Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • Phân tích bài thơ Tự tình 1 của Hồ Xuân Hương

    Phân tích bài thơ Tự tình 1 của Hồ Xuân Hương

    Phân tích bài thơ Tự tình 1 của Hồ Xuân Hương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Bình giảng bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    [toc]

    Đề bài: Phân tích bài thơ “Tự tình 1” của nữ sĩ Hồ Xuân Hương

    Bài văn mẫu

    Thi sĩ Xuân Diệu vinh danh nữ sĩ Hồ Xuân Hương là “Bà chúa thơ Nôm. Nữ sĩ để lại khoảng 50 bài thơ Nôm theo thể thất ngôn tứ tuyệt hoặc thất ngôn bát cú Đường luật.

    Chùm thơ “Tự tình” gồm có 3 bài; đây là bài thứ nhất:
    “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom…
    … Tài tử văn nhân ai đố tá?
    Thân này đâu đã chịu già tom!”

    Mở đầu bài thơ, hai câu đề gợi ra một không gian bao la, mờ mịt từ bom thuyển ở nơi dòng sổng đến khắp mọi chòm xóm, thôn làng. Người phụ nữ thao thức suốt những canh dài. Tiếng gà gáy “văng vẳng” trên bom thuyền từ xa đưa tới. Đêm dài chuyển canh, mịt mùng vắng lặng mới nghe thấy tiếng gà gáy “văng vẳng” như thế. Nghệ thuật lấy động (tiếng gà gáy) để diễn tả cái tĩnh lặng vắng vẻ của đêm dài nơi làng quê đã góp phần làm nổi bật tâm trạng “oán hận” của người phụ nữ thao thức suốt những canh trường. Nàng ngồi dậy, lắng tai nghe tiếng gà gáy sang canh, rồi “trông ra” màn đêm mịt mùng. Màn đêm như bủa vây người phụ nữ trong nỗi buồn cô đơn, oán hận:
    “Tiếng gà văng vẳng gáy trên bom,
    Oán hận trông xa khắp mọi chèm “.

    Hai câu 3, 4 trong phần thực, tác giả tạo ra hai hình ảnh “mổ thảm” và “chuông sầu” đối nhau, hô ứng nhau, cực tả nỗi đau khổ, sầu tủi của riêng mình đang sống trong cảnh ngộ quá lứa 15 thì, trắc trở trong tình duyên. Vần thơ đầy ám ảnh. Phủ định để khẳng định tiếng “cốc” của “mổ thảm”, tiếng “om” của “chuông sầu”. Nữ sĩ đã và đang trải qua những đêm dài thao thức và cô đơn, đau cho nỗi đau của đời mình cô đơn như “mõ thảm”, chẳng ai khua “mà cũng cốc”; tủi cho nỗi tủi của riêng mình lẻ bóng chăn đơn như “chuông sầu” chẳng đánh “cớ sao om”. Nỗi oán hận, đạu buồn sầu tủi như thấm vào đáy dạ, tê tái xót xa, như đang toả rộng trong không gian “khắp mọi chòm”, như kéo dài] theo thời gian của những đêm dài. “Om” là tiếng tượng thanh, tiếng chuông sầu, cũng là gợi tả nỗi thảm sầu tê tái, đau đớn đến cực độ. Câu hỏi tu từ đã làm cho giọng thơ thảm thiết, xoáy sâu vào lòng người như một lời than, như một tiếng thở dài tự thương mình trong nỗi buồn ngao ngán:
    “Mớ thảm không khua mà cũng cốc y,
    Chuông sầu chẳng đánh cớ sao om?”

    Có biết thời con gái, Hồ Xuân Hương đã có những vần thơ tươi xinh, phơi phới như ‘Thân em vừa trắng lại vừa tròn” (Bánh trôi nước), “Hai hàng chân ngọc duỗi song song” (Đánh đu),… ta mới thấy hết nỗi thảm sầu về bi kịch cô đơn của nữ sĩ được diễn tả tê tái trong hai câu trong phần thực này.

    Lời than tự tình trong cô đơn được khơi sâu trong phần luận, để mà “rầu rĩ’ thêm, giận hờn thêm cho duyên phận hẩm hiu:
    “Trước nghe” đối với “sau giận”, “tiếng” hô ứng với “duyên”; “rầu rĩ” là tâm trạng đối với “mõm mòm” là trạng thái. “Trước nghe nhưng tiếng..”, là những tiếng gì? — Tiếng của miệng thế gian? Hay tiếng gà văng vẳng gáy, tiếng “chuông sầu”, tiếng “mõ thảm” đang “cốc”, đang “om” trong lòng mình? Giữa canh khuya thao thức, càng nghe càng thêm “rầu rĩ”, buồn tủi. Giữa lúc tàn canh thao thức, càng nghe càng “giận”, càng hờn về tình duyên bẽ bàng. Tình duyên của mình được ví với trái cây, không còn “má hây hây gió” (Xuân Diệu) nữa mà đã chín “mõm mồm”, nghĩa là quá chín, đã nẫu đi! Duyên “mõm mồm” là duyên phận hẩm hiu, quá lứa lỡ thì! Trong câu thơ như có nhiều lệ, nhiều tiếng thở dài, vừa than thân trách phận, vừa buồn tủi về con đường tình duyên. Tiếng thơ tự tình của Hồ Xuân Hương là lời than tự thương mình, đồng thời thương cho những người đàn bà cùng cảnh ngộ đã luống tuổi mà vẫn cô đơn lẻ bóng: “Giật mình mình lại thương mình xót xa” (Truyện Kiều).

    Phẩn kết xuất hiện một tứ thơ rất lạ. Như một sự thách đố với số phận, với duyên số. Nữ sĩ vẫn “bướng bỉnh” trước bi kịch cô đơn của mình khi “duyên để mỏm mỏm” rồi:
    ‘Tài tử văn nhân ai đó tú?
    Thân này dâu đã chịu già tom!

    Vừa nghi vấn, vừa cảm thán, hai câu kết đầy nghịch lí. Nữ sĩ như vẫn còn tin vào tài năng của mình có thể làm xoay chuyển được duyên phận, vẫn hi vọng tìm được bạn đòi trăm năm trong đám tài tử văn nhân. Câu 6 nữ sĩ viết: “Sau giận vì duyên để mõm mòm”, câu 8 bà lại viết: Thân này đâu dã chịu già tom! “Già tom ” nghĩa là rất già, già hản, khô quắt đi! ! Đó là một cách “nói cứng” thể hiện một thái độ “bướng bỉnh”, một bản lĩnh cứng cỏi trước ngang trái cuộc đời. Đọc chùm thơ “Tự tình” cũng như tìm hiểu cuộc đời của nữ sĩ, về mặt tình duyên, ta thấy hạnh phúc tình yêu chưa một lần mỉm cười với Xuân Hương. Bài thơ “Cảm cựu kiêm trình cần chánh học sĩ Nguyễn Hầu” (Nhớ người cũ, viết gửi Cần chánh học sĩ Nguyễn Du – tước hầu) như một bóng quang âm soi tỏ một “mảnh tình riêng” của “Bà chúa thơ Nôm”, giúp ta cảm nhận bài thơ “Tự tình” này:

    “Dặm khách muôn nghìn nỗi nhớ nhung,
    Mượn ai tới đấy gửi cho cùng.
    Chữ tình chốc đã ba năm vẹn,
    Giấc mộng rồi ra nửa khắc không.
    Xe ngựa trộm mừng duyên tấp nập,
    Phấn son cùng tủi phận long đong.
    Biết còn mảy chút sương sều mấy,
    Lâu nguyệt năm canh chiếc bóng chong”.

    Bài thơ “Tự tình ” gieo vần “om”, năm vần thơ, vần nào cũng hóc hiểm, tài tình: “bom-chòm-om-mòm-tom”. Những vần thơ hóc hiểm ấy, một mặt thể hiện bút pháp điêu luyện, mặt khác đã tạo nên nhạc điệu, âm điệu như thắt, như nén lại cái “oán”, cái “hận”, cái “ngang bướng” của một tâm trạng – một cá tính rất Xuân Hương. Duyên số và hạnh phúc tình yêu của người phụ nữ là nội dung đầy ám ảnh đối với mỗi chúng ta khi đọc bài thơ “Tự tình” này của Xuân Hương. “Tự tình” là tiếng than thân trách phận cho nỗi buồn cô đơn, về bi kịch tình yêu, là niềm khao khát hạnh phúc của người phụ nữ. Vì lẽ đó, “Tự tình” mang giá trị nhân bản sâu sắc.

  • Bình giảng khổ cuối bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng khổ cuối bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng khổ cuối bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bình giảng khổ 5 bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    [toc]

     

    Đề bài: Bình giảng khổ thơ kết thúc bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi sau đây:

    Bài văn mẫu

        Nguyễn Đình Thi có câu thơ viết về mùa thu rất gợi:

        “Sáng mát trong như sáng năm xưa

        Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

        Có những câu thơ đẹp, giàu cá tính sáng tạo:

        “Những dòng sông đỏ nặng phù sa”

        Thơ Nguyễn Đình Thi có bản sắc riêng, có những tìm tòi về hình ảnh và ngôn ngữ, dạt dào về cảm xúc khi ông viết về đất nước trong chiến tranh:

        “Ôm đất nước những người áo vải

        Đã đứng lên thành những anh hùng”.

        Kết thúc bài thơ “Đất nước” là hình ảnh nước Việt Nam – Tổ quốc thân yêu – lẫm liệt và hiên ngang, quật khởi và kiêu hãnh trong tư thế hào hùng chiến đấu và chiến thắng:

        “Súng nổ rung trời giận dữ

        Người lên như nước vỡ bờ

        Nước Việt Nam từ máu lửa

        Rũ bùn đứng dậy sáng lóa”.

        Khổ thơ kết này được Nguyễn Đình Thi sử dụng rất sáng tạo thể thơ lục ngôn thể hiện cảm xúc như bị dồn nén lại, chất chứa trong lòng đất nước bấy nay. Giọng thơ bừng bừng vang lên như một khúc ca chiến trận. Đất nước đã trải qua những năm dài “đau thương chiến đấu”, biết bao máu đổ xương rơi, bao hi sinh gian khổ “Ngày nắng đốt theo đêm mưa dội – Mỗi bước đường mỗi bước hi sinh”, thì mới có cảnh tượng hào hùng này:

        “Súng nổ rung trời giận dữ

        Người lên như nước vỡ bờ”.

