thân , tự mình cố gắng học tập tốt và nói “ Không” với việc thiếu trung thực trong thi cử
    – Gia đình, nhà trường và thầy cô không nên đặt áp lực quá nhiều cho học sinh.Nên khuyến khích các em khi được điểm cao và động viên an ủi các em khi điểm số chưa như mong muốn
    – Cho học sinh học tập ở một môi trường vừa sức học tránh để các em cảm thấy mình thua kém các bạn dẫn đến tự ti và thiếu trung thực trong thi cử
    – Các bạn học sinh cũng cần nghiêm túc hơn , khi thấy bạn bè gian lận trong thi cử cần báo với giám thị không được bao che sẽ làm hại bạn
    – Nhà trường thầy cô giám thị cần sát sao và nghiêm khắc khi coi thi , xử phạt đúng mực nhằm răn đe để học sinh nghiêm túc hơn trong thi cử
    6. Liên hệ bản thân
    – Cần tích cực học tập tự giác học tập và thi cử bằng chính năng lực của mình
    – Ý thức được thiếu trung thực trong thi cử là một hành động xấu sẽ đẫn tới hậu quả lớn sau này
    – Kếu gọi các bạn cùng nhau học tập để kết quả học tập được cải thiện và nâng cao

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề: sự thiếu trung thực trong thi cử hiện tượng phổ biến và để lại hậu quả về lâu dài trong sự phát triển nhân cách của mỗi con người
    – Lời nhắn đến mọi người: Hãy học tập và làm việc bằng chính năng lực của mình, đó là con đường duy nhất giúp chúng ta tiến xa hơn

    Bài văn mẫu 1

    Trong đời sống xã hội, giáo dục luôn là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với vận mệnh và sự phát triển của quốc gia, ở mọi thời đại. Ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế tri thức giáo dục càng phải được ưu tiên là “Quốc sách hàng đầu”, được quan tâm và đầu tư nhất. Tuy nhiên vẫn có một lỗ hổng lớn của nền giáo dục nước nhà là việc thiếu trung thực trong thi cử để lại hậu quả nghiêm trọng cho hiện tại và biết bao hệ lụy trong tương lai. Đã đến lúc không thể làm ngơ và cần phải có biện pháp thích hợp để trả lại sự nghiêm túc cho ngành giáo dục nước nhà.

    Thiếu trung thực trong thi cử được biểu hiện rất đa dạng nó có mặt ở mọi kì thi lớn nhỏ. Nếu như bài kiểm tra, hay bài thi học kì học kì trên lớp nó biểu hiện là việc quay cóp tài liệu, chép bài bạn, sửa điểm, nâng điểm… thì ngay ở trong kì thi lớn Trung học phổ thông Quốc gia_bước ngoặt cuộc đời của mỗi con người thủ đoạn của việc thiếu trung thực trở nên tinh vi, tiểu xảo hơn như sử dụng phương tiện hỗ trợ nhìn bài, tai nghe lén, đút lót hối lộ giám thị, giám khảo, mua điểm, mua bằng…. Nó là cả một đường dây của một lô một lố những con người thiếu trung thực từ quan chức cấp cao, giáo viên đầu ngành, các bậc phụ huynh, học sinh. Dù là biểu hiện dưới hình thức nào thì đó vẫn là những hành vi không thể chấp nhận và không được phép tồn tại. Trong những ngày gần đây dư luận đang xôn xao với điểm thi cao chót vót của Hà Giang, sau khi Bộ đã cho điều tra rà soát lại tất cả các khâu và đến ngày 17/7/2018_ngày đánh dấu ung nhọt suy đồi của ngành giáo dục với việc phát hiện ra sai phạm trong quá trình chấm thi. Vụ việc tiếp tục bị phanh phui bằng việc ông Vũ Trọng Lương_Phó phòng khảo thí đã trắng trợn sửa điểm, nâng điểm cho hơn 300 bài thi của 114 thí sinh là con ông cháu cha của tỉnh, trong đó có con của Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang Triệu Tài Vinh. Từ vụ việc của Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Hà Giang, một loạt ung nhọt thiếu trung thực trong thi cử có dấu hiệu vỡ lan ra nhiều tỉnh thành trên dải đất hình chữ S như: Sơn La, Lạng Sơn, Bạc Liêu, Hòa Bình… và còn biết bao nhiêu Hà Giang thứ hai chưa được phát hiện từ trước đến nay. Thực sự việc thiếu trung thực trong thi cử đã ở mức “Báo động đỏ” không chỉ làm đau đầu nhức óc cán bộ ngành mà còn làm cho cả nước Việt Nam nhức nhối lương tâm trong sự nghiệp “trồng người”.
    Nguyên nhân của thái độ tiêu cực này là do đâu? Nhìn khách quan, trực diện nhất nó xuất phát từ ý thức lười biếng không muốn làm lại muốn hưởng, thói giả dối trong đời sống và bệnh thành tích là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng hành động thiếu nhân văn như vậy. Đây là một vấn đề muôn thuở từ trước chứ không phải bây giờ mới có, nó như là một dịch bệnh mà ngành giáo dục đã, đang gặp phải cần phải có “vắc-xin” trị liệu nhanh chóng, kịp thời và triệt để.
    Thiếu trung thực trong thi cử là việc làm đã xảy ra trong một thời gian dài nhưng có lẽ không ai biết hoặc biết mà không dám lên tiếng tố giác, không dám đấu tranh bảo vệ quyền lợi để cho người xấu việc xấu lộng quyền lộng hành gây ra biết bao hậu quả nghiêm trọng cho ngành giáo dục, cho xã hội và đất nước.
    Thứ nhất: Phá vỡ sự nghiêm túc, trung thực cần phải có ở chiến trường trí tuệ. Thầy không ra thầy, trò không ra trò thi cử là để đánh giá khách quan nhất năng lực của mỗi em học sinh thì lại trở thành sân chơi cho những kẻ có quyền, có tiền, có thế. Giáo dục không dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà còn là để dạy dỗ, rèn luyện nhân cách, đạo lí làm người. Thử hỏi một người thầy tiếp tay cho bệnh thành tích thì có tư cách để dạy trò hay không ?
    Thứ hai: Công lí bị chà đạp, công bằng bị đè bẹp. Thiếu trung thực trong thi cử dù là hành động của học sinh, giáo viên hay các thế lực khác thực hiện thì nó đều làm cho trắng đen, giỏi dốt bị đảo lộn học sinh dốt trở thành học sinh giỏi, thí sinh bị điểm liệt được làm thủ khoa với điểm số cao ngất ngưởng nhờ tiền và thế lực của gia đình. Học sinh giỏi có năng lực thực sự bị cướp đi cơ hội học tập và phát triển. Nhân tài của đất nước bị vùi dập, không thì họ cũng tìm cách ra nước ngoài học tập và cống hiến cho nước bạn gây ra nạn “Chảy máu chất xám” cho đất nước.
    Thứ ba: Lòng tin của nhân dân vào pháp luật cơ quan chính quyền của ngành giáo dục sẽ như thế nào? Dân họ bức xúc khi quyền lực không có cơ chế giám sát, công lí bị thế lực đồng tiền đâm thủng. Nhân dân còn biết tin, biết bám víu vào đâu khi cả những người làm cán bộ, làm lãnh đạo đứng đầu tỉnh lại có hành vi thiếu trung thực như vậy. Những con người ấy theo như chủ tịch Hồ Chí Minh nói đó là những người làm đầy tớ, phục vụ cho quyền lợi của nhân dân nhưng giờ đây lại đi ngược với đạo đức của người Đảng viên, chà đạp lên quần chúng để đạt được tham vọng bản thân.
    Thứ tư: Những đứa trẻ gian lận, được nâng điểm, sửa điểm kia rồi sẽ ra sao? Bố mẹ có quyền thế cho con cái tiền tài, danh vọng, địa vị và rồi bán luôn cả lòng tự trọng, nhân phẩm làm người của con để rồi liệu có mấy ai tỉnh táo mà thoát khỏi bánh xe lầy tội lỗi theo kiểu “Cha truyền con nối”. Đúng là con quan thì lại làm quan, con sãi ở chùa lại quét lá đa.
    Thứ năm: Hệ lụy về tương lai lâu dài. Thử nghĩ đến một ngày những thế hệ dốt này là những bác sĩ dốt, kĩ sư dốt, nhà giáo dốt, lãnh đạo dốt, công an dốt… với những kinh nghiệm gian dối và thủ đoạn, nhận thức và hành động như thế hệ trước thì chắc chắn đây là đại họa của quốc gia, dân tộc không chỉ là đất nước bị thụt lùi mà có nguy cơ người Việt tự hủy diệt dân tộc Việt chứ không cần đến một thế lực ngoại bang nào xâm lăng. Chúng ta đang kêu gào, đang tung hô thời đại công nghệ 4.0 nhưng nếu để thế hệ con em của kẻ gian lận lên làm chủ thì đất nước sẽ nhanh chóng quay về thời kì đồ đá như cuộc sống trước công nguyên “ăn lông ở lỗ”. Và còn biết bao, biết bao nhiêu điều nữa nếu như tình trạng thiếu trung thực trong thi cử vẫn hoành hành, kẻ xấu không bị trừng phạt thích đáng để làm gương.
    Hậu quả của hành động thiếu trung thực trong thi cử là vô cùng nghiêm trọng liên quan tới vận mệnh của dân tộc những kẻ dốt lại đội lốt người hiền tài trị vì đất nước thì xã hội là mảnh đất ươm mầm cho con người thiếu trách nhiệm, vô cảm, tham nhũng tàn phá đất Việt đúng như Ngô Thì Nhậm đã từng nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp” là như vậy.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, muốn cho dân tộc Việt Nam phát triển mạnh mẽ, hội nhập với cường quốc năm châu thì ngay bây giờ, ngay lập tức Bộ giáo dục và cơ quan chức năng phải vào cuộc, phải làm thật mạnh tay bóc trần tất cả các vụ gian lận, thiếu trung thực trong thi cử. Tòa án pháp luật và tòa án lương tâm không được để đồng tiền, thế lực địa vị được chen chân vào, công tư trắng đen minh bạch, người có tội thì phải chịu tội trả lại cơ hội cho các em học sinh thực sự có năng lực, tài năng, trí tuệ. Để xảy ra vụ việc như ngày hôm nay mỗi cá nhân chúng ta cũng có một phần trách nhiệm bởi chính chúng ta đã im lặng để cái xấu cái ác tự do tung hoành, chính sự vô cảm, thờ ơ đã vô tình tiếp tay cho tội ác của ngành giáo dục, tội ác của những kẻ có quyền có thế nặn ra một thế hệ tương lai cho đất nước là những con người không có lòng tự trọng, thiếu đạo đức, thiếu nhân cách, thiếu kiến thức trí tuệ và không có lí tưởng sống đúng đắn, không có tinh thần tự lập… Chúng ta cần phải nâng cao ý thức của mỗi người vai trò của việc học, đổi mới cách ra đề chú trọng vào năng lực người học, lập lại kỉ cương trật tự trường thi…. Mỗi cá nhân trong cộng đồng người Việt hãy lên tiếng phản biện, đấu tranh mạnh mẽ để cho nền giáo dục nước nhà được thanh sạch, để cho kẻ ác bị trừng trị nghiêm minh, cho công bằng công lí xã hội không bị thế lực của đồng tiền chà đạp, cho đất nước Việt Nam có nhiều nhân tài đóng góp để dân tộc phát triển.

