Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

0
3196
phan tich hoat dọng kinh te ngoai thuong

Đây là Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương được biên soạn bởi bạn Nguyễn Thành Nam, sinh viên Khoa Ngoại Thương khóa K54.  Bài tham khảo khá chi tiết và đầy đủ! Mong là sẽ giúp được mọi người!

Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

Các bạn có thể tải Full đồ án bản pdf tại link sau: Đồ Án Môn Phân tích Hoạt Động Kinh tế Ngoại Thương

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: hotroontap@gmail.com

Mục Lục


LỜI MỞ ĐẦU

Cuối năm 2006 nước ta đã trở thành một thành viên chính thức của tổ chức Thương mại Thế giới WTO. Điều đó cũng có thể là điều thuận lợi đối với các doanh nghiệp Việt Nam nhưng đồng thời nó cũng đã đem lại nhiều thách thức lớn mà bất kỳ một doanh nghiệp nào cũng phải trải qua. Việc phân tích hoạt động kinh tế là một trong những công việc cần làm đối với các doanh nghiệp, nhất là trong giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy môn học phân tích hoạt động kinh tế sẽ cung cấp những kiến thức cơ bản đầu tiên giúp cho thế hệ sinh viên chúng em có một tư duy mới để có thể thích nghi với điều kiện hội nhập kinh tế thế giới như hiện nay.

Nhận thức rõ được điều này, khi tiến hành nghiên cứu môn học em đã tích cực tìm tòi những tài liệu, kết hợp với những kiến thức thực tế mà bản thân đã thu lượm được, và với sự giúp đỡ nhiệt tình của thầy Nguyễn Phong Nhã, em đã hoàn thành được đồ án môn học này. Nội dung của đồ án bao gồm hai phần chính:

Phần I: Lý luận chung về phân tích hoạt động kinh tế

Phần II: Nội dung phân tích

Chương 1: Phân tích tình hình đảm bảo hàng xuất khẩu theo các phương thức gom hàng

Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc

Phần III: Kết luận – kiến nghị

Đây là hai nhóm chỉ tiêu quan trọng thể hiện hiệu quả sản xuất kinh doanh của bất kỳ một doanh nghiệp nào. Qua phân tích hai nhóm chỉ tiêu này em đưa ra được những biện pháp nhằm thúc đẩy doanh nghiệp phát triển, từng bước cải thiện tình hình sản xuất kinh doanh, đảm bảo thực hiện được mục tiêu đề ra của tổ chức và của cả nền kinh tế. Tuy nhiên vì còn hạn chế về thời gian và kinh nghiệm thực tế nên trong quá trình thiết kế đồ án này em chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Em rất mong muốn có được sự chỉ bảo của thầy để giúp em vững vàng hơn trong việc nghiên cứu cũng như trong việc hoàn thành môn học quan trọng này.

Em xin chân thành cảm ơn!

 

PHẦN 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH TẾ

1.1. Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh tế

1.1. Cơ sở lý luận của phân tích hoạt động kinh tế

1.1.1. Khái niệm phân tích hoạt động kinh tế

– Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp có thể gồm nhiều hoạt động như hoạt động sản xuất, hoạt động thương mại, hoạt động tài chính…

– Mỗi hoạt động kinh doanh lại gồm nhiều quá trình như hoạt động sản xuất bao gồm các quá trình cung ứng, dự trữ, sản xuất, tiêu thụ; Hoạt động thương mại bao gồm quá trình mua hàng, dự trữ, bán hàng

– Hoạt động kinh doanh chịu tác động của nhiều nhân tố từ bên trong lẫn bên ngoài doanh nghiệp. Nhân tố bên trong như quyết định giá cả, kết cấu sản phẩm; nhân tố bên ngoài như chính sách thuế, sự cạnh tranh trên thị trường…

– Do đó, phân tích hoạt động kinh doanh trong doanh nghiệp cần phải đánh giá từng hoạt động, từng quá trình, từng nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh thì mới nhận biết đúng về hoạt động kinh doanh.

Phân tích hoạt động kinh tế là quá trình phân chia các hiện tượng kinh tế – đối tượng phân tích( quá trình, điều kiện, kết quả kinh doanh) thành các bộ phận và sử dụng các phương pháp phân tích để đánh giá hiện tại và quá khứ, dự báo xu hướng phát triển tương lai nhằm tìm ra biện pháp kinh doanh tiếp theo có hiệu quả hơn.

Phân tích hoạt động kinh tế gắn liền với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

1.1.2. Ý nghĩa phân tích hoạt động kinh tế

Phân tích hoạt động kinh tế có ý nghĩa cho các đối tượng sau:

  1. Nhà quản trị doanh nghiệp

– Phân tích hoạt động kinh tế của doanh nghiệp cung cấp cho các nhà quản trị doanh nghiệp các thông tin sau

+ Kết quả thực hiện từng mục tiêu của kế hoạch kinh doanh đạt được ở mức độ nào, hoàn thành hay không

+ Khả năng tài chính mạnh hay yếu, thanh toán nợ và thu hồi nợ tốt hay không

+ Hiệu quả hoạt động kinh doanh tốt hay xấu

+ Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

+ Nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả thực hiện từng mục tiêu kế hoạch kinh doanh

+ Năng lực tiềm tàng

– Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ cung cấp thông tin để nhà quản trị ra những quyết định kinh doanh tốt

+ Lập kế hoạch kinh doanh kỳ sau thích hợp

+ Chọn phương hướng, biện pháp kinh doanh có hiệu quả hơn

  1. Ngân hàng, nhà đầu tư

– Phân tích hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cung cấp cho nhà quản trị ngân hàng, nhà đầu tư các thông tin:

+ Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu

+ Khả năng thanh toán nợ của các doanh nhiệp cao hay thấp

+ Tỷ số nợ – quan hệ giữa vốn vay và vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp, tỷ trọng trong từng loại vốn vay và vốn chủ sở hữu trong tổng số vốn, biết doanh nghiệp đang vay nhiều hay ít hơn bao nhiêu so với vốn chủ sở hữu

+ Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

– Phân tích kết quả kinh doanh cung cấp để nhà đầu tư, ngân hàng ra quyết định cho vay, đầu tư hay bán hàng chịu hay không

  1. Cơ quan quản lý

– Phân tích hoạt động kinh doanh cung cấp cho cơ quan chức năng của nhà nước thông tin của doanh nghiệp

+ Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp tốt hay xấu

+ Lợi thế, khó khăn, rủi ro, xu hướng phát triển kinh doanh như thế nào

– Cung cấp thông tin đề cơ quan chức năng đưa ra các biện pháp kiểm soát nền kinh tế, hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp cho doanh nghiệp, tạo điều kiện thuận lợi cho doanh nghiệp

1.1.3. Mục đích phân tích hoạt động kinh tế

– Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh, kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao, chấp hành chế độ, chính sách nhà nước

– Xác định nhân tố và mức độ ảnh hưởng của nhân tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích.

– Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các nhân tố

– Đề xuất phương hướng và biện pháp để cải tiến phương pháp kinh doanh,khai thác khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp nhằm nâng cao kết quả sản xuất kinh doanh

1.1.4. Nội dung phân tích hoạt động kinh tế

Đối tượng của phân tích hoạt động kinh tế được cụ thể bằng các chỉ tiêu

– Phân tích kết quả sản xuất kinh doanh

+ Phân tích các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh

+ Ví dụ: giá trị sản xuất, chi phí sản xuất, chỉ tiêu doanh thu, chỉ tiêu lợi nhuận, tỷ suất lợi nhuận

– Phân tích các yếu tố của quá trình kinh doanh

+ Phân tích các nhân tố ảnh hưởng tới quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Ví dụ: Chỉ tiêu nguyên vật liệu, chỉ tiêu năng suất lao động, chỉ tiêu số lượng lao động, số máy móc thiết bị…

– Phân tích tài chính

+ Phân tích các chỉ tiêu phản ánh tài sản, nguồn vốn, thu hồi nợ, tỷ số nợ -quan hệ vốn vay

+ Ví dụ: chỉ tiêu kết cầu nguồn vốn, chỉ tiêu vòng quay hàng tồn kho, chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu…

1.1.5. Nguyên tắc phân tích

– Phân tích từ việc đánh giá chung, sau đó phân tích từng nhân tố

– Phân tích đảm bảo tính toàn diện, khách quan

– Phân tích thực hiện trong mối quan hệ chặt chẽ với các hiện tượng kinh tế => thấy nguyên nhân phát triển của hiện tượng

– Phân tích trong sự vận động và phát triển của hiện tượng kinh tế=> thấy xu hướng phát triển và tính quy luật của hiện tượng

– Phải sử dụng các phương pháp phân tích thích hợp=> thực hiện mục tiêu phân tích

1.2. Chỉ tiêu và nhân tố trong phân tích

1.2.1. Chỉ tiêu phân tích

  1. Khái niệm

– Là tiêu thức phản ánh nội dung, phạm vi hiện tượng kinh tế

– Ví dụ: Chỉ tiêu doanh thu, chi phí…

– Tùy vào mục đích và nội dung phân tích mà lựa chọn chỉ tiêu cho thích hợp

  1. Phân loại chỉ tiêu

– Theo nội dung kinh tế:

+ Chỉ tiêu biểu hiện kết quả: Doanh thu, lợi nhuận, tổng kim ngạch xuất khẩu

+ Chỉ tiêu biểu hiện điều kiện: Lao động, tổng máy móc thiết bị, tổng số vốn, vật t­ư

– Theo tính chất của chỉ tiêu:

+ Chỉ tiêu khối lư­ợng (số l­ượng) là chỉ tiêu phản ánh quy mô kết quả hay điều kiện kinh doanh. Ví dụ: tổng doanh thu, tổng khối lượng hàng hóa xuất khẩu, nhập khẩu

+ Chỉ tiêu chất l­ượng là chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng các yếu tố hay hiệu suất kinh doanh. VD: hiệu suất sử dụng vốn, năng suất lao động, giá thành sản phẩm.

– Theo ph­ương pháp tính toán:

+ Chỉ tiêu tuyệt đối: thường dùng để đánh giá quy mô sản xuất và kết quả kinh doanh tại thời gian và không gian cụ thể

+ Chỉ tiêu tư­ơng đối: thường dùng trong phân tích các quan hệ kinh tế giữa các bộ phận(cơ cấu) hay xu hướng phát triển của chỉ tiêu

+ Chỉ tiêu bình quân:nhằm phản ánh trình độ phổ biến của hiện tượng nghiên cứu

– Theo cách biểu hiện:

+ Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị hiện vật:chỉ tiêu có đơn vị tính phù hợp với đặc điểm vật lý

+ Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị giá trị: là chỉ tiêu có đơn vị tính là tiền tệ

+ Chỉ tiêu biểu hiện đơn vị thời gian: là chỉ tiêu có đơn vị tính là thời gian

1.2.2. Nhân tố phân tích

  1. Khái niệm

– Là những yếu tố bên trong hay bên ngoài nội dung phân tích và mỗi biến động của nó có tác động đến kết quả và xu hướng của nội dung phân tích

– Là những nguyên nhân ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh mà có thể tính toán hoặc lượng hóa được mức độ ảnh hưởng

– Phân loại nhân tố hay chỉ tiêu chỉ mang tính chất tương đối.