        Cả đất nước đứng lên nổ súng tấn công quân xâm lược; tiếng súng nổ rung trời, quân thù bị giáng những đòn chí mạng. Trên những con đường chiến dịch, quân và dân ta ào ào ra trận, “người người lớp lớp” (Trần Dần), “đêm đêm rầm rập như đất rung” (Tố Hữu) vì thế trong tổng công kích, tổng phản công mới có cảnh tượng “súng nổ rung trời giận dữ” như vậy. Đất nước tiến công với sức mạnh của cả dân tộc. Hai tiếng “rung trời” cảm nhận thế đánh của đất nước mang tầm vóc kì vĩ vũ trụ. Đó là thế tiến công của quân dân ta trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 – 1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ mới có sức mạnh thần kì ấy. Tiếng súng ấy còn chứa chất bao nỗi căm thù, giận dữ sôi sục. Giận dữ vì quân thù đã giày xéo đất nước ta, gây ra bao nhiêu tội ác tày trời: “Bát cơm chan đầy nước mắt”,… “những cánh đồng quê chảy máu”, và đã 9 năm trời đằng đẵng “Dây thép gai đâm nát trời chiều” quê hương đất nước ta. “Giận dữ” biến thành sức mạnh chiến đấu và chiến thắng.

        Câu thơ “Người lên như nước vỡ bờ” là một câu thơ hàm súc, khơi nguồn cảm hứng từ một thành ngữ – tục ngữ dân gian: “Tức nước vỡ bờ” rồi tạo nên một so sánh, để hình tượng hóa sức mạnh chiến đấu vô cùng mạnh mẽ và to lớn của nhân dân ta quyết đánh tan mọi kẻ thù, cuốn phăng mọi thế lực tàn ác trên con đường đất nước đi tới tương lai tươi sáng. Câu thơ nói ít mà gợi nhiều, thế và lực của đất nước dồn nén và tích tụ, bật lên và phóng tới như một mũi tên từ cánh cung thần của người anh hùng thần thoại. Sức mạnh của thời đại Hồ Chí Minh, của 9 năm kháng chiến chống Pháp của đất nước ta đã truyền cho ngòi bút Nguyễn Đình Thi niềm tin tưởng tự hào để viết nên những vần thơ hào sảng, cho ta nhiều liên tưởng và cảm xúc về sức mạnh quật khởi của đất nước anh hùng.Hai câu cuối như một tổng kết về hành trình lịch sử của đất nước. Có “rũ bùn” mới có “đứng dậy”, từ “máu lửa” mới có cảnh tượng “sáng lòa”. Câu thơ như một lời đúc kết về chiến tranh cách mạng, về một chân lí lịch sử của đất nước ta trong thời đại Hồ Chí Minh:

        “Nước Việt Nam từ máu lửa

        Rũ bùn, đứng dậy sáng lòa”.

        Chữ “từ” trong câu thơ nói lên một quá trình, một sự thay đổi lớn lao của đất nước. Ba tiếng “Nước Việt Nam”cất lên, vang lên trong vần thơ biểu lộ niềm vui sướng tự hào vô hạn của tác giả. Mười sáu năm sau, trên chiến trường Trị Thiên giữa những ngày sôi sục đánh Mỹ, kết thúc bài thơ “Đất nước” – Chương V bản trường ca “Mặt đường khát vọng”, nhà thơ trẻ Nguyễn Khoa Điềm, cũng có cảm hứng tự hào ấy đã gọi tên Đất Nước:

        “Khi ta đến gõ lên từng cánh cửa

        Thì tin yêu ngay thẳng đón ta vào

        Ta nghẹn ngào: Đất nước Việt Nam ơi!”.

        Từ “máu lửa” là từ những hi sinh, mất mát, đau thương. Nói như Chế Lan Viên thì “Mỗi trang sử đất này đều ngập máu cha ông” (Sao chiến thắng). Từ “máu lửa” là từ những năm dài kháng chiến “một gốc tre ba đời đánh giặc”. “Từ máu lửa” là từ nô lệ lầm than mà nhân dân “rũ bùn đứng dậy” trong tư thế lẫm liệt chiến thắng vẻ vang: “sáng lòa”.

        Câu thơ từ nhịp 6 chuyển sang nhịp 2 diễn tả dáng đứng Việt Nam hào hùng:

        “Nước Việt Nam từ máu lửa

        Rũ bùn / đứng dậy/ sáng lòa”.

        “Đứng dậy” – thể hiện sức mạnh quật khởi của đất nước, khát vọng tự do của nhân dân cầm vũ khí chiến đấu với quyết tâm “thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ!” (Hồ Chí Minh). “Từ máu lửa” đến “rũ bùn đứng dậy” mới có cảnh tượng huy hoàng: “sáng lòa”. Tứ thơ này được viết ra bằng cảm hứng lãng mạn nói về viễn cảnh của đất nước sau ngày đánh thắng quân xâm lược, bước vào một kỉ nguyên mới: độc lập, tự do, thịnh vượng. Câu thơ còn mang một hàm nghĩa lịch sử: cái giá của độc lập, tự do và niềm tự hào lớn lao về đất nước và kháng chiến.

        Đoạn thơ trên mang đầy vẻ đẹp hàm súc về ngôn ngữ, vẻ đẹp tráng lệ về niềm tự hào đất nước, về kháng chiến. Ý thơ khái quát nâng lên tầm trí tuệ: khẳng định và ngợi ca sức mạnh nhân nghĩa Việt Nam trong thời đại Hồ Chí Minh. Đoạn thơ cho ta niềm tin về đất nước trên hành trình lịch sử: “Rũ bùn đứng dậy sáng lòa”, để ta sung sướng, reo lên:

        “Ta nghẹn ngào: Đất nước Việt Nam ơi!”.

     

     

  • Bình giảng khổ 5 bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng khổ 5 bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng khổ 5 bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bình giảng 4 khổ thơ đầu bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng khổ 5 trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:

        “Ôi những cánh đồng quê… nhớ mắt người yêu”.

    Bài văn mẫu

        Có những vần thơ xao xuyến bồi hồi. Có những vần thơ ngọt ngào say đắm. Lại có những vần thơ đĩnh đạc, hào hùng. Còn có lúc, ta bị ám ảnh khôn nguôi trước những vần thơ yêu thương và căm giận:

        “Ôi những cánh đồng quê chảy máu,

        Dây thép gai đâm nát trời chiều

        Những đêm dài hành quân nung nấu

        Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”.

                     “Đất nước” – Nguyễn Đình Thi

        “Đất nước” là bài thơ sáng giá nhất của Nguyễn Đình Thi viết trong kháng chiến chống Pháp, cũng là bài thơ kiệt tác viết về đề tài quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại. Nó đã được tác giả thai nghén và hình thành trong một quá trình lịch sử khá dài (1948 – 1955). Các áng thơ “Đêm mít tinh”, “Sáng mát trong như sáng năm xưa” – đã khơi nguồn cảm hứng để Nguyễn Đình Thi khám phá và thể hiện tuyệt đẹp tình yêu nước một cách nồng nàn, say đắm.

        “Đất nước” như một phức điệu đa thanh nói về cảm xúc mùa thu quê hương xưa và nay. Là tiếng nói say mê về cảnh thiên nhiên tươi đẹp, hùng vĩ, là niềm tự hào về truyền thống bất khuất của dân tộc anh hùng. Nó là tiếng nói xót xa, căm giận quân xâm lược đang giày xéo đất nước thân yêu. Phần cuối bài thơ biểu lộ niềm kiêu hãnh của người chiến sĩ trước tư thế chiến đấu và chiến thắng lẫm liệt hiên ngang “rũ bùn đứng dậy sáng lòa!” của đất nước. Đoạn thơ bốn câu trên đây trích trong phần thức ba của bài “Đất nước”.

        Nhà thơ – người chiến sĩ – như đang nắm chắc tay súng “lắng hồn núi sông ngàn năm”, lắng nghe những âm vang của lịch sử, giống nòi “rì rầm trong tiếng đất” tự nghìn xưa “vọng nói về”: những Bạch Đằng, Chi Lăng, Đống Đa… bất tử! Từ quá khứ nghìn xưa trở về hiện tại, câu thơ vút lên nghẹn ngào, đau đớn:

        “Ôi những cánh đồng quê chảy máu”.

        Cảnh tượng đau thương mà nhà thơ nói đến là mùa thu 1948, khi cuộc kháng chiến chống Pháp xâm lược của nhân dân ta đang diễn ra vô cùng ác liệt! Nhiều đô thị, nhiều vùng nông thôn rộng lớn của đất nước ta đang bị giặc Pháp chiếm đóng và giày xéo “Đường làng bao xương máu tơi bời – Vườn không nhà trống tan hoang” (“Làng tôi” – Văn Cao). “Những cánh đồng quê chảy máu” – hình ảnh hoán dụ tượng trưng cho đất nước thân yêu, những làng xóm thân thuộc đang bị quân thù càn quét, bắt giết dã man. Máu những người nông dân hiền lành đã chảy ngập đường thôn, luống cày… dưới làn bom đạn của lũ cướp nước. Xưa kia thuở thanh bình, đất nước là “những cánh đồng thơm mát…”, “xanh xanh bãi mía bờ dâu…”, thì kể từ khi “súng giặc đất rền”, đã trở nên tang thương, điêu tàn với “những cánh đồng quê chảy máu”. Nhân dân ta bị giặc Pháp tàn sát dã man. Hai chữ “chảy máu” lên án tội ác và chính sách tam quan của quân cước nước: giết sạch, cướp sạch, đốt phá sạch! Từ “Ôi” cảm than diễn tả nỗi lòng đau đớn, xót xa không thể nào kể xiết!

        Từ cái nhìn toàn cảnh về không gian đau thương, về “những cánh đồng quê chảy máu”, nhà thơ đứng lặng nhìn về các phía chân trời. Một nét vẽ thậm xưng, độc đáo, rất sáng tạo:

        “Đây thép gai đâm nát trời chiều”.