    Là một người học sinh em ý thức được hậu quả nghiêm trọng của căn bệnh thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm trong thi cử nó tàn phá lương tri của người cầm cân nảy mực, nó đẩy đất nước thụt lùi đến mức âm vô cùng. Nelson Mandela_cố tổng thống Nam Phi đã từng nói: “Giáo dục là vũ khí quyền năng nhất bạn có thể dùng để thay đổi cả thế giới”. Chính vì vậy muốn thay đổi đất nước Việt Nam mỗi chúng ta hãy cố gắng trung thực với chính trí tuệ của mình, cùng lên tiếng để bảo vệ quyền lợi cho những bạn có năng lực thực sự, hãy nói không với bệnh thành tích của giáo dục. Hãy để những người trẻ mở ra cánh cửa tươi sáng của tương lai cho dân tộc Việt.

    Bài văn mẫu 2

    Xã hội ngày càng phát triển, giáo dục càng trở nên quan trọng đối với mỗi con người. Giáo dục là con đường ngắn nhất để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, những tiến bộ khoa học kĩ thuật của loài người. Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, trong những năm vừa qua, giáo dục nước ta đã tích cực vận động phòng chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì những mặt hạn chế như tiêu cực, thiếu trung thực trong thi cử lại là vấn nạn nhức nhối của toàn ngành.