– Ví dụ:

+ Lợi nhuận= Doanh thu – chi phí. Doanh thu trong mối quan hệ này là nhân tố ảnh hưởng tới chỉ tiêu lợi nhuận

+ Doanh thu=Sản lượng*giá cả. Doanh thu trong mối quan hệ này là chỉ tiêu được cấu thành bởi 2 nhân tố sản lượng và giá cả.

  1. Phân loại nhân tố

– Căn cứ theo nội dung kinh tế: Phân làm 2 loại

+ Nhân tố điều kiện: là những nhân tố ảnh hưởng trực tiếp đến qui mô sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. VD: số l­ượng lao động, máy móc thiết bị, vật tư , tiền vốn…

+ Nhân tố kết quả: là những nhân tố ảnh hưởng dây chuyền đến kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nó ảnh hưởng từ khâu cung ứng đầu vào đến sản xuất, đến tiêu thụ và đến tình hình tài chính của doanh nghiệp. VD: Giá cả nguyên liệu đầu vào, khối lượng hàng hóa tiêu thụ được

– Căn cứ theo tính tất yếu của nhân tố:

+ Nhân tố chủ quan: là nhân tố mà nó phát triển theo h­ướng nào, mức độ bao nhiêu, phụ thuộc vào bản thân doanh nghiệp như trình độ sử dụng lao động, vật tư, tiền vốn, tiết kiệm hao phí nguyên vật liệu…

+ Nhân tố khách quan: là nhân tố phát sinh và tác động nh­ư một tất yếu ngoài sự chi phối của bản thân doanh nghiệp: giá cả thị trường, thuế suất…

– Căn cứ theo tính chất của nhân tố:

+ Nhân tố số l­ượng: phản ánh qui mô sản xuất và kết quả kinh doanh

+ Nhân tố chất l­ượng: phản ánh hiệu suất hoạt động của quá trình, kết quả kinh doanh

– Căn cứ theo xu h­ướng tác động:

+ Nhân tố tích cực: là nhân tố có tác động tốt làm tăng quy mô kết quả sản xuất kinh doanh→cần tận dụng ưu thế

+ Nhân tố tiêu cực: là nhân tố phát sinh và  tác động làm ảnh hưởng xấu đến kết quả kinh doanh( giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh) →hạn chế ảnh hưởng

1.3. Các phương pháp kĩ thuật trong phân tích

1.3.1. Phương pháp so sánh

– Là phương pháp sử dụng phổ biến trong phân tích nhằm xác định mức độ đạt được, khả năng thực hiện, mức độ và xu hướng biến động của chỉ tiêu bằng cách so sánh trị số các chỉ tiêu

– Có nhiều cách thức so sánh nên khi phân tích phải căn cứ vào mục đích phân tích để lựa chọn phương pháp thích hợp

– So sánh đảm bảo tính thống nhất phương pháp tính, đơn vị tính, thời gian tính, phạm vi tính.

– So sánh để:

  • Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch: so sánh thực hiện với kế hoạch
  • Xác định nhịp độ, tốc độ phát triển: so sánh 2 kì
  • Xác định mức độ tiên tiến hoặc lạc hậu giữa các đơn vị: so sánh các đơn vị
  • Xác định khả năng: so sánh thực tế với định mức, khả năng với nhu cầu
1.3.1.1  So sánh bằng số tuyệt đối

– So sánh hiệu số giữa trị số(mức độ) kì thực tế và trị số( mức độ) kì gốc của chỉ tiêu

– Phản ánh mức chênh lệch của chỉ tiêu – mức độ biến động tuyệt đối – chênh lệch tuyệt đối

∆Y=Y1 –Y0

Y1  : mức độ kì nghiên cứu; Y0  : mức độ kì gốc

1.3.1.2. So sánh bằng số tương đối
  1. Số tương đối kế hoạch

– Phản ánh mức độ hoàn thành kế hoạch của chỉ tiêu

+ Số tương đối kế hoạch dạng giản đơn

kht  =Y1 /Ykh

kht : tỷ lệ hoàn thành kế hoạch; Y1 :mức độ( trị số) thực hiện; Ykh : mức độ kì kế hoạch

+ Số tương đối kế hoạch dạng liên hệ

kht  =Y1 /mức độ kì gốc đã điều chỉnh

+ Số tương đối kế hoạch dạng kết hợp – số tương đối có tính tới hệ số điều chỉnh

Mức độ biến động tương đối=Y1–Y0*kc

kc : hệ số tính chuyển – hệ số điều chỉnh

  1. Số tương đối động thái

– So sánh giữa mức độ kì nghiên cứu và mức độ kì gốc

t=Y1 /Y0 *100(%)

+ Số tương đối động thái gốc cố định

+ Số tương đối động thái liên hoàn

  1. Số tương đối kết cấu

– Biểu hiện mối quan hệ giữa giữa mức độ đạt được của từng bộ phận so với mức độc ủa tổng thể

– Cho biết vai trò, vị trí của từng bộ phận trong tổng thể

d=Yi /Y*100(%)

Yi : Mức độ từng bộ phận; Y: mức độ tổng thể; ∑Yi =Y

1.3.1.3. So sánh bằng số bình quân

Cho biết mức độ mà đơn vị đạt được so với số bình quân chung của tổng thể, của ngành.Cho phép đánh giá sự biến động chung về số lượng, chất lượng của các mặt hoạt động nào đó của quá trình kinh doanh ở doanh nghiệp

1.3.2. Phương pháp chi tiết

  1. Chi tiết theo thời gian

– Nội dung

+ Hoạt động kinh doanh tiến hành liên tục và kết quả kinh doanh từng khoảng thời gian thường không đồng đều=> cần phân tích chi tiết theo từng khoảng thời gian thích hợp

+ Ví dụ: phân tích giá trị sản xuất  theo quý, tháng, năm

– Tác dụng:

+ Xác định thời điểm hiện tượng kinh tế có những dấu hiệu bất thường

+ Xác định tiến độ phát triển, nhịp điệu phát triển của hiện t­ượng kinh tế từ đó giúp doanh nghiệp có biện pháp khai thác các tiềm năng, khắc phục được sự mất cân đối, tính thời vụ, mùa vụ  thường xẩy ra trong quá trình kinh doanh

  1. Chi tiết theo không gian

– Nội dung

+ Hoạt động kinh doanh tiến hành ở các địa điểm khác nhau=> phân tích theo địa điểm để biết kết quả kinh doanh của từng địa điểm cụ thể

+ Ví dụ: Phân tích kim ngạch xuất khẩu theo các xí nghiệp thành phần

– Tác dụng

+ Xác định điển hình tiên tiến của công ty

+ Xác định tính hợp lý trong việc phân công nhiệm vụ giữa các đơn vị thành phần

+ Đánh giá kết quả từng đơn vị thành phần trong tổng công ty

  1. Chi tiết theo bộ phân cấu thành

– Nội dung

+ Chỉ tiêu kinh tế thường được cấu thành gồm nhiều bộ phận=> phân tích từng bộ phận để hiểu chỉ tiêu chi tiết hơn

+ Ví dụ: phân tích kim ngạch xuất khẩu theo thị trường hay theo mặt hàng

– Tác dụng:

+ Chi tiết theo các bộ phận cấu thành giúp ta biết đ­ược quan hệ cấu thành của các hiện t­ượng và kết quả kinh tế

+ Nhận thức đ­ược bản chất của các chỉ tiêu kinh tế từ đó giúp cho việc đánh giá kết quả của doanh nghiệp đ­ược chính xác, cụ thể và xác định đ­ược nguyên nhân cũng nh­ư trọng tâm, trong điểm điểm của công tác quản lý.

1.3.3. Phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng

1.3.3.1.  Phương pháp thay thế liên hoàn
  1. Nội dung

Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố chỉ tiêu phân tích khi nhân tố có mối quan hệ tích số, thương số hoặc kết hợp thương tích với chỉ tiêu kinh tế

  1. Nguyên tắc thực hiện

– Sắp xếp nhân tố theo trình tự: nhân tố số lượng đứng trước, chất lượng đứng sau. nếu cùng số lượng hoặc chất lượng thì sắp xếp theo mối quan hệ nhân quả – cái nào có trước – cái nào có sau

– Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố theo trình tự đã sắp xếp

– Xác định ảnh hưởng của nhân tố nào thì cố định các nhân tố còn lại

– Nhân tố nào chưa xác định mức độ ảnh hưởng thì cố định theo trị số gốc

– Nhân tố nào đã xác định mức độ ảnh hưởng thì cố định theo trị số kì nghiên cứu.

  1. Ví dụ

– Chỉ tiêu Y; Nhân tố ảnh hưởng: a,b,c

– Phương trình kinh tế: Y=a.b.c

+ Giá trị kì gốc: =a0.b0.c0

+ Giá trị kì nghiên cứu: =a1.b1.c1

– Xác định đối tượng nghiên cứu: ∆Y=Y1-Y0 =a1.b1.c1 -a0.b0.c0   

– Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

+ Nhân tố a

Tuyệt đối: ∆Ya=a1.b0.c0 -a0.b0.c0

Tuơng đối: δYa=∆Ya/Y0*100(%)

+ Nhân tố b

Tuyệt đối: ∆Yb=a1.b1.c0 –a1.b0.c0

Tuơng đối: δYb=∆Yb/Y0*100(%)

+ Nhân tố c

Tuyệt đối: ∆Yc=a1.b1.c1 –a1.b1.c0

Tuơng đối: δYc=∆Yc/Y0*100(%)

Tổng ảnh hưởng của các nhân tố

∆Ya+∆Yb+∆Yc=∆Y

δYa+ δYb+δYc=δY

1.3.3.2. Phương pháp số chêch lệch

– Là hình thức rút gọn của phương pháp thay thế liên hoàn

– Đây là kết quả của quá trình nhóm các thừa số chung của phương pháp thay thế liên hoàn.

– Xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố

+ Nhân tố a

Tuyệt đối: ∆Ya=a1.b0.c0 -a0.b0.c0=(a1-a0)b0.c0

Tuơng đối: δYa=∆Ya/Y0*100(%)

+ Nhân tố b

Tuyệt đối: ∆Yb=a1.b1.c0 –a1.b0.c0b=a1(b1–b0)c0

Tuơng đối: δYb=∆Yb/Y0*100(%)

+ Nhân tố c

Tuyệt đối: ∆Yc=a1.b1.c1 –a1.b1.c0=a1.b1(c1 –c0)

Tuơng đối: δYc=∆Yc/Y0*100(%)

Tổng ảnh hưởng

∆Ya+∆Yb+∆Yc=∆Y; δYa+ δYb+δYc=δY

1.3.3.3. Phương pháp cân đối

– Là phương pháp dùng để xác định mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chi tiêu phân tích khi các nhân tố có mối quan hệ tổng số.

