Category: Kiến Thức Trung Học

Hỗ Trợ Ôn Tập – Tổng hợp và Chia sẻ miễn phí Kiến Thức Trung Học. Chúng mình dành nhiều tâm huyết sưu tầm những tài liệu khác nhau để các bạn học sinh cấp 2 và cấp 3 dễ dàng sử dụng nhất. Cảm ơn mọi người đã ủng hộ Hotroontap.

Rất mong nhận được thêm đóng góp từ mọi người!

Tài liệu Trung học Miễn Phí Tai lieu cap 2 cap 3 mien phi

  • 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về Lòng bao dung

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về Lòng bao dung

    2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về Lòng bao dung

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử

    [toc]

    Đề bài:Nghị luận xã hội về Lòng bao dung

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề: Tạo hóa luôn ban tặng cho con người biết bao đức tính tốt đẹp
    – Nêu vấn đề nghị luận: Lòng bao dung là một đức tính quý giá mà mỗi người cần có để hoàn thiện nhân cách bản thân

    II. Thân bài
    1. Giải thích thế nào là bao dung?
    – Bao dung là có tấm lòng rộng mở, đại lượng, luôn tha thứ cho lỗi lầm của người khác
    – Lòng bao dung là một đức tính tốt đẹp và quý bàu để con người trở nên “người” hơn

    2. Tại sao phải có lòng bao dung
    – Mỗi người ai cũng từng mắc sai lầm và chính vì lẽ đó chúng ta mới phải học cách bao dung
    – Bao dung khiến chúng ta sống đẹp hơn sống nhẹ nhàng, chân thành, cởi mở
    – Bao dung khiến cho mối quan hệ xã hội trở nên tốt đẹp
    – Bao dung còn là cách để an ủi động viên người khác và bản thân sau mỗi lần vấp ngã
    – Bao dung khiến chúng ta nhận được sự kính trọng từ người khác
    – Bao dung khơi gợi bao phẩm chất tốt đẹp khác

    3. Biểu hiện của bao dung
    – Cha mẹ luôn tha thứ cho con cái sau mỗi lần chúng mắc sai lầm, luôn bên cạnh động viên, khích lệ và ủng hộ
    – Pháp luật luôn có sự khoan hồng đối với phạm nhân khi họ cải thiện tốt và nhận ra sai lầm để sửa chữa
    – Bạn bè luôn tha thứ cho nhau khi giận hờn
    – Thầy cô bao dung tha thứ cho những lỗi lầm của học trò nếu như học trò có thiện chí sửa chữa sai lầm đó
    – Hằng năm nhà nước luôn có chính sách khoan hồng, ân xá cho những tù nhân tuy phạm sai lầm nhưng luôn có ý thức cải tạo, nỗ lực trở lại thành một con người lương thiện của đất nước

    4. Làm gì để có lòng bao dung
    – Mỗi người hãy luôn học cách tha thứ và mỉm cười trước khó khăn, bỏ qua mọi chuyện
    – Suy nghĩ mọi thứ theo hướng tích cực,nhìn cuộc đời một cách lạc quan
    – Luôn lắng nghe người khác, thấu hiểu và cảm thông với họ
    – Liên hệ bản thân : Chung ta là học sinh cần bao dung với bạn bè , tah thứ nếu có thể để xây dượng những mối quan hệ tốt đẹp

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề: bao dung là một đức tính cao thượng là cách mỗi người nâng tâm hồn mình cao đẹp hơn
    – Lời nhắn: Hãy luôn sống giàu lòng bao dung và vị tha, hiểu nhau hơn . Nếu con người biết đặt mình vào vị trí của nhau thì xã hội sẽ đẹp tươi biết mấy

    Bài văn mẫu 1

    Nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã từng nói: “Mỗi đêm tôi nhìn trời đất để học về lòng bao dung, nhìn đường đi của kiến để biết về sự nhẫn nhục. Sông vẫn chảy đời sông. Suối vẫn chảy đời suối. Đời người cũng để sống và thả trôi đi những tị hiềm”. Đúng vậy, trong cuộc sống của chúng ta rất cần đến lòng bao dung của mọi người. Lòng bao dung là một phẩm chất, một truyền thống đáng quý của người Việt Nam. Lòng bao dung có ý nghĩa thiết thực trong đời sống, nhưng ngày nay không ít người thiếu đi tấm lòng bao dung ấy.

    Vậy lòng bao dung là gì? Theo từ điển “bao dung là tôn trọng, chấp nhận và thấu hiểu sự khác biệt của người khác đối với mình trong phong tục tập quán, quan niệm sống, niềm tin và tôn giáo, chủng tộc và cách thức hành động, chấp nhận cho người khác làm những chuyện mà bản thân mình không tán thành trong một sự giới hạn nhất định để hướng họ tự giác đến sự tốt đẹp”. Bao dung khác với khoan dung. Khoan dung là đức tính rộng lượng, cảm thông cho hoàn cảnh của người khác và tha thứ cho lỗi lầm của họ nhưng khoan dung có thể không bao dung vì những điều họ không tôn trọng, không chấp nhận. Bao dung mang nghĩa rộng hơn khoan dung vì tôn trọng và chấp nhận sự khác biệt nên họ cũng dễ dàng thứ tha cho sai phạm của người khác.
    Người có lòng bao dung là luôn sống bằng tình yêu thương, sự sẻ chia với mọi người, sẵn sàng tha thứ cho lỗi lầm, sai phạm của người khác. Điều đó được thể hiện rõ nét nhất trong pháp luật của nước Việt Nam có sự khoan hồng với tội phạm. Con người ta ai cũng có thể mắc sai lầm không lúc này thì lúc khác, ta chẳng biết được ngày mai nên hãy mở rộng tấm lòng bao dung khi họ biết sai, biết hối lỗi để họ có được cơ hội thay đổi và làm lại cuộc đời, hướng họ đến sự tốt đẹp.
    Bao dung có ở mọi lúc mọi nơi trong mọi hoàn cảnh. Bao dung đối với người thân yêu trong gia đình, khi con cái mắc lỗi người làm cha làm mẹ luôn bao dung thứ tha cho lỗi lầm của con, chỉ lỗi sai và hướng cho con làm đúng. Thầy cô luôn bao dung cho sự nghịch ngợm, quậy phá của lũ nhỏ bởi “Nhất quỷ, nhì ma, thứ ba học trò”, sự bồng bột, hay vi phạm nội quy thầy cô luôn công minh xử phạt để hình thành và phát triển nhân cách đúng hướng cho học sinh. Bao dung là điều không thể thiếu trong tình yêu bởi đó là “điều tuyệt vời nhất của tình yêu. Nó tạo nên một người mạnh mẽ để có thể nói lời xin lỗi và một người mạnh mẽ hơn cả để có thể tha thứ.” Một người luôn hờn dỗi sẽ phải phải có một người bao dung cho tính cách của người ấy, một người có chút vô tâm thì một người phải hiểu và nói để họ sửa. “Sẽ không có tình yêu khi không có sự bao dung, sẽ không có sự tha thứ khi không có tình yêu đích thực”. Bao dung không phải là chỉ có khi bên nhau mà khi đã không còn là gì của nhau cũng cần bao dung tha thứ cho sai lầm của người đã từng thương, không oán trách, không đớn đau có được như vậy mới có thể bước tiến về phía trước bởi “Sự tha thứ không thể làm thay đổi quá khứ nhưng nó có thể mở rộng tương lai”.
    Người có lòng bao dung sẽ ít khi gặp giông bão trong lòng, được sống trong sự thanh thản, nhẹ nhàng bởi chẳng bị cục thù hận đè nén. Người có lòng bao dung sẽ luôn sẵn sàng giúp đỡ người khác khi họ gặp khó khăn ngay cả đối với người chẳng ưa gì ta, hay hiềm khích với ta nhưng chính tấm lòng bao dung ấy đã cảm hóa những ác cảm, để lại cho họ cái nhìn tốt đẹp về mình. Vì có bao dung nên ta có nhiều mối quan hệ tốt đẹp, được mọi người kính trọng và nể phục. Khi ta gặp khó khăn họ sẵn sàng giúp đỡ như khi mình đã giúp họ. Có bao dung mới hướng ta đến cái đẹp chân, thiện, mĩ trong cuộc sống.
    Tuy nhiên, trong xã hội ngày lòng bao dung bị giá trị của đồng tiền và lối sống thực dung bào mòn và thế chỗ. Con người ta sống ích kỉ, nhỏ nhen, vô cảm hơn khi thấy người khác gặp nạn vẫn ngó mắt làm ngơ vì sợ “Mua dây buộc mình”, im lặng chấp nhận giương mắt nhìn kẻ xấu làm việc xấu mà không tố giác, hay đơn giản là kì thị với người khác vùng miền đặc biệt là người Thanh Hóa. Một số người trong xã hội họ không có thiện cảm với người Thanh Hóa chỉ vì một vài thành phần chưa tốt, ở đâu cũng có người xấu người tốt chẳng riêng đất Thanh Hóa nên đừng phân biệt đối xử bởi chúng ta cùng là người Việt Nam, cùng chung sống trên dải đất hình chữ S yêu thương.

    Người không có lòng bao dung sẽ khó có thể được hạnh phúc bởi vị kỷ cá nhân luôn trú ngụ không có lối cho bao dung tồn tại. Điều đó ảnh hưởng không tốt đến cuộc sống, nếu trong một xã hội toàn những con người như vậy thì xã hội ấy sớm muộn cũng bị hủy diệt.
    Như vậy, lòng bao dung là điều xưa nay con người ta luôn hướng tới, nó thể hiện tinh thần tốt đẹp và lòng nhân ái của người Việt. Trong bất kì một xã hội nào, cộng đồng nào, thời kì nào, môi trường nào cũng cần có những tấm lòng bao dung để cuộc sống này trở nên nhân văn hướng đến giá trị của cái đẹp, cái thiện đẩy lùi cái ác, cái xấu.

    Bài văn mẫu 2

    Tyler Perry đã từng nói rằng: “Khi bạn không tha thứ cho một ai đó, tức là bạn đang quay lưng lại với tương lai của mình. Khi bạn bao dung, điều đó có nghĩa bạn đang tiến về phía trước”. Quả thật đúng như vậy, trong cuộc sống bộn bề những lo toan, với biết bao điều có thể xảy đến, bao cảm xúc phải trải qua sợ hãi, tức giận, điên cuồng,… thì lòng bao dung là điều vô cùng cần thiết để chúng ta cân bằng cuộc sống, để cho tâm hồn thanh thản và dễ chịu hơn.
    Bao dung là khi biết tha thứ những lỗi lầm của người khác với mình; bao dung là bỏ qua những sai phạm, là cho họ một cơ hội để sửa sai; bao dung không chỉ đối với người khác, mà bao dung còn đối với chính bản thân mình. Bao dung là điều cần thiết trong cuộc sống của mỗi chúng ta.

    Biểu hiện của lòng bao dung thật phong phú, với muôn hình vạn trạng khác nhau. Bao dung là khi ai đó vô tình dẫm vào chân bạn trên xe buýt, thay vì cáu gắt bạn sẽ nở nụ cười thật tươi để đáp lại. Bao dung là khi bạn bị người khác hiểu nhầm nhưng không tỏ ra tức giận, mà bình tĩnh giảng giải, để cả hai tìm được tiếng nói chung. Bao dung cũng có thể là không chỉ nhìn thấy điểm hạn chế của người khác mà còn thấy cả điểm mạnh, để cổ vũ động viên họ vươn lên trong cuộc sống,…
    Vậy tại sao trong cuộc sống chúng ta cần phải bao dung với mọi người? Mỗi chúng ta là một thực thể vô cùng đa dạng, phức tạp với vô số những xấu tốt, đúng sai. Chẳng ai mãi mãi đúng và cũng không ai mãi mãi sai. Có những lúc ta sai lầm, ta vấp ngã và người khác cũng như vậy. Khoan dung với người khác cũng chính là đang khoan dung với chính mình. Bao dung với người khác còn thể hiện là một người ứng xử có văn hóa, biết nhìn nhận mọi sự việc, vấn đề trong cuộc sống. Bao dung với người khác còn cho thấy bạn là người có trái tim ấm áp, nhân hậu, rộng mở với những người xung quanh. Bởi chỉ khi con người biết mở rộng tấm lòng, nhân ái, bao dung với người khác thì khi ấy bạn mới có thể quên đi những tổn thất, thiệt hại mà người khác gây ra cho chính mình.
    Sống bằng sự bao dung với mọi người xung quanh, sẽ đem lại cho bạn một cuộc sống thoải mái, thanh thản, bởi không phải suy nghĩ về những lầm lỗi của người khác với chính mình. Khi sống trong trạng thái cảm xúc đó nó chẳng khác nào liều thuốc độc giết bạn một cách từ từ mà bạn không hề hay biết. Sống bao dung vị tha còn khiến những người xung quanh luôn yêu quý, kính trọng bạn. Lối sống lành mạnh, tích cực này sẽ lan tỏa đến những người xung quanh. Nếu cả xã hội sống trong sự bao dung vậy thì sẽ tốt biết bao, sẽ không còn chiến tranh, bạo loạn, cãi vã, chỉ còn cuộc sống thanh bình phủ kín khắp mọi nơi.
    Bên cạnh những người luôn sống bao dung, vị tha với mọi người lại có những kẻ luôn sống hẹp hòi, ích kỉ, chỉ nghĩ đến lợi ích của bản thân. Khi người khác mắc sai lầm thi luôn soi mói, đay nghiến khiến họ cảm thấy càng trở nên mệt mỏi, bế tắc hơn. Đồng thời, tính hẹp hòi ấy cũng như một căn bệnh, mài mòn tâm hồn và sức khỏe của chính bản thân người đó.
    Nhưng bao dung ở đây không đồng nghĩa là chúng ta bỏ qua cho cái xấu, cái ác, để chúng mặc sức hoành hành. Khi nhìn thấy cái xấu ở xung quanh chúng ta phải ra tay trừng trị, để chúng không ảnh hưởng đến những người xung quanh và sự an toàn của xã hội.

    Trong cuộc sống đầy bộn bề, lo âu này, hơn lúc nào hết chúng ta cần sống trong sự bao dung của tất cả những người xung quanh. Bao dung như một liều thuốc tinh thần quý giá giúp hàn gắn vết thương, các mối quan hệ, giúp chúng ta sống người hơn, và sống bao dung cũng là cơ hội để ta được sống một cuộc đời thanh thản, thư thái.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử

    3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử

    3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: 2 bài văn mẫu Nghị luận: Suy nghĩ của em về truyền thống Tôn sư trọng đạo của người Việt Nam

    [toc]

    Đề bài: Hãy phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử. Đưa ra hướng khắc phục trước tình trạng đó

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề nghị luận: Thiếu trung thực trong bất kì lĩnh vực nào của cuộc sống cũng là một vấn đề phức tạp và nan giải
    – Nêu vấn đề nghị luận: Thiếu trung thực trong thi cử là một vấn đề cần quan tâm hàng đầu bởi điều này ảnh hưởng đến nhân cách của cả một con người

    II. Thân bài
    1. Giải thích
    – Trung thực: “Trung”: Trung thành, “thực”: thành thực ⇒ Trung thực: sự chân thật trong mọi việc, làm mọi thứ bằng khả năng của bản thân mình
    ⇒ Thiếu trung thực trong thi cử: Thi cử không dùng sức của bản thân mình, gian dối, không thành thực trong làm bài…
    2. Biểu hiện của thiếu trung thực trong thi cử
    – Biểu hiện phổ biến nhất là dùng “phao” chép bài trong thi cử
    – Chép bài bạn, trao đổi bài, trao đổi đáp án cho nhau
    – Sử dụng các thiết bị thông minh trong phòng thi như tai nghe bluetooth, điện thoại thông minh…
    – “Mua giám thị” để có thể ngang nhiên trao đổi bài trong thi cử
    3. Tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử
    – Ảnh hưởng đến nhân vách con người : Làm học sinh có tính lười biếng ỷ lại, không chịu tự giác học tập
    – Ảnh hưởng đến sự phát triển của đất nước tương lai của dân tộc khi những mầm non của nước nhà không học tập và tu dưỡng bằng chính năng lực của mình
    – Ảnh hưởng đến chất lượng học tập của bản thân, lớp học và nhà trường
    – Làm cho học sinh coi thường việc coi thi của giám thị
    4. Nguyên nhân
    – Do sự lười biếng trong học tập, không chịu tự giác học bài và làm bài
    – Do áp lực về điểm số, áp lực từ gia đình, nhà trường bắt học sinh phải được điểm cao
    – Do học sinh học trong một môi trường mà tất cả các bạn đều rất giỏi khiến học sinh bắt buộc phải được điểm cao
    – Một phần là do sự lỏng lẻo trong việc coi thi của các giám thị
    – Sự bao che của các bạn khiến việc thiếu trung thực gia tăng nhiều hơn trong thi cử
    ⇒ Những nguyên nhân đó đã làm ảnh hưởng đến sự thiếu trung thực gia tăng nhiều hơn trong thi cử
    5. Giải pháp khắc phục
    – Bản thân mỗi học sinh cần ý thức trách nhiệm và việc làm của bản thân , tự mình cố gắng học tập tốt và nói “ Không” với việc thiếu trung thực trong thi cử
    – Gia đình, nhà trường và thầy cô không nên đặt áp lực quá nhiều cho học sinh.Nên khuyến khích các em khi được điểm cao và động viên an ủi các em khi điểm số chưa như mong muốn
    – Cho học sinh học tập ở một môi trường vừa sức học tránh để các em cảm thấy mình thua kém các bạn dẫn đến tự ti và thiếu trung thực trong thi cử
    – Các bạn học sinh cũng cần nghiêm túc hơn , khi thấy bạn bè gian lận trong thi cử cần báo với giám thị không được bao che sẽ làm hại bạn
    – Nhà trường thầy cô giám thị cần sát sao và nghiêm khắc khi coi thi , xử phạt đúng mực nhằm răn đe để học sinh nghiêm túc hơn trong thi cử
    6. Liên hệ bản thân
    – Cần tích cực học tập tự giác học tập và thi cử bằng chính năng lực của mình
    – Ý thức được thiếu trung thực trong thi cử là một hành động xấu sẽ đẫn tới hậu quả lớn sau này
    – Kếu gọi các bạn cùng nhau học tập để kết quả học tập được cải thiện và nâng cao

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề: sự thiếu trung thực trong thi cử hiện tượng phổ biến và để lại hậu quả về lâu dài trong sự phát triển nhân cách của mỗi con người
    – Lời nhắn đến mọi người: Hãy học tập và làm việc bằng chính năng lực của mình, đó là con đường duy nhất giúp chúng ta tiến xa hơn

    Bài văn mẫu 1

    Trong đời sống xã hội, giáo dục luôn là lĩnh vực có vai trò quan trọng đối với vận mệnh và sự phát triển của quốc gia, ở mọi thời đại. Ngày nay với sự phát triển của nền kinh tế tri thức giáo dục càng phải được ưu tiên là “Quốc sách hàng đầu”, được quan tâm và đầu tư nhất. Tuy nhiên vẫn có một lỗ hổng lớn của nền giáo dục nước nhà là việc thiếu trung thực trong thi cử để lại hậu quả nghiêm trọng cho hiện tại và biết bao hệ lụy trong tương lai. Đã đến lúc không thể làm ngơ và cần phải có biện pháp thích hợp để trả lại sự nghiêm túc cho ngành giáo dục nước nhà.