        Quân giặc tàn bạo ra sức bắn giết, càn quét, chiếm đất, dồn dân. Đồn giặc như nấm độc mọc lên khắp mọi nơi. “Dây thép gai” cũng là một hình ảnh hoán dụ nói về bốt đồn giặc, sự chiếm đóng dã man của quân cướp nước. Những núi thép gai, những hàng rào dây thép gai tua tủa nhọn hoắt bao bọc xung quanh đồn giặc không chỉ nhằm chống đỡ những trận tấn công vũ bão của quân đội ta, mà còn “đâm nát trời chiều”. Một cách nói thậm xưng đầy ấn tượng về tội ác và âm mưu cướp nước của giặc Pháp. “Mấy trăm năm thấp thoáng mộng bình yên” là những chiều thôn trang êm đềm có “cánh cò trắng vẫy mênh mông”, có “tiếng ốc xa đưa vẳng trống đồn”, có tiếng sáo mục đồng dẫn trâu về thôn… Nhưng nay còn đâu nữa? Cảnh trời chiều quê hương đã và đang bị dây thép gai đồn giặc “đâm nát”. Nỗi đau từ đất trời như đang cứa nát, đâm nát lòng người!

        Ở phần đầu bài thơ, Nguyễn Đình Thi nói về cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và hùng vĩ của đất nước với trời xanh, những cánh đồng quê thơm mát, những ngả đường bát ngát, những dòng sông đỏ nặng phù sa – và tất cả đều “của chúng ta”. Nhưng từ khi giặc tràn tới đồng quê thì “chảy máu”, trời chiều thôn trang thì bị dây thép gai “đâm nát”, biết bao đau đớn, căm hờn! Tác giả “Đất nước” tạo nên sự đối lập, tương phản đầy ấn tượng: xưa và nay, thanh bình với chiến tranh, hữu tình nên thơ với điêu tan, tang tóc – để lên án tội ác dã man của giặc Pháp mà trời không thể dung tha, người người đều căm giận! Sự kết hợp tài tình các biện pháp tu từ hoán dụ, cảm than, thậm xưng, và tương phản đã tạo nên vần thơ giàu hình tượng và biểu cảm. Qua đó, ta cảm nhận được cốt cách của Nguyễn Đình Thi: hồn thơ đẹp, tài hoa, cảm xúc dồn nén, ngôn từ xác thực, hình tượng sáng tạo. Nhà thơ đã dẫn hồn người đọc sống và cảm nhận với hiện thực đất nước một thời khói lửa, mở rộng cho ta một trường liên tưởng về không gian nghệ thuật để mọi người cùng suy ngẫm về dòng lịch sử và hành trình bi tráng của dân tộc. Và đó cũng là cái giá của độc lập tự do để ta nhớ và tự hào!

        Gần 150 năm về trước, trong bài thơ “Chạy giặc”, Nguyễn Đình Chiểu đã căm giận lên án quân xâm lược:

        “Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây…

        (…) Bến Nghé của tiền tan bọt nước,

        Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây…”

        Có biết bao câu thơ xúc động làm sôi sục lòng người những năm tháng đất nước “ra trận”:

        “Quê hương ta từ ngày khủng khiếp

        Giặc kéo lên ngùn ngụt lửa hung tàn

        Ruộng ta khô

        Nhà ta cháy

        Chó ngộ một đàn

        Lưỡi dài lê sắc máu

        Kiệt cùng ngõ thẳm bờ hoang…”.

                    “Bên kia sông Đuống” – Hoàng Cầm

        Đó là những vần thơ một thời tạc vào thời gian và lòng người để ta nhớ mãi.

        Câu thơ thứ ba nói lên tâm trạng người chiến sĩ ra trận:

        “Những đêm dài hành quân nung nấu”.

        Câu 1 nói về “những cánh đồng quê chảy máu”, câu ba tứ thơ chỉ rõ “Những đêm dài hành quân nung nấu”, từ không gian đau thương mở ra thời gian căm giận, không chỉ một đêm, năm mười đêm mà là “những đêm dài”… Cấu trúc song hành, điệp lại 2 lần chữ “những”, chữ “nấu” vần với với chữ “máu” (vần chân) đã tạo nên giai điệu, nhạc điệu trầm hùng đang nung nấu tâm hồn người chiến sĩ xung kích trên đường hành quân ra trận. “Nung nấu” vì căm thù dữ dội. Nòng súng nóng bỏng, lưỡi lê nhọn hoắt căm thù! Mối thù đối với giặc Pháp cướp nước nung nấu, ngùn ngụt bốc lửa, sôi sục trong lòng, không chỉ trong một thời gian hữu hạn mà kéo dài trong thời gian vô hạn “Những đêm dài hành quân nung nấu”. Hai chữ “nung nấu” biểu hiện sâu sắc tình yêu nước của “những người áo vải – Đã đứng lên thành những anh hùng!”.

        Càng nung nấu căm hờn quân xâm lược bao nhiêu thì lòng càng yêu quê hương đất nước bấy nhiêu. Người lính ra trận nung nấu, sôi sục căm thù giặc khi nhìn thấy đất nước tang tóc, điêu tàn, “những cánh đồng quê chảy máu…”, nhìn thấy “những bóng thù hắc ám”, những đồn giặc mọc lên với bao “dây thép gai đâm nát trời chiều”. Câu thơ thứ tư tiếp theo là một nét vẽ, nét khắc chiều sâu tâm hồn người chiến sĩ ra trận; nhiều khám phá và sáng tạo:

        “Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”.

        “Nung nấu” căm thù và “bồn chồn nhớ” là hai nét biểu hiện của một tâm trạng, làm nên sức mạnh chiến đấu và chiến thắng của anh Vệ quốc quân thời kháng chiến 9 năm đánh Pháp. Anh nhận ra trận với sức mạnh căm thù giặc, với tình yêu nước thương dân, với bao nỗi nhớ. Nhớ luống cày mái rạ, nhớ bãi mía nương dâu, nhớ giếng nước gốc đa, nhớ “người tình chung”… “nhớ mắt người yêu”. “Mắt người yêu” cũng là một hình ảnh hoán dụ rất đắt diễn tả hình bóng quê hương, vẻ đẹp duyên dáng “người tình chung” sau lũy tre làng mà anh nhớ lắm:

        “Vầng trán em mang trời quê hương

        Mắt em như giếng nước thôn làng

        Tôi nhớ xứ Đoài mây trắng lắm

        Em đã bao ngày em nhớ thương?….”

                     “Mắt người Sơn Tây” – Quang Dũng

        “Nhớ mắt người yêu” với bao kỉ niệm đẹp một thời trai trẻ. “Xa em năm nhớ – gần em mười thương”. Chàng trai cày ngày xưa nhớ quê nhà là nhớ hương vị đậm đà “bát canh rau muống, quả cà giòn tan”, là “nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”. Anh bộ đội Cụ Hồ giã từ nơi chôn nhau cắt rốn, nơi “nước mặn đồng chua”, nơi “đất cày lên sỏi đá”, có người nhớ thầm “Bầm ra ruộng cấy bầm run – Chân lội dưới bùn, tay cấy mạ non. Có người nhớ “người vợ trẻ – mòn chân bên cối gạo canh khuya”. Chàng lính trẻ hào hao trong đoàn binh Tây Tiến thì lại “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”. Có trăm nghìn nỗi nhớ quê, nhớ nhà, nhớ người thân thương: “Anh bỗng nhớ em như đông về nhớ rét – Tình yêu ta như cánh kiến hoa vàng” (Chế Lan Viên), v.v…

        Trở lại câu thơ “bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”, hai chữ “bồn chồn” nghĩa là nóng ruột, không yên tâm (Từ điển tiếng Việt); diễn tả nỗi nhớ xôn xao, rung động, dâng lên như những đợt sóng vỗ mãi trong lòng. Đã có nỗi nhớ “bổi hổi bồi hồi”. Đã có sự vấn vương “không yên một bề”. Đã có tâm tình khao khát “nhớ ai, ai nhớ, bây giờ nhớ ai…”. Câu thơ “Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” là một nét vẽ rất đẹp thể hiện bút pháp tài hoa của Nguyễn Đình Thi. “Nhớ” là cảm hứng nhiều màu sắc và dáng vẻ đã làm nên những câu thơ hay, những vần thơ đẹp của Nguyễn Đình Thi trong tập thơ “Người chiến sĩ”:

        … “Anh yêu em như anh yêu đất nước

        Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần

        Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước

        Mỗi tối anh nằm mỗi miếng anh ăn”…

                     Nhớ

        Trong cái chung nhớ nước, nhớ “nguồn thiêng ông cha” (Hữu Loan), lại có cái riêng “bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu”. Có nỗi hờn “nung nấu”, có nỗi nhớ “bồn chồn” nên mới có sức mạnh chiến đấu và niềm tin thắng trận: “Anh lại tìm em – Em mặc yếm thắm – Em thắt lụa hồng – Em đi trẩy hội non sông – Cười mê ánh sáng muôn lòng xuân xanh” (Hoàng Cầm).

        Tình cảm là cái gốc của thơ ca, là ngọn nguồn sáng tạo của thơ ca. Thơ chỉ đẹp khi thơ ca hút màu mỡ, phù sa trong lòng đất – hiện thực cuộc sống – mà nảy mầm xanh tươi, đơm hoa kết trái dâng hương thơm, vị ngọt cho đời. Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi như một bông hoa đẹp trong cành hoa đẹp đã mang hơi thở nóng hổi của thời đại, mang tình yêu đất nước mãnh liệt của con người Việt Nam trong ba ngàn ngày khói lửa.

        Đọc đoạn thơ trên, ta cảm nhận được phần nào vẻ đẹp của phong cách nghệ thuật của Nguyễn Đình Thi, một hồn thơ giàu cá tính sáng tạo. Hiện thực chiến tranh: đất nước điêu tàn, dân tộc đau thương trong bom đạn quân thù đã được diễn tả một cách tuyệt vời qua những vần thơ hàm súc, biểu cảm và giàu hình tượng.

        “Cánh đồng quê chảy máu”, “Giây thép giai đâm nát trời chiều” là những hình ảnh thơ mới mẻ, độc đáo và hay, “Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu” là một hình ảnh mang tính kế thừa sáng tạo, thể hiện một hồn thơ chiến sĩ cho ta nhiều rung cảm thấm thía.

        Đọc “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi, tâm hồn ta được bồi đắp bao tình cảm đẹp trở nên trong sáng và phong phú, để ta yêu, để ta nhớ, ta sống lại và tự hào về những năm tháng hào hùng và oanh liệt với ngọn lửa Điện Biên thần kì của đất nước và dân tộc trong thời đại Hồ Chí Minh.

     

  • Bình giảng 4 khổ thơ đầu bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng 4 khổ thơ đầu bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng 4 khổ thơ đầu bài Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bình giảng khổ 3 bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng đoạn thơ sau trong bài “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:

        “Gió thổi mùa thu hương cốm mới

        ……………

        Những buổi ngày xưa vọng nhớ về.