– Xác định mức độ ảnh hưởng

Tuyệt đối: ∆Yi=a1i –a0i

Tương đối: δ Yi=(a1i –a0i)/Y0 *100(%)

1.4. Tổ chức phân tích

1.4.1. Phân loại phân tích

1.4.1.1. Căn cứ thời điểm

– Phân tích trước kinh doanh: thẩm định, dự báo, lập phương án kinh doanh

– Phân tích trong kinh doanh: xem xét, đánh giá, điều chỉnh kịp thời những bất hợp lý

– Phân tích sau kinh doanh: đánh giá kết quả, mức độ hoàn thành kế hoạch và dự báo, tìm biện pháp cho kì tiếp theo

1.4.1.2. Căn cứ thời hạn

– Phân tích thường xuyên: phân tích khi cần thiết, phục vụ thông tin kịp thời cho nhà quản lý

– Phân tích định kì: phân tích theo thời hạn đã ấn định trước

1.4.1.3. Căn cứ nội dung

– Phân tích toàn bộ: phân tích tất cả nội dung của hiện tượng kinh tế

– Phân tích chuyên đề: Phân tích 1 nội dung của hiện tượng kinh tế

1.4.1.4. Căn cứ phạm vi phân tích

– Phân tích điển hình: phân tích 1 đơn vị

– Phân tích tổng thể: phân tích toàn bộ doanh nghiệp

1.4.2. Tổ chức phân tích

1.4.2.1. Chuẩn bị

– Lập kế hoạch phân tích: Xác định nội dung, phạm vi, mục đích và thời gian phân tích

Phân công người thực hiện

– Thu nhập, kiểm tra và xử lý số liệu: kế hoạch, định mức, dự toán, báo cáo tổng kế,  báo cáo kết quả sxkd, tài liệu hạch toán…

1.4.2.2. Trình tự tiến hành phân tích

  1. Xây dựng công thức và bảng biểu phân tích

– Lập phương trình kinh tế

– Xác định đối tượng phân tích

– Lập bảng phân tích

  1. Phân tích

– Đánh giá chung

– Phân tích chi tiết từng nhân tố:

+ Chủ thể, thời gian, biến động, địa điểm, nguyên nhân

+ Kết luận nguyên nhân chủ quan, khách quan, tiêu cực, tích cực

  1. Kết luận kiến nghị

– Tổng hợp lại nguyên nhân, nêu bật nguyên nhân chủ yếu, chính

– Đánh giá những mặt được, chưa được, những tồn tại, khuyến điểm, khó khăn, tiềm năng của của doanh nghiệp

– Đề xuất giải pháp trên cơ sở những nguyên nhân và xây dựng định hướng phát triển trong tương lai

1.4.2.3. Báo cáo kết quả phân tích

PHẦN 2: NỘI DUNG PHÂN TÍCH

Chương 1: Phân tích chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A:

1.1. Mục đích và ý nghĩa:

1.1.1. Mục đích:

– Đánh giá các kết quả, tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu của công ty. Bên cạnh đó cũng nhằm đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch xuất khẩu, tình hình thực hiện các hợp đồng đã ký kết về cả số lượng, giá trị, chất lượng…

– Tính toán mức độ ảnh hưởng của các phương thức thu gom tới kết quả của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của sản lượng của các phương thức thu mua đó, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của giá trị đảm bảo xuất khẩu của công ty.

– Trên cơ sở đó, đề xuất 1 số phương hướng và biện pháp để cải tiến, cải thiện sản lượng cũng như chất lượng của sản phẩm đem đi xuất khẩu, khai thác tận dụng các khả năng tiềm tàng trong doanh nghiệp, nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

– Ngoài ra việc phân tích các chỉ tiêu cụ thể là cơ sở giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định trong chỉ đạo kinh doanh.

– Phân tích theo phương thức để thấy phương thức nào hiệu quả nhất, ưu thế nhất để có tiếp tục phát huy, hạn chế những phương phức không hiệu quả.

1.1.2. Ý nghĩa:

– Tăng cường xuất nhập khẩu hàng hoá hợp lý có ý nghĩa kinh tế to lớn trong việc góp phần tăng nhanh tốc độ phát triển kinh tế quốc dân, tăng thu nhập dân cư và giải quyết tốt chính sách lao động xã hội, sử dụng có hiệu quả khả năng tiềm tàng của sản xuất, cải thiện cán cân thanh toán quốc tế và nâng cao địa vị kinh tế nước nhà trên trường quốc tế. Với ý nghĩa của việc kinh doanh xuất nhập khẩu ta phải phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá.

– Phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hoá có ý nghĩa quan trọng trong việc phát hiện những khả năng tiềm tàng chư­a đư­ợc sử dụng, vạch rõ những thành tích và khuyết điểm trong quá trình kinh doanh, từ đó có biện pháp tối ư­u nhằm thúc đẩy quá trình kinh doanh đạt hiệu quả kinh tế cao. Việc PTTH XNK hàng hoá trở lên cần thiết để tạo điều kiện DN chủ động sáng tạo trong việc tiếp cận thị trường thế giới, mở rộng giao lưu hàng hoá với nước ngoài và kinh doanh có lãi.

– Đặc biệt đối với phân tích tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa theo phương thức gom hàng như tự sản xuất, nhập khẩu từ nước ngoài, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất, qua phân tích có thể thấy được phương thức thu gom hàng nào có ý nghĩa thực sự quan trọng, đóng vai trò chủ yếu trong việc đảm bảo hàng xuất khẩu của công ty.

1.2. Phân tích tình hình thực hiện các chỉ tiêu về đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng.

1.2.1. Lập phương trình kinh tế:

– Chỉ tiêu tổng thể: Tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu: G1 (103đ)

– Chỉ tiêu cá biệt (Các phương thức gom hàng):

+ Phương thức tự sản xuất (T1)

+ Phương thức nhập khẩu từ Trung Quốc (T2)

+ Phương thức mua trực tiếp từ nhà sản xuất (T3)

+ Phương thức mua qua công ty chuyên cung ứng (T4)

+ Phương thức đặt gia công (T5)

+ Phương thức mua từ khu chế xuất (T6)

– Phương trình kinh tế:

G1 = T1 + T2 + T+ T4 + T5 + T6

1.2.2. Lập bảng phân tích:


BẢNG 1: BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU ĐẢM BẢO HÀNG XUẤT KHẨU THEO CÁC PHƯƠNG THỨC GOM HÀNG CỦA CÔNG TY A

STT Phương thức Kì gốc Kì nghiên cứu So sánh (%) Chênh lệch MĐAH đến G1 (%)
Quy mô (103đ) Tỷ trọng (%) Quy mô (103đ) Tỷ trọng (%)
1 Tự sản xuất 168.184.682 62,54 199.143.873 67,64 118,41 30.959.191 11,51
2 Nhập khẩu từ Trung Quốc 21.729.009 8,08 18.695.500 6,35 86,04 -3.033.510 -1,13
3 Mua trực tiếp từ nhà sản xuất 22.455.102 8,35 20.138.144 6,84 89,68   -2.316.958 -0,86
4 Mua qua công ty chuyên cung ứng 15.247.956 5,67 12.424.411 4,22 81,48 -2.823.545 -1,05
5 Đặt công ty khác gia công 31.706.067 11,79 23.494.502 6,25 74,10 -8.211.565 -3,05
6 Mua từ khu chế xuất 9.600.565 3,57 20.520.887 6,97 213,75 10.920.322 4,06
Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu (G1) 268.923.380 100 294.417.316 100 109,48 25.493.936

 

1.2.3. Đánh giá chung:

Qua bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu ở kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu tăng 25.493.936 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 9,48%. Chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng được cấu thành bởi sáu phương thức là tự sản xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất. Trong đó giá trị hàng hóa thu mua từ khu chế xuất tăng nhanh nhất với mức tăng là 113,75% trong khi giá trị hàng hóa thu mua bằng cách đặt công ty khác gia công giảm mạnh (giảm 25,9%). Mặc dù phương thức thu mua từ khu chế xuất có giá trị hàng hóa tăng nhanh nhưng phương thức tự sản xuất vẫn là phương thức thu mua chủ yếu của công ty qua cả hai kỳ với mức tăng là 30.959.191 nghìn đồng ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Xét trên khía cạnh ảnh hưởng đến giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thì phương thức tự sản xuất có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất, nó ảnh hưởng 11,51% đến G1. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng lên của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu gồm:

– Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, bảo gồm cả đơn đặt hàng trong nước và nước ngoài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực giúp doanh nghiệp tăng thị phần các ngành hàng của mình, tăng tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu. Trong kỳ gốc, thị trường nước ngoài của công ty chỉ tập trung tại hai nước lớn là Mỹ và Nhật, đến kỳ nghiên cứu, do nhận thấy được xu hướng tiêu dùng mặt hàng may mặc của người dân tại một số nước châu Âu tăng do vậy công ty quyết định đầu tư và phát triển một số ngành hàng mới tại thị trường tiềm năng này. Bên cạnh đó, nhu cầu cũng như khả năng tiêu dùng của thị trường trong nước tăng nhanh, là một trong những nguyên nhân tăng sản lượng sản xuất trong kỳ nghiên cứu.

– Giá trị hàng xuất khẩu tăng một phần nguyên nhân là do chất lượng mặt hàng của doanh nghiệp ngày càng tăng đi cùng với sự mạnh dạn trong đầu tư thay mới và cải tiến máy móc. Do được đi tham khảo học tập tại một số công ty lớn ở Nhật và Hàn Quốc , công ty tiếp thu được một số phương pháp, dây chuyền sản xuất mới, giúp tăng năng suất từ đó làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

1.2.4. Phân tích chi tiết:

A, Xét phương thức tự sản xuất:

Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức tự sản xuất ở kỳ nghiên cứu là 199.143.873 nghìn đồng, tăng 30.959.191 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Đây là phương thức thu gom hàng chủ yếu của công ty A với tỷ trọng giá trị hàng tự sản xuất để xuất khẩu là 67,64% trong kỳ nghiên cứu. Mức độ ảnh hưởng đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 11,51%. Từ đó ta có thể thấy rằng công ty đang ngày càng chú trọng vào tự sản xuất và những nguyên nhân dẫn đến xu hướng trên là:

Nguyên nhân 1: Thuận lợi trong việc thu mua nguyên vật liệu.

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

Nguyên nhân 2: Thay đổi trong phương thức đào tạo công nhân.

Cán bộ quản lý của công ty A sau thời gian công tác tham quan và học hỏi ở một số công ty nước ngoài đã đưa ra được phương án đào tạo và quản lý công nhân mới. Nhờ phương án mới này mà công nhân làm việc hiệu quả hơn, tiêu tốn ít sức lực hơn từ đó nâng cao được năng suất làm việc của họ. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 3: Bảo trì, bảo dưỡng và mua mới máy móc.

Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 4: Tiếp thu dây chuyền sản xuất mới của nước ngoài.

Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Hàn Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Nguyên nhân này mang tính chất chủ quan tích cực.

Biện pháp đề xuất:

– Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

– Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

– Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

B, Xét phương thức nhập khẩu hàng từ Trung Quốc:

Trong kỳ gốc, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức nhập khẩu từ Trung quốc là 21.729.009 nghìn đồng, tuy nhiên tại kỳ nghiên cứu, giá trị này đã giảm xuống còn 18.695.500 nghìn đồng, giảm 3.033.510 nghìn đồng tương đương với mức giảm tương đối là 13,96%. Mức độ ảnh hưởng của phương thức này đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 1,13%. Nguyên nhân dẫn đến giảm giá trị hàng nhập khẩu Trung Quốc là:

Nguyên nhân 1: Đầu mối nguyên vật liệu chất lượng kém.

Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá cả phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Nguyên nhân 2: Khó khăn khi thực hiện thủ tục hải quan nhập khẩu.

Đầu kỳ nghiên cứu, do Việt Nam và Trung Quốc xảy ra một số tranh chấp về địa lí nên làm cho việc thông quan hàng hóa qua cửa khẩu gặp nhiều khó khăn. Việc làm thủ tục hàng hóa khắt khe dẫn đến việc hàng bị giữ lại không được thông quan gây thiệt hại cho công ty. Việc giảm giá trị hàng nhập khẩu từ Trung Quốc là hợp lý. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

Nguyên nhân 3: Chi phí để nhập hàng từ Trung Quốc tương đối cao.

Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Nguyên nhân 4: Nhà nước thu mua ngoại tệ vào làm đẩy tỷ giá hổi đoái lên.

Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng. Điều này gây bất lợi cho công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực ảnh hưởng đến công ty.

C, Xét phương thức mua trực tiếp từ nhà sản xuất:

Tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng hóa mua từ nhà sản xuất là 22.455.102 nghìn đồng giảm 2.316.958 nghìn đồng tương ứng với mức giảm tương đối là 10,32% so với kỳ gốc. Tỷ trọng của giá trị hàng hóa thu mua bằng phương pháp mua trực tiếp từ nhà sản xuất ở kỳ gốc là 8,35% trong khi tỷ trọng này ở kỳ nghiên cứu giảm xuống còn 6,84%. Mức độ ảnh hưởng làm giảm giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu là 0,86%. Một số nguyên nhân dẫn đến thực trạng này là:

Nguyên nhân 1: Nhu cầu thu mua hàng từ các nhà sản xuất khác giảm.

Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 2: Chất lượng hàng hóa mua tại một số cơ sở sãn xuất trong nước giảm so với kỳ trước.

Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Nguyên nhân 3: Mất một số mối quan hệ làm ăn với các công ty trực tiếp sản xuất.

Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Nguyên nhân 4: Chạy đua trong việc cạnh tranh tranh giành thị trường với các công ty đối thủ.

Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn. Giá trị hàng thu mua từ các công ty sản xuất trực tiếp giảm do tính đối đầu cạnh tranh gay gắt. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Biện pháp đề xuất:

– Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

– Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

D, Xét phương thức thu mua qua công ty chuyên cung ứng:

Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng phương thức thu mua qua công ty chuyên cung ứng tại kỳ gốc là 15.247.956 nghìn đồng chiếm 5,67% trên tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty. Đến kỳ nghiên cứu con số này giảm xuống còn 12.422.411 nghìn đồng ứng với mức giảm tương đối là 18,52% chiếm 4,22% trong tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Mức độ ảnh hưởng của sự biến động này tới tổng giá trị đảm bảo hàng xuất khẩu là 1,05%. Dưới đây là một số nguyên nhân chính dẫn đến sự thay đổi này:

Nguyên nhân 1: Giá hàng thông qua công ty chuyên cung ứng sẽ cao hơn giá mua trực tiếp hay tự sản xuất.

Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Nguyên nhân 2: Kho hàng của các công ty chuyên cung ứng ở cách xa so với vị trí kho hàng của công ty.

Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Nguyên nhân 3: Một số công ty chuyên cung ứng nguyên vật liệu, bán thành phầm hoặc thành phẩm bị phá sản.

Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực dẫn đến việc giảm giá trị hàng thu mua được từ các công ty chuyên cung ứng. Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

Nguyên nhân 4: Sự phụ thuộc của các công ty chuyên cung ứng với nguồn cung của chính họ.

Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Biện pháp đề xuất:

– Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

E, Xét phương thức thu mua bằng đặt các công ty gia công:

Tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng hóa đảm bảo xuất khẩu được thu mua bằng phương thức đặt công ty khác gia công là 31.706.067 nghìn đồng chiếm 11,79% tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu (G1). Giá trị này ở kỳ nghiên cứu giảm 8.2111.565 nghìn đồng so với kỳ gốc tương ứng với mức giảm tương đối là 25,9%. Mức độ ảnh hưởng của giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua bằng phương thức này tới tổng G1 là 3,05%. Nguyên nhân của việc giảm này là:

Nguyên nhân 1: Giá nhân công cao nâng cao sức ép về chi phí.

Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Nguyên nhân 2: Máy móc, trang thiết bị và tay nghề nhân công kém, lạc hậu.

Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu. Đây là nguyên nhân khách quan xuất phát từ phía người gia công gây ảnh hưởng tiêu cực tới giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua bằng phương thức đặt gia công của công ty.

Nguyên nhân 3: Tình trạng hàng hóa bị may sai loại vải xảy ra thường xuyên.

Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực gây ảnh hưởng lớn đối với công ty.

Nguyên nhân 4: Tình trạng gian lận nguyên vật liệu, thành phẩm.

Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty. Đây là nguyên nhân khách quan tiêu cực.

Biệp pháp đề xuất:

Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

F, Xét phương thức thu mua từ khu chế xuất:

Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo các phương thức gom hàng, ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu mua từ khu chế xuất tăng từ 9.600.565 nghìn đồng ở kỳ gốc lên 20.520.887 đồng ở kỳ nghiên cứu, tỷ trọng tăng từ 3,57% lên 6,97%. Giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu bằng thu mua từ khu chế xuất tăng 10.920.322 nghìn đồng tương ứng với mới tăng tương đối là 113,75%. Mức độ ảnh hưởng đến tổng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty là 4,06%. Nguyên nhân dẫn đến biến động này là:

Nguyên nhân 1: Giá thành từ các công ty trong khu chế xuất thấp:

Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực đối với công ty.

Nguyên nhân 2: Thuận tiện trong việc vận chuyển và kiểm tra hàng hóa.

Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 3: Hàng hóa có thể xuất khẩu trực tiếp từ khu chế xuất, giảm chi phí cho công ty.

Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

Nguyên nhân 4: Máy móc, thiết bị cùng trình độ kỹ thuật của công nhân cao hơn.

Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực.

Biện pháp đề xuất:

Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

1.3. Kết luận:

1.3.1. Kết luận chung:

Qua bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng của công ty A ta thấy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu ở kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là tại kỳ nghiên cứu, giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu tăng 25.493.936 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 9,48%. Chỉ tiêu đảm bảo hàng xuất khẩu theo phương thức gom hàng được cấu thành bởi sáu phương thức là tự sản xuất, nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng, đặt công ty khác gia công và mua từ khu chế xuất. Trong đó giá trị hàng hóa thu mua từ khu chế xuất tăng nhanh nhất với mức tăng là 113,75% trong khi giá trị hàng hóa thu mua bằng cách đặt công ty khác gia công giảm mạnh (giảm 25,9%). Mặc dù phương thức thu mua từ khu chế xuất có giá trị hàng hóa tăng nhanh nhưng phương thức tự sản xuất vẫn là phương thức thu mua chủ yếu của công ty qua cả hai kỳ với mức tăng là 30.959.191 nghìn đồng ứng với mức tăng tương đối là 18,41%. Xét trên khía cạnh ảnh hưởng đến giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thì phương thức tự sản xuất có mức độ ảnh hưởng nhiều nhất, nó ảnh hưởng 11,51% đến G1.

1.3.2. Nguyên nhân chính:

1.3.2.1. Nguyên nhân chính chủ quan tích cực:

– Cán bộ quản lý của công ty A sau thời gian công tác tham quan và học hỏi ở một số công ty nước ngoài đã đưa ra được phương án đào tạo và quản lý công nhân mới. Nhờ phương án mới này mà công nhân làm việc hiệu quả hơn, tiêu tốn ít sức lực hơn từ đó nâng cao được năng suất làm việc của họ.

– Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả.

– Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Trung Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

– Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó.

– Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn.

1.3.2.2. Nguyên nhân khách quan tích cực:

– Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty.

– Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường.

– Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi.

– Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng.

1.3.2.3. Nguyên nhân chính khách quan tiêu cực:

– Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí.

– Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển.

– Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng.

– Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này

– Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng

– Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn.

– Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng.

– Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng.

– Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

– Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào.

– Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài.

– Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu.

– Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra.

– Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty.

1.3.3. Các biện pháp cho các nguyên nhân chính chủ quan:

– Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

– Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

– Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

– Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

– Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

– Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

– Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

– Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

Chương 2: Phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng lao động tại công ty A:

2.1. Mục đích và ý nghĩa:

2.1.1. Mục đích:

– Đánh giá các kết quả, tình hình thực hiện chỉ tiêu sử dụng lao động của công ty. Để từ đó đưa ra những yêu cầu và phương thức sử dụng lao động hợp lý nhất.

– Tính toán mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu sử dụng lao động tới kết quả của giá trị sản xuất trong kỳ. Xác định nguyên nhân dẫn đến sự biến động của các chỉ tiêu đó, làm ảnh hưởng trực tiếp đến mức độ và xu hướng của giá trị hàng sản xuất của công ty.

– Trên cơ sở đó, đề xuất 1 số phương hướng và chính sách để khuyến khích lao động, sử dụng lao động một cách hiệu quả nhằm nâng cao năng suất cũng như chất lượng thành phẩm.

– Ngoài ra việc phân tích các chỉ tiêu cụ thể là cơ sở giúp cho doanh nghiệp đưa ra những quyết định trong chỉ đạo kinh doanh.

2.1.2. Ý nghĩa:

– Giá trị sản xuất của doanh nghiệp là chỉ tiêu quan trọng, ảnh hưởng đến mục đích kinh doanh, nên việc phân tích giá trị sản xuất có ý nghĩa cho nhà quản trị kinh doanh.

– Đánh giá tình hình thực hiện kế hoạch thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng sức lao động để biết được việc hoàn thành kế hoạch sản xuất có ảnh hưởng đến việc hoàn thành các chỉ tiêu tiêu thụ và lợi nhuận cũng như quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp.