    Trung thực là đức tính luôn luôn tôn trọng sự thật, chân lí lẽ phải, dám nhận sai khi mình mắc lỗi và có phương hướng tích cực để giải quyết những sai lầm đó. Còn thiếu trung thực trong thi cử là hành vi gian lận, quay cóp khi làm bài kiểm tra để bản thân đạt được thành tích cao, bất chấp mọi thủ đoạn, mọi hành vi gian dối. Đây là một hiện tượng xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục, cũng như hình thành thói quen xấu ở học sinh.
    Thực trạng đáng buồn đó đang diễn ra phổ biến ở tất cả các học sinh với hình thức từ bình thường cho đến tinh vi. Mỗi kì thi đến, các bạn thay vì ngay đêm học tập lại ngày đêm chuẩn bị “phao” nhưng mẩu giấy bé tí, với chi chít chữ được viết cẩn thận, quán photo trở nên đông đúc, nhộn nhịp hơn. Các bạn sẵn sàng viết vào tẩy, vào máy tính, vào hộp bút,… bất cứ chỗ nào có vẻ mang đến sự “an toàn” là các bạn sẽ viết. Công nghệ hiện đại hơn, các bạn sử dụng tai nghe không dây, kết nối với bên ngoài để hoàn thành bài kiểm tra của mình. Và rất nhiều hình thức thiếu trung thực khác được các bạn vận dụng thành thục trong mỗi kì thi. Thực trạng quay cóp, thiếu trung thực trong khi thi cử phải có đến 99% học sinh thừa nhận điều này. Họ còn cho rằng đã là học sinh mà không quay cóp, không làm phao thì đó không còn là học sinh. Ngay từ suy nghĩ của các bạn đã có sự lệch lạc, sai lầm nghiêm trọng.
    Các bạn thực hiện hành vi quay cóp đã bao giờ nghĩ đến hậu quả mà mình phải gánh chịu chưa? Các bạn có đảm bảo tất cả hành vì gian lận của mình được thực hiện chót lọt 100%. Thường thì sẽ không bao giờ có điều ấy xảy ra, người ta vẫn thường nói rằng “đi đêm lắm có ngày gặp ma”, các bạn thực hiện hành vi thiếu trung thực nhiều lần, tất sẽ có ngày bị bắt gặp. Khi ấy sẽ thật xấu hổi biết bao với thầy cô và bạn bè xung quanh. Thầy cô, bạn bè thất vọng về bản thân bạn, thì ra bấy lâu nay những điểm số cao chót vót kia chỉ là một sự lừa dối. Bố mẹ sẽ vô cùng đau lòng khi đứa con gửi gắm biết bao hi vọng lại có những hành vi thiếu trung thực như vậy. Nhưng nguy hiểm hơn, chính là hành vi đó sẽ khiến bản thân học sinh bị méo mó về nhân cách, phát triển một cách lệch lạc, không đủ hành trang vững bước vào đời. Không chỉ vậy, gian lận còn khiến bạn tự đào một lỗ hổng kiến thức cho chính mình, thời gian gian lận càng nhiều, lỗ hổng kiến thức càng lớn. Vậy sau này ra khỏi trường lớp bước chân vào cuộc đời bạn sẽ tính sao trong khi chỉ có một cái đầu rỗng tuếch, thiếu tri thức, thiếu kinh nghiệm. Ai sẽ nuôi sống bạn trong suốt quãng đời còn lại. Và nhìn ra xa hơn, thói thiếu trung thực trong thi cử cũng có thể là khởi nguồn mọi thói hư tật xấu khác trong xã hội.
    Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thiếu trung thực trong thi cử có rất nhiều. Nguyên nhân khách quan là áp lực học hành, thành tích từ bố mẹ, nhà trường. Khi áp lực đó quá lớn, khiến học sinh không thể nhồi nhét kiến thức, lo sợ nên phải có những hành vi chống đối để đáp ứng được yêu cầu của gia đình và thầy cô. Không chỉ vậy, căn bệnh thành tích trong giáo dục vẫn đang hoành hành, không ít giám thị khi coi thi vẫn coi dễ dãi, thậm chí nhắc bài, chính thái độ đó của họ khiến học sinh hình thành tâm lí ỉ lại, không chịu học hành. Nhưng quan trọng nhất vẫn xuất phát từ bản thân chính những người học sinh. Học sinh lười học, lười làm bài tập, chỉ đến khi chuẩn bị thi mới vắt chân lên cổ học, nhưng lúc ấy thì đã muộn, mà tâm lí lại luôn muốn điểm giỏi, điểm cao nên “đành” phải làm phao quay cóp. Nếu chúng ta không bỏ công sức và thời gian thì chẳng có gì chúng ta có được lâu bền và mãi mãi.
    Với vấn nạn thiếu trung thực như vậy, chúng ta ngay lập tức cần có các biện pháp để giải quyết tình trạng này. Trước hết bản thân học sinh cần ý thức được vai trò tầm quan trọng của việc học, học không chỉ để lấy điểm, mà học còn là hành trang vững bước vào đời. Bởi vậy, người học phải có mục tiêu và phương hướng học tập đúng đắn. Bản thân cần có tinh thần cầu tiến, không ngừng nỗ lực cố gắng để đạt thành tích cao, khẳng định giá trị của bản thân. Đối với gia đình và nhà trường không nên tạo áp lực điểm số quá lớn đối với các em, để các em có thể thoải mái học tập. Nhưng không có nghĩa là bỏ bê, không quan tâm đến việc học tập của các em, luôn có những sự khích lệ kịp thời đối với những học sinh có tiến bộ. Ngoài ra, nhà trường cũng cần có những biện pháp xử lí nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm, đảm bảo môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, tích cực và công bằng cho tất cả học sinh.

    Trung thực là đức tình quý báu mà mỗi chúng ta cần phải rèn luyện ngay từ tấm bé. Bởi vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường chúng ta phải trung thực trong từng bài học, bài kiểm tra. Trung thức sẽ tạo nên hành trang vững chắc để bạn bước vào cuộc đời thêm phần tự tin, và đạt được thành công.

    Bài văn mẫu 3

    Trung thực là một phẩm chất đạo đức cao quý của con người. Rèn luyện đức tính trung thực ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một yêu cầu hàng đầu, góp phần tạo nên nhân cách đẹp đẽ cho mỗi con người sau này. Tuy nhiên, hiện tượng thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi cử ngày càng trở nên phổ biến trong nhà trường. Điều này gây ra những tác hại khôn lường. Chúng ta phải khắc phục ngay thái độ này.