    Thiếu trung thực trong thi cử được biểu hiện rất đa dạng nó có mặt ở mọi kì thi lớn nhỏ. Nếu như bài kiểm tra, hay bài thi học kì học kì trên lớp nó biểu hiện là việc quay cóp tài liệu, chép bài bạn, sửa điểm, nâng điểm… thì ngay ở trong kì thi lớn Trung học phổ thông Quốc gia_bước ngoặt cuộc đời của mỗi con người thủ đoạn của việc thiếu trung thực trở nên tinh vi, tiểu xảo hơn như sử dụng phương tiện hỗ trợ nhìn bài, tai nghe lén, đút lót hối lộ giám thị, giám khảo, mua điểm, mua bằng…. Nó là cả một đường dây của một lô một lố những con người thiếu trung thực từ quan chức cấp cao, giáo viên đầu ngành, các bậc phụ huynh, học sinh. Dù là biểu hiện dưới hình thức nào thì đó vẫn là những hành vi không thể chấp nhận và không được phép tồn tại. Trong những ngày gần đây dư luận đang xôn xao với điểm thi cao chót vót của Hà Giang, sau khi Bộ đã cho điều tra rà soát lại tất cả các khâu và đến ngày 17/7/2018_ngày đánh dấu ung nhọt suy đồi của ngành giáo dục với việc phát hiện ra sai phạm trong quá trình chấm thi. Vụ việc tiếp tục bị phanh phui bằng việc ông Vũ Trọng Lương_Phó phòng khảo thí đã trắng trợn sửa điểm, nâng điểm cho hơn 300 bài thi của 114 thí sinh là con ông cháu cha của tỉnh, trong đó có con của Bí thư Tỉnh ủy Hà Giang Triệu Tài Vinh. Từ vụ việc của Sở giáo dục và đào tạo tỉnh Hà Giang, một loạt ung nhọt thiếu trung thực trong thi cử có dấu hiệu vỡ lan ra nhiều tỉnh thành trên dải đất hình chữ S như: Sơn La, Lạng Sơn, Bạc Liêu, Hòa Bình… và còn biết bao nhiêu Hà Giang thứ hai chưa được phát hiện từ trước đến nay. Thực sự việc thiếu trung thực trong thi cử đã ở mức “Báo động đỏ” không chỉ làm đau đầu nhức óc cán bộ ngành mà còn làm cho cả nước Việt Nam nhức nhối lương tâm trong sự nghiệp “trồng người”.
    Nguyên nhân của thái độ tiêu cực này là do đâu? Nhìn khách quan, trực diện nhất nó xuất phát từ ý thức lười biếng không muốn làm lại muốn hưởng, thói giả dối trong đời sống và bệnh thành tích là mảnh đất màu mỡ để nuôi dưỡng hành động thiếu nhân văn như vậy. Đây là một vấn đề muôn thuở từ trước chứ không phải bây giờ mới có, nó như là một dịch bệnh mà ngành giáo dục đã, đang gặp phải cần phải có “vắc-xin” trị liệu nhanh chóng, kịp thời và triệt để.
    Thiếu trung thực trong thi cử là việc làm đã xảy ra trong một thời gian dài nhưng có lẽ không ai biết hoặc biết mà không dám lên tiếng tố giác, không dám đấu tranh bảo vệ quyền lợi để cho người xấu việc xấu lộng quyền lộng hành gây ra biết bao hậu quả nghiêm trọng cho ngành giáo dục, cho xã hội và đất nước.
    Thứ nhất: Phá vỡ sự nghiêm túc, trung thực cần phải có ở chiến trường trí tuệ. Thầy không ra thầy, trò không ra trò thi cử là để đánh giá khách quan nhất năng lực của mỗi em học sinh thì lại trở thành sân chơi cho những kẻ có quyền, có tiền, có thế. Giáo dục không dừng lại ở việc truyền thụ kiến thức mà còn là để dạy dỗ, rèn luyện nhân cách, đạo lí làm người. Thử hỏi một người thầy tiếp tay cho bệnh thành tích thì có tư cách để dạy trò hay không ?
    Thứ hai: Công lí bị chà đạp, công bằng bị đè bẹp. Thiếu trung thực trong thi cử dù là hành động của học sinh, giáo viên hay các thế lực khác thực hiện thì nó đều làm cho trắng đen, giỏi dốt bị đảo lộn học sinh dốt trở thành học sinh giỏi, thí sinh bị điểm liệt được làm thủ khoa với điểm số cao ngất ngưởng nhờ tiền và thế lực của gia đình. Học sinh giỏi có năng lực thực sự bị cướp đi cơ hội học tập và phát triển. Nhân tài của đất nước bị vùi dập, không thì họ cũng tìm cách ra nước ngoài học tập và cống hiến cho nước bạn gây ra nạn “Chảy máu chất xám” cho đất nước.
    Thứ ba: Lòng tin của nhân dân vào pháp luật cơ quan chính quyền của ngành giáo dục sẽ như thế nào? Dân họ bức xúc khi quyền lực không có cơ chế giám sát, công lí bị thế lực đồng tiền đâm thủng. Nhân dân còn biết tin, biết bám víu vào đâu khi cả những người làm cán bộ, làm lãnh đạo đứng đầu tỉnh lại có hành vi thiếu trung thực như vậy. Những con người ấy theo như chủ tịch Hồ Chí Minh nói đó là những người làm đầy tớ, phục vụ cho quyền lợi của nhân dân nhưng giờ đây lại đi ngược với đạo đức của người Đảng viên, chà đạp lên quần chúng để đạt được tham vọng bản thân.
    Thứ tư: Những đứa trẻ gian lận, được nâng điểm, sửa điểm kia rồi sẽ ra sao? Bố mẹ có quyền thế cho con cái tiền tài, danh vọng, địa vị và rồi bán luôn cả lòng tự trọng, nhân phẩm làm người của con để rồi liệu có mấy ai tỉnh táo mà thoát khỏi bánh xe lầy tội lỗi theo kiểu “Cha truyền con nối”. Đúng là con quan thì lại làm quan, con sãi ở chùa lại quét lá đa.
    Thứ năm: Hệ lụy về tương lai lâu dài. Thử nghĩ đến một ngày những thế hệ dốt này là những bác sĩ dốt, kĩ sư dốt, nhà giáo dốt, lãnh đạo dốt, công an dốt… với những kinh nghiệm gian dối và thủ đoạn, nhận thức và hành động như thế hệ trước thì chắc chắn đây là đại họa của quốc gia, dân tộc không chỉ là đất nước bị thụt lùi mà có nguy cơ người Việt tự hủy diệt dân tộc Việt chứ không cần đến một thế lực ngoại bang nào xâm lăng. Chúng ta đang kêu gào, đang tung hô thời đại công nghệ 4.0 nhưng nếu để thế hệ con em của kẻ gian lận lên làm chủ thì đất nước sẽ nhanh chóng quay về thời kì đồ đá như cuộc sống trước công nguyên “ăn lông ở lỗ”. Và còn biết bao, biết bao nhiêu điều nữa nếu như tình trạng thiếu trung thực trong thi cử vẫn hoành hành, kẻ xấu không bị trừng phạt thích đáng để làm gương.
    Hậu quả của hành động thiếu trung thực trong thi cử là vô cùng nghiêm trọng liên quan tới vận mệnh của dân tộc những kẻ dốt lại đội lốt người hiền tài trị vì đất nước thì xã hội là mảnh đất ươm mầm cho con người thiếu trách nhiệm, vô cảm, tham nhũng tàn phá đất Việt đúng như Ngô Thì Nhậm đã từng nói: “Hiền tài là nguyên khí của quốc gia, nguyên khí thịnh thì thế nước mạnh, rồi lên cao, nguyên khí suy thì thế nước yếu, rồi xuống thấp” là như vậy.
    Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu”, muốn cho dân tộc Việt Nam phát triển mạnh mẽ, hội nhập với cường quốc năm châu thì ngay bây giờ, ngay lập tức Bộ giáo dục và cơ quan chức năng phải vào cuộc, phải làm thật mạnh tay bóc trần tất cả các vụ gian lận, thiếu trung thực trong thi cử. Tòa án pháp luật và tòa án lương tâm không được để đồng tiền, thế lực địa vị được chen chân vào, công tư trắng đen minh bạch, người có tội thì phải chịu tội trả lại cơ hội cho các em học sinh thực sự có năng lực, tài năng, trí tuệ. Để xảy ra vụ việc như ngày hôm nay mỗi cá nhân chúng ta cũng có một phần trách nhiệm bởi chính chúng ta đã im lặng để cái xấu cái ác tự do tung hoành, chính sự vô cảm, thờ ơ đã vô tình tiếp tay cho tội ác của ngành giáo dục, tội ác của những kẻ có quyền có thế nặn ra một thế hệ tương lai cho đất nước là những con người không có lòng tự trọng, thiếu đạo đức, thiếu nhân cách, thiếu kiến thức trí tuệ và không có lí tưởng sống đúng đắn, không có tinh thần tự lập… Chúng ta cần phải nâng cao ý thức của mỗi người vai trò của việc học, đổi mới cách ra đề chú trọng vào năng lực người học, lập lại kỉ cương trật tự trường thi…. Mỗi cá nhân trong cộng đồng người Việt hãy lên tiếng phản biện, đấu tranh mạnh mẽ để cho nền giáo dục nước nhà được thanh sạch, để cho kẻ ác bị trừng trị nghiêm minh, cho công bằng công lí xã hội không bị thế lực của đồng tiền chà đạp, cho đất nước Việt Nam có nhiều nhân tài đóng góp để dân tộc phát triển.

    Là một người học sinh em ý thức được hậu quả nghiêm trọng của căn bệnh thiếu trung thực, thiếu trách nhiệm trong thi cử nó tàn phá lương tri của người cầm cân nảy mực, nó đẩy đất nước thụt lùi đến mức âm vô cùng. Nelson Mandela_cố tổng thống Nam Phi đã từng nói: “Giáo dục là vũ khí quyền năng nhất bạn có thể dùng để thay đổi cả thế giới”. Chính vì vậy muốn thay đổi đất nước Việt Nam mỗi chúng ta hãy cố gắng trung thực với chính trí tuệ của mình, cùng lên tiếng để bảo vệ quyền lợi cho những bạn có năng lực thực sự, hãy nói không với bệnh thành tích của giáo dục. Hãy để những người trẻ mở ra cánh cửa tươi sáng của tương lai cho dân tộc Việt.

    Bài văn mẫu 2

    Xã hội ngày càng phát triển, giáo dục càng trở nên quan trọng đối với mỗi con người. Giáo dục là con đường ngắn nhất để tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại, những tiến bộ khoa học kĩ thuật của loài người. Nhận thức được tầm quan trọng của giáo dục, trong những năm vừa qua, giáo dục nước ta đã tích cực vận động phòng chống tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục. Bên cạnh những thành tựu đã đạt được, thì những mặt hạn chế như tiêu cực, thiếu trung thực trong thi cử lại là vấn nạn nhức nhối của toàn ngành.

    Trung thực là đức tính luôn luôn tôn trọng sự thật, chân lí lẽ phải, dám nhận sai khi mình mắc lỗi và có phương hướng tích cực để giải quyết những sai lầm đó. Còn thiếu trung thực trong thi cử là hành vi gian lận, quay cóp khi làm bài kiểm tra để bản thân đạt được thành tích cao, bất chấp mọi thủ đoạn, mọi hành vi gian dối. Đây là một hiện tượng xấu, ảnh hưởng nghiêm trọng đến chất lượng giáo dục, cũng như hình thành thói quen xấu ở học sinh.
    Thực trạng đáng buồn đó đang diễn ra phổ biến ở tất cả các học sinh với hình thức từ bình thường cho đến tinh vi. Mỗi kì thi đến, các bạn thay vì ngay đêm học tập lại ngày đêm chuẩn bị “phao” nhưng mẩu giấy bé tí, với chi chít chữ được viết cẩn thận, quán photo trở nên đông đúc, nhộn nhịp hơn. Các bạn sẵn sàng viết vào tẩy, vào máy tính, vào hộp bút,… bất cứ chỗ nào có vẻ mang đến sự “an toàn” là các bạn sẽ viết. Công nghệ hiện đại hơn, các bạn sử dụng tai nghe không dây, kết nối với bên ngoài để hoàn thành bài kiểm tra của mình. Và rất nhiều hình thức thiếu trung thực khác được các bạn vận dụng thành thục trong mỗi kì thi. Thực trạng quay cóp, thiếu trung thực trong khi thi cử phải có đến 99% học sinh thừa nhận điều này. Họ còn cho rằng đã là học sinh mà không quay cóp, không làm phao thì đó không còn là học sinh. Ngay từ suy nghĩ của các bạn đã có sự lệch lạc, sai lầm nghiêm trọng.
    Các bạn thực hiện hành vi quay cóp đã bao giờ nghĩ đến hậu quả mà mình phải gánh chịu chưa? Các bạn có đảm bảo tất cả hành vì gian lận của mình được thực hiện chót lọt 100%. Thường thì sẽ không bao giờ có điều ấy xảy ra, người ta vẫn thường nói rằng “đi đêm lắm có ngày gặp ma”, các bạn thực hiện hành vi thiếu trung thực nhiều lần, tất sẽ có ngày bị bắt gặp. Khi ấy sẽ thật xấu hổi biết bao với thầy cô và bạn bè xung quanh. Thầy cô, bạn bè thất vọng về bản thân bạn, thì ra bấy lâu nay những điểm số cao chót vót kia chỉ là một sự lừa dối. Bố mẹ sẽ vô cùng đau lòng khi đứa con gửi gắm biết bao hi vọng lại có những hành vi thiếu trung thực như vậy. Nhưng nguy hiểm hơn, chính là hành vi đó sẽ khiến bản thân học sinh bị méo mó về nhân cách, phát triển một cách lệch lạc, không đủ hành trang vững bước vào đời. Không chỉ vậy, gian lận còn khiến bạn tự đào một lỗ hổng kiến thức cho chính mình, thời gian gian lận càng nhiều, lỗ hổng kiến thức càng lớn. Vậy sau này ra khỏi trường lớp bước chân vào cuộc đời bạn sẽ tính sao trong khi chỉ có một cái đầu rỗng tuếch, thiếu tri thức, thiếu kinh nghiệm. Ai sẽ nuôi sống bạn trong suốt quãng đời còn lại. Và nhìn ra xa hơn, thói thiếu trung thực trong thi cử cũng có thể là khởi nguồn mọi thói hư tật xấu khác trong xã hội.
    Nguyên nhân dẫn đến hiện tượng thiếu trung thực trong thi cử có rất nhiều. Nguyên nhân khách quan là áp lực học hành, thành tích từ bố mẹ, nhà trường. Khi áp lực đó quá lớn, khiến học sinh không thể nhồi nhét kiến thức, lo sợ nên phải có những hành vi chống đối để đáp ứng được yêu cầu của gia đình và thầy cô. Không chỉ vậy, căn bệnh thành tích trong giáo dục vẫn đang hoành hành, không ít giám thị khi coi thi vẫn coi dễ dãi, thậm chí nhắc bài, chính thái độ đó của họ khiến học sinh hình thành tâm lí ỉ lại, không chịu học hành. Nhưng quan trọng nhất vẫn xuất phát từ bản thân chính những người học sinh. Học sinh lười học, lười làm bài tập, chỉ đến khi chuẩn bị thi mới vắt chân lên cổ học, nhưng lúc ấy thì đã muộn, mà tâm lí lại luôn muốn điểm giỏi, điểm cao nên “đành” phải làm phao quay cóp. Nếu chúng ta không bỏ công sức và thời gian thì chẳng có gì chúng ta có được lâu bền và mãi mãi.
    Với vấn nạn thiếu trung thực như vậy, chúng ta ngay lập tức cần có các biện pháp để giải quyết tình trạng này. Trước hết bản thân học sinh cần ý thức được vai trò tầm quan trọng của việc học, học không chỉ để lấy điểm, mà học còn là hành trang vững bước vào đời. Bởi vậy, người học phải có mục tiêu và phương hướng học tập đúng đắn. Bản thân cần có tinh thần cầu tiến, không ngừng nỗ lực cố gắng để đạt thành tích cao, khẳng định giá trị của bản thân. Đối với gia đình và nhà trường không nên tạo áp lực điểm số quá lớn đối với các em, để các em có thể thoải mái học tập. Nhưng không có nghĩa là bỏ bê, không quan tâm đến việc học tập của các em, luôn có những sự khích lệ kịp thời đối với những học sinh có tiến bộ. Ngoài ra, nhà trường cũng cần có những biện pháp xử lí nghiêm minh đối với những trường hợp vi phạm, đảm bảo môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, tích cực và công bằng cho tất cả học sinh.

    Trung thực là đức tình quý báu mà mỗi chúng ta cần phải rèn luyện ngay từ tấm bé. Bởi vậy, ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường chúng ta phải trung thực trong từng bài học, bài kiểm tra. Trung thức sẽ tạo nên hành trang vững chắc để bạn bước vào cuộc đời thêm phần tự tin, và đạt được thành công.

    Bài văn mẫu 3

    Trung thực là một phẩm chất đạo đức cao quý của con người. Rèn luyện đức tính trung thực ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường là một yêu cầu hàng đầu, góp phần tạo nên nhân cách đẹp đẽ cho mỗi con người sau này. Tuy nhiên, hiện tượng thiếu trung thực trong học tập, gian lận trong thi cử ngày càng trở nên phổ biến trong nhà trường. Điều này gây ra những tác hại khôn lường. Chúng ta phải khắc phục ngay thái độ này.

    Vậy thế nào là trung thực? “Trung” ở đây nghĩa là một lòng một dạ, không thay đổi, còn “thực” là cách phát âm khác của từ “thật”, có nghĩa là thật thà, thành thật. “Trung thực” nghĩa là tôn trọng sự thật, là dám đứng lên bảo vệ sự thật, là dám nhận lỗi, sửa lỗi, nhất là luôn thành thật với bản thân, với mọi người: thật lòng, nói thật, làm thật… Tóm lại, trung thực là luôn tôn trọng sự thật, tôn trọng chân lí, lẽ phải; sống ngay thẳng thật thà và dám dũng cảm nhận lỗi khi mình mắc khuyết điểm. Người có đức tính trung thực là người sống hết lòng với mọi người, thật thà, ngay thẳng, luôn nói đúng sự thật, không làm sai lệch sự thật, chân thành trong cách đối xử với mọi người, luôn nhìn nhận khách quan về các sự việc trong cuộc sống, luôn tôn trọng và bảo vệ chân lí, bảo vệ lẽ phải.
    Còn thế nào là thiếu trung thực? Thiếu trung thực là đi ngược lại sự trung thực, là làm sai lệch tính đúng đắn của sự việc. Thiếu trung thực trong thi cử là những cử chỉ, hành động vi phạm quy chế thi cử. Đây là những việc làm gian dối, lừa bịp để thi đậu, đạt được bằng cấp.
    Những biểu hiện thiếu trung thực trong thi cử rất đa dạng, muôn hình muôn vẻ: có khi theo kiểu “cổ điển” như quay cóp, giở tài liệu (phao), thi hộ thi thay, đánh dấu bài, cả bộ đề thi được phô tô thu nhỏ giấu vào trong quần áo, giày tất để mang lọt vào phòng thi. “Hiện đại” hơn thì làm bài thi theo hướng dẫn từ bên ngoài qua điện thoại di động có lắp tai nghe, được ngụy trang tinh vi để qua mắt giám thị… Không chỉ thí sinh mà cả thầy cô giáo cũng có thái độ sai. Việc cố tình để lộ đề thi ở trường này, trường khác, hiện tượng giám thị gợi ý, thậm chí đọc bài giải cho thí sinh chép cũng có, dù biết rằng những hành động đó vi phạm nội quy thi cử. Một số phụ huynh nông nổi, cạn nghĩ cũng có những hành động tiêu cực như ném phao, nhờ người giải bài, thuê người thi hộ, đe doạ giám thị… để “hỗ trợ” con em thi “đỗ”.
    Vì sao học sinh lại có thái độ thiếu trung thực trong thi cử? Những học sinh có thái độ sai trái trong thi cử phần lớn là do lười biếng, không muốn mất nhiều công sức học tập nhưng lại muốn được điểm cao. Đã lười học thì không thể nào nắm vững các kiến thức cơ bản và phương pháp làm bài tập của từng môn học. Cho nên lúc làm bài, họ chỉ có một trong hai cách là quay cóp bài của bạn hoặc giở tài liệu đã chuẩn bị sẵn dưới nhiều hình thức khác nhau được gọi là “phao”. Mặt khác, cơ chế thi cử ở nước ta cũng là mảnh đất màu mỡ cho hiện tượng thiếu trung thực phát triển.
    Ngoài ra xét kĩ, chúng ta sẽ thấy thái độ thiếu trung thực trong thi cử có liên quan đến các hiện tượng tiêu cực khác như thói giả dối và bệnh thành tích… Sâu xa hơn, nó bắt nguồn từ nhận thức lệch lạc về mục đích và tầm quan trọng của việc học đối với sự hình thành nhân cách con người. Ngay từ ngày xưa, tổ tiên chúng ta đã có quan điểm hết sức đúng đắn là học dể làm người. Tiên học lễ, hậu học văn, tức là trước hết phải học lễ giáo (những điều giáo dục về khuôn phép sống theo tư tưởng Nho giáo). Có thể hiểu đơn giản là học phép cư xư, học đạo lí nhân nghĩa trước, sau đó mới học chữ thánh hiền (chữ Nho) để có được những kiến thức cơ bản trong việc tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ. Lời khẳng định tầm quan trọng của sự học có giá trị như chân lí muồn đời:
    “Ngọc bất trác, bất thành khí. Nhân bất học, bất tri lí”.
    (Ngọc không mài không sáng. Người không học không biết đâu là đạo lí).
    Thái độ thiếu trung thực trong thi cử chắc chắn sẽ gây ra những hậu quả nghiêm trọng. Nhiều người nghĩ một cách đơn giản và nông cạn là hiện tượng thiếu trung thực trong thi cử không hại đến ai, đến điều gì nên người nào gian lận được thì cứ việc gian lận. Thực ra, gian lận trong thi cử là một tệ nạn gây tác hại nghiêm trọng và lâu dài cho xã hội, quốc gia. Trước hết, hiện tượng thiếu trung thực sẽ phá vỡ sự nghiêm túc cần phải có ở chốn trường thi, biến thi cử thành một trò đùa may rủi. Không thể để sự lộn xộn, phản giáo dục như thế tồn tại mãi vì giáo dục không đơn thuần là vấn đề truyền thụ kiến thức mà trước hết là vấn đề dạy dỗ, rèn luyện tư cách, đạo lí làm người. Thiếu trung thực là biểu hiện của sự thoái hoá nhân cách, đánh mất lòng tự trọng và phụ lòng tin của mọi người đối với mình. Khởi đầu bằng sự dối trá, gian lận thì tất yếu không thể có được một kết quả tốt đẹp trong cuộc đời. Bên cạnh đó, hiện tượng thiếu trung thực trong thi cử sẽ tạo ra sự bất công giữa người chăm chỉ, thật thà và kẻ lười nhác, dối trá; làm đảo lộn mọi giá trị tài năng và đạo đức trong xã hội. Ngành giáo dục bị ảnh hưởng nhiều nhất về mặt chất lượng vì sai lầm trong giáo dục là sai lầm nguy hiểm nhất. Nó không chỉ ảnh hưởng xấu đến một cá nhân mà còn gieo rắc tai hoạ cho cả một thế hệ. Một cử nhân “dỏm”, một thạc sĩ, tiến sĩ học giả mà bằng thật đã làm giảm sút uy tín của ngành giáo dục rất nhiều. Những người tài sơ đức thiểu như thế mà làm công việc đào tạo thì chất lượng sản phẩm con người mà họ đào tạo ra sẽ như thế nào? Hơn nữa, thiếu trung thực trong thi cử tất yếu sẽ sản sinh ra những con người yếu kém về nhân cách và tài năng. Những con người ấy nếu nhờ thân thế mà được sắp đặt vào các vị trí quan trọng trong xã hội thì họ sẽ gây ra những hậu quả khôn lường, gây thiệt hại to lớn cho nhân dân, đất nước.
    “Gốc của học tập là học làm người”.
    (Ngạn ngữ Trung Quốc)
    Để khắc phục thái độ thiếu trung thực trong thi cử, chúng ta phải làm gì? Chúng ta có suy nghĩ gì về đức tính trung thực trong khi thi và trong cuộc sống? Trong khi thi, trung thực là phải làm bài bằng thực lực và chấp nhận đỗ đạt bằng thực chất của mình. Còn gian lận là làm mọi cách để đỗ bằng được, không cần thực chất. Người trung thực phải là người biết rõ: Trung thực trong khi thi dù bị rớt vẫn vinh dự hơn đỗ đạt nhờ gian lận. Cho nên trong thư gửi thầy hiệu trưởng của con trai mình, Tổng thống Mỹ A. Lin-côn (1809 – 1865) viết: –
    “Xin thầy hãy dạy cho cháu biết chấp nhận thi rớt còn vinh dự hơn gian lận khi thi”.
    “Nói không với thái độ thiếu trung thực trong thi cử” đang là một vấn đề cần thiết phải làm ngay đối với ngành giáo dục. Bên cạnh việc tuyên truyền giáo dục ý thức trung thực là những biện pháp kỉ luật nghiêm minh, đủ sức răn đe những thí sinh có ý định gian lận trong thi cử. Trước hết, Bộ Giáo dục và Đào tạo nên có sự đổi mới trong cách ra đề thi, đòi hỏi người thi phải có tư duy và phương pháp làm bài chứ không tạo cơ hội cho họ sao chép. Đổi mới cách ra đề thi là một cách hạn chế tiêu cực trong thi cử khá hiệu quả. Mặt khác, công tác coi thi cần được thực hiện nghiêm túc, có trách nhiệm. Nếu giám thị coi thi không nghiêm túc thì không thể đòi hỏi sự nghiêm túc ở thí sinh. Đối với các thí sinh có thái độ không trung thực trong thi cử cũng cần xử phạt nghiêm khắc tùy theo mức độ như trừ điểm hay huỷ bài thi, thậm chí cấm dự thi vĩnh viễn. Những điều sai trái trong thi cử phải bị xử lí trước pháp luật. Có như vậy mới lập lại được trật tự kỉ cương nơi trường thi và mới xoá bỏ được bất công: kẻ lười biếng, dốt nát, dối trá thì đỗ, còn người chăm chỉ, học khá, trung thực thì lại trượt. Hi vọng trong một thời gian không xa, các kì thi sẽ trở nên nghiêm túc và trường thi đúng là nơi đánh giá chính xác về mặt chất lượng học tập của học sinh và giảng dạy của giáo viên. Các kì thi sẽ là nơi đọ sức, so tài để phát hiện ra những hiền tài phục vụ cho sự nghiệp dựng xây đất nước giàu mạnh. Thật đáng buồn trước thái độ thiếu trung thực trong thi cử! Vì đằng sau chuyện gian lận thi cử là ngần ấy thí sinh bị kỉ luật, đình chỉ thi. Hiện tượng này báo hiệu sự xuống cấp đạo đức xã hội trong đó có đạo dức của học sinh, sinh viên. Mục đích thi cử rõ ràng là để lựa chọn những người đủ tâm, đủ tài cho đất nước. Cho nên ngay từ bây giờ mọi người hãy hưởng ứng tích cực cuộc vận động của ngành giáo dục: “Nói không với thái độ thiếu trung thực trong thi cử”. Và bản thân học sinh phải nhận thức sâu sắc về ý nghĩa của việc học để chú ý trau dồi, rèn luyện cả đức lẫn tài, vì:
    “Có tài mà không có đức là người vô dụng. Có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    3 bài văn mẫu Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam hay nhất