– Phân tích giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng sức lao động để phát hiện ra những lợi thế, khó khăn của doanh nghiệp trong công tác quản lý và sử dụng lao động.

– Đánh giá công tác tổ chức, quản lý sản xuất theo lao động:

+ Đánh giá sự phân công hợp lý, phù hợp với năng lực trình độ của từng người lao động, kiểm tra, điều độ sản xuất kịp thời.

+ Phát hiện ra những điểm hợp lý và bất hợp lý trong tổ chức quản lý sản xuất.

2.2. Phân tích:

2.2.1. Phương trình kinh tế:

– Chỉ tiêu tổng thể: Giá trị sản xuất trong kỳ : G (103đ)

– Chỉ tiêu cá biệt:

+ Số lao động bình quân: N ( Người)

+ Số ngày làm việc bình quân: T  ( Ngày/ người)

+ Số giờ làm việc trong ngày: t  (Giờ/ ngày)

+ Năng suất giờ bình quân: Ph  ( 103đ/ giờ)

– Phương trình kinh tế:

Gs = N x T x t x Ph

2.2.2. Lập bảng phân tích:

 

BẢNG 2: BẢNG PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CHỈ TIÊU GIÁ TRỊ SẢN XUẤT THEO CÁC CHỈ TIÊU SỬ DỤNG MÁY MÓC TẠI CÔNG TY A

STT

 

Chỉ tiêu

 

KH

 

Đơn vị

 

Kỳ gốc

 

Kỳ nghiên cứu

 

So sánh (%)

 

Chênh lệch

 

MĐAH đến G2 (%)
Tuyệt đối (103đ) Tương đối (%)
1 Số lao động có bình quân trong kì

 

N Chiếc 112 119 106,25 7,00 12.212.760 6,25
2 Số ngày làm việc bình quân trong kì T Ngày/chiếc 217 225 103,69 8,00 7.654.080 3,92
3 Số giờ làm việc bình quân trong ngày t Giờ/ ngày 6,7 6,9 102,99 0,20 6.426.000 3,29
4 Năng suất giờ bình quân Ph 103 đ/h 1200 1340 111,67 140,00 25.864.650 13,24
Giá trị sản xuất trong kỳ (G2) Gs 103 đ 195.404.160 247.561.650 126,69 52.157.490,00

 

2.2.3. Nhận xét chung:

Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc tại công ty A ta thấy giá trị sản xuất tại kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu tăng 52.157.490 nghìn đồng tương ứng với mức tăng tương đối là 26,69%. Chỉ tiêu giá trị sản xuất được cấu thành bởi bốn chỉ tiêu là số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc trong ngày và năng suất giờ bình quân. Trong đó thì tất cả các chỉ tiêu đều tăng. Xét trên khía cạnh mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu trên tới giá trị sản xuất trong kỳ ta thấy: chỉ tiêu năng suất giờ bình quân có mức độ ảnh hưởng tới Gs là lớn nhất với mức độ ảnh hưởng tuyệt đối là 25.864.650 nghìn đồng tương ứng với mức độ ảnh hưởng tương đối là 13,24%. Ngược lại, chỉ tiêu số giờ làm việc trong ngày có mức độ ảnh hưởng thấp nhất đối với giá trị sản xuất. Cụ thể là mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 6.426.000 nghìn đồng với mức ảnh hưởng tương đối là 3,29%. Nguyên nhân dẫn đến sự tăng đáng kể của giá trị sản xuất trong kỳ gồm:

– Trong kỳ nghiên cứu, doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng hơn, bảo gồm cả đơn đặt hàng trong nước và nước ngoài. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực giúp doanh nghiệp tăng thị phần các ngành hàng của mình, tăng tổng giá trị hàng hóa xuất khẩu. Trong kỳ gốc, thị trường nước ngoài của công ty chỉ tập trung tại hai nước lớn là Mỹ và Nhật, đến kỳ nghiên cứu, do nhận thấy được xu hướng tiêu dùng mặt hàng may mặc của người dân tại một số nước châu Âu tăng do vậy công ty quyết định đầu tư và phát triển một số ngành hàng mới tại thị trường tiềm năng này. Bên cạnh đó, nhu cầu cũng như khả năng tiêu dùng của thị trường trong nước tăng nhanh, là một trong những nguyên nhân tăng sản lượng sản xuất trong kỳ nghiên cứu.

– Giá trị hàng xuất khẩu tăng một phần nguyên nhân là do chất lượng mặt hàng của doanh nghiệp ngày càng tăng đi cùng với sự mạnh dạn trong đầu tư thay mới và cải tiến máy móc. Do được đi tham khảo học tập tại một số công ty lớn ở Nhật và Trung Quốc, công ty tiếp thu được một số phương pháp, dây chuyền sản xuất mới, giúp tăng năng suất từ đó làm tăng giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của công ty.

 

2.2.4. Phân tích chi tiết:

A, Xét chỉ tiêu số máy móc bình quân:

Từ bảng phân tích, ta thấy số máy móc bình quân của kỳ nghiên cứu là 119 người, tăng 7 chiếc so với kỳ gốc với mức tăng tương đối là 6,25%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu máy móc bình quân tới giá trị sản xuất trong kỳ là 12.212.760 nghìn đồng tương ứng với mức ảnh hưởng tương đối là 6,25%. Nguyên nhân dẫn đến tăng số lao động là:

Nguyên nhân 1: Công ty mở rộng ngành nghề sản xuất mua sắm thêm máy móc

Do nhận thấy thị trường nhu cầu mặt hàng quần jeans có tiềm năng lớn trong khi có ít đối thủ cạnh tranh công ty quyết định sản xuất thêm mặt hàng quần jeans. Do đó công ty phải mua sắm thêm máy móc để phục vụ sản xuất mặt hàng mới. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 2: Công ty nhận được nhiều đơn đặt hàng

Do doanh nghiệp làm ăn uy tín, sản phẩm chất lượng cao, giá thành phù hợp nên kì nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng. Tuy nhiên do số lượng máy móc hiện tại không đủ để đáp ứng lượng lớn đơn hàng do đó doanh nghiệp quyét định mua sắm thêm máy móc . Đây là nguyên nhân khách quan tích cực đối với doanh nghiệp.

Nguyên nhân 3: Công ty thành công trong việc mở rộng cả thị trường trong nước.

Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải mua sắm thêm máy móc góp vào nâng cao sản lượng sản xuất. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 4: Do trong kì nghiên cứu thuế nhập khẩu máy móc giảm, công ty quyết định mua sắm thêm máy móc thay cho loại đã cũ, lạc hậu

Trong kì nghiên cứu do hiệp định thương mại tự do FTA Việt Nam- Hàn QUốc có hiệu lực từ đó thuế nhập khẩu máy móc giảm so với kì gốc; công ty đã quyêt thanh lí, thay thế những máy móc đã cũ lạc hậu và mua sắm thêm thiết bị máy móc để nâng cao chất lượng, sản lượng sản phẩm. Đây là nguyên nhân khách quan tích cực

Biện pháp đề xuất:

– Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

– Cần bảo quản, quản lí máy móc trang thiết bị một cách thường xuyên, thanh lí những máy móc cũ, năng suất kém, mua sắm thêm máy móc khi cần thiết để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm.

– Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

B, Xét chỉ tiêu số ngày làm việc bình quân

Từ bảng phân tích, ta thấy số ngày làm việc bình quân của công nhân tăng từ 217 ngày/chiếc ở kỳ gốc lên 225 ngày/chiếc ở kỳ nghiên cứu. Mức tăng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 8 ngày/chiếc tương ứng với mức tăng tương đối là 3,69%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu số ngày làm việc bình quân đến tổng giá trị sản xuất được trong kỳ là 7.654.080 nghìn đồng, mức ảnh hưởng tương đối là 3,92%. Nguyên nhân dẫn đến việc công nhân phải tăng ngày làm việc trong kỳ lên là:

Nguyên nhân 1: Lượng hàng nhiều hơn yêu cầu công nhân phải tăng ca để giao hàng kịp thời.

Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách do đó thì thời gian sử dụng máy móc cũng tăng theo. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 2: Số ngày bảo dưỡng, bảo trì máy móc ít đi

Trong kỳ nghiên cứu, do máy móc đã hoạt động lâu nên cần đợt bảo dưỡng, duy tu lớn. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu do máy móc đã qua đợt bảo dưỡng lớn cho nên thời gian làm việc tăng lên. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

Nguyên nhân 3: Chất lượng bảo dưỡng máy móc được nâng cao

Tại kỳ gốc, máy móc được bảo dưỡng nhiều lần tuy nhiên chất lượng mỗi lần bảo dưỡng không cao. Sang kì nghiên cứu bộ phận kĩ thuật đã có những biện pháp thay đổi làm cho số lần bảo dưỡng ít đi và vẫn đảm bảo chất lượng vận hành của máy móc một cách tốt nhất. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

Nguyên nhân 4: Khắc phục được tình trạng mất điện dài ngày do thời tiết

Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất.. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

Biện pháp đề xuất:

– Tiếp tục duy trì nâng cao chất lượng mỗi lần bảo dưỡng máy móc từ đó làm giảm được thời gian bảo dưỡng.

– Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

C, Xét chỉ tiêu số giờ làm việc bình quân trong ngày:

Từ bảng phân tích ta có thể thấy số giờ làm việc trong ngày tăng nhẹ, tăng 0,2 giờ/ngày, tăng từ 6,7 giờ/ngày ở kỳ gốc lên 6,9 giờ/ngày ở kỳ nghiên cứu. Mức tăng tương đối của chỉ tiêu số giờ làm việc bình quân là 2,99%. Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này tới tổng giá tị sản xuất trong kỳ (Gs) là 6.426.000 nghìn đồng, mức độ ảnh hưởng tương đối tới Gs là 3,29%. Nguyên nhân dẫn đến số giờ làm việc bình quân một ngày tăng là:

Nguyên nhân 1: Do số lượng đơn hàng lớn trong khi thời gian ngắn công ty cho công nhân tăng ca

Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân. Từ đó làm thời gian sử dụng máy móc tăng. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 2: Quy định mới của công ty về thời gian bắt đầu vào làm.

Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu. Từ đó dẫn tới thời gian sử dụng máy móc tăng.  Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 3:  Có 2 lô hàng lớn do khách hàng trong nước đặt bị lỗi, thời gian làm việc của công nhân tăng lên để sửa lỗi lô hàng.

Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng. Từ đó thì thời gian sử dụng máy móc tăng. Đây là nguyên nhân chủ quan tiêu cực.

Nguyên nhân 4: Do ý thức lao động của công nhân được cải thiện

Ở kì nghiên cứu nhận thấy xuất hiện nhiều tình trạng công nhân đi sớm về muộn, bỏ ca, thái độ làm việc hời hợt. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã có nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng này đó là: nâng cao quá trình giám sát công nhân, có chế độ lương thưởng phù hợp theo tháng, quý đối với những công nhân được bình bầu tốt….. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

Biện pháp đề xuất:

– Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

– Nâng cao việc quản lí, giám sát công nhân trong quá trình làm viêc. Có sự khuyến khích động viên kịp thời đối với những công nhân làm việc chăm chỉ, năng suất cao..

– Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

D, Xét chỉ tiêu năng suất giờ bình quân:

Từ bảng phân tích ta thấy rằng, năng suất giờ bình quân của máy móc tăng đáng kể với mức tăng tuyệt đối là 140.000 đồng/giờ tương đương với mức tăng tương đối là 11,67% (Từ 1.200.000 đồng/giờ lên 1.340.000 đồng/giờ ở kỳ nghiên cứu). Mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu năng suất giờ bình quân đến giá trị sản xuất trong kỳ (Gs) là 25.864.650 (103đ), mức độ ảnh hưởng tương đối đến Gs là 13,24%. Nguyên nhân dẫn đến biến động này là:

Nguyên nhân 1: Do nghiên cứu, cải tiến của bộ phận kĩ thuật

Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 2: Máy móc, dây chuyền sản xuất mới

Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 3: Do công nhân được đào tạo để sử dụng máy móc tốt hơn.

Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực.

Nguyên nhân 4: Để đáp ứng số lượng đơn hàng lớn

Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp. Đây là nguyên nhân chủ quan tích cực

Biện pháp đề xuất:

– Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

– Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

2.3. Kết luận chương:

2.3.1. Kết luận chung:

Từ bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng máy móc tại công ty A ta thấy giá trị xuất khẩu tại kỳ nghiên cứu tăng so với kỳ gốc. Cụ thể là giá trị sản xuất trong kỳ nghiên cứu tăng 52.157.490 (nghìn đồng) tương ứng với mức tăng tương đối là 26,69%. Chỉ tiêu giá trị sản xuất được cấu thành bởi bốn chỉ tiêu là số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc trong ngày và năng suất giờ bình quân. Trong đó thì tất cả các chỉ tiêu đều tăng. Xét trên khía cạnh mức độ ảnh hưởng của các chỉ tiêu trên tới giá trị sản xuất trong kỳ ta thấy: chỉ tiêu năng suất giờ bình quân có mức độ ảnh hưởng tới Gs là lớn nhất với mức độ ảnh hưởng tuyệt đối là 25.864.650 nghìn đồng tương ứng với mức độ ảnh hưởng tương đối là 13,24%. Ngược lại, chỉ tiêu số giờ làm việc trong ngày có mức độ ảnh hưởng thấp nhất đối với giá trị sản xuất. Cụ thể là mức độ ảnh hưởng tuyệt đối của chỉ tiêu này là 6.426.000 nghìn đồng với mức ảnh hưởng tương đối là 3,29%.

2.3.2. Các nguyên nhân chính:

2.3.2.1. Nguyên nhân chủ quan tích cực:

Do nhận thấy thị trường nhu cầu mặt hàng quần jeans có tiềm năng lớn trong khi có ít đối thủ cạnh tranh công ty quyết định sản xuất thêm mặt hàng quần jeans. Do đó công ty phải mua sắm thêm máy móc để phục vụ sản xuất mặt hàng mới

Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải mua sắm them máy móc góp vào nâng cao sản lượng sản xuất.

Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách do đó thì thời gian sử dụng máy móc cũng tăng theo

Trong kỳ nghiên cứu, do máy móc đã hoạt động lâu nên cần đợt bảo dưỡng, duy tu lớn. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu do máy móc đã qua đợt bảo dưỡng lớn cho nên thời gian làm việc tăng lên

Tại kỳ gốc, máy móc được bảo dưỡng nhiều lần tuy nhiên chất lượng mỗi lần bảo dưỡng không cao. Sang kì nghiên cứu bộ phận kĩ thuật đã có những biện pháp thay đổi làm cho số lần bảo dưỡng ít đi và vẫn đảm bảo chất lượng vận hành của máy móc một cách tốt nhất

Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất

Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân. Từ đó làm thời gian sử dụng máy móc tăng

Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu. Từ đó dẫn tới thời gian sử dụng máy móc tăng

Ở kì nghiên cứu nhận thấy xuất hiện nhiều tình trạng công nhân đi sớm về muộn, bỏ ca, thái độ làm việc hời hợt. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã có nhiều biện pháp để hạn chế tình trạng này đó là: nâng cao quá trình giám sát công nhân, có chế độ lương thưởng phù hợp theo tháng, quý đối với những công nhân được bình bầu tốt…..

Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta.

Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp

2.3.2.2. Nguyên nhân chủ quan tiêu cực:

Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng.

2.3.2.3. Nguyên nhân khách quan tích cực:

Do doanh nghiệp làm ăn uy tín, sản phẩm chất lượng cao, giá thành phù hợp nên kì nghiên cứu doanh nghiệp nhận được nhiều đơn đặt hàng. Tuy nhiên do số lượng máy móc hiện tại không đủ để đáp ứng lượng lớn đơn hàng do đó doanh nghiệp quyét định mua sắm thêm máy móc

Trong kì nghiên cứu do hiệp định thương mại tự do FTA Việt Nam- Hàn QUốc có hiệu lực từ đó thuế nhập khẩu máy móc giảm so với kì gốc; công ty đã quyêt thanh lí, thay thế những máy móc đã cũ lạc hậu và mua sắm thêm thiết bị máy móc để nâng cao chất lượng, sản lượng sản phẩm

 

2.3.3. Các biện pháp cho các nguyên nhân chính:

– Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

– Cần bảo quản, quản lí máy móc trang thiết bị một cách thường xuyên, thanh lí những máy móc cũ, năng suất kém, mua sắm thêm máy móc khi cần thiết để nâng cao sản lượng, chất lượng sản phẩm.

– Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

– Tiếp tục duy trì nâng cao chất lượng mỗi lần bảo dưỡng máy móc từ đó làm giảm được thời gian bảo dưỡng.

– Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

– Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

– Nâng cao việc quản lí, giám sát công nhân trong quá trình làm viêc. Có sự khuyến khích động viên kịp thời đối với những công nhân làm việc chăm chỉ, năng suất cao..

– Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

– Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

– Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

 

PHẦN 3: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

  1. Kết luận:

Tại kỳ nghiên cứu tuy công ty gặp nhiều khó khăn trong việc gom đủ hàng để đáp ứng các đơn hàng xuất khẩu, công ty vẫn có những hướng đi đúng đắn trong việc nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu. Nhìn lại bảng phân tích tình hình thực hiện chỉ tiêu giá trị sản xuất theo các chỉ tiêu sử dụng lao động tại công ty A ta thấy giá trị hàng đản bảo xuất khẩu (G­1)  tăng 9,48% từ trên 268 tỉ đồng lên hơn 294 tỉ đồng. Trong đó giá trị hàng công ty tự sản xuất chiếm 67,64% trên tổng G1 với mức tăng tương đối là 18,41%. Ngược lại, các phương thức gom hàng gồm nhập khẩu từ Trung Quốc, mua trực tiếp từ nhà sản xuất, mua qua công ty chuyên cung ứng và đặt công ty khác gia công đều giảm. Thu mua hàng bằng đặt gia công giảm mạnh 25,9%  so với kỳ gốc. Các phương thức còn lại giảm trong khoảng 10-20%. Nhận thấy được nhiều lợi thế khi thu mua hàng từ khu chế xuất, công ty tích cực tạo dựng mối quan hệ làm ăn với các công ty trong khu chế xuất do vậy trong kỳ nghiên cứu giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu thu mua được bằng phương thức này tăng 13,75% so với kỳ gốc, tốc độ tăng nhiều nhất trong các phương thức.

Giá trị sản xuất trong kỳ của công ty A tăng do sự đóng góp không nhỏ của các chỉ tiêu như số máy móc bình quân, số ngày làm việc bình quân, số giờ làm việc bình quân ngày và năng suất giờ bình quân. Các chỉ tiêu trên đều tăng cùng với giá trị sản xuất của công ty. Giá trị sản xuất của công ty tăng trên 50 tỉ đồng. Trong kỳ công ty mua thêm 7 máy móc . Số ngày làm việc bình quân tăng 8 ngày tương ứng với mắc tăng tương đối là 3,69%. Sô giờ làm việc trong ngày tăng 2,99 % lên 6,9 giờ/ ngày. Năng suất giờ bình quân tăng nhiều nhất với mức tăng tương đối là 11,67%.

  1. Các nguyên nhân chính:

– Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

– Công ty hoạt động trong lĩnh vực may mặc đã được 10 năm, dó vậy máy móc và thiết bi nhà xưởng được sử dụng gần hết khấu hao. Nhận thấy được sự lỗi mốt cũng như không còn đạt được hiệu quả tối ưu nhất của máy móc, thiết bị nhà xưởng đã tiến hành bảo dưỡng toàn bộ máy móc và mua thêm một số máy mới để mở rộng quy mô sản xuất. Những thiết bị và máy móc mới giúp chuyên môn hóa trong dây chuyền sản xuất nâng cao năng suất và tiết kiệm thời gian một cách tối ưu và hiệu quả.

– Những năm gần đây Việt Nam mới chính thức gia nhập WTO do vậy việc lạc hậu về phương pháp sản xuất may mặc là điều không thể tránh khỏi. Nhận thấy bất lợi này, công ty đã bỏ ra một số vốn lớn để mua lại dây chuyền sản xuất của công ty P&P của Hàn Quốc, một dây chuyền sản xuất có tính chuyên môn hóa cao cùng với chất lượng thành phẩm ổn định. Đây là một quyết định sáng suốt của công ty nhằm giúp nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

– Trong kỳ nghiên cứu, công ty tiến hành mở rộng quy mô, cải tiến quy trình sản xuất cũng như chất lượng công nhân. Vì vậy giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu của kỳ nghiên cứu hầu hết đều do công ty tự sản xuất. Khả năng đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng được nâng cao. Nhu cầu mua hàng trực tiếp từ nhà sản xuất giảm đi theo đó.

– Công ty A có vị trí kho hàng gần với khu chế xuất. Vị trị thuận lợi giúp công ty giảm được các chi phí xăng dầu và nhân công khi vận chuyển. Hơn nữa, việc vị trí kho hàng của công ty gần khu chế xuất giúp công ty có thể tránh được tình trạng giao hàng muộn, thuận tiện hơn trong việc thúc giục người bán giao hàng đúng hạn.

– Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của công ty A là mặt hàng dệt may. Hiện nay ngành dệt may là một trong những ngành thế mạnh tại Việt Nam, cũng vì vậy mà ngày càng có nhiều cơ sở sản xuất vải với chất liệu, màu sắc phong phú. Sự phát triển nhanh chóng và có tính cạnh tranh cao của thị trường vải vóc giúp cho công ty có khả năng đàm phán thu mua nguyên liệu vải với giá cả hợp lý mà vẫn đảm bảo chất lượng làm tăng năng suất sản xuất hàng dệt may của công ty.