    Vậy thế nào là trung thực? “Trung” ở đây nghĩa là một lòng một dạ, không thay đổi, còn “thực” là cách phát âm khác của từ “thật”, có nghĩa là thật thà, thành thật. “Trung thực” nghĩa là tôn trọng sự thật, là dám đứng lên bảo vệ sự thật, là dám nhận lỗi, sửa lỗi, nhất là luôn thành thật với bản thân, với mọi người: thật lòng, nói thật, làm thật… Tóm lại, trung thực là luôn tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lí, lẽ phải; sống ngay thẳng thật thà và dám dũng cảm nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm. Người có đức tính trung thực là người sống hết lòng với mọi người, thật thà, ngay thẳng, luôn nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, chân thành trong cách đối xử với mọi người, luôn nhìn nhận khách quan về các sự việc trong cuộc sống, luôn tôn trọng và bảo vệ chân lí, bảo vệ lẽ phải.
    Còn thế nào là thiếu trung thực? Thiếu trung thực là đi ngược lại sự trung thực, là làm sai lệch tính đúng đắn của sự việc. Thiếu trung thực trong thi cử là những cử chỉ, hành động vi phạm quy chế thi cử. Đây là những việc làm gian dối, lừa bịp để thi đậu, đạt được bằng cấp.
    Những biểu hiện thiếu trung thực trong thi cử rất đa dạng, muôn hình muôn vẻ: có khi theo kiểu “cổ điển” như quay cóp, giở tài liệu (phao), thi hộ thi thay, đánh dấu bài, cả bộ đề thi được phô tô thu nhỏ giấu vào trong quần áo, giày tất để mang lọt vào phòng thi. “Hiện đại” hơn thì làm bài thi theo hướng dẫn từ bên ngoài qua điện thoại di động có lắp tai nghe, được ngụy trang tinh vi để qua mắt giám thị… Không chỉ thí sinh mà cả thầy cô giáo cũng có thái độ sai. Việc cố tình để lộ đề thi ở trường này, trường khác, hiện tượng giám thị gợi ý, thậm chí đọc bài giải cho thí sinh chép cũng có, dù biết rằng những hành động đó vi phạm nội quy thi cử. Một số phụ huynh nông nổi, cạn nghĩ cũng có những hành động tiêu cực như ném phao, nhờ người giải bài, thuê người thi hộ, đe doạ giám thị… để “hỗ trợ” con em thi “đỗ”.
    Vì sao học sinh lại có thái độ thiếu trung thực trong thi cử? Những học sinh có thái độ sai trái trong thi cử phần lớn là do lười biếng, không muốn mất nhiều công sức học tập nhưng lại muốn được điểm cao. Đã lười học thì không thể nào nắm vững các kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài tập của từng môn học. Cho nên lúc làm bài, họ chỉ có một trong hai cách là quay cóp bài của bạn hoặc giở tài liệu đã chuẩn bị sẵn dưới nhiều hình thức khác nhau được gọi là “phao”. Mặt khác, cơ chế thi cử ở nước ta cũng là mảnh đất màu mỡ cho hiện tượng thiếu trung thực phát triển.
    Ngoài ra xét kĩ, chúng ta sẽ thấy thái độ thiếu trung thực trong thi cử có liên quan đến các hiện tượng tiêu cực khác như thói giả dối và bệnh thành tích… Sâu xa hơn, nó bắt nguồn từ nhận thức lệch lạc về mục đích và tầm quan trọng của việc học đối với sự hình thành nhân cách con người. Ngay từ ngày xưa, tổ tiên chúng ta đã có quan điểm hết sức đúng đắn là học dể làm người. Tiên học lễ, hậu học văn, tức là trước hết phải học lễ giáo (những điều giáo dục về khuôn phép sống theo tư tưởng Nho giáo). Có thể hiểu đơn giản là học phép cư xư, học đạo lí nhân nghĩa trước, sau đó mới học chữ thánh hiền (chữ Nho) để có được những kiến thức cơ bản trong việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Lời khẳng định tầm quan trọng của sự học có giá trị như chân lí muồn đời:
    “Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lí”.
    (Ngọc không mài không sáng. Người không học không biết đâu là đạo lí).
    Thái độ thiếu trung thực trong thi cử chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nhiều người nghĩ một cách đơn giản và nông cạn là hiện tượng thiếu trung thực trong thi cử không hại đến ai, đến điều gì nên người nào gian lận được thì cứ việc gian lận. Thực ra, gian lận trong thi cử là một tệ nạn gây tác hại nghiêm trọng và lâu dài cho xã hội, quốc gia. Trước hết, hiện tượng thiếu trung thực sẽ phá vỡ sự nghiêm túc cần phải có ở chốn trường thi, biến thi cử thành một trò đùa may rủi. Không thể để sự lộn xộn, phản giáo dục như thế tồn tại mãi vì giáo dục không đơn thuần là vấn đề truyền thụ kiến thức mà trước hết là vấn đề dạy dỗ, rèn luyện tư cách, đạo lí làm người. Thiếu trung thực là biểu hiện của sự thoái hoá nhân cách, đánh mất lòng tự trọng và phụ lòng tin của mọi người đối với mình. Khởi đầu bằng sự dối trá, gian lận thì tất yếu không thể có được một kết quả tốt đẹp trong cuộc đời. Bên cạnh đó, hiện tượng thiếu trung thực trong thi cử sẽ tạo ra sự bất công giữa người chăm chỉ, thật thà và kẻ lười nhác, dối trá; làm đảo lộn mọi giá trị tài năng và đạo đức trong xã hội. Ngành giáo dục bị ảnh hưởng nhiều nhất về mặt chất lượng vì sai lầm trong giáo dục là sai lầm nguy hiểm nhất. Nó không chỉ ảnh hưởng xấu đến một cá nhân mà còn gieo rắc tai hoạ cho cả một thế hệ. Một cử nhân “dỏm”, một thạc sĩ, tiến sĩ học giả mà bằng thật đã làm giảm sút uy tín của ngành giáo dục rất nhiều. Những người tài sơ đức thiểu như thế mà làm công việc đào tạo thì chất lượng sản phẩm con người mà họ đào tạo ra sẽ như thế nào? Hơn nữa, thiếu trung thực trong thi cử tất yếu sẽ sản sinh ra những con người yếu kém về nhân cách và tài năng. Những con người ấy nếu nhờ thân thế mà được sắp đặt vào các vị trí quan trọng trong xã hội thì họ sẽ gây ra những hậu quả khôn lường, gây thiệt hại to lớn cho nhân dân, đất nước.
    “Gốc của học tập là học làm người”.
    (Ngạn ngữ Trung Quốc)
    Để khắc phục thái độ thiếu trung thực trong thi cử, chúng ta phải làm gì? Chúng ta có suy nghĩ gì về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống? Trong khi thi, trung thực là phải làm bài bằng thực lực và chấp nhận đỗ đạt bằng thực chất của mình. Còn gian lận là làm mọi cách để đỗ bằng được, không cần thực chất. Người trung thực phải là người biết rõ: Trung thực trong khi thi dù bị rớt vẫn vinh dự hơn đỗ đạt nhờ gian lận. Cho nên trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mỹ A. Lin-côn (1809 – 1865) viết: –
    “Xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi”.
    “Nói không với thái độ thiếu trung thực trong thi cử” đang là một vấn đề cần thiết phải làm ngay đối với ngành giáo dục. Bên cạnh việc tuyên truyền giáo dục ý thức trung thực là những biện pháp kỉ luật nghiêm minh, đủ sức răn đe những thí sinh có ý định gian lận trong thi cử. Trước hết, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên có sự đổi mới trong cách ra đề thi, đòi hỏi người thi phải có tư duy và phương pháp làm bài chứ không tạo cơ hội cho họ sao chép. Đổi mới cách ra đề thi là một cách hạn chế tiêu cực trong thi cử khá hiệu quả. Mặt khác, công tác coi thi cần được thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm. Nếu giám thị coi thi không nghiêm túc thì không thể đòi hỏi sự nghiêm túc ở thí sinh. Đối với các thí sinh có thái độ không trung thực trong thi cử cũng cần xử phạt nghiêm khắc tùy theo mức độ như trừ điểm hay huỷ bài thi, thậm chí cấm dự thi vĩnh viễn. Những điều sai trái trong thi cử phải bị xử lí trước pháp luật. Có như vậy mới lập lại được trật tự kỉ cương nơi trường thi và mới xoá bỏ được bất công: kẻ lười biếng, dốt nát, dối trá thì đỗ, còn người chăm chỉ, học khá, trung thực thì lại trượt. Hi vọng trong một thời gian không xa, các kì thi sẽ trở nên nghiêm túc và trường thi đúng là nơi đánh giá chính xác về mặt chất lượng học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên. Các kì thi sẽ là nơi đọ sức, so tài để phát hiện ra những hiền tài phục vụ cho sự nghiệp dựng xây đất nước giàu mạnh. Thật đáng buồn trước thái độ thiếu trung thực trong thi cử! Vì đằng sau chuyện gian lận thi cử là ngần ấy thí sinh bị kỉ luật, đình chỉ thi. Hiện tượng này báo hiệu sự xuống cấp đạo đức xã hội trong đó có đạo dức của học sinh, sinh viên. Mục đích thi cử rõ ràng là để lựa chọn những người đủ tâm, đủ tài cho đất nước. Cho nên ngay từ bây giờ mọi người hãy hưởng ứng tích cực cuộc vận động của ngành giáo dục: “Nói không với thái độ thiếu trung thực trong thi cử”. Và bản thân học sinh phải nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của việc học để chú ý trau dồi, rèn luyện cả đức lẫn tài, vì:
    “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    [toc]

    Đề bài: Phân tích truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

    Bài văn mẫu 1

    Thạch Lam tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh sau đổi là Nguyễn Tường Lân, ông là em trai của hai nhà văn nổi tiếng là Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long). Sinh ra ở huyện Cẩm Giàng_Hải Dương (quê mẹ), lớn lên học Trung học ở Hà Nội sau bỏ học đi làm báo, viết văn. Tác phẩm của ông để lại không nhiều nhưng mỗi một sáng tác là một thành công riêng. Ông được người đời đánh giá là “Cây bút có biệt tài về truyện ngắn”. Tiêu biểu là tác phẩm “Hai đứa trẻ” in trong tập “Nắng trong vườn” thể hiện tài năng về truyện ngắn là truyện không có cốt truyện, chủ yếu đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật và minh chứng cho văn phong riêng biệt, độc đáo của Thạch Lam là giản dị, trong sáng mà thâm trầm sâu sắc.

    Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” bên cạnh việc miêu tả không gian cảnh vật bên ngoài và những cảnh người dường như không có gì nổi bật đáng chú ý, nhưng đi vào nơi bên trong sâu lắng của tâm hồn mới phát hiện ra những điều tinh tế gợi lên biết bao nỗi xót xa, thương cảm cho những kiếp người nghèo khổ và trân trọng cho ước mơ của họ. Truyện kể về hai nhân vật chính Liên và An, hai chị em từng sống ở Hà Nội huyên náo khi cha bị mất việc gia đình phải chuyển về phố huyện nghèo mưu sinh, hai đứa nhỏ được mẹ giao cho công việc trông coi cửa hàng tạp hóa bé xíu để kiếm thêm thu nhập. Tất cảnh cảnh vật và con người nơi đây trong từng khoảng thời gian từ chiều tàn cho đến đêm khuya được Liên thu vào trong tầm mắt và cảm nhận thật tinh tế.