    Bài văn mẫu

        “Đất nước” là một trong những bài thơ tiêu biểu nhất của “Nguyễn Đình Thi” , thể hiện tập trung cảm hứng về đất nước của tác giả. Đoạn trích này là phần hay nhất tinh tế nhất, độc đáo nhất của bài thơ.

        Sáng mát trong như sáng năm xưa

        ….

        Những buổi ngày xưa vọng nhớ về.

        Thật vây, bài thơ được nung nấu và sáng tác trong một khoảng thời gian dài: bảy năm, từ 1948 đến năm 1955, 21 dòng đầu trong đoạn trích này chủ yếu lấy từ các đoạn trong bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa” viết năm 1948 và bài “Đêm mít tinh” viết năm 1949. 28 dòng còn lại gồm 7 khổ, mỗi khổ 4 dòng viết năm 1955, tuy vẫn có những câu hay nhưng vẫn có những lời kể lể, ý thơ không thật sâu sắc, mặc dù vẫn thống nhất trong cảm hứng chung.

        Đoạn thơ này gồm ba đoạn nhỏ, 7 dòng đầu hoài niệm về những ngày thu đã xa, 5 dòng tiếp theo nói về mùa thu nay, và 9 dòng còn lại là cơn trào dâng của tình cảm yêu nước.

        Bài thơ mở đầu bằng một cảm xúc mùa thu trong sáng, nồng nàn, đầy sức sống:

        Sáng mát trong như sáng năm xưa

        Gió thổi mùa thu hương cốm mới

        Trời thu trong sáng, gió thu mát dịu, và thoang thoảng đâu đây hương cốm mới, hương vị đặc trưng của quê hương Việt Nam, của Hà Nội.

        Từ niềm vui bất ngờ chuyển sang hoài niệm về Hà Nội:

        Tôi nhớ những ngày thu đã xa

        Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

        Những phố dài xao xác hơi may

        Người ra đi đầu không ngoảnh lại

        Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

        Không rõ cái sáng mát trong của năm xưa là sáng nào, nhưng cái sáng sớm chớm lạnh của những ngày thu đã xa này là sáng đi rời xa Hà Nội. Nhà thơ nhớ như in hình ảnh Hà Nội những sáng sớm tinh mơ đầu thu. Phố như dài thêm vì chưa có người lại qua, gió thổi lá khô xao xác trên đường, làm tăng thêm không khí heo may. Người ra đi có một cử chỉ dứt khoát không quyến luyến, để lại đằng sau “thềm nắng lá rơi đầy”. Đây là hình ảnh ấn tượng trong kí ức, không theo trật tự chặt chẽ của thời gian, những hình ảnh dồn nén, đa nghĩa, gợi ra những hướng cảm nhận. Một mặt, đây là những hình ảnh rất chân thực về ngày thu Hà Nội, không bao giờ quên: phố dài, xao xác hơi may, thềm nắng lá rơi đầy, những đường nét thân yêu, gần gũi và có cái gì đó xót xa. Nhưng mặt khác, tác giả có cảm xúc rất buồn về mùa thu, nhìn Hà Nội chỉ thấy hiu hắt, lạnh lẽo, rơi rụng.

        Đoạn hoài niệm này không phải hoài cổ, bởi nó đóng vai trò tương phản, đối sánh cho cảnh “Mùa thu nay khác rồi”, một tứ đối lập xưa nay đã khẳng định hiện tại khá quen thuộc với thơ ca cách mạng.

        Tuy vậy hình ảnh “mùa thu nay” của Nguyễn Đình Thi là một hình ảnh khá độc đáo:

        Mùa thu nay khác rồi

        Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

        Gió thổi rừng tre phấp phới

        Trời thu thay áo mới

        Trong biếc nói cười thiết tha.

        Một mùa thu trung du, núi đồi, rừng tre. Kể ra nếu hiểu so sánh mùa thu xưa Hà Nội với mùa thu nay trung du khác rồi thì không khỏi khập khiểng, nhưng đây là so sánh cảm xúc mùa thu của tác giả đã thay đổi. Mùa thu xưa, nhà thơ nhìn Hà Nội chỉ thấy hiu hắt, lạnh lẽo rơi rụng, mùa thu này nhìn vào đâu cũng thấy vui reo, xôn xao, phấp phới, nói cười thiết tha. Cả mùa thu được ẩn dụ, nhân hóa với trời thu thay áo mới, rừng tre phấp phới niềm vui, cả trời thu trong xanh như nói cười. Đây vẫn là hình ảnh quen thuộc kiểu Nguyễn Đình Thi, hòa lẫn thực và ảo.

        Nếu đoạn 1 thiên về hoài niệm, đoạn 2 nghiêng về cảm xúc thì đoạn 3 tiếp theo là dòng cảm xúc dạt dào với những câu khẳng định, câu trùng điệp. Cảm xúc sung sướng, tự hào của người làm chủ như muốn nói to lên vật sở hữu của mình. Những câu thơ bảy chữ được tổ chức dõng dạc như lời tuyên bố đanh thép:

        Trời xanh đây là của chúng ta

        Núi rừng đây là của chúng ta.

        Những chữ “đây” như nói về một cái gì rất cụ thể đã được nắm vững, chứ không phải cái gì xa xôi, trừu tượng, mơ hồ. Đất nước hiện lên với tất cả tính chất gợi cảm, đẹp tươi, thân yêu nhất:

        Những cánh đồng thơm mát

        Những ngả đường bát ngát

        Những dòng sông đỏ nặng phù sa

        Những trời xanh, núi rừng, cánh đồng, ngả đường, dòng sông tạo ra một hình ảnh đất nước rộng mở, bao la. Không gian đơn là liệt kê khô khan, mà là mở rộng các ấn tượng. Sau khi ôm trọn đất nước, nhà thơ như nghẹn lại trong một câu thơ ngắn: “nước chúng ta” để rồi mở ra một hướng cảm xúc đất nước ở bề sâu lịch sử. Đây là đất nước trong tâm linh linh thiêng, thầm kín:

        Nước những người chưa bao giờ khuất

        Đêm đêm rì rầm trong tiếng hát

        Những buổi ngày xưa vọng nói về …

        Tác giả vẫn tiếp tục các hình ảnh ấn tượng của mình, không kể lể dài dòng về lịch sử, địa danh, mà gợi đến tiếng nói rì rầm của cha ông, hồn thiêng đất nước.

        Đoạn đầu bài Đất nước là một đoạn thơ hay, giàu cảm xúc và sức khái quát. Khởi đầu một bài thơ viết về đất nước bằng một hoài niệm mùa thu đã xa, mới nhìn có vẻ như là lạc đề, nhưng ngẫm lại, cũng có cái lí của nó. Đất nước vươn mình, đã đổi mới cảm nhận về mùa thu, và nhà thơ cũng từ đổi mới cảm nhận mùa thu mà khởi đầu cảm nhận về đất nước. Từ kỉ niệm riêng hòa vào niềm vui chung, từ niềm vui ấy khơi sâu niềm tự hào về đất nước.

     

  • Bình giảng bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    Bình giảng bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    Bình giảng bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Phân tích hình ảnh người phụ nữ trong bài thơ Tự tình 2 của Hồ Xuân Hương

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng bài thơ “Tự tình II” (Hổ Xuân Hương)

    Bài văn mẫu

       “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương thường cổ giọng thơ khinh bạc, mía mai. Bên cạnh giọng thơ khỉnh bạc ấy, ta lại bắt gặp một trong những bài thơ tả cảnh ngụ tình khá sâu sắc và ỷ tứ chân thành nhằm giãi bày tâm sự của mình. Bài thơ “Tự tình II” là một trường hợp như vậy!

    • Đêm khuya cô đơn.

        Hai câu đề là cảnh đêm về khuya, tiếng trống canh từ xa vâng vẳng mà dồn dập đổ về. Trong thời điểm ấy, nhân vật trữ tình lại trơ trọi đáng thương và “cái hồng nhan” đã cụ thể hoá một cá thể đang cô đơn, thao thức và dằn vặt.

        Hồng nhan nhằm để nói “phái đẹp” nhưng lại được trước nó là trạng từ “trơ”, khiến cho câu thơ đậm đặc cái ý chán chường. Rồi lại -cái hồng nhan” thì quả là khinh bạc.

       Lấy “hồng nhan” mà dem dối với “nước non” thì quả thật là thách thức nhưng cũng thật sự là mỉa mai, chua chát. Phép tiểu đối thật đắt và thật táo bạo nhưng phù hợp với tâm trạng đang chán chường, trong hoàn cảnh đang cô đơn, trơ trọi. Nỗi cô đơn ngập đầy tâm hồn đến mức phải so sánh nó ngang bằng với các hình tượng của thiên nhiên tạo vật.

       Hai câu thơ diễn tả tình cảnh cô đơn của người phụ nữ trong đêm khuya 1 thanh vắng. Đó là nỗi dằn vặt và sắp bộc lộ, giãi bày một tâm sự.

    • Cảnh ngụ tình.

        Đến hai câu thực ta nghe thoảng men rượu từ cơn say trước đó nhưng đã thoảng bay đi. Hương rượu chỉ sự thề hẹn (gương thề, chén thề) nhưng hương đã bay đi dù tình còn vương vấn. Cá thể đã tỉnh rượu nên càng nhận ra nỗi trống vắng, bạc bẽo của tình đời.

        Trăng gợi lên mối nhân duyên, nhưng trăng thì “khuyết chưa tròn”, ngụ ý tình duyên chưa trọn, không như mong ước, khi mà tuổi xanh đã lần lượt trôi đi.

    • Hai câu luận là nỗi bực dọc, phản kháng, ấm ức duyên tình.

       Hình ảnh hết đám rêu này đến đám rêu khác “xiên ngang mặt đất” như trêu ngươi nhà thơ. Rêu phong là bằng chứng về sự vô tình của thời gian, nó là hiện thân của sự tàn phá chứ không phái chở che cho tuổi đời. Thế rồi nhà thơ bực dọc vì tuổi xuân qua mau, đời người ngắn ngủi, nhỏ bé, nên: “Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”.

    “Mấy hòn đá”không những đứng sừng sững ở chân mây mà còn “đâm toạc” thể hiện thái độ ngang ngạnh, phản khổng, ấm ức của nhà thơ về duyên tình lận đận…

    • Lời than thở.

