Một số lý thuyết của FDI (Sưu Tầm)

0
645
ly thuyet FDI

Một số lý thuyết của FDI (Sưu Tầm)

Một số lý thuyết của FDI

1. Lý thuyết chu kỳ sống

Lý thuyết này giải thích tại sao các nhà sản xuất lại chuyển hướng hoạt động kinh doanh
từ xuất khẩu sang thực hiện FDI. Lý thuyết cho rằng đầu tiên các nhà sản xuất tại chính
quốc đạt được lợi thế độc quyền xuất khẩu nhờ việc cho gia đời những sản phẩm mới,
sản xuất vẫn tiếp tục tập trung tại chính quốc này cả chỉ khi phí sản xuất ở nước ngoài
có thể thấp hơn.Trong thời kỳ này để xâm nhập thị trường nước ngoài thì các nước thực
hiện việc kỹ năng tăng trưởng các nhà sản xuất khuyến khích đầu tư ra nước ngoài nhằm
tận dụng chi phí sản xuất thập và quan trọng hơn là ngăn chặn khả năng để rời thị trường
và nhà sản xuất địa phương.

2. Lý luận về quyền lợi thị trường

Lý luận cho rằng FDI tồn tại do những hành vi đặc biệt của độc quyền nhóm trên phạm
vi quốc tế như phản ứng độc quyền nhóm, hiệu quả kinh tế bên trong do quy mô sản
xuất và sự liên kết đầu tư nước ngoài theo chiều rộng. Tất cả những hành vi này đều
nhằm hạn chế cạnh tranh mở rộng thị trường và ngăn không cho đối thủ khác xâm nhập
vào ngành.
FDI theo chiều rộng tồn tại khi các công ty xâm nhập vào nước khác và sản xuất các sản
phẩm trung gian, sau đó các sản phẩm này được xuất ngược trở lại và được sản xuất với
tư cách là đầu vào cho sản xuất của chủ nhà hay tiêu thụ những sản phẩm đã hoàn thành
cho những người tiêu thụ cuối cùng.
Theo thuyết này các công ty thực hiện FDI vì một số lý do: Thứ nhất do nguồn cung cấp
nguyên liệu ngày càng khan hiếm các Công ty địa phương không đủ khả năng tham do
khái thác. Do vậy các MNC tranh thủ lợi thế cạnh tranh trên cở sở khai thác nguyền liệu
tại địa phương. Điều đó giải thích tại sao FDI theo chiều rộng được thực hiện ở các nước
đang phát triển .Thứ hai thông qua các liên kết FDI dọc các Công ty độc quyền nhóm
lập nên các hàng rào không cho các công ty khác tiếp cận tới những nguồn nguyền liệu
của chung.Thứ ba FDI theo chiều rộng còn tạo ra lợi thế về chi phí thông qua việc cải
tiến kỹ thuật bằng cách phối hợp sản xuất và chuyền giao các sản phẩm giữa các công
đoán khác nhau của quá trình sản xuất.

3. Lý thuyết về tính không hoàn hảo của thị trường

Lý thuyết này cho rằng khi xuất hiện trên thị trường cho hoạt động kinh doanh kém hiệu
quả di các công ty thực hiện đầu tư trực tiếp nước ngoài nhằm khuyến khích hoạt động
kinh doanh và vượt qua yêu tố không hàon hảo đó. Có hai yếu tố không hoàn hảo của
thị trường là rào cản thương mại và kiến thức đặc biệt
– Các rào cản thường mại thuế và hạn ngạch…
– Kiến thực đặc biệt là chuyền môn kỹ thuật của các kỹ sư hay khả năng tiếp thị đặc biệt
của các nhà quản lý khi các kiến thực này chỉ là chuyên môn kỹ thuật thì các công ty
có thể bán cho các công ty nước ngoài với một giá nhất định để họ có thế sản xuất sản
phẩm tương tự. Những cơ hội thị trường tại nước ngoài là thực hiện FDI. Mặt khác nếu
các công ty bán các kiến thức đặc biệt cho nước ngoài thì họ lại sợ tạo ra đối thủ cạnh
tranh trong tương lai.

Các lý luận khác về FDI

1. Lý luận về chu kỳ sản phẩm

Lý luận này đề cập tới chu kỳ phát triển của chu kỳ tuổi thọ của sản phẩm quyết định các
doanh nghiệp phải đầu tư ra ngoài để chiếm lĩnh vực thị trường ra nước ngoài. Lý thuyết
này được RAYMOND VENON xây dựng năm 1966, nhằm mạnh về vòng đời của một
sản phẩm bao gồm 3 thời kỳ: Thời kỳ sản phẩm mới, thời kỳ sản phẩm hoàn thiện, thời
kỳ sản phẩm tiêu chuẩn hay chính muối. Lý thuyết này chỉ ra rằng chỉ được thực hiện
khi sản phẩm bước sang thời kỷ chuẩn hoá và chi phí sản xuất là yếu tố quyết định khi
cạnh trạnh.
Lý luận trên này vạch ra sự khác nhau về tầm quan trọng của các yếu tố sản xuất trong
các giai đoạn phát triển sản phẩm, là cái làm này nảy sinh quy luật chiến dịch lợi thế.

2. Quyết cấu thành hữu cơ của đầu tư

Cạnh tranh thị trường đang được mở rộng, tiền đề sống của xí nghiệp là phải tiếp tục
tăng trường. Đầu tư ra nước ngoài nhằm bảo vệ vị trí của mình trên thị trường ngày càng
mở rộng. Xét dưới góc độ của quy luật đầu tư, muốn duy trì năng lực thu lời của đầu tư
thì phải tiến hành đầu tư mới nếu không thì thù lao của đầu tư sẽ giảm, các nhà đầu tư sẽ
đầu tư ra nước ngoài với mục đích ngắn ngừa đối thủ cạnh tranh chiếm lĩnh thị trường.

3. Lý luận về phân tán rủi ro

H.M.Markawitey cho rằng sự lựa chọn đầu tư có hiệu quả là đầu tư đa dạng hoá sản
phẩm, tức là phần tán hoá, mức bù trừ thù lao giữa các hạng mục đầu tư thấp hoặc ấm
sẽ có thể khiến cho thù lao dự kiến lớn giá trị của biến độ về thù lao.
Đa dạng hoá làm cho sản phẩm có sự khác biệt, sự khác biệt theo chiều ngang, sự khác
biệt theo chiều rộng có thế phân tán rủi ro.

4. Lý thuyết chiết trung

Các công ty sẽ thực hiện FDI khi hội tụ đủ ba lợi thế: địa điểm, sở hữu, nội địa hoá. Về
địa điểm là các ưu thế có được do tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh tại một địa
điểm nhất định những ưu thể về địa điểm có thể là các nguồn tài nguyền thiên nhiên,
nguồn lao động lãnh nghề và rẻ….
Sở hữu là ưu thế cho một công ty có cơ hội tham gia sở hữu một số tài sản nhất định
như nhãn hiệu sản phẩm, kiến thức kỹ thuật hay cơ hội quản lý. nội địa hoá là ưu thể
đạt được cho việc nội hoá hoạt động sản xuất thay vì chuyền nó đến một thị trường kém
hiệu quả hơn.
Thuyết này khẳng định rằng khi hội tụ đầy đủ các lợi thế trên, các công ty sẽ thực hiện
FDI.

(Sưu Tầm)

LEAVE A REPLY

Please enter your comment!
Please enter your name here