    Cảnh vật bên ngoài được Thạch Lam miêu tả qua cái nhìn của Liên có khi đứng từ xa quan sát bao trùm lên tất cả, khi thì lại cận cảnh từng chi tiết nhỏ bé. Khung cảnh thiên nhiên được cảm nhận cả hai chiều về không gian và thời gian. Mở đầu là buổi chiều tà hoàng hôn buông xuống, bóng tối dần bao phủ. Khung cảnh ngày tàn, chợ tàn hiện lên những kiếp người tàn tạ. Bức tranh thiên thiên nhiên về chiều mở đầu là “tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ”_ âm thanh đầu tiên báo hiệu kết thúc một ngày, chuẩn bị cho thời khắc lúc về đêm. Nói là phố huyện nhưng là cái huyện nhỏ xíu, tiêu điều. Hiệu lệnh phát ra từ một cái chòi nho nhỏ lẩn vào trong dãy tre làng đang đen lại vào lúc trời tây rực đỏ như hòn than sắp tàn, chen lẫn là tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve trong màn đêm tối. Điều đó khiến cho Liên_cô gái có tâm hồn nhạy cảm “bỗng dưng thấy cái buồn của ngày tàn thấm thía vào tâm hồn” khi ngồi bên cạnh “Những quả thuốc sơn đen, đôi mắt ngập đầy bóng tối”. Đoạn văn mở đầu của Thạch Lam êm du, dịu nhẹ vừa giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu và uyển chuyển, tinh tế như bản nhạc tình ca gợi ra cuộc sống vừa bình yên lại vừa hoang tàn và nghèo nàn nơi thôn dã. Những con người ở huyện nhỏ hiện lên là những đứa trẻ con nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh những thứ gì còn dùng được sau buổi chợ chiều, từ láy “lom khom” được Thạch Lam sử dụng càng đậm tô sự cơ cực vất vả mà những đứa trẻ đáng lẽ phải được học hành vui chơi đang gánh chịu. Mẹ con chị Tí vẫn dắt díu nhau ngày này qua ngày khác với hai công việc đều đặn là mò cua bắt tép ban ngày tối đến trông chờ vào gánh nước chè dưới gốc bàng trong màn đêm. Hai chị em Liên với cái quán tạp hóa bán những thứ đồ lặt vặt. Ống kính quan sát của nhà văn lia đến cả những thứ rác rưởi, vỏ bưởi, vọ thị, lá mía, lá nhãn trên nền đất có cả mùi của cát bụi và mùi ẩm mốc quện vào nhau tạo thành mùi của quê hương nghèo khó. Thạch Lam có một tâm hồn thật tinh tế cảm nhận được từng chi tiết nhỏ cho thấy tấm lòng dào dạt của ông với quê hương.

    Bức tranh phố huyện khi về đêm các nhà đã lên đèn nhưng những nguồn sáng yếu ớt ấy không thể xua tan đi màn đêm, không thể chiến thắng nổi bóng tối. Ánh sáng của nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu và đèn dây sáng xanh trong nhà hiệu khách càng làm cho “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”. Xung quanh Liên bóng tối đang dần bao trùm. “Tối hết cả con đường thăm thẳm sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại đen sẫm hơn nữa”. Bác phở siêu lom khom nhóm lửa trong đêm khiến cho “bóng bác càng mênh mang ngả xuống một vùng và kéo đến tận đàng xa”. Gia đình nhà bác xẩm vẫn đang đợi giọt hạnh phúc rơi với cái thau còn trống trơ, thằng con thì bò ra đất.

    Liên và An đã dọn hàng xong, cô bé thả hồn mình với cảnh vật xung quanh, lắng mình quan sát “ngàn sao vẫn lấp lánh, một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Tâm trạng của một cô bé nhạy cảm như vậy chẳng có gì là khó hiểu, trước cảnh vật hiu quạnh trách sao được lòng mình cũng buồn theo. Thạch Lam thật tinh tế khi đi sâu khai thác thế giới nội tâm của cô gái mới lớn.

    Đoàn tàu lúc về đêm là ước mơ, hi vọng của những con người nghèo khổ nơi đây. Tất cả mọi người vẫn thức đến tận đêm khuya để chờ tàu đi qua cuộc đời họ trong thoáng chốc. Phải chăng là để mong bán được ít hàng, còn chị em Liên thì không hi vọng gì nữa bởi đêm khuya rồi có mua cũng chỉ là bao diêm hay gói thuốc. Nhưng theo như Thạch Lam nhận xét: “Chừng ấy con người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.” Chuyến tàu về đêm là giấc mộng đẹp huy hoàng của người dân huyện nghèo. Mọi người chờ tàu trong tâm trạng háo hức, mong mỏi An đã nằm xuống ngủ nhưng vẫn cố nhắc chị “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé”, Liên buồn ngủ ríu cả mắt vẫn cố thức chờ cho bằng được để ngắm nhìn chuyến tàu qua. Tàu đến mang theo thứ âm thanh nhộn nhịp của tiếng còi rít, tiếng tàu rầm rộ đi tới, tiếng nói chuyện của những hành khách phá tan không gian tĩnh mịch, buồn thảm nơi đây. Tàu đến mang theo thứ ánh sáng của thế giới thần tiên xa lạ khác hẳn với ánh đèn leo lét của những kiếp người tàn, đó là “Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa”, “Các toa đèn sáng trưng chiếu ánh cả xuống đường”, ánh sáng của đồng và kền lấp lánh và các cửa kính sáng đã xóa tan đi đêm tối mịt mù, lóe lên cho họ niềm tin, hi vọng về tương lai ngày mai tươi sáng hơn. Dù cho chỉ thoáng chốc vụt qua nhưng chuyến tàu đêm vô cùng có ý nghĩa với chị em Liên. Dường như đối với chúng đó là niềm say mê vì không những nó đi qua sự phẳng lặng, tẻ nhạt của cuộc sống phố huyện mà còn đưa Liên trở về quá khứ xa xưa khi cha cô chưa bị mất việc cả nhà vẫn còn sống ở Hà Nội huyên náo, nhộn nhịp khi ấy hai đứa trẻ đang được sống và vui chơi trong những tháng ngày tươi đẹp.

    Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam đã thể hiện “một giọng văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh khách quan nhưng luôn ẩn hiện tâm sự kín đáo”, nhà văn đã đi sâu vào khai thác nội tâm nhân vật, ngòi bút tả ít gợi nhiều vào cả xúc người đọc cho ta nhìn và cảm nhận, suy ngẫm về những mảnh đời bé mọn trong cuộc sống. Dù xã hội đã phát triển, tiến bộ hơn rất nhiều nhưng ở đâu đó trên dải đất hình chữ S vẫn còn có rất nhiều những người dân nghèo khổ ở vùng sâu vùng xa cần được Đảng, nhà nước và cộng đồng quan tâm chia sẻ đừng để cho trẻ em như An, Liên và những đứa trẻ con nhà nghèo phải “lom khom” để mưu sinh hãy cho các em có một tuổi thơ tươi đẹp.

    Qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” Thạch Lam thể hiện một nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, nhà văn thể hiện nỗi niềm cảm thông sâu sắc đối với những kiếp người nghèo khổ, quẩn quanh và bế tắc. Trước ước muốn, hi vọng nhỏ nhoi của họ mà thương xót cũng đáng trân trọng vô cùng. Qua đó cho ta bài học nhận thức dù nghèo khó, cực khổ cũng phải luôn cố gắng và không ngừng hi vọng cho tương lai tốt đẹp hơn. Mất niềm tin, hi vọng chúng ta mãi là kẻ sống trong bóng tối mịt mù.