        Lời than thở cũng chính là chủ đề của bài thơ. Năm tháng cứ trôi qua, xuân đi rồi xuân lại tới mà duyên tình vẫn chưa được vuông tròn. Xuân thì đi rồi trở lại với thiên nhiên đất trời, nhưng lại vô tình, phũ phàng với con người.

        Kẻ chung tình không đến, người chung tình thì cứ chờ đợi mỏi mòn mà thời gian thi cứ trôi đi, tuổi xuân tàn phai. Mảnh tình quanh đi quẩn lại vẫn chỉ là “san sẻ tí con con”. Câu thơ cực tả tâm trạng chua chát, buồn tủi của chủ thể trữ tình.

    • Tổng kết

        Có đa tình mới tiếc xuân, trách phận và mới có giọng tự tình. Giọng thơ đầy đủ cả sắc thái tình cảm: tủi hổ, phiền muộn, bực dọc, phán khảng rồi kết bằng chua chát, chán chường vì tình duyên chưa trọn.

        Hồ Xuân Hương đã góp vào kho tàng thơ Nôm Việt Nam một tiếng thơ táo bạo mà chân thành, mới lạ mà vẩn gần gũi với thân phận người phụ nữ trong xã hội phong kiến bất công ngày ấy. Đó là một xã hội đã làm cho biết bao nhiêu thân phận “hồng nhan” bị lỡ làng và khổ đau.

        Khát vọng của Hồ Xuân Hương về mưu cầu hạnh phúc lứa đôi cùng chính là khát vọng của muôn vàn phụ nữ: một khát vọng chính đáng.

     

  • Bình giảng khổ 3 bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng khổ 3 bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng khổ 3 bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Bình giảng 7 câu đầu bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng khổ 3 trong bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:

        “Mùa thu nay khác rồi …

        …. vọng nói về”

    Bài văn mẫu

        Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đích thực tài hoa và sáng tạo. Trên các lĩnh vực văn xuôi, thơ, nhạc, kịch bản văn học, lí luận phê bình, … ông đều có thành tựu đáng tự hào. Thơ Nguyễn Đình Thi có bản sắc riêng, có những tìm tòi về hình ảnh và ngôn ngữ. Thơ ông giàu cảm xúc khi viết về đất nước trong chiến tranh.

        Bài thơ “Đất nước” trích trong tâp thơ “Người chiến sĩ” , nó được thai nghén và hình thành trong một thời gian khá dài từ năm 1948-1955.Từ thực tiễn lịch sử và sự sống còn của dân tộc, nhà thơ suy ngẫm về đất nước.

        Đây là một trong những bài thơ hay nhất viết về cảm hứng quê hương đất nước của nền thơ ca Việt Nam hiện đại.

        Biểu lộ niềm vui phơi phới của người chiến sĩ cầm súng đánh giặc bảo vệ quê hương, thể hiện tình yêu và lòng tự hào về đất nước với cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp và truyền thống anh hùng của dân tộc, Nguyễn Đình Thi đã viết:

        … “Mùa thu nay nay khác rồi

        …

        Những buổi ngày xưa vọng nói về”.

        Cảm hứng yêu nước, tự hào dâng lên dào dạt trong tâm hồn nhà thơ,trong tâm hồn những người chiến sĩ “đã đứng lên thành những anh hùng. Người chiến sĩ đã ra đi từ mùa thu ấy, khi “cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng” (Chính Hữu), giã từ phố cũ thân yêu, dấn thân vào lửa máu.

        Đối lập với “những ngày thu đã xa” đẹp mà buồn, là “Mùa thu nay khác rồi”.Nhà thơ reo lên sung sướng tự hào, một niềm vui phơi phới dâng trào. Đứng giữa núi đồi chiến khu, say mê ngắm đất trời. Thiên nhiên bao la tươi đẹp như xôn xao niềm vui với con người. Bốn chữ “tôi đứng vui nghe” thể hiện một tư thế, một dáng đứng kiêu hãnh tuyệt vời.Con người chan hòa cùng cây cỏ và say đắm trong màu săc quê hương. Ngọn gió mát lành màu thu “quyện hương cốm mới” như hát cùng đất nước.Hình ảnh “rừng tre phấp phới” diễn tả thật hay sức sống mãnh liêt của đát trời quê hương:

        “Mùa thu nay khác rồi

        Tôi đứng vui nghe giữa núi đồi

        Gió thổi rừng tre phấp phới…”.

        Mùa thu lại về với đất nước và con người trong sắc màu tươi sáng: “Mùa thu thay áo mới – Trong biếc nói cười thiết tha”. Bao trùm đất nước là cả một không gian bao la, một thiên nhiên đẹp hữu tình được nhân hóa, gắn bó hòa hợp với con người. Con người kháng chiến với khát vọng tự do, nên tầm nhìn cũng cao xa, mênh mông. Có lẽ vì thế nhà thơ đặc biệt chú ý đến bầu trời. Năm lần nhà thơ nói đến bầu trời, mỗi lần có một cách nói, cách cảm nhận đầy khám phá:

        “Trời thu thay áo mới”,

        “Trời xanh đây là của chúng ta”.

        “Trời đây chim và đất đầy hoa”.

        “Dây thép gai đâm nát trời chiều”.

        “Trán cháy rực nghĩ trời đât mới”.

        Cái khác của mùa thu nay được diễn tả qua vần điệu náo nức, xôn xao,được đặc tả qua hình ảnh sống động, tươi mát : Gió thổi rừng tre phấp phới”, được thể hiện ở ánh mắt, nụ cười: “Trong biêc nói cười thiết tha”. “Biếc” ở trời xanh , “biếc” ở con mắt những chàng trai, co gái đang say mê ngắm trời thu thời máu lửa.

        Nguyên nhân của niềm vui ấy thật sâu xa, rộng lớn. Cách mạng thành công, nhân dân đã và đang đem tài năng và xương máu để giữu gìn và xây dựng đất nước. Đất nước là của nhân dân. Nguyễn ĐÌnh Thi như reo lên, hát lên niềm hạnh phúc tột cùng của những con người đang làm chủ đất nước:

        “Trời xanh đây là của chúng ta,

        Núi rừng đây là của chúng ta,

        Những cánh đồng thơm mát,

        Những ngả đường bát ngát,

        Những dòng sông đỏ nặng phù sa”.

        Một lối nói khẳng định: “của chúng ta” vang lên đĩnh đạc, tự hào. Một dân tộc đã gan góc đứng lên đánh Pháp mới có tiếng nói hào hùng ấy. Tất cả những gì cao quý ,thiêng liêng trên đất nước thân yêu này là “của chúng ta” , của nhân dân chúng ta. Sau những đêm dài nô lệ, nhà nước độc lập, nhân dân ta mới có niềm vui tự hào mênh mông ấy. Khát vọng làm chủ đất nước với tất cả niềm tự hào mênh mông ấy. Khát vọng làm chủ đất nước với tất cả niềm tự hào là của bao thế hệ con người VIệt Nam trong suốt bốn nghìn năm lịch sử : “Của ta ,trời đất, đêm ngày – Núi kia đồi nọ sông này của ta”( ” Hoan hô chiến sĩ Điện Biên” – Tố Hữu) . Với nghệ thuật diễn tả trùng điệp, với cách liệt kê, sử dụng điệp từ , điệp ngữ (của chúng ta,… đây là… những) tác giả đã tạo nên giọng thơ lôi cuốn, hấp dẫn mang âm điệu anh hùng ca.

        Dáng hình đất nước trong thơ Nguyễn ĐÌnh Thi hiện lên sông động qua những vần thơ tráng lệ. Nhà thơ như đang ngước mắt chỉ tay về ” trời xanh” và ” núi rừng”, … mà reo lên sung sướng. Có tình yêu nào lớn hơn tình yêu đất nước? Đất nước bao la, hùng vĩ với trời cao, biển rộng sông dài, … trở nên thân thiết, thiêng liêng. Đất nước với những cánh đồng quê mênh mông thẳng cánh cò bay, ” thơm mát” hương lúa bốn mùa. Đất nước với những nẻo đường tự do, những dặm đường kháng chiến ” bát ngát” đến mọi chân trời. Đất nước với những dòng sông – sông Hồng, sông Đà, sông Lô, sông Mã, Cửu Long Giang, … “đỏ nặng phù sa” , bồi đắp nên những cánh đồng màu mỡ, nuôi sống nhân dân ta tự bao đời nay. Các tính từ : “Xanh”, “thơm mát”, “bát ngát”, “đỏ nặng”, … cực tả vẻ đẹp và sự bền vững đất nước, đồng thời cho thấy ngòi bút thơ tài hoa, điêu luyện của Nguyễn Đình Thi trong lựa chọn ngôn từ để hình tượng hóa vần thơ, tạo nên sắc điệu trữ tình đằm thắm.

        “Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi” (Tố Hữu). Cảm xúc dật dào ấy về đât nước cứ ngâm nga mãi trong lòng chúng ta khi tiếp cận và cảm thụ những vần thơ của tác giả “Người chiến sĩ” nói về dáng hình đất nước.

        So với lớp nhà thơ đương thời, Nguyễn Đình Thi là nhà thơ có cái nhìn mới mẻ, sâu sắc về đất nước. Cảm hứng lịch sử và truyền thống được kết hợp nhuần nhuyễn với cảm hứng thời đại. Có khí quật cường của tổ tiên từ nghìn xưa đem đến cho nhân dân ta trong thời đại Hồ Chí Minh một sức mạnh vô biên mà không một thế lực thù địch bạo tàn nào có thể khuất phục được:

        “Nước chúng ta

        Nước những người chưa bao giờ khuất

        Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất,

        Những buổi ngày xưa vọng nói về”.

        Ba chữ “nước chúng ta” là sự khẳng định ý chí tự cường, niềm tự tôn dân tộc. Đất nước và dân tộc với lưỡi cày , thanh gươm và chiếc gộc tre “chưa bao giờ chịu khuất”. “Những buổi ngày xưa” mà nhà thơ nhắc đến là những năm tháng đau thương và vinh quang của giống nòi. Quên sao được ngày Bà Trưng, Bà Triệu, xuất quân, khi Lý Thường Kiệt viết ” Nam quốc sơn hà” trên chiến tuyến sông Cầu – Như Nguyệt, khi Trần Quốc Tuấn bắt Ô Mã Nhi trên sông Bạch Đằng Giang, khi Liễu Thăng bị quân ta chém đầu tại Chi Lăng, khi Tôn Sĩ Nghị quăng cả ấn tín, triều phục chạy tháo thân qua biên giới, … Nhân dân mãi tự hào về “những buổi ngày xưa” ấy:

        … ” Khi Nguyễn Trãi làm thơ và đánh giặc

        Nguyễn Du viết Kiều đất nước háo thành văn.