– Khu chế xuất được tách khỏi chế độ thương mại và thuế quan trong nước. Do đó việc đàm phán mua bán hàng hóa với các công ty trong khu chế xuất tiến hành dễ dàng hơn, thành phẩm mua được với giá tương đối thấp hơn so với thị trường.

– Với chủ trương chính sách là tối thiểu hóa chi phí nhưng không ảnh hưởng đến chất lượng. Việc thu mua hàng hóa từ khu chế xuất tạo điều kiện cho công ty giảm được chi phí làm thủ tục hải quan khi xuất khẩu hàng hóa bởi khi xuất khẩu hàng hóa dưới danh nghĩa của khu chế xuất sẽ được miễn trừ một số loại phí cũng như thuế đánh vào mặt hàng khi xuất khẩu đi.

– Các công ty trong khu chế xuất thường là các công ty có vốn đầu từ nước ngoài do vậy máy móc, trang thiết bị được hỗ trợ tốt, tân tiến giúp nâng cao năng suất sản xuất. Ngoài ra do cách thức quản lý và phương pháp đào tạo nhân công tốt góp phần làm nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng được yêu cầu tiêu chuẩn chất lượng của công ty cũng như phía khách hàng.

– Trung Quốc được biết đến là đất nước có thị trường rộng lớn với mặt hàng đa dạng, giá phải chăng tuy nhiên nguồn nguyên liệu của nước này chưa đủ tiêu chuẩn đáp ứng về điều kiện chất liệu của công ty. Phẩm chất của nguyên liệu thường tỷ lệ thuận với giá tiền, do đó muốn có chất liệu tốt thì đòi hỏi phải trả một mức giá tương đối cao, như vậy việc xuất khẩu hàng hóa sẽ gặp khó khăn. Công ty lựa chọn cắt giảm lượng hàng nhập khẩu từ Trung Quốc để giảm bớt chi phí.

– Mặt hàng may mặc trong kỳ nghiên cứu ở Việt Nam phát triển tương đối cao với tính cạnh tranh cũng gay gắt, không ít công ty cũng sản xuất những mặt hàng tương tự của công ty A. Xét về phương diện chất lượng thì công ty trong nước cung cấp mặt hàng được làm từ cùng nguyên vật liệu như phía đối tác Trung Quốc do đó mà công ty quyết định cắt giảm lượng hàng hóa nhập từ Trung Quốc và thay bằng một số mặt hàng của công ty trong nước nhằm thu hẹp lại các khoản chi cho vận chuyển.

– Một trong những công cụ giúp nhà nước để điều chỉnh cán cân thanh toán là thu mua ngoại tệ nhằm nâng cao tỷ giá hối đoái. Tỷ giá hối đoái tăng làm cho giá thành các loại hàng hóa, nguyên vật liệu được trao đổi mua bán bằng ngoại tệ tăng theo. Để nhập khẩu một lô hàng từ Trung Quốc về cần rất nhiều chi phí, mà trong kỳ nghiên cứu tỷ giá ngoại tệ lại tăng kèm theo việc tăng giá thành sẽ khiến công ty phải chi khoản lớn để mua hàng.

– Trong kỳ nghiên cứu khi công ty đang trong giai đoạn tìm hiểu và ký kết hợp đồng cùng một số công ty đã làm ăn trước đó, nhận thấy rằng tuy khả năng đáp ứng số lượng hàng của những công ty này được nâng cao nhưng chất lượng hàng lại không giữ được ổn định, nhiều mặt hàng bị may lỗi, không đúng dáng nên nếu tiếp tục hợp đồng sẽ không chắc chắn được giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu cho công ty. Vì vậy công ty quyết định dừng hợp tác mua bán với các công ty này

– Bên cạnh nguyên nhân chất lượng hàng hóa của các công ty sản xuất trực tiếp không đáp ứng được yêu cầu, một số công ty khác có đủ nguồn lực và trang thiết bị làm hàng đạt chuẩn nhưng do những công ty này trong kỳ nghiên cứu nhận được quá nhiều đơn đặt hàng trong cùng thời điểm cần hàng của công ty nên đã từ chối nhận hàng. Do đó công ty mất một số nguồn hàng

– Tại kỳ nghiên cứu, nền kinh tế Việt Nam phát triển nhanh chóng với sự mọc lên của rất nhiều công ty trên mọi lĩnh vực đặc biệt là ngành dệt may. Đứng trước sự cạnh tranh nóng từ các đối thủ, công ty mở rộng quy mô thay đổi cải tiến mẫu mã để chiếm được nhiều thị phần hơn.

– Công ty chuyên cung ứng mặc dù có giá bán buôn rẻ hơn bán lẻ hoặc rẻ hơn một số công ty khác tuy nhiên những công ty này chưa chắc đã tự sản xuất để cung ứng sản phẩm, họ phải thu gom hàng từ công ty khác do và bán lại lấy chênh lệch giá làm thù lao. Do vậy chi phí giá bỏ ra để mua sản phẩm qua các công ty này sẽ cao hơn các phương thức trên, công ty hạn chế thu mua hàng hóa qua công ty chuyên cung ứng.

– Vị trí kho hàng cũng là một trong những yếu tố dẫn đến việc công ty hạn chế mua hàng qua công ty chuyên cung ứng. Khoảng cách giữa các công ty xa làm tăng cao chi phí vận chuyển hàng hóa. Giá thành sản phẩm mua bằng phương thức này đã cao hơn thu mua trực tiếp, cộng thêm việc phải bỏ ra chi phí vận chuyển và xếp dỡ nhiều hơn nên công ty quyết định giảm lượng hàng hóa thu mua từ công ty chuyên cung ứng.

– Ngành may mặc có những tính chất đặc thù riêng như hầu hết là gia công cho nước ngoài, tự sản xuất để xuất khẩu do vậy các công ty chuyên cung ứng nguyên liệu, bán thành phẩm hoặc thành phẩm sẽ phải đối mặt với sự thiếu hụt thị trường.

– Như đã nêu trên, những công ty chuyên cung ứng sản phẩm thường là đại lý, nhà bán buôn nên họ mặc dù mẫu mã đa dạng nhưng vẫn phải phụ thuộc vào các nhà cung cấp trực tiếp. Việc đặt mua hàng hóa có thể bị chậm chễ hoặc hủy bỏ do bất kỳ lý do nào.

– Hiên nay lương công nhân ngành dệt may ở Việt Nam tại thành phố Hải Phòng giao động từ 4-6tr đồng/người. Đây là mức lương tương đối cao so với nhiều doanh nghiệp khác. Công ty A khi có quá nhiều đơn đặt hàng với cùng thời điểm giao hàng thì sẽ tiến hành đi đặt công ty khác gia công để giữ hợp đồng. Tuy nhiên trong kỳ nghiên cứu, cùng với việc mở rộng quy mô nhà xưởng, thuê nhiều lao động hơn, do giá nhân công năm nghiên cứu cao hơn kỳ gốc nên công ty đã hạn chế đi đặt gia công bên ngoài.

– Với xu hướng phát triển mạnh mẽ của ngành công nghiệp dệt may, những công ty nhận gia công này vẫn chưa đầu tư máy móc, máy móc tuy chưa hết khấu hao nhưng năng suất làm việc thấp, chất lượng sản phẩm cho ra cũng không nhất thống với hàng mẫu yêu cầu.

– Thường trong hợp đồng đã quy định rõ về loại vải, hoa văn họa tiết, màu sắc của nguyên liệu may mặc, tuy nhiên công ty vẫn gặp phải vấn đề khi ngày xuất hàng gần đến phát hiện ra sản phẩm bị may sai loại vải. Giải thích cho tình trạng này là một công ty chuyên gia công không chỉ có một đơn hàng duy nhất, công ty A cũng không thuê gia công một mặt hàng duy nhất do vậy việc vải của mẫu này nhầm sang vải của mẫu kia dễ xảy ra.

– Đây là vấn đề xảy ra không chỉ tại các công ty gia công mà công ty A thuê mà còn xảy ra ở rất nhiều các công ty khác. Với lý do may sai hoặc thiếu nguyên liệu, các công ty gia công thường yêu cầu công ty cung cấp thêm nguyên liệu. Những nguyên liệu thừa này sẽ được bán trực tiếp hoặc làm thành thành phẩm bán ra ngoài. Điều này gây tổn hại trực tiếp đến tài chính của công ty.

– Công đoàn là bộ phận đại diện cho tinh thần của công nhân. Trong kỳ nghiên cứu, công ty phát huy tốt vai trò của công đoàn khi tiến hành tổ chức các kỳ nghỉ cho công nhân trong đó có chuyến du lịch dài đi Đà Nẵng với kinh phí một nửa do công ty tài trợ. Ngoài ra công đoàn công ty còn tiến hành thăm hỏi các công nhân, cán bộ quản lý bị ốm đau, sinh nở,… tặng quà và trợ cấp cho họ.

– Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Mỹ, Nhật… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

– Tại kỳ gốc, thời gian vào làm của công nhân là 8.00 sáng. Sang kỳ nghiên cứu, công ty thay đổi giờ bắt đầu làm việc là 7.00 sáng. Một trong những lý do thay đổi giờ là trong kỳ nghiên cứu công ty có thêm nhiều đơn đặt hàng từ EU và Nhật, thời gian giao hàng yêu cầu khắt khe, chính xác và gấp rút nên công nhân phải tăng ca làm thêm thường xuyên. Để giảm tình trạng công nhân làm thêm quá muộn, công ty tăng giờ làm buổi sáng và giảm giờ làm thêm theo yêu cầu.

– Để tạo ra hứng thú và động lực cho công nhân, công ty thực hiện chính sách thưởng lương đối với công nhân tăng ca, có các chương trình giải trí tạo không khí thoải mái cho công nhân trong quá trình làm việc tại công ty. Ngoài ra thời gian giao hàng của các lô hàng gấp rút, yêu cầu công nhân phải tận dụng thời gian và sức lưc nhưng công ty vẫn không tạo sức ép quá lớn lên công nhân.

– Các kỳ trước, do thời tiết khô hạn, không có nước, làm cho các nhà máy thủy điện không làm việc hết công suất; dẫn đến tình trạng hay mất điện dài ngày, làm gián đoạn quá trình sản xuất, công ty buộc cho công nhân vào những ngày mất điện đó. Tuy nhiên sang kì nghiên cứu công ty đã bổ sung máy phát điện cỡ lớn để phục vụ hoạt động sản xuất của mình. Từ đó khắc phục được tình trạng máy móc không có điện để phục vụ sản xuất

Do một số máy móc nhập từ các nước ôn đới như Đức,Pháp nên khi về Việt Nam có khí hậu nhiệt đới thì nhiều lúc máy móc bị trục trặc do không phù hợp với điều kiện khí hậu. Nhận ra vấn đề đó phòng kĩ thuật đã nghiên cứu, cải tiến một số bộ phận sao cho máy có thể vận hành tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm nước ta

Trong thời đại công nghiệp hóa hiện đại hóa, máy móc đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình sản xuất, là nòng cốt của nhà máy do vậy công ty đã đầu tư mua mới và sửa chữa một số máy móc thiết bị từ những nước phát triển như Đức, Anh… Cùng với việc máy móc được cải tạo, sự chuyên môn hóa và hoàn thiện dây chuyền sản xuất cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến tăng năng suất lao động của công nhân

Để nâng cao khả năng vận hành thiết bị cũng như có thể tối đa năng suất của máy móc thiết bị công ty đã cử những công nhân lành nghề đi đào tạo, học tập cách vận hành sử dụng máy móc sao cho hiệu quả nhất. Từ đó thì những công nhân được đào tạo sẽ vận hành máy móc một cách tốt nhất từ đó nâng cao năng suất máy móc.