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Dàn ý Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    [toc]

    Đề bài: Phân tích truyện ngắn “Hai đứa trẻ” của Thạch Lam

    Bài văn mẫu 1

    Thạch Lam tên khai sinh là Nguyễn Tường Vinh sau đổi là Nguyễn Tường Lân, ông là em trai của hai nhà văn nổi tiếng là Nhất Linh (Nguyễn Tường Tam) và Hoàng Đạo (Nguyễn Tường Long). Sinh ra ở huyện Cẩm Giàng_Hải Dương (quê mẹ), lớn lên học Trung học ở Hà Nội sau bỏ học đi làm báo, viết văn. Tác phẩm của ông để lại không nhiều nhưng mỗi một sáng tác là một thành công riêng. Ông được người đời đánh giá là “Cây bút có biệt tài về truyện ngắn”. Tiêu biểu là tác phẩm “Hai đứa trẻ” in trong tập “Nắng trong vườn” thể hiện tài năng về truyện ngắn là truyện không có cốt truyện, chủ yếu đi sâu vào thế giới nội tâm nhân vật và minh chứng cho văn phong riêng biệt, độc đáo của Thạch Lam là giản dị, trong sáng mà thâm trầm sâu sắc.

    Truyện ngắn “Hai đứa trẻ” bên cạnh việc miêu tả không gian cảnh vật bên ngoài và những cảnh người dường như không có gì nổi bật đáng chú ý, nhưng đi vào nơi bên trong sâu lắng của tâm hồn mới phát hiện ra những điều tinh tế gợi lên biết bao nỗi xót xa, thương cảm cho những kiếp người nghèo khổ và trân trọng cho ước mơ của họ. Truyện kể về hai nhân vật chính Liên và An, hai chị em từng sống ở Hà Nội huyên náo khi cha bị mất việc gia đình phải chuyển về phố huyện nghèo mưu sinh, hai đứa nhỏ được mẹ giao cho công việc trông coi cửa hàng tạp hóa bé xíu để kiếm thêm thu nhập. Tất cảnh cảnh vật và con người nơi đây trong từng khoảng thời gian từ chiều tàn cho đến đêm khuya được Liên thu vào trong tầm mắt và cảm nhận thật tinh tế.

    Cảnh vật bên ngoài được Thạch Lam miêu tả qua cái nhìn của Liên có khi đứng từ xa quan sát bao trùm lên tất cả, khi thì lại cận cảnh từng chi tiết nhỏ bé. Khung cảnh thiên nhiên được cảm nhận cả hai chiều về không gian và thời gian. Mở đầu là buổi chiều tà hoàng hôn buông xuống, bóng tối dần bao phủ. Khung cảnh ngày tàn, chợ tàn hiện lên những kiếp người tàn tạ. Bức tranh thiên thiên nhiên về chiều mở đầu là “tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ”_ âm thanh đầu tiên báo hiệu kết thúc một ngày, chuẩn bị cho thời khắc lúc về đêm. Nói là phố huyện nhưng là cái huyện nhỏ xíu, tiêu điều. Hiệu lệnh phát ra từ một cái chòi nho nhỏ lẩn vào trong dãy tre làng đang đen lại vào lúc trời tây rực đỏ như hòn than sắp tàn, chen lẫn là tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve trong màn đêm tối. Điều đó khiến cho Liên_cô gái có tâm hồn nhạy cảm “bỗng dưng thấy cái buồn của ngày tàn thấm thía vào tâm hồn” khi ngồi bên cạnh “Những quả thuốc sơn đen, đôi mắt ngập đầy bóng tối”. Đoạn văn mở đầu của Thạch Lam êm du, dịu nhẹ vừa giàu hình ảnh, giàu nhịp điệu và uyển chuyển, tinh tế như bản nhạc tình ca gợi ra cuộc sống vừa bình yên lại vừa hoang tàn và nghèo nàn nơi thôn dã. Những con người ở huyện nhỏ hiện lên là những đứa trẻ con nhà nghèo lom khom nhặt nhạnh những thứ gì còn dùng được sau buổi chợ chiều, từ láy “lom khom” được Thạch Lam sử dụng càng đậm tô sự cơ cực vất vả mà những đứa trẻ đáng lẽ phải được học hành vui chơi đang gánh chịu. Mẹ con chị Tí vẫn dắt díu nhau ngày này qua ngày khác với hai công việc đều đặn là mò cua bắt tép ban ngày tối đến trông chờ vào gánh nước chè dưới gốc bàng trong màn đêm. Hai chị em Liên với cái quán tạp hóa bán những thứ đồ lặt vặt. Ống kính quan sát của nhà văn lia đến cả những thứ rác rưởi, vỏ bưởi, vọ thị, lá mía, lá nhãn trên nền đất có cả mùi của cát bụi và mùi ẩm mốc quện vào nhau tạo thành mùi của quê hương nghèo khó. Thạch Lam có một tâm hồn thật tinh tế cảm nhận được từng chi tiết nhỏ cho thấy tấm lòng dào dạt của ông với quê hương.

    Bức tranh phố huyện khi về đêm các nhà đã lên đèn nhưng những nguồn sáng yếu ớt ấy không thể xua tan đi màn đêm, không thể chiến thắng nổi bóng tối. Ánh sáng của nhà bác phở Mĩ, đèn hoa kì leo lét trong nhà ông Cửu và đèn dây sáng xanh trong nhà hiệu khách càng làm cho “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”. Xung quanh Liên bóng tối đang dần bao trùm. “Tối hết cả con đường thăm thẳm sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng lại đen sẫm hơn nữa”. Bác phở siêu lom khom nhóm lửa trong đêm khiến cho “bóng bác càng mênh mang ngả xuống một vùng và kéo đến tận đàng xa”. Gia đình nhà bác xẩm vẫn đang đợi giọt hạnh phúc rơi với cái thau còn trống trơ, thằng con thì bò ra đất.

    Liên và An đã dọn hàng xong, cô bé thả hồn mình với cảnh vật xung quanh, lắng mình quan sát “ngàn sao vẫn lấp lánh, một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Tâm trạng của một cô bé nhạy cảm như vậy chẳng có gì là khó hiểu, trước cảnh vật hiu quạnh trách sao được lòng mình cũng buồn theo. Thạch Lam thật tinh tế khi đi sâu khai thác thế giới nội tâm của cô gái mới lớn.

    Đoàn tàu lúc về đêm là ước mơ, hi vọng của những con người nghèo khổ nơi đây. Tất cả mọi người vẫn thức đến tận đêm khuya để chờ tàu đi qua cuộc đời họ trong thoáng chốc. Phải chăng là để mong bán được ít hàng, còn chị em Liên thì không hi vọng gì nữa bởi đêm khuya rồi có mua cũng chỉ là bao diêm hay gói thuốc. Nhưng theo như Thạch Lam nhận xét: “Chừng ấy con người trong bóng tối mong đợi một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ.” Chuyến tàu về đêm là giấc mộng đẹp huy hoàng của người dân huyện nghèo. Mọi người chờ tàu trong tâm trạng háo hức, mong mỏi An đã nằm xuống ngủ nhưng vẫn cố nhắc chị “Tàu đến chị đánh thức em dậy nhé”, Liên buồn ngủ ríu cả mắt vẫn cố thức chờ cho bằng được để ngắm nhìn chuyến tàu qua. Tàu đến mang theo thứ âm thanh nhộn nhịp của tiếng còi rít, tiếng tàu rầm rộ đi tới, tiếng nói chuyện của những hành khách phá tan không gian tĩnh mịch, buồn thảm nơi đây. Tàu đến mang theo thứ ánh sáng của thế giới thần tiên xa lạ khác hẳn với ánh đèn leo lét của những kiếp người tàn, đó là “Một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa”, “Các toa đèn sáng trưng chiếu ánh cả xuống đường”, ánh sáng của đồng và kền lấp lánh và các cửa kính sáng đã xóa tan đi đêm tối mịt mù, lóe lên cho họ niềm tin, hi vọng về tương lai ngày mai tươi sáng hơn. Dù cho chỉ thoáng chốc vụt qua nhưng chuyến tàu đêm vô cùng có ý nghĩa với chị em Liên. Dường như đối với chúng đó là niềm say mê vì không những nó đi qua sự phẳng lặng, tẻ nhạt của cuộc sống phố huyện mà còn đưa Liên trở về quá khứ xa xưa khi cha cô chưa bị mất việc cả nhà vẫn còn sống ở Hà Nội huyên náo, nhộn nhịp khi ấy hai đứa trẻ đang được sống và vui chơi trong những tháng ngày tươi đẹp.

    Trong truyện ngắn “Hai đứa trẻ”, Thạch Lam đã thể hiện “một giọng văn nhẹ nhàng, trầm tĩnh khách quan nhưng luôn ẩn hiện tâm sự kín đáo”, nhà văn đã đi sâu vào khai thác nội tâm nhân vật, ngòi bút tả ít gợi nhiều vào cả xúc người đọc cho ta nhìn và cảm nhận, suy ngẫm về những mảnh đời bé mọn trong cuộc sống. Dù xã hội đã phát triển, tiến bộ hơn rất nhiều nhưng ở đâu đó trên dải đất hình chữ S vẫn còn có rất nhiều những người dân nghèo khổ ở vùng sâu vùng xa cần được Đảng, nhà nước và cộng đồng quan tâm chia sẻ đừng để cho trẻ em như An, Liên và những đứa trẻ con nhà nghèo phải “lom khom” để mưu sinh hãy cho các em có một tuổi thơ tươi đẹp.

    Qua truyện ngắn “Hai đứa trẻ” Thạch Lam thể hiện một nét mới trong chủ nghĩa nhân đạo của văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, nhà văn thể hiện nỗi niềm cảm thông sâu sắc đối với những kiếp người nghèo khổ, quẩn quanh và bế tắc. Trước ước muốn, hi vọng nhỏ nhoi của họ mà thương xót cũng đáng trân trọng vô cùng. Qua đó cho ta bài học nhận thức dù nghèo khó, cực khổ cũng phải luôn cố gắng và không ngừng hi vọng cho tương lai tốt đẹp hơn. Mất niềm tin, hi vọng chúng ta mãi là kẻ sống trong bóng tối mịt mù.

    Bài văn mẫu 2

    Thạch Lam cây bút văn xuôi lãng mạn tiêu biểu của văn học 1930 – 1945, các sáng tác của ông tập trung đi sâu khai thác vào cuộc sống đời thường, bình dị. Với những tác phẩm thường “truyện không có truyện” nhưng lại để lại những dư âm sâu sắc trong lòng người đọc về vẻ đẹp cuộc sống, tâm hồn con người. Hai đứa trẻ là một tác phẩm mang trong mình vẻ đẹp giản dị, sâu lắng như vậy.

    Tác phẩm được xuất bản năm 1938 in trong tập Nắng trong vườn. Tác phẩm là lát cắt hiện thực cuộc sống nơi phố huyện nghèo từ khoảnh khắc chiều tàn cho đến đêm khuya. Nhưng với ngòi bút tinh tế, Thạch Lam đã đi sâu khám phá vẻ đẹp của con người, cuộc sống nơi đây.

    Mở đầu tác phẩm là khung cảnh thiên nhiên hết sức nên thơ nhưng đượm buồn với tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng, tiếng trống thu không văng vẳng vang lên, tiếng mỗi vo ve khắp nơi. Nếu có âm thanh cất lên cũng không mang lại sự tươi vui, rộn rã, ngược lại chỉ gợi lên sự tĩnh mịch của cảnh và sự ảm đạm của không gian. Gam màu chủ đạo của khung cảnh là màu đỏ như lửa cháy: “Phương tây đỏ rực như cháy và những đám mây hồng như hòn than sắp tàn” . Những sắc màu này thường gợi lên sức sống, sự ấm nóng như với bức tranh của Thạch Lam lại chỉ gợi lên sự lụi tàn, mặt trời sắp lặn, những đám mây cũng như hòn than sắp tàn. Sự ảm đạm, buồn rầu bao trùm lên cảnh vật khi bóng chiều dần buông.

    Trong không gian của buổi chiều tàn, bức tranh sinh hoạt của con người hiện lên cũng chẳng mấy sáng sủa hơn. Chỉ có một âm thanh duy nhất xuất hiện “tiếng ồn ào cũng mất” khi chợ đã họp và vãn từ lâu, trả lại cho phố huyện sự tĩnh lặng vốn có. Trên nền chợ chỉ còn lại vỏ thị, vỏ bưởi, lá nhãn, … những thứ người tả bỏ đi sau một buổi chợ phiên. Những đứa trẻ con nhà nghèo vẫn cố tìm tòi, nhặt nhạnh những thứ còn sót lại trên mặt đất. Cuộc sống ở đây không chỉ buồn mà còn nghèo nàn, xơ xác. Không gian ấy khiến ta không khỏi ám ảnh và cảm thương cho những số phận, sinh linh tội nghiệp đang phải sống những ngày mòn mỏi ở nơi đây.

    Liên là một cô gái mới lớn, tinh tế và nhạy cảm, trong khoảnh khắc của ngày tàn đã nhanh chóng nắm bắt những biến chuyển của thiên nhiên. Em cảm nhận thấy mùi vị của quê hương trong phiên chợ đã tàn: “một mùi ẩm mốc bốc lên trộn lẫn với mùi cát bụi quen thuộc quá…” ấy là mùi vị đã thấm sâu trong tâm hồn em, tâm hồn của một người gắn bó tha thiết, sâu nặng với quê hương.

    Khi màn đêm buông xuống, cuộc sống nơi phố huyện vẫn tiếp diễn. Liên sửa soạn, vội vàng “thắp đèn, xếp những quả sơn đen lại” và nhẩm tính những món hàng đã bán được trong ngày. Rồi lần lượt chị Tí, bác xẩm, gánh phở bác Siêu xuất hiện. Chị Tí dọn hàng nước chờ đợi những khách hàng quá quen thuộc đi qua vào uống chén trà. Gánh phở bác Siêu lại là món ăn xa xỉ với người dân phố huyện, bởi vậy lúc nào cũng vắng khách. Bác xẩm gảy lên “mấy tiếng đàn bầu bần bật trong yên lặng” thu nhập chẳng đáng là bao. Hình ảnh cụ Thi điên có lẽ đã gây biết bao ám ảnh với người đọc, cụ triền miền trong cơn say, bước đi lảo đảo, dường như cụ tìm đến với hơi men để lãng quên thực tại cuộc sống nhàm chán, tẻ nhạt, để quên đi những nỗi đau của thực tế. Những người dân phố huyện vẫn gắng gượng sống qua ngày, họ sống cuộc đời mòn mỏi, mà chưa thể tìm ra lối thoát cho chính mình. Họ cũng mang trong mình mơ ước “Chừng ấy người trong bóng tối mong đợi một cái gì đó tươi sáng hơn…” nhưng đó chỉ là mơ ước mơ hồ, chập chờn, vu vơ, không có đích đến. Nhưng ước mơ đổi đời của những người dân phố huyện cũng được tác giả nâng niu, trân trọng.

    Trong khoảnh khắc của ngày tàn, khi bóng tối đã ngập đầy mọi nơi, Thạch Lam một cách rất tinh tế đã tìm ra những khoảnh khắc đẹp đẽ, đầy lãng mạn của cảnh vật thông qua những cảm nhận nhạy bén của nhân vật Liên. Cô bé thích thú ngắm bầu trời đêm với ngàn sao lấp lảnh, tưởng tượng đó là dòng sông ngân hà với hai con vịt đi theo chân thần nông. “Qua kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuông vai Liên khe khẽ…” Liên quả là người có tâm hồn nhạy cảm và tinh tế, khi “đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối” em vẫn tìm thấy những nguồn sáng khác nhau từ thiên nhiên, cảm nhận cái rơi thật khẽ, thật êm của hoa bàng rụng. Liên tìm đến ánh sáng không phải là một điều ngẫu nhiên, ánh sáng ấy chính là mơ ước về một cuộc sống tốt đẹp hơn của Liên. Em tìm nguồn sáng sáng xua tan đi bóng tối: khe sáng, hột sáng, quầng sáng… Nhưng những nguồn sáng ấy dù phong phú nhưng nhỏ bé, mong manh, yếu ớt, không đủ để xua đi bóng đêm. Đây đồng thời cũng là khao khát đổi đời để thoát khỏi cuộc sống quẩn quanh, bế tắc của thực tại.