    Bài văn mẫu 2

    Thạch Lam cây bút văn xuôi lãng mạn tiêu biểu của văn học 1930 – 1945, các sáng tác của ông tập trung đi sâu khai thác vào cuộc sống đời thường, bình dị. Với những tác phẩm thường “truyện không có truyện” nhưng lại để lại những dư âm sâu sắc trong lòng người đọc về vẻ đẹp cuộc sống, tâm hồn con người. Hai đứa trẻ là một tác phẩm mang trong mình vẻ đẹp giản dị, sâu lắng như vậy.

    Tác phẩm được xuất bản năm 1938 in trong tập Nắng trong vườn. Tác phẩm là lát cắt hiện thực cuộc sống nơi phố huyện nghèo từ khoảnh khắc chiều tàn cho đến đêm khuya. Nhưng với ngòi bút tinh tế, Thạch Lam đã đi sâu khám phá vẻ đẹp của con người, cuộc sống nơi đây.

    Mở đầu tác phẩm là khung cảnh thiên nhiên hết sức nên thơ nhưng đượm buồn với tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng, tiếng trống thu không văng vẳng vang lên, tiếng mỗi vo ve khắp nơi. Nếu có âm thanh cất lên cũng không mang lại sự tươi vui, rộn rã, ngược lại chỉ gợi lên sự tĩnh mịch của cảnh và sự ảm đạm của không gian. Gam màu chủ đạo của khung cảnh là màu đỏ như lửa cháy: “Phương tây đỏ rực như cháy và những đám mây hồng như hòn than sắp tàn” . Những sắc màu này thường gợi lên sức sống, sự ấm nóng như với bức tranh của Thạch Lam lại chỉ gợi lên sự lụi tàn, mặt trời sắp lặn, những đám mây cũng như hòn than sắp tàn. Sự ảm đạm, buồn rầu bao trùm lên cảnh vật khi bóng chiều dần buông.

    Trong không gian của buổi chiều tàn, bức tranh sinh hoạt của con người hiện lên cũng chẳng mấy sáng sủa hơn. Chỉ có một âm thanh duy nhất xuất hiện “tiếng ồn ào cũng mất” khi chợ đã họp và vãn từ lâu, trả lại cho phố huyện sự tĩnh lặng vốn có. Trên nền chợ chỉ còn lại vỏ thị, vỏ bưởi, lá nhãn, … những thứ người tả bỏ đi sau một buổi chợ phiên. Những đứa trẻ con nhà nghèo vẫn cố tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại trên mặt đất. Cuộc sống ở đây không chỉ buồn mà còn nghèo nàn, xơ xác. Không gian ấy khiến ta không khỏi ám ảnh và cảm thương cho những số phận, sinh linh tội nghiệp đang phải sống những ngày mòn mỏi ở nơi đây.

    Liên là một cô gái mới lớn, tinh tế và nhạy cảm, trong khoảnh khắc của ngày tàn đã nhanh chóng nắm bắt những biến chuyển của thiên nhiên. Em cảm nhận thấy mùi vị của quê hương trong phiên chợ đã tàn: “một mùi ẩm mốc bốc lên trộn lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá…” ấy là mùi vị đã thấm sâu trong tâm hồn em, tâm hồn của một người gắn bó tha thiết, sâu nặng với quê hương.

    Khi màn đêm buông xuống, cuộc sống nơi phố huyện vẫn tiếp diễn. Liên sửa soạn, vội vàng “thắp đèn, xếp những quả sơn đen lại” và nhẩm tính những món hàng đã bán được trong ngày. Rồi lần lượt chị Tí, bác xẩm, gánh phở bác Siêu xuất hiện. Chị Tí dọn hàng nước chờ đợi những khách hàng quá quen thuộc đi qua vào uống chén trà. Gánh phở bác Siêu lại là món ăn xa xỉ với người dân phố huyện, bởi vậy lúc nào cũng vắng khách. Bác xẩm gảy lên “mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng” thu nhập chẳng đáng là bao. Hình ảnh cụ Thi điên có lẽ đã gây biết bao ám ảnh với người đọc, cụ triền miền trong cơn say, bước đi lảo đảo, dường như cụ tìm đến với hơi men để lãng quên thực tại cuộc sống nhàm chán, tẻ nhạt, để quên đi những nỗi đau của thực tế. Những người dân phố huyện vẫn gắng gượng sống qua ngày, họ sống cuộc đời mòn mỏi, mà chưa thể tìm ra lối thoát cho chính mình. Họ cũng mang trong mình mơ ước “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì đó tươi sáng hơn…” nhưng đó chỉ là mơ ước mơ hồ, chập chờn, vu vơ, không có đích đến. Nhưng ước mơ đổi đời của những người dân phố huyện cũng được tác giả nâng niu, trân trọng.

    Trong khoảnh khắc của ngày tàn, khi bóng tối đã ngập đầy mọi nơi, Thạch Lam một cách rất tinh tế đã tìm ra những khoảnh khắc đẹp đẽ, đầy lãng mạn của cảnh vật thông qua những cảm nhận nhạy bén của nhân vật Liên. Cô bé thích thú ngắm bầu trời đêm với ngàn sao lấp lảnh, tưởng tượng đó là dòng sông ngân hà với hai con vịt đi theo chân thần nông. “Qua kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuông vai Liên khe khẽ…” Liên quả là người có tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, khi “đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối” em vẫn tìm thấy những nguồn sáng khác nhau từ thiên nhiên, cảm nhận cái rơi thật khẽ, thật êm của hoa bàng rụng. Liên tìm đến ánh sáng không phải là một điều ngẫu nhiên, ánh sáng ấy chính là mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn của Liên. Em tìm nguồn sáng sáng xua tan đi bóng tối: khe sáng, hột sáng, quầng sáng… Nhưng những nguồn sáng ấy dù phong phú nhưng nhỏ bé, mong manh, yếu ớt, không đủ để xua đi bóng đêm. Đây đồng thời cũng là khao khát đổi đời để thoát khỏi cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của thực tại.

    Nhưng có lẽ đẹp nhất, rực rỡ nhất chính là khoảnh khắc khi đoàn tàu vụt qua phố huyện nghèo. Không ai ngủ, không ai về trước khi đoàn tàu đi qua, ai cũng cố thức để chờ đoàn tàu đến, không phải là để cố gắng bán thêm được thứ gì, vì hầu như không có ai mua, mà là bởi để thấy được chút ánh sáng của sự sống, của niềm tin, hi vọng. Cũng bởi vậy mà, mặc dù đã buồn ngủ nhưng An vẫn cố nhắc chị khi nào đoàn tàu đến hãy gọi em dậy, trong mong manh vô thức, An cũng có khao khát đổi đời như tất cả người dân nơi đây. Khi đoàn tàu xuất hiện, tiếng reo lên đầy vui sướng: “đèn ghi đã ra kia rồi”, hồi còi tàu hảo kéo dài, làn khói sáng trắng xuất hiện từ phía xa. Đoàn tàu vụt qua mang đến biết bao âm thanh: “tiếng xe rít mạnh vào ghi” , “tiếng hành khách ồn ào khe khẽ”, “tiếng còi rít lên”, đó là sự náo nhiệt, ồn ã, đông vui trái ngược hẳn với sự tĩnh lặng của phố huyện. Trên các toa tàu sáng rực “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường”, “đồng và kền lấp lánh” nó gắng liền với cuộc sống sang trọng, giàu có trong phút chốc xua đi bóng tối, sự ảm đạm của cuộc sống nơi đây. Đoàn tàu đi qua, người ta vẫn cố nhìn theo đóm lửa xanh cho đên khi nó mất hẳn. Nếu đoàn tàu đi qua mang lại ánh sáng rực rỡ như sao băng thì giờ đây ở phố huyện chỉ còn lại vầng sáng nhỏ bé, leo lét, đêm tối lại bao bọc xung quanh. Đoàn tàu là hình ảnh của quá khứ, của Hà Nội, gợi về một thế giới thần tiên mà hai đứa trẻ từng được trải nghiệm, là biểu tượng của thế giới hạnh phúc mà hai đứa trẻ cũng như tất cả người dân phố huyện đang khao khát.