Để đáp ứng lượng đơn hàng lớn,công ty đã quyết định cho máy móc hoạt động ở mức công suất tối đa để đáp ứng được nhu cầu sản xuất của doanh nghiệp

– Các đơn đặt hàng trong và ngoài nước ngày càng nhiều hơn, mặc dù nhân công đã được thuê nhiều thêm nhưng lượng hàng giày đặc, cấp thiết nên công nhân phải làm thêm giờ để đủ lượng hàng giao cho khách. Tuy nhiên việc tăng ca không quá nhiều để tránh gây tổn hại tới sức khỏe của công nhân.

– Trong kỳ nghiên cứu, ngoài những hợp đồng nhận được từ nước ngoài tăng lên, mà cả nhu cầu trong nước cũng tăng theo. Thị trường trong nước phát triển nhanh chóng và sôi động do đó để nắm bắt cơ hội này cũng như đáp ứng đủ nhu cầu tiêu dùng của khách hàng nội địa, công ty cần phải tuyển thêm công nhân đóng góp vào nâng cao sản lượng sản xuất.

– Công ty đã mở rộng quy mô, tuyển dụng thêm nhiều nhân công nhưng sự sai sót trong quá trình sản xuất thì không thể tránh khỏi. Hai lô hàng áo sơ mi gặp phải lỗi về nhãn mác và một số chi tiết nhỏ như cúc áo hay vạt tay, để đảm bảo chất lượng hàng bán cho khách lẻ, đại lý tiêu thụ mặt hàng này đề nghị trả đổi và sửa chữa hai lô hàng trên theo đúng điều kiện trên hợp đồng.

  1. Biện pháp và kiến nghị:

– Đối với cách thức đào tạo và quản lý nhân công, công ty cần có những chính sách đãi ngộ phù hợp để công nhân ổn định làm việc. Bên cạnh đó không chỉ dừng ở tiếp thu phương thức đào tạo của các công ty lớn mà còn phải tự đề ra các cách đào tạo phù hợp với tư chất người Việt Nam.

– Về nâng cấp máy móc, công ty cần lựa chọn loại máy có thời gian khấu hao dài, tiết kiệm nhiên liệu và đặc biệt phải phù hợp với ngân sách của công ty. Cần tiến hành bảo dưỡng và sửa chữa máy móc định kỳ tránh gây ra sai sót trong quá trình làm hàng cũng như xảy ra sự cố về người và tài sản.

– Công ty luôn luôn phải cập nhật và cải tiến dây chuyền sản xuất để theo kịp xu hướng và nhu cầu của khách hàng, từ đó mới nâng cao giá trị hàng đảm bảo xuất khẩu.

– Việc mất đi quan hệ làm ăn với một số công ty sản xuất trực tiếp xét trên góc độ cạnh tranh của các công ty đây là điều hiển nhiên tuy nhiên xét trên việc đảm bảo hàng hóa để xuất khẩu thì đây là một bất lợi cho công ty. Do đó, công ty nên tiếp tục tìm kiếm các nguồn hàng tin cậy với giá cả phù hợp nhằm duy trì sự hỗ trợ lẫn nhau, duy trì các hợp đồng mua bán thương mại với nước ngoài trong tương lai.

– Nhu cầu thu mua hàng cũng giảm đi do quy mô sản xuất được mở rộng. Đây được xem như là một dấu hiệu tích cực cho sự phát triển của công ty do vậy công ty nên tiếp tục củng cố đội ngũ quản lý và nhân công để nâng cao khả năng cung ứng hàng. Việc tìm kiếm các nguồn nguyên vật liệu cũng là vấn đề được quan tâm.

– Công ty cần tìm hiểu kỹ về khả năng cung cấp hàng hóa, độ tin cậy của các công ty chuyên cung ứng để hạn chế trường hợp thiếu hàng, hàng bị giao chậm hay không có hàng.

– Với tình trạng may sai hoặc bị gian lận nguyên liệu và thành phầm, công ty cần quy định rõ trong hợp đồng các chế tài xử phạt nếu xảy ra để chấm dứt tình trạng tương tự xảy ra gây bất lợi cho công ty.

– Thu mua hàng từ khu chế xuất mang lại nhiều lợi ích cho công ty vì vậy công ty cần phải giữ mối quan hệ làm ăn lâu dài với bạn hàng này và mở rộng quan hệ với các khu chế xuất khác.

– Tích cực cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để giành được nhiều thị phần cả trong nước và ngoài nước bằng cách quảng bá, tạo dựng lòng tin cho khách hàng. Cố gắng đáp ứng nhu cầu của khách hàng cũng như duy trì các hợp đồng đang có.

– Quan tâm đến tái cơ cấu tổ chức, hoàn thiện bộ máy quản lý để công ty nâng cao năng suất làm việc, thu được nhiều lợi nhuận hơn. Loại bỏ  những quản lý, công nhân thiếu năng lực và thay thế những người làm tốt vào.

– Bên cạnh việc cung ứng hàng hóa đúng về số lượng, chất lượng, giá cả thì chăm sóc khách hàng cũng cần phải quan tâm nhiều hơn nữa, ví dụ như có nhiều chương trình khuyến mãi, chiết khấu cho khách hàng…

– Tiếp tục duy trì các quỹ hỗ trợ cần thiết cho công nhân nhằm giữ vững tinh thần lao động của công nhân tránh tình trạng công nhân chán làm. Bên cạnh đó quản lý chặt chẽ ngày giờ đi làm của công nhân để đảm bảo năng suất công việc và là cơ sở đến trả lương cho công nhân.

– Bố trí ngày nghỉ phù hợp để vừa đảm bảo nhu cầu nghỉ ngơi, giữ gìn sức khỏe công nhân vừa hoàn thành đảm bảo giá trị sản xuất.

– Lên kế hoạch mở rộng thị trường để thu hút nhiều đơn đặt hàng hơn.

– Trước khi xuất hàng cần kiểm tra kỹ lưỡng từng chi tiết của lô hàng tránh làm mất thời gian, công sức vào sửa lỗi lô hàng.

– Tiến hành điều chỉnh thời gian làm việc linh hoạt, phù hợp từng thời điểm để đảm bảo quá trình sản xuất mà không làm ảnh hưởng tới sức khỏe công nhân.

– Tiếp tục tiếp thu và học hỏi các công ty phát triển trong ngành dệt may cách đào tạo nhân lực cũng như những phương pháp làm việc hiệu quả để đạt năng suất làm việc cao.

– Máy móc, thiết bị trong dây chuyền sản xuất cần được bảo trì, bão dưỡng thường xuyên. Cập nhật các trang thiết bị máy móc vừa hiện đại vừa phù hợp với ngân sách công ty để nâng cao năng suất sản xuất.

Nhìn chung giá trị sản xuất trong kỳ của công ty A tăng đáng kể với tốc độ cao. Tuy nhiên để duy trì và phát huy được những kết quả, thành tựu khác cao hơn công ty cần phải đánh giá tổng thể nhu cầu của toàn thị trường, từ đó đưa ra được những phương án hợp lý cho công ty, đưa công ty hướng lên trong các giai đoạn về sau. Trở thành một trong những công ty lớn trên cả nước, vững mạnh phát triển. Khi gặp phải những khó khăn, rào cản thì cần đưa ra những phương án giải quyết tối ưu nhất để không ảnh hưởng đến mối quan hệ của các bên tham gia. Mặc dù đảm bảo hàng xuất khẩu bằng phương pháp tự sản xuất sẽ gặp phải một số khó khăn liên quan đến chất lượng, giá thành sản phẩm; không đáp ứng đủ thị hiếu của khách hàng nhưng công ty cần có những biện pháp phát triển năng lực sản xuât đúng đắn, hiệu quả. Nhưng phương thức khác như nhập khẩu, thuê gia công, mua từ công ty chuyên cung ứng… đề có mặt hạn chế, do vậy công ty chỉ nên sử dụng những phương pháp này để ứng phó với những trường hợp thiếu hàng khẩn cấp hoặc thời gian giao hàng ngắn mà cơ sở vật chất cũng như dây chuyền sản xuất của công ty không kịp đáp ứng.


KẾT LUẬN

Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp doanh nghiệp tự đánh giá về thế mạnh, điểm yếu để củng cố, phát huy hay khắc phục, cải tiến quản lý. Từ đó, doanh nghiệp tận dụng và phát huy mọi tiềm năng, khai thác tối đa những nguồn lực nhằm đạt đến hiệu quả cao nhất trong kinh doanh. Kết quả của phân tích là cơ sở để đưa ra các quyết định quản trị ngắn hạn và dài hạn. Phân tích hiệu quả hoạt động kinh doanh giúp dự báo, đề phòng và hạn chế những rủi ro trong kinh doanh.

Thông qua việc phân tích và thường xuyên phân tích hoạt động kinh tế có tác dụng nhằm đảm bảo lợi ích của Nhà nước, của xã hội, của công ty, thông qua việc phân tích kinh tế thường xuyên có tác dụng ngăn ngừa khuynh hướng cục bộ không lành mạnh, phổ biến những kinh nghiệm tiên tiến, mở rộng sản xuất. Qua tài liệu phân tích giúp công ty thấy được mặt mạnh, mặt yếu của mình mà chỉ đạo sản xuất cũng như quản lý tài chính của xã hội được thực hiện một cách có hiệu quả. Chính vì vậy phân tích kinh tế có vai trò hết sức quan trọng trong việc chỉ đạo và lãnh đạo kinh tế.

Qua lần làm bài tập lớn này em đã hiểu được nhiều về công tác phân tích, đánh giá hoạt động của doanh nghiệp. Kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp là do rất nhiều nhân tố tác động tạo nên, có những nhân tố tác động tích cực nhưng cũng có những nhân tố tác động tiêu cực. Và phải nhận thức rõ đối tượng phân tích và góc độ của người phân tích để có thể đi đến được kết luận về sự biến động của các chỉ tiêu để có thể có biện pháp hợp lý giải quyết tận gốc vấn đề.

Em xin cảm ơn thầy Nguyễn Phong Nhã đã hướng dẫn tận tình, giúp em hoàn thiện bài đồ án môn học này.

 

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here