    Nhưng có lẽ đẹp nhất, rực rỡ nhất chính là khoảnh khắc khi đoàn tàu vụt qua phố huyện nghèo. Không ai ngủ, không ai về trước khi đoàn tàu đi qua, ai cũng cố thức để chờ đoàn tàu đến, không phải là để cố gắng bán thêm được thứ gì, vì hầu như không có ai mua, mà là bởi để thấy được chút ánh sáng của sự sống, của niềm tin, hi vọng. Cũng bởi vậy mà, mặc dù đã buồn ngủ nhưng An vẫn cố nhắc chị khi nào đoàn tàu đến hãy gọi em dậy, trong mong manh vô thức, An cũng có khao khát đổi đời như tất cả người dân nơi đây. Khi đoàn tàu xuất hiện, tiếng reo lên đầy vui sướng: “đèn ghi đã ra kia rồi”, hồi còi tàu hảo kéo dài, làn khói sáng trắng xuất hiện từ phía xa. Đoàn tàu vụt qua mang đến biết bao âm thanh: “tiếng xe rít mạnh vào ghi” , “tiếng hành khách ồn ào khe khẽ”, “tiếng còi rít lên”, đó là sự náo nhiệt, ồn ã, đông vui trái ngược hẳn với sự tĩnh lặng của phố huyện. Trên các toa tàu sáng rực “các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường”, “đồng và kền lấp lánh” nó gắng liền với cuộc sống sang trọng, giàu có trong phút chốc xua đi bóng tối, sự ảm đạm của cuộc sống nơi đây. Đoàn tàu đi qua, người ta vẫn cố nhìn theo đóm lửa xanh cho đên khi nó mất hẳn. Nếu đoàn tàu đi qua mang lại ánh sáng rực rỡ như sao băng thì giờ đây ở phố huyện chỉ còn lại vầng sáng nhỏ bé, leo lét, đêm tối lại bao bọc xung quanh. Đoàn tàu là hình ảnh của quá khứ, của Hà Nội, gợi về một thế giới thần tiên mà hai đứa trẻ từng được trải nghiệm, là biểu tượng của thế giới hạnh phúc mà hai đứa trẻ cũng như tất cả người dân phố huyện đang khao khát.

    Cốt truyện đơn giản, hầu như không có cốt truyện, nhưng giàu chất trữ tình đã ghi lại một cách chân thực và cảm động về mớ ước đổi đời của người dân phố huyện. Nghệ thuật miêu tả thiên nhiên đặc sắc, với bức tranh nên thơ, lãng mạn mà đượm buồn. Ngôn ngữ nhẹ nhàng, tinh tế. Nghệ thuật tương phản đối lập giữa ánh sáng và bóng tối làm bật lên mơ ước đẹp đẽ của con người nơi đây. Nghệ thuật xây dựng nhân vật cũng là điểm cần lưu ý, nhân vật Liên chú ý đi sâu miêu tả những trạng thái tình cảm, cảm xúc vừa cho thấy tâm hồn trong sáng, đẹp đẽ vừa cho thấy mơ ước về một cuộc sống khác ở em.

    Bằng một truyện ngắn đậm chất trữ tình, Thạch Lam đã thể hiện niềm xót thương với những kiếp người nghèo nàn, sống quẩn quanh nơi phố huyện. Đồng thời tác phẩm cũng là sự nâng niu, trân trọng của nhà văn với những ước mơ đổi đời đẹp đẽ của con người nơi đây.

    Bài văn mẫu 3

    Nội dung bao trùm của truyện Hai đứa trẻ là tấm lòng “êm mát và sâu kín” của Thạch Lam đối với con người và quê hương, ở đây, nhà văn vừa thể hiện niềm xót thương đối với những kiếp người nghèo khổ sống lam lũ, quẩn quanh trong xã hội cũ vừa bộc lộ thái độ đồng cảnh, trân trọng đối với khát vọng tuy rất mơ hồ của họ. Qua truyện Hai đứa trẻ, người đọc còn cảm nhận được phần nào tình cảm gắn bó với quê hương đất nước của Thạch Lam.
    Đọc truyện Hai đứa trẻ, trước hết chúng ta có ấn tượng về cuộc sống lụi tàn, tù túng của những kiếp người sống nghèo đói, quẩn quanh, không ánh sáng, không tương lai trong xã hội cũ.

    Câu chuyện mở đầu bằng những câu văn êm dịu, với những âm thanh và hình ảnh báo hiệu một ngày tàn: “Tiếng trống thu không trên cái chòi của huyện nhỏ; từng tiếng một vang ra để gọi buổi chiều. Phương tây đỏ rực như lửa cháy và những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn. Dãy tre làng trước mặt đen lại và cắt hình rõ rệt trên nền trời.

    Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ra, văng vẳng tiếng ếch nhái kêu ra ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào”. Đây là một trong nhiều bằng chứng ở tác phẩm này cho thấy: “Văn của Thạch Lam thường hiếm khi thừa lời, thừa chữ, không uốn éo làm duyên một cách cầu kì kiểu cách, nhưng vừa giàu hình ảnh và nhạc điệu, lại vừa uyển chuyển, tinh tế (Vũ Ngọc Phan). Nó không những cho người đọc nhìn thấy cảnh vật mà điều quan trọng hơn là khơi gợi ở họ tình cảm, xúc cảm đối với cảnh vật. Hơn nữa, cảnh vật lại phần nhiều đều rất gần gùi, bình dị và mang cốt cách Việt Nam.

    Bên cạnh cảnh ngày tàn, chợ tàn là những kiếp người tàn tạ.
    Chị Tí ban ngày mò cua, bắt tép, tối đến dọn hàng nước chè tươi, thắp một ngọn đèn dầu leo lét. Hàng vắng khách, tuy chiều nào chị cũng dọn từ chập tối cho đến đêm, nhưng “chả kiếm được bao nhiêu”. Bác Xẩm ngồi trên manh chiếu, cáỉ thau để trước mặt, “góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong yên lặng. Thằng con bò ra đất, ngoài manh chiếu, nghịch nhặt những rác bẩn vùi trong các bên đường”. Bà cụ Thi hơi điên lại nghiện rượu, có tiếng cười khanh khách, ghê sợ, sau khi uống một hơi cạn cút rượu ti, “cụ đi lần vào bống tối”. Chị em Liên phải thức để trông “một cửa hàng tạp hóa nhỏ xíu, mẹ Liên dọn ngay từ khi cả nhà bỏ Hà Nội về quê ở, vì thầy Liên mất việc”. Hàng “bán chăng ăn thua gi”, Liên thương mấy đứa trẻ nghèo, nhưng “không có tiền để mà cho chúng nó”. Cảnh Liên xếp hàng vào hòm, cách hai chị em tính tiền, niềm nuối tiếc cái thời còn ở Hà Nội nhỉếu khi “được đi chơi Bờ Hồ uống những cốc nước lạnh xanh đỏ”, cái ý nghĩ phở bác Siêu là “một thứ quà xa xỉ” không bao giờ chị em Liên có thể mua được… khiến chúng ta có thể hình dung ra gia cảnh khó khăn và mức sống eo hẹp của gia đình Liên. Thế nhưng, có lẽ dẫu sao, gia đình hai dứa trẻ cũng còn có phần khẩm khá hơn gia đình chị Tí và bác Xẩm, vì còn có “một gian hàng bé thuê lọi của bà lão móm, ngăn ra bằng một tấm phên nứa dán giấy nhật trình”…

    Như vậy, từ gia đình chị Tí, gia đình bác Xẩm đến bà cụ Thi và chị em Liên, mỗi người một cảnh, nhưng họ đều có chung sự buồn chán, mỏi mòn… Điều đáng nói hơn là tất cả những nhân vật bé nhỏ này đã hiện ra trong cái nhìn xót thương của Thạch Lam, được thể hiện qua lời văn và những chi tiết dường như rất khách quan.

    Khi trời tối hẳn, cả phố huyện dường như chỉ thu vào ngọn đèn của chị Tí. Ngoài ngọn đèn này ra, “thứ bóng tối nhẫn nại uất ức đời thôn quê” (Thế Lữ) làm chủ tất cả. Không phải ngẫu nhiên trong tác phẩm, nhà văn nhắc đi, nhắc lại chi tiết ngọn đèn chị Tí tới 7 lần. Kết thúc truyện, hình ảnh gây ấn tượng, day dứt cuối cùng, đi vào giấc ngủ của Liên cũng vẫn là “chiếc đèn con của chị Tí chiếu sáng một vùng đất nhỏ”.

    Phải chăng, hình ảnh này chính là biểu tượng của những kiếp người nghèo khổ, lam lũ sống vật vờ, leo lét trong màn đêm của xã hội thực dân nửa phong kiến?

    Nhịp sống ở phố huyện này cứ lặp đi, lặp lại một cách đơn điệu, quẩn quanh và tẻ nhạt
    Ngày qua ngày, chiều nào chị Tí cũng dọn hàng “từ chập tối cho đến đêm”, tối nào bác Siêu bán phở cũng nhóm lửa, gia đình bác Xẩm cũng chờ khách, người nhà cụ Thừa, cụ Lục cũng đi gọi người đánh tổ tôm. Chị em Liên tối nào cũng tính tiền hàng, “cũng phải ngồi trên chiếc chõng tre dưới gốc cây bàng” và “ngày nào, cứ chập tối, mẹ Liên lại tạt ra thăm hàng một lần” …

    Như vậy, “chừng ấy người trong bóng tối” ngày này qua ngày khác sống quẩn quanh, tù túng trong cái “ao đời bằng phẳng” (Xuân Diệu). Hình ảnh những con người này khiến ta nhớ đến một số câu thơ trong bài Quẩn quanh của Huy Cận:
    Quanh quẩn mãi với vài ba dáng điệu,
    Tới hay lui cũng ngần ấy mặt người.
    Vì quá thân nên quá đỗi buồn cười,
    Môi nhắc lại cũng ngần ấy chuyện.

    Hay nhớ đến cuộc sống đơn điệu, nhạt nhẽo “cơm mai rồi lại cơm chiều, rút cục mỗi ngày hai bữa cơm” của những nhân vật như Quỳnh và Giao trong thiên truyện ý tưởng Tỏa nhị Kiều của Xuân Diệu.

    Tuy thế, những người dân phố huyện vẫn hi vọng cho dù hi vọng đó rất mơ hồ: “một cái gì tươi sáng cho sự sống nghèo khổ hằng ngày của họ”. Chính sự mong đợi mơ hồ này dường như càng tô đậm thêm tình cảnh tội nghiệp của những nhân vật trong truyện. Họ sống đấy, nhưng đâu biết ngày mai số phận mình sẽ ra sao! Một niềm xót thương da diết cửa Thạch Lam thế hiện kín đáo ngay trong cách dựng người: dựng cảnh và cái giọng văn đều đều, chậm buồn của ông.

    Việc phân tích cảnh ngày tàn, chợ tàn và những kiếp người tàn trên đây giúp ta hiểu vì sao chị em Liên đêm nào cũng cô thức để chờ chuyến tàu đi qua.

    Phải chăng hai chị em chờ tàu để bán được hàng? Không, “Liên không trông mong còn ai đến mua nữa. Với lại, đêm họ chỉ mua bao diêm hay gói thuốc là cùng”. Hơn nữa, “Liên đã buồn ngủ ríu cả mắt”, nhưng cô vẫn chưa chịu ngủ. Còn “An đã nằm xuống […] mi mắt đã sắp sửa rơi xuống”, vẫn không quên dặn chị nhớ đánh thức mình dậy khi tàu đi qua. Hại chị em cố thức chì vì “muốn được nhìn chuyến tàu, đó là sự hoạt động cuối cùng của đêm khuya”; vì với hai đứa trẻ, con tàu đâu chỉ là con tàu. Nó là cả một thế giới khác – “Một thế giới khác hẳn, đối với Liên, khác hẳn cái Vầng sáng ngọn đèn của chị Tí và ánh lửa của bác Siêu”.

    Có lẽ chính vì vậy mà chuyến tàu được Thạch Lam tập trung bút lực miêu tả một cách tỉ mỉ, kĩ lưỡng theo trình tự thời gian qua tâm trạng chờ mong của hai nhân vật Liên và An.
    Dấu hiệu đầu tiên của đoàn tàu là sự xuất hiện của người gác ghi. Tiếp theo là Liên trông thấy ngọn lửa xanh biếc, sát mặt đất như ma trơi”, rồi cô nghe thấy tiếng còi xe lửa “kéo dài ra theo ngọn gió”. Sau đó, “hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi” kèm theo “một làn khói bừng sáng trắng lên đằng xa, tiếp đến tiếng hành khách ồn ào”. Thế rồi, “tàu rầm rộ đi tới”, “các toa đèn sáng trưng”, “những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh”. Cuối cùng là cảnh tàu đi vào đêm tối “để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt”, “chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa măi rồi khuất sau rặng tre” …

    Đối với chị em Liên và có thể cả không ít người dân phố huyện, chuyến tàu đêm là biểu tượng của sự sống mạnh mẽ, sự giàu sang, rực rỡ ánh sáng. Nó đối lập với cuộc sống mòn mỏi, nghèo nàn, tối tăm và quẩn quanh của người dân phố huyện. Riêng đối với chị em Liên, chuyến tàu đêm còn gợi nhớ về những kỉ niệm của ngày xưa sung sướng, tại đất Hà Nội, khi thầy chưa mất việc.

    Phố huyện rầm rộ lên trong chốc lát rồi lại chìm sâu vào bóng đêm yên tĩnh. Và đáng nói hơn: Những người dân phố huyện chỉ chính thức chấm dứt hoạt động khi chuyến tàu đêm đã qua.

    Phố huyện lại trở về phố huyện. Hình ảnh ngọn đèn leo lét của chị Tí lại hiển hiện trong trạng thái chập chờn của Liên trước khi cô chìm hẳn vào “giấc ngủ yên tĩnh, cũng yên tĩnh như đêm ở trong phố, tịch mịch và đầy bóng tối”.

    Qua việc miêu tả tâm trạng của Liên, Thạch Lam thể hiện niềm trân trọng, thương xót, đối với những kiếp người nhỏ bé, sống trong nghèo nàn tăm tối, buồn chán nơi phố huyện (nói rộng ra là sống ở đất nước còn đắm chìm trong đói nghèo, nô lệ đương thời). Điều này, đương thời Thế Lữ cũng đã nhận xét: “Sự thật tâm hồn Thạch Lam diễn ra trong lời văn chương phức tạp, nhiều hình nhiều vẻ, nhưng bao giờ cũng đằm thắm nhân hậu, cũng nghẹn ngào một chút lệ thầm kín của tình thương. Nếu Thạch Lam theo một chủ kiến nào trong công việc viết văn của anh, thì chủ ý ấy diễn ra và gợi lên sự xót thương”.

    Qua tâm trạng của Liên, phải chăng Thạch Lam dường như còn muốn lay tỉnh những con người đang buồn chán, đang sống quẩn quanh, lam lũ hãy cố vươn tới ánh sáng? Điều này chỉ có được ở những cây bút xuất hiện từ những năm 30 của thế kỉ XX, khi họ ý thức đầy đủ về “cái tôi” cá nhân, cá thể. Ở đây, dường như Thạch Lam đã bắt gặp Xuân Diệu, Huy Cận, Nguyễn Tuân… (ở dòng văn học lãng mạn), Nam Cao, Bùi Hiển, Tô Hoài,… (ở dòng văn học hiện thực) trong việc không chấp nhận sống trong cái “ao đời bằng phẳng”, mòn mỏi và tù túng, khao khát hướng tới một cuộc sống có ý nghĩa, xứng đáng là cuộc sống của con người.
    Như vậy, thể hiện một cách nhẹ nhàng khát vọng hướng tới cuộc sống sáng tươi của những con người bé nhỏ, bình thường, Hai đứa có một giá trị nhân bản đáng quý.

    Ngoài ra, Hai đứa trẻ phần nào còn là một bài ca về thiên nhiên, đất nước.
    Bằng sự gắn bó với đất nước và dân tộc, bằng tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, Thạch Lam đã đưa đến cho người đọc những bức tranh quê hương gần gũi mà không kém phần thơ mộng, đầy gợi cảm: “Chiều, chiều rồi. Một chiều êm ả như ru, vàng vẳng tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng theo gió nhẹ đưa vào.. “, “Trời đã bắt đầu đêm, một đêm mùa hạ êm như nhung và thoảng qua gió mát”.

    Các nhân vật trong truyện luôn gắn bó với thôn dã. Bởi thế, chỉ mới gặp “mùi âm ẩm bốc lên, hơi nóng của ban ngày lẫn với mùi cát bụi quen thuộc”, chị em Liên đã “tưởng là mùi riêng của đất, của quê hương này”.

    Vốn sống hòa hợp gần gũi với thiên nhiên, hai đứa trẻ luôn chú ý phát hiện tinh tế những biến thái của nó: “An và Liên lặng ngước mắt lên nhìn các vì sao để tìm sông Ngân Hà và con vịt theo sau ông Thần Nông”. Tâm hồn chúng dường như có sự giao cảm, giao hòa với cây cỏ quê hương: qua kẽ lá của cành bàng, ngàn sao vẫn lấp lánh; một con đom đóm bám vào dưới mặt lá, vùng sáng nhỏ xanh nhấp nháy rồi hoa bàng rụng xuống vai Liên khe khẽ, thỉnh thoảng từng loạt một. Tâm hồn Liên yên tĩnh hẳn, có những cảm giác mơ hồ không hiểu”. Những cảnh vật, những chi tiết trên đây hết sức quen thuộc, thường có ở quanh ta. Vậy mà bằng một giọng văn dịu dàng, trầm tĩnh, dưới ngòi bút Thạch Lam, chúng trở nên gợi cảm biết bao! Ta hiểu rằng, lòng yêu quê hương đất nước của mỗi con người Việt Nam chính có phần được bồi đắp bởi những chi tiết hết sức bình dị này.

    Điều đáng lưu ý là nhìn chung trong những tác phẩm của các cây bút hiện thực như Vũ Trọng Phụng, Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao… dường như ít thấy cảm hứng về thiên nhiên. Như vậy, đây phải chăng cũng có thể coi như một đóng góp của Thạch Lam cho văn học giai đoạn từ đầu thế kỉ XX đến Cách mạng tháng Tám năm 1945?

    Hơn nữa, trong khi nhiều truyện ngắn những năm 30 – 40 của thế kỉ XX thường lôi cuốn người đọc bằng cốt truyện hấp dẫn, tình tiết mới lạ, cách dẫn chuyện khéo léo có duyên, hay bút pháp phóng đại… (chẳng hạn phần nhiều những truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan), thì truyện của Thạch Lam lại làm cho người đọc yêu mến bằng chất thơ trong cuộc sống thường nhật. Mỗi truyện thường cấu tứ xung quanh một tâm trạng, một suy tưởng âm thầm của nhân vật. Vì là truyện trữ tình, nên đằng sau các chi tiết, các nhân vật luôn ẩn hiện hình ảnh của chính tác giả – một con người tinh tế, dịu dàng, nhạy cảm trước mọi biến thái của đất trời và của lòng người, đặc biệt luôn xót thương những kiếp người sống quẩn quanh, đói nghèo và tăm tối.

  • Dàn ý Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Dàn ý Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Dàn ý Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ của Thạch Lam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Hai đứa trẻ (Thạch Lam)

    [toc]

    Đề bài: Phân tích truyện ngắn Hai đứa trẻ

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Đôi nét về Thạch Lam: Một trong những cay bút tiêu biểu của Tự lực văn đoàn, ông có thế mạnh về viết truyện ngắn. Văn chương Thạch Lam rất thích hợp để thanh lọc tâm hồn
    – Hai đứa trẻ là một truyện ngắn trữ tình đượm buồn phù hợp cho nhận định trên

    II. Thân bài

    1. Bức tranh phố huyện lúc chiều tàn
    a. Bức tranh thiên nhiên nơi phố huyện lúc chiều tàn:
    – Toàn bộ cảnh vật được cảm nhận qua cái nhìn của Liên
    – Âm thanh: + Tiếng trống thu không gọi chiều về, tiếng ếch nhái kêu ran ngoài đồng ruộng, tiếng muỗi vo ve.
    – Hình ảnh, màu sắc: + “Phương tây đỏ rực như lửa cháy”, “Những đám mây ánh hồng như hòn than sắp tàn”.
    – Đường nét: dãy tre làng cắt hình rõ rệt trên nền trời.
    – Nhịp điệu chậm, giàu hình ảnh và nhạc điệu
    ⇒ Khung cảnh thiên nhiên đượm buồn, đồng thời thấy được sự cảm nhận tinh tế
    b. Cảnh chợ tàn và những kiếp người nơi phố huyện
    – Cảnh chợ tàn:
    + Chợ đã vãn từ lâu, người về hết và tiếng ồn ào cũng mất.
    + Chỉ còn rác rưởi, vỏ bưởi, vỏ thị, lá nhãn và lá mía.
    – Con người:
    + Mấy đứa trẻ con nhà nghèo tìm tòi, nhặt nhanh những thứ còn sót lại ở chợ.
    + Mẹ con chị Tí: với cái hàng nước đơn sơ, vắng khách.
    + Bà cụ Thi: hơi điên đến mua rượu lúc đêm tối rồi đi lần vào bóng tối.
    + Bác Siêu với gánh hàng phở – một thứ quà xa xỉ.
    + Gia đình bác xẩm mù sống bằng lời ca tiếng đàn và lòng hảo tâm của khách qua đường.
    ⇒ Cảnh chợ tàn và những kiếp người tàn tạ: sự tàn lụi, sự nghèo đói, tiêu điều của phố huyện nghèo.
    c. Tâm trạng của Liên
    – Cảm nhận rất rõ: “mùi riêng của đất, của quê hương này”.
    – Nỗi buồn thấm thía trước cảnh ngày tàn và những kiếp người tàn tạ:
    + Thương những đứa trẻ nhà nghèo nhưng không có tiền mà cho chúng.
    + Xót thương mẹ con chị Tí: ngày mò cua bắt tép, tối dọn cái hàng nước chè tươi chả kiếm được bao nhiêu, xót thương bà cụ Thi điên
    ⇒ Tâm hồn nhạy cảm, tinh tế, có lòng trắc ẩn, yêu thương con người. Đây cũng là nhân vật mà Thạch Lam gửi gắm tâm tư của mình

    2. Bức tranh phố huyện lúc đêm khuya
    a. Sự đối lập giữa “bóng tối” và “ánh sáng”
    – Phố huyện về đêm ngập chìm trong bóng tối:
    + “Đường phố và các ngõ con dần dần chứa đầy bóng tối”.
    + “Tối hết con đường thẳm thẳm ra sông, con đường qua chợ về nhà, các ngõ vào làng càng sẫm đen hơn nữa”.
    ⇒ Bóng tối xâm nhập, bám sát mọi sinh hoạt của những con người nơi phố huyện.
    – Ánh sáng của sự sống hiếm hoi, bé nhỏ: khe sánh, quầng sáng, chấm lửa nhỏ, hột sáng…⇒ ánh sáng yếu ớt, le lói như những kiếp người nghèo khổ nơi phố huyện.
    – Ánh sáng và bóng tối tương phản nhau
    ⇒ Bóng tối bao trùm trong khi ánh sáng chỉ mong manh, nhỏ bé ⇒ kiếp người nhỏ bé sống leo lét, tàn lụi trong đêm tối mênh mông của xã hội cũ.
    b. Đời sống của những kiếp người nghèo khổ trong bóng tối:
    – Những công việc hằng ngày lặp đi lặp lại:
    + Chị Tí dọn hàng nước
    + Bác Siêu hàng phở thổi lửa.
    + Gia đình Xẩm “ngồi trên manh chiếu rách, cái thau sắt để trước mặt”, “Góp chuyện bằng mấy tiếng đàn bầu bật trong im lặng”
    + Liên, An trông coi cửa hàng tạp hoá nhỏ xíu.
    ⇒ Cuộc sống nhàm chán, quẩn quanh, đơn điệu không lối thoát.
    – Những suy nghĩ cũng lặp đi lặp lại hằng ngày: Mong những người phu gạo, phu xe, mấy chú lính lệ vào hàng uống bát che tươi và hút điếu thuốc lào.
    – Vẫn mơ ước: “chừng ấy người trong bóng tối dang mong đợi một cái gì tươi sáng cho cuộc sống nghèo khổ hàng ngày của họ” ⇒ mơ hồ, tội nghiệp
    ⇒ Giọng văn: chậm buồn, tha thiết thể hiện niềm cảm thương của Thạch Lam với những người nghèo khổ.