        Khi Nguyễn Huệ cưỡi voi vào Cửa Bắc,

        Hưng Đạo diệt quân Nguyên trên sóng Bạch Đằng”.

               Tổ quốc bao giờ đẹp thế này chăng” – Chế Lan Viên

        Hai chữ “đêm đêm” nói lên tính liên tục dòng chảy lịch sử bốn nghìn năm của dân tộc. Từ láy “rì râm” như một nốt nhạc trầm hùng van xa trong bài ca Tổ quốc, nó gợi tả cái mạch ngầm của giang sơn, gióng nòi, đó là truyền thống anh hùng bất khuất chốn xâm lăng. Biên độ câu thơ mở, khép tài tình, lúc rút ngắn lại 3 từ, lúc duỗi dài ra 8 từ, các câu lục ngôn, thất ngôn, đan chéo vào nhau, cài chặt vào nhau làm nên tính nhạc phong phú . Cảm xúc dào dạt , âm hưởng hào hùng, ngôn ngữ đẹp và tinh tế. Song song với chuỗi hình ảnh về dáng hình đất nước là sự phát triển của chuỗi liên tưởng về quá khứ hào hùng, về sức mạnh Việt Nam.

        Đoạn thơ trên đây tiêu biểu cho vẻ đẹp và cốt cách thơ Nguyễn Đình Thi. Một hồn thơ tài hoa, bay bổng. Một tình yêu nước sâu nặng và thiết tha. Một đất nước đẹp tươi, hùng vĩ , giàu tiềm năng và tiềm lực,một dân tộc anh hùng được nhà thơ nói đến và ca ngợi. Chiều dài của lịch sử , tầm cao của dân tộc,thế đứng bất khuất của con người Việt Nam là những điều tốt đẹp nhất được thể hiện qua đoạn thơ này mà ta cảm nhận được một cách sâu sắc.” Đất nước” , bài thơ làm rung động tam hồn chúng ta … , như “lắng hồn núi sông ngàn năm…”.

     

  • Bình giảng 7 câu đầu bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng 7 câu đầu bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Bình giảng 7 câu đầu bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Đề bài: Bình giảng bài thơ “Đất nước” của nguyễn Đình Thi

    [toc]

    Đề bài: Bình giảng 7 câu thơ đầu bài thơ “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi:

        “Sáng mát trong … nắng lá rơi đầy”.

    Bài văn mẫu

        Thu Hà Nội, hồn thu Thăng Long từng để thương để nhớ vơi đầy trong lòng người đã bao lâu nay. Một dáng liễu Cổ Ngư, một tiếng chuông chùa Trấn Vũ, một “mặt gương Tây Hồ”, một màu vàng “hồn thu thảo”, một ánh trăng thu Cổ thành… tất cả đã “hóa tâm hồn” mỗi chúng ta:

        “Trăng ơi đừng bỏ Kinh thành

        Hồn cố đô vẫn thanh bình như xưa”.

                Trăng Kinh thành

        Thu Hà Nội đẹp, một vẻ đẹp mơ màng thơ mộng man mác bâng khuâng. Thu li biệt Hà Nội trong thơ Nguyễn Đình Thi hơn nửa thế kỉ trước cứ vương vấn mãi hồn ta:

        “Sáng mát trong như sáng năm xưa

        Gió thổi mùa thu hương cốm mới

        Tôi nhớ những ngày thu đã xa

        Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

        Những phố dài xao xác hơi may

        Người ra đi đầu không ngoảnh lại

        Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”…

        Đoạn thơ gợi lên một nét thu Hà Nội trong tâm hồn “người ra đi” – một khách chính phụ của thời đại mới. Cấu trúc đoạn thơ là từ cảm xúc thu hiện tại mà “nhớ” những ngày thu đã xa, một mùa thu li biệt Kinh thành ngàn năm. Hai câu thơ mở đầu bài thơ “Đất nước”, Nguyễn Đình Thi xúc động nói lên cái hồn thu đất nước muôn đời:

        “Sáng mát trong như sáng năm xưa

        Gió thổi mùa thu hương cốm mới”

        Những buổi sáng mùa thu, thu năm xưa cũng như thu hiện tại, không khí trong lành, bầu trời trong xanh, không một gợn mây, thoáng đãng, mênh mông, bao la “xanh ngắt mấy tầng cao” (Nguyễn Khuyến). Gió thu nhè nhẹ thổi mát hồn người và lòng người, ai cũng cảm thấy thảnh thơi, nhẹ nhàng, lâng lâng. Chỉ hai chữ “mát trong” mà nhà thơ đã nhận diện vẻ đẹp của sắc thu, khí thu và hồn thu muôn đời của đất nước. Câu thơ thứ nhất là một so sánh rất gợi: “Sáng mát trong như sáng năm xưa”. Đất nước trải qua những năm dài chiến tranh, bao mùa thu đã trôi qua, nhưng đất nước vào thu vẫn “mát trong”, vẫn đẹp như thế! Đất nước bền vững muôn đời nên thu vẫn đẹp muôn đời.

        Câu thơ thứ hai nói lên hương thu của đất nước: “hương cốm mới”. Gió thu thổi qua những cánh đồng, mang theo hương “lúa nếp thơm nồng”, “hương cốm mới” phả vào lòng người, ủ ấp hồn người cái hương vị quyến rũ, đậm đà của quê hương xứ sở. Câu thơ cho thấy chất tài hoa, chất Hà Nội trong thơ Nguyễn Đình Thi. Có lẽ lần đâu tiên “hương cốm mới” hiện diện trong thơ? Trong văn xuôi, Thạch Lam và Vũ Bằng đã viết rất thơ về cốm Vòng Hà Nội. Cốm là “thức quà riêng của đất nước”, là “thức quà thanh nhã và tinh khiết”. Trong cốm có “cái mùi thơm phức của lúa mới, của hoa cỏ dại ven bờ; trong màu xanh của cốm, cái tươi mát của lá non, và trong chất ngọt của cốm, cái dịu dàng thanh đạm của loài thảo mộc”…

               Hà Nội 36 phố phường, 1943, Thạch Lam

        Với Vũ Bằng, trong những năm dài đất nước bị chia cắt, cùng với nỗi buồn của kẻ xa xứ là nỗi buồn nhớ Bắc Việt, nhớ Hà Nội – quê mẹ mến yêu. Suốt đêm ngày năm tháng, nỗi thương nhớ như trải dài, như dồn tụ lại thành “Thương nhớ mười hai”. Mùa thu chớm đến, ông ao ước “Không biết đến bao giờ mới lại được nghe thấy hơi may về với hoa vàng”? Ông khắc khoải tự hỏi: “Mà ở đâu đây có cái hương thơm gì mà dìu dịu thế? Ông nhớ khôn nguôi “hương lúa ba giăng”. Ông nhớ day dứt cái vị “thơm ngọt ngào mùi chuối trứng cuốc ngon lừ! Quân thù nào có thể chia cắt được đất nước, có thể làm vơi cạn, khô kiệt được nỗi nhớ ấy? Qua đó, ta cảm nhận được “hương cốm mới” trên trang văn của Thạch Lam, của Vũ Bằng, trong thơ Nguyễn Đình Thi là nét đẹp của mùa thu đất nước, là hồn thu Thăng Long – Hà Nội mến yêu.

        Ba câu thơ tiếp theo nhắc lại nỗi nhớ “những ngày thu đã xa”, buổi đầu thu “trong lòng Hà Nội”. Cảm xúc dồn nén, hoài niệm rung lên như dây tơ của cây nguyệt cầm với bao man mác:

        “Tôi nhớ những ngày thu đã xa

        Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

        Những phố dài xao xác hơi may”.

        “Những ngày thu đã xa” là những ngày thu giã biệt Hà Nội, ra đi vì nghĩa lớn, vì đất nước và dân tộc thân yêu. Cuộc giã biệt ấy đã để lại trong lòng nhà thơ bao nỗi nhớ. “Nhớ” cái “chớm lạnh” buổi đầu thu, cái lạnh se sắt của gió thu hiu hiu. Hai chữ “chớm lạnh” rất tinh tế trong gợi tả và biểu cảm, vừa diễn tả cái lành lạnh những buổi sáng sớm đầu thu, vừa thể hiện chất xúc giác trong cảm nhận. Trong hơi may lành lạnh còn có âm thanh “xao xác” của lá thu bay trong gió, nhẹ cuốn trên hè phố, trong lòng đường của “những phố dài” Hà Nội. Từ láy “xao xác” là tiếng thu, của lá vàng rơi, của những nhánh cây khẽ rùng mình trong hơi may “chớm lạnh” mà thi sĩ Xuân Diệu đã từng xúc động:

        “Những luồng run rẩy rung rinh lá

        Đôi nhánh khô gầy xương mỏng manh”

               Đây màu thu tới

        Thu xưa trong thơ, màu thu Hà Nội thắm bao nỗi buồn man mác , bâng khuâng. Thoáng buồn trong “xao xác hơi mây” của lá thu bay, của “mái buồn nghe sấu rụng” ( Chính Hữu). Chỉ bằng một vài nét vẽ, một vài chi tiết nghệ thuật về những ngày thu hà nội ” những ngày thu đã xa”, trong đó có cái “chớm lạnh” của hơi mây cảm được. Có cái “xao xác” của lá thu bay nghe được, Nguyễn Đình Thi đã để lại trong lòng mỗi chúng ta cái hồn thu Kinh thành văn hiến ngàn năm. Phải là người tài hoa, mang tình yêu sâu nặng đối với Hà Nội mới viết được những vần thơ hàm súc, đep mà buồn như thế. Đoạn thơ ấy đã được khơi nguồn cảm hứng từ bài thơ “Sáng mát trong như sáng năm xưa” (1948), hoài niệm trào dâng, đồng hiện trong một không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật đầy ấn tượng:

        “Cỏ mòn thơm mãi dấu chân em

        Gió thổi mùa thu vào Hà Nội

        Phố dài xao xác hơi mây

        Nắng soi ngõ vắng

        Thềm cũ lối ra đi lá rụng đầy”.

        Hai câu cuối đoạn thơ thể hiện tâm trạng người ra đi từ ngày thu ấy. Giọng thơ lẳng lặng buồn:

        “Người ra đi đầu không ngoảnh lại

        Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy”.