    Cốt truyện đơn giản, hầu như không có cốt truyện, nhưng giàu chất trữ tình đã ghi lại một cách chân thực và cảm động về mớ ước đổi đời của người dân phố huyện. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đặc sắc, với bức tranh nên thơ, lãng mạn mà đượm buồn. Ngôn ngữ nhẹ nhàng, tinh tế. Nghệ thuật tương phản đối lập giữa ánh sáng và bóng tối làm bật lên mơ ước đẹp đẽ của con người nơi đây. Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng là điểm cần lưu ý, nhân vật Liên chú ý đi sâu miêu tả những trạng thái tình cảm, cảm xúc vừa cho thấy tâm hồn trong sáng, đẹp đẽ vừa cho thấy mơ ước về một cuộc sống khác ở em.

    Bằng một truyện ngắn đậm chất trữ tình, Thạch Lam đã thể hiện niềm xót thương với những kiếp người nghèo nàn, sống quẩn quanh nơi phố huyện. Đồng thời tác phẩm cũng là sự nâng niu, trân trọng của nhà văn với những ước mơ đổi đời đẹp đẽ của con người nơi đây.

    Bài văn mẫu 3

    Nội dung bao trùm của truyện Hai đứa trẻ là tấm lòng “êm mát và sâu kín” của Thạch Lam đối với con người và quê hương, ở đây, nhà văn vừa thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người nghèo khổ sống lam lũ, quẩn quanh trong xã hội cũ vừa bộc lộ thái độ đồng cảnh, trân trọng đối với khát vọng tuy rất mơ hồ của họ. Qua truyện Hai đứa trẻ, người đọc còn cảm nhận được phần nào tình cảm gắn bó với quê hương đất nước của Thạch Lam.
    Đọc truyện Hai đứa trẻ, trước hết chúng ta có ấn tượng về cuộc sống lụi tàn, tù túng của những kiếp người sống nghèo đói, quẩn quanh, không ánh sáng, không tương lai trong xã hội cũ.

    Câu chuyện mở đầu bằng những câu văn êm dịu, với những âm thanh và hình ảnh báo hiệu một ngày tàn: “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.

    Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ra, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ra ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Đây là một trong nhiều bằng chứng ở tác phẩm này cho thấy: “Văn của Thạch Lam thường hiếm khi thừa lời, thừa chữ, không uốn éo làm duyên một cách cầu kì kiểu cách, nhưng vừa giàu hình ảnh và nhạc điệu, lại vừa uyển chuyển, tinh tế (Vũ Ngọc Phan). Nó không những cho người đọc nhìn thấy cảnh vật mà điều quan trọng hơn là khơi gợi ở họ tình cảm, xúc cảm đối với cảnh vật. Hơn nữa, cảnh vật lại phần nhiều đều rất gần gùi, bình dị và mang cốt cách Việt Nam.

    Bên cạnh cảnh ngày tàn, chợ tàn là những kiếp người tàn tạ.
    Chị Tí ban ngày mò cua, bắt tép, tối đến dọn hàng nước chè tươi, thắp một ngọn đèn dầu leo lét. Hàng vắng khách, tuy chiều nào chị cũng dọn từ chập tối cho đến đêm, nhưng “chả kiếm được bao nhiêu”. Bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, cáỉ thau để trước mặt, “góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong yên lặng. Thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong các bên đường”. Bà cụ Thi hơi điên lại nghiện rượu, có tiếng cười khanh khách, ghê sợ, sau khi uống một hơi cạn cút rượu ti, “cụ đi lần vào bống tối”. Chị em Liên phải thức để trông “một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc”. Hàng “bán chăng ăn thua gi”, Liên thương mấy đứa trẻ nghèo, nhưng “không có tiền để mà cho chúng nó”. Cảnh Liên xếp hàng vào hòm, cách hai chị em tính tiền, niềm nuối tiếc cái thời còn ở Hà Nội nhỉếu khi “được đi chơi Bờ Hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ”, cái ý nghĩ phở bác Siêu là “một thứ quà xa xỉ” không bao giờ chị em Liên có thể mua được… khiến chúng ta có thể hình dung ra gia cảnh khó khăn và mức sống eo hẹp của gia đình Liên. Thế nhưng, có lẽ dẫu sao, gia đình hai dứa trẻ cũng còn có phần khẩm khá hơn gia đình chị Tí và bác Xẩm, vì còn có “một gian hàng bé thuê lọi của bà lão móm, ngăn ra bằng một tấm phên nứa dán giấy nhật trình”…

    Như vậy, từ gia đình chị Tí, gia đình bác Xẩm đến bà cụ Thi và chị em Liên, mỗi người một cảnh, nhưng họ đều có chung sự buồn chán, mỏi mòn… Điều đáng nói hơn là tất cả những nhân vật bé nhỏ này đã hiện ra trong cái nhìn xót thương của Thạch Lam, được thể hiện qua lời văn và những chi tiết dường như rất khách quan.

    Khi trời tối hẳn, cả phố huyện dường như chỉ thu vào ngọn đèn của chị Tí. Ngoài ngọn đèn này ra, “thứ bóng tối nhẫn nại uất ức đời thôn quê” (Thế Lữ) làm chủ tất cả. Không phải ngẫu nhiên trong tác phẩm, nhà văn nhắc đi, nhắc lại chi tiết ngọn đèn chị Tí tới 7 lần. Kết thúc truyện, hình ảnh gây ấn tượng, day dứt cuối cùng, đi vào giấc ngủ của Liên cũng vẫn là “chiếc đèn con của chị Tí chiếu sáng một vùng đất nhỏ”.

    Phải chăng, hình ảnh này chính là biểu tượng của những kiếp người nghèo khổ, lam lũ sống vật vờ, leo lét trong màn đêm của xã hội thực dân nửa phong kiến?

    Nhịp sống ở phố huyện này cứ lặp đi, lặp lại một cách đơn điệu, quẩn quanh và tẻ nhạt
    Ngày qua ngày, chiều nào chị Tí cũng dọn hàng “từ chập tối cho đến đêm”, tối nào bác Siêu bán phở cũng nhóm lửa, gia đình bác Xẩm cũng chờ khách, người nhà cụ Thừa, cụ Lục cũng đi gọi người đánh tổ tôm. Chị em Liên tối nào cũng tính tiền hàng, “cũng phải ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc cây bàng” và “ngày nào, cứ chập tối, mẹ Liên lại tạt ra thăm hàng một lần” …

    Như vậy, “chừng ấy người trong bóng tối” ngày này qua ngày khác sống quẩn quanh, tù túng trong cái “ao đời bằng phẳng” (Xuân Diệu). Hình ảnh những con người này khiến ta nhớ đến một số câu thơ trong bài Quẩn quanh của Huy Cận:
    Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu,
    Tới hay lui cũng ngần ấy mặt người.
    Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười,
    Môi nhắc lại cũng ngần ấy chuyện.