    3. Hình ảnh chuyến tàu và tâm trạng chờ mong chuyến tàu đêm của Liên và An
    -Liên và An thức bởi:
    + Để bán hàng
    + Để được nhìn chuyến tàu đêm đi qua – hoạt động cuối cùng của đêm khuya.
    – Hình ảnh đoàn tàu xuất hiện với dấu hiệu đầu tiên:
    + Liên cũng trông thấy “ngọn lửa xanh biếc”
    + Hai chị em nghe thấy tiếng dồn dập, tiếng xe rít mạnh vào ghi.
    – Khi tàu đến:
    + Các toa đèn sáng trưng, chiếu ánh cả xuống đường.
    + Những toa hạng trên sang trọng lố nhố những người, đồng và kền lấp lánh, và các cửa kính sáng.
    – Khi tàu đi vào đêm tối:
    + Để lại những đốm than đỏ bay tung trên đường sắt.
    + Chiếc đèn xanh treo trên toa sau cùng, xa xa mãi rồi khuất sau rặng tre.
    ⇒ Đoàn tàu xuất hiện với âm thanh sôi động và ánh sáng rực rỡ, mang đến phố huyện nghèo một thế giới khác, đó là thế giới mà Liên luôn mong ước

    III. Kết bài
    – Khái quát những nét đặc sắc về nghệ thuật làm nên thành công của truyện ngắn
    – Hai đứa trẻ là một tác phẩm tiêu biểu cho phong cách văn chương của Thạc Lam: kết hợp hai yếu tố hiện thực và lãng mạn, văn phong trong sáng, giản dị mà thâm trầm.

  • 2 bài văn mẫu Nghị luận: Suy nghĩ của em về truyền thống Tôn sư trọng đạo của người Việt Nam

    2 bài văn mẫu Nghị luận: Suy nghĩ của em về truyền thống Tôn sư trọng đạo của người Việt Nam

    2 bài văn mẫu Nghị luận: Suy nghĩ của em về truyền thống Tôn sư trọng đạo của người Việt Nam

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Viết bài làm văn số 6: Nghị luận xã hội

    [toc]

    Đề bài: Suy nghĩ của em về truyền thống “Tôn sư trọng đạo” của người Việt Nam

    Dàn ý mẫu

    I. Mở bài
    – Dẫn dắt vấn đề nghị luận: Lịch sử dân tộc luôn đề cao, coi trọng những người mang trọng trách lớn lao: Dẫn dắt, giáo dục con người trưởng thành. Điều đó đã trở thành một đạo lí mà người ta vẫn gọi là “Tôn sư trọng đạo”

    II. Thân bài
    1. Giải thích thế nào là “Tôn sư trọng đạo”?
    – “Tôn sư”: Tôn trọng thầy cô giáo
    – “Trọng đạo”: Coi trọng đạo lí
    ⇒ “Tôn sư trọng đạo”: Cần ghi nhớ công ơn, tôn trọng ân nghĩa của thầy cô giáo, coi trọng đạo lí, khắc sâu ơn nghĩa của những người đã dìu dắt, dạy dỗ học trò trong sự nghiệp trồng người
    2. Tại sao cần phải “tôn sư trọng đạo”?
    Cẩn biết ơn thầy cô bởi:
    – Thấy cô nâng đỡ, truyền đạt tri thức, chắp cánh nâng đỡ con người trong hành trình dài rộng của cuộc đời
    – Thầy cô dạy ta cách sống, cách làm người, hướng con người tới những giá trị sống tốt đẹp
    – Thầy cô dành cho học trò tình yêu thương như mẹ cha
    – Thầy cô là những người bạn luôn bên cạnh chia sẻ với học trò mỗi lúc buồn vui hay hạnh phúc
    – Biết ơn thầy cô giáo là nét đẹp trong cách sống của con người, là biểu hiện của một người thực sự có văn hóa
    3. Biểu hiện của “Tôn sư trọng đạo”
    – Phạm Sư Mạnh – học trò của cụ Chu Văn An, tuy đã thành quan lớn, nhưng khi quay trở về thăm thầy vẫn kính cẩn, đứng từ xa vái chào. Khi được thầy mời vào nhà chỉ dám ngồi bậc dưới ⇒ Một thái độ, một con người, một nhân cách lớn
    – Ngày nay, truyền thống ấy vẫn được thể hiện một cách đa dạng dưới nhiều hình thức:
    + Học sinh gửi những lời tri ân tới thầy cô nhân ngày 20/11
    + Học hành chăm chỉ, lễ phép, ngoan ngoãn với thầy cô giáo…
    4. Mở rộng vấn đề
    – Bên cạnh những biểu hiện thể hiện truyền thống “tôn sư trọng đạo” vẫn còn những con người bất kính, vô ơn với thầy cô:
    + Hỗn láo với thầy cô
    + Bày trò chọc phá thầy cô
    + Làm những hành vi sai trái khiến thầy cô phiền lòng
    ⇒ Hành vi, việc làm như vậy phải bị phê phán
    5. Chúng ta cần làm gì để tỏ lòng “Tôn sư trọng đạo” (Liên hệ bản thân)
    – Điều tuyệt với nhất để đền đáp công ơn thầy cô là học hành chăm chỉ cần cù, mang những kiến thức mà thầy cô đã truyền dạy xây dựng tương lai bản thân và làm giàu cho đất nước
    – Cố gắng trở thành con người sống đẹp, sống có đạo đức, có tài để không phụ công lao dạy dỗ của thầy cô
    – Bản thân cần ý thức trách nhiệm và việc làm của mình sao cho xứng đáng với những gì thầy cô truyền đạt

    III. Kết bài
    – Khẳng định lại vấn đề nghị luận: “Tôn sư trọng đạo” là một nét đẹp trong tính cách, phong cách sống của mỗi người
    – Lời nhắn gửi đến mọi người: Hãy sống thật đẹp, sống có ích, có đức và có tài để công lao của các thầy cô trở nên có ý nghĩa

    Bài văn mẫu 1

    Trong kho tàng đạo đức truyền thống của người dân Việt Nam có biết bao những phẩm chất đáng quý như: hiếu thảo, dũng cảm, lòng bao dung… nhưng không thể không kể đến tôn sư trọng đạo. Đây là một nét đẹp trong văn hóa người Việt, truyền thống quý báu của dân tộc cần được gìn giữ và phát huy ở mọi lúc mọi nơi, mọi thời đại.

    Vậy tôn sư trọng đạo là gì? Theo em hiểu đó là thái độ tôn trọng, tình cảm yêu mến của các em học sinh dành cho những người làm thầy làm cô, đặc biệt là những thầy cô giáo đã trực tiếp dạy học và giáo dục, người lái đò đưa chúng ta sang sông cập bến tri thức. Thái độ ấy, tình cảm ấy luôn được thể hiện không chỉ lúc còn ở ghế nhà trường mà ngay cả khi chúng ta đã trưởng thành, đã có những thành công riêng trong cuộc sống nhưng vẫn không quên công ơn thầy cô nuôi dưỡng tài năng, ươm mầm trí tuệ.
    Ngay từ những ngày xửa ngày xưa cha ông ta đã có những hành động thể hiện việc làm tôn sư trọng đao. Điều đó được thể hiện qua địa vị của người thầy trong xã hội luôn đứng sau vua và trên cha: Quân, sư, phụ bởi thấm nhuần tư tưởng của dân gian “Không thầy đố mày làm nên”, hay câu ca dao:
    “Muốn sang thì bắc cầu kiều
    Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy”
    Chắc hẳn chúng ta chẳng thể quên hình ảnh của những người học trò như Cao Bá Quát, Phạm Sư Mạnh luôn một lòng kính trọng thầy giáo của mình là Chu Văn An, dù cho hai ông đã làm quan to trong triều đình đến chức tể tướng nhưng vẫn lấy làm vinh dự khi được quỳ dưới giường thầy, lấy làm vinh hạnh khi được nói chuyện cùng thầy, được thầy hỏi han. Hay là câu chuyện của một Lê Hiến Tông thường xuyên về thăm thầy giáo ở Thái Bình, khi được thầy đãi cơm với canh cua cảm động mà nói: “Thầy cho con ăn bát canh này là cả một niềm hạnh phúc”. Và còn biết bao nhiêu con người như vị tiến sĩ đầu tiên của miền Nam là Phan Thanh Giản học trò của tiến sĩ Hoàng Thì Bình khi đương chức thượng thư triều đình đã cùng học trò cũ xin phép được tế sống để tạ ơn công lao dạy dỗ của thầy. Những con người ấy là tấm gương sáng đi đầu điểm tô cho truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc.
    Ngày nay trong thời đại công nghệ 4.0 nhưng giá trị của truyền thống ấy vẫn giữ vai trò quan trọng trong phẩm chất tốt đẹp của người Việt giờ đây vẫn luôn được các thế hệ học trò tiếp nối. Tôn sư trọng đạo đơn giản chỉ là hành động nhỏ như: lễ phép với thầy cô, luôn một lòng kính trọng thầy cô giáo, là ý thức học tập thật tốt làm thầy cô vui lòng, luôn nhớ về ngày tôn vinh nhà giáo Việt Nam 20/11, hay lễ tết hằng năm chẳng cần hoa quà sang trọng, đắt tiền chỉ cần các em luôn nhớ về đã từng có người thầy người cô dạy mình trưởng thành và chân thành bằng lời chúc sức khỏe như vậy những người làm thầy cô giáo luôn cảm thấy mình được kính trọng và hạnh phúc.
    Tuy nhiên một bộ phận nhỏ giáo viên đã làm mất đi hình ảnh người thầy mẫu mực trong mắt phụ huynh, học sinh và xã hội bởi những hành vi tiêu cực như nhận tiền để nâng điểm cho các em, nhận “tấm lòng trong phong bì” của phụ huynh hay có hành vi chửi bới không tôn trọng nhân cách người học, đánh đập ra tay dã man với các em gây xôn xao dư luận. Thử hỏi những người thầy cô như vậy có xứng đáng đứng trên bục giảng để dạy học và giáo dục các em nữa hay không? Đặc thù của nghề giáo là dùng nhân cách để giáo dục nhân cách vậy thầy giáo có nhân cách tồi thì thế hệ học sinh của thầy sẽ ra sao?
    Chính điều đó đã làm cho một bộ phận không ít các em học sinh ngày nay có hành động vô lễ với giáo viên bào mòn đi truyền thống tôn sư trọng đạo. Học sinh gặp giáo viên không chào hỏi mà còn buông lời chọc ghẹo, mỉa mai, chửi giáo viên thậm chí là có hành động lên bục giảng, túm tóc đánh giáo viên trước lớp như vụ việc năm 2015 của em Lê Thị Hiền học sinh lớp 11A trường THPT Đồng Hới hay chặn đường đánh giáo viên vì trên lớp ghi tên vào sổ đầu bài, cho điểm kém. Thực sự những hành vi như vậy phải bị lên án để giáo dục lại bài học đạo đức cho các em.
    Là một người học sinh em ý thức được vai trò quan trọng của người thầy bởi “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư”, cũng hiểu được đạo lí truyền thống tôn sư trọng đạo của dân tộc từ đó hình thành cho em tình cảm tôn trọng thầy cô và luôn cố gắng không ngừng học tập, rèn luyện, trau dồi giá trị đạo đức nhân phẩm thật tốt để mai sau có thể trở thành một nhà giáo giỏi được học sinh yêu quý, kính trọng bởi “Có thờ thầy mới làm được thầy”.

    Như vậy truyền thống tôn sư trọng đạo của người Việt Nam đã có từ bao đời nay, đó là nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt nghìn năm văn hiến luôn cần được gìn giữ và phát huy giá trị. Hỡi! bao thế hệ học sinh, sinh viên hãy để cái nhìn của quốc tế vào con người Việt Nam vừa có tinh thần hiếu học vừa có truyền thống tôn sự trọng đạo quý báu.

    Bài văn mẫu 2

    Ông cha ta từ xưa đã có câu: “Nhất tự vi sư, bán tự vi sư” để nói lên tầm quan trọng của người thầy trong cuộc đời mỗi con người. Tôn sư trọng đạo là truyền thống quý báu của dân tộc ta. Dù là xã hội xưa, hay xã hội nay truyền thống ấy vẫn cần được các thế hệ gìn giữ và phát huy.

    Trước hết chúng ta cần hiểu “tôn sư trọng đạo” là gì ? Tôn sư tức là tôn trọng, kính trọng và đề cao vai trò của người thầy, người cô đối với chúng ta. Trọng đạo, đạo là con đường, là đạo lí làm người mà mỗi người phải tôn trọng để phát huy truyền thống của cha ông; như vậy trọng đạo có nghĩa là học trò phải biết tôn trọng, lễ phép, biết ơn với những người đã giảng dạy cho ta. Tôn sư trọng đạo tức là phải biết, phải thấy được vai trò của người thầy, tôn trọng, kính yêu, biết ơn đối với họ, vì người thầy có vai trò rất lớn đối với sự phát triển, thành công của mỗi người. Tôn sư trọng đạo là truyền thống quý báu, là lời căn dặn của cha ông dành cho thế hệ sau để biết sống và cư xử sao cho đúng chuẩn mực.
    Người thầy, người cô đối với mỗi chúng ta có ý nghĩa, vai trò vô cùng quan trọng. Chúng ta được học tập, được tiếp thu tri thức một cách dễ dàng chẳng phải đó là công lao thầy cô ngày đêm miệt mài bên trang giáo án, chắt lọc, nghiên cứu bài giảng kĩ lưỡng để truyền đạt cho chúng ta đó sao. Kho tàng tri thức nhân loại đến với ta dễ hiểu, dễ nhớ hơn chính là nhờ công ơn của thầy cô. Thầy cô đối với học trò không chỉ là trao truyền tri thức mà còn khơi dậy những mơ ước, cổ vũ động viên để chúng ta biến ước mơ thành hiện thực. Đâu chỉ có vậy, trong những lúc đang băn khoăn, bối rối thầy cô lại như một người bạn để ta tâm sự và đưa ra những lời khuyên xác đáng, có lợi nhất cho chúng ta. Và rất nhiều, rất nhiều nữa,… công ơn thầy cô sao có thể đong đếm nổi.
    Biểu hiện của lòng tôn sư trọng đạo rất đa dạng, phong phú. Là lời chào thật lễ phép, nghiêm trang mà cũng đầy tình cảm mỗi khi thấy thầy cô. Là trong lớp lắng nghe những lời cô giáo giảng bài. Là sự hăng hái, chăm chỉ phát biểu,… Là những món quà nhỏ bé, mà đầy ý nghĩa dành tặng thầy cô nhân những dịp trong đại,… Tuy bé nhỏ, đơn sơ nhưng đó chính là những biểu hiện giản dị nhất, chân thành nhất mà mỗi học sinh cần làm đối với người dạy dỗ mình nên người.
    Nhưng hiện nay, truyền thống tôn sư trọng đạo đã có nhiều thay đổi. Bên cạnh những học sinh ngoan ngoãn, lễ phép với thầy cô giáo lại có những học sinh thiếu tôn trọng, thậm chí hỗn xược với những người dạy dỗ mình. Đây quả thật là một hiện tượng đáng buồn, là dấu hiệu cảnh báo của sự suy đồi về nhân cách, đạo đức của học sinh. Không hiếm để chúng ta tìm thấy những bài báo về việc học sinh hành hung thầy cô, chửi lại thầy cô, có thái độ vô lễ với giáo viên trên các trang báo điện tử, mạng xã hội. Nó như một thứ virut lây lan nhanh chóng trong cộng đồng học sinh. Tình trạng đó làm ta không khỏi xót xa cho một truyền thống tốt đẹp đang dần bị hủy hoại. Vậy nguyên nhân nào dẫn đến thực trạng đáng buồn đó. Thứ nhất do bản thân học sinh không được giáo dục nhân cách, đạo đức kĩ lưỡng. Do cha mẹ quá nuông chiều con cái, khi có vấn đề ở trường không tìm hiểu kĩ nguyên nhân mà chỉ nghe từ một phía là con của mình, từ đó tạo nên những ám thị khiến con không còn tôn trọng giáo viên. Nhà trường đôi khi chú trọng trao truyền tri thức mà quên đi nhiệm vụ giáo dưỡng tinh thần, khiến các em phát triển lệch lạc. Cũng một phần do các thầy cô còn thiếu đứng đắn, đôi khi có thái độ, biểu hiện không đúng với học sinh. Để giải quyết thực trạng trên cần có sự phối hợp của ba bên: học sinh, gia đình và nhà trường, chỉ khi ấy thực trạng đáng buồn này mới được giải quyết một cách triệt để.

    Trong xã hội hiện đại, vai trò của người thầy đã có ít nhiều thay đổi, họ trở thành người dẫn dắt cho học sinh tiếp cận tri thức. Nhưng không vì thế mà vị thế của người thầy thay đổi. Chỉ khi chúng ta biết tôn trọng những người dạy dỗ mình thì khi ấy chúng ta mới phát triển hoàn thiện về nhân cách. Đặc biệt trong cuộc sống hiện tại, khi nhiều giá trị cuộc sống thay đổi, bị đảo lộn thì việc “tôn sư trọng đạo” càng phải được đề cao hơn nữa.

  • Văn mẫu: Viết bài làm văn số 6: Nghị luận xã hội

    Văn mẫu: Viết bài làm văn số 6: Nghị luận xã hội

    Văn mẫu: Viết bài làm văn số 6: Nghị luận xã hội

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan: Văn mẫu: Tràng Giang (Huy Cận)

    [toc]

    Top 10 bài Nghị luận xã hội, dàn ý Viết bài làm văn số 6 lớp 11 hay nhất
    Phần Viết bài làm văn số 6: Nghị luận xã hội Ngữ văn lớp 11 gồm các bài văn mẫu: dàn ý, phân tích, nghị luận xã hội, … hay nhất giúp các sĩ tử học tốt môn Văn lớp 11 và đạt điểm cao trong các bài kiểm tra, bài thi môn Văn.

    1. 2 bài văn mẫu Nghị luận: Suy nghĩ của em về truyền thống Tôn sư trọng đạo của người Việt Nam
    2. 3 bài văn mẫu Phân tích tác hại của việc thiếu trung thực trong thi cử
    3. 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về Lòng bao dung
    4. 2 bài văn mẫu Nghị luận xã hội về vấn đề an toàn giao thông hiện nay
    5. Bệnh vô cảm trong xã hội hiện nay
    6. Hãy nêu suy nghĩ của em về bệnh thành tích
    7. Viết bài tham gia cuộc vận động tìm giải pháp đảm bảo an toàn giao thông
    8. Làm thế nào để môi trường sống của chúng ta ngày càng xanh, sạch, đẹp

  • Phân tích khổ thơ 2 trong bài thơ Tràng giang

    Phân tích khổ thơ 2 trong bài thơ Tràng giang

    Phân tích khổ thơ 2 trong bài thơ Tràng giang

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:Giới thiệu một vài nét về Huy Cận và bài thơ Tràng giang

    [toc]

    Đề bài: Phân tích khổ thơ thứ hai: “Lơ thơ … cô liêu” trong bài “Tràng giang” của Huy Cận.