        “Người ra đi” theo tiếng gọi của Non Sông, “lên chiến khu”? ” Người ra đi mang theo bao kỉ niệm sâu sác về mùa thu hà nội”. . “Hương cốm mới”, cái “chớm lạnh” trong “hơi mây” buổi đầu thu, cái “xao xác”, của lá me, lá sấu bay trong “những phố dài” , Hà Nội đã trở thành hành trang, đã trở thành kỉ niệm sâu sắc, thân thiết. ” Người ra đi ” ôm ” trí nhớn ” của một ” li khách” với quyết tâm “Đầu không ngoảnh lại” ! Câu thơ “sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” là môt câu thơ thật hay. Có màu vàng nhạt của nắng thu, có sắc vàng tươi của lá thu đã “rơi đầy”, đã trải dài trải rộng trên thềm phố. Câu thơ chứa đầy tâm trạng tác giả đã lấy ngoại cảnh, lấy nắng thu, lá thu để gợi tả tình lưu luyến. Ra đi với quyết tâm”đầu không ngoảnh lại” nhưng vẫn cảm nhận được “sau lưng thềm nắng lá rơi đầy” với bao tình lưu luyến nhớ thương. Vì thế, trải qua bao năm tháng, bao mùa thu trôi qua, đến “mùa thu nay…”, “tôi đứng vui nghe giữa núi đồi” mà vẫn bâng khuông “nhớ những ngày thu đã xa”. Nhớ thu xa cũng là nhớ Hà Nội, nhớ ngày dã biệt ra đi… mọi cuộc lên đường đều đáng nhớ. Quên sao được Đông Đô – Thăng Long – Hà Nội mếm yêu! Quên sao được Hồ Tây, Hồ Gươm, chợ Đồng Xuân, ô chợ Dừa… “đi học về qua luôn hát vui ca”. Người chiến sĩ từ mọi chiến trường mà nhớ về Hà Nội với tất cả niềm yêu thương tự hào:

        “Từ thuở mang gươm đi giữ nước

        Nghìn năm thương nhớ đất Thăng Long”

               Huỳnh Văn Nghệ

        “Đêm mơ Hà Nội dáng kiều thơm”.

               Quang Dũng

        “Nhớ đêm ra đi đất trời bốc lửa

        Cả đô thành nghi ngút cháy sau lưng…”

               (Chính Hữu)

        Đoạn thơ trên đây là phần đầu bài “Đất Nước”, một bài thơ đặc sắc nhất của Nguyễn Đình Thi. Đoạn thơ tiêu biểu cho phong cách nghệ thuật của tác giả. Cảm xúc dồn nén, hình ảnh và ngôn ngữ tinh tế, hình tượng và biểu cảm. Các chi tiết nghệ thuật rất ngợi khi nói về thu Hà Nội. Mùa thu ” ra di”, mùa thu dã biệt… Nét thu Hà Nội đẹp mà buồn, mang mác trong hoài niệm cũng là hồn thu muôn đời của đất nước. Một cái “chớm lạnh” đầu thu. Một cái “xao xác” của lá thu rơi, một mùi “hương cốm mới” được làn gió thu mang theo và tỏa rộng trong không gian, thấm sâu vào hồn người. Một màu vàng tươi, vàng nhạt của nắng, của lá thu rơi đầy thềm… làm ta vương vấn mãi.

        Thơ đích thực làm phong phú, thanh cao tâm hồn. Đoạn thơ của Nguyễn Đình Thi đem đến cho ta một tình yêu đẹp : yêu Hà Nội mến yêu!

     

  • Đề bài: Bình giảng bài thơ “Đất nước” của nguyễn Đình Thi

    Đề bài: Bình giảng bài thơ “Đất nước” của nguyễn Đình Thi

    Đề bài: Bình giảng bài thơ “Đất nước” của nguyễn Đình Thi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Đề bài: Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi

    [toc]

    Bài văn mẫu

        Nguyễn Đình Thi là một nghệ sĩ đa tài. ở lĩnh vực nào của nghệ thuật văn, thơ, nhạc ,kịch, ông cũng đều có những tác phẩm vang dội. Trong thi ca, bài ” Đất nước” rất được bạn đọc mến mộ, đã từng được đưa vào giảng dạỵ trong nhà trường ngót nữa thế kỉ nay.

        Phần đầu là tâm trạng của thi nhân khi đứng giữa chiến khu Việt Bắc trong cuộc kháng chiến chống pháp. Từ một buổi “sáng mắt trong”, tác giả thơ ” những ngày thu đã xa” ở thủ đô:

        Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội

        Những phố dài xao xác hơi may

        Người ra đi đầu không ngoảnh lại

        Sau lưng thềm nắng lá rơi dầy.

        Hà Nội hiện lên rất đẹp và cũng phảng phất buồn. Một thoảng” hơi may” lan tỏa mà đã thấm vào tận từng mái nhà, góc phố, từng hàng cây bờ hồ và cả trong hồn người. Nhạc điệu trầm lặng, lơ lửng cho thi phần càng thêm gợi cảm

        Ở các câu thơ xuất thần:

        Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy

        Có hai cách ngắt nhịp khác hẳn nhau:

        Sau lưng thềm/ nắng lá/ rơi đầy

        Sau lưng/ thềm nắng/ lá rơi đầy

        Ngắt thơ theo cách thứ nhất thì tạo nên một vẽ đẹp kì lạ(nắng và lá cùng rơi); ngắt theo cách thư hai thì tạo nên một vẽ đẹp giản dị (chỉ có lá rơi đầy trên thềm nắng).

        Tùy thị hiếu nghệ thuật mà thích cách này hay cách kia. Những áng thơ hay thường gợi ra những cách hiểu khác nhau mà vẫn có lí như thế.

        Cảnh thu ở đây là những ngày trước cách mạng tháng tám. ” Người ra đi” là những chiến sĩ đang rời hà nội yêu giấu để lên chiến khu cách mạng.

        Mùa thu này ở việt bắc thì khác hẳn:

        Gió thổi rừng tre phấp phới

        Trời thu thay áo mới

        Trong biếc nói cười thiết tha.

        Nhạc điệu thơ thay đổi: những câu thơ ngắn tạo nên một sự rộn ràng. Hình ảnh thơ trong trẻo, tươi sáng lạ thường. Có cảm tưởng như trời xanh hơn , cao hơn âm thanh như cũng vang xa hơn.

        Từ mùa thu mới, nhà thơ mới nghĩ về đất nước:

        Trời xanh đây là của chúng ta

        Núi rừng đây là của chúng ta

        Điệp ngữ “của chúng ta” nói lên niềm tự hào của con người khi được làm chủ đất nước. Ai đã sống những năm dài dưới thời nô lệ mới hiểu hết nỗi đau xót, nhục nhã của người dân mất nước:

        Giặc cướp hết non cao, biển rộng

        Cướp cả tên nòi giống, tổ tiên

                Tố Hữu

        Mở rộng tầm mắt nhìn về tám hướng phương trời, nhà thơ sung sướng reo lên:

        Những cánh đồng thơm mát

        Những ngả đường bát ngát

        Những dòng sông đỏ nặng phù sa

        Điệp ngữ “những” như muốn khẳng định rằng nói bao nhiêu, kể bao nhiêu cũng không hết cái đẹp, cái giàu của đất nước thân yêu, giang sơn gấm vóc nghìn đời do tổ tiên ông cha để lại.

        Nhà thơ còn lắng nghe cả tiếng dội của lịch sử:

        Đêm đêm rì rầm trong tiếng đất

        Những buổi ngày xưa vọng nói về

        “Đất” tượng trưng cho sự bền vững. “Rì rầm” là âm thanh không vang dội nhưng kéo dài không dứt. Đó chỉ có thể là tiếng của cha ông từ ngàn xưa nhắc nhở con cháu hãy sống anh hùng, bất khuất.

        Sang đoạn thơ thứ hai, tác giả cảm nhận về đất nước từ trong đau thương đứng lên chiến đấu và chiến thắng.

        Mở đầu là những câu thơ gây căm thù:

        Ôi những cánh đồng quê chảy máu

     

        Dây thép gai đâm nát trời chiều.

        Cánh đồng quê là hoán dụ để chỉ Tổ quốc. Cơ thể Tổ quốc đang chảy máu vì bom đạn quân thù. Câu thơ nói về nỗi đau vật chất. Câu tiếp theo nói về nỗi đau tinh thần. Bầu trời chiều êm ả gợi lên một cuộc sống thanh bình. Vậy mà giặc đến, dây thép gai tua tủa nơi đồn bốt chúng đâm nát tất cả. Sự man rợ của kẻ thù đã đến tột đỉnh. Đọc câu thơ tưởng như được xem một đoạn phim quay chậm làm nổi rõ những đường nét màu sắc tương phản, gây ấn tượng nhức nhối trong lòng độc giả.

        Hai câu tiếp theo là tâm trạng người chiến sĩ:

        Những đêm dài hành quân nung nấu

        Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu

        Hình ảnh đôi mắt người yêu như ngôi sao sáng trong trời đêm soi tỏ con đường cho anh đi tới. Tình cảm riêng chung đã hòa làm một trong anh. Trước đây, trong bài “Nhớ”, Nguyễn Đình Thi cũng đã gợi lên điều đó:

        Anh yêu em như anh yêu đất nước

        Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần.

        Những khổ thơ tiếp theo ca ngợi đất nước đã đứng lên kháng chiến. Đoạn thơ có những yếu tố chính luận làm cho ngôn ngữ trở nên rắn chắc:

        Xiềng xích chúng bay không khóa được

        Trời đầy chim và đất đầy hoa

        Súng đạn chúng bay không bắn được

        Lòng dân ta yêu nước thương nhà

        Kẻ thù đang thất bại vì bị bao vây trong biển cả chiến tranh nhân dân. Và điều quan trọng nhất là chúng ta có những người anh hùng kiểu mới, “những người áo vải” đang gánh cả cuộc đời kháng chiến trên vai. Họ có ba phẩm chất cao cả: Một là bất khuất (Đã đứng lên thành những anh hùng), hai là có nhiều suy nghĩ sâu sắc (Trán cháy rực nghĩ trời đất mới) và ba là lạc quan cách mạng (Lòng ta bát ngát ánh bình minh).

        Mấy câu kết rất xuất sắc:

        Súng nổ rung trời giận dữ

        Người lên như nước vỡ bờ

        Nước Việt Nam từ máu lửa

     

        Rũ bùn đứng dậy sáng lòa.