    Hay nhớ đến cuộc sống đơn điệu, nhạt nhẽo “cơm mai rồi lại cơm chiều, rút cục mỗi ngày hai bữa cơm” của những nhân vật như Quỳnh và Giao trong thiên truyện ý tưởng Tỏa nhị Kiều của Xuân Diệu.

    Tuy thế, những người dân phố huyện vẫn hi vọng cho dù hi vọng đó rất mơ hồ: “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Chính sự mong đợi mơ hồ này dường như càng tô đậm thêm tình cảnh tội nghiệp của những nhân vật trong truyện. Họ sống đấy, nhưng đâu biết ngày mai số phận mình sẽ ra sao! Một niềm xót thương da diết cửa Thạch Lam thế hiện kín đáo ngay trong cách dựng người: dựng cảnh và cái giọng văn đều đều, chậm buồn của ông.

    Việc phân tích cảnh ngày tàn, chợ tàn và những kiếp người tàn trên đây giúp ta hiểu vì sao chị em Liên đêm nào cũng cô thức để chờ chuyến tàu đi qua.

    Phải chăng hai chị em chờ tàu để bán được hàng? Không, “Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại, đêm họ chỉ mua bao diêm hay gói thuốc là cùng”. Hơn nữa, “Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt”, nhưng cô vẫn chưa chịu ngủ. Còn “An đã nằm xuống […] mi mắt đã sắp sửa rơi xuống”, vẫn không quên dặn chị nhớ đánh thức mình dậy khi tàu đi qua. Hại chị em cố thức chì vì “muốn được nhìn chuyến tàu, đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”; vì với hai đứa trẻ, con tàu đâu chỉ là con tàu. Nó là cả một thế giới khác – “Một thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn cái Vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu”.

    Có lẽ chính vì vậy mà chuyến tàu được Thạch Lam tập trung bút lực miêu tả một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng theo trình tự thời gian qua tâm trạng chờ mong của hai nhân vật Liên và An.
    Dấu hiệu đầu tiên của đoàn tàu là sự xuất hiện của người gác ghi. Tiếp theo là Liên trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi”, rồi cô nghe thấy tiếng còi xe lửa “kéo dài ra theo ngọn gió”. Sau đó, “hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi” kèm theo “một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào”. Thế rồi, “tàu rầm rộ đi tới”, “các toa đèn sáng trưng”, “những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”. Cuối cùng là cảnh tàu đi vào đêm tối “để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt”, “chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa măi rồi khuất sau rặng tre” …

    Đối với chị em Liên và có thể cả không ít người dân phố huyện, chuyến tàu đêm là biểu tượng của sự sống mạnh mẽ, sự giàu sang, rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện. Riêng đối với chị em Liên, chuyến tàu đêm còn gợi nhớ về những kỉ niệm của ngày xưa sung sướng, tại đất Hà Nội, khi thầy chưa mất việc.

    Phố huyện rầm rộ lên trong chốc lát rồi lại chìm sâu vào bóng đêm yên tĩnh. Và đáng nói hơn: Những người dân phố huyện chỉ chính thức chấm dứt hoạt động khi chuyến tàu đêm đã qua.

    Phố huyện lại trở về phố huyện. Hình ảnh ngọn đèn leo lét của chị Tí lại hiển hiện trong trạng thái chập chờn của Liên trước khi cô chìm hẳn vào “giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối”.

    Qua việc miêu tả tâm trạng của Liên, Thạch Lam thể hiện niềm trân trọng, thương xót, đối với những kiếp người nhỏ bé, sống trong nghèo nàn tăm tối, buồn chán nơi phố huyện (nói rộng ra là sống ở đất nước còn đắm chìm trong đói nghèo, nô lệ đương thời). Điều này, đương thời Thế Lữ cũng đã nhận xét: “Sự thật tâm hồn Thạch Lam diễn ra trong lời văn chương phức tạp, nhiều hình nhiều vẻ, nhưng bao giờ cũng đằm thắm nhân hậu, cũng nghẹn ngào một chút lệ thầm kín của tình thương. Nếu Thạch Lam theo một chủ kiến nào trong công việc viết văn của anh, thì chủ ý ấy diễn ra và gợi lên sự xót thương”.

    Qua tâm trạng của Liên, phải chăng Thạch Lam dường như còn muốn lay tỉnh những con người đang buồn chán, đang sống quẩn quanh, lam lũ hãy cố vươn tới ánh sáng? Điều này chỉ có được ở những cây bút xuất hiện từ những năm 30 của thế kỉ XX, khi họ ý thức đầy đủ về “cái tôi” cá nhân, cá thể. Ở đây, dường như Thạch Lam đã bắt gặp Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Tuân… (ở dòng văn học lãng mạn), Nam Cao, Bùi Hiển, Tô Hoài,… (ở dòng văn học hiện thực) trong việc không chấp nhận sống trong cái “ao đời bằng phẳng”, mòn mỏi và tù túng, khao khát hướng tới một cuộc sống có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống của con người.
    Như vậy, thể hiện một cách nhẹ nhàng khát vọng hướng tới cuộc sống sáng tươi của những con người bé nhỏ, bình thường, Hai đứa có một giá trị nhân bản đáng quý.

    Ngoài ra, Hai đứa trẻ phần nào còn là một bài ca về thiên nhiên, đất nước.
    Bằng sự gắn bó với đất nước và dân tộc, bằng tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, Thạch Lam đã đưa đến cho người đọc những bức tranh quê hương gần gũi mà không kém phần thơ mộng, đầy gợi cảm: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, vàng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào.. “, “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”.

    Các nhân vật trong truyện luôn gắn bó với thôn dã. Bởi thế, chỉ mới gặp “mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc”, chị em Liên đã “tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”.

    Vốn sống hòa hợp gần gũi với thiên nhiên, hai đứa trẻ luôn chú ý phát hiện tinh tế những biến thái của nó: “An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông”. Tâm hồn chúng dường như có sự giao cảm, giao hòa với cây cỏ quê hương: qua kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Những cảnh vật, những chi tiết trên đây hết sức quen thuộc, thường có ở quanh ta. Vậy mà bằng một giọng văn dịu dàng, trầm tĩnh, dưới ngòi bút Thạch Lam, chúng trở nên gợi cảm biết bao! Ta hiểu rằng, lòng yêu quê hương đất nước của mỗi con người Việt Nam chính có phần được bồi đắp bởi những chi tiết hết sức bình dị này.

    Điều đáng lưu ý là nhìn chung trong những tác phẩm của các cây bút hiện thực như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… dường như ít thấy cảm hứng về thiên nhiên. Như vậy, đây phải chăng cũng có thể coi như một đóng góp của Thạch Lam cho văn học giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945?

    Hơn nữa, trong khi nhiều truyện ngắn những năm 30 – 40 của thế kỉ XX thường lôi cuốn người đọc bằng cốt truyện hấp dẫn, tình tiết mới lạ, cách dẫn chuyện khéo léo có duyên, hay bút pháp phóng đại… (chẳng hạn phần nhiều những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan), thì truyện của Thạch Lam lại làm cho người đọc yêu mến bằng chất thơ trong cuộc sống thường nhật. Mỗi truyện thường cấu tứ xung quanh một tâm trạng, một suy tưởng âm thầm của nhân vật. Vì là truyện trữ tình, nên đằng sau các chi tiết, các nhân vật luôn ẩn hiện hình ảnh của chính tác giả – một con người tinh tế, dịu dàng, nhạy cảm trước mọi biến thái của đất trời và của lòng người, đặc biệt luôn xót thương những kiếp người sống quẩn quanh, đói nghèo và tăm tối.