    Bài văn mẫu

    “Tràng giang” là bài thơ kiệt tác của Huy Cận rút trong tập thơ “Lửa thiêng” (1940). Bài thơ có một câu đề từ rất đậm đà: “Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài”. Tác giả đã có lần nói: “Tràng giang là một bài thơ tình và tình gặp cảnh, một bài thơ về tâm hồn”, “Tràng giang” tiêu biểu cho vẻ đẹp của hồn thơ Huy Cận trước cách mạng: hàm súc, cổ điển, giàu chất suy tưởng triết lí, thấm thìa một nỗi buồn nhân thế “sầu trăm ngả”.

    Bài thơ dược viết theo thể thơ thất ngôn trường thiên, có 4 khổ thơ hợp thành một bộ tứ bình về tràng giang một chiều thu. Đây là khổ thơ thứ hai của “Tràng giang”
    “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,
    Đây tiếng làng xa vãn chợ chiều,
    Nắng xuống, trời lên sâu chót vót;
    Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.
    Từ dòng sông, sóng gợn, con thuyền xuôi mái và cành củi khô bập bềnh trôi dạt trên sóng., ở khổ một, Huy Cận nổi đến cảnh tràng giang một buổi chiều mênh mông, vắng vẻ. Giọng thơ nhè nhẹ man mác buồn. Không gian nghệ thuật được mở rộng về đôi bờ và bầu trời. Những cồn cát thưa thớt nhấp nhô “lơ thơ” như nối tiếp mãi dài ra. Gió chiều nhè nhẹ thổi “đìu hiu” gợi buồn khôn xiết kể. Hai chữ “đìu hiu” gợi nhớ trong lòng người đọc một vần thơ cổ:
    “Non Kì quạnh quẽ trăng treo,
    Bến Phì gió thổi đìu hiu mấy gò”
    (Chinh phụ ngâm)
    Làng xóm đôi bờ sông, trong buổi chiều tàn cũng rất vắng lặng. Một chút âm thanh nhỏ bé lao xao trong khoảng khắc tan chợ, văn chợ ở đây đây, ở từ một làng xa vẳng đến. Lấy động để tả tĩnh, câu thơ “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều” đã làm nỗi bật sự ngạc nhiên, chút bâng khuâng của người lữ khách về cái vắng vẻ, cái hoang vắng của đôi bờ tràng giang. Các nhà Thơ mới coi trọng tính nhạc trong thơ, vận dụng nghệ thuật phối âm, hòa thanh rất thần tình, tạo nên những vần thờ giàu âm điệu, nhạc điệu, đọc lên nghe rất thích. Hai câu đầu đoạn có điệp âm “lơ thơ” và “đìu hiu”, có vần lưng “nhỏ — gió”, có vần chân: “hiu – chiều”. Câu thơ của Huy Cận làm ta liên tưởng đến câu thơ của Xuân Diệu:
    “Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu,
    Lả lả cành hoang vắng trở chiều…”
    (Thơ duyên)
    Các điệp thanh: “Nhỏ nhỏ”, “xiêu xiêu”, “lả lả”; các vần thơ, như vần lưng “nhỏ” với “gió”, vần chân “xiêu” với “chiều”. Những vần thơ “tươi nhạc tươi vần” ấy đã trở thành thơ trong trí nhớ của hàng triệu con người yêu thích văn học.
    Trở lại đoạn thơ trong bài “Tràng giang” của Huy Cận, ta như được nhập hồn mình vào cõi vũ trụ mênh mông và bao la. Trời đã về chiều. Nắng từ trên cao chiếu rọi xuống làm hiện ra những khoảng sâu thẳm tẳm trên bầu trời, vẻ đẹp của bầu trời thu quê hương ta đã trở thanh vẻ đẹp của thi ca dân tộc: “Trời thu xanh ngắt mấy tầng cao” (Thu vịnh); “Trời cao xanh ngắt – Ô kìa…” (Tiếng sáo Thiên Thai); “xanh biếc trời cao, bạc đất bằng” (Xuân Diệu). Thi sĩ Huy Cận lại nhận diện bầu trời không phải là cao mà là sâu, “sâu chót vót” :
    “Nắng xuống / trời lên sâu chót vót”
    Bầu trời và lòng sông “sóng gợn” là không gian hai chiều, rộng và cao, sâu. Trời cao thăm thẳm, rộng mênh mông in xuống, soi xuống lòng sông. Người ta thường nói “cao chót vót” và “sâu thăm thẳm”, nhưng Huy Cận lại cảm nhận là “sâu chót vót” vừa để làm nổi bật hai vế tiểu đối: “nắng xuống” // “trời lên”, vừa gây ấn tượng về cái bao la, mênh mông đến rợn ngợp của không gian vũ trụ vô tận, và cũng là nỗi buồn như vô tận trong lòng người. Khách li hương càng cảm thấy nhỏ bé, lẻ loi và cô đơn trước không gian vô hạn của vũ trụ. Dòng sông như dài thêm ra, bầu trời như rộng thêm ra, bến đò (hay bến lòng?) như cô liêu hơn, xa vắng quạnh hiu hơn. Lời đề từ nhà thơ đã viết: “Bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài”, cảm hứng ấy đã được láy lại ở thơ số 8, mở ra một trường liên tưởng đầy ám ảnh về vũ trụ thì vô hạn vô cùng, còn kiếp người thì nhỏ bé, hữu hạn: “Sông dài, trời rộng, bến cô liêu”.

    Cảnh sắc tràng giang được nói đến trong đoạn thơ là một không gian nghệ thuật đẹp mà buồn, vẻ đẹp của những dòng sông trên mọi miền đất nước hội tụ trong tâm hồn thi nhân, vẻ đẹp của tình yêu quê hương, tình yêu sông núi. Tình yêu đó mang nỗi buồn sông núi, nỗi buồn về đất nước của Huy Cận, của thế hệ các nhà thơ thời tiền chiến. “Tràng giang” đã hợp lưu trong lòng người hơn 60 năm rồi. Đọc đoạn thơ trên, ta mới thấu hiểu nỗi lòng thi nhân trước Cách mạng: “Chàng Huy Cận khi xưa hay sầu lắm…”

  • Giới thiệu một vài nét về Huy Cận và bài thơ Tràng giang

    Giới thiệu một vài nét về Huy Cận và bài thơ Tràng giang

    Giới thiệu một vài nét về Huy Cận và bài thơ Tràng giang

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:3 bài văn mẫu Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    [toc]

    Đề bài: Giới thiệu một vài nét về Huy Cận và bài thơ “Tràng giang”

    Bài làm

    I. Vài nét về tác giả Huy Cận
    – Tên thật là Cù Huy Cận, sinh năm 1919 ở lặng Ân Phú, huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Huy Cận xuất thân từ một gia đình nho học.
    – Lúc nhỏ, Huy Cận học ở quê. Học trung học ở Huế. Học Cao đẳng Canh nông ở Hà Nội.
    – Thời gian này, ông tham gia phong trào sinh viên yêu nước và Mặt trận Việt Minh.
    – Sau Cách mạng tháng Tám 1945, Huy Cận giữ nhiều trọng trách: Thứ trường rồi bộ trưởng…
    – Huy Cận được Nhà nước tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học nghệ thuật, đợt I-1996.

    1. Trước Cách mạng tháng Tám 1945
    – Trước Cách mạng tháng Tám 1945, Huy Cận nổ tiếng trong làng Thơ mới.
    – Tiếng thơ Huy Cận thời kì này phần lớn là sầu thương.
    – Nguyên nhân nỗi sầu là do ông cảm nhận cái bé nhỏ và hữu hạn của kiếp người. Đồng thời, nỗi buồn của ông còn mang cả dấu ấn của thời đại bị nô lệ.
    – Những sáng tác trước Cách mạng tháng Tám 1945.
    * Lửa thiêng (1940): thơ.
    * Kinh cầu tự (1942): văn xuôi.
    * Vũ trụ ca (1940-1942): thơ.

    2. Chặng đường sau Cách mạng tháng Tám
    – Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945 đến 1958, Huy Cận ít sáng tác. Có lẽ vì Huy Cận chưa kịp bắt nhịp với cuộc sống mới.
    – Sau chuyến đi thực tế năm 1958 ở vùng mỏ cẩm Phả, Huy Cận mới thật sự hòa mình vào cuộc sống mới. Từ đó, cảm xúc thơ của Huy Cận mới bộc lộ hết sự chân thành và hồ hởi.

    3. Những sáng tác sau Cách mạng tháng Tám.
    * Cô gái Mèo (1972).
    * Ngôi nhà giữa nắng(1978).
    * Hạt lại gieo (1984)…

    II. Xuất xử và chủ đề bài thơ
    1. Xuất xứ
    Bài thơ “Tràng giang” được trích trong tập “Lửa thiêng” (1940).
    2. Chủ đề
    Vẻ đẹp cua bức tranh thiên nhiên “trời rộng sông dài”. Đồng thời, cảm giác về cái bé nhỏ, bơ bơ hữu hạn của kiếp người.
    3. Thể loại:
    Thất ngôn trường thiên (thơ đậm phong vị Đường thi)
    4. Bố cục: 3 phần.

    III. Dàn ý phân tích

    Khổ 1
    Cảnh vật trên dòng sông và sự trầm tư, suy tưởng của tác giả.
    – Hình ảnh con thuyền và cành củi khô trong cái dòng nước mênh mang đã khiến nhà thơ liên tưởng đến kiếp người nhò nhoi, nổi trôi, lạc loài, cô độc trong dòng đời. Hình ảnh “thuyền về nước lại, sầu trăm ngả” gợi sự chia ly.
    – Trong mạch cảm xúc chủ đạo này, thuyền và nước trong thơ ca và cả trong đời thực làm sao mà xa cách cho được. Thế mà bây giờ lại hờ hững với nhau.
    Con thuyền xuôi mái nước song song
    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả.
    “nước lại sầu” : sông đã buồn và bây giờ cả dòng nước cũng sầu…
    – Từ Hán Việt “Tràng giang” như báo hiệu cho tứ thơ cổ điển, mang phong vị Đường thi. Trung tâm của khổ thơ này là “Củi một cành khô lạc mấy dòng”.
    – Từ “dạt” được sử dụng rất đắt. Bởi “dạt” cho ta thấy nét thân phận bị đẩy đưa ngoài ý muốn, nên nỗi buồn của nhà thơ là nỗi buồn “điệp điệp”, chồng chất.

    Khổ 2 và 3
    Sự hoang vắng của cảnh vật và tâm trạng của nhà thơ.
    Cảnh vật trong khổ thơ thứ hai trở nên hoang vắng, quạnh quẽ. Mọi vật trở nên tiêu sơ, trơ trọi (đìu hiu). Mọi thứ như sắp khép lại của một buổi chợ chiều (vãn chợ chiều). Trong cái không gian ba chiều (lên, xuống, sâu), khiến thân phận bé nhỏ của con người như lọt vào cõi đời hun hút (sâu chót vót). Cảnh trong khổ thơ 3 lại càng hoang vắng, thiếu bóng dáng con người nên bến sông “không một chuyến đò ngang” thân phận kiếp người trôi dạt không biết về đâu như những cánh bèo hàng nối hàng về nơi vô định.

    Khổ 4
    Nét đẹp kì vĩ của thiên nhiên (vũ trụ) và tâm trạng của nhà thơ.
    – Nếu xưa kia, Thôi Hiệu nhớ quê, trong một buổi chiều vì duyên cớ: khói sóng trên sông gợi nỗi niềm:
    Nhựt một hương quan hà xứ thị
    Yên ba giang thượng sử nhân sầu
    (Hoàng Hạc lâu)
    Quê hương khuất bóng hoàng hôn
    Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai!
    (Tản Đà, dịch)
    – Huy Cận buồn nhiều hơn Thôi Hiệu, cái buồn của Huy Cận lại cụ thể hơn, buồn triền miên, nhớ triền miên, không cần duyên cớ: “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nhưng nhà của nhân vật trữ tình ở chốn nào? Có phải đằng sau nỗi nhớ nhà của Huy Cận là nỗi nhớ quê hương, đất nước, là nỗi đau của cả thế hệ khi vừa lớn lên thì đất nước đã tràn ngập bóng đêm nô lệ? (ở một góc nhìn khác, ta không so sánh ai buồn hơn ai mà là, mỗi lời thơ có một vẻ buồn riêng, vẻ đẹp riêng và tâm trạng riêng).
    – Hình ảnh cánh chim trong buổi chiều tàn gợi lên niềm mong cầu tha thiết về một tổ ấm, một mái nhà, một quê hương, một cuộc sống yên vui thanh bình…
    – Cánh chim bé nhỏ kia là nét bút cực tả sự tương phản giữa cái vô cùng (bầu trời) với cái bé nhỏ (cánh nhỏ) của cánh chim chao nghiêng chở nặng cả một buổi chiều về miền vô định. Ta thấy trong cánh chim bé nhỏ kia, dường như có bóng dáng của chủ thể trữ tình, hay nói khác đi, cánh chim ấy với nhà thơ có chút tri âm?

    IV. Tổng kết
    – Tràng giang là bài thơ nổi tiếng của Huy Cận nói riêng và thơ ca lãng mạn 1932-1945 nói chung. Bài thơ là một bức tranh thiên nhiên buồn. Cảnh chiều trong bài thơ có chiều kích không gian cao rộng, sông nước mênh mang và tất cả đều hoang vắng, tiêu sơ, thiếu vắng sự sống.
    – Con người trong bài thơ là con người mang nặng nỗi bơ vơ, lạc lõng đến tội nghiệp.
    – Bức tranh được khắc họa với bút pháp chấm phá tài tình và giọng thơ mang hơi hướng của Đường thi. Nhà thơ rất thành công trong cách chọn lựa ngôn ngữ, để diễn đạt cái vô định, bơ vơ của kiếp người. Ta có thể nhận ra rằng cả bài thơ đều thiếu vắng bóng người và thiếu cả âm thanh, thế nên nỗi buồn và cô đơn càng vang vọng bàng bạc khắp bài thơ.

  • 3 bài văn mẫu Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    3 bài văn mẫu Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    3 bài văn mẫu Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:3 bài văn mẫu Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    [toc]

    Đề bài: Cảm nhận bức tranh thiên nhiên trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận.

    Bài văn mẫu 1

    Thiên nhiên là đề tài muôn thuở gợi cảm hứng sáng tác thơ ca cho các thi nhân, cũng giống như bao nhà thơ trung đại hay các nhà thơ mới khác Huy Cận cũng tả cảnh thiên nhiên nhưng đó không phải là thiên nhiên giàu sức sống, mơn mởn như trong “Vội vàng” của Xuân Diệu mà trong bài thơ “Tràng giang” đó là khung cảnh bao la, rộng lớn của sông nước mây trời. Bức tranh đó tuy đẹp mà buồn quạnh vắng, cô liêu. Bức tranh vừa mang nét đẹp cổ điển và hiện đại ẩn đằng sau đó là nỗi buồn sâu thẳm và tình yêu quê hương đất nước thầm kín của thi sĩ Huy Cận.

    Ngay trong nhan đề “Tràng giang” đã gợi ra cảnh sông nước mênh mông, khi nhà thơ đứng trên bến Chèm sông Hồng quan sát cảnh vật xung quanh mà sáng tác, dù đó là một con sông cụ thể có tên gọi nhưng thi sĩ dùng cách nói khác để gợi ra hình ảnh dòng sông trải dài đến vô tận. Lời đề từ thể hiện cảm xúc chủ đạo của tác phẩm là nỗi buồn, nỗi nhớ xuyên suốt toàn bài của thi sĩ cô đơn trước cảnh “trời rộng nhớ sông dài”.
    Trước tiên ta thấy thiên nhiên ở đây mang dáng dấp cổ kính trong thơ Đường. Thi sĩ cũng tả cảnh sông nước, mây trời có sử dụng các hình ảnh thuyền, bèo, cánh chim…đó đều là các thi liệu trong thơ ca cổ được các nhà thơ trung đại dùng để miêu tả cảnh chiều tà với nỗi buồn nỗi nhớ quê hương của những người khách lứ thứ xa quê.

    Nhưng thiên nhiên ấy cũng mang đậm chất chất dân tộc rất gần gũi với cuộc sống người dân Việt. Dù thi sĩ miêu tả cảnh sông nước của con sông Hồng cụ thể nhưng lại không gọi tên mà chỉ tả cảnh vật để cho ta thấy đó là bất kì con sông nào của đất Việt đều hiện lên rất quen thuộc của dòng sông sóng gợn, thuyền xuôi mái chèo hay bèo dạt trên sông và tiếng chợ chiều xa xa… Tuy nhiên thiên nhiên trong bài thơ cũng mang những dấu ấn đặc sắc riêng biệt bởi hình ảnh: “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng” nó không phải là từng cánh bèo, khóm bèo mà là hàng nối hàng đang bị trôi dạt bởi dòng nước rất nhiều. Thiên nhiên trong cái nhìn của thi nhân thật khác biệt vừa có nét cổ kính trang nhã trong thơ xưa, vừa hiện đại mang đậm phong vị dân tộc.
    Không gian trong bức tranh thiên nhiên là sự mênh mông, bao la đến rợn ngợp của “Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Nắng với trời sẽ chẳng thể tách rời ấy vậy mà “Nắng xuống, trời lên” tạo nên một khoảng cách sâu chót vót. Người ta nói cao chót vót còn với thi nhân nó lại là sâu bởi nắng càng xuống khuất bóng nhường hoàng hôn thì trời càng cao tạo nên độ sâu thăm thẳm. Dường như nhà thơ đang đứng từ dưới nhìn lên nên mới có thể cảm nhận được điều đó. Trải rộng ra là “Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật”. Thi nhân muốn có gì đó để bấu víu lấy cảm xúc cho đỡ trơ trọi nhưng đổi lại chỉ là một chữ không được điệp lại hai lần ở câu trên và câu dưới chỉ còn biết lặng lẽ với bờ xanh tiếp bãi vàng. Mọi thứ trở nên tĩnh lặng vô cùng, dường như sự sống ở đây chỉ có một mình nhà thơ với cảnh vật đẹp mà cô liêu, ảm đạm.
    Giữa không gian mênh mông, vời vợi ấy các sự vật hiện lên với sự nhỏ bé, cô đơn, lạc lõng. Đó là hình ảnh “Củi một cành khô lạc mấy dòng”. Thiên nhiên không có sức sống nó chỉ là một cành củi khô từ rừng sâu xa thẳm lạc giữa chốn sông nước. Cách sử dụng nghệ thuật đảo ngữ thật độc đáo nhấn mạnh đặc điểm đối tượng. Câu thơ khiến cho ta nhớ tới hình ảnh chiếc bách trong thơ Hồ Xuân Hương “Chiếc bách buồn vì thân phận nổi nênh/ Giữa dòng ngao ngán nỗi lênh đênh” gợi đến tâm trạng cô đơn trước thiên nhiên và cuộc đời của tác giả. Đó là cánh chim nghiêng trong bóng chiều xa giữa khung nền “Lớp lớp mây cao đùn núi bạc”. Chim nghiêng cánh nhỏ kéo bóng chiều cùng sà xuống mặt nước tràng giang hay bóng chiều đè nặng lên cánh chim khiến nó phải chao nghiêng đôi cánh. Cánh chim nhỏ dưới bóng chiều buông xuống mang nặng tư tưởng tác giả, ẩn dụ cho những kiếp người nhỏ bé bị bão táp cuộc đời xô đẩy, ngả nghiêng ẩn dụ cho cái tôi cá nhân phiền não của thi nhân trải nỗi buồn ra khắp không gian.
    Sự chuyển động của cảnh vật cũng rất nhẹ nhàng như có như không của “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” hay gió đìu hiu thổi trên cồn cỏ. Sóng gợn nhẹ trên mặt nước ta đã từng bắt gặp trong câu thơ Nguyễn Khuyến “Sóng biếc theo làn hơi gợn tí” thật bình lặng với nghệ thuật lấy động tả tĩnh. Cùng với đó là “Con thuyền xuôi mái nước song song/ Thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. Hai sự vật thuyền và nước đi liền với nhau nhưng trong cái nhìn của thi nhân dường như có sự tan tác, li biệt. Chi tiết “xuôi mái” cho thấy sự phó mặc, buông xuôi. Thuyền và nước thường phải có mối quan hệ gắn bó chặt chẽ với nhau nhưng ở đây ta thấy nó như rời rạc, tách nhau ra bởi “thuyền xuôi” còn “mái nước song song”, thuyền và nước lại ngược hướng với nhau “thuyền về nước lại” tạo ra sự ngăn cách. Nỗi sầu của nước tan chảy ra trăm ngả trên sông. Nỗi sầu ấy cũng là nỗi sầu nhân thế của thi nhân mang tâm trạng chán nản, buồn tủi. Hình ảnh con thuyền bơ vơ, cô độc là một thi liệu quen thuộc đã từng xuất hiện trong thơ xưa như: “Cô phàm viễn ảnh bích không tận/ Duy kiến trường giang thiên tế lưu” (Bóng buồm đã khuất bầu không/ Trông theo chỉ thấy dòng sông bên trời).
    Ẩn đằng sau bức tranh thiên nhiên đẹp mà buồn ấy là tâm trạng của thi nhân “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà” được gợi từ hai câu thơ trong bài “Lầu Hoàng Hạc” của Thôi Hiệu: “Nhật mộ hương quan hà xứ thị/ Yên ba giang thượng sử nhân sầu” (Quê hương khuất bóng hoàng hôn/ Trên sông khói sóng cho buồn lòng ai” nếu tiền nhân đời Đường bên Trung Hoa nhìn khói sóng trên sông mà nhớ quê hương thì Huy Cận thật sáng tạo khi “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Đó ccofn là nỗi buồn của tầng lớp trí thức lúc bấy giờ khi đứng trước hoàn cảnh nước mất nhà tan của dân tộc cho thấy tình yêu quê hương đất nước thầm kín được thể hiện trong thơ Huy Cận.