        Theo lời tác giả thì đoạn này được viết dựa vào một cảnh thực mà anh đã thấy ở chiến dịch Điện Biên Phủ năm 1954. Trong tiếng đại bác dồn dập vang rền, chiến sĩ ta từ các chiến hào đầy bùn đỏ ào ạt xông lên như thác lũ đánh chiếm những cứ điểm cuối cùng của giặc.

        Nhịp điệu thơ ngắn, dồn dập như bước chân của người anh hùng xung kích. Câu thơ cuối cùng đã phác họa ba tư thế tuyệt đẹp của chiến sĩ và cũng là tượng trưng cho dân tộc Việt Nam:

        Rũ bùn: Vất bỏ quá khứ đau thương,

        Đứng dậy: Kiên quyết tiêu diệt kẻ thù,

        Sáng lòa: Chiến thắng huy hoàng.

        Bài thơ đã tạo tác thành công một tượng đài hùng vĩ về đất nước ta trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp. Thơ Nguyễn Đình Thi mang một phong cách hiện đại: Kết hợp cảm xúc và chính luận, vận dụng cả những thủ pháp của điện ảnh để gây ấn tượng, nhịp thơ phóng khoáng, hình ảnh thơ gợi cảm.a

        “Đất nước” là thi phẩm mang dáng dấp của một bản hùng ca có sức lay động mạnh mẽ tâm hồn bạn đọc. Nó là bài thơ tuyệt tác của thi ca Việt Nam thời kháng chiến chống Pháp viết về đề tài đất nước quê hương.

  • Đề bài: Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi

    Đề bài: Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi

    Đề bài: Phân tích và so sánh hình tượng đất nước trong bài thơ Đất nước của Nguyễn Khoa Điềm và Nguyễn Đình Thi

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 12 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Tất Tần Tật 999+ Bài Văn Mẫu Lớp 12

    Ngoài ra các bạn có thể xem tổng hợp các tài liệu lớp 12 tại đây: Tài Liệu Lớp 12

    Bài liên quan: Phân tích và nêu cảm nghĩ về bài thơ Đất nước của Nguyễn Đình Thi hay nhất

    [toc]

    Dàn ý mẫu

    1. Mở bài

    – Đất nước là hình tượng xuyên suốt trong nền Văn học Việt Nam, qua mỗi thời kì, hình tượng ấy lại được bồi đắp thêm, hoàn thiện thêm.

    – Hai bài thơ cùng mang tên “Đất nước” của Nguyễn Đình Thi và Nguyễn Khoa Điềm đã đem đến cho người đọc những cảm nhận sâu sắc về đất nước.

    1. Thân bài
    2. Điểm giống

    – Cả hai bài thơ cùng ra đời sau cách mạng tháng tám, khi nhân dân được làm chủ đất nước, đều thể hiện hình tượng đất nước tự do, giàu đẹp, nhân dân anh dũng kiên cường.

    – Viết bằng giọng thơ trữ tình chính luận nên vừa có sự du dương, tình cảm lại vừa có tính triết lí sâu sắc.

    – Thể hiện tinh thần yêu nước sâu sắc của mỗi tác giả.

    1. Điểm khác

    – Dù cùng viết về đất nước, nhưng mỗi nhà thơ lại có cá tính, có cách thể hiện và góc nhìn riêng về đất nước.

    2.1. Đất nước – Nguyễn Đình Thi

    1. Cảm hứng sáng tác

    – Bài thơ được sáng tác từ năm 1848 đến năm 1955 mới hoàn thành, nhà thơ lấy cảm hứng xuyên suốt chiều dài cuộc kháng chiến chống pháp.

    – Bởi vậy bài thơ được viết theo kết cấu: từ quá khứ đau thương, đến hiện tại anh dũng và tương lai tươi sáng của đất nước.

    1. Đất nước hiền hòa được cảm nhận qua mùa thu xưa và nay

    – Mùa thu xưa trong cảm nhận của tác giả là thu Hà Nội, với “những phố dài xao xác hơi may”, với không khí “chớm lạnh”, “mát trong”, …và con người trong mùa thu xưa cũng ra đi lặng lẽ với tâm tư nặng trĩu nhưng cương quyết.

    → Đất nước đẹp nhưng buồn man mác

    – Nếu đất nước xưa bao trùm nỗi buồn thì đất nước nay là niềm vui phơi phới, niềm tự hào vì được “thay áo mới”, chiếc áo của sự tự do, sự làm chủ của chính con người trên đất nước mình.

    – Nhận xét: sự chuyển biến của bức tranh mùa thu chính là sự chuyển biến của đất nước.

    1. Đất nước đau thương trong chiến đấu nhưng vinh quang trong chiến thắng

    – Đất nước trong chiến tranh phải chịu bao đau thương, mất mát: “cánh đồng quê chảy máu”, “dây thép gai đâm nát trời chiều”, ..

    – Nhưng với tinh thần anh dũng bất khuất, nhân dân ta đã đứng lên giàng lại đất nước, quyền làm chủ quê hương.

    – Bốn câu thơ cuối như một định nghĩa về đất nước: đất nước bất khuất anh hùng.

    ⇒ Tạo nên vẻ đẹp hào hùng, tráng lệ về con người Việt Nam, dân tộc Việt Nam. Đoạn thơ đã khái quát được sức vươn dậy thần kỳ của dân tộc Việt Nam chúng ta.

    2.2. Đất nước – Nguyễn Khoa Điềm

    2.2.1. Đất nước được cảm nhận từ phương diện lịch sử, văn hóa, chiều sâu của không gian, chiều dài của thời gian

    1. Đất nước có từ bao giờ? (lí giải cội nguồn của đất nước) (9 câu đầu)

    – Tác giả khẳng định một điều tất yếu: “Khi ta lớn lên đất nước đã có rồi”, điều này thôi thúc mỗi con người muốn tìm đến nguồn cội đất nước.

    – Đất nước bắt nguồn từ những diều bình dị, gần gũi trong đời sống của người Việt Nam từ xa xưa: tục ăn trầu của người Việt và truyện cổ tích Trầu cau, thói quen búi tóc của những người phụ nữ Việt Nam, thói quen tâm lí, truyền thống yêu thương của dân tộc.

    – Đất nước trưởng thành cùng quá trình lao động sản xuất “cái kèo cái cột thành tên”, “một nắng hai sương”, quá trình đấu tranh chống giặc ngoại xâm.

    – Nhận xét: Tác giả có cái nhìn mới mẻ về cội nguồn đất nước, đất nước bắt nguồn từ chiều sâu văn hóa, văn học, lịch sử và truyền thống dân tộc.

    1. Định nghĩa về đất nước (28 câu thơ tiếp theo)

    – Về phương diện không gian địa lí:

        + Tác giả tách riêng hai yếu tố “đất” và “nước” để suy tư một cách sâu sắc.

        + Đất nước là không gian riêng tư quen thuộc gắn với không gian sinh hoạt của mỗi con người; gắn với kỉ niệm tình yêu lứa đôi.

        + Đất nước là không gian bao la trù phú, không gian sinh tồn của cộng đồng qua bao thế hệ.

     

    – Nhìn đất nước được nhìn xuyên suốt chiều dài lịch sử từ quá khứ, hiện tại đến tương lai:

        + Trong quá khứ đất nước là nơi thiêng liêng, gắn với truyền thuyết, huyền thoại.

        + Trong hiện tại: đất nước có trong tấm lòng mỗi con người, mỗi người đều thừa hưởng những giá trị của đất nước, khi có sự gắn kết giữa mỗi người đất nước sẽ nồng thắm, hài hòa, lớn lao. Đó là sự gắn kết giưa cái riêng và cái chung.

        + Trong tương lai: thế hệ trẻ sẽ “mang đất nước đi xa” “đến những ngày mơ mộng”, đất nước sẽ trường tồn, bền vững.

    – Suy tư về trách nhiệm của mỗi cá nhân với đất nước: “Phải biết gắn bó và san sẻ”, đóng góp, hi sinh để góp phần dựng xây đất nước.

    – Nhận xét: qua cái nhìn toàn diện của nhà thơ, đất nước hiện lên vừa gần gũi, thân thuộc lại vừa thiêng liêng, hào hùng và trường tồn đến muôn đời sau.

    2.2.2. Tư tưởng cốt lõi, cảm nhận về đất nước: đất nước của nhân dân

    – Thiên nhiên địa lí của đất nước không chỉ là sản phẩm của tạo hóa mà được hình thành từ phẩm chất và số phận của mỗi người, là một phần máu thịt, tâm hồn con người:

    – Nhân dân làm nên lịch sử 4000 năm:

        + Họ là những người con trai, con gái bình dị nhưng luôn thường trực tình yêu nước.

        + Tác giả nhấn mạnh đến những con người vô danh làm nên lịch sử, khẳng định vai trò của mỗi cá nhân với lịch sử dân tộc.

    – Nhân dân tạo ra và giữ gìn những giá trị vật chất, tinh thần cho đất nước: văn hóa: “truyền hạt lúa”, “truyền lửa”, “truyền giọng nói”, “gánh theo tên xã, tên làng”, … từ đó xây dựng nền móng phát triển đất nước lâu bền.

    – Tư tưởng cốt lõi, cảm hứng bao trùm cả đoạn trích: “đất nước này là đất nước của nhân dân đất nước của ca dao thần thoại”, đất nước ấy thể hiện qua tâm hồn con người: biết yêu thương, biết quý trọng trọng tình nghĩa, công sức và biết chiến đấu vì đất nước.

    – Nhận xét:

        + Về nội dung: đoạn trích “Đất nước” đã thể hiện cái nhìn mới mẻ về đất nước trên nhiều bình diện: văn hóa, lịch sử, địa lí dựa trên tư tưởng cốt lõi: “đất nước của nhân dân”.

        + Về nghệ thuật: sử dụng đa dạng và sáng tạo chất liệu văn hóa dân gian, ngôn ngữ giàu chất suy tư, triết luận sâu sắc.

    – Nhận xét chung: Hai bài thơ đều cảm nhận về đất nước trong ý thức mới đầy tính nhân văn, hiện đại. Mỗi bài thơ lại cảm nhận đất nước theo một góc nhìn riêng, qua đó hoàn thiện hình tượng đất nước để mỗi người chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về đất nước.

    III. Kết bài

    – Cả hai bài thơ đều thể hiện tình yêu đất nước chân thành và sâu sắc, khơi gợi tình yêu nước trong mỗi chúng ta.