    Với những nét đặc sắc nghệ thuật vừa cổ điển vừa hiện đại trong lối thơ bảy chữ niêm luật chặt chẽ như thơ Đường, dồi dào nhạc điệu đã khiến cho bức tranh thiên nhiên trong bài thơ “Tràng giang” hiện lên thật đẹp mà buồn ảm đạm mang nặng tư tưởng của tác giả.

    Bài văn mẫu 2

    Chẳng biết tự bao giờ, thiên nhiên trở thành nguồn cảm hứng bất tận của thi ca. Thời đại nào cũng vậy, thiên nhiên luôn gợi nên nhiều cảm xúc trong lòng thi nhân. Thơ mới những năm 1930 đã coi thiên nhiên là một đề tài không thể thiếu. Những Xuân Diệu, Hàn Mặc Tử, Nguyễn Bính,… đã mang tới những bức tranh thiên nhiên đẹp trong thơ. Và không thể không nhắc tới Huy Cận – một gương mặt xuất sắc, tiêu biểu của phong trào thơ mới. Tuy thơ ông luôn chất chứa sâu nặng nỗi buồn nhân thế nhưng vẫn khiến người đọc nao lòng trước vẻ đẹp của thiên nhiên. Điều đó được thể hiện rõ nét qua bài thơ Tràng giang – một sáng tác in trong tập Lửa thiêng (1940).

    Thiên nhiên trong Tràng giang được gợi cảm hứng từ một con sông rộng lớn, mênh mông vào buổi chiều mùa thu 1939 khi tác giả đạp xe ngắm cảnh. Dù đó là con sông Hồng nhưng nhà thơ không gọi đích danh tên, mà gọi là “tràng giang” như thể đại diện cho bất cứ con sông nào của quê hương đất nước. Bởi vậy mà mọi cảnh vật đều thu hút vào tầm mắt của thi nhân, dẫu đẹp, dẫu buồn nhưng vẫn chất chứa những tình cảm thầm kín. Bức tranh thiên nhiên vì thế được hiện lên qua không gian của trời nước bao la, mênh mang đến rợn ngợp cõi lòng thi nhân.

    Trước hết, Tràng giang mở ra một bức tranh thiên nhiên đẹp, bàng bạc một nét đẹp cổ xưa. Vẫn là đề tài quen thuộc, những thi liệu và bút pháp nghệ thuật vốn có trong thơ cổ, Huy Cận đã vẽ nên trên nền trời mây, sông nước mênh mông vô cùng, vô tận những sự vật nhỏ bé, đặc trưng. Có lẽ điều khiến người đọc ấn tượng trong bài thơ là những hình ảnh như sóng gợn, thuyền trôi, gió đìu hiu, bến cô liêu, bèo dạt, mây cao, núi bạc, chim nghiêng… gợi nên cái hồn thiên nhiên của thơ ca cả nghìn năm trước. Quả thực, nếu cứ nhìn người ta vẫn ngỡ đó là không gian của cảnh đẹp tiêu sơ, vắng lặng vốn thấy trong thơ Đường. Mà có lẽ nét cổ xưa nhất trong bài thơ phải kể đến hình ảnh chim nghiêng cánh nhỏ ở khổ cuối cùng. Nó gợi lên cảnh sắc rất thơ. Cánh chim chở trời chiều, chở linh hồn của vũ trụ reo rắc xuống trần gian.
    Nhưng tác giả của Lửa thiêng lại kiếm tìm những sự vật mới, khiến bức tranh thiên nhiên mang hơi thở hiện đại. Có lẽ chưa bao giờ người ta bắt gặp trong thơ trước đó những thứ đời thường, bình dị, mộc mạc, chẳng hề ước lệ tượng trưng như Củi một cành khô lạc mấy dòng. Sắc thái của khung cảnh thiên nhiên bỗng trở nên đặc biệt hơn bao giờ hết, khi thi nhân bỗng nhìn thấy một sự vật đã khô kiệt, mất hết sức sống, đang trôi nổi, lênh đênh trên dòng nước. Chưa bàn đến ý nghĩa tâm tư mà nhà thơ gửi gắm, chỉ thấy chi tiết này đã phác họa thêm cho bức tranh trang giang cái nét đẹp rất riêng. Thiên nhiên đẹp chưa chắc đã là những gì mơn mởn sức sống, chính cái khô kiệt của cành củi trên dòng sông càng làm cho cảnh vật có nét đẹp cuốn hút của nó. Thậm chí ngay cả cái cách nhìn hàng bèo của tác giả cũng gợi lên cảm giác về một khung cảnh thiên nhiên không phải bằng những nét vẽ cầu kì.
    Và không thể phủ nận nét đẹp bao trùm của thiên nhiên trong Tràng giang không phải là những khoảnh khắc giao mùa trong cái nhìn say đắm của Xuân Diệu, không có nét đặc trưng riêng có của một vùng quê xứ Huế như trong thơ Hàn Mặc Tử, mà đẹp theo những góc độ khác nhau của không gian. Điều hấp dẫn người đọc chính là nhà thơ đã mở nó rộng ra ở mọi chiều mà ngay từ nhan đề “tràng giang” hay lời đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài, thiên nhiên được nhìn theo cái biên độ vô cùng, vô tận của nó. Suốt cả bài thơ, độ lớn không giới hạn ấy, còn được gọi là không gian vũ trụ đã làm nền cảnh để bức tranh tràng giang mang một nét đẹp đặc trưng, riêng có mà không bài thơ nào có được.
    Nắng xuống trời lên sâu chót vót
    Sông dài trời rộng bến cô liêu
    Chỉ riêng câu thơ này đã tạo nên những chiều kích hết tầm của không gian ở cả ba chiều. Khung cảnh thiên nhiên được đo bởi khoảng cách ngược chiều trong độ sâu của nắng, độ cao rộng của trời và độ dài của sông. Thực ra chỉ cần những thứ nhỏ bé mà nhà thơ nhìn thấy trong khung cảnh ấy cũng đủ để nói lên sự rộng lớn của khung cảnh giống như thơ xưa. Nhưng dường sự cảm thức bị ám ảnh bởi không gian trong hồn thơ Huy Cận đã khiến ông phác họa nên những nét vẽ rộng hơn, mênh mông hơn. Chính vì thế trong con mắt của thi nhân đâu đâu cũng là thiên nhiên: lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng hay:
    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa.
    Thiên nhiên bỗng mang những nét hùng vĩ, tráng lệ mà chẳng cần đến những núi non trùng điệp, chỉ cần mọi thứ được khuếch đại hết tầm theo mọi chiều của không gian như trong bài thơ này. Nét thơ mộng trong khung cảnh vì thế cũng dần dần được mở ra.
    Tuy nhiên cái vắng lặng, hoang sơ, im lìm đến hiu hắt cũng là một nét đẹp riêng trong khung cảnh thiên mà Tràng giang thể hiện được. Có thể thấy phông nền chủ đạo của thiên nhiên trong bài thơ là sự rộng lớn, mênh mông của sông nước, mây trời, nhưng cái cảm giác tĩnh lặng mới chính là cái hồn cốt tạo nên nét đẹp của bức tranh này. Có lẽ chưa bao giờ người ta thấy một không gian nào lớn như tràng giang, nhưng cũng chưa bao giờ thấy không gian rộng lớn nào mà lại yên ắng, quạnh hiu như thế. Sóng dẫu nhiều cũng chỉ gợn trên mặt nước mênh mông. Thuyền những tưởng gieo sự sống nhưng lại buông trôi, lững lờ như chẳng liên quan gì đến nước. Những cồn nhỏ gió đìu hiu, bến cô liêu càng tô đậm sự yên ắng. Và ngay cả âm thanh làng xa vãn chợ chiều có thực sự phảng phất đâu đây cũng không làm cho khung cảnh thêm phần sống động. Chính cái mênh mông không cầu, không đò của một dòng sông như thế cũng là một nét đẹp mà thiên nhiên trong bài thơ đã mang lại. Vẫn phải thừa nhận nhà thơ Huy Cận đã sử dụng một hệ thống từ láy gợi cảm giác, nhất là những từ láy nguyên đã làm cho cái không khí vắng vẻ, quạnh hiu trên dòng sông hiển hiện được. Các từ như điệp điệp, song song, lơ thơ, đìu hiu, lặng lẽ, lớp lớp, dợn dợn… cứ nối tiếp nhau từ đầu đến cuối bài thơ đã duy trì cái cảm giác cô quạnh như thế trong khung cảnh thiên nhiên.
    Bởi vậy mới nói, thiên nhiên trong Tràng giang hay thiên nhiên trong thơ mới, dẫu đẹp đến đâu nhưng vẫn đượm buồn. Cái nét yên ắng, tách rời nhau trong những sự vật trên của thiên nhiên thực chất được gợi dậy từ hồn buồn trong lòng thi nhân. Huy Cận chở nỗi sầu quá lớn, thậm chí là nỗi sầu của cả một thế hệ nên không gian trong thơ ông cứ nới rộng ra mà lòng người vẫn u uất. Không gian thiên nhiên càng lớn thì con người càng nhỏ bé, cô đơn và lạc lõng. Nhưng đằng sau những xúc cảm ấy người ta vẫn nhìn thấy những lắng đọng về tâm sự thầm kín của thi nhân. Nhà thơ hẳn phải yêu và gắn bó với mảnh đất quê hương lắm, mới nhìn đâu cũng thấy ám ảnh bởi nỗi buồn. Đứng trên đất quê mình, cảnh đẹp quê mình mà sao đâu đâu cũng thấy vắng lặng, tàn lụi. Nỗi nhớ nhà ở cuối bài thơ vì thế mới trỗi dậy để xóa nhòa cái cảm giác thiếu thốn ngay khi còn ở trên quê hương.

    Nếu nói đến cái đẹp về thiên nhiên trong bài thơ này thì quả thực Tràng giang đã làm được điều ấy. Huy Cận miêu tả khung cảnh trên một dòng sông với những gì vốn có, thậm chí cả những thứ quá nhỏ bé, tầm thường. Nhưng dưới con mắt đa sầu, đa cảm của thi nhân, ông đã biến hóa nó thành những hình ảnh đầy chất nghệ thuật. Cái đẹp không phải cứ phải hiện lên qua những cảnh sắc lung linh, mà đôi khi chỉ cần nó cũng đồng điệu với lòng người thì sự vật có tầm thường thì cũng trở nên đẹp đẽ.

    Bài văn mẫu 3

    Huy Cận một trong những nhà thơ nổi bật nhất trong phong trào Thơ Mới. Tập thơ đầu tay của ông là Lửa thiêng đã ghi những dấu ấn sâu đậm trong lòng người đọc. Nổi bật nhất trong tập thơ ấy ta không thể không nhắc đến Tràng giang. Tác phẩm không chỉ là nỗi niềm cô đơn khắc khoải của nhân vật trữ tình mà dưới ngòi bút tài hoa của Huy Cận một thiên nhiên thật đẹp, thật buồn cũng hiện lên vô cùng ấn tượng, rõ nét.

    Tác phẩm được gợi cảm hứng từ những con sông rộng lớn, mênh mông của đất nước. Đọc Tràng giang người ta cố công tìm kiến hình ảnh một con sông cụ thể lẩn khuất sau những câu chữ của Huy cận. Nhưng tuyệt nhiên không thể xác định được nó là con sông nào, ở đâu. Bởi con sông ấy ta có thể bắt gặp ở bất cứ đâu trên đất nước Việt Nam này, đó là con sông quê hương, con sông thương nhớ. Nhan đề bài thơ là Tràng giang, tức những con sông dài, sông lớn, như vậy không gian mênh mông sông nước chính là nơi khơi nguồn cảm hứng thi ca trong lòng Huy Cận.
    Thiên nhiên trong Tràng giang là một thiên nhiên đẹp, đượm buồn và thẫm đẫm nỗi cô đơn. Mở đầu bài thơ là bức tranh thiên nhiên mang những nét cổ điển đặc trưng:
    Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
    Con thuyền xuôi mái nước song song
    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
    Củi một cành khô lạc mấy dòng
    Khung cảnh mênh mông trời nước nối tiếp nhau mở ra, những con sóng nhỏ lăn tăn nối tiếp xô vào bờ, không gian mở được mở rộng với từ láy “điệp điệp”. Trên mặt sông rộng mênh mông ấy con thuyền xuất hiện thật nhỏ bé, đơn độc, kết hợp với những cành củi khô trôi lặng lờ giữa dòng sông, khiến cho khung cảnh thiên nhiên lại càng trở nên buồn bã, đìu hiu hơn.
    Sang đến khổ thơ thứ hai, điểm nhìn của Huy Cận đã có sự dịch chuyển, thi sĩ hướng mắt ra xa hơn và trước mắt ông là “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Vẫn là sông nước đấy thôi, nhưng tâm hồn thi sĩ đang cố gắng tìm kiếm trong không gian ảm đạm kia một chút hơi thở của sự sống ở nơi cồn nhỏ, ở tiếng chợ xa xa. Nhưng vẳng lại chỉ là sự nín thinh của vạn vật. Khổ thơ sử dụng hàng loạt các từ chỉ cái bé nhỏ: lơ thơ, cồn nhỏ kết hợp với các từ đìu hiu, cô liêu gợi nên hồn cốt sự vật đã làm nổi bật bức tranh phong cảnh buồn bã. Đọc câu thơ ta bất giác nhớ đến Chinh phụ ngâm: “Non kì quạnh quẽ trăng treo/ Bến thì gió thổi đìu hiu mấy gò”. Tuy thời thế thay đổi, tuy cách nhau cả trăm năm, nhưng cảnh ấy, tình ầy vẫn chẳng hề đổi thay. Vẫn là sự hiu quanh, vẳng vẻ đến nào long của tạo vật. Thiên nhiên đó còn có sự tĩnh lặng đến tuyệt đối, âm thanh chợ xa hư thực thực hư khó lòng có thể xác định nổi. Nếu âm thanh đó là thực thì có lẽ không gian đã phải yên ắng biết chứng nào, con người mới có thể nghe được như vậy. Rời tầm mắt, Huy Cận di chuyển lên cao, trời đất mênh mông, “sâu chót vót” càng khiến con người cô đơn, lạc lõng hơn. Bức tranh thiên nhiên mở rộng cả ba chiều: chiều rộng, chiều cao và chiều sâu đến vô cùng. Những sự vật vận động trái chiều nhau nắng xuống trời lên khiến không gian càng được mở rộng hơn nữa. Sử dụng từ “sâu chót vót” là một từ rất lạ, không phải là cao mà là sâu đã nhấn mạnh cái sâu không cùng của cảnh vật, màu xanh ngút ngàn của bầu trời khiến có cái gì đó rờn rợn ở trong lòng.
    Bức tranh cô đơn, hiu quạnh tiếp tục được bổ sung ở khổ thơ thứ ba:
    Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
    Mênh mông không một chuyến đò ngang
    Không cầu gợi chút niềm thân mật
    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
    Những cành bèo lặng lờ trôi trên dòng sông mênh mông rộng lớn, với những bờ xanh lặng lẽ tiếp bãi vàng. Sự quạnh hiu qua mỗi khổ thơ lại càng rõ nét hơn. Đây không chỉ đơn thuần là sự cô quạnh của khung cảnh mà nó còn là sự cô đơn trong chính tâm hồn người thi sĩ. Nguyễn Du đã từng đúc kết: “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu/ Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ” cũng chính là vì lẽ đó. Cái nhìn của tâm trạng đã ảnh hưởng, đã thấm dần sang cảnh vật, khiến cho mọi vật trở nên ảm đạm, cô đơn như chính thân phận của người thi sĩ. Không gian thiên nhiên đó chính là không gian tâm trạng của nhân vật trữ tình.
    Khổ thơ cuối bài thơ đã mở ra một bức tranh khác, hùng vĩ, tráng lệ:
    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
    Các lớp mây chồng xếp lên nhau thành từng tầng, từng bậc, đùn lên thành những núi mây bạc trắng xóa. Hòa cùng cái ráng chiều đỏ của hoàng hôn làm cho bức tranh diễm lệ, kì vĩ hơn bao giờ hết. Tương phản với sự hùng vĩ của thiên nhiên là cánh chim cô đơn, bé nhỏ đến đáng thương, tội nghiệp. Nhìn khung cảnh ấy lòng ông cũng không thôi nhớ về quê nhà: “Lòng quê dợn dợn vời con nước/ Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

    Bức tranh thiên nhiên trong thơ Huy Cận đẹp mà thấm đẫm nỗi buồn, đó là nỗi buồn thê lương khắc khoải. Dù cuối bức tranh ấy có xuất hiện sự kì vĩ, mĩ lệ, nhưng chỉ là trong thoáng chốc, ngưng đọng ở bài thơ vẫn là nỗi cô đơn, lạc lõng thấm đầy trong từng cảnh vật.
    Tràng giang là một bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, xinh xắn mà cũng thật độc đáo trong thơ ca Việt Nam. Đằng sau bức tranh ấy là nỗi nhớ quê hương khắc khoải, là tình yêu nước sâu đậm mà kín đáo của Huy Cận dành cho non sông, đất nước.

  • 3 bài văn mẫu Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    3 bài văn mẫu Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    3 bài văn mẫu Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

    Tổng hợp các bài văn mẫu lớp 11 hiện có của Hỗ Trợ Ôn Tập: Văn mẫu hay nhất lớp 11

    Ngoài ra các bạn có thể xem các tài liệu lớp 11 tại đây: Tài Liệu Lớp 11

    Bài liên quan:3 bài văn mẫu Phân tích vẻ đẹp cổ điển và hiện đại trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận

    [toc]

    Đề bài: Phân tích cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giang của Huy Cận.

    Bài văn mẫu 1

    Nhắc đến phong trào Thơ mới ta không thể không nhắc đến hồn thơ Huy Cận giàu hàm súc, giàu chất suy tưởng, triết lí. “Tràng giang” là bài thơ hay nhất, tiêu biểu nhất Huy Cận ẩn đằng sau bức tranh thiên nhiên được thi nhân vẽ lại bằng ngôn từ đó là cái tôi trữ tình mang nỗi buồn thương cô tịch, cô đơn trước cảnh thiên nhiên và luôn mang trong mình tình yêu quê hương, đất nước sâu nặng mà thầm kín.

    “Tràng giang” được bắt nguồn cảm hứng vào một chiều thu 1939 Huy Cận đứng ở bờ Nam bến nước Chèm nhìn cảnh sông Hồng sóng nước mênh mông mà buồn về cho thân phận mình và những kiếp người nhỏ bé. Khi ấy ông đã rời quê hương ra Hà Nội học trường Cao đẳng Canh Nông mang trong mình nỗi sầu của lứ thứ xa quê và tình cảnh của người thanh niên trước hoàn cảnh nước nhà bị xâm lăng nên ông đã gửi vào hồn thơ nỗi buồn nhân thế và thầm kín thể hiện tình yêu đất nước.
    Thiên nhiên “Tràng giang” được Huy Cận quan sát và miêu tả với không gian hai chiều từ bề rộng mặt sông trải dài sang bên kia “Lơ thơ cồn cỏ gió đìu hiu” và sâu chót vót khi nhìn về độ cao của trời chiều. Bức tranh thiên nhiên ấy có dáng dấp cổ điển với những hình ảnh của sông, trời, thuyền, mây cao và cánh chim nghiêng nhưng cũng mang nét hiện đại, đậm chất dân tộc của thi sĩ Việt với những cách tân độc đáo, mới lạ của “Củi một cành khô lạc mấy dòng” hay “Nắng xuống trời lên sâu chót vót” rồi “Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”. Nét cổ điển và hiện đại được kết hợp tài tình trong bài thơ bằng tâm hồn của một thi sĩ tài năng đã viết nên những câu thơ tả cảnh thiên nhiên đẹp mà buồn vô tận, nỗi buồn ấy trải dài mênh mông khi “Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”.

    Tuy nhiên ẩn đằng sau đó là cái tôi trữ tình yêu tha thiết thiên nhiên đất nước của tác giả. Có yêu, có rung động trước cảnh đẹp của thiên nhiên mới có thể viết nên những câu thơ tả cảnh hay và đẹp như thế. Mặt khác đó còn là cái tôi trữ tình mang tâm trạng buồn thương, cô đơn, cô độc. Nỗi buồn ấy mở ra bằng “buồn điệp điệp” và kết thúc bằng “Lòng quê dợn dợn vời con nước”. Nỗi buồn, cô đơn xuyên suốt trong toàn bài được thể hiện qua các hình ảnh của cành củi khô, trôi dạt giữ dòng nước mênh mông, là cánh chim nhỏ nghiêng cánh trong bóng chiều sa. Cuộc sống nơi đây “Mênh mông không một chuyến đò ngang/ Không cầu gợi chút niềm thân mật” chỉ có cái tôi cá nhân nhỏ bé giữa thiên nhiên. Đối diện với cái vô cùng vô tận càng khiến cho nhà thơ hiểu sâu sắc về sự hữu hạn của đời người thấm thía trong “một chiếc linh hồn nhỏ” của một con người mang trong mình “Mang mang vạn cổ sầu” của riêng Huy Cận.
    “Tràng giang” còn bộc lộ một tâm hồn tinh tế tài hoa và đặc biệt hơn cả là tình yêu quê hương đất nước sâu sắc mà thầm kín. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ vào năm 1939 tức dân tộc lúc bấy giờ đang bị giặc ngoại xâm, nội xâm hoành hành, cuộc sống người dân nghèo khổ, cơ cực. Huy Cận cũng như bao nhà trí thức yêu nước buồn sâu thẳm cho nỗi đau dân tộc, nỗi khổ dân đen mà chưa tìm ra hướng đi mới cho đến khi bắt gặp lí tưởng của Đảng soi đường.

    Bài thơ là sự kết hợp tài tình giữa nét cổ điển và hiện đại được thể hiện trong thể thơ bảy chữ niêm luật không thất, dồi dào về âm điệu, nhạc điệu gợi về cho ta những đặc điểm của bất kì con sông nào của quê hương ẩn đằng sau đó là cái tôi trữ tình đáng quý, đáng trân trọng.

    Bài văn mẫu 2

    Nhà phê bình Hoài Thanh đã từng gọi nhà thơ Huy Cận là: “Người gọi dậy cái hồn buồn của Đông Á. Người khơi dậy cái mạch sầu mấy ngàn năm vẫn ngấm ngầm trong cõi đất này”. Thực đúng vậy, Huy Cận đã bước vào thi đàn bằng một tâm hồn đa sầu, đa cảm như thế. Và cái tôi ấy đã theo suốt thi nhân trong chặng đường sáng tác thơ ca trước Cách mạng. Nhưng chỉ cần qua Tràng giang bài thơ hay và nổi tiếng nhất, in trong tập “Lửa thiêng” (1940) cái tôi trữ tình của nhà thơ Huy Cận đã được thể hiện đầy đủ và đúng nghĩa nhất.

    Dễ nhận thấy, cái tôi trữ tình trong bài thơ Tràng giang là một cái tôi đầy buồn bã, cô đơn, lạc lõng. Ngay từ lúc bài thơ ra đời, nguồn cảm hứng của nhà thơ xuất phát từ những cảm xúc ấy. Chàng sinh viên Canh nông năm đó, không giấu nổi cảm giác buồn bã, cô đơn trước cảnh sóng nước sông Hồng mênh mang. Bởi vậy nhan đề “Tràng giang” và lời đề từ Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài, ngay mở đầu đã tạo nên cảm giác con người sao quá nhỏ bé trước không gian rộng lớn, nên nỗi buồn của thi nhân cứ mải miết trải dài và lan tỏa khắp mọi nơi. Để rồi từ đó, bước vào từng khổ thơ là mỗi lần chạm đến nỗi cô đơn đến rợn ngợp trong lòng người.
    Sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp
    Con thuyền xuôi mái nước song song
    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
    Củi một cành khô lạc mấy dòng

    Nét buồn bã, cô đơn của cái tôi trữ tình đã hiển hiện ngay ở những dòng thơ đầu tiên. Nhà thơ đã cố gắng tìm kiếm những sự vật để khỏa lấp đi cái bâng khuâng trước khung cảnh trời rộng, sông dài ở trên. Nhưng ngoại cảnh lại hiện lên với sóng gợn, thuyền xuôi, củi lạc quá nhỏ bé, đối lập với một tràng giang mênh mông, rộng lớn. Đoạn thơ dường như đã gói gém quá nhiều nỗi sầu ở trong đó. Có con sóng gợn nhỏ, lăn tăn nhưng được nhân hóa buồn điệp điệp như thể sóng lòng buồn bã đã lan tỏa khắp trên mặt sông. Có con thuyền nhưng lại chẳng hề gắn kết với nước, từ láy song song như càng đẩy nó tự buông trôi, phó mặc tạo ra mối sầu trăm ngả. Nhưng đặc biệt hơn cả là bao tâm sự của cái tôi trữ tình lại gửi gắm vào hình ảnh củi một cành khô ở cuối khổ. Khác hẳn với hai thi liệu cổ trước đó, củi là một hình ảnh rất hiện đại. Nó là vật rất đỗi đời thường, chằng còn sức sống đã trở nên quá nhỏ bé qua số từ một và càng trở nên lạc lõng khi bất định, vô phương trước mấy dòng. Nỗi sầu cô đơn đã đẩy cao hơn thành sự bơ vơ, trơ trọi của một thân phận, một kiếp người trôi nổi, bấp bênh.
    Cái tôi cố tìm kiếm xa hơn, rộng hơn, phải chăng để khỏa lấp đi cái điệu hồn mong manh ấy. Nhưng đúng như Hoài Thanh nói, càng sâu càng lạnh, cái tôi bị choáng ngợp trước một không gian đã mở rộng đến tận cùng của vũ trụ:
    Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu
    Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều
    Nắng xuống trời lên sâu chót vót
    Sông dài trời rộng bến cô liêu.
    Có cồn nhỏ, có làng xa nhưng chẳng hề ấm cúng. Hai từ láy lơ thơ, đìu hiu càng làm chiếc cồn nhỏ ấy thêm cô quạnh, tiêu sơ. Chút âm thanh của sự sống dẫu có thì cũng xa xôi lại còn thêm phần ảm đạm, buồn bã vì nó là tiếng vãn chợ chiều. Không gian trải rộng mà vắng lặng, tịch mịch càng chất chứa nỗi lòng buồn bã, cô đơn của thi nhân. Nhưng đúng như những gì chúng ta hay nói về Huy Cận, cái tôi trong thơ ông là cái tôi mang nỗi sầu vũ trụ đã tích tụ cả ngàn năm. Vì thế chẳng có một không gian nào thích hợp bằng không gian vũ trụ để chuyển tải hết nỗi buồn, cô đơn của nhà thơ. Hai câu thơ cuối trong khổ thơ này đã khắc họa điều ấy. Nắng với trời như đang cố tình đẩy ngược nhau xuống – lên để tạo thành một chiều kích chưa bao giờ có – sâu chót vót. Ngoài việc khẳng định sự sáng tạo độc đáo của nhà thơ, có thể thấy từ ngữ này đã lột tả hết thảy cái cao đến tột cùng mà sâu cũng đến tột cùng của khung cảnh. Lại thêm cái dài, cái rộng của sông, của trời nữa, thế là trọn vẹn hết cả cái ba chiều trong khoảng không của vũ trụ bao la. Cồn nhỏ, làng xa bỗng dưng lại trở nên quá bé nhỏ, cái tôi trữ tình cũng bé nhỏ như thế, cố vớt vát, bám víu lấy bến cô liêu không mấy lớn lao mà còn hoang vắng, trống trải. Duy chỉ có một thứ đã căng tràn, chạm đến mọi ngóc ngách của không gian vũ trụ kia – đó là nỗi buồn. Cái tôi của nhà thơ dường như cố tình lẩn tránh, nhưng dẫu nhỏ bé đến đâu thì nỗi buồn đã hóa thành nỗi sầu vũ trụ chẳng thể giấu giếm được nữa.
    Và đâu đó trên dòng tràng giang lại bất chợt hiện ra:
    Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
    Mênh mông không một chuyến đò ngang
    Không cầu gợi chút niềm thân mật
    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng
    Hình ảnh về sự vật trong Tràng giang có một sự thay đổi rất linh hoạt, phong phú để lột tả hết được cảm xúc của thi nhân. Lần này là một thi liệu quen thuộc trong thơ cổ, nhưng không phải là cánh bèo gợi nên một thân phận nổi trôi, bấp bênh, mà là hàng nối hàng bèo chẳng biết dạt về đâu. Và như thế, bao nhiêu nỗi lòng chất chứa của cả một kiếp người trôi nổi, lênh đênh, vô định trước dòng đời được hiển hiện. Huy Cận sử dụng hình ảnh hàng bèo để nói hộ nỗi sầu nhân thế của cả một thế hệ những nhà thơ trong thời buổi đất nước đã mất tự do. Bèo dạt về đâu? Không thể biết và cũng không có ai biết. Bởi ngay cả trên sông cũng không có lấy một chuyến đò, một cây cầu hay bất cứ một dấu hiệu nào của sự sống con người. Vì thế nỗi cô đơn trào dâng thành nỗi niềm tuyệt vọng, bế tắc. Cái tôi không chỉ lạc lõng, u sầu mà còn tội nghiệp, đáng thương. Hai chữ mênh mông và thân mật sao lại trở nên quá cách xa, vời vợi như vậy. Để cái cảm giác lặng lẽ những thực chất là ngậm ngùi, xót xa bao trùm lên cả cái sắc xanh, sắc vàng của bờ bãi, bến sông. Thiên nhiên cuối cùng lại bầu bạn với thiên nhiên, lại tiếp tục gắn bó với nhau nhưng lòng người thì rất đỗi xa cách, cô đơn.
    Cho rằng cái tôi trong thơ mới luôn cô đơn, buồn bã, nhưng quả thực phải đến Tràng giang cảm xúc về cái tôi như thế mới thực sự thấm thía. Sắc thái cô đơn, u sầu trong bài thơ theo suốt, trải dài cho đến hết tác phẩm.
    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
    Lòng quê dợn dợn vời con nước
    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.
    Khung cảnh đã có sự hùng vĩ, tráng lệ hơn của sóng nước, mây trời nhưng vẫn không sao khuất lấp đi được cái cảm giác trống trải, cô đơn. Giữa cái không gian mênh mông, bát ngát, cánh chim nhỏ kia không sao thoát được cái dáng vẻ trơ trọi, đơn độc của trời chiều. Dáng vẻ chao đảo, ngả nghiêng trước lớp lớp mây cao đã đẫm bóng chiều làm cho thần sắc của khung cảnh thêm đượm buồn, u uất dội lên trong tâm khảm của thi nhân. Quả thực đến đây, nhà thơ Huy Cận – chỉ cần ông thôi, cái buồn bã, cái cô đơn, lẻ loi của thân phận, kiếp người trước Cách mạng tháng Tám vẫn thấy trong thơ văn lãng mạn đã được thể hiện trọn vẹn, đủ đầy. Mà hơn thế, nỗi sầu ấy như một sức nặng đã đè nèn lên cả một khối vũ trụ bao la của thế gian này.
    Có lẽ cảm giác cô đơn, sầu não là sắc thái chủ đạo của Tràng giang, nhưng sự thực cái tôi trữ tình của tác giả còn ẩn chứa một nỗi niềm, một tình yêu đất nước đầy tha thiết nhưng thầm kín. Đọc thi phẩm đâu cũng thấy buồn, thấy ủ rột, nhưng nỗi buồn ấy lại gợi dậy từ những rung cảm trong cảnh vật, thiên nhiên của đất nước mình. Sở dĩ Huy Cận không đặt bài thơ theo tên của dòng sông Hồng nơi buổi chiều đi dạo đó, mà ông gọi là “Tràng giang” để chỉ bất cứ dòng sông nào trên đất nước chúng ta cũng đều mênh mang theo điệu hồn của kẻ sĩ “thiếu quê hương”. Ngay cả những sự vật xuất hiện trong bài thơ chỉ là được gợi hứng từ phong vị cổ điển, còn thực chất nó vốn hiện hữu ngay trên dòng sông quê hương. Tuy bài thơ mang nhiều nét cổ xưa nhưng nó lại không hề tượng trưng, ước lệ, có những thứ chân thực đến tầm thường như đã nói ở trên cũng vào thơ một cách tự nhiên và chuyển tải nỗi niềm của thi sĩ. Chọn tràng giang ấy, những sự vật đơn sơ ấy, Huy Cận đã làm người đọc cảm thấy nâng niu, yêu mến xứ xở này vô cùng. Bởi thế mà tâm sự thầm kín về tình yêu quê hương đất nước trong bài thơ đã được nâng lên mang tầm triết lí.
    Song có lẽ, dẫu thầm kín đến đâu thì cuối bài thơ, nỗi lòng thi nhân mang cảm xúc nhớ nhà đã được thổ lộ.
    Lòng quê dợn dợn vời con nước
    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
    Từ láy nguyên dợn dợn thực đắc địa, nó không chỉ nói lên được cái nhịp điệu của sóng nước mà còn thấy được nỗi niềm khắc khoải khôn nguôi trong lòng thi nhân. Bởi vậy, dẫu được gợi hứng từ ý thơ cổ của Thôi Hiệu, nhà thơ đời Đường của Trung Quốc, trong bài “Hoàng Hạc lâu”, nhưng nhà thơ không cả cần đến khói sóng mà nỗi nhớ nhà, nhớ quê hương vẫn đầy da diết. Sở dĩ vậy là bởi vì chính tình yêu và sự gắn bó với quê hương trở thành nỗi niềm thường trực, chẳng cần đến sự tác động của ngoại cảnh, nó cũng tự nó trào dâng. Cảm xúc của cái tôi trữ tình nhờ thế mà càng trở nên thấm thía hơn.

    Bằng điệu trầm buồn được toát ra từ một hồn thơ đa cảm mà rất đỗi tinh tế, Tràng giang đã khắc họa một cái tôi trữ tình đậm chất Huy Cận trước cách mạng. Cô đơn, u sầu nhưng luôn đau đáu một tình yêu với quê hương đất nước, cái tôi ấy trong bài thơ nhận được điều nhiều hơn cả sự cảm thông, sẻ chia. Trong những cung bậc của cõi sầu nhân thế ấy, ta thực trân trọng một tài hoa, một tâm hồn như nhà thơ Huy Cận.

    Bài văn mẫu 3

    Hồn thơ Huy Cận trước cách mạng là một hồn thơ u hoài, sầu muộn, bài thơ nào cũng phủ đầy một nỗi buồn mênh mang về con người, về thời thế. Cái tôi trữ tình hiện lên u hoài, ảm đạm. Bài thơ Tràng giang trong tập Lửa thiêng có thể coi là tác phẩm thể hiện rõ nhất cái tôi man mác buồn, man mác sầu của Huy Cận trước cách mạng tháng tám.

    Mở đầu tác phẩm là lời đề từ thấm đẫm tâm trạng và nỗi cô đơn: Bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài. Câu thơ đề từ chính là mạch nguồn, khơi gợi mọi cảm xúc trong lòng Huy Cận. Buâng khuâng nhớ về quá khứ, nhớ trời rộng sông dài khi đất nước còn độc lập. Cái bâng khuâng ấy có ẩn chứa cả nỗi buồn, nỗi cô đơn vô tận. Và từ đây mạch cảm hứng, mạch của xúc của Huy Cận đã được triển khai. Mở đầu bài thơ là không gian sông nước điệp điệp, rộng lớn:
    Sóng gợn tràng gian buồn điệp điệp
    Con thuyền xuôi mái nước song song
    Con sóng nhỏ, chỉ gợn đôi chút trên “tràng giang” ấy vậy mà lại điệp điệp, có thể lan tỏa, rộng đến không ngờ. Sóng không chỉ gợn trên sông mà đó còn là sóng lòng của nhân vật trữ tình, những con sóng lòng ấy cứ chồng lên, nối tiếp nhau trải ra mãi. Nỗi buồn càng đậm sắc hơn khi con thuyền lẻ loi, đơn độc trôi trên sông mênh mang. Cái nhìn tâm trạng đã thấm dần sang cảnh vật, một nỗi buồn, cô đơn man mác bảng lảng đâu đây:
    Thuyền về nước lại sầu trăm ngả
    Củi một cành khô lạc mấy dòng
    “Thuyền về” chỉ còn nước ở lại, nỗi sầu trăm ngả cứ thế nhân lên mãi. Hai sự vật có vận động trái chiều nhau, thuyền về, nước ở nhấn mạnh vào sự chia li, xa cách, không gian vốn đã cô quạnh, lại càng trở nên đơn côi, rợn ngợp hơn. Nếu nước và thuyền gợi cho người đọc sự xa cách, thì củi lạc mấy dòng lại cho ta thấy sự chênh chao, vô định của con người giữa dòng đời đầy bất trắc. Cái tôi trữ tình trở nên đơn lẻ, lạc lõng giữa những con sóng cuộc đời. Chỉ bằng hình ảnh hết sức chân thực, nhưng Huy Cận đã gợi lên thân phận lạc lõng, đơn lẻ của cả một khiếp người.
    Khổ thơ thứ hai mở ra, nỗi cô đơn càng lắng sâu hơn nữa: “Lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu/ Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều/ Nắng xuống trời lên sâu chót vót/ Sông dài trời rộng bến cô liêu”. Các từ lơ thơ, đìu hiu gợi nên cái tan tác, tàn tạ của cảnh vật. Huy Cận gắng tìm kiếm âm thanh sự sống trong không gian đó, nhưng nhận lại chỉ là tiếng chợ chiều vãn từ đâu vọng lại nghe không còn rõ, đó cũng có thể là âm thanh do chính ông tưởng tượng ra trong nỗi cô đơn chất chồng. Nghệ thuật đối được sự dụng vô cùng đắc dụng: nắng xuống – trời lên, sông dài – trời rộng, kết hợp với ngôn từ độc đáo “sâu chót vót” “bến cô liêu” đã có thấy sự vận động trái chiều của những sự vật trong thiên nhiên, đồng thời nhấn mạnh nỗi cô đơn, trống trải trong tâm hồn thi nhân.
    “Bèo dạt về đâu hàng nối hàng
    Mênh mông không một chuyến đò ngang
    Không cầu gợi chút niềm thân mật
    Lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”
    Hình ảnh cánh bèo trong văn học vốn gợi thân phận lênh đênh, trôi dạt của người phụ nữ. Còn đối với Huy Cận, cánh bèo nối hàng không biết trôi về đâu chính là thận phận của kiếp người lênh đênh, phiêu dạt, của số phận nhân dân ta trong cảnh mất nước. Giữa cái không cùng của vũ trụ, mọi sự vật đều trở nên nhỏ bé, đơn độc đến đáng thương. Mong một chuyến đò đâu chỉ là chở người ta qua sông, mà chuyến đò ấy còn mang đi biết bao nỗi niềm, tâm sự của nhân vật trữ tình. Vậy mà mênh mông không một chuyến đò ngang, chỉ có những bờ xanh lặng lẽ nối tiếp với bãi vàng, trải dài đến vô tận. Trước khung cảnh hoang vắng, tĩnh mịch, nỗi cô đơn của con người càng sâu đậm hơn. Nhu cầu tìm hơi ấm tình người nhưng chỉ gặp phải sự hoang vu, lạnh lẽo của cảnh vật. Buồn lại càng buồn hơn.
    Bốn câu thơ cuối đã nhấn mạnh và thể hiện đầy đủ nhất tâm trạng của nhân vật trữ tình:
    Lớp lớp mây cao đùn núi bạc
    Chim nghiêng cánh nhỏ: bóng chiều sa
    Bức tranh thiên nhiên hiện lên tuyệt đẹp, những đám mây lớn đùn lên cao, cùng với ánh hoàng hôn tạo nên khung cảnh kĩ vĩ, tuyệt diệu. Nhưng ngọn núi bạc ấy cao bao nhiêu lại trở nên cô độc bấy nhiều, cũng như nỗi buồn của người thi nhân giữa đất trời. Trong ánh hoàng hồn, trong khoảnh khắc của ngày sắp tàn, bóng chim nhỏ xuất hiện, như bị không gian nuốt chửng. Dấu chấm đặt giữa hai vế câu đem đến nhiều cách hiểu, là cánh chim nghiêng đi vì bóng chiều nặng trĩu, hay bóng chiều phải sa xuống trước cánh chim. Dù hiểu theo cách nào ta vẫn cảm nhận được đầy đủ sự cô đơn, lạc loài của cánh chim giữa vũ trụ bao la, rợn ngợp. Giữa khung cảnh ấy là nỗi buồn khắc khoải của kẻ tha hương:
    Lòng quê dờn dợn vợi con nước
    Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà
    Câu thơ khiến ta nhớ đến câu thơ của Tô Hiệu: “Yên ba giang thượng sử nhân sầu”. Dù được lấy từ tứ thơ cổ, nhưng câu thơ của Huy Cận vẫn rất mới, rất hiện đại. Nỗi nhớ quê hương da diết, khắc khoải được nhân vật trữ tình bộc lộ một cách trực tiếp. Đằng sau nỗi nhớ quê còn là lòng yêu nước sâu kín mà mãnh liệt của nhân vật trữ tình.

    Với ngôn ngữ cô đọng, hàm súc, linh hoạt trong cách dùng từ, sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa cổ điển và hiện đại, Huy Cận đã đem đến cho người đọc một bài thơ vô cùng đặc sắc. Bài thơ đã phản ánh tâm trạng, nỗi buồn da diết, khắc khoải của cái tôi trữ tình trước cuộc đời, trước nhân thế. “Tràng giang là một bài thơ ca hát non sông, đất nước, do đó dọn đường cho lòng yêu giang sơn, Tổ quốc” (Xuân Diệu)